Không có một nội dung giao tiếp nào có thể tách rời khỏi những nhân tố như mục đích, nhu cầu, thái độ, sự đánh giá… của người nói đối với điều được nói ra xét trong quan hệ với hiện thực
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
PHÙNG THANH HẢO
NGHĨA TÌNH THÁI ĐÁNH GIÁ CỦA CÂU
TRONG CÁC VĂN BẢN TRUYỆN VÀ KÍ
GIẢNG DẠY Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
PHÙNG THANH HẢO
NGHĨA TÌNH THÁI ĐÁNH GIÁ CỦA CÂU
TRONG CÁC VĂN BẢN TRUYỆN VÀ KÍ
GIẢNG DẠY Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Chuyên ngành: Ngôn ngữ Việt Nam
Mã số: 60.22.01.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Nhung
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ: Nghĩa tình thái đánh giá của câu
trong các văn bản truyện, kí giảng dạy ở trường trung học phổ thông là kết
quả nghiên cứu của riêng tôi, không sao chép của ai Các số liệu, kết quả nêu
trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong các công trình khác
Nếu sai, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Tác giả luận văn
Phùng Thanh Hảo
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc nhất tới TS Nguyễn
Thị Nhung, cô đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình nghiên
cứu để hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô giáo khoa Ngữ văn,
Khoa Sau Đại học - Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên cùng các thầy giáo
ở Viện Ngôn ngữ học, Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam, trường Đại
học Sư phạm Hà Nội đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ tôi hoàn thành khóa học
Cuối cùng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè đồng nghiệp đã
động viên khích lệ tôi để hoàn thành luận văn
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2015
Tác giả luận văn
Phùng Thanh Hảo
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục từ viết tắt iv
Danh mục các bảng v
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Đối tượng và phạm vi khảo sát của đề tài 5
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Đóng góp của luận văn 6
7 Cấu trúc của luận văn 7
Chương 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN 8
1.1 Sơ lược về câu xét trên hai bình diện cấu trúc và ngữ nghĩa 8
1.1.1 Khái niệm câu và thuật ngữ câu 8
1.1.2 Sơ lược về câu xét trên bình diện cấu trúc 10
1.1.3 Sơ lược về câu xét trên bình diện ngữ nghĩa 13
1.2 Sơ lược về từ, tổ hợp từ, cặp từ, từ loại 24
1.2.1 Từ 24
1.2.2 Tổ hợp từ 24
1.2.3 Cặp từ, cặp tổ hợp từ 25
1.2.4 Từ loại 25
1.3 Sơ lược về truyện và kí 26
1.3.1 Khái niệm truyện và kí 26
1.3.2 Nhân vật văn học 27
Trang 61.4 Đôi nét về việc dạy học truyện và kí, dạy học nghĩa của câu và giảng
dạy văn hoá cho học sinh ở trường trung học phổ thông 28
1.4.1 Tình hình dạy học truyện và kí ở trường phổ thông 28
1.4.2 Đôi nét về việc dạy học nghĩa của câu ở trường phổ thông 31
1.4.3 Sơ lược về việc dạy học văn hoá cho học sinh ở trường phổ thông 33
1.5 Tiểu kết 35
Chương 2: CÁC PHƯƠNG TIỆN, CÁC SẮC THÁI NGHĨA TÌNH THÁI ĐÁNH GIÁ CỦA CÂU TRONG NHỮNG VĂN BẢN TRUYỆN VÀ KÍ GIẢNG DẠY Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 36
2.1 Các phương tiện biểu thị nghĩa tình thái đánh giá của câu trong các văn bản truyện và kí giảng dạy ở trường trung học phổ thông 36
2.1.1 Các phương tiện biểu thị tình thái đánh giá xét theo vị trí trong câu 36
2.1.2 Các phương tiện biểu thị nghĩa tình thái đánh giá xét theo cấu tạo và từ loại 40
2.2 Các sắc thái nghĩa tình thái đánh giá của câu trong các văn bản truyện và kí……… 47
2.2.1 Kết quả khảo sát 47
2.2.2 Nhóm sắc thái đánh giá về lượng 48
2.2.3 Nhóm sắc thái đánh giá về chất 55
2.3 Tiểu kết 62
Chương 3: VẬN DỤNG NGHĨA TÌNH THÁI ĐÁNH GIÁ VÀO VIỆC DẠY HỌC NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 64
3.1 Vận dụng nghĩa tình thái đánh giá trong các văn bản truyện và kí vào việc dạy học Văn học ở trường trung học phổ thông 64
3.2 Vận dụng nghĩa tình thái đánh giá trong các văn bản truyện và kí vào việc dạy học tiếng Việt 71
3.2.1 Đối với việc dạy lí thuyết nghĩa của câu 72
3.2.2 Đối với việc dạy luyện tập nghĩa của câu 72
Trang 73.3 Vận dụng nghĩa tình thái đánh giá trong các văn bản truyện và kí vào
việc giáo dục văn hóa cho học sinh trung học phổ thông 76
3.4 Tiểu kết 85
KẾT LUẬN 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
Trang 8DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
C-V: Chủ ngữ - vị ngữ
NTT: Nghĩa tình thái NTTKQ: Nghĩa tình thái khách quan NTTCQ: Nghĩa tình thái chủ quan NTTNT: Nghĩa tình thái nhận thức NTTĐG: Nghĩa tình thái đánh giá NTTCX: Nghĩa tình thái cảm xúc NTTĐL: Nghĩa tình thái đạo lí NTTTĐ: Nghĩa tình thái thái độ THPT : Trung học phổ thông
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Các phương tiện biểu thị nghĩa tình thái đánh giá xét theo vị trí
trong câu 36 Bảng 2.2 Phân loại các phương tiện biểu thị nghĩa tình thái đánh giá
xét theo cấu tạo và từ loại 40 Bảng 2.3 Các sắc thái nghĩa tình thái đánh giá 47
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Về các thành phần cơ bản trong nghĩa tường minh của câu, bên cạnh nghĩa miêu tả, còn có thành phần thể hiện quan hệ của điều được nói tới trong câu với hiện thực khách quan, quan hệ của người nói với điều được nói tới trong câu và với người nghe Thành phần này được gọi là nghĩa tình thái (NTT) của câu
Trong những năm gần đây, NTT nổi lên như một trong những trọng tâm nghiên cứu của ngôn ngữ học Có thể nói, sự quan tâm đến tình thái là một tất yếu trong quá trình phát triển của ngôn ngữ học Bởi lẽ nếu không quan tâm NTT, thì chúng ta sẽ không thể hiểu được bản chất của ngôn ngữ, với tư cách là công cụ con người dùng để phản ánh thế giới trong hoạt động nhận thức và tương tác xã hội Không có một nội dung giao tiếp nào có thể tách rời khỏi những nhân tố như mục đích, nhu cầu, thái độ, sự đánh giá… của người nói đối với điều được nói ra xét trong quan hệ với hiện thực, với đối tượng giao tiếp và các nhân tố khác của ngữ cảnh giao tiếp Bally đã rất đúng khi cho rằng NTT là linh hồn của phát ngôn Tuy nhiên, NTT là một khái niệm vô cùng phức tạp Nhiều nhà nghiên cứu phải thừa nhận rằng khó có thể tìm thấy hai tác giả có quan niệm hoàn toàn thống nhất với nhau về NTT trong ngôn ngữ NTT đã và đang được chú ý và ngày càng được giới ngôn ngữ học nghiên cứu chuyên sâu,
tiếp cận theo nhiều hướng, nhiều phương diện khác nhau: nghĩa tình thái của
từ, nghĩa tình thái của câu, vị từ tình thái… Nghĩa tình thái đánh giá (NTTĐG)
là một phương diện của NTT trong câu đến nay chưa được công trình nào tìm hiểu một cách chuyên sâu Đây là bộ phận biểu thị thái độ, sự đánh giá của người nói đối với sự thể được nói tới trong câu Tìm hiểu loại NTT này sẽ giúp
ta nắm được rõ hơn nghĩa của câu, mục đích sử dụng câu, từ đó hiểu hơn toàn
bộ ngôn bản
1.2 Qua thực tế giảng dạy, chúng tôi nhận thấy:
- Giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương
Trang 11Đề án đổi mới chương trình và sách giáo khoa giáo dục phổ thông sau năm
