1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn theo mô hình VNEN ở trường tiểu học thành phố Việt Trì (LV thạc sĩ)

93 374 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn theo mô hình VNEN ở trường tiểu học thành phố Việt Trì (LV thạc sĩ)Quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn theo mô hình VNEN ở trường tiểu học thành phố Việt Trì (LV thạc sĩ)Quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn theo mô hình VNEN ở trường tiểu học thành phố Việt Trì (LV thạc sĩ)Quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn theo mô hình VNEN ở trường tiểu học thành phố Việt Trì (LV thạc sĩ)Quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn theo mô hình VNEN ở trường tiểu học thành phố Việt Trì (LV thạc sĩ)Quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn theo mô hình VNEN ở trường tiểu học thành phố Việt Trì (LV thạc sĩ)Quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn theo mô hình VNEN ở trường tiểu học thành phố Việt Trì (LV thạc sĩ)Quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn theo mô hình VNEN ở trường tiểu học thành phố Việt Trì (LV thạc sĩ)Quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn theo mô hình VNEN ở trường tiểu học thành phố Việt Trì (LV thạc sĩ)Quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn theo mô hình VNEN ở trường tiểu học thành phố Việt Trì (LV thạc sĩ)Quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn theo mô hình VNEN ở trường tiểu học thành phố Việt Trì (LV thạc sĩ)Quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn theo mô hình VNEN ở trường tiểu học thành phố Việt Trì (LV thạc sĩ)Quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn theo mô hình VNEN ở trường tiểu học thành phố Việt Trì (LV thạc sĩ)Quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn theo mô hình VNEN ở trường tiểu học thành phố Việt Trì (LV thạc sĩ)

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN ĐỨC THIỆN

QUẢN LÝ SINH HOẠT TỔ CHUYÊN MÔN THEO MÔ HÌNH VNEN Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ

Chuyên ngành: Quản lý giáo dục

Mã số: 60.14.01.14

LUẬN VĂN NGÀNH: KHOA HỌC GIÁO DỤC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

1 PGS-TS Nguyễn Đức Sơn

Thái Nguyên – 2015

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 2

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Tổ chuyên môn là một đơn vị cơ sở của nhà trường, giữ vị trí rất quan trọng trong hoạt động nhà trường Đó là nơi người thầy giáo sinh hoạt chuyên môn, là nơi diễn ra các hoạt động như soạn giáo án, giúp nhau bồi dưỡng chuyên môn, tổ chức kiểm tra đánh giá, sinh hoạt tư tưởng và tinh thần Người Hiệu trưởng phải quản lý

tổ chuyên môn một cách khoa học, qua tổ chuyên môn để quản lý con người và quản lý công việc Đặc biệt là từ năm học 2012-2013 Bộ GD&ĐT triển khai dạy học và đánh giá tình hình học tập của học sinh ở các lớp triển khai mô hình VNEN Đây là một nội dung mới đối với các trường thực hiện thí điểm để những năm học sau triển khai rộng ở các trường tiểu học

Chỉ thị số 40 - CT/TW ngày 15 tháng 6 năm 2004 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý

giáo dục: “…Hoàn thiện cơ chế quản lý theo hướng tăng cường kỷ luật, kỷ cương

trong hoạt động dạy học, nâng cao tinh thần trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp của nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục…”

Tại điểm 2 điều 18 Điều lệ trường Tiểu học ban hành kèm theo Thông tư số 41/2010/TT-BGDĐT ngày 30 tháng 12 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về nhiệm vụ của tổ chuyên môn như sau:

Xây dựng kế hoạch hoạt động chung của tổ theo tuần, tháng, năm học nhằm thực hiện chương trình, kế hoạch dạy học và hoạt động giáo dục Thực hiện bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, kiểm tra, đánh giá chất lượng, hiệu quả giảng dạy, giáo dục và quản lí sử dụng sách, thiết bị của các thành viên trong tổ theo kế hoạch của nhà trường Tham gia đánh giá, xếp loại giáo viên theo quy định Chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học và giới thiệu tổ trưởng, tổ phó

Tất cả các trường tiểu học hiện nay đều thành lập tổ chuyên môn, hoạt động của tổ chuyên môn diễn ra theo theo quy định của Điều lệ trường tiểu học Tuy nhiên, hoạt động của tổ chuyên môn còn tồn tại những vấn đề sau:

Nhận thức của đội ngũ giáo viên và Hiệu trưởng về vai trò, nhiệm vụ của tổ chuyên môn chưa đúng mức, kỷ luật, kỷ cương chưa nghiêm túc Thực hiện 4 chức năng quản lý của tổ chuyên môn còn mờ nhạt, đôi khi bị lãng quên Hiệu quả sinh

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 3

hoạt của tổ chuyên môn thấp, còn tồn tại “hình thức chủ nghĩa” trong sinh hoạt của

được lựa chọn là: “ Quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn theo mô hình VNEN ở

trường tiểu học thành phố Việt Trì.”

2 Mục đích nghiên cứu:

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn theo

mô hình VNEN, đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả sinh hoạt tổ chuyên môn, góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy của giáo viên

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu:

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn theo mô hình VNEN ở các trường tiểu học

3.2 Khách thể nghiên cứu

Công tác quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn của Hiệu trưởng trường tiểu học

4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu:

4.1 Giới hạn về đối tượng nghiên cứu

Đề tài chỉ nghiên cứu quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn theo mô hình VNEN Giới hạn về địa bàn nghiên cứu Đề tài nghiên cứu 20 trường tiểu học trên địa bàn thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ

4.2 Giới hạn về khách thể điều tra

Đề tài điều tra về công tác quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn của 300 cán bộ quản

lý và giáo viên ở 20 trường tiểu học của thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ

5 Giả thuyết khoa học:

Nếu Hiệu trưởng các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ quan tâm và thực thi các biện pháp đồng bộ về tổ chức, quản lý, bồi dưỡng

và xây dựng môi trường hoạt động tốt cho các tổ chuyên môn theo mô hình VNEN thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sinh hoạt của tổ chuyên môn

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 4

6 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:

6.1 Nghiên cứu các vấn đề lý luận liên quan tới sinh hoạt của tổ chuyên

môn, quản lý sinh hoạt của tổ chuyên môn, các yếu tố ảnh hưởng đến sinh hoạt của tổ chuyên môn, mô hình VNEN

6.2 Đề xuất và khảo nghiệm các biện pháp quản lý để cải thiện chất lượng

sinh hoạt tổ chuyên môn theo mô hình VNEN

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận

Phân tích, tổng hợp, phân loại tài liệu, Thông qua đọc tài liệu của các tác giả để xác định những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài nghiên cứu Các vấn đề lý luận này sẽ làm cơ sở cho việc phân tích thực trạng và đề xuất các giải pháp phù hợp

và khả thi

7.2 - Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Quan sát, điều tra, phỏng vấn, tổng kết kinh nghiệm, lấy ý kiến chuyên gia, nhóm phương pháp này dùng để khảo sát thực trạng sinh hoạt tổ chuyên môn và thực trạng sử dụng các biện pháp quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn của các Hiệu trưởng

7.3 Nhóm phương pháp thống kê toán học

Dùng để xử lý các kết quả khảo sát thực tiễn, giúp phân tích mối quan hệ giữa các kết quả khảo sát được trong thực tiễn

Trang 5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 5

thực hiện

1.1.2 Trong nước

Nền giáo dục cách mạng Việt Nam với nhiều lần cải cách giáo dục Giáo dục Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu lớn lao, trình độ dân trí được nâng cao, chất lượng giáo dục có nhiều chuyển biến tích cực, cơ sở vật chất các nhà trường được đầu tư theo hướng kiên cố hóa, hiện đại hóa Tuy nhiên, giáo dục nước ta vẫn còn nhiều yếu kém, bất cập Nguyên nhân của những yếu kém, bấp cập của nền giáo dục nước ta thì

có nhiều, nhưng một trong những nguyên nhân không thể không kể đến đó là do: những yếu tố chủ quan, trình độ quản lý giáo dục chưa thích ứng với sự thay đổi cơ chế từ nền kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh kế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa; chậm đổi mới cả về tư duy và phương thức quản lý; năng lực của cán bộ quản lý chưa được chú trọng nâng cao, công tác tuyển chọn và bồi dưỡng cán bộ quản lý chưa có hệ thống, chưa đủ mạnh để đáp ứng những yêu cầu đặt ra đối với hệ thống giáo dục

Hiện nay đã có nhiều nghiên cứu về quản lý giáo dục Điển hình trong lĩnh vực nghiêncứu này có các tác giả như: Phạm Minh Hạc, Hà Sĩ Hồ, Nguyễn Ngọc Quang, Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Gia Quý, Đỗ Văn Chấn, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Trần Kiểm Tuy nhiên, vẫn còn ít các đề tài nghiên cứu về công tác quản lý của Hiệu trưởng đối với sinh hoạt của tổ chuyên môn trong các trường tiểu học theo mô hình VNEN

Các luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ nghiên cứu về đội ngũ tổ trưởng chuyên môn trong các trường phổ thông cũng đã có khá nhiều tác giả nghiên cứu, chẳng hạn:

Các biện pháp quản lý hoạt động tổ chuyên môn của hiệu trưởng các trường mầm non quận Cầu Giấy thành phố Hà Nội - Doãn Thị Thanh Phương - 2006

Các biện pháp quản lý hoạt động tổ chuyên môn của Hiệu trưởng các trường tiểu học quận Hồng Bàng - Hải Phòng - Trần Thị Minh Tâm - 2006

Biện pháp quản lý của Hiệu trưởng đối với hoạt động tổ chuyên môn các trường THCS huyện Phổ Yên Thái Nguyên - Nguyễn Thanh Cao - 2007

Một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tổ chuyên môn

ở các trường THPT thành phố Hà Đông tỉnh Hà Tây - Nguyễn Thế Quang - 2007

Các biện pháp quản lý hoạt động tổ chuyên môn của Hiệu trưởng các trường tiểu học huyện Phù Ninh tỉnh Phú Thọ - Nguyễn Thị Ngân - 2007

Biện pháp quản lý hoạt động tổ chuyên môn của Hiệu trưởng các trường tiểu

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 6

học Huyện Tứ Kỳ - Hải Dương - Phù Thị Thanh Huệ - 2008

Các luận văn kể trên chỉ nghiên cứu về quản lý tổ chuyên môn ở các trường mầm non, tiểu học, THCS, THPT Tính đến thời điểm này (năm 2014) trên địa bàn tỉnh Phú Thọ vẫn chưa có tác giả nào nghiên cứu về công tác quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn theo mô hình VNEN ở các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ

1.2 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1 Quản lý

Từ buổi bình minh của lịch sử loài người, con người đã biết tập hợp nhau lại

để sống và lao động nhằm mục tiêu ban đầu mang đậm tính bản năng, đó là chống lại

sự tấn công của thú dữ Trong quá trình phát triển của xã hội loài người, hoạt động lao động manh mún mang tính tự phát dần được thay thế bằng các hoạt động lao động

có tổ chức chặt chẽ hơn để phát huy được sức mạnh của cộng đồng Khi xã hội phát triển đến một trình độ nhất định thì cần có những người đứng ra tập hợp một số người trong cộng đồng thành một nhóm để thực hiện những nhiệm vụ lao động chuyên biệt, lúc ấy manh nha xuất hiện hoạt động phân công lao động cho các thành viên trong nhóm Có rất nhiều quan niệm khác nhau về quản lý, dưới đây là một số quan niệm của các tác giả có tên tuổi trong lĩnh vực nghiên cứu về khoa học quản lý giáo dục:

