Từ nhận thức trên, NCS đã chọn đề tài Di sản tư liệu ở Việt Nam - vấn đề bảo vệ và phát huy giá trị trường hợp các di sản tư liệu thuộc Chương trình Ký ức Thế giới được UNESCO ghi danh
Trang 1VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM
BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS Nguyễn Thị Lan Thanh
PGS.TS Ngô Văn Doanh
Luận án đã được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Viện họp tại: Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam
32 Hào Nam, Đống Đa, Hà Nội
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam;
- Thư viện Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Di sản tư liệu là một loại hình di sản văn hóa mới được quan tâm
ở Việt Nam (năm 2007) Đến nay, Việt Nam có 06 di sản tư liệu được Chương trình Ký ức Thế giới của UNESCO ghi danh: 02 Di sản tư liệu thế giới và 04 Di sản tư liệu khu vực Châu Á – Thái Bình Dương
- Nhiều đề án đang được thực hiện nhằm bảo vệ, phát huy giá trị
di sản này, tuy nhiên, tất cả chỉ dừng ở di sản được ghi danh với tính chất cục bộ, vì vậy, việc nghiên cứu, bảo vệ và khai thác di sản này là vấn đề cần được các cấp, các ngành và toàn xã hội quan tâm
- Do có quá nhiều chủ thể quản lý trực tiếp và gián tiếp di sản nên cơ chế, chính sách phối hợp giữa cơ quan/tổ chức/cá nhân còn lỏng lẻo, thiếu đồng bộ
- Việc biến đổi khí hậu, các cuộc chiến xảy ra liên miên, nạn ăn trộm, chảy máu cổ vật, tiêu hủy di sản, cùng với sự thờ ơ, vô trách nhiệm của con người đã đẩy nhiều di sản đang dần biến mất vĩnh viễn
- Bên cạnh đó, việc duy trì sức sống, tầm ảnh hưởng và giá trị lịch sử, văn hóa của di sản tư liệu trong xã hội đương đại còn mờ nhạt, chưa tiến hành thường xuyên việc truyền thông, thông tin những kiến thức từ kho di sản tư liệu tới đông đảo cộng đồng
Từ nhận thức trên, NCS đã chọn đề tài Di sản tư liệu ở Việt Nam
- vấn đề bảo vệ và phát huy giá trị (trường hợp các di sản tư liệu thuộc Chương trình Ký ức Thế giới được UNESCO ghi danh) làm luận
án nghiên cứu chuyên ngành quản lý văn hóa của mình
2 Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản tư liệu
ở Việt Nam (trường hợp nghiên cứu: Mộc bản, Châu bản triều Nguyễn, Bia Tiến sĩ Văn Miếu Thăng Long, Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm, Thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế và Mộc bản trường Phúc Giang)
3 Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: tại Trung tâm Lưu trữ I, IV (Cục Văn thư và Lưu
trữ Quốc gia), Văn Miếu Hà Nội, chùa Vĩnh Nghiêm Bắc Giang, Cố
đô Huế và thư viện trường học Phúc Giang, Hà Tĩnh
Trang 4- Thời gian: từ năm 2007 đến nay
- Các vấn đề cần và sẽ làm rõ tại nội dung luận án: di sản tư
liệu là gì? có là đối tượng của quản lý Nhà nước về di sản văn hóa không? Những khó khăn, thách thức nào đang đặt ra đối với công tác bảo vệ và phát huy giá trị di sản tư liệu? Biện pháp nào thúc đẩy hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản tư liệu?