2015 nêu rõ một trong những quan điểm nổi bật là phát triển chương trình theo định hướng năng lực Theo đó, môn Ngữ văn được coi là môn học công cụ, mà năng lực giao tiếp bằng tiếng Việt và năng lực thưởng thức văn học/cảm thụ thẩm mĩ là những năng lực đặc thù của môn học
- Các văn bản văn học Việt Nam trong sách Ngữ văn trung học phổ thông (THPT) – chương trình chuẩn, tương đối đa dạng Trong đó, văn bản nghệ thuật chiếm số lượng rất lớn ở cả 3 khối lớp NTT của câu trong những văn bản đó có nhiều biểu hiện đa dạng, phong phú Việc tìm hiểu chúng có thể giúp thấy được các nét bản chất của NTT trong câu, góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lí luận chung về NTT và các bộ phận của nó trong tiếng Việt, phục vụ thiết thực cho việc nâng cao chất lượng dạy học Văn học, Tiếng Việt, đặc biệt là phần nghĩa của câu Đồng thời giúp học sinh hình thành và phát triển các năng lực học tập của môn học
Từ những lí do trên, đề tài: Nghĩa tình thái đánh giá của câu trong các
văn bản truyện và kí giảng dạy ở trường trung học phổ thông được chọn làm
hướng nghiên cứu cho luận văn này
2 Lịch sử vấn đề
Trong ngôn ngữ học, vấn đề NTT đã được các nhà nghiên cứu quan tâm đến từ lâu Nhưng khi đề cập đến các phương tiện biểu hiện và phân loại NTT thì các tác giả lại có những quan niệm khác nhau và có nhiều điểm còn tranh luận NTTĐG – một phương diện của NTT cũng đã được một số nhà ngôn ngữ quan tâm Ở đây, chúng tôi xin điểm lại tình hình nghiên cứu NTTĐG của một
số tác giả Việt Nam và thế giới
2.1 Trên thế giới các nhà ngôn ngữ học như: Resches, Volf, Lyon…đã tìm hiểu và có những nhận định ban đầu về NTTĐG
Resches – một trong những người tiên phong nghiên cứu về NTT cho rằng: ngoài tình thái tất suy, nhận thức và đạo nghĩa, còn có tình thái thời đoạn,
Trang 12Trong ngôn ngữ học, khi vai trò của chủ thể giao tiếp là con người được chú ý đến thì đồng thời ý nghĩa đánh giá cũng được đặt vào vị trí xứng đáng của nó Khi xem xét ngữ nghĩa chức năng của đánh giá, E.M.Volf đã đưa đánh giá vào phạm trù tính tình thái Tác giả nhận xét: “Có thể xem đánh giá như là một trong những dạng của tính tình thái, tức là cái được đặt chồng lên thêm cho một nội dung mô tả có trong sự thể hiện bằng ngôn ngữ” [Dẫn theo 45, tr.93]
J Lyons trong cuốn Ngữ nghĩa của ngôn ngữ nêu ra ba loại ý nghĩa tình
thái: Tình thái tất yếu và khả năng, tình thái nhận thức, tình thái nghĩa vụ Đồng thời tác giả cũng chỉ ra sự khác nhau cơ bản giữa phát ngôn có tính tình thái chủ quan và phát ngôn có tính tình thái khách quan là ở chỗ: Tình thái khách quan có thể coi như chứa thành tố phi đánh giá; tình thái chủ quan có thể phân tích như là bao hàm một đánh giá [Dẫn theo 45, tr.34]
2.2 Ở Việt Nam, khi đề cập đến cách hiểu về tình thái, Nguyễn Văn
Hiệp trong cuốn Cơ sở ngữ nghĩa phân tích cú pháp cũng đưa ra cách hiểu về
khái niệm NTT trong ngôn ngữ theo những kiểu ý nghĩa rất khác nhau Có thể nêu ra những kiểu cơ bản nhất sau đây:
- Các ý nghĩa khác nhau thể hiện sự đánh giá, thái độ, lập trường của người nói đối với nội dung thông báo: người nói đánh giá nội dung thông báo
về độ tin cậy, về tính hợp pháp của hành động, xem nó là điều tích cực (mong muốn) hay tiêu cực (không mong muốn), là điều bất ngờ, ngoài chờ đợi hay
bình thường, đánh giá về khả năng, tính hiện thực của điều được thông báo…
- Các ý nghĩa phản ánh các đặc trưng khác của phát ngôn và hành động phát ngôn có liên quan đến ngữ cảnh, xét theo quan điểm của người nói Ví dụ
sự đánh giá của người nói về mức độ hiểu biết của người nghe, sự đánh giá của người nói đối với các quan điểm, ý kiến khác nhau…(…) [16, tr.91,92]
Cũng trong cuốn sách này, khi đề cập đến một số đối lập chủ yếu của tình thái trong ngôn ngữ, tác giả cũng chỉ ra những đối lập mang tính “lập trường” thuộc chủ quan của người nói Tác giả cho rằng: nói đến tình thái trong ngôn ngữ còn nói đến những đánh giá chủ quan, có tính cá nhân khác, của người nói đối với điều được nói ra trong câu, xét theo sự tình là tích cực hay
Trang 13tiêu cực, đánh giá về lượng (nhiều/ít), về chủng loại (phong phú/nghèo nàn), về thời điểm (sớm/muộn)…những nội dung này có thể gọi chung là “lập trường”
của người nói, là những nội dung vốn không được tính đến trong khung nội dung tình thái khách quan [16, tr 127]
Trong cuốn: Câu tiếng Việt, tác giả Nguyễn Thị Lương đã đề cập đến
tình thái thể hiện sự đánh giá Theo tác giả: “Đánh giá là nêu ý kiến nhận xét – thường là chủ quan – của người nói về sự việc được nêu trong câu, do đó nội dung đánh giá ít nhiều cũng hàm chứa thái độ của người đánh giá như: hài lòng không hài lòng, thán phục hoặc chê bai, vui mừng hay tức giận….” [22, tr.187] Đồng thời tác giả cũng đưa ra một số cách đánh giá thường gặp như:
- Đánh giá về tính hiện thực/ phi hiện thực của sự việc trong câu
- Đánh giá về tính tích cực/ tiêu cực của điều được nói tới trong câu
- Đánh giá về lượng, mức độ
Phạm Hùng Việt với Trợ từ trong tiếng Việt hiện đại đã bàn đến chức
năng đánh giá, xem xét ý nghĩa đánh giá của trợ từ xét theo quan hệ của người nói với nội dung phát ngôn, ý nghĩa đánh giá của trợ từ xét theo quan hệ của người nói với người nghe
Lưu Văn Hưng với Tình thái nhận thức trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu (Luận văn thạc sĩ khoa học Ngữ văn trường ĐHSP Hà Nội, 2005) cũng
có nhắc đến các phương tiện biểu hiện tình thái nhận định biểu thị sự đánh giá
Trong Một số vấn đề cơ bản về ngữ nghĩa học (trên cứ liệu tiếng Việt) – Đề
cương bài giảng dành cho Cao học Ngôn ngữ, Tiến sĩ Nguyễn Thị Nhung quan niệm: “NTTĐG là một loại của tiểu nhóm nghĩa tình thái biểu thị quan hệ giữa
người nói với điều được nói tới nằm trong nhóm nghĩa tình thái chủ quan
(NTTCQ), biểu thị sự đánh giá của người nói về sự thể được nói tới trong câu”
[33, tr.130,131]
Tổng hợp quan niệm của các nhà ngôn ngữ học về khái niệm tình thái đánh giá, chúng tôi nhận thấy: hầu hết các nhà ngôn ngữ học đều thừa nhận
Trang 14Trong công trình này chúng tôi theo quan điểm của Tiến sĩ Nguyễn Thị Nhung về NTTĐG, bởi nội dung định nghĩa chi tiết, phù hợp với việc nghiên cứu đề tài luận văn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
- Thông qua việc khảo sát, miêu tả NTTĐG của câu tiếng Việt trong các văn bản truyện và kí giảng dạy ở trường phổ thông, có thể hiểu sâu hơn về NTTĐG nói riêng và NTT nói chung trong câu tiếng Việt
- Góp phần nâng cao hiệu quả giao tiếp, góp phần phục vụ tốt hơn cho việc dạy học Văn học, Tiếng Việt và giáo dục văn hóa cho học sinh THPT
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác định cơ sở lí luận của đề tài
- Thống kê, phân loại, miêu tả các phương tiện biểu thị và các sắc thái NTTĐG của câu trong văn bản
- Trên cơ sở ngữ liệu thống kê, phân tích vai trò của NTTĐG trong việc góp phần xây dựng hình tượng nhân vật, phản ánh chủ đề tác phẩm; trong việc dạy học nghĩa của câu và trong việc giáo dục văn hóa cho học sinh