Trong tập bài giảng Quản lý Giáo dục và Đào tạo PGS-TS Nguyễn Thị Tính

cho rằng: “Quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý

đến đối tượng quản lý trong tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt được mục tiêu đề ra "

[ 22; 2]

Khái niệm “quản lý” được PGS-TS Trần Kiểm quan niệm: “Quản lý là những

tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức một cách tối ưu nhằm đạt được mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [ 16; 6 ]

Như vậy, ta có thể hiểu: Quản lý là tập hợp các tác động có mục đích, có kế

hoạch, có phương pháp của người quản lý tới người được quản lý để đạt được mục tiêu quản lý

1.2.2 Tổ chuyên môn

Trang 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 7

Theo từ điển Tiếng Việt: “Chuyên môn là lĩnh vực kiến thức riêng về một

ngành kinh tế - xã hội”.[28; 73]

Tổ chuyên môn là một nhóm người có cùng các hoạt động chuyên môn giống nhau hoặc gần giống nhau được tổ chức lại nhằm hỗ trợ nhau trong công việc, học tập và bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ đồng thời cũng để cho người quản lý dễ dàng hơn trong việc thực hiện nhiệm vụ quản lý của mình Mặt khác, tổ chuyên môn cũng là nơi các thành viên trao đổi về tư tưởng, tình cảm, động viên, chia sẻ buồn vui với nhau trong cuộc sống

Trong trường các nhà trường phổ thông nói chung, các giáo viên đều được tổ chức thành các tổ chuyên môn Tại điều 18 Điều lệ trường Tiểu học Ban hành kèm theo Thông tư số 41/2010/TT-BGDĐT ngày 30 tháng 12 năm 2010 của Bộ trưởng

Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định như sau:

1 Tổ chuyên môn bao gồm giáo viên, viên chức làm công tác thư viện, thiết bị giáo dục Mỗi tổ có ít nhất 3 thành viên Tổ chuyên môn có tổ trưởng, nếu có từ 7 thành viên trở lên thì có một tổ phó

2 Nhiệm vụ của tổ chuyên môn:

a) Xây dựng kế hoạch hoạt động chung của tổ theo tuần, tháng, năm học nhằm thực hiện chương trình, kế hoạch dạy học và hoạt động giáo dục;

b) Thực hiện bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, kiểm tra, đánh giá chất lượng, hiệu quả giảng dạy, giáo dục và quản lí sử dụng sách, thiết bị của các thành viên trong tổ theo kế hoạch của nhà trường;

c) Tham gia đánh giá, xếp loại giáo viên theo quy định Chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học và giới thiệu tổ trưởng, tổ phó

3 Tổ chuyên môn sinh hoạt định kì hai tuần một lần và các sinh hoạt khác khi

có nhu cầu công việc

Như vậy, có thể nói rằng: tổ chuyên môn là đơn vị cơ sở để thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách, kế hoạch giáo dục của Đảng, Nhà nước, của các cấp quản lý giáo dục và kế hoạch giáo dục của nhà trường Sinh hoạt tổ chuyên môn sẽ quyết định tới chất lượng giáo dục của mỗi nhà trường Bởi vậy, nếu Hiệu trưởng quản lý tốt sinh hoạt của tổ chuyên môn thì đó chính là lời giải cho bài toán nâng cao

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 8

chất lượng giáo dục

1.2.3 Quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn

Tại điểm 5 Điều 20 Điều lệ trường Tiểu học ban hành kèm theo Thông tư số 41/2010/TT-BGDĐT ngày 30 tháng 12 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định Hiệu trưởng trường Tiểu học có 8 nhiệm vụ sau đây:

a) Xây dựng quy hoạch phát triển nhà trường; lập kế hoạch và tổ chức thực hiện

kế hoạch dạy học, giáo dục; báo cáo, đánh giá kết quả thực hiện trước Hội đồng trường và các cấp có thẩm quyền;

b) Thành lập các tổ chuyên môn, tổ văn phòng và các hội đồng tư vấn trong nhà trường; bổ nhiệm tổ trưởng, tổ phó;

c) Phân công, quản lí, đánh giá, xếp loại; tham gia quá trình tuyển dụng, thuyên chuyển; khen thưởng, thi hành kỉ luật đối với giáo viên, nhân viên theo quy định; d) Quản lí hành chính; quản lí và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài chính, tài sản của nhà trường;

e) Quản lí học sinh và tổ chức các hoạt động giáo dục của nhà trường; tiếp nhận, giới thiệu học sinh chuyển trường; quyết định khen thưởng, kỉ luật, phê duyệt kết quả đánh giá, xếp loại, danh sách học sinh lên lớp, ở lại lớp; tổ chức kiểm tra, xác nhận việc hoàn thành chương trình tiểu học cho học sinh trong nhà trường và các đối tượng khác trên địa bàn trường phụ trách;

g) Dự các lớp bồi dưỡng về chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ quản lí; tham gia giảng dạy bình quân 2 tiết trong một tuần; được hưởng chế độ phụ cấp và các chính sách ưu đãi theo quy định;

h) Thực hiện quy chế dân chủ cơ sở và tạo điều kiện cho các tổ chức chính trị - xã hội trong nhà trường hoạt động nhằm nâng cao chất lượng giáo dục;

i) Thực hiện xã hội hoá giáo dục, phối hợp tổ chức, huy động các lực lượng xã hội cùng tham gia hoạt động giáo dục, phát huy vai trò của nhà trường đối với cộng đồng

Như vậy, trong thực thi nhiệm vụ của mình theo quy định tại Điều lệ trường Tiểu học, người Hiệu trưởng phải thực hiện rất nhiều công việc Trong tám nhiệm vụ

Trang 9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 9

ở trên thì hai nhiệm vụ a và b nêu ở trên là hai nhiệm vụ được đặt lên hàng đầu

Như vậy, chúng ta thấy rằng quản lý dạy học và giáo dục là hoạt động trung tâm của Hiệu trưởng mà tổ chuyên môn lại là nơi diễn ra các hoạt động quan trọng

đó

Quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn của Hiệu trưởng là những tác động tới các

mặt hoạt động của tổ chuyên môn như: Lập kế hoạch hoạt động của tổ chuyên môn,

tổ chức thực hiện kế hoạch của tổ chuyên môn, công tác chỉ đạo của tổ trưởng chuyên môn trong quá trình thực hiện kế hoạch của tổ, công tác kiểm tra đánh giá của tổ trưởng chuyên môn đối với hoạt động của các thành viên trong tổ Nhằm góp phần đạt được mục tiêu chung của nhà trường

Để thực hiện quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn, Hiệu trưởng phải nắm được kế hoạch, chương trình và phương pháp giảng dạy các môn ở các khối lớp, tinh thần đổi mới phương pháp dạy học và giáo dục để có khả năng tư vấn về nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên

Mặt khác về quản lý, người Hiệu trưởng cần phải tuân thủ hệ thống các

nguyên tắc quản lý giáo dục Trong cuốn “Những vấn đề cơ bản của khoa học quản

lý giáo dục”[16; 97], PGS-TS Trần Kiểm đã nêu ra sơ đồ hệ thống các nguyên tắc

quản lý giáo dục như sau:

Hệ thống nguyên tắc quản lý giáo dục

Trang 10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 10

Đặc biệt, người Hiệu trưởng phải là người tạo lập và khơi dậy bầu không khí học thuật trong nhà trường, là người đốt nóng bầu không khí đổi mới phương pháp dạy học và

giáo dục GS-TSKH Thái Duy Tuyên đã viết trong cuốn Phương pháp dạy học truyền

thống và đổi mới: “Để giải quyết có hiệu quả vấn đề đổi mới PPDH trong nhà trường,

người Hiệu trưởng giữ vai trò vô cùng quan trọng Một trong những nguyên nhân quan trọng nhất làm cho việc đổi mới PPDH trong nhà trường thời gian qua vận động và phát triển chậm chạp có lẽ là do người Hiệu trưởng chưa thật mặn mà với công tác quan trọng này”[24; 35] Cũng trong cuốn sách này, GS -TSKH Thái Duy Tuyên giới thiệu 6 biện

pháp quản lý toàn diện để đổi mới phương pháp dạy học:

- Tăng cường quản lý hoạt động của tổ chuyên môn

- Chấn chỉnh hoạt động của tổ chủ nhiệm và các đoàn thể trong nhà trường

- Đổi mới quản lý hoạt động dạy học và bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho đội

ngũ giáo viên

- Tăng cường quản lý hoạt động học tập của học sinh

- Phối hợp chặt chẽ hoạt động của Hội cha mẹ học sinh và các lực lượng giáo

Kết hợp nhà nước

và nhân dân

Kết hợp quản lý theo ngành và lãnh thổ

Kết hợp các lợi ích

Tập trung

dân chủ

Kết hợp tập thể,

cá nhân, chế độ một thủ trưởng

Chuyên môn hóa

Pháp chế xã hội

chủ nghĩa

Tổ chức quản lý cán bộ

Phối hợp các phương pháp quản lý

Trang 11

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 11

dục khác

- Bảo đảm các điều kiện thiết yếu về cơ sở vật chất, thiết bị đồ dùng và kinh phí

cho đổi mới PPDH

Như vậy, ta có thể nói rằng Hiệu trưởng có vai trò rất quan trọng trong mọi mặt sinh hoạt của tổ chuyên môn Hiệu trưởng được xem như là “linh hồn” của tập thể sư phạm Những tư tưởng của người Hiệu trưởng sẽ ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến các hoạt động của nhà trường nói chung và sinh hoạt của tổ chuyên môn nói riêng

1.3 Nội dung sinh hoạt của tổ chuyên môn

1.3.1 Trường Tiểu học và vai trò, vị trí của tổ chuyên môn trong trường Tiểu học

Tại điều 26 Luật Giáo dục năm 2005 quy định về Giáo dục phổ thông như sau:

Giáo dục phổ thông bao gồm:

a) Giáo dục tiểu học được thực hiện trong năm năm học, từ lớp một đến lớp năm Tuổi của học sinh vào học lớp một là sáu tuổi;

b) Giáo dục trung học cơ sở được thực hiện trong bốn năm học, từ lớp sáu đến lớp chín Học sinh vào học lớp sáu phải hoàn thành chương trình tiểu học, có tuổi là mười một tuổi;

c) Giáo dục trung học phổ thông được thực hiện trong ba năm học, từ lớp mười đến lớp mười hai Học sinh vào học lớp mười phải có bằng tốt nghiệp trung học

cơ sở, có tuổi là mười lăm tuổi

Điều 30 Luật Giáo dục năm 2005 quy định về cơ sở giáo dục phổ thông như sau:

1 Trường tiểu học;

2 Trường trung học cơ sở;

3 Trường trung học phổ thông;

4 Trường phổ thông có nhiều cấp học;

5 Trung tâm kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp

Mục tiêu của Giáo dục tiểu học được quy định tại điều điểm 3, điều 27 Luật

Giáo dục năm 2005: “Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở

ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ

Trang 12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 12

và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở”

Như vậy, Giáo dục Tiểu học và cơ sở Giáo dục tiểu học (Nhà trường Tiểu học) đứng vị trí thứ nhất trong giáo dục phổ thông, là cấp học nền tảng về các mặt đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản cho cấp Trung học cơ sở Nếu

chúng ta tiếp cận theo quan điểm của “Quản lý chất lượng tổng thể” (TQM - Total

Quality Management) trong quản lý giáo dục thì cấp tiểu học là bên “cung ứng” các

“sản phẩm”, cấp trung học là “khách hàng” của cấp tiểu học “Sản phẩm” của trường tiểu học là “nguyên liệu” đầu vào của các trường THCS

Các nhà trường tiểu học được xem là nền móng của chất lượng nguồn nhân lực Chúng ta không thể xây dựng một tòa nhà cao tầng trên một nền móng không vững chắc Bởi vậy, chất lượng nguồn nhân lực của quốc gia muốn cao thì một điều kiện tiên quyết đó là chất lượng giáo dục trong trường tiểu học

Tổ chuyên môn như đã đề cập ở phần 1.2.2 của chương I, với tư cách là một phần tử của “dây chuyền” trực tiếp tạo ra các “sản phẩm” nguồn nhân lực, thì có thể nói rằng tổ chuyên môn có một vai trò và vị trí hết sức quan trọng trong “dây chuyền” tạo ra các “sản phẩm” đó, các hoạt động của tổ chuyên môn quyết định trực tiếp đến chất lượng giáo dục của nhà trường Mặt khác, các mối quan hệ, các cách đối nhân xử thế, môi trường giao tiếp ở tổ chuyên môn góp phần làm nên diện mạo văn hóa của nhà trường

1.3.2 Nội dung sinh hoạt của tổ chuyên môn

Từ 3 nhiệm vụ của tổ chuyên môn, có thể thấy sinh hoạt của tổ chuyên môn có những nội dung sau:

Lập kế hoạch hoạt động của tổ trên cơ sở kế hoạch hoạt động của nhà trường

Tổ chức các hoạt động dạy học và giáo dục trên cơ sở kế hoạch đã lập và phân phối chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo được nhà trường cụ thể hoá bằng thời khoá biểu và và kế hoạch dạy học của các tổ chuyên môn.Phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh có khó khăn trong học tập

Thực hiện công tác chủ nhiệm lớp

Thực hiện công tác bồi dưỡng giáo viên bằng nhiều hình thức khác nhau như:

tổ chức dự giờ đồng nghiệp, phân tích sư phạm các giờ dạy của đồng nghiệp, hội thảo các chuyên đề về phương pháp dạy học và giáo dục thông qua các buổi sinh hoạt

Trang 13

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 13

chuyên môn hoặc tự nghiên cứu tài liệu Ứng dụng thành tựu của khoa học và công nghệ vào dạy học và giáo dục Tổ chức nghiên cứu khoa học giáo dục, tổng kết chuyên đề sáng kiến kinh nghiệm, làm đồ dùng dạy học Lập và cập nhật thông tin vào hệ thống hồ sơ của trường, của tổ và của cá nhân Kiểm tra, đánh giá các mặt hoạt động của mọi thành viên trong tổ theo định kỳ hoặc theo yêu cầu đột xuất của BGH Quản lý, sử dụng tài liệu giảng dạy và thiết bị dạy học được giao Tham gia hoạt động ngoại khoá do nhà trường, các đoàn thể hoặc tổ chuyên môn tự tổ chức

Đề xuất tham mưu với Hiệu trưởng để khen thưởng những thành viên có thành tích trong hoạt động giảng dạy và giáo dục Đồng thời phê bình, nhắc nhở những giáo viên vi phạm qui chế chuyên môn hoặc chưa nhiệt tình tham gia các hoạt động mà nhà trường, tổ phân công Tham gia đánh giá xếp loại giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp Giới thiệu chức danh Tổ trưởng, Tổ phó để Hiệu trưởng bổ nhiệm

Nội dung chi tiết là vậy, nhưng có thể khái quát lại nội dung sinh hoạt của tổ chuyên môn có đầy đủ các khâu: Kế hoạch hóa, tổ chức thực hiện kế hoạch, chỉ đạo thực hiện kế hoạch và kiểm tra đánh giá thực hiện kế hoạch

1.3.3 Nhiệm vụ, quyền hạn của tổ trưởng chuyên môn và yêu cầu của tổ trưởng chuyên môn trong giai đoạn hiện nay

Người Hiệu trưởng cho dù có giỏi tổ chức đến mức nào đi chăng nữa, cho dù Hiệu trưởng có mặt liên tục ở trường để điều hành và giám sát công việc thì cũng không thể nào kiểm soát một cách trực tiếp được hết tất cả các hoạt động hàng ngày diễn ra trong nhà trường Bởi vậy, Hiệu trưởng cần phải dựa vào các cộng sự giúp việc Một trong những cộng sự giúp việc đó là tổ trưởng chuyên môn, tổ trưởng chuyên môn như cánh tay nối dài của Hiệu trưởng Tổ trưởng chuyên môn là người chịu trách nhiệm trước Hiệu trưởng về kết quả mọi mặt hoạt động của tổ mình phụ trách Tổ trưởng chuyên môn bao giờ cũng là người có năng lực chuyên môn, nghiệp

vụ vững chắc, là người có phẩm chất đạo đức tốt, có năng lực QL điều hành tốt, đặc biệt là người có uy tín cao trong tập thể nhà trường và tập thể tổ Hiện nay, công việc của người tổ trưởng chuyên môn thường phải thực hiện là:

Xây dựng kế hoạch hoạt động của tổ trên cơ sở kế hoạch hoạt động của trường

và sự đóng góp của các tổ viên, đồng thời hướng dẫn tổ viên xây dựng kế hoạch hoạt động chuyên môn của cá nhân

Xây dựng tập thể tổ thành một khối đoàn kết nhất trí, giúp nhau cùng tiến bộ

Trang 14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 14

Xây dựng kế hoạch giảng dạy trong tuần theo thời khóa biểu của nhà trường cho tổ, xây dựng kế hoạch và nội dung bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh yếu của tổ

Kiểm soát các khâu: soạn bài, giảng bài, chấm bài, chữa bài và đánh giá xếp loại học sinh của từng thành viên trong tổ theo đúng các văn bản chỉ đạo của ngành

Chủ trì các buổi sinh hoạt tổ chuyên môn theo định kỳ một cách có hiệu quả nhằm góp phần tích cực vào việc đổi mới phương pháp dạy học và giáo dục

Tổ chức cho các tổ viên làm và sử dụng đồ dùng dạy học, chỉ đạo ứng dụng khoa học và công nghệ vào giảng dạy và giáo dục, tổ chức tổng kết và viết sáng kiến kinh nghiệm của các thành viên trong tổ

Tham gia kiểm tra, đánh giá giáo viên theo quyết định của Hiệu trưởng nhà trường

Giải đáp những ý kiến, thắc mắc của tổ viên trong phạm vi thẩm quyền của tổ trưởng và đề đạt những ý kiến của tổ viên trong tổ không thuộc thẩm quyền của tổ trưởng tới Hiệu trưởng giải quyết

Từ những nhiệm vụ của tổ chuyên môn và nhiệm vụ của của Tổ trưởng chuyên môn, trong giai đoạn hiện nay đòi hỏi tổ trưởng chuyên môn phải đáp ứng được những yêu cầu sau đây:

Yêu cầu về năng lực nhanh thích ứng với sự thay đổi Trong một xã hội mà nền kinh tế, xã hội, nhất là khoa học công nghệ luôn thay đổi và phát triển Bởi vậy, các lĩnh vực khác đặc biệt là giáo dục và đào tạo cũng phải thay đổi theo để đáp ứng được với những yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội

Yêu cầu về năng lực tự học Tri thức của nhân loại tăng lên hàng ngày, trong khi đó giáo dục nhà trường lại không thể cung cấp đầy đủ tri thức cho người học Bởi vậy, để không bị lạc hậu về tri thức nhằm đáp ứng yêu cầu công việc thì bắt buộc mọi người phải liên tục cập nhật tri thức mới có liên quan đến công việc của mình

Yêu cầu về năng lực quản lý, điều hành Thực tế hiện nay, các tổ trưởng chuyên môn được bổ nhiệm chủ yếu dựa trên tiêu chí năng lực về chuyên môn, năng lực quản lý và điều hành ít được chú ý tới Trong khi đó, người tổ trưởng vừa phải trực tiếp làm công tác giảng dạy và giáo dục vừa phải làm công tác quản lý điều hành

1.3.4 Sinh hoạt tổ chuyên môn theo mô hình VNEN

Theo mô hình VNEN trong quá trình giảng dạy lấy học sinh làm trung tâm,

Trang 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 15

phát huy tính tích cực của học sinh Giáo viên cần linh hoạt hơn trong tổ chức cho học sinh học tập Giáo viên giảm bớt các thao tác mẫu, biểu diễn mà thay vào đó là sự linh hoạt trong kiểm tra, giám sát, giúp các nhóm làm việc GV chủ động tra cứu thông tin, tự học để đáp ứng yêu cầu của bài học, không phụ thuộc vào sách hướng dẫn

Trên cơ sở những điểm mới của mô hình VNEN thì sinh hoạt tổ chuyên môn cũng cần có sự thay đổi cho phù hợp với hình thức giảng dạy và học tập theo mô hình VNEN

Tăng cường trao đổi kinh nghiệm trong quá trình thực hiện mô hình VNEN Sinh hoạt chuyên môn theo cụm trường là bồi dưỡng nghiệp vụ, chuyên môn ở các lĩnh vực : Hoạt động giáo dục và hoạt động dạy học; Đánh giá kết quả giáo dục, kết quả dạy và học Về hoạt động giáo dục để hình thành và nâng cao năng lực tổ chức hoạt động giáo dục cho GV dạy học ở mô hình trường học mới – VNEN

Tóm lại: Tổ trưởng chuyên môn chính là cánh tay nối dài của Hiệu trưởng, giúp

Hiệu trưởng quản lý mọi mặt hoạt động ở tổ chuyên môn Tổ trưởng chuyên môn vừa

là một giáo viên, vừa là một nhà quản lý, lãnh đạo Năng lực chuyên môn và năng lực quản lý của người tổ trưởng sẽ là một trong các yếu tố rất quan trọng trong việc quyết định đến chất lượng sinh hoạt của tổ chuyên môn

1.4 Hiệu trưởng với vai trò quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn theo mô hình VNEN

1.4.1 Quản lý của Hiệu trưởng đối với sinh hoạt của tổ chuyên môn theo mô hình VNEN

Quản lý theo chức năng là dựa vào những công việc của người quản lý phải thực hiện để làm căn cứ tác động nhằm đạt được mục tiêu quản lý

Có nhiều quan điểm khác nhau về các chức năng của quản lý, PGS.TS Trần Kiểm cho rằng có 4 chức năng [16; 45.], có tác giả cho rằng có 6 chức năng Tuy nhiên, tác giả nào cũng tập trung vào 4 chức năng chính sau: Chức năng kế hoạch, chức năng tổ chức, chức năng chỉ đạo và chức năng kiểm tra đánh giá

1.4.1.1 Công tác lập kế hoạch

Công tác lập kế hoạch là một hoạt động xác định mục tiêu, xác định những công việc cần phải làm ở những khoảng thời gian xác định trong tương lai, xác định những nguồn lực đảm bảo cho những công việc phải làm đó được thực thi Lập kế

Trang 16

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 16

hoạch thực chất là chúng ta đi tìm các câu trả lời cho 4 câu hỏi:

- Những việc cần phải làm là những việc gì?

