Từ nhận thức về vấn đề bảo vệ và phát huy giá trị di sản tư liệu, tôi đã chọn đề tài Di sản tư liệu ở Việt Nam - vấn đề bảo vệ và phát huy giá trị trường hợp các di sản tư liệu thuộc Chư
Trang 1Phạm Thị Khánh Ngân
DI SẢN TƯ LIỆU Ở VIỆT NAM VẤN ĐỀ BẢO VỆ VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ
(TRƯỜNG HỢP CÁC DI SẢN TƯ LIỆU THUỘC CHƯƠNG TRÌNH
KÝ ỨC THẾ GIỚI ĐƯỢC UNESCO GHI DANH)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
Hà Nội – 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM
-* -
Phạm Thị Khánh Ngân
DI SẢN TƯ LIỆU Ở VIỆT NAM VẤN ĐỀ BẢO VỆ VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ (TRƯỜNG HỢP CÁC DI SẢN TƯ LIỆU THUỘC CHƯƠNG TRÌNH
KÝ ỨC THẾ GIỚI ĐƯỢC UNESCO GHI DANH)
Chuyên ngành: Quản lý văn hóa
Mã số:62 31 06 42
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN THỊ LAN THANH
Hà Nội – 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, bản luận án tiến sĩ Di sản tư liệu ở Việt Nam - vấn đề bảo vệ và phát huy giá trị (trường hợp các di sản tư liệu thuộc Chương trình Ký ức thế giới được UNESCO ghi danh) là do tôi viết và chưa
công bố Trong quá trình thực hiện luận án, tôi đã kế thừa những nguồn tài liệu của các nhà nghiên cứu đi trước và có trích dẫn đầy đủ Kết quả nêu trong luận án là trung thực
Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả
Phạm Thị Khánh Ngân
Trang 4Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ DI SẢN
TƯ LIỆU ĐƯỢC UNESCO GHI DANH Ở VIỆT NAM
14
1.2 Tổng quan về các di sản tư liệu được UNESCO ghi
danh ở Việt Nam
35
Chương 2: THỰC TRẠNG BẢO VỆ VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ
DI SẢN TƯ LIỆU ĐƯỢC UNESCO GHI DANH Ở VIỆT NAM
50
2.1 Cơ chế, chính sách bảo vệ và phát huy giá trị di sản
tư liệu
50
2.2 Công tác nghiên cứu và nhận diện di sản tư liệu 56
2.5 Đánh giá thực trạng bảo vệ và phát huy giá trị 79
Chương 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ BẢO VỆ VÀ
PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN TƯ LIỆU ĐƯỢC UNESCO GHI
DANH Ở VIỆT NAM
98
3.1 Kinh nghiệm quốc tế về bảo vệ và phát huy giá trị di
sản tư liệu
98
3.2 Giải pháp bảo vệ và phát huy giá trị di sản tư liệu được
UNESCO ghi danh tại Việt Nam
107
DANH MỤC BÀI VIẾT CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ 137
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CHXHCN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
ICOM Hội đồng Bảo tàng quốc tế
ICOMOS Hội đồng quốc tế các di tích và di chỉ
IFLA Liên đoàn quốc tế các cơ quan và hội thư viện
MOW Chương trình Ký ức thế giới
MOWCAP Chương trình Ký ức thế giới khu vực Châu Á – Thái
Bình Dương
UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc
VHTTDL Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ SƠ ĐỒ
Trang
Bảng 3.1 Phân công trách nhiệm trong việc bảo vệ và phát
huy giá trị di sản tư liệu
Trang 7thời gian của các cộng đồng, các nền văn hóa” [82] Di sản tư liệu không chỉ
quý vì nội dung lưu chứa mà ở ngay cả chính bản thân di sản như vật mang tin, các ngôn ngữ và kỹ thuật cấu thành di sản (kỹ thuật in, đóng sách ) Cùng với di chỉ khảo cổ, văn hóa dân gian, di sản tư liệu giúp cho các thế hệ sau hiểu biết về thế hệ đã qua và có thể dự báo một tương lai mới của các nền văn hóa Chính vì vậy, di sản tư liệu được nhân loại trên toàn thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng luôn quan tâm bảo vệ, gìn giữ và lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác
Tuy nhiên, thực tiễn hiện nay cho thấy có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan đã làm lãng quên hoặc chưa quan tâm đúng mức đến một loại hình di sản văn hóa cũng đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với tiến trình lịch sử của dân tộc đó là di sản tư liệu Do cấu tạo bằng vật chất đặc biệt nên di sản tư liệu có nguy cơ dễ bị thiếu khuyết, hư hỏng hoặc mất đi do thiên nhiên, côn trùng hoặc do con người gây ra Bên cạnh đó, những cuộc chiến tranh kéo dài, sự vô thức của con người, nạn trộm cắp, buôn bán cổ vật đang
là nguy cơ không nhỏ tác động đến sự tồn tại của di sản này Đặc biệt, đối với những tư liệu nghe nhìn và điện tử thì đôi khi sự mất mát còn do sự lạc hậu về khoa học kỹ thuật