4 Đối tƣợng và phạm vi khảo sát của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: NTTĐG của câu tiếng Việt (qua các văn bản truyện và kí) xét về các phương diện: hình thức biểu hiện, các sắc thái ngữ nghĩa và vai trò trong câu, trong văn bản
4.2 Phạm vi khảo sát
Thông qua khảo sát sơ bộ của tiến sĩ Nguyễn Thị Nhung, các phương
tiện biểu hiện NTTĐG ở thể loại truyện và kí có tỉ lệ cao hơn so với các thể loại: thơ, kịch, nghị luận Vì vậy, NTTĐG được chúng tôi nghiên cứu trong phạm vi khảo sát là các tác phẩm thuộc thể loại truyện và kí (gồm các tác phẩm
và đoạn trích) viết bằng chữ Nôm, chữ Quốc ngữ trong sách Ngữ văn THPT
Trang 15Các văn bản truyện và kí có trong các cuốn sách sau:
- Ngữ văn 10, tập một, NXBGD, 2006, gồm 176 trang, khổ 17 x 24 cm
- Ngữ văn 11, tập một, NXBGD, 2006, gồm 216 trang, khổ 17 x 24 cm
- Ngữ văn 12, tập một, NXBGD, 2006, gồm 218 trang, khổ 17 x 24 cm
- Ngữ văn 12, tập hai, NXBGD, 2006, gồm 216 trang, khổ 17 x 24 cm
5 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài, chúng tôi sẽ sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp điều tra khảo sát
- Các phương pháp nghiên cứu lí thuyết
+ Phương pháp phân tích và tổng hợp lí thuyết
+ Phương pháp phân loại và hệ thống hóa lí thuyết
- Phương pháp miêu tả: được sử dụng để thấy được về cơ bản diện mạo
của nghĩa tình thái, của từng bộ phận nghĩa tình thái trong câu văn của văn bản văn học thuộc thể loại truyện và kí giảng dạy ở trường THPT Trong phương pháp này, chúng tôi sử dụng những thủ pháp giải thích bên trong và giải thích bên ngoài
+ Các thủ pháp giải thích bên trong: thủ pháp phân loại và hệ thống hóa, thủ pháp thống kê toán học, thủ pháp phân tích nghĩa tố là những thủ pháp
giúp chúng tôi xác định số lượng câu, thống kê các tiểu loại câu có chứa NTTĐG, phân tích các sắc thái NTTĐG
+ Các thủ pháp giải thích bên ngoài:
Thủ pháp phân tích ngôn cảnh được sử dụng để thấy được những yếu tố
cụ thể, phương diện cụ thể của ngôn cảnh tình huống và ngôn cảnh văn hoá trong đó câu được sử dụng, lấy đó làm cơ sở để giải thích cũng như thấy được giá trị của NTTĐG trong các tác phẩm thuộc thể loại truyện và kí
6 Đóng góp của luận văn
Đây là công trình lần đầu tiên tìm hiểu các phương diện của NTTĐG trong các văn bản văn học ở trường THPT Đề tài hoàn thành có thể đem lại
Trang 16Về mặt lí luận: các kết quả nghiên cứu sẽ góp phần làm sáng tỏ những
vấn đề lí luận chung về NTT và NTTĐG của câu tiếng Việt
Về mặt thực tiễn: kết quả nghiên cứu của đề tài có thể là tài liệu tham
khảo góp phần nâng cao chất lượng dạy học nghĩa của câu, dạy học các văn bản truyện, kí và giáo dục văn hóa cho học sinh THPT
7 Cấu trúc của luận văn
Phần 1: Mở đầu
Phần 2: Nội dung
Phần 3: Kết luận
Phần nội dung, chia làm ba chương với các nội dung chính sau:
Chương 1: Cơ sở lí thuyết và thực tiễn
- Cơ sở lí thuyết cơ bản liên quan đến đề tài: Khái quát về câu, nghĩa của câu, NTT và NTTĐG Sơ lược về từ, tổ hợp từ, cặp từ, cặp tổ hợp từ, từ loại
- Cơ sở thực tiễn là vấn đề dạy học truyện và kí, dạy học NTT và giáo dục văn hóa cho học sinh ở trường THPT
Chương 2: Các phương tiện, các sắc thái nghĩa tình thái đánh giá của câu trong những văn bản truyện và kí
Trong chương này, chúng tôi thống kê các phương tiện biểu thị NTTĐG, phân loại các sắc thái đánh giá theo hai nhóm: sắc thái đánh giá về lượng; sắc thái đánh giá về chất
Chương 3: Vận dụng nghĩa tình thái đánh giá vào việc dạy học Ngữ văn ở trường trung học phổ thông
Trong chương này, luận văn tập trung phân tích những ứng dụng của NTTĐG vào việc dạy Văn học, Tiếng Việt và giáo dục văn hóa cho học sinh THPT
Trang 17Chương 1
CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN 1.1 Sơ lược về câu xét trên hai bình diện cấu trúc và ngữ nghĩa
1.1.1 Khái niệm câu và thuật ngữ câu
1.1.1.1 Khái niệm câu
Sau khi khảo sát các tài liệu khác nhau về định nghĩa câu, chúng tôi thấy nổi lên năm khuynh hướng chính: định nghĩa câu dựa vào mặt ý nghĩa; định nghĩa câu dựa riêng vào mặt hình thức; định nghĩa câu dựa vào cả mặt ý nghĩa
và hình thức; định nghĩa câu dựa vào khối lượng và chức năng; khuynh hướng định nghĩa câu tổng hợp toàn diện Trong khuynh hướng cuối này nổi bật là hai định nghĩa:
- Tác giả Diệp Quang Ban đã đưa ra định nghĩa: “Câu là đơn vị ngôn ngữ
có cấu tạo ngữ pháp (bên trong và bên ngoài) tự lập và ngữ điệu kết thúc, mang một ý nghĩa tương đối trọn vẹn hay thái độ, sự đánh giá của người nói, hoặc có thể kèm theo thái độ, sự đánh giá của người nói, giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt tư tưởng tình cảm Câu đồng thời là đơn vị thông báo nhỏ nhất bằng ngôn ngữ” [3, tr.106]
- Tác giả Nguyễn Như Ý cho rằng câu là: " Phạm trù ngữ pháp cơ bản của cú pháp học Nó là đơn vị độc lập nhỏ nhất của lời nói, đơn vị hiện thực của giao tiếp được cấu tạo từ từ và ngữ theo quy luật ngữ pháp và ngữ điệu của một ngôn ngữ, là đơn vị cơ bản để hình thành, thể hiện và thông báo ý nghĩa, cảm xúc với thực tại và mối quan hệ của chúng với người nói" [46, tr.32]
- Tác giả Nguyễn Thị Nhung trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt cho rằng:
trong các khuynh hướng trên, hai khuynh hướng định nghĩa cần chú ý hơn cả là:
+ Định nghĩa giúp phân biệt câu với những đơn vị nhỏ hơn và lớn hơn
nó Đó là: Câu là đơn vị thông báo nhỏ nhất Chức năng thông báo giúp phân biệt câu với đơn vị nhỏ hơn là từ, tính chất nhỏ nhất trong số các đơn vị thông
Trang 18+ Định nghĩa đem lại cái nhìn toàn diện về câu, có thể phát biểu là: “Câu
là đơn vị ngôn ngữ được tạo ra trong quá trình tư duy và giao tiếp, do các từ, ngữ trực tiếp tạo thành theo một quy tắc ngữ pháp, sử dụng một ngữ điệu kết thúc nhất định, thường biểu đạt một sự tình thường kèm theo thái độ, sự đánh giá của người nói Câu đồng thời là đơn vị lời nói nhỏ nhất có chức năng thông báo” [31, tr.148]
Định nghĩa này giúp thấy được những nét khái quát về các mặt: sự hình thành, hình thức, nội dung và chức năng của câu Vì vậy để phục vụ cho việc nghiên cứu nghĩa của câu mà cụ thể là NTT của câu trong luận văn này, chúng tôi theo quan niệm về câu của tác giả Nguyễn Thị Nhung
1.1.1.2 Về thuật ngữ câu trong luận văn
Giới nghiên cứu ngôn ngữ học lâu nay vẫn phân biệt câu với phát ngôn Câu theo nghĩa khắt khe của nó, được coi là một đơn vị trừu tượng của hệ
thống ngôn ngữ Nó chỉ có thể được nhận thức thông qua các biến thể trong lời
nói, đó là phát ngôn Vậy phát ngôn là đơn vị hiện thực của câu
Trong luận văn này, đối tượng khảo sát là những đơn vị hiện thực nói trên, nhưng đồng thời nó cũng là đơn vị có khi được nhìn nhận ở mặt tĩnh tại, khái quát của nó
Chúng tôi chọn thuật ngữ thông dụng là câu để gọi tên đối tượng mang NTT được nghiên cứu trong câu Có thể coi đây là câu hiểu theo nghĩa rộng,
bao hàm cả hai loại đơn vị được phân biệt nói trên
Trong luận văn, ở những trích dẫn ý kiến của các nhà nghiên cứu đi
trước, đôi khi, đối tượng này vẫn được gọi là phát ngôn
1.1.2 Sơ lƣợc về câu xét trên bình diện cấu trúc
1.1.2.1 Thành phần câu