- Làm những việc đó bằng cách nào?

- Làm những việc đó vào những thời điểm nào?

- Những ai, những bộ phận nào sẽ làm những việc đó?

Chức năng lập kế hoạch là chức năng khởi đầu quan trọng nhất của công tác quản lý, lập kế hoạch là một thành tố không thể thiếu đối với các nhà quản lý Thực tế chứng minh, các nhà quản lý thường làm việc theo thói quen và chỉ thực hiện chức năng quản lý hàng ngày và mỗi khi có một vấn đề nào đó xuất hiện người quản lý mới tập trung sức lực giải quyết mà không dành thời gian thích đáng cho việc lập kế hoạch để cho mọi việc hoặc ít ra là nhiều việc xảy ra theo ý muốn của mình Việc lập

kế hoạch là một hoạt động quản lý bao gồm phân tích môi trường bên ngoài, bên trong của tổ chức, rồi xác định xứ mệnh của tổ chức, xác lập các mục tiêu, quyết định các kế hoạch hành động hoặc các biện pháp cụ thể nhằm đạt được các mục tiêu đó

Lập kế hoạch là một quá trình xác định các mục tiêu và lựa chọn các phương thức hành động để đạt được các mục tiêu đó Đứng về mặt lý luận người ta nói: nếu không có các kế hoạch thì các nhà quản lý có thể không biết tổ chức và khai thác con người cũng như các nguồn lực khác của tổ chức có hiệu quả, thậm chí không có một

ý tưởng rõ ràng về cái mà họ cần tổ chức và khai thác và không có kế hoạch thì các nhà quản lý và nhân viên của họ có rất ít cơ hội để đạt được mục tiêu của mình, không biết khi nào và ở đâu phải làm gì Lúc này việc kiểm tra của các nhà quản lý cũng trở nên rất khó khăn

Lập kế hoạch sẽ làm giảm bớt độ bất định và ứng phó với những thay đổi từ bên ngoài Vì có nhiều yếu tố bên ngoài nằm ngoài sự kiểm soát của chúng ta nhưng

nó lại ảnh hưởng tới công việc của chúng ta, song nếu chúng ta có lập kế hoạch thì chúng ta có thể chủ động hơn và giảm thiểu độ bất định trong quá trình thực hiện Tập trung sự cố gắng và sự chú ý của mọi người vào mục tiêu Tạo khả năng thực hiện công việc một cách kinh tế Trong khi lập kế hoạch chúng ta đã cân nhắc lợi hại rồi tính toán sự hao phí các nguồn lực sao cho có lợi nhất ở các phương án hành động Làm cho người quản lý dễ dàng kiểm tra việc thực hiện công việc của mọi người trong tổ chuyên môn Phối hợp chặt chẽ với các trường bạn để lập kế họach sinh hoạt tổ chuyên môn theo cụm trường

Trang 17

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 17

Tổ chức là phối hợp các tác động bộ phận lại với nhau làm cho chúng tạo nên một tác động tích hợp, mà hiệu quả của tác động tích hợp này lớn hơn tổng hiệu quả của tác động bộ phận Cũng có thể nói, tổ chức là tạo nên sự cộng hưởng của các tác động bộ phận

Như vậy, tổ chức là nhân tố sinh thành ra hệ thống toàn vẹn, biến một tập thể các thành tố rời rạc thành một hệ toàn vẹn, tạo ra cái gọi là hiệu ứng tổ chức, như Lênin đã khẳng định: “Liệu một trăm có mạnh hơn một ngànkhông? Có chứ! Khi mà một trăm được tổ chức lại Tổ chức sẽ nhân sức mạnh lên gấp mười lần”

Trong quản lý, chủ thể phải tổ chức khách thể quản lý một cách khoa học để đạt tới mục tiêu dự kiến Chủ thể quản lý cũng phải tự tổ chức mình, luôn cải tiến tổ chức của chính mình, bằng cách đó mà nhân sức mạnh quản lý của bản thân

Tổ chức trải qua 5 bước cụ thể sau:

Bước tiếp nhận các nguồn lực: bước này bao gồm tiếp nhận nguồn lực về con người như: giáo viên, học sinh; cơ sở vật chất, thiết bị dạy học bổ sung; kinh phí Bước đưa nội dung kế hoạch đến những người thực hiện: trong bước này, người

tổ chức cần phải trình bày, giải thích, thuyết phục, phân tích và động viên, kích thích người thực hiện Nêu lên viễn cảnh của việc hoàn thành kế hoạch Làm cho mọi người tự giác chấp hành kế hoạch

Bước thiết lập cấu trúc tổ chức bộ máy: bước này, cần phải bố trí, sắp xếp các

bộ phận và cá nhân, quy định chức năng, quyền hạn và biên chế nhân lực, phân công, phân nhiệm đến từng người về từng mặt hoạt động của tổ chức

Bước xác lập cơ chế phối hợp, cộng tác, giám sát: xác lập các mối quan hệ quản

lý ngang, dọc; quy định quyền hạn cân đối với trách nhiệm trong sự phối hợp và công tác; chuyên môn hóa các chức năng riêng của từng bộ phận; thiết lập các cơ chế thông tin liên hệ ngược, giám sát, trọng tài, can thiệp

Trang 18

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 18

Bước nâng cao trình độ nghiệp vụ, cải thiện đời sống của cán bộ, giáo viên: Đây

là việc làm thường xuyên từ đầu đến cuối chu trình quản lý Đối với nhà trường, làm giàu nhân cách của giáo viên có nghĩa là làm cho tổ chức mạnh lên, làm cho hiệu quả thực hiện kế hoạch được tăng lên Theo mô hình VNEN tổ chức và cách thức tiến hành sinh hoạt chuyên môn định kì của các trường (cụm trường) được thực hiện như sau:

Xác định đối tượng, thời gian, địa điểm Tất cả các giáo viên dạy trong cùng một trường (cụm trường) : Khoảng 10 đến 20 GV (bao gồm cả các GV dạy và không dạy theo mô hình VNEN) Định kì 2 tuần/lần Cố định tại một trường có điều kiện thuận lợi để hỗ trợ, đảm bảo cho chất lượng sinh hoạt chuyên môn và hoạt động hậu cần cho các giáo viên ; hoặc thay đổi luân phiên giữa các trường trong cùng một cụm

1.4.1.3 Công tác chỉ đạo

Chức năng chỉ đạo có ý nghĩa sau:

Chỉ đạo là huy động lực lượng vào việc thực hiện kế hoạch, là điều hành mọi việc nhằm đảm bảo cho hệ quản lý vận hành thuận lợi Chỉ đạo là biến mục tiêu dự kiến thành kết quả, biến kế hoạch thành hiện thực Chỉ đạo là tổ chức một cách khoa học lao động của cả tập thể người cũng như từng người

Nội dung của việc chỉ đạo:

Nắm quyền chỉ huy, điều hành công việc làm cho các bộ phận thành phần cũng như toàn bộ hệ quản lý phối hợp nhịp nhàng và vận hành thuận lợi

Động viên, khuyến khích kịp thời và thường xuyên

Giám sát tiến hành công việc, đánh giá thực trạng của hệ ngay trong khi hệ đang hoạt động, công việc chưa kết thúc, đánh giá hoạt động của hệ xem có đúng với quy định hay không; giám sát để trả lời các câu hỏi:

Công việc đến đâu rồi?

Có gì trục trặc không?

Cần thay đổi, thêm, bớt, can thiệp gì?

Điều chỉnh, uốn nắn, sửa đổi, thêm bớt mà không làm thay đổi hướng vận hành của hệ; can thiệp vào sự vận hành của hệ loại trừ trục trặc, sửa chữa lệch lạc, thay đổi thủ thuật mà vẫn giữ được tinh thần của kế hoạch, chiến lược chung của chương trình hành động

Phân công trách nhiệm cho các thành viên tham gia cuộc họp sinh hoạt

Trang 19

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 19

chuyên môn Cụm (tổ) trưởng : Là Hiệu trưởng/phó HT trong các trường TH thuộc cụm sinh hoạt chuyên môn, chịu trách nhiệm chung mọi hoạt động có liên quan Trong trường hợp sinh hoạt liên trường, các trường bầu một Hiệu trưởng/ phó Hiệu trưởng phụ trách chung (thường cố định trong một thời gian nhất định)

Các thành viên sinh hoạt chuyên môn của cụm : Tất cả các giáo viên dạy trong cùng một trường (cụm trường) Tất cả các giáo viên này sẽ tự nghiên cứu những vấn

đề liên quan tới nội dung sinh hoạt chuyên môn định kỳ (theo kế hoạch của cụm, trường) đã xây dựng Đồng thời thảo luận những vấn đề mới, khó trong chương trình, tài liệu ở mô hình trường học mới – VNEN cùng những vấn đề có thể nảy sinh trong quá trình thực hiện chương trình Tìm những giải pháp, biện pháp khả thi, phù hợp với khả năng của GV trong tổ chuyên môn Mặt khác, việc tổ chức tham dự những tiết dạy thử nghiệm những nội dung đã thống nhất hoặc dự giờ để trao đổi, rút kinh nghiệm là hết sức cần thiết và hữu ích

Chia tổ, khối chuyên môn : Chia theo khối lớp 2, khối lớp 3, khối lớp 4, khối lớp 5 Mỗi khối có một khối trưởng Khối trưởng được bầu trong số khối trưởng chuyên môn của các trường trong cụm sinh hoạt chuyên môn Các thành viên sinh hoạt trong tổ, khối chuyên môn : Tất cả các giáo viên cùng dạy trong khối lớp đó

1.4.1.4 Công tác kiểm tra

Đây là giai đoạn cuối cùng của chu trình quản lý Giai đoạn này có những nhiệm vụ cơ bản sau:

Đánh giá thực trạng kết thúc của hệ (theo kỳ hay năm học), xác định xem mục tiêu dự kiến ban đầu và toàn bộ kế hoạch đã đạt ở mức độ nào

Phát hiện lệch lạc, sai sót, những gì trong kế hoạch còn chưa đạt được, những khó khăn, yếu kém, trở ngại, thậm chí những thất bại, tìm hiểu nguyên nhân của những lệch lạc, thiếu sót đã phát hiện

Điều chỉnh kế hoạch, tìm biện pháp uốn nắn lệch lạc, loại trừ chúng nếu có thể được

Kiểm tra sẽ giúp cho việc chuẩn bị tích cực cho kế hoạch tiếp theo Kiểm tra tốt, đánh giá được sâu sắc và chuẩn bị trạng thái cuối cùng của hệ thì đến kỳ kế hoạch tiếp theo, việc chuẩn bị và soạn thảo kế hoạch mới sẽ thuận lợi, kế thừa được mặt mạnh để phát huy, phát hiện được lệch lạc để uốn nắn, loại trừ