- Giả thuyết nghiên cứu: Di sản tư liệu là loại hình di sản hỗn
hợp vừa có yếu tố vật thể, vừa có yếu tố phi vật thể Do đó, việc bảo
vệ và phát huy giá trị di sản tư liệu cũng là sự kế thừa hiệu quả hoạt động này của di sản văn hóa dân tộc từ trước tới nay bằng việc: xây dựng cơ chế chính sách, nhận diện, bảo quản để phát huy giá trị
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
- Nêu khái niệm di sản tư liệu dưới góc nhìn khác trong mối tương quan với di sản văn hóa vật thể và phi vật thể
- Dựa trên việc phân tích thực trạng bảo vệ và phát huy giá trị di sản
tư liệu được UNESCO ghi danh, kết hợp với học tập kinh nghiệm các quốc gia trong khu vực đề xuất cơ chế, chính sách phù hợp với việc bảo
vệ và phát huy giá trị di sản tư liệu ở Việt Nam
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Hệ thống hóa các khái niệm liên quan đến di sản tư liệu để hình thành cơ sở lý luận cho nghiên cứu của đề tài
+ Đánh giá thực trạng việc bảo vệ, phát huy giá trị di sản tư liệu ở Việt Nam (nghiên cứu 6 trường hợp cụ thể)
+ Xác định các yếu tố ảnh hưởng, thành công, hạn chế nhằm định
hướng cho hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản tư liệu
+ Đưa ra kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới, kết hợp với thực trạng nhằm đề xuất khuyến nghị và giải pháp bảo vệ, phát huy giá trị di sản tư liệu ở Việt Nam có hiệu quả
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp tiếp cận chủ nghĩa duy vật biện chứng và lịch sử
- Phương pháp phân tích hệ thống; Phương pháp sơ đồ, mô hình hóa; Phương pháp nghiên cứu tiếp cận liên ngành/đa ngành
Trang 5- Phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội học
- Phương pháp chuyên gia; Phương pháp tổng hợp dữ liệu
6 Đóng góp của luận án
* Về phương diện khoa học: đề tài góp phần hệ thống hóa một
số vấn đề lý luận và thực tiễn trong công tác bảo vệ, phát huy giá trị di sản tư liệu ở Việt Nam
- Đưa ra một số ý kiến về khái niệm, học thuật về các vấn đề liên quan đến bảo vệ và phát huy giá trị di sản tư liệu
- Trên cơ sở đánh giá thực trạng bảo vệ và phát huy giá trị di sản
tư liệu ở Việt Nam xác định những bước đi tiếp cho di sản này
* Về phương diện thực tiễn: Luận án là tài liệu tham khảo cho
việc xây dựng kế hoạch cụ thể nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý, mô hình điều phối để bảo vệ và phát huy giá trị di sản tư liệu có hiệu quả; xây dựng các tiêu chí cụ thể cho Danh mục di sản tư liệu quốc gia; là tài liệu tham khảo, học tập cho sinh viên về quản lý di sản
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ DI SẢN TƯ LIỆU
ĐƯỢC UNESCO GHI DANH Ở VIỆT NAM
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Di sản tư liệu và các khái niệm liên quan
Năm 2001, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam ban hành Luật
Di sản văn hóa, đến năm 2009, thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật di sản văn hóa Điều 1 quy định: “Di sản văn hóa bao
gồm di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể, là sản phẩm
Trang 6tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [50]
Theo Công ước về việc bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới của UNESCO năm 1972 (Công ước 1972) là Công ước đầu tiên
