Tuy nhiên, việc nghiên cứu sự chi phối của động từ với tư cách là kẻ mang kết trị chủ động đối với các diễn tố chủ ngữ, bổ ngữ trên cứ liệu tiếng Việt thì chưa được nghiên cứu có hệ thốn
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
PHÙNG THỊ HUYỀN
SỰ CHI PHỐI CỦA ĐỘNG TỪ
TRONG TIẾNG VIỆT
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Thái Nguyên - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
PHÙNG THỊ HUYỀN
SỰ CHI PHỐI CỦA ĐỘNG TỪ
TRONG TIẾNG VIỆT
Chuyên ngành: Ngôn ngữ Việt Nam
Mã số: 60.22.01.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Văn Lộc
Thái Nguyên - 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập và nghiên cứu, tôi đã hoàn thành luận văn thạc
sĩ Ngôn ngữ học với đề tài: “Sự chi phối của động từ trong tiếng Việt”
Để hoàn thành được luận văn này, ngoài sự cố gắng, nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự quan tâm, dạy bảo, động viên, giúp đỡ của các thầy giáo,
cô giáo và các bạn bè đồng nghiệp
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Văn Lộc, người thầy đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu để tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Khoa Ngữ văn, Khoa Sau Đại học - Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên cùng các thầy giáo
ở Viện Ngôn ngữ học, Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ tôi hoàn thành khóa học
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bè, người thân, các đồng chí đồng nghiệp đã động viên khích lệ tôi để tôi hoàn thành luận văn này
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2015
Tác giả luận văn
Phùng Thị Huyền
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu
và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác
Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Thái Nguyên, ngày 25 tháng 8 năm 2015
Người cam đoan
Phùng Thị Huyền
Trang 5
MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Lời cam đoan ii
Mục lục iii
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Đóng góp của luận văn 6
7 Cấu trúc của luận văn 6
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 8
1.1 Động từ 8
1.1.1 Khái niệm động từ 8
1.1.2 Vấn đề phân loại động từ, các tiểu loại động từ 9
1.2 Vài nét về lí thuyết kết trị, khái niệm diễn tố, chu tố 12
1.2.1 Vài nét về lí thuyết kết trị 12
1.2.2 Khái niệm diễn tố, chu tố, các kiểu diễn tố 18
1.3 Khái niệm chi phối và đặc điểm chi phối của động từ 22
1.3.1 Khái niệm chi phối 22
1.3.2 Vấn đề nghiên cứu sự chi phối của động từ trong tiếng Việt theo lí thuyết kết trị 22
1.3.3 Các kiểu chi phối của động từ 23
1.4 Khái niệm ý nghĩa và các kiểu ý nghĩa của từ 23
1.4.1 Khái niệm ý nghĩa 24
1.4.1 Các kiểu ý nghĩa của từ 25
1.5 Hình thức ngữ pháp của từ 25
Trang 61.5.1 Khái niệm hình thức ngữ pháp của từ 25
1.5.2 Các đặc điểm về hình thức ngữ pháp của từ tiếng Việt 27
1.6 Tiểu kết chương 1 27
Chương 2: SỰ CHI PHỐI CỦA ĐỘNG TỪ ĐỐI VỚI DIỄN TỐ CHỦ THỂ 28
2.1 Sự chi phối của động từ đối với hình thức của diễn tố chủ thể (chủ ngữ) 28
2.1.1 Sự chi phối của động từ đối với mặt cấu tạo của diễn tố chủ thể (chủ ngữ) 28
2.1.2 Sự chi phối của động từ với khả năng cải biến của chủ ngữ 40
2.2 Sự chi phối của động từ đối với ý nghĩa của chủ ngữ 51
2.2.1 Ý nghĩa ngữ pháp của động từ quy định ý nghĩa cú pháp của chủ ngữ 51
2.2.2 Ý nghĩa từ vựng của động từ quy định ý nghĩa biểu hiện của chủ ngữ 54
2.3 Tiểu kết chương 2 56
Chương 3: SỰ CHI PHỐI CỦA ĐỘNG TỪ ĐỐI VỚI DIỄN TỐ ĐỐI THỂ 60
3.1 Sự chi phối của động từ đối với số lượng và hình thức của diễn tố đối thể (bổ ngữ) 60
3.1.1.Dẫn nhập 60
3.1.2 Sự chi phối của động từ đối với số lượng và cấu tạo của bổ ngữ 60
3.1.3 Sự chi phối của động từ với khả năng cải biến của bổ ngữ 74
3.2 Sự chi phối của động từ với ý nghĩa của bổ ngữ 79
3.2.1 Sự chi phối của ý nghĩa ngữ pháp của động từ đối với ý nghĩa cú pháp của bổ ngữ 80
3.2.2 Sự chi phối của ý nghĩa từ vựng của động từ - thực từ đối với ý nghĩa biểu hiện của bổ ngữ 84
3.3 Tiểu kết chương 3 88
KẾT LUẬN 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
NGUỒN TƯ LIỆU TRÍCH DẪN 95
Trang 71.2.Trong Việt ngữ học, động từ đã được tìm hiểu và nghiên cứu qua một
số công trình tiêu biểu như: “Cụm động từ tiếng Việt” của Nguyễn Phú Phong (dẫn theo Nguyễn Văn Lộc [34]), “Các động từ chỉ hướng trong tiếng Việt” của Nguyễn Lai [32], “Ngữ nghĩa và cấu trúc của động từ” của Vũ Thế Thạch (dẫn theo Nguyễn Văn Lộc [34]), “Vị từ hành động tiếng Việt và các tham tố của
nó” của Nguyễn Thị Quy [46], “Kết trị của động từ tiếng Việt” của Nguyễn Văn
Lộc [34] Qua các công trình đó, chúng ta thấy diện mạo của động từ tiếng Việt ngày càng trở nên rõ ràng Tuy nhiên, việc nghiên cứu sự chi phối của động từ với
tư cách là kẻ mang kết trị chủ động đối với các diễn tố (chủ ngữ, bổ ngữ) trên cứ liệu tiếng Việt thì chưa được nghiên cứu có hệ thống và chuyên sâu
1.3 Lí thuyết kết trị là một trong những lí thuyết quan trọng, là một thành tựu lớn của ngôn ngữ học hiện đại Sau khi ra đời, lí thuyết này đã được ứng dụng rộng rãi vào việc nghiên cứu ngữ pháp, ngữ nghĩa của các ngôn ngữ
Ở nước ta, lí thuyết kết trị đã được nghiên cứu trong công trình “Kết trị
của động từ tiếng Việt”của PGS.TS Nguyễn Văn Lộc [34] Kết quả của công
trình đã mở ra một hướng nghiên cứu rất mới mẻ và thiết thực về ngữ pháp trong đó có động từ tiếng Việt Tuy nhiên, việc nghiên cứu đặc điểm chi phối của động từ tiếng Việt đối với diễn tố chủ thể và đối thể mới chỉ được đề cập đến ở mức độ khái quát
Trang 81.4 Nghiên cứu sự chi phối của động từ đối với các diễn tố chủ thể và đối thể, theo chúng tôi, là một hướng nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng về lí luận và thực tiễn
Về lí luận: Việc miêu tả đặc điểm chi phối của động từ với diễn tố chủ thể và đối thể sẽ góp phần làm phong phú, hoàn thiện hơn lí thuyết kết trị về động từ, qua đó, làm rõ hơn một số vấn đề lí thuyết có liên quan đến thành phần câu nhìn từ góc độ kết trị của từ
Về thực tiễn: Kết quả của việc nghiên cứu đề tài này có thể được sử dụng để biên soạn các tài liệu phục vụ cho việc dạy học ngữ pháp tiếng Việt nói chung, động từ tiếng Việt nói riêng trong nhà trường
Với những lí do trình bày trên đây, chúng tôi chọn vấn đề: “Sự chi phối của
động từ trong tiếng Việt” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình
hình thức, động từ có khả năng thay thế bằng những từ nghi vấn “làm gì”,
“làm sao”, có khả năng kết hợp với các phó từ chỉ thời gian, mệnh lệnh, kết
quả (đã, sẽ, đang, hãy, đừng, chớ, xong, rồi )
Động từ tiếng Việt đã được chú ý và nghiên cứu trong các chuyên luận sau:
- “Phân loại động từ tiếng Việt” của I.S.Bystov (1966) (dẫn theo
Nguyễn Văn Lộc [34])
Trang 9- “Cụm động từ tiếng Việt” của Nguyễn Phú Phong (1973) (dẫn theo
Nguyễn Văn Lộc [34])
- “Về nhóm động từ chỉ hướng trong tiếng Việt” của Nguyễn Lai (1976) [32]
- “Động từ trong tiếng Việt” của Nguyễn Kim Thản (1977) [51]
- “Ngữ nghĩa và cấu trúc của động từ” của Vũ Thế Thạch (1984) (dẫn
theo Nguyễn Văn Lộc [34])
- “Ngữ pháp tiếng Việt” - Tập 1 của Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung
(1991) [2]
- “Vị từ hoạt động và các tham tố của nó” của Nguyễn Thị Quy (1995) [46]
- “Kết trị của động từ tiếng Việt” của Nguyễn Văn Lộc (1995) [34]