Kiểm tra còn giúp cho việc thu nhận mối liên hệ ngược trong quá trình quản

Trang 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 20

lý, giúp chủ thể quản lý điều khiển một cách tối ưu hệ quản lý Có thể nói rằng, không có kiểm tra thì không có quản lý

Bốn chức năng của quản lý có mối quan hệ chặt chẽ, tương tác lẫn nhau Việc phân chia thành bốn giai đoạn quản lý này giúp cho chủ thể có định hướng chính xác, đúng đắn vào công việc trọng tâm của từng giai đoạn và tính toán đầu tư hợp lý kinh phí, nhân lực cho những giai đoạn cần thiết

Hoạt động kiểm tra, đánh giá có thể xuất hiện trong tất cả các giai đoạn chứ không chỉ ở giai đoạn cuối của chu kỳ Chu kỳ quản lý nói chung, chu kỳ quản lý giáo dục nói riêng có mối quan hệ giữa các giai đoạn như sau:

Sơ đồ mối quan hệ giữa các giai đoạn trong chu kỳ quản lý

Ngoài cách tiếp cận dựa trên các chức năng quản lý đã đề cập ở trên, ta còn hai cách tiếp cận khác để xem xét các hoạt động quản lý của một Hiệu trưởng Dưới đây là hai cách tiếp cận khác:

1.4.2 Quản lý qua phương tiện

Để quản lý có hiệu quả, người Hiệu trưởng cần phải sử dụng các phương tiện quản lý Các phương tiện quản lý chủ yếu của Hiệu trưởng thường là:

Kế hoạch hóa

Trang 21

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 21

+ Không trái với các văn bản pháp quy của cấp trên

+ Phù hợp với thực tiễn của nhà trường

+ Được cấp trên phê duyệt

+ Được toàn thể cán bộ, giáo viên đồng tình

Tổ chức nhân sự: Trong nhà trường, thường phải tổ chức rất nhiều công việc Mặc nhiên, những công việc đó một mình Hiệu trưởng không thể gánh vác hết được Bởi vậy, những công việc đó phải được phân chia cho các cán bộ, giáo viên, nhân viên trong nhà trường Việc phân chia công việc cho các thành viên trong nhà trường chính là công tác tổ chức nhân sự Cổ ngữ có câu “Dụng nhân như dụng mộc” với hàm ý nhắc nhở các nhà quản lý rằng việc phân công ai vào việc gì phải hết sức cân nhắc Hiệu trưởng phải căn cứ vào trình độ, năng lực của từng người để phân công công việc, tránh giao việc vượt quá năng lực của họ, nếu giao việc quá sức của họ thì

họ sẽ phải đối mặt với kết quả là không hoàn thành nhiệm vụ Ngược lại, cũng tránh giao việc cho họ mà việc đó không sử dụng hết năng lực của người được giao việc, điều này sẽ không tận dụng được năng lực của người được giao việc Công tác tổ chức bộ máy cũng phải được thực hiện một cách công khai, dân chủ và công bằng Nếu Hiệu trưởng có sự thiên vị trong công tác tổ chức bộ máy thì rất dễ dẫn đến

Trang 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 22

những bất ổn về tư tưởng của đội ngũ Khi mà tư tưởng của đội ngũ không thông thì việc không đảm bảo chất lượng công tác là điều khó tránh khỏi

Phương tiện thông tin như: công tác tuyên truyền, công tác tổ chức hội nghị, hội thảo trong công tác quản lý là hết sức quan trọng Phương tiện thông tin là công

cụ để chuyển tải thông tin từ nhà quản lý tới đối tượng quản lý và ngược lại Qua phương tiện thông tin, nhà quản lý nắm bắt được tình hình đội ngũ như: tâm tư, nguyện vọng, quan điểm, thái độ, lập trường về những hoạt động của đơn vị từ đó để nhà quản lý kịp thời điều chỉnh các biện pháp thực thi kế hoạch cho phù hợp với diễn biến của thực tiễn Cũng qua phương tiện thông tin, đối tượng quản lý nắm bắt được chủ trương, kế hoạch, biện pháp thực hiện và những kỳ vọng của nhà quản lý Mặt khác, phương tiện thông tin cũng là công cụ để nhà quản lý tổ chức bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ Bước sang thế kỷ XXI, loài người đã bước sang nền văn minh tin học Máy tính và mạng máy tính toàn cầu đã trở thành một công cụ phổ biến thông tin cực kỳ nhanh chóng và hiệu quả Người Hiệu trưởng phải biết tận dụng ưu thế này của CNTT để thực hiện các công việc bồi dưỡng đội ngũ như: tạo các diễn đàn trao đổi về chuyên môn, nghiệp vụ; tổ chức cho giáo viên tìm kiếm thông tin để thực hiện công tác tự bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ trên mạng máy tính toàn cầu

Thực hiện bất kỳ một công việc nào cũng đều phải cần đến những điều kiện về

cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật và một nguồn kinh phí nhất định Các nguồn lực như: cơ sở vật chất, nguồn kinh phí được phân bổ để cho tổ chuyên môn tổ chức các hoạt động theo kế hoạch Các nguồn lực này phải được Hiệu trưởng phân bổ một cách công khai dựa trên khối lượng công việc thực tiễn mà Hiệu trưởng đã giao cho các tổ Ngoài ra, căn cứ vào việc sử dụng các nguồn lực này, Hiệu trưởng sẽ nắm bắt được việc tổ chức thực hiện kế hoạch ở tổ chuyên môn diễn ra như thế nào Trên cơ

sở đó có những đánh giá sơ bộ về hiệu quả hoạt động và có những tác động để điều chỉnh những sai phạm nếu có

1.4.3 Quản lý theo quá trình

- Mục tiêu dạy học là hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của học sinh cần đạt được trong một tương lai gần và là cột mốc mong muốn vươn tới của quá trình dạy học Mục tiêu dạy học là phương tiện để đạt được mục đích dạy học, làm cơ sở để xác lập nội dung dạy học và kế hoạch hoạt động dạy học Mục tiêu cũng quyết định hiệu quả hoạt động dạy học Quản lý mục tiêu đào tạo là nhà quản lý lấy mục tiêu đào tạo

Trang 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 23

làm căn cứ để định hướng cho tổ chức các hoạt động của đơn vị Quản lý mục tiêu cũng sẽ giúp cho đội ngũ năng động hơn trong công việc

- Nội dung, chương trình giáo dục là một trong các thành tố quan trọng của quá trình giáo dục Nội dung, chương trình xây dựng dựa trên mục tiêu giáo dục, nội dung, chương trình cụ thể hóa mục tiêu dạy học và giáo dục Bởi vậy, nếu thiếu nội dung, chương trình thì quá trình giáo dục không thể diễn ra Cho nên quản lý nội dung, chương trình là một trong những nội dung quản lý chủ yếu trong các nhà trường, đặc biệt ở trong tổ chuyên môn Bởi vì tổ chuyên môn là nơi trực tiếp thực hiện nội dung, chương trình

1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn theo

mô hình VNEN

Bất kỳ một hoạt động đều phải diễn ra ở một môi trường nhất định, quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn cũng không ngoại lệ Môi trường thì có môi trường bên ngoài và môi trường bên trong Môi trường có ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động quản lý tổ chuyên môn Dưới đây là những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng trực tiếp đến quản lý sinh hoạt của tổ chuyên môn:

Trước tiên phải kể đến đó là các yếu tố pháp lý Hệ thống các văn bản pháp quy quy định trách nhiệm, quyền hạn của Hiệu trưởng, tổ trưởng và các giáo viên Hệ thống văn bản pháp quy đầy đủ, rõ ràng, phân định rõ trách nhiệm, quyền hạn của từng đối tượng thì việc kiểm tra, đánh giá

Thứ hai cần phải nói đến là các phương tiện kỹ thuật phục vụ cho việc xử lý thông tin Quản lý xét cho cùng là quản lý thông tin Thông tin có vai trò đặc biệt quan trọng trong quản lý Nhà quản lý muốn ra quyết định đúng đắn thì cần phải có thông tin Thông tin đòi hỏi phải nhanh và chính xác Có các cách khác nhau để xử lý thông tin như:

Xử lý thông tin theo phương pháp truyền thống đó là: giấy, bút, biểu bảng Phương pháp xử lý thông tin này đòi hỏi mất khá nhiều thời gian và độ chính xác của kết quả không cao, hay nhầm nhỡ

Xử lý thông tin theo phương pháp hiện đại như: ứng dụng các phần mềm máy tính Đây là cách xử lý thông tin hiện đại có rất nhiều ưu điểm đó là cho ra kết quả cực kỳ nhanh chóng và đặc biệt là có độ chính xác rất cao

Phương pháp xử lý thông tin hiện đại đòi hỏi các điều kiện kỹ thuật hiện đại

Trang 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 24

như máy tính, mạng máy tính, các phần mềm, người điều khiển các thiết bị kỹ thuật… Trong xu thế hiện nay, các thiết bị này cần phải được trang bị ở các nhà trường Tuy nhiên, máy móc dù có thông minh đến đâu thì cũng không thể thay thế hoàn toàn con người mà chúng chỉ hỗ trợ con người tốt hơn mà thôi Bởi vậy, người

sử dụng cần phải được bồi dưỡng để làm chủ được công nghệ và ứng dụng tốt để giải được các bài toán thực tiễn đặt ra

Trong thực tế hiện nay nhiều Hiệu trưởng không được đào tạo về trình độ Tin học, một số tuổi đã cao cho nên việc tiếp cận công nghệ thông tin còn hạn chế Cá biệt có một số còn giao cho bộ phận giúp việc không kiểm tra được nhân viên làm như thế nào?