Nhận thức được điều này, năm 1992, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và
Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) khởi xướng xây dựng Chương trình Ký
ức thế giới (Memory of the wold - MOW), xuất phát từ nhu cầu ngày càng
Trang 8tăng về việc bảo tồn và tiếp cận những di sản tài liệu quý hiếm có nguy cơ bị xâm hại và mai một ở nhiều nước và khu vực trên thế giới Đồng thời, Chương trình MOW ra đời nhằm ghi nhận những di sản tài liệu có giá trị, mang tầm quan trọng cấp quốc tế, khu vực và quốc gia, đồng thời hướng sự chú ý của thế giới tới việc gìn giữ các sưu tập tài liệu quý, hiếm và tạo điều kiện thuận lợi cho việc bảo tồn và tiếp cận chúng Đây là 1 trong 3 sáng kiến của UNESCO nhằm bảo vệ và nâng cao nhận thức về di sản văn hóa toàn cầu, hai sáng kiến trước đó là: Công ước Bảo vệ Di sản thiên nhiên và Di sản văn hóa thế giới năm 1972 (duy trì các giá trị nổi bật của các công trình kiến trúc
và các di sản thiên nhiên trong Danh mục Di sản thế giới) và Công ước về Bảo vệ Di sản văn hóa phi vật thể năm 2003 (nhằm thừa nhận và hỗ trợ sự sống của những phong tục và văn hóa truyền khẩu)
Chương trình Ký ức Thế giới của UNESCO cổ vũ sự uyên bác, sự thưởng thức, sức sáng tạo phong phú, cũng như sự đa dạng của các nền văn hóa - xã hội, con người và nhằm phòng ngừa nguy cơ những di sản tư liệu vô giá của nhân loại bị rơi vào lãng quên, khuyến khích các nước sở hữu bảo quản tốt hơn và giúp quảng bá rộng rãi hơn giá trị của các di sản này trên toàn cầu Phần lớn di sản Ký ức thế giới được cất giữ tại các thư viện, phòng lưu trữ, bảo tàng và nhiều nơi khác trên toàn cầu Di sản tư liệu của nhiều dân tộc
bị phân tán bởi sự chuyển rời ngẫu nhiên hay cố ý trong quá trình cất giữ và sưu tầm tài liệu, do sự tàn phá của khí hậu, chiến tranh hay các hoàn cảnh lịch
sử khác Vì vậy, rất nhiều di sản trong số đó có nguy cơ mất đi Cho đến tháng 7 năm 2016, theo báo cáo của UNESCO đã gần 300 di sản tư liệu của các quốc gia trên thế giới đã được đưa vào Danh sách Ký ức Thế giới
Di sản tư liệu là một loại hình di sản văn hóa mới được quan tâm ở Việt Nam (chính thức tham gia vào Chương trình Ký ức Thế giới của UNESCO từ
Trang 9năm 2007) Từ năm 2009 đến nay, Việt Nam đã có 06 di sản tư liệu được Chương trình Ký ức Thế giới của UNESCO ghi danh:
02 Di sản tư liệu thế giới: Mộc bản triều Nguyễn (Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước), Bia Tiến sĩ Văn Miếu Thăng Long (Trung tâm hoạt động Văn
hóa Khoa học Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Hà Nội);
04 Di sản tư liệu khu vực Châu Á – Thái Bình Dương: Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm (Bắc Giang), Châu bản triều Nguyễn (Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước), Thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế (Trung tâm Bảo tồn Di tích
cố đô Huế) và Mộc bản trường Phúc Giang (Hà Tĩnh)
Sau khi được thế giới ghi nhận các di sản tư liệu của Việt Nam, chúng
ta đã đặt lên "bàn cân" đong đếm tầm quan trọng của việc bảo vệ và phát huy
giá trị di sản tư liệu Có thể nói việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản tư liệu là
mục tiêu hàng đầu, bởi vì đây là di sản thông tin, di sản biết nói, là ký ức của mọi người và mỗi người, ghi lại (tư liệu hóa) những sáng tạo, tư duy của dân tộc và nhân loại nhằm lưu truyền cho các thế hệ sau
Trên thực tiễn hiện nay, vấn đề bảo vệ và phát huy giá trị di sản tư liệu
đã được quan tâm, chú trọng song vẫn còn có rất nhiều hạn chế, như:
- Ngay sau khi các di sản tư liệu được UNESCO ghi danh, có rất nhiều
đề án đang được thực hiện nhằm bảo vệ và phát huy giá trị di sản này, tuy nhiên, tất cả chỉ dừng lại ở các di sản được ghi danh với tính chất cục bộ, không có sự liên kết trên tầm vĩ mô Với một kho tàng di sản tư liệu đồ sộ vẫn còn rải rác khắp nơi, việc nghiên cứu, nhận diện, bảo vệ và khai thác hiệu quả
di sản này là vấn đề cần được các cấp, các ngành và toàn xã hội quan tâm và cùng chung sức thực hiện
- Do có quá nhiều chủ thể quản lý trực tiếp và gián tiếp di sản (có đơn
vị sự nghiệp, ban quản lý di tích, bảo tàng, cá nhân ) nên cơ chế, chính sách phối hợp giữa các cơ quan/tổ chức/cá nhân còn lỏng lẻo, thiếu đồng bộ, do đó,