Trong các công trình nghiên cứu trên, một số tác giả nghiên cứu tương đối toàn diện về động từ như: Nguyễn Phú Phong, Nguyễn Kim Thản Một số công trình đi sâu tìm hiểu một phương diện nào đó của động từ: I.S.Bystov đi sâu vào vấn đề phân loại động từ, Nguyễn Lai đi sâu vào nhóm động từ chỉ hướng, Vũ Thế Thạch phân tích về mặt ngữ nghĩa, Nguyễn Văn Lộc đi sâu nghiên cứu về kết trị, Nguyễn Thị Quy khai thác về nhóm vị từ hành động và các tham tố của nó
Nhìn chung, trong những công trình trên đây, vấn đề tiêu chí xác định, phân loại động từ, đặc điểm ý nghĩa và khả năng kết hợp của động từ đã được nghiên cứu tương đối kĩ Riêng vấn đề chi phối của động từ cũng đã được đề cập trực tiếp hay gián tiếp ở các mức độ khác nhau nhưng chưa được nghiên cứu có hệ thống và chuyên sâu Đặc biệt, vấn đề chi phối của động từ đối với chủ ngữ (diễn tố chủ thể) hầu như không được chú ý Điều này có thể do sự hạn chế của cách nhìn nhận truyền thống về bản chất của mối quan hệ chủ vị (chẳng hạn, việc coi chủ ngữ là thành phần chính của câu có vai trò ngang hàng với vị ngữ và không chịu sự chi phối của vị ngữ)
2.2 Khác với các tác giả chủ trương cách phân tích ngữ pháp theo truyền
thống, trong cuốn“Những sơ sở của cú pháp cấu trúc” [68], L.Tesnière cho
Trang 10rằng: động từ trong vai trò mà ngữ pháp học truyền thống gọi là vị ngữ thực chất chính là thành tố hạt nhân, là cái nút chính của câu Động từ quy định số lượng và đặc tính của các thành tố có quan hệ với nó, các thành tố này, xét theo mức độ gắn bó với động từ được chia thành tố bắt buộc (chủ ngữ, bổ ngữ) và thành
tố tự do (trạng ngữ) L.Tesnière gọi các thành tố bắt buộc là diễn tố (actants), chúng gồm hai kiểu chính là diễn tố chủ thể (sujet) và diễn tố đối thể (obijet)
Ví dụ, trong câu:“Alferd frappe Bernard” (Alpret đánh Becna), động từ biểu thị quá trình là “frappe - đánh” Các diễn tố chỉ người hay vật tham gia
vào quá trình với tư cách chủ động hay bị động Trong ví dụ trên, các diễn tố là
Alferd và Bernard Các diễn tố (actants) có các đặc điểm chung là: 1 Đều phụ
thuộc vào động từ, là kẻ thể hiện kết trị của động từ, kể cả kết tố chủ thể (chủ ngữ); 2 Đều có tính bắt buộc, có nghĩa là sự xuất hiện của chúng do nghĩa của động từ đòi hỏi và nếu lược bỏ chúng sẽ làm cho nghĩa của động từ trở nên mơ
hồ, không xác định; 3.Về hình thức, chúng được biểu hiện bằng danh từ hoặc các yếu tố tương đương
L.Tesnière đã phân loại các diễn tố dựa vào chức năng khác nhau mà chúng thực hiện trong mối quan hệ với động từ Dựa vào số lượng chức năng (tức là số lượng tối đa diễn tố có thể có bên động từ), ông đã chia ra ba kiểu diễn tố: diễn tố thứ nhất, diễn tố thứ hai và diễn tố thứ ba
Quan niệm và cách phân tích của L.Tesnière về vai trò chi phối của động
từ hạt nhân đối với các diễn tố xoay quanh động từ hạt nhân là cơ sở mà chúng tôi sẽ dựa vào để nghiên cứu sự chi phối của động từ đối với chủ ngữ và bổ ngữ trong tiếng Việt
Trong các luận văn thạc sĩ “Các diễn tố được biểu hiện bằng vị từ và
cụm từ chủ vị trong tiếng Việt hiện đại” của Nguyễn Thị Thu Hoài [31], “Sự hiện thực hóa kết trị bắt buộc của động từ tiếng Việt” của Trần Minh Tuất [62],
các tác giả cũng đã đề cập đến mối quan hệ giữa động từ và các diễn tố Tuy
Trang 11nhiên, các luận văn này chưa có điều kiện nghiên cứu một cách chuyên sâu, có
hệ thống về sự chi phối của động từ với diễn tố chủ thể và đối thể
Tóm lại, sự chi phối của động từ tuy đã được các nhà nghiên cứu đề cập đến nhưng đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống và chuyên sâu về sự chi phối của động từ đối với các diễn tố chủ thể và đối thể (chủ ngữ, bổ ngữ) trong tiếng Việt
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm rõ đặc điểm chi phối của động
từ trong tiếng Việt đối với hình thức và ý nghĩa của các diễn tố, góp phần bổ sung, làm phong phú hơn lí thuyết kết trị, tạo thêm tiền đề cho việc xây dựng, hoàn thiện lí thuyết về thành phần câu; qua đó, góp phần nâng cao chất lượng hiệu quả dạy học ngữ pháp tiếng Việt
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu và làm rõ thêm những vấn đề lý luận chung về động từ, lí thuyết kết trị, diễn tố, chu tố, khái niệm chi phối, đặc điểm chi phối của động từ với chủ ngữ và bổ ngữ
- Tiến hành phân tích, miêu tả làm rõ đặc điểm chi phối của động từ đối với hình thức và ý nghĩa của diễn tố chủ thể (chủ ngữ) và diễn tố đối thể (bổ ngữ) trong tiếng Việt
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn là đặc điểm chi phối của động từ trong tiếng Việt nhìn từ góc độ cú pháp (từ thuộc tính kết trị của từ)
4.2 Phạm vi nghiên cứu là sự chi phối của động từ đối với hai kiểu diễn tố: diễn tố chủ thể và diễn tố đối thể trong tiếng Việt hiện đại Nguồn ngữ liệu được dựa vào để phân tích, miêu tả chủ yếu là những câu được rút ra từ một số tác phẩm văn xuôi Việt Nam hiện đại
Trang 125 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu trên, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu chính như sau:
6 Những đóng góp của luận văn
- Về mặt lí luận:
+ Góp phần làm rõ những vấn đề lí luận về sự chi phối của động từ: khái niệm chi phối, các đặc điểm chi phối của động từ tiếng Việt đối với diễn tố chủ thể
và diễn tố đối thể nhìn từ góc độ kết trị chủ động của động từ - vị ngữ
+ Chỉ ra được các kiểu chi phối cụ thể của động từ đối với diễn tố chủ thể và diễn tố đối thể; qua đó, góp phần làm sáng tỏ thuộc tính kết trị chủ động của động từ trong vai trò hạt nhân hay đỉnh cú pháp của câu
- Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng để biên soạn các tài liệu phục vụ cho việc dạy học ngữ pháp tiếng Việt trong nhà trường
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Sự chi phối của động từ đối với diễn tố chủ thể (chủ ngữ)
Trang 13Chương 3: Sự chi phối của động từ đối với diễn tố đối thể (bổ ngữ)
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Động từ
1.1.1 Khái niệm động từ
Động từ là từ loại có số lượng lớn và là một trong hai từ loại cơ bản của tiếng Việt Với số lượng lớn và đặc điểm ý nghĩa, đặc điểm hoạt động ngữ pháp phức phức tạp nhất, động từ giữ vai trò ngữ pháp quan trọng trong việc tổ chức, cấu tạo câu trong tiếng Việt Phạm vi hoạt động của động từ khá rộng và đa dạng
Do đó, động từ là từ loại đã thu hút sự chú ý quan tâm đặc biệt của nhiều nhà nghiên cứu Vai trò của động từ đã được Nguyễn Kim Thản khẳng định: “Trong câu, động từ gần như là trung tâm của các mối quan hệ của các từ, nó không những có mối quan hệ tường thuật với từ chỉ chủ thể mà còn có quan hệ chính phụ với những từ chỉ đối tượng, chỉ hoàn cảnh, trạng thái đặt sau nó” [51, 97]
Theo “Từ điển tiếng Việt”, động từ là “từ chuyên biểu thị hành động, trạng thái hay quá trình, thường làm vị ngữ trong câu” [43, 346]
Trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt” (tập 1), Diệp Quang Ban cho rằng: “
Động từ là những từ biểu thị ý nghĩa khái quát về quá trình - ý nghĩa quá trình thể hiện trực tiếp đặc trưng vận động của thực thể Đó là ý nghĩa hành động, ý nghĩa trạng thái được khái quát hóa trong mối liên hệ với vận động của thực thể trong thời gian và không gian” [2, 90]
Theo cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt” của Trung tâm khoa học xã hội và
Nhân văn quốc gia, các tác giả của cuốn sách cho rằng: “Động từ là từ có ý nghĩa khái quát về hoạt động, trạng thái.”[63, 88]
Trong luận văn này, động từ được xác định theo các tiêu chí sau: Về mặt
ý nghĩa, chỉ hoạt động (hành động hay trạng thái), có khả năng được bổ sung ý nghĩa thời thể (thời gian, mệnh lệnh, phương thức ) Về mặt hình thức, động