Đội ngũ giáo viên, đội ngũ tổ trưởng còn nhiều hạn chế về trình độ tin học Nhiều giáo viên còn hạn chế về mặt kinh tế Do vậy việc trang bị thiết bị như máy tính, mạng Internet còn gặp nhiều khó khăn

tổ chuyên môn theo mô hình VNEN Nhằm góp phần đạt được mục tiêu chung của nhà trường

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ SINH HOẠT TỔ CHUYÊN MÔN

THEO MÔ HÌNH VNEN Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC

THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ

2.1 Một vài nét về thành phố Việt Trì

Việt Trì là thành phố trực thuộc tỉnh Phú Thọ Là thành phố du lịch về với cội nguồn dân tộc Việt Nam, là kinh đô Văn Lang - Kinh đô đầu tiên của người Việt, quê

Trang 25

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 25

hương đất tổ vua Hùng; Là thành phố công nghiệp Là cửa ngõ vùng Tây Bắc, đầu mối giao thông nối giữa các tỉnh miền núi phía Bắc với thủ đô Hà Nội và các tỉnh đồng bằng Bắc bộ Thành phố Việt Trì được thành lập vào ngày 4 tháng 6 năm 1962 Thành phố Việt Trì được biết đến là một trong những thành phố công nghiệp đầu tiên

ở miền Bắc với các ngành dệt, giấy, hóa chất, Hiện nay Việt Trì là trung tâm chính trị, hành chính và kinh tế, xã hội của tỉnh Phú Thọ và trung tâm của liên tỉnh phía Bắc Việt Trì được công nhận là đô thị loại I ngày 4 tháng 5 ăm 2012 và được Thủ tướng Chính phủ cho phép đầu tư để trở thành một trong 11 đô thị lớn nhất Việt Nam Thành phố Việt Trì có diện tích tự nhiên là 11.175 11 ha và tổng dân số tính đến năm 2013 là hơn 283.995 người

Việt Trì còn là nơi có nhiều trường Đại học, Cao đẳng, Trung cấp đóng trên địa bàn với nhiều ngành nghề khác nhau Trình độ dân trí của Việt Trì cao hơn so với các huyện, thị khác trong tỉnh

Thành phố Việt Trì có 25 trường Tiểu học, trong đó có 10 trường ở các xã vùng ngoại thành và 15 trường ở địa bàn các phường nội thành Việt Trì được đánh giá là đơn vị đứng đầu về chất lượng giáo dục và cũng là đơn vị dẫn đầu về phong trào ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học và quản lý, trong đó các trường Tiểu học trong thành phố có những đóng góp không nhỏ làm nên những thành tích đó

Cả 25 trường Tiểu học trong thành phố đều có ít nhất một phòng máy tính để cho học sinh thực hành tin học, các trường đều có các thiết bị dạy học hiện đại như máy chiếu đa năng, bảng điện tử thông minh…

Đội ngũ cán bộ quản lý các trường Tiểu học trong thành phố còn rất trẻ được đào tạo qua nhiều lớp quản lý, năng động, sáng tạo trong công tác quản lý nhà trường

Trình độ giáo viên ngày càng được nâng lên, tính đến nay đã có 85 % trình độ đạt trên chuẩn Nhiều giáo viên đã có trình độ Thạc sỹ Trình độ ngoại ngữ, tin học ngày càng được nâng lên

Phụ huynh thành phố có nhiều điều kiện thuận lợi để quan tâm đến việc học tập của con em mình

Giáo dục- đào tạo Việt Trì tiếp tục phát triển, đạt được kết quả toàn diện cả về quy mô, loại hình, chất lượng dạy và học, góp phần quan trọng vào việc nâng cao dân trí, bổ sung nguồn nhân lực cho Thành phố và các địa phương khác Đến nay, Thành phố có 55/75 trường đạt chuẩn Quốc gia, 100% giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn,

Trang 26

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 26

75% số phòng học được cao tầng hóa, cơ sở vật chất trường học được củng cố và tăng cường

Đặc biệt là giáo dục tiểu học thành phố trong nhiều năm gần đây đã khẳng định được vị trí của mình Luôn dẫn đầu tỉnh Phú Thọ Tham gia các cuộc giao lưu tiếng Anh, Toán trên mạng INTERNET nhiều học sinh đạt giải cao đứng đầu toàn quốc

Từ năm học 2012-2013 giáo dục Việt Trì chỉ đạo trường Tiểu học Chu Hóa là đơn vị thí điểm dạy học theo mô hình VNEN Năm học 2013-2014 Phòng GD&ĐT Việt Trì chỉ đạo 25 trường tiểu học áp dụng một số modun của mô hình VNEN tùy theo tình hình của từng trường( Trang trí lớp học, dạy một số môn học theo mô hình VNEN, xây dựng một số mô hình tự quản…)

Năm học 2014-2015 tiếp tục nhân rộng thêm 3 trường Tiểu học thực hiện mô hình VNEN Các trường còn lại tiếp tục thực hiện từng bước theo mô hình VNEN và chuẩn bị các điều kiện cần thiết để thực hiện tốt vào các năm sau

Sau mỗi năm học Sở GD&ĐT Phú Thọ tổ chức tổng kết, rút kinh nghiệm giữa các trường trong tỉnh trong quá trình thực hiện mô hình này

2.2 Thực trạng sinh hoạt tổ chuyên môn ở các trường tiểu học

Để khảo sát thực trạng sinh hoạt tổ chuyên môn trong các trường Tiểu học của thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, tôi tiến hành xin ý kiến đánh giá của 300 cán bộ quản lý và giáo viên tại 20 trường Tiểu học trong thành phố về các vấn đề:

- Nhận thức về vị trí vai trò của tổ chuyên môn trong trường Tiểu học

- Cơ cấu tổ chuyên môn trong trường Tiểu học

- Cơ chế hoạt động tổ chuyên môn trong trường Tiểu học

- Đánh giá về mức độ thực hiện nhiệm vụ của tổ chuyên môn trong trường Tiểu học

Sau khi thu phiếu về và xử lý phiếu, đã thu được kết quả như sau:

2.2.1 Nhận thức về vị trí, vai trò của tổ chuyên môn trong trường Tiểu học

Bảng 2.1 Thực trạng nhận thức về tầm quan trọng của tổ chuyên môn

trong trường Tiểu học

Trang 27

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 27

Số lượng % Số lượng % Số lượng %

Rất quan trọng 51 85% 258 86% 309 85,8% Quan trọng 9 15% 42 14% 51 14,2%

Không quan trọng 0 0% 0 0% 0 0

Nhận xét:

Hầu hết cán bộ quản lý và giáo viên đều nhận thức rất rõ vị trí, vai trò của tổ

chuyên môn trong trường Tiểu học

Có đến 85,8% cán bộ quản lý và giáo viên được điều tra cho rằng tổ chuyên môn có vị trí và vai trò rất quan trọng trong trường Tiểu học Chỉ có 14,2% số lượng cán bộ quản lý giáo viên được điều tra đánh dấu ở mức độ quan trọng

Đặc biệt không một cán bộ quản lý và giáo viên nào đánh dấu ở mức độ không quan trọng Ở đây không có sự khác biệt nào giữa nhận thức của cán bộ quản

lý và giáo viên Tiểu học về vị trí vai trò của tổ chuyên môn trong trường Tiểu học Thể hiện:

Có 85% cán bộ quản lý và 86% giáo viên đánh giá rằng tổ chuyên môn có vị trí rất quan trọng trong trường Tiểu học Chỉ có 15% cán bộ quản lý và 14,2% giáo viên đánh giá rằng tổ chuyên môn có vị trí quan trọng trong trường Tiểu học

Bảng 2.2 Nhận định về vai trò của tổ chuyên môn trong trường Tiểu học

TT Vai trò của tổ chuyên môn

Cán bộ QL Giáo viên Chung

Số lượng

% Số lượng %

Số lượng %

Trang 28

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 28

Tổ chuyên môn là nơi bồi dưỡng

thường xuyên, thiết thực, tự

giác, dân chủ và có hiệu quả

nhất năng lực của giáo viên

60 100 300 100 360 100

4

Tổ chuyên môn ảnh hưởng đến

niềm tin, sự tín nhiệm của phụ

huynh với nhà trường

58 96,6 250 83,3 308 85,5

5

Tổ chuyên môn là nơi giáo viên

có thể giao lưu, học hỏi và phát

triển chuyên môn của mình một

Tổ chuyên môn có ảnh hưởng

lớn đến việc xây dựng và bảo vệ

tổ chuyên môn chiếm từ 85,5% ý kiến trở lên Đánh giá của các khách thể về các vai

trò của tổ chuyên môn trong trường Tiểu học ở các mức độ khác nhau

Có trên 98 % cán bộ quản lý và giáo viên cùng đồng nhất quan điểm ở biểu hiện 1, 2, 3 và 5 về vị trí và vai trò của tổ chuyên môn trong trường Tiểu học Tức là:

Tổ chuyên môn là đơn vị cơ sở nền tảng để tổ chức và triển khai thực hiện các hoạt động chuyên môn một cách cụ thể và có hiệu quả

Tổ chuyên môn có vai trò quyết định đến chất lượng giáo dục học sinh trong nhà trường

Trang 29

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 29

Tổ chuyên môn là nơi bồi dưỡng thường xuyên, thiết thực, tự giác, dân chủ và

có hiệu quả nhất năng lực của giáo viên

Tổ chuyên môn là nơi giáo viên có thể giao lưu, học hỏi và phát triển chuyên môn của mình một cách hiệu quả nhất

Tổ chuyên môn ảnh hưởng đến niềm tin, sự tín nhiệm của phụ huynh với nhà trường Có 93.3% cán bộ quản lý cho rằng đây là một trong những vai trò của tổ chuyên môn trong trường Tiểu học Tuy nhiên, chỉ có 85,5% số lượng giáo viên được hỏi cho rằng đây là biểu hiện về vai trò của tổ chuyên môn trong trường Tiểu học Điều này cũng rất dễ hiểu, bởi lẽ ở vị trí là cán bộ quản lý, hơn ai hết họ hiểu rất rõ phụ huynh có tín nhiệm tin tưởng nhà trường hay không, phụ thuộc rất lớn vào chất lượng dạy học và giáo dục học sinh của nhà trường và phụ huynh nhìn thấy, cảm nhận được những điều này qua giao tiếp với giáo viên và quan sát thái độ của giáo viên với con em họ vào giờ giấc ra vào lớp Hơn nữa chất lượng giáo dục Tiểu học không hoàn toàn được đánh giá bằng định lượng mà còn được thể hiện ở các đánh giá bằng định tính về sự phát triển trí tuệ, kỹ năng sống của học sinh những đánh giá đó có sát thực hay không phụ thuộc rất nhiều vào các giáo viên - thành viên của tổ chuyên môn Bởi không ai khác, chính họ mới là người trực tiếp thực hiện nhiệm vụ dạy học và giáo dục học sinh hàng ngày Và tất nhiên, phụ huynh có yêu quý, tin tưởng giáo viên thì từ đó họ mới tin tưởng, tín nhiệm nhà trường

Ở vị trí là các giáo viên, không phải ngẫu nhiên một bộ phận trong số họ cho

dù không lớn lắm chưa nhất trí đây là một biểu hiện về vai trò của tổ chuyên môn trong trường Tiểu học Qua trao đổi với giáo viên, chúng tôi được biết, họ nghĩ rằng trong trường Tiểu học, ngoài tổ chuyên môn còn có nhiều bộ phận và cá nhân khác cùng tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào công tác giáo dục học sinh và tất cả đều có ảnh hưởng đến sự tín nhiệm, tin tưởng của phụ huynh đối với nhà trường

Tổ chuyên môn có ảnh hưởng lớn đến sự tồn tại và phát triển nhà trường Có 91,6% cán bộ quản lý và 86,3% giáo viên được điều tra cho rằng đây là một biểu hiện về vai trò của tổ chuyên môn trong trường Tiểu học

Tổ chuyên môn có ảnh hưởng lớn đến việc xây dựng và bảo vệ hình ảnh của nhà trường Ở biểu hiện này có 96,6% cán bộ quản lý và 93,3% giáo viên cho rằng đây là biểu hiện vai trò của tổ chuyên môn trong trường Tiểu học

Nếu tổ chuyên môn hoạt động không tích cực, không phát huy được khả năng chuyên môn của từng thành viên trong tổ, không huy động được sức mạnh tập thể,