đưa ra định nghĩa, tiêu chí bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa và
di sản thiên nhiên Đến năm 1992, Ủy ban di sản thế giới bổ sung khái
niệm di sản hỗn hợp hay miêu tả các mối quan hệ tương hỗ nổi bật
giữa văn hóa và thiên nhiên của một số khu di sản [79]
Nhằm phát huy Công ước 1972 và dung hòa với loại hình di sản văn hóa đang hình thành, Chương trình Kiệt tác của nhân loại được khởi xướng, 30 năm sau, Công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO năm 2003 (Công ước 2003) chính thức ra đời
Và tiếp nối cho việc hoàn thiện các mảnh ghép nội hàm của di sản văn hóa, xuất phát từ nhu cầu ngày càng tăng về việc bảo
vệ và tiếp cận những di sản tài liệu quý hiếm có nguy cơ bị xâm hại và mai một, tồn tại trong lòng di sản vật thể và di sản phi vật thể tại nhiều nước và khu vực trên thế giới, một khái niệm mới được thai nghén
và bước đầu được quan tâm khi UNESCO khới xướng Chương
trình Ký ức Thế giới (MOW) vào năm 1992 Đối với UNESCO,
tư liệu là “những văn bản” hay “những ghi chép lại” một điều gì đó bởi mục đích trí tuệ có chủ ý [82] Một tư liệu được coi là có hai thành phần: nội dung thông tin và vật mang nội dung thông tin Cả hai thành
tố này đều rất đa dạng và quan trọng như nhau với vai trò là các bộ
phận của ký ức
Ở nước Nga, theo tiêu chuẩn quốc gia đầu tiên về thuật ngữ
GOST 16487-70 và Tiêu chuẩn GOST 16487-83: Văn thư và công tác
lưu trữ Các thuật ngữ và định nghĩa, “tài liệu” được định nghĩa như
là “đối tượng vật chất cùng với thông tin được ghi nhận bởi con người, bởi phương pháp để truyền nó trong thời gian và không gian” [86]
Trong tiêu chuẩn quốc tế ISO 15489: Thông tin và tài liệu, “tài
liệu” được hiểu là thông tin được tạo lập, tiếp nhận và lưu giữ bởi tổ chức hoặc cá nhân như là bản chứng nhận để khẳng định trách nhiệm pháp lý hay hoạt động quản lý [69]
Trang 7Khoản 2 Điều 2 Chương I, Pháp lệnh thư viện năm 2000: “Tài
liệu là một dạng vật chất đã ghi nhận những thông tin ở dạng thành văn, âm thanh, hình ảnh nhằm mục đích bảo quản và sử dụng” [61]
Điều 2 Chương I, Luật lưu trữ được thông qua năm 2011:
Tài liệu là vật mang tin được hình thành trong quá trình hoạt
động của cơ quan, tổ chức, cá nhân Tài liệu bao gồm văn bản, bản vẽ thiết kế, bản đồ, công trình nghiên cứu, sổ sách, âm bản, dương bản phim, ảnh, vi phim; băng, đĩa ghi âm, ghi hình; tài liệu điện tử; bản thảo tác phẩm văn học, nhật ký, hồi ký, tài liệu viết tay; tranh vẽ hoặc in; ấn phẩm và vật mang tin khác [51]
Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 10382-2014: Di sản văn hóa và các vấn đề liên quan – Thuật ngữ và định nghĩa, ghi: “Di sản tư liệu là sản phẩm mang thông tin được hình thành từ những kí hiệu, mật mã, âm thanh hoặc hình ảnh dưới nhiều dạng thức độc đáo, phản ánh thành
tựu tiêu biểu về lịch sử, tư tưởng, văn hóa và khoa học” [27]
Có nhiều ý kiến cho rằng, di sản tư liệu là 1 thành phần của di sản văn hóa phi vật thể, “sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc
cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng ” [52] Điều đó có phần đúng nhưng chưa đủ, vì di sản tư liệu lại có giá trị căn bản của một hiện vật bảo tàng hoặc di tích lịch sử và văn hóa, tài liệu lưu trữ được biểu hiện bằng các thông điệp văn hóa đã được vật chất hóa trong bản thân chúng Có nghĩa là chúng có yếu tố phi vật thể trong tự thân Theo phân tích trên, di sản tư liệu là sản phẩm tinh thần được tư liệu hóa trên một vật mang tin, trong đó, có cả yếu tố vật thể và phi vật thể
Vì vậy, NCS đồng ý với phân tích và lấy khái niệm sau để làm khái niệm nghiên cứu luận án: di sản tư liệu là loại hình di sản văn hóa hỗn hợp bao gồm cả yếu tố vật thể và phi vật thể gắn với cộng đồng hoặc cá nhân; là sản phẩm mang thông tin dưới nhiều dạng thức độc đáo, phản ánh thành tựu về lịch sử, tư tưởng, văn hóa và khoa học
1.1.2 Bảo vệ và phát huy giá trị di sản tư liệu
Công ước 1972 là Công ước quốc tế đầu tiên gắn khái niệm bảo
vệ thiên nhiên với bảo vệ di sản văn hóa, mang đến cách tiếp cận mới
Trang 8với cơ sở pháp lý cần thiết, đảm bảo mối quan hệ cân bằng, hài hòa giữa con người với thiên nhiên, giữa quá khứ, hiện tại và tương lai
Tại Điều 2 Công ước 2003 ghi Bảo vệ là các biện pháp có mục
tiêu đảm bảo khả năng tồn tại của di sản văn hóa phi vật thể, bao gồm việc nhận diện, tư liệu hoá, nghiên cứu, bảo tồn, bảo vệ, phát huy, củng cố, chuyển giao, đặc biệt là thông qua hình thức giáo dục chính thức hoặc phi chính thức cũng như việc phục hồi các phương diện khác nhau của loại hình di sản này
Theo Từ điển từ và ngữ Việt Nam (2000) của tác giả Nguyễn
Lân, Nxb TP Hồ Chí Minh, viết: “bảo tồn: giữ lại, không để mất đi”;
“bảo vệ: giữ gìn cho khỏi bị hư hỏng”; “phát huy: làm cho tác dụng
lan rộng ra hoặc phát triển lên” Trong khuôn khổ của Chương trình
Ký ức thế giới, bảo quản là toàn bộ các biện pháp cần thiết nhằm bảo
đảm khả năng tiếp cận lâu dài – vĩnh viễn của các di sản tư liệu [82]
Theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật di sản văn hóa năm
2009, có quy định: “Bảo tồn di sản văn hóa là hoạt động nhằm đảm bảo sự tồn tại lâu dài, ổn định của di sản văn hóa” [52] “Bảo vệ và
phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể là hoạt động quản lý, nghiên
cứu, kiểm kê, sưu tầm, phân loại, tư liệu hóa, thực hành, trình diễn, phổ biến, truyền dạy, phục hồi nhằm đảm bảo sự tồn tại lâu dài và ngăn ngừa nguy cơ làm mai một, thất truyền di sản văn hóa phi vật thể, để phát huy giá trị” [52]
Bảo vệ và phát huy di sản văn hóa là hai lĩnh vực thống nhất, tương hỗ, luôn gắn kết chặt chẽ biện chứng, chi phối ảnh hưởng qua lại trong hoạt động giữ gìn tài sản văn hóa Bảo vệ di sản văn hóa thành công thì mới phát huy được các giá trị văn hóa Phát huy cũng là một cách bảo vệ di sản văn hóa tốt nhất (lưu giữ giá trị di sản trong ý thức cộng đồng xã hội) Do vậy, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa là cơ chế chính sách, nghiên cứu, nhận diện, phân loại, bảo tồn để phát huy giá trị, nhằm đảm bảo sự tồn tại lâu dài và ngăn ngừa nguy
cơ làm mai một hoặc mất đi của di sản dân tộc
Căn cứ nội dung bảo vệ, phát huy giá trị di sản tại Công ước
1972 và Công ước 2003 của UNESCO, cùng với sự phân tích các vấn
đề liên quan ở Việt Nam, NCS đưa ra khái niệm làm cơ sở nghiên cứu
Trang 9luận án: bảo vệ và phát huy giá trị di sản tư liệu là hoạt động xây dựng