từ có khả năng thay thế bằng những từ nghi vấn “làm gì”, “làm sao”, có khả
Trang 15năng kết hợp với các phó từ chỉ thời gian, mệnh lệnh, kết quả (đã, sẽ, đang,
hãy, đừng, chớ, xong, rồi ) Trên cơ sở cách hiểu này, chúng ta có thể đưa ra
cách hiểu khái quát về động từ như sau: Động từ là một từ loại thực từ dùng để chỉ hoạt động (hành động, trạng thái) của sự vật, hiện tượng
1.1.2 Vấn đề phân loại động từ, các tiểu loại động từ
Về vấn đề phân loại động từ, đã có nhiều chuyên khảo đề cập đến Trong luận văn này, chúng tôi xin trình bày một cách ngắn gọn, khái quát một số ý kiến chính về vấn đề phân loại động từ
Thứ nhất: Cách phân loại động từ dựa vào ý nghĩa và hình thức ngữ pháp (đặc điểm hoạt động ngữ pháp)
Dựa vào cách phân loại này, động từ được chia làm hai nhóm: động từ - thực từ và động từ ngữ pháp (bán thực từ)
Động từ thực từ là những động từ có ý nghĩa cụ thể, chân thực - ý nghĩa
hoạt động, có khả năng độc lập thay thế bằng các từ nghi vấn như: làm gì? làm
sao? có khả năng độc lập làm vị ngữ trong câu (ví dụ: ăn, đọc, đánh, nói, viết,
đi, chạy, ốm )
Động từ ngữ pháp được hiểu là những động từ không có ý nghĩa cụ thể, chân thực Nhóm động từ này đã bị hư hóa, trống nghĩa từ vựng, chúng mang ý nghĩa trừu tượng, khái quát Vì vậy, các động từ này hầu như không có khả năng độc lập thay thế bằng từ nghi vấn và nói chung, không có khả năng độc lập làm vị ngữ Động từ ngữ pháp được chia làm hai nhóm cơ bản là động từ tình thái và động từ quan hệ Động từ tình thái là những động từ biểu thị hoạt động khái quát về khả năng, ý chí Dựa vào ý nghĩa, có thể chia động từ tình thái thành các nhóm chính sau:
- Nhóm động từ chỉ sự cần thiết: cần, nên, phải, cần phải
- Nhóm động từ chỉ khả năng: có thể, không thể, dám
- Nhóm động từ chỉ ý định: định, toan, muốn
Trang 16- Nhóm động từ chỉ ý chí: quyết, nhất quyết, cố, cố gắng
- Nhóm động từ chỉ nhu cầu tự nhiên: buồn (trong buồn ngủ), thèm
Động từ quan hệ là những động từ biểu thị quan hệ giữa chủ thể và nội dung nêu ở những từ sau nó Đó là quan hệ giữa các thực thể, các quá trình hay các đặc trưng Nhóm động từ này được chia nhỏ như sau:
- Động từ chỉ quan hệ đồng nhất hiểu rộng (gồm cả quan hệ chức
nghiệp): là, làm
- Động từ chỉ quan hệ sở hữu: có, còn
- Động từ chỉ quan hệ biến hóa theo thời gian: thành, trở thành, trở nên
- Động từ chỉ quan hệ nhân quả: làm, khiến
- Động từ chỉ quan hệ định vị: ở
Các động từ thực từ được chia tiếp thành động từ chủ động và động từ không chủ động Động chủ động là những động từ chỉ hoạt động có chủ ý, xuất
phát từ chủ thể và chủ thể có thể điều khiển hành động theo ý muốn, ví dụ: ăn,
đọc, đánh, nói, viết, đi, chạy Động từ không chủ động là những động từ chỉ
hoạt động không xuất phát từ chủ thể, chủ thể không điều khiển được hoạt
động theo ý muốn của mình, ví dụ: tan, cháy, đổ, vỡ Tiếp tục phân chia động
từ chủ động, ta có động từ tác động và động từ không tác động Động từ tác động được hiểu là những động từ biểu thị những hoạt động tác động đến đối thể
mà kết quả của những hoạt động đó làm cho đối tượng bị thay đổi về phương
diện nào đó (nảy sinh, tiêu biến, thay đổi về vị trí) như: xây, đắp, ăn, đập, phá
Động từ không tác động là động từ biểu thị hoạt động không tác động đến đối
thể như: chạy, bơi, đi, nhảy Tìm hiểu động từ tác động, chúng ta sẽ thấy
nhóm động từ này có hai hoạt động đối lập: hoạt động tạo ra đối tượng (động từ
tạo tác) như: xây, đắp, đào, vẽ, nặn và hoạt động làm chuyển biến đối tượng
về mặt nào đó (động từ chuyển tác) như: đốt, chặt, phá, đánh Động từ không tác động được chia thành: động từ chỉ hoạt động chuyển động như: đi, chạy,
nhảy và động từ chỉ hoạt động không chuyển động như: ngủ, nghĩ Giữa các
động từ tác động và động từ không tác động có một vài nhóm có đặc tính trung
Trang 17gian Đó là những động từ tuy cũng chỉ hoạt động hướng tới đối thể nhưng không thực sự tác động vào đối thể Tiêu biểu cho các nhóm đó là động từ chỉ
sự chuyển động có huớng như: ra, vào, lên, xuống Động từ tác động về cơ
bản, phù hợp với động từ ngoại huớng (ngoại động), còn động từ không tác động về cơ bản, phù hợp với động từ nội huớng (nội động) theo cách phân loại truyền thống
Như vậy, căn cứ vào ý nghĩa và hình thức ngữ pháp, chúng ta thấy động
từ được chia thành nhiều tiểu loại, mỗi tiểu loại lại có những dấu hiệu đặc trưng riêng về ý nghĩa và hoạt động ngữ pháp
Thứ hai: Phân loại động từ dựa vào đặc điểm chi phối
Đặc điểm chi phối của động, từ theo cách hiểu chung, (áp dụng cho cả ngôn ngữ biến hình và ngôn ngữ không biến hình) là khả năng của động từ đòi hỏi sự có mặt và quy định đặc tính (ý nghĩa và hình thức) của các bổ ngữ
Dựa vào đặc điểm chi phối, động từ được chia thành hai loại chính: động
từ nội hướng (nội động) và động từ ngoại hướng (ngoại động) Động từ nội
hướng là động từ không chi phối bổ ngữ (ví dụ: nằm, ngủ, thức, đánh ) còn động từ ngoại hướng là động từ có khả năng chi phối các bổ ngữ (ví dụ: ăn,
đọc, vẽ, viết, đánh, đọc ) Tuy nhiên, sự phân loại động từ theo cách này vẫn
còn tồn tại những vấn đề chưa dứt khoát, rõ ràng Đó là sự có mặt của những
động từ trung tính (ví dụ: có, còn, gật, lắc ) hoặc những động từ mang dấu
hiệu đặc trưng cho cả động từ nội hướng lẫn động từ ngoại hướng
Thứ ba: Phân loại động từ theo kết trị
Cách phân loại này dựa vào số lượng và đặc tính của các diễn tố xuất hiện bên động từ Với cách phân loại này, động từ được chia thành: động từ
không đòi hỏi diễn tố (động từ vô trị: mưa, nắng, sáng, tối ) và động từ đòi hỏi
diễn tố Tiếp tục phân chia động từ đòi hỏi diễn tố, ta có động từ đòi hỏi một
diễn tố (động từ đơn trị: thức, ngủ ), động từ đòi hỏi hai diễn tố (động từ song
Trang 18trị: ăn, đọc, đánh ), động từ đòi hỏi ba diễn tố (động từ tam trị: tặng, biếu,
cấm, bắt )
Cách phân loại động từ theo kết trị rất gần với cách phân loại động từ theo đặc điểm chi phối nhưng có tính khái quát cao hơn Với cách phân loại động từ theo đặc điểm chi phối, thuộc tính cú pháp được chú ý chỉ là khả năng kết hợp về phía sau của động từ (kết hợp với diễn tố đối thể) Với cách phân loại động từ theo lí thuyết kết trị, thuộc tính cú pháp được chú ý gồm cả khả năng kết hợp về phía trước (với diễn tố chủ thể) và khả năng kết hợp về phía sau của động từ (với diễn tố đối thể)
Phân tích các cách phân loại động từ trên đây, chúng tôi thấy cả ba cách phân loại đều có cơ sở khoa học và có giá trị thực tiễn Việc lựa chọn cách phân loại nào còn tùy thuộc vào quan điểm, mục đích của người học tập, giảng dạy, nghiên cứu Trong luận văn này, chúng tôi lựa chọn cách phân loại thứ ba nhưng vẫn sử dụng kết quả của cách phân loại thứ nhất và thứ hai khi phân tích, miêu tả đặc điểm chi phối của động từ
1.2 Vài nét về lí thuyết kết trị, khái niệm diễn tố, chu tố
1.2.1 Vài nét về lí thuyết kết trị
1.2.1.1 Khái niệm kết trị
Thuật ngữ kết trị (hóa trị, ngữ trị, tiếng Pháp: valence, tiếng Nga: valentnost) vốn được dùng trong ngành hóa học để chỉ thuộc tính kết hợp của các nguyên tử với một số lượng xác định các nguyên tử khác Thuật ngữ này mới chỉ được dùng rộng rãi trong ngôn ngữ học từ cuối những năm bốn mươi của thế kỉ XX để chỉ khả năng kết hợp của các lớp từ hoặc các lớp hạng đơn vị ngôn ngữ nói chung
Theo cách hiểu hẹp, kết trị chỉ là thuộc tính kết hợp của động từ hoặc một số từ loại nhất định Với cách hiểu này, kết trị của động từ được hiểu là khả năng của động từ kết hợp vào mình các thành tố bắt buộc (bổ ngữ, chủ