Trang 30

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 30

từng giáo viên trong tổ làm việc uể oải, thiếu trách nhiệm, mọi việc làm của họ chỉ nhằm đối phó các nhà quản lý thì sớm muộn lòng tin của phụ huynh tới trường cũng

bị giảm sút, hình ảnh của nhà trường cũng bị mất đi và chắc chắn chỉ tiêu về số lượng của nhà trường sẽ không đảm bảo Và như vậy nhà trường sẽ hoạt động một cách trì trệ không phát triển được, nếu tình trạng này cứ kéo dài sự tồn tại của nhà trường sẽ rất khó khăn

2.2.2 Cơ cấu tổ chức của tổ chuyên môn

Bảng 2.3: Số lượng tổ chuyên môn trong trường Tiểu học

STT Tên trường Tiểu học Số tổ CM Số tổ trưởng Số tổ phó

Điều lệ trường trường Tiểu học năm 2010 có quy định: “Tổ chuyên môn bao

gồm giáo viên, viên chức làm công tác thư viện, thiết bị giáo dục Mỗi tổ có ít nhất 3 thành viên Tổ chuyên môn có tổ trưởng, nếu có từ 7 thành viên trở lên thì có một tổ phó” [2; 9] Theo số liệu ở bảng 2.3 thì tất cả các trường tiểu học của thành phố Việt

Trì đã thành lập tổ chuyên môn, tuy nhiên do số lượng giáo viên của mỗi trường là khác nhau nên số tổ chuyên môn của mỗi trường cũng khác nhau Mỗi một tổ chuyên môn đều có một Tổ trưởng và một tổ phó Những năm trước đây do chế độ

Trang 31

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 31

phụ cấp dành cho tổ trưởng chuyên môn trong trường Tiểu học không có Bởi vậy, các Tổ trưởng chuyên môn đều làm việc mà không có thù lao Chính vì điều đó đa số các nhà trường chỉ cử Tổ trưởng chuyên môn mà không có tổ phó Bắt đầu từ năm học 2004 - 2005 các tổ trưởng chuyên môn trong trường Tiểu học được hưởng phụ cấp chức vụ là 0,2% lương tối thiểu, tổ phó hưởng phụ cấp chức vụ là 0,15% lương tối thiểu Điều này đã phần nào đã động viên khuyến khích các tổ trưởng và tổ phó làm việc tốt hơn

2.2.3 Chế độ sinh hoạt tổ chuyên môn theo mô hình VNEN

Bảng 2.4 Chế độ sinh hoạt tổ chuyên môn trong trường Tiểu học

3, điều 18, Điều lệ trường Tiểu học năm 2010 quy định “Tổ chuyên môn sinh hoạt

định kì hai tuần một lần và các sinh hoạt khác khi có nhu cầu công việc”Nhìn vào kết

quả điều tra ở bảng 2.4 chúng ta thấy rằng 100% khách thể cho biết trường họ sinh hoạt chuyên môn định kỳ 2 tuần 1 lần Điều đó chứng tỏ các trường đều thực hiện đúng chế độ sinh hoạt tổ chuyên môn theo quy định của Điều lệ trường Tiểu học

Đây là một ưu điểm là một trong những cơ sở đảm bảo cho hoạt động bồi dưỡng chất lượng đội ngũ giáo viên đạt hiệu quả.

2.2.4 Đánh giá mức độ thực hiện nhiệm vụ của tổ chuyên môn theo mô hình VNEN

Các trường Tiểu học của thành phố Việt Trì những năm gần đây đã chỉ đạo

sinh hoạt tổ chuyên môn theo cách truyền thống kết hợp với mô hình VNEN, sinh

Trang 32

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 32

hoạt chuyên môn đem lại một số kết quả nhất định góp phần nâng cao chất lượng dạy học và giáo dục trong các nhà trường Trên thực tế, tổ chuyên môn ở các trường đều

có kế hoạch hoạt động chung của tổ dựa vào nhiệm vụ năm học của nhà trường Qua trao đổi với giáo viên các trường chúng tôi được biết, việc tổ chức cho giáo viên học tập trao đổi kinh nghiệm cũng được các tổ chuyên môn thực hiện tương đối thường xuyên và thu được một số kết quả nhất định Không những vậy, việc tổ chuyên môn tham gia kiểm tra đánh giá chất lượng hiệu quả công tác của giáo viên trong tổ những năm gần đây đã được chú trọng và thực hiện tương đối nghiêm túc Tuy nhiên, việc quản lý còn ôm đồm và mang tính áp đặt cho nên các tổ trưởng và một số lượng không nhỏ giáo viên rất lúng túng trong việc xây dựng và thực hiện kế hoạch công tác một cách khoa học Điều đó chứng tỏ tổ chuyên môn chưa có được biện pháp khả thi giúp đỡ giáo viên xây dựng và thực hiện kế hoạch công tác một cách hữu hiệu nhất Qua trao đổi với giáo viên chúng tôi cũng được biết việc tổ chức bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên ở một số trường còn chưa chủ động, chủ yếu bồi dưỡng cho giáo viên theo kế hoạch của cấp trên đôi khi chưa đáp ứng được nhu cầu của giáo viên trong trường Việc đề xuất khen thưởng, kỷ luật đối với giáo viên còn hạn chế Đôi khi khen thưởng còn chung chung, cào bằng Giáo viên luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, hoạt động tích cực chưa có chế độ ưu đãi gì hơn những giáo viên làm việc bình thường, có chăng thì mức thưởng cũng rất hạn chế Việc đề xuất kỷ luật đối với giáo viên còn khiêm tốn hơn nhiều, đôi khi do cả nể mà bỏ qua cho nhau cũng ảnh hưởng đến kỷ cương trường lớp và làm mất đi sự công bằng trong tập thể

Thực trạng thực hiện các nội dung sinh hoạt của tổ chuyên môn đã được chúng tôi thống kê ở bảng 2.5 dưới đây Khi điều tra về mức độ thực hiện nhiệm vụ của tổ chuyên môn chúng tôi đã sử dụng cách tính điểm như sau: Tốt: 3 điểm; Bình thường:

2 điểm; Chưa tốt: 1 điểm

Bảng 2.5 Mức độ thực hiện nhiệm vụ tổ chuyên môn trong các trường tiểu học thực hiện mô hình VNEN

Trang 33

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 33

1 Xây dựng kế hoạch hoạt

tập, thao giảng, bồi

dưỡng chuyên môn

nghiệp vụ cho giáo viên

92 1,53 5 447 1,49 5 539 1,5 5

4

Tham gia kiểm tra, đánh

giá chất lượng giáo án và

hiệu quả dạy học, giáo dục

của giáo viên

157 2,62 2 791 2,64 1 948 2,63 2

5 Đề xuất khen thưởng, kỷ

luật đối với giáo viên 131 2,18 4 717 2,39 4 848 2,36 4

max = 3 và điểm trung bình dao động từ 1,5 ≤ ≤ 2,66 Trong đó có 3 nhiệm vụ có

≥ 2,5 chiếm tỷ lệ 60%, đó là: Nhiệm vụ 1, 2, 4 Nhóm nhiệm vụ 1, 2, 4 được coi là

thực hiện tốt trong quá trình thực hiện nhiệm vụ tổ chuyên môn

Có 2 nhiệm vụ (chiếm 40%) có < 2,5 đó là: Nhiệm vụ 3, 5 Nhóm nhiệm vụ

3, 5 được nhận thức là mới thực hiện ở mức độ bình thường trong quá trình thực hiện nhiệm vụ tổ chuyên môn

So sánh đánh giá của cán bộ quản lý và giáo viên về mức độ thực hiện nhiệm

vụ của tổ chuyên môn thì thấy rằng hai luồng đánh giá này tương đương với nhau, với QL = 2,33, GV = 2,32 Như vậy là có sự thống nhất tương đối trong đánh giá của 2 luồng ý kiến, điều đó chứng tỏ cả 5 nhiệm vụ này đã và đang được thực hiện

Trang 34

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 34

tương đối thường xuyên trong các trường Tiểu học thành phố Việt Trì Tuy nhiên, các nhiệm vụ 3 và 5 đều được đánh giá thực hiện ở mức độ trung bình, trong đó nhiệm vụ

3 được cả 2 luồng ý kiến đánh giá với = 1,5, đây là một giá trị cận dưới của mức trung bình, trong đó giáo viên nhìn nhận nhiệm vụ này thực hiện chưa được tốt lắm

2.3 Thực trạng biện pháp quản lý sinh hoạt chuyên môn của Hiệu trưởng các trường tiểu học thành phố Việt Trì áp dụng mô hình VNEN

Phòng GD & ĐT Việt Trì đã tổ chức cho các trường tiểu học có điều kiện trong thành phố áp dụng từng phần theo mô hình VNEN, sau 2 năm thực hiện sinh hoạt chuyên môn theo mô hình VNEN, qua khảo sát về thực trạng quản lý hoạt động

tổ chuyên môn ở 20 trường Tiểu học của thành phố Việt Trì cho thấy tất cả Hiệu trưởng nhà trường đều nhận thức rõ tầm quan trọng của tổ chuyên môn và hoạt động

tổ chuyên môn trong trường Tiểu học Các Hiệu trưởng đều xác định việc quản lý hoạt động tổ chuyên môn là nhiệm vụ trọng tâm cơ bản, tác động đến tất cả các hoạt động khác trong nhà trường và cuối cùng quy tụ lại là phục vụ cho nhiệm vụ chính trị của nhà trường là dạy học và giáo dục học sinh Mọi cố gắng khác về cơ sở vật chất, tài chính, đội ngũ, vv đều nhằm mục đích phục vụ cho hoạt động chuyên môn

Trên thực tế, một số Hiệu trưởng các nhà trường đã phối hợp kinh nghiệm quản lý của bản thân với khoa học quản lý để thực hiện quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn Do hoạt động chuyên môn rất đa dạng và mang tính chất đặc thù nên trong quá trình quản lý Hiệu trưởng các trường Tiểu học phải áp dụng nhiều biện pháp quản lý khác nhau để quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn Tuy nhiên, tuỳ điều kiện cụ thể của từng trường và do quan điểm quản lý của từng Hiệu trưởng mà họ sử dụng các biện pháp quản lý khác nhau

Khi chúng tôi thống kê 7 biện pháp quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn trong các trường Tiểu học thì thấy quan điểm quản lý thực sự chưa thống nhất và đồng bộ Có những quan điểm quản lý quá đi sâu đến tận từng giáo viên riêng lẻ, như vậy người Tổ trưởng chuyên môn chỉ là công cụ thực hiện những chỉ thị của Hiệu trưởng mà không

có cơ hội để phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của mình trong hoạt động chuyên môn Không những vậy, cách thức áp dụng các biện pháp này trong quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn cũng rất khác nhau nhiều khi không khai thác được những mặt mạnh, ưu điểm của các biện pháp quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn, có những biện

Trang 35

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 35

pháp lại được áp dụng chưa đồng bộ nên hiệu quả quản lý chưa cao Chính vì vậy, chúng tôi thấy rằng cần có biện pháp thống nhất trong chỉ đạo sinh hoạt tổ chuyên môn

ở các trường Tiểu học làm cho người Tổ trưởng chuyên môn thực sự trở thành một người quản lý, họ có điều kiện phát huy khả năng của mình trong hoạt động chuyên môn Thực hiện chủ trương đường lối của Đảng trong việc đổi mới cơ chế quản lý đó

là phân cấp, phân quyền rõ rệt trong quản lý nói chung, quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn nói riêng