cơ chế chính sách, nhận diện, phân loại, nhằm bảo vệ và phát huy giá trị di sản
1.1.3 Quan điểm về việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản
* Quan điểm của UNESCO
Từ những năm 90 của thế kỷ XX, UNESCO đã đưa khuyến nghị các quốc gia nên bảo quản và phát huy di sản chữ viết của dân tộc trong các thư viện, kho lưu trữ, đảm bảo sự tiếp cận và phổ biến chúng rộng rãi hơn Chương trình Ký ức thế giới (MOW) về Di sản tư liệu đưa ra bốn quan điểm mục tiêu và được các quốc gia hưởng ứng:
- Tạo điều kiện bảo tồn các di sản tư liệu bằng những kỹ thuật thích hợp
- Hỗ trợ tiếp cận với các di sản tư liệu trên toàn cầu
- Nâng cao nhận thức trên toàn thế giới về sự tồn tại và tầm quan trọng của di sản tư liệu
- Cảnh báo chung các chính phủ, những người ra quyết định và công chứng rằng việc bảo tồn và tiếp cận [82]
* Quan điểm của Việt Nam
Ngày 23 tháng 11 năm 1945, ngay sau khi tuyên bố độc lập, Chủ
tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 65 về Bảo tồn cổ tích trên toàn cõi
Việt Nam Từ Đại hội Đảng lần thứ VI, VII, VIII, IX đến Đại hội XI, vấn đề
xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống (trong đó có di sản tư liệu) ngày càng được quan tâm Đặc biệt, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng
sản Việt Nam lần thứ 5 (khóa VIII) ban hành Nghị quyết Về xây dựng
và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
Năm 2001, Luật di sản văn hóa đã được Quốc hội Việt Nam phê
chuẩn, đã khẳng định “Di sản văn hoá Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của Di sản văn hoá nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước
của nhân dân ta” [50]
Trên thực tiễn, các quan điểm chung cho việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản tư liệu ở Việt Nam đều chưa được định hướng cụ thể, vì vậy, việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản tư liệu đều phải dựa trên
Trang 10nguyên tắc hướng dẫn của UNESCO và các văn bản quy phạm chung
về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa của Việt Nam
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản tư liệu
* Yếu tố khách quan
* Yếu tố chủ quan
* Yếu tố con người
1.2 Tổng quan về di sản tư liệu thuộc Chương trình Ký ức thế giới được UNESCO ghi danh ở Việt Nam
1.2.1 Khái quát về di sản tư liệu:
Có thể nói di sản tư liệu đã được giới nghiên cứu khoa học quan tâm từ rất lâu và trên nhiều phương diện, góc độ khác nhau:
“Bảo tồn di sản thành văn cuả Thư viện Quốc gia Việt Nam”
(2007) và Luận án tiến sĩ Lê Quý Đôn với sự phát triển của nền thư
tịch Việt Nam (2008), đề cập đến vấn đề khái niệm, quản lý, bảo quản
và phát huy giá trị di sản thành văn, thư tịch Hán Nôm
Bên cạnh đó, việc bảo tồn di sản văn và di sản thành văn được
nghiên cứu, đề cập trên ở các tạp chí chuyên ngành như: “Bảo vệ và
phát huy di sản văn hóa” – Lưu Trần Tiêu (Tạp chí Văn hóa - Nghệ
thuật số 5); "Vai trò của tư liệu Hán Nôm đối với di tích và danh lam
thắng cảnh ở Việt Nam" - Đinh Khắc Thuân (Tạp chí DSVH số
1/2002, trang 62); "Bảo tàng với việc khai thác và phát huy di sản chữ
Nôm" - Nguyễn Kim Dung (Tạp chí DSVH số 8/2004, trang 107)
"Hướng dẫn chung về bảo vệ di sản tư liệu" (2002, bổ sung năm