Trang 19ngữ) và các thành tố tự do (trạng ngữ) Với vai trò hạt nhân, động từ quy định
số lượng và đặc tính của các thành tố có quan hệ với nó Cách dùng thuật ngữ kết trị theo nghĩa hẹp gắn với tên tuổi của nhà ngôn ngữ học người Pháp - L.Tesnière, người sáng lập ra lí thuyết kết trị
Cách hiểu hẹp về kết trị cũng được nhà ngôn ngữ học Liên xô (cũ) là S.D.Kasnelson xác định trong các công trình nghiên cứu của mình Theo
S.D.Kasnelson, kết trị là thuộc tính của lớp từ nhất định kết hợp vào mình
những từ khác (dẫn theo Nguyễn Văn Lộc [34]) Tác giả này cũng cho rằng:
mỗi từ về nguyên tắc đều có khả năng kết hợp với những từ nhất định nào đó nhưng như thế không có nghĩa là tất cả các từ đều có kết trị mà chỉ là những từ
có khả năng tạo ra các “ô trống” đòi hỏi làm đầy trong các phát ngôn mới có kết trị Kết trị của động từ được xác định theo số lượng các vị trí mở - các ô trống bao quanh từ mà theo S.D.Kasnelson, ở động từ có không quá bốn vị trí
Theo cách hiểu rộng, kết trị được coi là thuộc tính kết hợp của các đơn vị ngôn ngữ cùng cấp độ Theo cách hiểu này thì kết trị của từ được xác định dựa vào toàn bộ các mối quan hệ cú pháp có thể có đối với nó Kết trị của từ theo nghĩa rộng được hiểu là khả năng của các từ loại thực từ tạo ra xung quanh mình các vị trí mở cần hoặc có thể làm đầy bởi các thành tố cú pháp (thực từ) nhất định Trong luận văn này, chúng tôi hiểu kết trị theo cách hiểu rộng Với cách hiểu này, kết trị của động từ được hiểu là khả năng của động từ tham gia vào các mối quan hệ cú pháp nói chung Đó là thuộc tính kết hợp cú pháp của động từ với tư cách là đại diện của từ loại, tiểu loại
1.2.1.2 Các kiểu kết trị
Kết trị của từ hiểu như là thuộc tính kết hợp cú pháp của nó là phạm trù phức tạp, không thuần nhất Bởi vậy, có thể phân loại kết trị của từ thành những kiểu khác nhau Dưới đây, là một số cách phân loại cơ bản:
a Kết trị nội dung và kết trị hình thức
* Kết trị nội dung
Trang 20Kết trị nội dung là sự kết hợp về mặt ngữ nghĩa giữa từ mang kết trị và các diễn tố, chu tố Kết trị nội dung thường được xác định theo đặc điểm về ý
nghĩa cú pháp (các kiểu nghĩa như chủ thể, đối thể, công cụ, nguyên nhân )
của các diễn tố, chu tố và gắn chặt với ý nghĩa của từ mang kết trị Vì kết trị nội dung gắn với nghĩa của từ nên sự thay đổi về ý nghĩa của từ sẽ kéo theo sự thay
đổi kết trị nội dung của nó Chẳng hạn, động từ “chạy” trong tiếng Việt vốn có
ý nghĩa nội hướng và khi được dùng với nghĩa vốn có của mình, “chạy” không thể có kết trị đối thể (Ví dụ: Nó đang chạy trên đường) Nhưng khi được dùng với nghĩa ngoại hướng, “chạy” hoàn toàn có thể có các kết trị đối thể như các động từ ngoại hướng khác (Ví dụ: Nó chạy thóc vào nhà)
* Kết trị hình thức
Kết trị hình thức của từ là mối quan hệ (sự kết hợp) về hình thức giữa từ mang kết trị và các yếu tố bổ sung (ở động từ là các diễn tố, chu tố) Nếu kết trị nội dung chỉ gắn với mặt nghĩa của từ thì kết trị hình thức gắn với hình thức ngữ pháp của từ Sự đối lập giữa kết trị nội dung và kết trị hình thức được bộc
lộ rõ rệt trong ngôn ngữ biến hình Ví dụ trong tiếng Nga, hình thức động từ
“chitaju” về mặt kết trị nội dung, đòi hỏi hai diễn tố bắt buộc là chủ thể và đối thể hoạt động Nhưng khi xác định các yếu tố làm đầy các vị trí bên hình thức của động từ này, chúng ta không thể chỉ chú ý đến ý nghĩa từ vựng - ngữ pháp
của từ Ta chỉ có thể nói: “Ja chitaju knigu” chứ không thể nói: “On chitaju
kniga” Cấu trúc sau sở dĩ không chấp nhận được là vì giữa các từ không có sự
ý nghĩa từ vựng - ngữ pháp của từ là đủ Chẳng hạn, động từ “đọc” trong tiếng
Việt, về kết trị nội dung đòi hỏi hai diễn tố là chủ thể và đối thể hoạt động, các
Trang 21từ “tôi”, “sách” về mặt từ vựng - ngữ pháp có thể làm đầy các vị trí bên động
từ này Nếu nói “Tôi đọc sách”, thì hoàn toàn có thể chấp nhận được Nhưng nếu nói “Tôi sách đọc” thì ta chỉ có một chuỗi từ hỗn độn vô nghĩa vì ở cấu trúc này không có sự phù hợp về hình thức ngữ pháp (vị trí) giữa các từ Trong câu “Trong cuộc sống của mỗi con người đều mong muốn được sung sướng, hạnh phúc”, ta nhận thấy người viết có chủ ý đặt nhóm danh từ “mỗi con người” làm chủ ngữ (diễn tố chủ thể) của động từ vị ngữ “mong muốn”, tức là xác lập mối quan hệ chủ vị giữa động từ “mong muốn” và nhóm danh từ trên Nhưng ngược lại với ý định của người viết, mối quan hệ chủ vị ở đây đã không được hiện thực hóa Nhân tố cản trở sự hiện thực hóa mối quan hệ chủ vị ở đây
là hình thức ngữ pháp của từ (trong tiếng Việt, chủ ngữ về hình thức ngữ pháp, không những phải chiếm vị trí trước vị ngữ mà còn phải không được dẫn nối bởi quan hệ từ) Trong khi đặt câu, nếu chỉ chú ý đến kết trị nội dung (khả năng kết hợp ngữ nghĩa) mà không chú ý đến kết trị hình thức (phù hợp về hình thức ngữ pháp) của từ, người viết rất dễ phạm sai lầm như trường hợp trên đây
Khẳng định vai trò của mặt hình thức trong sự tổ hợp của từ trong tiếng Việt, các sách ngữ pháp khi nói về sự kết hợp của hai thành tố A và B nào đó thường không chỉ đặt ra và trả lời câu hỏi : “A và B có khả năng kết hợp với nhau hay không ?” mà còn đặt ra và trả lời các câu hỏi khác : “Nếu A và B kết hợp được với nhau thì kết hợp theo trật tự nào? Kết hợp theo phương thức nào ?” Đề cập đến trật tự kết hợp và phương thức kết hợp thực chất là đề cập đến mặt hình thức ngữ pháp của từ theo nghĩa rộng, tức là đề cập đến kết trị hình thức của từ
Như vậy, kết trị nội dung và kết trị hình thức có mối quan hệ chặt chẽ với nhau nhưng không phải luôn tương ứng với nhau theo kiểu “một đối một”
Vì kết trị nội dung phụ thuộc chặt chẽ vào mặt nghĩa của từ nên là phạm trù mang tính phổ quát Kết trị hình thức, trái lại, vì gắn với đặc tính của từ trong
Trang 22mỗi ngôn ngữ cụ thể nên là phạm trù mang tính đặc thù; nghĩa là trong các ngôn ngữ khác nhau, đặc biệt là trong các ngôn ngữ khác loại hình, kết trị hình thức của từ thể hiện khác nhau
Sự không trùng nhau giữa kết trị nội dung và kết trị hình hình thức còn
có thể thấy trong từng ngôn ngữ, thậm chí ở từng từ Trong tiếng Nga, kết trị
điểm đến (kết trị nội dung) của động từ “vstupat” (bước vào) tương ứng với hai
kết trị hình thức
So sánh hai cấu trúc:
Vstupat na fakulchet (bước vào khoa)
Vsutupat v universichet (bước vào trường)
Trong tiếng Việt, một kết trị nội dung tương ứng với một vài kết trị hình
thức cũng không phải là hiện tượng hiếm (so sánh: “đấu tranh vì tự do” và
“đấu tranh cho tự do”; “nói cho nó biết “và “nói để nó biết” )
Những đặc điểm riêng của kết trị nội dung và kết trị hình thức, sự không trùng nhau giữa hai kiểu kết trị này cho phép khi miêu tả kết trị của từ, có thể xem xét theo từng mặt một Chẳng hạn, phân tích kết trị của từ theo mặt nội dung, có thể phân biệt các kiểu cụ thể như: kết trị chủ thể, đối thể, công cụ, nguyên nhân Theo mặt hình thức, có thể phân biệt các kiểu kết trị trực tiếp, gián tiếp Tuy nhiên, kết trị nội dung và kết trị hình thức là hai mặt gắn bó chặt chẽ với nhau nên không thể miêu tả kết trị nội dung và kết trị hình thức một cách hoàn toàn tách biệt nhau
b Kết trị bắt buộc và kết trị tự do
* Kết trị bắt buộc
Kết trị bắt buộc là khả năng của các từ loại tạo ra xung quanh mình các
vị trí mở cần làm đầy bởi các thành tố bắt buộc (ở động từ là các diễn tố)
Đặc điểm của diễn tố với tư cách là thành tố thể hiện kết trị bắt buộc của động từ:
Về nghĩa: Nghĩa của các diễn tố phụ thuộc chặt chẽ vào nghĩa của động