Thành phần câu là những bộ phận trực tiếp tạo nên cấu trúc ngữ pháp của câu Tâm điểm của cấu trúc ngữ pháp câu là nòng cốt câu Đó là thành phần đảm bảo cho câu được trọn nghĩa và độc lập về ngữ pháp
Trang 19Dựa vào quan hệ với nòng cốt câu, có thể chia thành phần câu làm hai nhóm:
- Các thành phần chính: là những thành phần trực tiếp tạo nên nòng cốt câu, việc lược bỏ sẽ ảnh hưởng tới tính độc lập của câu; trong trường hợp bình thường, bao gồm chủ ngữ, vị ngữ
+ Chủ ngữ: là một trong hai thành phần chính của câu, có quan hệ trực tiếp, chặt chẽ, qua lại và quy định lẫn nhau với vị ngữ, chỉ đối tượng có đặc trưng hoặc quan hệ được nói đến ở vị ngữ
Ví dụ (1): Tôi là học sinh
+ Vị ngữ: là một trong hai thành phần chính của câu, có quan hệ trực tiếp, chặt chẽ, qua lại và quy định lẫn nhau với chủ ngữ, chỉ đặc trưng hoặc quan hệ của đối tượng được nói đến ở chủ ngữ
Ví dụ (2): Tôi đang học bài
- Các thành phần phụ: là thành phần không đóng vai trò quyết định đối với tính trọn vẹn về nghĩa, độc lập về ngữ pháp của câu, nó có quan hệ với cả nòng cốt câu để bổ sung cho nòng cốt câu một ý nghĩa nào đó, việc lược bỏ không ảnh hưởng tới tính độc lập của câu Thành phần phụ của câu bao gồm: trạng ngữ, khởi ngữ, tình thái ngữ, hô ngữ, liên ngữ, phụ chú ngữ Trong đó thành phần tình thái ngữ có vai trò rất quan trọng đối việc xác định và biểu thị NTT nói chung và NTTĐG nói riêng
Tình thái ngữ được hiểu là một bộ phận phụ của câu dùng để thể hiện mục đích nói, ý kiến, thái độ, sự đánh giá của người nói đối với sự việc được nói đến trong câu và quan hệ, thái độ của người nói đối với người nghe Tình thái ngữ thường do tình thái từ, trợ từ, quán ngữ tình thái đảm nhiệm
Ví dụ (3): Hành thì nhà thị may lại còn (Nam Cao, Chí Phèo)
Tuy nhiên, tình thái ngữ không phải là bộ phận duy nhất trong câu có thể biểu thị NTT
1.1.2.2 Phân loại câu
1/ Phân loại câu theo cấu tạo ngữ pháp
Theo Tiến sĩ Nguyễn Thị Nhung, dựa vào cấu trúc, có thể chia câu tiếng
Trang 20Trước hết dựa vào tiêu chí kiểu nòng cốt, có thể chia câu tiếng Việt thành
2 nhóm: nhóm nòng cốt không phải là cụm C- V (gọi là câu đặc biệt) và nhóm
nòng cốt là cụm C-V (bao gồm tất cả các kiểu câu còn lại mà chúng tôi tạm gọi
là câu bình thường)
Dựa vào số lượng nòng cốt, có thể chia nhóm thứ nhất thành câu đặc biệt đơn và câu đặc biệt phức, chia nhóm thứ hai thành 2 kiểu: câu có 1 cụm C-V (gọi là câu đơn) và câu có hai cụm C- V trở lên (gọi là câu phức)
Dựa vào quan hệ giữa các cụm C-V, có thể tiếp tục chia câu phức thành
câu phức mà quan hệ giữa các cụm C-V là quan hệ bao nhau và câu phức mà
quan hệ giữa các cụm C-V là không bao nhau Loại thứ nhất (gọi là câu phức thành phần) chỉ có một kết cấu C- V làm nòng cốt câu, các kết cấu C-V còn lại giữ vai trò làm thành phần bên trong của nòng cốt câu Loại thứ hai (gọi là câu ghép) không kết cấu C-V nào bao kết cấu C-V nào Ở mỗi kiểu này lại có thể
tiếp tục chia thành những kiểu nhỏ hơn nữa
Ngoài ra, dựa vào sự có mặt hay tạm thời vắng mặt của bộ phận nòng cốt, có thể chia câu đơn, câu phức thành 2 kiểu đối lập nhau là câu tỉnh lược và câu không tỉnh lược (31, tr 182- 183)
2/Phân loại câu theo mục đích nói
Dựa vào mục đích nói, câu trong tiếng Việt lâu nay được các nhà Việt ngữ học thống nhất được chia ra thành 4 kiểu: câu trần thuật, câu nghi vấn, câu cảm thán và câu cầu khiến
- Câu trần thuật được dùng với mục đích tả, kể, trình bày, giới thiệu hay nêu
ý kiến (vì thế còn được gọi là câu kể, câu miêu tả)
- Câu nghi vấn là câu được người nói dùng để nêu điều mình chưa biết và mong muốn người nghe giải đáp
- Câu cảm thán (hay câu cảm) là câu sử dụng các từ ngữ chuyên biệt để biểu thị những cảm xúc mạnh, đột ngột, có tính bộc phát tức thì của người nói, thường được dùng trong ngôn ngữ sinh hoạt và ngôn ngữ văn chương
Trang 21- Câu cầu khiến (câu mệnh lệnh, khuyến lệnh) là kiểu câu phân chia theo mục đích nói, có dấu hiệu hình thức riêng nhằm yêu cầu, nhắc nhở, khuyên bảo người nghe nên/ không nên thực hiện một việc gì đó
1.1.3 Sơ lƣợc về câu xét trên bình diện ngữ nghĩa
1.1.3.1 Nghĩa của câu
Là một đơn vị tín hiệu, câu có đặc tính hai mặt: hình thức và nội dung Mặt nội dung chính là mặt nghĩa của các đơn vị tín hiệu ngôn ngữ Theo đó nghĩa của câu là toàn bộ nội dung mà câu biểu thị
Nghĩa của câu được biểu thị bởi hình thức cấu tạo của câu, còn hình thức cấu tạo của câu được tạo thành bởi các phương tiện từ vựng và các phương tiện ngữ pháp Các phương tiện từ vựng và ngữ pháp khác nhau sẽ tạo nên các câu
Nghĩa tường minh lại gồm nghĩa miêu tả và NTT
Nghĩa miêu tả (nghĩa biểu hiện, nghĩa mệnh đề, nghĩa sâu) là thành tố nghĩa phản ánh những mảng của thế giới hiện thực hay một thế giới nào khác ngoài ngôn ngữ Mỗi câu biểu hiện một sự tình Mỗi sự tình là một cấu trúc nghĩa gồm bản thân sự tình đó do vị từ biểu hiện và quây quanh nó là các tham thể, biểu thị những vai nghĩa nào đó Nghiên cứu nghĩa miêu tả của câu chính
là nghiên cứu câu ở bình diện ngữ nghĩa
Trong luận văn này tập trung vào nghiên cứu bộ phận nghĩa thứ hai của
Trang 221.1.3.2 Nghĩa tình thái
1/ Khái niệm nghĩa tình thái
a Quan niệm của các nhà ngôn ngữ học nước ngoài
Ở nước ngoài có các công trình nghiên cứu về NTT của các tác giả như: Vinogradov,O.B Xirotinina, Lyons, N Chomsky
- Theo Lyons: “ Tình thái là thái độ của người nói với nội dung mệnh đề
mà câu biểu thị hay sự tình mà mệnh đề miêu tả” [Dẫn theo 16, tr.85]
- Liapol quan niệm: “Tình thái là phạm trù ngữ nghĩa chức năng thể hiện các dạng quan hệ khác nhau của phát ngôn với thực tế cũng như các dạng đánh giá chủ quan khác nhau với điều được thông báo” [Dẫn theo 16, tr.85]
- Ch Bally cũng là một trong những người đầu tiên đề cập đến vấn đề tình thái một cách hệ thống Ông chủ trương phân biệt trong cấu trúc nghĩa của
phát ngôn hai thành phần cơ bản tương ứng là dictum (tình thái) và modus (ngôn liệu) Trong đó, dictum là bộ phận biểu hiện nội dung sự tình ở dạng tiềm
năng Nó gắn với chức năng kinh nghiệm, chức năng miêu tả của ngôn ngữ
Còn mudus thì gắn với bình diện chủ quan, thể hiện những nhân tố như ý chí,
thái độ, sự đánh giá của người nói đối với điều được nói ra, xét trong các chiều kích quan hệ với thực tế, quan hệ với người đối thoại và quan hệ với hoàn cảnh
giao tiếp Modus tham gia vào quá trình thực tại hóa, nhờ đó nội dung sự tình còn ở dạng tiềm năng có thể trở thành phát ngôn hiện thực Modus cho biết sự
tình nêu trong phát ngôn chỉ là khả năng hay đã là hiện thực, là khẳng định hay phủ định, cho biết mức độ cam kết của người nói đối với độ xác thực của điều được nói ra, thể hiện đánh giá của người nói đối với hành động được nêu ra trong câu, cho biết ý chí, mong muốn, mục đích của người nói khi phát ngôn câu nói,… [Dẫn theo 16, tr.86]
Xuất phát từ hai thuật ngữ dictum và modus trên, Ch Bally đã đưa ra
định nghĩa như sau: “Tình thái là thái độ của người nói được biểu thị đối với sự việc hay trạng thái diễn đạt trong câu” [Dẫn theo 33, tr.104]
Trang 23Như vậy, trên thế giới có quan niệm rộng, hẹp khác nhau về NTT