2014), “Truyền thống Việt Nam qua di sản văn hóa – Nhận thức, khám
phá và bảo tồn” (2013), đề cập tương đối toàn diện đến các vấn đề
nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa trong đó có thư tịch, văn bia, sắc phong trong di tích, bảo tàng trên toàn quốc
Hội nghị Khoa học quốc tế năm 2010 về "Bảo tồn và phát huy
giá trị các di sản tư liệu"; Tập huấn quốc tế năm 2013 về "Xây dựng
hồ sơ đề cử danh mục di sản tư liệu thuộc Chương trình Ký ức thế giới của UNESCO"; Tập huấn quốc tế năm 2015 về "Kinh nghiệm đề cử danh mục di sản tư liệu Chương trình Ký ức thế giới của UNESCO "
Trang 11là chia sẻ kinh nghiệm của các chuyên gia trong lĩnh vực di sản tư liệu Chương trình Ký ức thế giới của UNESCO và Việt Nam
1.2.2 Các di sản tư liệu thuộc Chương trình Ký ức thế giới được UNESCO ghi danh ở Việt Nam
đến chủ quyền, tự chủ quốc gia như: bản khắc cổ nhất Nam quốc sơn
hà, các văn bản về chủ quyền biên giới Việt Nam, Lào, Campuchia… 1.2.2.2 Bia Tiến sĩ Văn Miếu Thăng Long
Là những tấm bia tiến sĩ duy nhất trên thế giới có bài ký (văn bia), không chỉ lưu danh tiến sĩ đã thi đỗ trong các kỳ thi trải dài suốt gần 300 năm (từ 1442 đến 1779), mà còn ghi lại lịch sử các khoa thi
và triết lý của triều đại về nền giáo dục và đào tạo, sử dụng nhân tài,
có tác động to lớn đối với xã hội đương thời và hậu thế 82 tấm bia ghi
họ tên, quê quán của 1.304 nhà trí thức khoa bảng (85 trạng nguyên,
bảng nhãn, thám hoa; 283 hoàng giáp và 939 tiến sĩ) "Hiền tài là
nguyên khí của quốc gia…" được khắc trên bia đề danh tiến sĩ năm
1484 đến nay vẫn được coi như một tư tưởng lớn về việc đánh giá và
sử dụng nhân tài Các bài văn bia còn ghi rõ ngày tháng dựng bia, tên của người soạn văn bia, dựng bia đã khẳng định tính xác thực, nguyên bản và duy nhất của tư liệu
1.2.2.3 Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm
Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm là bảo vật quốc gia có tổng số hơn
ba nghìn bản được san khắc nhiều đợt trong khoảng thời gian từ thế kỷ
Trang 12XVII đến đầu thế kỷ XX Bên cạnh đó, mỗi ván khắc là một tác phẩm điêu khắc nghệ thuật tiêu biểu cho nghệ thuật chám khắc gỗ Việt Nam thời Lê – Nguyễn Chùa Vĩnh Nghiêm là trung tâm Phật giáo lớn thuộc phái Thiền Trúc Lâm của Phật giáo Việt Nam Kho mộc bản (ván khắc) còn lưu giữ hiện nay (được san khắc tại đây), vẫn lưu giữ được 34 đầu sách với gần 3000 bản khắc, mỗi bản có hai mặt, mỗi mặt
2 trang sách (âm bản) khoảng 2000 chữ Nôm, chữ Hán Đây còn là một tác phẩm nghệ thuật tuyệt mỹ, mang tính độc bản, nguyên gốc
1.2.2.4 Châu bản triều Nguyễn
Châu bản là những văn bản của vương triều đã được nhà vua
“ngự phê” bằng mực son đỏ Toàn bộ khối Châu bản triều Nguyễn có
773 tập, tương đương khoảng 85.000 văn bản của 11 triều vua nhà Nguyễn, bao gồm: chiếu, dụ, chỉ, sớ, tấu, khải, phúc, phiến trình, phiếu nghĩ được quy định chặt chẽ về chức năng và thẩm quyền ban hành Châu bản triều Nguyễn chủ yếu được viết tay trên giấy dó, phản ánh các vấn đề của đời sống xã hội, các biến động về lịch sử, các chính sách đối nội, đối ngoại của Việt Nam thế kỷ XIX và nửa đầu thế