Trang 23từ và chỉ được xác định xét trong mối quan hệ với nghĩa của động từ Ví dụ,
trong cấu trúc “Nam đọc sách ở thư viện.”, nghĩa chủ thể và đối thể hoạt động của các diễn tố “Nam” và “sách” (thành tố bắt buộc) chỉ được xác định trong mối quan hệ với nghĩa của động từ “đọc”
Về vai trò đối với việc tổ chức cấu trúc: Các diễn tố quan trọng hơn hẳn thành tố tự do (chu tố) Sự xuất hiện của các diễn tố là do nghĩa của động từ đòi hỏi Việc lược bỏ diễn tố chỉ cho phép trong điều kiện ngữ cảnh hoặc tình huống nói năng nhất định
Về mặt phân bố (vị trí): Diễn tố vì gắn với động từ chặt chẽ hơn nên thường đứng sát động từ
* Kết trị tự do
Kết trị tự do là khả năng của các từ loại tạo ra xung quanh mình các vị trí
mở cần làm đầy bởi các thành tố tự do (ở động từ là các chu tố)
Đặc điểm của chu tố với tư cách là thành tố thể hiện kết trị tự do của động từ:
Về nghĩa: Nghĩa của chu tố độc lập tương đối với nghĩa động từ Trong
cấu trúc “Nam đọc sách ở thư viện.”, nghĩa vị trí, địa điểm của chu tố “ở thư viện”
(thành tố tự do) có thể được xác định một cách độc lập với nghĩa nghĩa của động
từ “đọc”
Về vai trò đối với việc tổ chức cấu trúc: Các chu tố không quan trọng bằng
các diễn tố Sự xuất hiện của các chu tố chỉ phản ánh khả năng của động từ được xác định rõ thêm về nghĩa và phụ thuộc chủ yếu vào mục đích giao tiếp
Về mặt phân bố (vị trí): Chu tố thường không gắn bó chặt chẽ với động
từ như diễn tố và nếu sau động từ có xuất hiện cả diễn tố lẫn chu tố thì chu tố thường đứng sau diễn tố, tức là đứng xa động từ hạt nhân hơn
Mặc dù sự đối lập giữa kết trị bắt buộc và tự do là rất rõ nhưng cần thấy ranh giới giữa chúng không phải lúc nào cũng rõ ràng, dứt khoát Có thể so sánh hai câu sau:
Trang 24(1) Tôi tắm cho con
(2) Nó trông nhà cho mẹ
Trong hai cấu trúc trên đây, từ “ con” và “mẹ” đều chỉ kẻ được quan tâm, phục vụ Nhưng từ “con” ở cấu trúc (1) có nhiều đặc tính của thành tố bắt buộc, còn từ “mẹ” ở cấu trúc (2) lại có nhiều đặc tính của thành tố tự do Khó có thể
cho rằng, trong trường hợp trên đây, ta có hai kiểu kết tố khác hẳn nhau (một thuộc kết tố bắt buộc, một thuộc kết tố tự do); còn nếu cho rằng trong trường hợp trên đây chỉ có một kết tố duy nhất chỉ kẻ được quan tâm phục vụ thì khi miêu tả kết trị của động từ, kiểu kết tố này lại cần được xem xét cả trong phạm
vi kết trị bắt buộc lẫn tự do với hành động và hoàn cảnh và điều đó cũng tạo nên sự phức tạp trong miêu tả kết trị
1.2.2 Khái niệm diễn tố, chu tố, các kiểu diễn tố
1.2.2.1 Khái niệm diễn tố, chu tố
Theo L Tesnière, động từ là trung tâm của câu, nó biểu thị cái tương tự như một vở kịch nhỏ với các vai diễn (các diễn tố, bổ ngữ) và hoàn cảnh (chu
tố, trạng ngữ) Trở lại ví dụ như đã nói, động từ biểu thị quá trình ( frappe -
đánh trong Alfred frappe Bernanrd) Các diễn tố chỉ người hay vật tham gia
vào quá trình với tư cách bất kì (chủ động hay bị động) Chẳng hạn, trong câu
trên, các diễn tố là Alfred và Bernanrd Các diễn tố (actant) có những đặc điểm
chung là:
Trang 25+ Đều phụ thuộc vào động từ, là kẻ thể hiện kết trị của động từ, kể cả diễn tố chủ thể (chủ ngữ)
+ Đều có tính bắt buộc, nghĩa là sự xuất hiện của chúng do nghĩa của động từ đòi hỏi và việc lược bỏ chúng sẽ làm cho nghĩa của động từ trở nên không xác định
+ Về hình thức, chúng được biểu hiện bằng các danh từ hoặc các yếu tố tương đương (Các yếu tố này theo L Tesnière, gồm đại từ, động từ nguyên
dạng và mệnh đề phụ bổ ngữ mà ông gọi là mệnh đề phụ diễn tố)
Cùng nằm trong phần cấu trúc của câu động từ, bên cạnh các diễn tố còn
có các chu tố (circonstant)
+ Xét về nghĩa, các chu tố biểu thị hoàn cảnh (thời gian, vị trí, phương
thức ) trong đó quá trình được mở rộng Ví dụ, trong câu: Alfred fourve
toujours son nez partout (Anphret ở đâu cũng luôn ngoáy cái mũi của mình), có
hai chu tố là toujours (luôn luôn) và partout (ở mọi nơi)
+ Xét về cấu tạo, các chu tố luôn luôn là trạng từ (thời gian, vị trí, phương thức .) hoặc yếu tố tương đương (trong đó có các mệnh đề phụ ); ngược lại, trong câu, các trạng từ luôn đảm nhiệm chức năng chu tố Ví dụ, trong câu
Alfred parl bien (Anphret nói hay), từ bien (hay) sẽ là chu tố
+ Xét về chức năng, chu tố cũng phụ thuộc trực tiếp vào động từ Quan niệm này của L Tesnière khác với quan niệm truyền thống coi trạng ngữ là thành phần phụ của cả nòng cốt câu (chủ ngữ, vị ngữ)
Như vậy, theo quan niệm của L Tesnière, ta có thể hiểu diễn tố là thành phần phụ bắt buộc của câu (chủ ngữ và bổ ngữ); còn chu tố là trạng ngữ hay các yếu tố tự do trong câu
1.2.2.2 Các kiểu diễn tố
Các diễn tố (actants) theo cách hiểu của L Tesnière là các thành tố phụ thể hiện kết trị bắt buộc của động từ Chúng gồm hai kiểu chính là diễn tố chủ thể (Sujet) và diễn tố đối thể (Obijet)
Trang 26L Tesnière phân loại các diễn tố dựa vào chức năng khác nhau mà chúng thực hiện theo mối quan hệ với động từ Dựa vào số lượng chức năng (và cũng
là số lượng tối đa diễn tố có thể có bên động từ), L Tesnière xác định ba kiểu
diễn tố mà ông gọi tên theo số thứ tự: diễn tố thứ nhất, thứ hai và thứ ba Về
nguyên tắc, số thứ tự của diễn tố không bao giờ vượt quá số lượng diễn tố phụ thuộc vào động từ Chẳng hạn, động từ không diễn tố không thể chi phối bất kì diễn tố nào, động từ một diễn tố không thể chi phối diễn tố thứ hai và thứ ba, động từ hai diễn tố không thể chi phối diễn tố thứ ba Như vậy, diễn tố thứ nhất
có thể gặp trong câu gồm một, hai và ba diễn tố Diễn tố thứ hai có thể gặp trong câu có hai và ba diễn tố còn diễn tố thứ ba chỉ có thể gặp trong câu có ba diễn tố
Diễn tố thứ nhất từ góc độ ngữ nghĩa, chính là diễn tố chỉ kẻ hành động
và chính vì vậy, trong ngữ pháp học truyền thống, nó được gọi là chủ thể
(sujet) L Tesnière đề nghị giữ lại thuật ngữ này Trong câu Alfred parle (Anphret nói), Anphret từ góc độ cấu trúc là diễn tố thứ nhất, từ góc độ ngữ
nghĩa chỉ chủ thể của hành động nói
Diễn tố thứ hai về cơ bản, phù hợp với bổ ngữ đối thể trong ngữ pháp học truyền thống L Tesnière đề nghị gọi đơn giản là đối thể Chẳng hạn trong
câu Alfred frappe Bernard (Anphret đánh Bécsna), Becna về mặt cấu trúc là
diễn tố thứ hai, về mặt nghĩa, chỉ đối thể của hành động Khi so sánh diễn tố chủ thể (chủ ngữ) với diễn tố đối thể (bổ ngữ), L Tesnière lưu ý rằng, chúng chỉ đối lập nhau về ngữ nghĩa, còn về cấu trúc (cú pháp), giữa chúng không có
sự đối lập Tác giả nhấn mạnh rằng: trên thực tế, từ góc độ cấu trúc, không phụ thuộc vào chỗ trước chúng là diễn tố (actant) thứ nhất hay thứ hai, yếu tố bị phụ thuộc luôn luôn là bổ ngữ Xuất phát từ cách nhìn nhận đó, L Tesnière đề nghị khi sử dụng các thuật ngữ truyền thống mà không có sự điều chỉnh, cần khẳng định rằng diễn tố chủ thể (chủ ngữ truyền thống) chính là bổ ngữ cũng như những bổ ngữ khác
Trang 27Diễn tố thứ ba, từ góc độ ngữ nghĩa đó là diễn tố mà hành động được thực hiện có lợi hay gây thiệt hại cho nó Diễn tố này về cơ bản, tương ứng với bổ
ngữ gián tiếp trong ngữ pháp học truyền thống Chẳng hạn trong câu Alfred
donne le livre à Charler (Anphret đưa cuốn sách cho Sáclơ), diễn tố thứ ba là Sáclơ Như vậy, ở câu trên có ba diễn tố, cả ba loại diễn tố: thứ nhất, thứ hai, thứ
ba đều xuất hiện
Như vậy, chúng ta có thể hiểu diễn tố là thành tố cú pháp bắt buộc của động từ và bao gồm: diễn tố chủ thể (chủ ngữ) và diễn tố đối thể (bổ ngữ) Khi