- Theo quan niệm hẹp, NTT thường được cho là phần nghĩa phản ánh mối quan hệ, thái độ, ý định của người nói đối với nội dung phát ngôn và quan
hệ nội dung phát ngôn đối với thực tế
- Theo quan niệm rộng, tình thái – nói theo Bybee – là “tất cả những gì
mà người nói thực hiện cùng với toàn bộ nội dung mệnh đề”
b Quan niệm của các nhà ngôn ngữ học Việt Nam
- Theo Diệp Quang Ban thì câu có nghĩa miêu tả và NTT Nghĩa miêu tả phản ánh vật, việc, hiện tượng được nói đến trong câu NTT chỉ ý định (ý chí, ý muốn), thái độ, tình cảm của người nói đối với điều được nói ra (còn được gọi
là nghĩa liên nhân, nghĩa bộc lộ) Ngoài ra, phần nghĩa chỉ quan hệ của người nói đối với người nghe cũng có thể xếp vào NTT (1, tr.180,181)
- Nguyễn Văn Hiệp cho rằng “NTT là phạm trù ngữ nghĩa bao gồm những quan điểm, thái độ khác nhau của người nói, được hiểu như là những thông tin kèm theo, có tác dụng định tính cho nội dung được miêu tả trong câu, xét trong mối quan hệ với người nghe, với hoàn cảnh giao tiếp” [16, tr.84]
- Nguyễn Thiện Giáp đã phân biệt tình thái trong lô gích và trong ngôn ngữ Lô gích học quan tâm tới tình thái khách quan, chỉ quan tâm tới giá trị chân lí của mệnh đề Tình thái trong ngôn ngữ liên quan đến thái độ chủ quan của người nói Đó là thái độ của người nói với nội dung mệnh đề mà câu biểu thị hay tình trạng mà mệnh đề đó miêu tả, là thông tin ngữ nghĩa của câu thể hiện thái
độ hoặc ý kiến của người nói đối với điều được nói ra [11, tr.334 - 335]
- Nguyễn Thị Lương định nghĩa: “Tình thái là một phần nghĩa của câu thể hiện thái độ, ý định, mục đích hay quan hệ giữa người nói với người nghe, giữa người nói với hiện thực (sự tình) được phản ánh trong câu, giữa nội dung được phản ánh trong câu với hiện thực ngoài thực tế khách quan” [22, tr.178]
- Nguyễn Thị Nhung, trong Đề cương bài giảng dành cho học viên sau
Trang 24gì mà người nói thể hiện kèm theo nội dung mệnh đề khi thực hiện một lời nói, giúp biến nội dung mệnh đề ở thế tiềm năng trở thành các phát ngôn khi giao tiếp Nó biểu thị quan hệ của điều được nói đến trong câu với hiện thực khách quan; nhận thức, thái độ, sự đánh giá của người nói với điều được nói đến trong câu, và mong muốn, thái độ của người nói với người nghe" [33, tr.107]
Có thể nói thêm rằng, ở đây, tác giả chọn thuật ngữ NTT chứ không dùng cách gọi tình thái Bởi tình thái thuộc về ngữ nghĩa Điều này đã được Joan Bybee và Suzanne Fleischman khẳng định trong một công trình của mình:
“Tình thái là một miền ngữ nghĩa gắn liền với các yếu tố về ngữ nghĩa mà một ngôn ngữ thể hiện” [47, tr.2]
2/ Phân loại nghĩa tình thái
a Cách phân loại của các nhà ngôn ngữ học nước ngoài
- Rescher (1969) đã đề nghị một hệ thống mở về tình thái “Bên cạnh các loại tình thái tất suy và đạo lí ông đề cập các loại tình thái: tình thái thời đoạn, mong ước, những tình thái đánh giá và những tình thái nhân quả” [Dẫn theo 16, tr.80 - 81]
- M Liapon có cách chia khác như sau: “Ông chia ý nghĩa tình thái thành hai loại là tình thái khách quan và tình thái chủ quan Tình thái khách quan là dấu hiệu tất yếu của một phát ngôn bất kì, biểu thị mối quan hệ giữa cái được thông báo với thực tế ở bình diện hiện thực tính và phi hiện thực tính Tình thái chủ quan là dấu hiệu không bắt buộc của một phát ngôn, biểu thị quan hệ của người nói với điều được thông báo Khái niệm “đánh giá” làm nên cơ sở ngữ nghĩa cho “thái chủ quan” nó bao gồm không chỉ các đánh giá lô gich (lí tính, duy lí) mà cả các dạng khác nhau về phản ứng có tính cảm giác (phi lí tính)” [Dẫn theo 16, tr 79]
b Quan niệm của các nhà ngôn ngữ học Việt Nam
- Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học (Nguyễn Như Ý chủ biên)
phân biệt tình thái khách quan với tình thái chủ quan Tình thái khách quan
“biểu hiện mối quan hệ của điều được thông báo đối với hiện thực khách quan
Trang 25(có thật hay không có thật, có thể hay không có thể, tất yếu hay ngẫu nhiên) bằng các phạm trù thức, phạm trù thời, các loại ngữ điệu khác nhau v.v…” [46, tr.297] Tình thái chủ quan “biểu hiện thái độ (quan hệ) của người nói đối với điều được thông báo (tin hay không tin, đồng ý hay không đồng ý, đánh giá, biểu cảm) bằng trật tự từ, ngữ điệu, phép kí từ, từ tình thái, tiểu từ, từ cảm, từ xen, v.v…” [46, tr.297]
- Nguyễn Văn Hiệp cho rằng, phải qua những đối lập thì bức tranh về tình thái mới hiện ra một cách rõ ràng nhất, đúng bản chất nhất Tác giả đã đưa
ra các thể đối lập: tình thái trong logic và tình thái trong ngôn ngữ; trong ngôn ngữ lại có đối lập giữa tình thái nhận thức và tình thái đạo nghĩa, đối lập giữa tình thái nhận thức và tình thái căn bản, đối lập giữa tình thái hướng tác thể và tình thái hướng người nói, đối lập giữa tình thái của mục đích phát ngôn và tình thái của lời phát ngôn và cuối cùng là những đối lập tình thái mang tính “lập trường” thuộc chủ quan của người nói [16, tr.96 - 127]
- Diệp Quang Ban cũng phân biệt tình thái của hành động nói và tình thái của phát ngôn: “Tình thái của hành động nói là ý định (ý chí, ý muốn, còn gọi
là cái đích, mục đích) thực hiện một hành động nào đó của người nói khi nói ra một lời
Tình thái của phát ngôn là cách đánh giá, thái độ của người nói đối với
sự thể (vật, việc, hiện tượng) được nói đến trong phát ngôn” [1, 181]
Tình thái của phát ngôn gồm tình thái khách quan và tình thái chủ quan Tình thái khách quan có thể kiểm tra được tính đúng sai, gồm tình thái khẳng định và tình thái phủ định Tình thái chủ quan là thứ tình thái không kiểm tra được tính đúng sai, chỉ thái độ, cách đánh giá của người nói đối với vật, việc, hiện tượng được nói đến Ngoài ra, tình thái chỉ ý kiến và tình thái chỉ quan hệ của người nói đối với người nghe cũng có thể xếp vào phạm trù tình thái trong câu [1, tr.201, 204]
Trang 26Tác giả Nguyễn Thị Nhung cho sự không thống nhất này là điều
dễ hiểu Bởi có thể giải thích như Joan Bybee và Suzanne Fleischman: “Thứ nhất, vì miền chức năng/ngữ nghĩa của tình thái quá lớn; thứ hai, vì tình thái, như chúng ra đã thấy, nên được xem xét trong ngữ cảnh xã hội và giao tiếp; thứ
ba, và có lẽ là quan trọng nhất, vì sự khác biệt giữa các ngôn ngữ trong việc sắp xếp những nội dung ngữ nghĩa vào cùng một hình thức ngôn ngữ” [47, tr.4]
Do vậy, theo tác giả, người nghiên cứu tiếng Việt có thể đưa ra cách phân loại NTT của mình cho phù hợp với quan niệm về NTT mà mình đưa ra trong trường hợp áp dụng vào tiếng Việt, và cần giúp nhìn nhận NTT như một
hệ thống, để có thể nhận diện, phân loại toàn bộ bức tranh NTT trong tiếng Việt một cách tương đối chi tiết, có lớp lang
Trước hết, tác giả đưa ra tiêu chí tính chủ quan và kết quả phân chia các
nhóm NTT
Cần hiểu thuật ngữ chủ quan ở đây không phải là thuật ngữ mang nghĩa
xấu chỉ kiểu ý chí luận phi khoa học không thể kiểm chứng được Tính chủ quan ở đây được hiểu là sự tập trung vào người nói, liên quan đến việc nhận
diện người nói Một câu như: Nhưng để đi vào quỹ đạo một vật thể phải (must)