kỷ XX Một trong những giá trị nổi bật của Châu bản triều Nguyễn thể hiện ở chỗ đây là những tư liệu đặc biệt quan trọng góp phần khẳng định chủ quyền, đặc biệt là trách nhiệm trong công tác cứu hộ các nước gặp nạn của Việt Nam tại 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
1.2.2.5 Thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế
Thơ văn trên Kiến trúc cung đình Huế là toàn bộ hệ thống văn tự
chữ Hán sáng tác dưới dạng các bài văn thơ được chạm cẩn, bản gốc duy nhất hiện còn ở kiến trúc thuộc Quần thể di tích Cố đô Huế giai đoạn 1802 – 1945 Mỗi tác phẩm là sự kết tinh của nhiều yếu tố khác nhau, từ mỹ thuật, kỹ xảo trang trí, thư pháp Hệ thống di sản thơ văn là một bảo tàng sống động, độc đáo, chuyển tải những thông điệp lịch sử, văn hóa và nghệ thuật đặc sắc một giai đoạn trong lịch sử cận đại của Việt Nam, là những tác phẩm tinh tuyển từ những sáng tác của các vị hoàng để tài hoa của triều Nguyễn Đặc biệt, thơ văn chạm khắc trên các cấu kiện gỗ kiến trúc thời Nguyễn là ván khắc dương bản (khác với mộc bản triều Nguyễn là âm bản), một tác phẩm chạm
khắc hoàn chỉnh rất có giá trị, nhất là tính độc bản của nó
Trang 131.2.2.6 Mộc bản trường Phúc Giang (Mộc bản Trường Lưu)
Mộc bản sách giáo khoa ở Trường Lưu được khắc từ năm 1758 tới năm 1788, dùng để in tài liệu dạy học Các mộc bản ngoài giá trị
về kỹ thuật khắc, còn trở thành những cổ vật quý giá, tư liệu quý cung cấp nhiều thông tin thuộc nhiều lĩnh vực: văn bản học, giáo dục, đối ngoại Với 394 bản còn lại, Mộc bản Trường Lưu là một trong những
di sản quý giá còn lại của dòng họ Nguyễn Huy, đây cũng là tư liệu gốc minh chứng cho giai đoạn hoạt động văn hóa và giáo dục của một dòng họ trong lịch sử phát triển của Việt Nam Điểm đặc biệt của di sản này là liên quan đến giáo dục ở một làng quê, là khối mộc bản duy
nhất về văn hóa, giáo dục của dòng họ được lưu giữ ở Việt Nam
Tóm lại, di sản tư liệu ở Việt Nam có giá trị đặc biệt về nội dung
và hình thức, phong phú về chất liệu, đa dạng chủ thể sở hữu, với ngôn ngữ chủ yếu là Hán, Nôm Tuy nhiên, cho đến hiện nay, chưa có một nghiên cứu tổng quan nào về di sản tư liệu ở Việt Nam, vì vậy, cơ chế chính sách chưa trở thành một hệ thống chặt chẽ, việc nhận diện
di sản được chú ý, chưa bao quát để tiến tới định hướng chung cho
công tác bảo vệ, phát huy giá trị di sản này trên toàn quốc
Tiểu kết
Với những nghiên cứu về lý luận, những khái niệm và tổng quan di sản
tư liệu, NCS đưa ra nhận định về di sản tư liệu và các khái niệm liên quan Di sản tư liệu là bước chuyển hóa từ sự sáng tạo, ký ức của con người được tư liệu hóa bằng các ký hiệu, mật mã, âm thanh hoặc hình ảnh dưới nhiều dạng thức độc đáo Việc các di sản tư liệu ở Việt Nam được UNESCO ghi danh trong thời gian qua có ý nghĩa đặc biệt trong việc nâng cao nhận thức của xã hội, do vậy, việc nghiên cứu thực trạng để đưa ra các phương án bảo vệ và phát huy giá trị di sản tư liệu dựa trên cơ chế chính sách phù hợp, nhằm sử dụng hiệu quả yếu tố nội tại và khách quan để phát huy các tiềm lực di sản này là rất cần thiết hiện nay
Chương 2 THỰC TRẠNG BẢO VỆ VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN
TƯ LIỆU ĐƯỢC UNESCO GHI DANH Ở VIỆT NAM 2.1 Cơ chế, chính sách bảo vệ và phát huy giá trị di sản