đề cập đến các kiểu diễn tố cụ thể, L Tesnière đã chú ý đến kiểu diễn tố được biểu hiện bằng động từ và mệnh đề Theo L Tesnière, mặc dù các diễn tố thường được biểu hiện bằng danh từ nhưng cũng không hiếm trường hợp chúng được biểu hiện bằng động từ và mệnh đề Ông cho rằng, động từ trong vai trò diễn tố, ở tiếng Pháp, trong nhiều trường hợp, thường có hình thức nguyên dạng Thí dụ: Alfred
veut’ partir (Alphơrét muốn ra đi) , Bernard sait chanter ( Becna biết hát) Khi
miêu tả về đặc tính của các diễn tố được biểu hiện bằng động từ nguyên dạng, L Tesnière cho rằng chúng có đặc tính hai mặt: Một mặt, chúng vẫn giữ lại thuộc tính vốn có của động từ, tức là khả năng chi phối các diễn tố và chu tố (actant và circonstant) Mặt khác, chúng lại có đặc tính giống như danh từ, tức là chúng có thể giữ vai trò diễn tố bên động từ, kể cả vai trò diễn tố thứ nhất (diễn tố chủ thể),
lẫn vai trò diễn tố thứ hai (diễn tố đối thể) Ví dụ, trong câu: Avez-vous entendu
chanter Caruso? (Các bạn đã nghe Caruso hát chưa?), từ Caruso là diễn tố thứ
nhất (diễn tố chủ thể) bên động từ nguyên dạng chanter (hát) Trong câu: Réussir
une mayonnaise est chose delicate (Làm được nước sốt ngon là công việc tinh tế),
danh từ mayonnaise (nước sốt) là diễn tố thứ hai (diễn tố đối thể) của động từ nguyên dạng Réussir (làm được) Trường hợp động từ nguyên dạng giữ vai trò diễn tố chủ thể cũng có; ví dụ, trong câu: Réussir enconrage à persésvérer (Đạt
được kết quả sẽ kích thích sự cố gắng), giữ vai trò diễn tố thứ nhất (chủ thể) là
động từ nguyên dạng Réussir (đạt được) Sở dĩ có thể coi động từ nguyên dạng
Trang 28trong câu trên đây là diễn tố chủ thể vì có thể dễ dàng thay nó bằng danh từ như:
la réussite và khi đó, tính chất diễn tố của nó là hoàn toàn rõ ràng Trong câu Alfred esfère réussir (Alphơret hi vọng đạt được kết quả), giữ vai trò diễn tố thứ
hai (diễn tố đối thể) là động từ nguyên dạng réussir (đạt được kết quả)
Trên cơ sở phân tích đặc tính hai mặt của động từ nguyên dạng trong vai trò diễn tố như đã chỉ ra trên đây, L Tesnière cho rằng, về bản chất từ loại, động từ nguyên dạng là hình thức trung gian giữa danh từ và động từ Ngoài khả năng được biểu hiện bằng động từ nguyên dạng, diễn tố còn được biểu hiện bằng mệnh
đề Diễn tố được biểu hiện bằng mệnh đề được L Tesnière gọi là mệnh đề diễn tố
Ví dụ, trong câu: “Je croisqu’ Alfred a raison” (Tôi nghĩ rằng Alphơret đúng),
qu’Alfred a raison (rằng Alphơret đúng) là mệnh đề diễn tố Ý kiến của L
Tesnière về mệnh đề diễn tố cũng như về diễn tố là động từ nguyên dạng là sự gợi
ý bổ ích cho chúng tôi trong việc nghiên cứu kiểu diễn tố được biểu hiện bằng danh từ, nhóm danh từ, vị từ và cụm chủ vị trong tiếng Việt
1.3 Khái niệm chi phối và đặc điểm chi phối của động từ
1.3.1 Khái niệm chi phối
Theo cuốn “Từ điển tiếng Việt”, “chi phối” được hiểu là “có tác dụng chỉ đạo hoặc khống chế” [43, 208]
Trong luận văn này, chi phối của động từ được hiểu chung, (áp dụng cho cả ngôn ngữ biến hình lẫn không biến hình) là khả năng của động từ đòi hỏi và quy định số lượng, đặc tính (ý nghĩa và hình thức) của các thành tố bắt buộc cần xuất hiện bên nó Ví dụ, động từ “ăn”, trong tiếng Việt đòi hỏi phải có hai thành tố bắt buộc, gồm thành tố chỉ chủ thể thực hiện hành động “ăn” và đối thể của hành
động này, ví dụ: “Tôi ăn cơm”
1.3.2 Vấn đề nghiên cứu sự chi phối của động từ trong tiếng Việt theo lí thuyết kết trị
Ở Việt Nam, đặc điểm chi phối của động từ đã được đề cập trong công
trình Kết trị của động từ trong tiếng Việt (1995) [34], Các mô hình kết trị của
Trang 29động từ tiếng Việt (2000) của Nguyễn Văn Lộc [35], Phân tích và phân loại câu theo lí thuyết kết trị của tác giả Nguyễn Mạnh Tiến [58] Một số tác giả như:
Diệp Quang Ban trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt [2], Nguyễn Minh Thuyết trong cuốn Thành phần câu tiếng Việt [57], Lý Toàn Thắng trong Một số vấn đề lí luận
ngôn ngữ học và tiếng Việt [54] cũng đã ít nhiều nhắc tới sự ảnh hưởng và chi
phối của động từ tới các thành phần câu Tuy vậy, do tính chất của các công trình này, các tác giả mới chỉ có điều kiện nêu khái quát về các kiểu diễn tố có ảnh hưởng bởi động từ hạt nhân Mặt khác, theo quan niệm của một số tác giả, chủ ngữ, bổ ngữ không phải luôn trùng với diễn tố chủ thể và diễn tố đối thể
Do đó, nghiên cứu đặc điểm chi phối của động từ đối với diễn tố đối thể và diễn tố chủ thể trong câu tiếng Việt, theo chúng tôi là một hướng nghiên cứu mới
và cần thiết
1.3.3 Các kiểu chi phối của động từ
Theo cách hiểu về chi phối và chi phối của động từ như trên, có thể xác định các kiểu chi phối sau:
1 Sự chi phối của động từ đối với số lượng các diễn tố
Theo tiêu chí này, có thể xác định bốn tiểu loại động từ tương ứng với số lượng diễn tố mà chúng chi phối
a Động từ không đòi hòi diễn tố (mưa, nắng, sáng, tối )
b Động từ đòi hỏi một diễn tố (thức, ngủ, đi, chạy )
c Động từ đòi hỏi hai diễn tố (ăn, đọc, đánh, đập )
d Động từ đòi hỏi ba diễn tố (trao, tặng, cấm, mời )
2 Sự chi phối của động từ với đặc tính của diễn tố
Theo tiêu chí này, có thể xác định hai dạng chi phối:
a Sự chi phối của động từ đối với hình thức (cấu tạo, phương thức kết hợp, khả năng cải biến) của diễn tố
b Sự chi phối của động từ đối với ý nghĩa của diễn tố
1.4 Khái niệm ý nghĩa và các kiểu ý nghĩa của từ
Trang 301.4.1 Khái niệm ý nghĩa
Theo “Từ điển tiếng Việt”, ý nghĩa được hiểu theo hai cách: 1 “Nội dung chứa đựng trong một hình thức biểu hiện bằng ngôn ngữ, văn tự hoặc bằng một kí
hiệu nào đó” ; ví dụ: bài thơ có ý nghĩa châm biếm/ lời nói hàm nhiều ý nghĩa 2 Giá trị, tác dụng ; ví dụ: chiến thắng có ý nghĩa quyết định/ việc đó chẳng có ý
nghĩa gì [43, 1486]
Ý nghĩa lâu nay có thể được hiểu theo hai cách: đồng nhất với nghĩa hoặc
bao gồm cả ý và nghĩa
Nghĩa theo “Từ điển tiếng Việt” có hai cách hiểu: 1 Nội dung diễn đạt của
một kí hiệu, đặc biệt là kí hiệu ngôn ngữ, 2 Cái nội dung làm thành giá trị [43, 872]
Ở ngôn ngữ, nói đến ý là nói đến cái được biểu đạt mà người ta phải tìm,
phải đoán, nó mang tính lâm thời, gắn với hoàn cảnh sử dụng và có thể biểu đạt
bằng vỏ vật chất thuộc bất kì loại hình nào Còn nghĩa là nói đến cái được biểu đạt
mà người ta có thể học thuộc, ghi nhớ vì nó có tính ổn định, gắn chặt với hình thức của tín hiệu, của biểu thức ngôn ngữ
Trong cuốn “Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt”, các tác giả cho rằng: “Ý nghĩa của từ là sự phản ánh thuộc tính của đối tượng hiện thực hay đối tượng trừu tượng do tư duy đề ra vào vỏ âm thanh của từ thông qua chủ thể tư duy là con người xã hội Sự phản ánh làm thành ý nghĩa của từ trong phần lớn trường hợp, diễn ra bằng một trong hai cách sau đây: gọi tên (hay là định danh) và biểu thị kèm (kèm theo từ khác)” [17, 268] Theo đó, thực từ gọi tên đối tượng, hiện tượng thực hay đối tượng trừu tượng, hư từ là từ biểu thị quan hệ theo lối đi kèm theo các từ khác, thán từ cũng là từ hư
Ví dụ, từ “cây” trong tiếng Việt có vỏ ngữ âm [cây] và có nội dung, có ý
nghĩa của nó: từ ngữ âm [cây], việc gọi tên những cái cây cụ thể bằng từ đó và sự phản ánh những cái cây ấy trong ý thức gọi là ý niệm về cây
Theo PGS.TS Hà Quang Năng, “Nghĩa của từ là những liên hệ được xác lập trong nhận thức của chúng ta giữa từ với cái gì đó nằm ngoài bản thân nó”
Trang 31[41, 52] Cách hiểu này về cơ bản phù hợp với cách hiểu của Nguyễn Thiện Giáp Trong luận văn này, về cơ bản, chúng tôi tán thành cách hiểu trên đây
1.4.1 Các kiểu ý nghĩa của từ