tăng tốc đến tốc độ tâm 17500 dặm một giờ thì người nói không lộ diện, vậy
nó không đạt tính chủ quan dù trong câu có từ tình thái phải
Như vậy, có thể hiểu rằng tính chủ quan thể hiện ở vai trò của người nói, còn tính khách quan thì thể hiện ở sự loại trừ vai trò của người nói Tiêu chí chính để xác định tính chủ quan trong NTT của câu là phải nhận diện được người nói ra câu đó Việc nhận diện có thể tiến hành qua các dấu ấn thể hiện cái
tôi, cái bản ngã của chủ thể như các phương tiện trực chỉ (tôi, tao, mày, hôm nay, hôm qua, đây, kia, ) Tính chủ quan là đặc điểm điển hình của NTT nên
được lựa chọn làm tiêu chí hàng đầu để phân chia NTT Theo tiêu chí này, NTT trước hết được phân thành 2 nhóm lớn: nhóm NTT có tính chủ quan (gọi là NTT chủ quan) và nhóm NTT không có tính chủ quan (gọi là nhóm NTT khách
Trang 27quan) Nhóm NTT chủ quan (NTTCQ) có dung lượng ngữ nghĩa rộng hơn dung lượng ngữ nghĩa của TT khách quan (NTTKQ) và hết sức phức tạp nên sẽ
là mối quan tâm chủ yếu tiếp theo của chúng tôi
Tiếp theo, tác giả đề cập tới tiêu chí đối tượng có quan hệ với người nói và kết quả phân loại là các tiểu nhóm NTT chủ quan
Do tính chủ quan là sự tập trung vào người nói nên các tiểu nhóm nằm trong
nhóm NTTCQ cần phải được phân xuất dựa vào tiêu chí các đối tượng có quan
hệ với người nói Mà qua câu thì người nói thường có quan hệ với hai đối
tượng là điều được nói tới trong câu và người nghe Vì vậy, cần coi đây là tiêu
chí thứ hai để tiếp tục chia nhóm NTTCQ thành 2 tiểu nhóm là tiểu nhóm biểu thị quan hệ giữa người nói với điều được nói tới trong câu và tiểu nhóm biểu thị quan hệ giữa người nói với người nghe
Kiểu quan hệ có thể xác lập giữa người nói với từng đối tượng là tiêu chí để
tác giả tiếp tục phân loại NTT trong hai tiểu nhóm
Với đối tượng được nói tới trong câu, người nói có thể có hiểu biết về đối tượng, sự nhận định về giá trị của đối tượng hay tình cảm, cảm xúc với đối
tượng và biểu lộ những điều này trong câu Vì vậy, tiểu nhóm biểu thị quan hệ giữa người nói với đối tượng sẽ bao gồm 3 loại NTT là NTT nhận thức (NTTNT), NTT đánh giá (NTTĐG) và NTT cảm xúc (NTTCX)
Còn với người nghe, người nói có thể xuất hiện những mong muốn hay tình
cảm, thái độ và biểu lộ những điều này trong câu Vì vậy, tiểu nhóm biểu thị quan hệ giữa người nói với người nghe được coi là gồm NTT tập trung vào nghĩa vụ hay sự cho phép - gọi là NTT đạo lí (NTTĐL) và NTT biểu thị tình cảm, thái độ với người nghe - gọi là NTT thái độ (NTTTĐ)
Trang 28Có thể hình dung cách phân loại của tác giả qua sơ đồ sau:
3/ Các phương tiện biểu thị nghĩa tình thái
Các phương tiện biểu hiện NTT trong tiếng Việt rất đa dạng Những phương tiện chính thường được nhắc đến là:
a Phương tiện ngữ âm
- Ngữ điệu: là yếu tố không thể thiếu được của câu, của phát ngôn Ngữ
điệu là một khúc đoạn của lời nói và bao giờ cũng phải có ý nghĩa thông báo
NGHĨA TÌNH THÁI CỦA CÂU
Tiểu nhóm NTT biểu thị quan hệ giữa người nói với người nghe
Trang 29nhất định (cả việc biểu thị ý nghĩa thông báo tối thiểu có hoặc không) Trong những câu vắng mặt các phương tiện từ ngữ tình thái thì ngữ điệu chính là phương tiện ngữ âm biểu thị ý NTT Có thể khẳng định, ngữ điệu không chỉ là nhân tố cấu thành câu mà còn là một phương tiện biểu hiện NTT của câu
- Trọng âm: Đó là “âm tiết mang trọng âm trong từ nói chung là âm tiết
được phát âm căng hơn, dài hơn so với các âm tiết còn lại” [2, tr.20] Trong một số trường hợp ngữ điệu kết hợp với trọng âm trong câu để thể hiện tình thái đánh giá về nội dung hiện thực của lời nói
Ví dụ: (4)
(a) Cái áo này một triệu cơ đấy!
(b) Nó mà làm được thì tôi đi đầu xuống đất
b Từ:
- Các động từ tình thái: có thể, nên, cần, phải, bị, được,
- Các tính từ: trắng bệch, vàng chóe,…
- Các trợ từ: những, chỉ, cả, chính, đích,
- Các vị từ ngôn hành trong kiểu câu ngôn hành (với những điều kiện về
ngôi, thời, …): ra lệnh, yêu cầu, đề nghị, van, xin,
- Các phó từ: đã, sẽ, không, chưa, đừng, vẫn, cứ,
c Tổ hợp từ
- Các quán ngữ cảm thán: ối làng nước ơi, trời ơi là trời, chán ơi là chán, ôi mẹ ơi
- Các từ, tổ hợp từ chuyên dùng với NTT xuất hiện ở bậc câu: có thể, có
lẽ, chắc chắn, hình như, có chăng, cốt sao, miễn sao, biết đâu, ngờ đâu,
Trang 30- Cặp từ biểu thị quan hệ chính phụ, tạo kiểu câu ghép chính phụ, hay
câu có trạng ngữ, câu hai vị ngữ: giá thì, vì nên,
- Các cặp từ/ tổ hợp từ dùng để nhấn mạnh: chỉ là mà thôi, bao nhiêu nữa, chỉ duy nhất,
e Thành phần câu
- Thành phần nòng cốt câu: Tiếng Việt có cấu trúc câu: X nghĩ (rằng) P,
X tin (rằng) P, X cho (rằng) P, Cấu trúc này gồm hai bộ phận: bộ phận chính xuất hiện ở đầu phát ngôn (X nghĩ (rằng) và một bộ phận thứ hai có chức năng
làm rõ nghĩa cho bộ phận vừa nêu (P) Bộ phận chính xuất hiện ở đầu phát ngôn đã thể hiện trực tiếp sự đánh giá chủ quan của người nói
- Thành phần phụ của câu: tình thái ngữ (chính, đích ), hô ngữ (ơi, dạ,
ê, vâng )
NTT của câu vốn rất đa dạng đòi hỏi nhiều phương tiện biểu hiện khác nhau, tạo nên một bức tranh đa dạng trong tiếng Việt Những phương tiện biểu hiện NTT mà luận văn vừa nêu trên, hoàn toàn có thể khảo sát chúng ở phạm vi của câu trong các đoạn hội thoại cũng như mọi phát ngôn khác nữa Tuy nhiên, riêng với ngữ điệu, do nó là một phương tiện ngữ âm khó xác định nên chúng tôi chưa có điều kiện khảo sát ở đây
1.1.3.3 Khái quát về nghĩa tình thái đánh giá
1/ Khái niệm nghĩa tình thái đánh giá
Như đã nói ở trên, tình thái đánh giá là một phạm trù của NTT, nhưng đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào miêu tả đầy đủ về nó Vì vậy để có một khái niệm thể hiện được đầy đủ những đặc trưng của nó là rất khó Từ việc tổng hợp những ý kiến của các nhà ngôn ngữ học trên thế giới cũng như ở Việt Nam,
theo chúng tôi, có thể hiểu về NTTĐG như sau: "NTTĐG là một loại của tiểu nhóm nghĩa tình thái biểu thị quan hệ giữa người nói với điều được nói tới nằm trong nhóm NTTCQ, biểu thị sự đánh giá của người nói về sự thể được nói tới
Trang 31trong câu Phương tiện chính để biểu thị loại nghĩa này là các trợ từ, tổ hợp từ
biểu thị sự đánh giá và các cặp phó từ, cặp kết từ" [33, tr.130,131]
2/ Các sắc thái của nghĩa tình thái đánh giá
Dựa vào đối tượng được đánh giá, có thể cho rằng, loại NTT này bao
gồm các nhóm sắc thái: đánh giá về lượng và đánh giá về chất
a Nhóm sắc thái NTTĐG về lượng
Nhóm sắc thái này, gồm những đánh giá về lượng của sự vật, thời gian,
không gian; và mức độ của tính chất, hiện tượng Đây là những đánh giá tồn tại
theo từng cặp mang ý nghĩa đối lập
- Đánh giá về tính chất ngắn/ dài, sớm/ muộn của thời gian, nhanh/ chậm
của tốc độ, gần/ xa của không gian Ví dụ (5) :
(a) Mai mới hai mươi tuổi; (b) Suốt từ sáng đến tối, nó làm việc không nghỉ
(c) Bây giờ mới 6 giờ thôi; (d) Bây giờ đã 6 giờ rồi
(đ) Nhưng ngay từ đầu vừa ra khỏi vùng núi, Sông Hương đã chuyển dòng
một cách liên tục.(Hoàng Phủ Ngọc Tường); (e) Nó làm mãi chưa xong việc
(g) Nhà nó ở ngay Thái Nguyên; (h) Nhà nó ở tận Hà Giang
- Đánh giá về lượng nhiều/ ít của sự vật Ví dụ (6):