Để có cơ sở cho việc đề xuất các biện pháp thống nhất quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn trong các trường Tiểu học, chúng tôi khảo sát thực trạng thông qua 360 cán bộ quản lý và giáo viên của 20 trường Tiểu học thành phố Việt Trì- tỉnh Phú Thọ (trong đó có 60 cán bộ quản lý là Hiệu trưởng, Hiệu phó, tổ trưởng, tổ phó chuyên môn; 300 giáo viên đang trực tiếp giảng dạy tại các trường Tiểu học)

Khảo sát thực trạng 7 biện pháp đang quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn đang được áp dụng tại 20 trường Tiểu học ở thành phố Việt Trì hiện nay thu được kết quả

ở các bảng dưới đây với cách tính điểm là:

* Về mức độ cần thiết: Rất cần thiết: 3 điểm

Cần thiết: 2 điểm

Không cần thiết: 1 điểm

* Về mức độ thực hiện: Thường xuyên: 3 điểm

Đôi khi: 2 điểm

Chưa thực hiện: 1 điểm

* Về mức độ quan trọng: Rất quan trọng: 3 điểm

Quan trọng: 2 điểm

Không quan trọng: 1 điểm

Sau đó lấy điểm tổng và điểm trung bình cho mỗi biện pháp để xếp thứ bậc

2.3.1 Thực trạng mức độ nhận thức và mức độ thực hiện các biện pháp quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn

2.3.1.1 Thực trạng về mức độ nhận thức

Bảng 2.6 Nhận thức về mức độ quan trọng của các biện pháp quản lý sinh hoạt

tổ CM của Hiệu trưởng các trường Tiểu học

Trang 36

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 36

- Quản lý việc phân công

chuyên môn cho giáo

viên và bổ nhiệm tổ

trưởng chuyên môn

174 2,9 4 890 2,97 2 1064 2,94 3

4 - Quản lý nội dung sinh

hoạt của tổ chuyên môn 169 2,82 7 869 2,9 6 1038 2,86 6

- Kiểm tra sinh hoạt

chuyên môn: hoạt động

kiến tập, thực tập, thao

giảng và tự bồi dưỡng

của giáo viên

Trang 37

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 37

dao động từ 2,83 ≤ ≤ 3 Các số liệu thể hiện ở bảng điều tra cho thấy, mặc dù các biện pháp đều được đánh giá là rất quan trọng song mức độ quan trọng của các biện pháp là khác nhau

Biện pháp được các khách thể nhận thức là quan trọng nhất là: "Quản lý lập kế

hoạch hoạt động chung của tổ chuyên môn có = max = 3" Tiếp đến là biện pháp

“Quản lý lập kế hoạch của giáo viên có = 2,97” Lý do 2 biện pháp này được đánh

giá là quan trọng thức nhất và thứ hai cũng rất dễ hiểu vì trên thực tế việc xây dựng

kế hoạch của tổ và kế hoạch hoạt động của giáo viên là một hoạt động khởi đầu phù hợp với lý luận quản lý Hoạt động này nhằm chỉ ra những công việc phải làm trong một khoảng thời gian nhất định, chỉ ra những mục tiêu cần đạt và biện pháp để thực hiện các mục tiêu đó

Như vậy, nếu nhà quản lý lơ là không kiểm tra sẽ dẫn tới việc các tổ và giáo viên lập kế hoạch một cách không khoa học hoặc không phù hợp với thực tiễn, thậm chí không có kế hoạch Điều này sẽ làm mất lòng tin ở phụ huynh và ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng giáo dục và dạy học của nhà trường Biện pháp được đánh giá là ít

quan trọng nhất trong số 7 biện pháp là: "Quản lý việc trang bị, tự làm bảo quản và

rõ ràng và tương đối phù hợp nhau

Trang 38

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 38

- Quản lý việc phân công

chuyên môn cho giáo viên

và bổ nhiệm tổ trưởng

chuyên môn

136 2,27 2 677 2,26 1 813 2,2

7 1

4 - Quản lý nội dung sinh

hoạt của tổ chuyên môn 116 1,93 7 579 1,93 7 695

- Kiểm tra sinh hoạt

chuyên môn: hoạt động

Trang 39

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 39

dù vậy, mức độ thực hiện chưa cao với điểm trung bình = 2,07 so với giá trị điểm trung bình cực đại max = 3 và điểm trung bình dao động trong khoảng 1,93 ≤

≤ 2,27 Cả 7 biện pháp đều có < 2,5, và mức độ dao động khá lớn, điều này cho

thấy, mức độ thực hiện các biện pháp còn nhiều hạn chế và không đồng đều nhau

Biện pháp được đánh giá là thực hiện tốt nhất là: "Quản lý việc phân công

chuyên môn cho giáo viên và bổ nhiệm tổ trưởng chuyên môn = 2,27”

Biện pháp được đánh giá là thực hiện chưa tốt nhất là: "Quản lý nội dung sinh

hoạt tổ chuyên môn với = 1,93"

So sánh mức độ nhận thức của các cán bộ quản lý và giáo viên thì thấy rằng nhận thức về mức độ thực hiện các biện pháp quản lý của cán bộ quản lý cao hơn của giáo viên nhưng không đáng kể Với QL = 2,11 và GV = 2,03 độ chênh lệch là  = 0,08 Như vậy mức độ nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên là phù hợp nhau

So sánh về mức độ quan trọng và mức độ thực hiện các biện pháp quản lý ở bảng 2.6 và bảng 2.7 cho thấy cả 7 biện pháp đều được nhận thức ở mức độ quan trọng rất cao, không có biện pháp nào có ≤ 2,8 Tuy nhiên, mức độ thực hiện còn ở mức hạn chế, không có biện pháp nào có ≥ 2,5 Thực tế đó cho thấy, rõ ràng các cán bộ quản

lý và giáo viên đều nhận thức rất rõ tầm quan trọng của các biện pháp quản lý này, biết được nó có tác động rất tích cực tới công tác quản lý hoạt động tổ chuyên môn Tuy nhiên, trong quá trình Hiệu trưởng quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn, các biện pháp này được áp dụng còn chưa thật khoa học và có thể là chưa phù hợp với thực tế của trường nên kết quả quản lý chưa cao

Để tìm hiểu sự tương quan giữa mức độ quan trọng và mức độ thực hiện các biện pháp quản lý của hiệu trưởng đề tài sử dụng hệ số tương quan thứ bậc Spearman

Bảng 2.8 Bảng so sánh mức độ nhận thức và mức độ thực hiện các biện pháp quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn của Hiệu trưởng

Trang 40

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn 40

bậc ∑

Thứ bậc

1 -Quản lý lập kế hoạch hoạt động

2 - Quản lý lập kế hoạch của giáo

3

- Quản lý việc phân công chuyên

môn cho giáo viên và bổ nhiệm tổ

trưởng chuyên môn

- Kiểm tra thực hiện quy chế

chuyên môn và thực hiện kế hoạch

của giáo viên

7

- Kiểm tra sinh hoạt chuyên môn:

hoạt động kiến tập, thực tập, thao

giảng và tự bồi dưỡng của giáo

Ngày đăng: 21/03/2017, 13:56

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2. Nhận định về vai trò của tổ chuyên môn trong trường Tiểu học. - Quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn theo mô hình VNEN ở trường tiểu học thành phố Việt Trì (LV thạc sĩ)
Bảng 2.2. Nhận định về vai trò của tổ chuyên môn trong trường Tiểu học (Trang 27)
Hình ảnh của nhà trường. - Quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn theo mô hình VNEN ở trường tiểu học thành phố Việt Trì (LV thạc sĩ)
nh ảnh của nhà trường (Trang 28)
Bảng 2.3: Số lượng tổ chuyên môn trong trường Tiểu học. - Quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn theo mô hình VNEN ở trường tiểu học thành phố Việt Trì (LV thạc sĩ)
Bảng 2.3 Số lượng tổ chuyên môn trong trường Tiểu học (Trang 30)
Bảng 2.9. Thực trạng mức độ thực hiện của biện pháp. - Quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn theo mô hình VNEN ở trường tiểu học thành phố Việt Trì (LV thạc sĩ)
Bảng 2.9. Thực trạng mức độ thực hiện của biện pháp (Trang 41)
Bảng 2.11: Nhận thức về mức độ cần thiết của biện pháp. - Quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn theo mô hình VNEN ở trường tiểu học thành phố Việt Trì (LV thạc sĩ)
Bảng 2.11 Nhận thức về mức độ cần thiết của biện pháp (Trang 43)
Bảng 2.12. Thực trạng nhận thức về mức độ cần thiết của biện pháp. - Quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn theo mô hình VNEN ở trường tiểu học thành phố Việt Trì (LV thạc sĩ)
Bảng 2.12. Thực trạng nhận thức về mức độ cần thiết của biện pháp (Trang 46)
Bảng 2.13. Thực trạng mức độ thực hiện biện pháp. - Quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn theo mô hình VNEN ở trường tiểu học thành phố Việt Trì (LV thạc sĩ)
Bảng 2.13. Thực trạng mức độ thực hiện biện pháp (Trang 47)
Bảng 2.14. Thực trạng nhận thức về mức độ cần thiết của biện pháp. - Quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn theo mô hình VNEN ở trường tiểu học thành phố Việt Trì (LV thạc sĩ)
Bảng 2.14. Thực trạng nhận thức về mức độ cần thiết của biện pháp (Trang 48)
Bảng 2.15. Thực trạng  mức độ thực hiện của biện pháp. - Quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn theo mô hình VNEN ở trường tiểu học thành phố Việt Trì (LV thạc sĩ)
Bảng 2.15. Thực trạng mức độ thực hiện của biện pháp (Trang 50)
Bảng 2.17 Thực trạng nhận thức về mức độ thực hiện của biện pháp. - Quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn theo mô hình VNEN ở trường tiểu học thành phố Việt Trì (LV thạc sĩ)
Bảng 2.17 Thực trạng nhận thức về mức độ thực hiện của biện pháp (Trang 52)
Bảng 2.18. Thực trạng nhận thức về mức độ cần thiết của biện pháp. - Quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn theo mô hình VNEN ở trường tiểu học thành phố Việt Trì (LV thạc sĩ)
Bảng 2.18. Thực trạng nhận thức về mức độ cần thiết của biện pháp (Trang 53)
Bảng  2.20.  Các  nguyên  nhân  ảnh  hưởng  đến  việc  quản  lý  sinh  hoạt  tổ  chuyên  môn của Hiệu trưởng các trường Tiểu học - Quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn theo mô hình VNEN ở trường tiểu học thành phố Việt Trì (LV thạc sĩ)
ng 2.20. Các nguyên nhân ảnh hưởng đến việc quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn của Hiệu trưởng các trường Tiểu học (Trang 56)
Bảng 3.1. Thống kê kết quả khảo nghiệm mức độ cấp thiết - Quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn theo mô hình VNEN ở trường tiểu học thành phố Việt Trì (LV thạc sĩ)
Bảng 3.1. Thống kê kết quả khảo nghiệm mức độ cấp thiết (Trang 86)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w