Thông thường khái niệm ý nghĩa được hiểu gồm nghĩa từ vựng và nghĩa ngữ pháp Nghĩa từ vựng là ý nghĩa riêng của từng từ, còn ý nghĩa ngữ pháp là ý nghĩa chung bao trùm lên một loạt đơn vị ngôn ngữ và được thể hiện bằng những phương tiện ngữ pháp nhất định
Nghĩa từ vựng của từ bao gồm:
Nghĩ biểu vật: Là mối liên hệ giữa từ với sự vật (hiên tượng, thuộc tính, hành động) mà nó chỉ ra Bản thân sự vật, hiện tượng, thuộc tính, hành động đó, người ta gọi là biểu vật hay cái biểu vật
Nghĩa biểu niệm: Là mối liên hệ giữa từ với khái niệm hoặc biểu tượng mà
từ biểu thị
Nghĩa ngữ pháp bao gồm:
- Nghĩa ngữ pháp tự thân: Là ý nghĩa ngữ pháp vốn có ở từ không phụ thuộc vào vai trò, chức năng mà nó đảm nhiệm trong câu (ví dụ: nghĩa sự vật ở danh từ, nghĩa hoạt động của động từ )
- Nghĩa ngữ pháp quan hệ (nghĩa cú pháp): Là ý nghĩa ngữ pháp nảy sinh trên cơ sở mối quan hệ cú pháp giữa các từ trong câu (ví dụ: ý nghĩa cú pháp chủ thể đặc trưng cho chủ ngữ, ý nghĩa cú pháp đối thể đặc trưng cho bổ ngữ)
1.5 Hình thức ngữ pháp của từ
1.5.1 Khái niệm hình thức ngữ pháp của từ
Theo “Từ điển tiếng Việt”, khái niệm hình thức được hiểu là: “toàn thể nói chung những gì làm thành bề ngoài của sự vật, chứa đựng hoặc biểu hiện nội dung” [43, 571]
Theo cách hiểu trên đây về hình thức, hình thức ngữ pháp được hiểu là các phương tiện, các yếu tố vật chất của ngôn ngữ dùng để biểu thị các ý nghĩa ngữ
Trang 32pháp Ví dụ: “Công việc của chúng ta rất khó khăn Nhưng chúng ta nhất định sẽ
vượt qua những khó khăn ấy” Từ khó khăn thứ nhất có ý nghĩa chỉ tính chất
(chung cho tất cả các tính từ), ý nghĩa này bộc lộ nhờ hình thức kết hợp với từ rất
ở trước Từ khó khăn thứ hai có ý nghĩa sự vật (chung cho tất cả các danh từ), ý nghĩa này bộc lộ nhờ hình thức kết hợp với những ở trước và từ ấy ở sau
Theo Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán, “hình thức ngữ pháp là tương quan của một ý nghĩa ngữ pháp và một phương thức ngữ pháp nào đấy trong sự thống nhất của chúng Chỉ cần thay đổi một trong hai phương diện của tương quan này, chúng ta sẽ nhận được một hình thức ngữ pháp khác: thay đổi phương thức khi vẫn giữ nguyên ý nghĩa, hay thay đổ ý nghĩa khi giữ nguyên phương thức thì vẫn dẫn đến các hình thức ngữ pháp khác nhau” [12, 93]
Cũng như ý nghĩa từ vựng, ý nghĩa ngữ pháp phải được thể hiện ra bằng những hình thức nhất định Có điều, mỗi loại ý nghĩa tìm cho mình một loại phương tiện biểu hiện riêng Đối với việc biểu đạt ý nghĩa từ vựng, phương tiện ấy
là phương tiện từ vựng Còn phương tiện thích hợp để biểu đạt ý nghĩa ngữ pháp
là phương tiện ngữ pháp Ví dụ: các ý nghĩa từ vựng chỉ “cái bút”, “quyển
sách” trong tiếng Anh được thể hiện bằng những từ tương ứng như: pen, book;
trong khi đó, ý nghĩa ngữ pháp “số nhiều” của các từ này thì được thể hiện bằng
phụ tố s, và ý nghĩa ngữ pháp “số ít” thì được thể hiện bằng phụ tố zero
Về mặt lí thuyết, mỗi hình thức ứng với một ý nghĩa ngữ pháp thuộc một phạm trù ngữ pháp nhất định Hình thức ngữ pháp của từ trong các ngôn ngữ đơn lập như tiếng Việt, tiếng Hán là một vấn đề đang được bàn luận Có ý kiến cho rằng, ở các ngôn ngữ này, các từ không biến đổi hình thức nội bộ để phù hợp với các ý nghĩa ngữ pháp khác nhau nên chúng là các từ “phi hình thái” Cũng theo cách hiểu này, hình thức ngữ pháp của từ là khả năng phân xuất từ thành hai nửa căn tố (thân từ) và phụ tố Nếu thế thì từ trong tiếng Việt lại rơi vào tình trạng “phi hình thái” và không có từ loại
Trang 33Khác với cách hiểu trên đây, nhiều tác giả cho rằng bất kì ý nghĩa ngữ pháp nào của một từ, một tổ hợp từ hay một câu nào cũng có những hình thức thể hiện của nó Theo các tác giả của cuốn sách “Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt”, hình thức ngữ pháp của từ trong tiếng Việt “phải được xem xét ở khả năng kết hợp / không kết hợp của nó với các từ khác, ví dụ, danh từ kết hợp được với
số từ, loại từ, chỉ định từ: ba chiếc bàn cũ này; tính từ kết hợp được với rất, quá,
lắm, rất hay, quá đẹp, thú vị lắm ” [17, 246] Cách hiểu trên đây là cách hiểu
rộng về hình thức ngữ pháp và chúng tôi tán thành cách hiểu này
1.5.2 Các đặc điểm về hình thức ngữ pháp của từ tiếng Việt
Đặc điểm về hình thức của từ là toàn bộ những dấu hiệu hình thức phản ánh theo cách nào đó những đặc điểm nội dung
Đối với một ngôn ngữ không biến hình như tiếng Việt, hình thức ngữ pháp của từ (theo nghĩa riêng) bao gồm:
- Trật tự (vị trí) của từ trong câu
- Hư từ ngữ pháp (của, hãy, về, những, các, đã, sẽ )
- Ngữ điệu
1.6 Tiểu kết chương 1
Chương 1 trình bày năm vấn đề chính: động từ; lý thuyết kết trị, khái niệm diễn tố, chu tố; khái niệm chi phối và đặc điểm chi phối của động từ; khái niệm ý nghĩa và các kiểu ý nghĩa; hình thức ngữ pháp của từ
Động từ là một loại thực từ dùng để chỉ hoạt động của sự vật, hiện tượng Động từ có thể được xác định dựa vào ý nghĩa, khả năng kết hợp, chức năng cú pháp Phân loại động từ có thể dựa vào ý nghĩa và hình thức ngữ pháp, đặc điểm chi phối, thuộc tính kết trị
Kết trị được hiểu là thuộc tính kết hợp cú pháp của từ Đó là khả năng của các thực từ tạo ra xung quanh mình các vị trí mở cần hoặc có thể làm đầy bởi các thành tố cú pháp bắt buộc hay tự do (kết trị chủ động) hoặc khả năng của từ làm đầy các vị trí mở bên thực từ nhất định (kết trị bị động)
Trang 34Đặc điểm chi phối của động từ là khả năng của động từ đòi hỏi và quy định
số lượng, đặc tính (ý nghĩa và hình thức) của các thành tố cú pháp bắt buộc phụ thuộc vào nó
Nghĩa của từ là những mối liên hệ được xác lập trong nhận thức của mỗi chúng ta giữa từ với cái gì đó nằm ngoài bản thân nó Hiểu nghĩa của một đơn vị nào đó là hiểu đơn vị ấy có quan hệ với cái gì, tức là nó biểu thị cái gì
Hình thức ngữ pháp của từ là toàn bộ những phương tiện dấu hiệu chỉ ra
ý nghĩa của chúng Theo nghĩa rộng, hình thức ngữ pháp của từ trong tiếng Việt gồm: trật tự từ (vị trí của từ trong câu), các hư từ ngữ pháp và ngữ điệu
Chương 2: SỰ CHI PHỐI CỦA ĐỘNG TỪ ĐỐI
VỚI DIỄN TỐ CHỦ THỂ 2.1 Sự chi phối của động từ đối với hình thức của diễn tố chủ thể (chủ ngữ)
2.1.1 Sự chi phối của động từ đối với mặt cấu tạo của diễn tố chủ thể (chủ ngữ) 2.1.1.1 Dẫn nhập
Chủ ngữ (diễn tố chủ thể) là một trong hai diễn tố (thành tố bắt buộc) của động từ Diễn tố chủ thể có khả năng xuất hiện bên tất cả các động từ, trong khi
đó, diễn tố đối thể chỉ đặc trưng cho các động từ ngoại hướng; vì vậy, diễn tố chủ thể tỏ ra vai trọng hơn diễn tố đối thể Có thể thấy đặc điểm cơ bản về nội dung và hình thức của diễn tố chủ thể là:
Về nội dung: diễn tố chủ thể bổ sung cho động từ ý nghĩa cú pháp chủ thể hoạt động
Về hình thức: diễn tố chủ thể, ở dạng cơ bản, được biểu hiện bằng danh từ không được dẫn nối bởi quan hệ từ phụ thuộc đứng trước động từ và trả lời cho
câu hỏi: ai?, cái gì? Ở dạng không cơ bản, diễn tố chủ thể có thể được biểu
hiện bằng vị từ, cụm chủ vị
Với ý nghĩa hoạt động, tất cả các động từ đều cho phép chủ ngữ là danh
từ, (nhóm danh từ), tức là từ chỉ kẻ hoạt động, trong đó, có những nhóm động
Trang 35từ luôn đòi hỏi chủ ngữ là danh từ (nhóm danh từ) và có những nhóm động từ cho phép chủ ngữ vừa có thể là danh từ (nhóm danh từ) vừa có thể là vị từ, cụm chủ vị Dưới đây, chúng tôi sẽ lần lượt xem xét các nhóm động từ theo đặc điểm chi phối của chúng đối với mặt cấu tạo của diễn tố chủ thể
2.1.1.2 Những động từ luôn đòi hỏi chủ ngữ là danh từ, nhóm danh từ (đại từ)
Những nhóm động từ luôn chi phối chủ ngữ là danh từ, nhóm danh từ nói chung, đều là những động từ - thực từ Chúng bao gồm:
1 Nhóm động từ chỉ sự chuyển động không bao hàm ý nghĩa phương
hướng: đi, chạy, nhảy, bơi, bò, lăn
Ví dụ:
Người đàn ông đi sau (Nguyễn Minh Châu - Chiếc thuyền ngoài xa) Đàn sẻ táo tác bay đặc trời (Võ Thị Xuân Hòa - Đàn sẻ ri bay ngang rừng) Lor - ca bơi sang ngang (Thanh Thảo - Đàn ghi ta của Lor - ca)
2 Nhóm động từ chỉ tư thế, trạng thái vật lí của người, sự vật: đứng,
ngồi, nằm, nghiêng ngả, mở, đóng, nằm, đậu, lắc lư
Ví dụ:
Nhĩ nằm yên để cho vợ chải những nhát lược cuối cùng (Nguyễn Minh
Châu - Bến quê)
Thăng ngồi và Hạnh nằm (Nguyễn Minh Châu - Cơn giông)
Chú chuột nhắt đang nằm yên như chết vụt vùng chạy (Tô Hoài - O
Chị Dậu còn thức hay ngủ (Ngô Tất Tố - Tắt đèn)
Hạnh thở dài một tiếng (Nguyễn Minh Châu - Cơn giông)
Trang 364 Nhóm động từ chỉ trạng thái tình cảm: vui, buồn, lo lắng, mừng, tủi,
âu sầu, ảo não, boăn khoăn
Ví dụ:
Thản buồn rầu nhìn xa hút về cuối nghĩa trang (Võ Thị Xuân Hà - Đàn sẻ
ri bay ngang rừng)
Bà cụ Tứ vừa vui, vừa tủi (Kim Lân - Vợ nhặt)
5 Nhóm động từ chỉ sự thành bại của hoạt động nào đó: thành công,
hoàn thành, thành đạt, đỗ đạt, thất bại,
Ví dụ:
Năm 1945, Cách mạng Tháng Tám thành công (Lịch sử lớp 11)
6 Nhóm động từ chỉ sự vận động biến đổi về khối lượng, phẩm chất,
đặc điểm: tăng, giảm, thay đổi, phát triển, biến đổi, suy thoái, lớn (lên), gầy
(đi), trắng (ra)
Ví dụ:
Vài đại đội cũ chuyển sang trung đoàn mới (Nguyễn Minh Châu - Những
vùng trời khác nhau)
Mây đen đang chuyển dịch (Nguyễn Minh Châu - Cơn giông)
Đoàn tàu đã khởi hành (Nguyễn Minh Châu - Một lần đối chứng)
Sang đầu thế kỉ xx, phong trào chống Pháp vẫn phát triển ở khắp nơi
trong tỉnh (Lục Văn Vận - Lịch sử địa phương Thái Nguyên)
7 Nhóm động từ chỉ hoạt động cảm nghĩ, nói năng: nói, hát, im lặng,
ba hoa, kêu, la, khóc, cười
Ví dụ:
Cánh nhà báo cười ồ lên (Nguyễn Minh Châu - Cơn giông)
A Phủ nói: “Đi với tôi” (Tô Hoài - Vợ chồng A Phủ)
Chủ tịch xã nói về trường hợp lấy vợ của Sinh (Nguyễn Khải - Lãng tử)
8 Nhóm động từ chỉ hoạt động tạo ra đối thể: sinh, viết, vẽ, làm, lập,
sáng tác, soạn thảo, đắp, xây, đào, trồng
Trang 37Ví dụ:
Một năm sau, Kiếm sinh đứa con gái đầu (Nguyễn Khải - Một bàn tay và
chín bàn tay)
Chúng lập ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc, để ngăn cản việc
thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết (Hồ Chí Minh - Tuyên ngôn Độc lập)
Bắt đầu ông xây một cái cổng ghạch có hai tấm cửa sổ (Tô Hoài - Bức vẽ
truyền thần)
9 Nhóm động từ chỉ hoạt động tác động làm thay đổi đối thể về mặt
nào đó: đánh, đập, đốt, phá, bắn, giết, cắn, xé, đâm, xuyên
Ví dụ:
A Phủ đánh chết nó đi (Tô Hoài - Vợ chồng A Phủ)
Kha xé cái phong bì (Nguyễn Đình Thi - Xung kích)
Trẻ con đã sắp bát đũa lách cách dưới bếp ( Nguyễn Khải - Cặp vợ chồng
ở chân động Từ Thức)
Tnú gạt tay ông cụ ra (Nguyễn Trung Thành - Rừng xà nu)
10 Nhóm động từ chỉ hoạt động nhằm giữ nguyên hiện trạng của đối
thể: bảo quản, bảo vệ, giữ gìn, hộ tống, canh gác
Ví dụ:
Những người lính hải quân ngày đêm canh gác biển
Lính hộ tống ông trong chuyện đi lại mỗi ngày (Thế giới mới Số 328)
11 Nhóm động từ chỉ hoạt động làm rõ đặc điểm, bản chất của đối
thể: phản ánh, thể hiện, ghi nhận, phân tích, chứng minh, miêu tả, giải thích,
phơi bày, bày tỏ, vạch trần, công bố
Ví dụ:
Văn học phản ánh hiện thực
Nga đang chứng minh mình vô tội
Trang 38Tập thơ thể hiện sự gắn bó và lòng biết ơn đối với Đảng (Ngữ văn 12)
12 Nhóm động từ chỉ tình cảm: yêu, thương, quý, mến, căm thù, khinh bỉ
Ví dụ:
Ông cụ già thích sự trật tự và hài hòa đã mất trong lần di tản cư đầy hỗn
loạn năm 1975 (Nguyễn Minh Châu - Cơn giông)
Chị Sứ yêu Hòn Đất bằng cái tình yêu hầu như là máu thịt (Anh Đức -
Hòn Đất)
Cúc rất thương anh (Nghiêm Văn Tân - Đài hoa tím)
13 Nhóm động từ với ý nghĩa cảm thụ: nghe, nhìn, xem, thấy, đọc
Ví dụ:
Bà bán hàng vẫn nhìn theo nhưng không nói gì (Nguyễn Khải - Ông cháu) Cặp mắt anh nhìn tôi (Nguyễn Minh Châu - Người đàn bà trên chuyến tàu
tốc hành)
Dít đọc rất lâu, đọc đi đọc lại đến ba lần (Nguyễn Trung Thành - Rừng xà nu)
14 Nhóm động từ chỉ sự chuyển động có hướng: ra, vào, lên, xuống,
sang, qua, về, đến, tới
Ví dụ:
Có một người lạ vừa lên nhà A Phủ (Tô Hoài - Vợ chồng A Phủ)
Bà mẹ chồng về quê (Nguyễn Khải - Đàn bà)
Bân về làng (Tô Hoài - Mường Giơn)
Người ở các xứ khác cũng đến (Nguyễn Khải - Nằm vạ)
Rồi cách mạng tới (Nguyễn Khải - Đã từng có ngày vui)
Sương mù xuống trắng xóa (Nguyễn Khải - Nằm vạ)
15 Nhóm động từ chỉ hoạt động của bộ phận cơ thể: nhắm, lắc, gật,
nháy, trợn, quắc, há
Ví dụ:
Đẩu gật đầu (Nguyễn Minh Châu - Chiếc thuyền ngoài xa)
Thành trừng mắt lên (Bùi Hiển - Ánh mắt)
Trang 39Chị Thừa tặc lưỡi, ra vẻ không tin (Nguyễn Công Hoan - Đống rác cũ)
Chẳng hạn, đối với những câu: “Chàng xạ thủ mặc áo xanh bắn con chim
đang mổ con sâu bò trên cành quýt.”, sau khi đã xác định được động từ - vị
ngữ là bắn, ta hoàn toàn có thể xác định được cấu tạo của chủ ngữ: chủ ngữ của
câu này chỉ có thể là cụm danh từ (nhóm, ngữ danh từ) chứ không thể là cụm
chủ vị vì bắn là động từ không bao giờ chi phối chủ ngữ là cụm chủ vị
Tương tự như vậy, đối với câu: “Những người trông coi vườn bách thú
thường bảo rằng hổ báo hiền như mèo.”, có thể khẳng định chủ ngữ (của động
từ bảo) cũng là cụm danh từ chứ không phải là cụm chủ vị
Trong phân tích cú pháp, để xác định đặc điểm cấu tạo của chủ ngữ, về nguyên tắc, cần phải dựa vào ý nghĩa và thuộc tính chi phối (thuộc tính kết trị) của động từ - vị ngữ Chẳng hạn, đối với hai câu vừa dẫn ra trên đây, sở dĩ có thể khẳng định chủ ngữ của câu đều là danh từ (cụm danh từ) là vì:
- Về ý nghĩa, các động từ - vị ngữ (bắn, bảo) đều chỉ hoạt động cụ thể
thuộc về con người, tức là hoạt động mà kẻ hoạt động hay chủ thể hoạt động phải là người Kẻ hoạt động hay chủ thể đó đương nhiên, phải được biểu thị bằng danh từ, cụm danh từ (hay đại từ thay thế cho danh từ)
- Về kết trị hay đặc điểm chi phối:
Trang 40+ Động từ - vị ngữ trên đây (bắn, bảo) luôn tạo ra hai vị trí mở (ô trống)
bắt buộc làm đầy, trong đó, vị trí mở ở trước động từ được đánh dấu bằng từ
nghi vấn ai (là từ hỏi về người) Làm đầy vị trí mở hay ô trống được đánh dấu bằng ai chỉ có thể là danh từ, cụm danh từ (đại từ nhân xưng)
+ Có thể dùng thủ pháp thay thế để kiểm tra: Các chủ ngữ trong hai câu trên
đây đều có thể thay thế bằng: ai, nó, họ, vậy chúng là danh từ, cụm danh từ
2.1.1.3 Những nhóm động từ cho phép chủ ngữ vừa có thể là danh từ, nhóm danh từ, vừa có thể là vị từ, cụm chủ vị
Những nhóm động từ sau vừa cho phép chủ ngữ là danh từ, nhóm danh từ vừa cho phép chủ ngữ là vị từ, cụm chủ vị, gồm:
1 Động từ là chỉ quan hệ đồng nhất hoặc bao hàm
- Chủ ngữ là danh từ, nhóm danh từ:
Tre già là bà lim
Định Tàu là một địa danh nổi tiếng của nhiều sự kiện đã thuộc về lịch sử
của một vùng đất (Nguyễn Khải - Lãng tử)
Người to tiếng nhất là mụ Bột (Nguyễn Khải - Nằm vạ)
Mặt xóm là một nếp nhà thờ lợp ngói cũng giản dị và bé nhỏ như ngôi nhà
ở (Nguyễn Minh Châu - Người mẹ xóm ngụ cư)
- Chủ ngữ là vị từ:
Mặc là thế, ăn cũng là thế (Nguyễn Khải - Luật trời)
Làm văn học là chiến đấu vì cách mạng (Nguyễn Công Hoan - Hỏi
chuyện các nhà văn)
Lúc này, chống Mĩ cứu nước là nhiệm vụ thiêng liêng nhất của mỗi người
Việt Nam yêu nước (Hồ Chí Minh)
Tìm chỗ ở mùa đông là việc năm nào cũng phải làm và bao giờ cũng gian
nan (Tô Hoài - Dế mèn phưu lưu kí)
Hạnh phúc là đấu tranh (C Mác)