(a) Nó ăn mỗi ba bát cơm
(b) Nó ăn những ba bát cơm
- Đánh giá về tính cùng cực của tính chất, hiện tượng Ví dụ (7):
Ít nhất thì nó cũng phải được học sinh tiên tiến
b Nhóm sắc thái NTTĐG về chất
Nhóm này bao gồm những đánh giá về tính tích cực hay tiêu cực, đánh giá
về tính hợp lí hay không hợp lí, đánh giá về ưu thế, đánh giá về tính bất ngờ,
bất thường, đánh giá về tầm quan trọng của thông tin (nhấn mạnh thông tin):
- Đánh giá về tính tích cực hay tiêu cực là đánh giá rằng hiện tượng nào đó
có tác dụng thúc đẩy hay kìm hãm sự phát triển, nảy sinh những điều tốt đẹp
Trang 32(a) May mà nó về kịp
(b) Tôi lại bị cô khiển trách mới chán/ mới buồn chứ
- Đánh giá về tính hợp lí hay không hợp lí biểu hiện ở chỗ người nói cho rằng sự thể được nói tới trong câu nên hay không nên tồn tại Ví dụ (9):
(a) Hôm đó, tôi cùng đi với anh mới phải/ mới đúng
(b) Lẽ nào cậu cứ nghỉ học bừa như thế
Ở nội dung nghĩa này thường có kèm nét nghĩa biểu thị sự mong muốn, tiếc nuối
- Đánh giá về ưu thế là sự đánh giá rằng dù đều không hay nhưng điều A còn tốt hơn, có ưu thế hơn điều B, bằng chứng là người nói vẫn sẵn sàng chấp nhận điều A thay cho điều B Ví dụ (10):
Thà ở vậy còn hơn lấy chồng hèn
- Đánh giá về tính bất ngờ, bất thường nhằm biểu thị rằng điều nói tới trong câu nằm ngoài dự tính của người nói hoặc khác với thường lệ Ví dụ (11):
(a) Có ngờ đâu tình hình lại xấu đến thế
(b) Ngay cả chủ nhật cũng không được nghỉ
- Đánh giá về tầm quan trọng của thông tin là sự nhấn mạnh nêu bật thông tin quan trọng đáng chú ý trong văn bản để hướng dẫn người nghe phân bổ sự chú ý của mình một cách thích hợp và xử lí chúng chính xác Ví dụ (12):
(a) Đây mới là người tôi cần
(b) Không những nó hát hay mà còn học rất giỏi
* Lưu ý:
- Có những trường hợp một phương tiện có thể biểu thị một vài sắc thái
NTTĐG: Cái áo này 300 nghìn là ít; vừa đánh giá về lượng (tính cùng cực của
giá cái áo), vừa đánh giá về chất (cái áo thuộc loại đẹp, có chất lượng)
- Khi xét các sắc thái không nên chỉ dựa vào biểu thức tình thái mà phải dựa
vào cả câu Ví dụ cùng dùng hẳn nhưng trong: “Nó mua hẳn hai cái váy.” có sắc thái nhấn mạnh và đánh giá về lượng, còn trong “Nó mua hẳn cái váy mới”
Trang 33- Đôi khi, một biểu thức trong câu vừa biểu thị NTTĐG vừa thể hiện loại NTTCQ khác
Quả bưởi này ngon đây; Quả bưởi này trông thế mà ngon đấy Là hai ví dụ
vừa chứa sắc thái nhấn mạnh của NTTĐG vừa chứa NTTNT (sắc thái tất yếu
hiện thực dựa trên cơ sở dấu hiệu bằng chứng có tính tức thời, hoặc những bằng
Có thể phân chia từ dựa vào nhiều tiêu chí
Dựa vào phương thức cấu tạo, có thể phân từ thành: từ đơn, từ ghép, từ láy Dựa vào ngữ nghĩa, có thể phân biệt: từ đơn nghĩa với từ đa nghĩa, từ đồng nghĩa, từ gần nghĩa với từ trái nghĩa
Dựa vào ngữ pháp, có thể phân biệt: thực từ và hư từ
Từ là vật liệu trực tiếp góp phần biểu thị tình cảm, sự đánh giá, thái độ và
ý chí chủ quan của người nói đối với điều được nói tới trong câu
1.2.2 Tổ hợp từ
Từ kết hợp với từ một cách có tổ chức và có ý nghĩa làm thành những tổ hợp từ, tức là những kiến trúc lớn hơn từ Mỗi từ trong tổ hợp từ là một thành tố: tổ hợp từ có thể là một câu, có thể là một kiến trúc tương đương với câu nhưng chưa thành câu, cũng có thể là một đoạn có nghĩa của câu (chưa kể ngữ
cố định là đối tượng nghiên cứu của từ vựng học) [1, tr.33]
Các tổ hợp từ cố định đã dùng lâu thành quen, nghĩa có thể suy ra từ nghĩa của các yếu tố hợp thành (còn được gọi là quán ngữ) được chúng tôi xếp
Trang 34Tổ hợp từ - quán ngữ có vai trò không nhỏ trong việc biểu thị lớp ý NTT của câu Nó được lặp đi lặp lại trong các loại diễn ngôn thuộc phong cách khác nhau Chức năng của chúng là để đưa đẩy, rào đón, để nhấn mạnh hoặc để liên kết Đây là kiểu tổ hợp xuất hiện phổ biến trong phong cách hội thoại, khẩu ngữ; cũng có khi nó được dùng trong phong cách viết (khoa học, chính luận )
như: là cùng, là may, thì khốn, chắc chắn, miễn sao,
1.2.3 Cặp từ, cặp tổ hợp từ
Chúng tôi sử dụng cặp từ, cặp tổ hợp từ ở đây để chỉ những đơn vị gồm
từ hai từ (giá thì, vừa đã) hay hai tổ hợp từ (chỉ là mà thôi) kết hợp với
nhau theo một mối quan hệ ngữ pháp, ngữ nghĩa nhất định nhằm tạo nên những kiểu kết cấu câu:
- Kết cấu chính phụ: giá A thì B, vì A nên B
- Kết cấu qua lại: chưa A đã B, vừa A đã B
- Kết cấu nhấn mạnh thông tin: chỉ là X mà thôi, mà lại X đến thế
1.2.4 Từ loại
1.2.4.1 Khái niệm
Từ loại là những lớp từ được phân định dựa vào đặc điểm chung về ý nghĩa ngữ pháp và hình thức ngữ pháp
1.2.4.2 Tiêu chí phân định từ loại
Từ loại tiếng Việt được phân loại căn cứ vào ba tiêu chuẩn: ý nghĩa khái quát, khả năng kết hợp, chức vụ ngữ pháp
Dựa vào các tiêu chuẩn đó, từ loại tiếng Việt được phân thành: Thực từ
và hư từ Hư từ có thể tiếp tục được chia thành các nhóm nhỏ:
- Hư từ ngữ pháp:chuyên làm các phương tiện biểu thị ý nghĩa ngữ pháp, gồm phó từ, kết từ
+ Phó từ: hầu như không có nghĩa từ vựng Chúng chỉ có ý nghĩa ngữ pháp phạm trù thời thể, phạm trù số lượng, phạm trù mức độ
Trang 35+ Kết từ: là những từ dùng để nối kết các đơn vị ngôn ngữ (từ, cụm từ, câu, đoạn văn) với nhau và biểu thị quan hệ ngữ pháp giữa các đơn vị đó
- Hư từ tình thái chuyên biểu thị các NTT, gồm trợ từ, thán từ, tình thái từ
+ Tình thái từ (à, ư, nhỉ, ạ, ) là những từ dùng để biểu thị mục đích nói
của câu và các sắc thái tình cảm của người nói Đây là lớp từ không thuần nhất Trong câu, chúng có vị trí linh hoạt, có thể làm thành phần tình thái ngữ, tình thái từ có thể độc lập tạo thành câu đặc biệt
+ Trợ từ (chỉ, những, chính, đích, ) là những từ dùng để nhấn mạnh một
chi tiết hoặc biểu thị sự đánh giá của người nói với một sự tình nào đó trong câu Trợ từ thường đi kèm các từ ngữ chỉ nội dung mà nó nhấn mạnh hoặc đánh giá
+ Thán từ (ơi, dạ, ối, ái, ): là những từ được dùng làm tiếng gọi, tiếng
đáp, tiếng kêu than hoặc là dấu hiệu của cảm xúc nào đó
Hệ thống hư từ tình thái tiếng Việt này có vai trò rất quan trọng đối việc xác định và biểu thị NTT nói chung và NTTĐG nói riêng
1.3 Sơ lƣợc về truyện và kí
1.3.1 Khái niệm truyện và kí
1.3.1.1 Truyện
Thuật ngữ truyện có nhiều nghĩa Với nguồn gốc chữ Hán truyện ban đầu
có nghĩa là giải thích kinh nghĩa Sau này, nó có thêm nghĩa thứ hai là bài văn
xuôi ghi chép một sự tích nào đó Trong Từ điển tiếng Việt thuật ngữ truyện “chỉ
tác phẩm văn học miêu tả tính cách nhân vật, diễn biến sự kiện thông qua lời kể của nhà văn, như truyện cổ tích, truyện dài, truyện vừa, truyện ngắn ”[34, tr.1054]
Khác với thơ ca in đậm dấu ấn chủ quan, truyện phản ánh đời sống trong tính khách quan của nó, qua con người, hành vi, sự kiện được miêu tả và kể lại bởi một người kể chuyện nào đó
1.3.1.2 Kí
Đây là một loại hình văn học trung gian, nằm giữa báo chí và văn học,
Trang 36kí sự, nhật kí, tùy bút Đây là những tác phẩm không có một xung đột thống
nhất; phần khai triển chủ yếu mang tính miêu thuật; đề tài là các vấn đề trạng thái dân sự (kinh tế, xã hội) hay trạng thái tinh thần (phong hóa đạo đức);
hướng tới những phạm vi thông tin và nhận thức đa dạng (theo 10, tr.137)
1.3.2 Nhân vật văn học
“Nhân vật văn học là khái niệm dùng để chỉ hình tượng các cá thể con người trong tác phẩm văn học - cái đã được nhà văn nhận thức, sáng tạo, thể hiện bằng các phương tiện riêng của nghệ thuật ngôn từ” [ 38, tr.114]
Trong tác phẩm tự sự, nhân vật văn học có bản chất hai mặt Một mặt, nó
là chủ thể của hành động, là động lực thúc đẩy cốt truyện phát triển, vì thế có thể coi chúng như yếu tố mang hành động, mang chức năng, ý nghĩa nhất định Mặt khác, trong tác phẩm, nhân vật có một ý nghĩa độc lập, không phụ thuộc vào cốt truyện, nó xuất hiện như là người mang đặc điểm, phẩm chất ổn định,
vững bền, trở thành những tính cách độc đáo điển hình
Trong tác phẩm Văn học không thể thiếu nhân vật, vì đó chính là phương tiện cơ bản để nhà văn khái quát hiện thực một cách hình tượng Nhà văn sáng tạo nhân vật để thể hiện nhận thức của mình về một cá nhân nào đó, về một vấn đề nào đó của hiện thực
1.3.3 Chủ đề trong truyện và kí
“Chủ đề là vấn đề chủ yếu, vấn đề trung tâm được đặt ra từ toàn bộ hiện thực mà tác phẩm thể hiện” [10, tr.119] Như vậy, sự hình thành chủ đề của tác phẩm có mối liên hệ mật thiết với hiện thực đời sống và với ý đồ sáng tác của nhà văn Những tác phẩm có giá trị bao giờ cũng lấy thực tế khách quan làm cơ
sở, từ đó phát hiện một cách kịp thời và chính xác những vấn đề quan trọng nhất, cấp thiết nhất của đời sống và lí giải vấn đề đó một cách đúng đắn
Chủ đề có một vai trò rất quan trọng Nó thể hiện bản sắc tư duy, chiều sâu tư tưởng, khả năng thâm nhập vào bản chất đời sống của nhà văn
Trang 37Chủ đề không phải là chất liệu trực tiếp tạo thành tác phẩm Nó là một nhân tố thuộc nội dung khái quát của tác phẩm, nó được thực hiện, được cụ thể hóa qua những chất liệu trực tiếp khác Trước hết, dấu hiệu về chủ đề hay được bộc lộ qua tên gọi (nhan đề, đầu đề) của tác phẩm; có thể bộc bộc lộ trực tiếp trong những lời phát biểu của tác giả Nhưng về cơ bản, chủ đề thường được biểu hiện qua hệ thống hình tượng, hệ thống nhân vật, nhất là qua hình tượng chính, nhân vật chính
1.4 Đôi nét về việc dạy học truyện và kí, dạy học nghĩa của câu và giảng dạy văn hoá cho học sinh ở trường trung học phổ thông
1.4.1 Tình hình dạy học truyện, kí ở trường phổ thông
Theo tác giả Đỗ Ngọc Thống: Ở trường phổ thông hiện nay, môn Ngữ văn nhấn mạnh ba mục tiêu chính :
1 Trang bị những kiến thức phổ thông, cơ bản, hiện đại, có tính hệ thống
về ngôn ngữ và văn học – trọng tâm là tiếng Việt và văn học Việt Nam – phù hợp với trình độ phát triển của lứa tuổi và yêu cầu đào tạo nhân lực trong thời
kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
2 Hình thành và phát triển ở học sinh các năng lực sử dụng tiếng Việt, tiếp nhận văn bản, cảm thụ thẩm mỹ, phương pháp học tập tư duy, đặc biệt là phương pháp tự học, năng lực ứng dụng những điều đã học vào cuộc sống
3 Bồi dưỡng cho học sinh tình yêu tiếng Việt, văn học, văn hóa, tình yêu gia đình, thiên nhiên, đất nước, lòng tự hào dân tộc, ý chí tự lập, tự cường, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, tinh thần dân chủ nhân văn, giáo dục cho học sinh trách nhiệm công dân, tinh thần hữu nghị hợp tác quốc tế, ý thức tôn trọng và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc và nhân loại
Xuất phát từ mục tiêu đó, chương trình Ngữ văn THPT đã lựa chọn các tác phẩm thuộc mọi thể loại khác nhau của văn học Việt Nam (bao gồm văn
Trang 38tiến hành trên hai thể loại: truyện, kí Vì vậy, chúng tôi xin giới thiệu khái quát
về tình hình dạy học hai thể loại này ở trường phổ thông
Tổng số các văn bản truyện và kí được giảng dạy trong chương trình phổ thông là 25 Song đối tượng khảo sát của chúng tôi chỉ trong phạm vi là các văn bản viết bằng chữ Nôm và chữ Quốc ngữ nên số lượng tác phẩm khảo sát của luận văn là: 21 Để tiện cho sự trình bày, chúng tôi tạm chia các văn bản khảo sát của mình thành: truyện dân gian, truyện hiện đại, kí hiện đại như bảng dưới đây:
5
Truyện
hiện đại
Trang 3915 Một người Hà Nội - Nguyễn Khải x
Nguyên Giáp
x
Tiếp cận với các văn bản truyện dân gian Việt Nam, học sinh sẽ hiểu thêm về lịch sử dân tộc, hiểu thêm tâm hồn, tính cách Việt Nam, từ đó, hình thành ý thức và tinh thần dân tộc một cách tự nhiên sâu sắc
So với phần văn học dân gian, phần văn học hiện đại chiếm một tỉ lệ lớn trong chương trình Ngữ văn ở bậc THPT (14/21 tác phẩm) Truyện hiện đại được viết bằng chữ Quốc Ngữ, thuộc bộ phận văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến hết thế kỉ XX, chủ yếu xoay quanh khuynh hướng: lãng mạn và hiện thực
Đây là những tác phẩm có sự thống nhất cao độ giữa tư tưởng và tài năng của tác giả, giữa nội dung và hình thức của tác phẩm Mặt khác chính những tác phẩm văn học hiện đại ở chương trình Ngữ văn THPT đã phản ánh được lịch sử dân tộc
Quan sát bảng ở trên, chúng ta thấy: các văn bản kí được tập trung học ở lớp 12, nội dung chính của nó là ca ngợi vẻ đẹp và sức hấp dẫn của cuộc sống, con người và quê hương
Khi giảng dạy các văn bản này, giáo viên đã bám sát mục tiêu dạy học bộ môn, nắm vững phương pháp khai thác các tác phẩm theo đặc trưng thể loại;
Trang 40cái hay, cái đẹp của các kiểu loại văn bản, đặc biệt là văn bản nghệ thuật Qua mỗi giờ học, học sinh không chỉ được rèn luyện năng lực phân tích, cảm thụ tác phẩm văn học mà còn được phát triển về vốn từ ngữ, thấy được những cách thức lựa chọn, vận dụng ngôn ngữ để tạo lập các kiểu loại văn bản một cách hiệu quả nhất
Tìm hiểu ngôn ngữ qua ngữ liệu là các văn bản giảng dạy ở trường phổ thông, vận dụng tri thức ngôn ngữ vào việc phân tích phục vụ việc giảng dạy văn học là một việc làm có ý nghĩa thiết thực Tuy nhiên, trong số những tri thức ngôn ngữ được vận dụng vào phân tích văn học, NTT còn ít được đề cập
Vì lẽ đó, kết quả của đề tài Nghĩa tình thái đánh giá của câu trong các văn
bản truyện và kí giảng dạy ở trường trung học phổ thông sẽ có những đóng
góp nhất định vào việc nâng cao chất lượng tìm hiểu các văn bản nghệ thuật và góp phần cụ thể hóa mục tiêu dạy học Ngữ văn như đã nêu ở phần trên
1.4.2 Đôi nét về việc dạy học nghĩa của câu ở trường phổ thông
1.4.2.1 Mục tiêu dạy học nghĩa của câu
Trong Phân phối chương trình Ngữ Văn 11 - chương trình chuẩn, (thực hiện tại Sở GD & ĐT Thái Nguyên) bài Nghĩa của câu được giảng dạy và học
tập ở tiết 74 và tiết 81 (tuần 20 và 23) thuộc chương trình học kì II Sách giáo khoa đã xác định mục tiêu của bài học trên ba phương diện: kiến thức, kĩ năng
và thái độ
- Về kiến thức: Qua hai giờ học bài Nghĩa của câu học sinh nhận biết
được câu có hai thành phần nghĩa tường minh: nghĩa sự việc và nghĩa tình thái
- Về kĩ năng: Qua hai tiết học, cần cung cấp cho học sinh một số kĩ năng
cơ bản như: kĩ năng phân tích, lĩnh hội nghĩa của câu và kĩ năng đặt câu thể hiện được các thành phần nghĩa phù hợp nhất Qua đó học sinh vận dụng các kĩ năng được rèn luyện vào phần Đọc hiểu, tạo lập văn bản, tạo nền tảng để đọc văn đạt hiệu quả cao