Trang 10chưa có những định hướng tầm vĩ mô, với các chính sách đầu tư và giải pháp một cách tổng thể cho việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản tư liệu hiệu quả
- Việc biến đổi khí hậu, chiến tranh, nạn ăn trộm, chảy máu cổ vật, tiêu hủy di sản, cùng với sự thờ ơ, vô trách nhiệm của con người đã đẩy nhiều di sản đang dần biến mất vĩnh viễn Ngược lại, trong xã hội hiện đại, sự quá tải
về thông tin, bị lôi cuốn vào các trò chơi giải trí, con người cũng gần mất đi thói quen đọc, lưu giữ, không quan tâm đến sự mai một của các tư liệu quý, hiếm ghi dấu giai đoạn lịch sử, sáng tạo văn hóa của chính chúng ta Di sản tư liệu thực sự đang đứng trước nguy cơ bị mai một, hủy hoại và mất đi nếu không có sự quan tâm, bảo vệ và phát huy hiệu quả hơn trong tương lai
- Bên cạnh đó, việc duy trì sức sống, tầm ảnh hưởng và giá trị lịch sử, văn hóa của di sản tư liệu trong xã hội đương đại còn mờ nhạt, chưa tiến hành thường xuyên việc truyền thông, thông tin những kiến thức từ kho di sản tư liệu tới đông đảo cộng đồng, đặc biệt là giới trẻ để tăng cường nhận thức, kiến thức cho thế hệ tương lai của đất nước về lịch sử, văn hóa của dân tộc mình
Từ nhận thức về vấn đề bảo vệ và phát huy giá trị di sản tư liệu, tôi đã
chọn đề tài Di sản tư liệu ở Việt Nam - vấn đề bảo vệ và phát huy giá trị (trường hợp các di sản tư liệu thuộc Chương trình Ký ức Thế giới được UNESCO ghi danh) làm luận án nghiên cứu chuyên ngành quản lý văn hóa
của mình
2 Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu cơ sở lý luận về di sản tư liệu, thực trạng việc bảo
vệ và phát huy giá trị các di sản tư liệu ở Việt Nam (lấy 6 di sản tư liệu được UNESCO ghi danh thuộc Chương trình Ký ức thế giới làm trường hợp nghiên cứu, gồm: Mộc bản và Châu bản triều Nguyễn, Bia Tiến sĩ Văn Miếu Thăng Long, Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm, Thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế và Mộc bản trường Phúc Giang)
Trang 113 Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về di sản tư liệu, vấn đề bảo vệ và phát huy
giá trị di sản tư liệu là một trong những nội dung của quản lý di sản văn hóa ở Việt Nam
-Thực trạng việc bảo vệ và phát huy giá trị các di sản tư liệu ở Việt Nam, như: cơ chế chính sách, công tác nghiên cứu, nhận diện, bảo tồn nhằm phát huy giá trị của di sản trong đời sống xã hội
- Không gian: di sản tư liệu ở Việt Nam thuộc Chương trình Ký ức Thế
giới được UNESCO ghi danh tại Trung tâm Lưu trữ I, IV của Cục Văn thư và Lưu trữ Quốc gia, Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội, chùa Vĩnh Nghiêm Bắc Giang, Cố đô Huế và thư viện dòng họ Nguyễn Huy, Hà Tĩnh
- Thời gian: trong luận án này NCS là những nghiên cứu từ năm 2007
đến nay Việc chọn khung thời gian này là bắt đầu từ khi Việt Nam quan tâm
và chính thức tham gia vào Chương trình Ký ức Thế giới của UNESCO và sau khi chúng ta được ghi danh 6 di sản tư liệu của Chương trình này
- Các vấn đề cần và sẽ làm rõ tại nội dung luận án: di sản tư liệu là gì?
có phải là đối tượng của quản lý Nhà nước về di sản văn hóa không? Hiện trạng bảo vệ và phát huy giá trị di sản này tại Việt Nam ra sao? Những khó khăn, thách thức nào đang đặt ra đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản tư liệu? Các quốc gia trong khu vực và trên thế giới ứng xử với loại hình di sản này như thế nào? Biện pháp nào thúc đẩy hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản tư liệu?
- Giả thuyết nghiên cứu: Di sản tư liệu là loại hình di sản hỗn hợp vừa
có yếu tố vật thể, vừa có yếu tố phi vật thể Do đó, việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản tư liệu cũng là sự kế thừa hiệu quả hoạt động này của di sản văn hóa dân tộc từ trước tới nay bằng việc: xây dựng cơ chế chính sách, nghiên cứu nhận diện, phân loại, bảo quản để phát huy giá trị
Trang 124 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng bảo vệ, phát huy giá trị di sản tư liệu ở Việt Nam (trường hợp các di sản tư liệu thuộc Chương trình Ký ức Thế giới được UNESCO ghi danh) để từ đó đề xuất một số vấn đề mới, thiết thực đối với di sản này:
- Nêu khái niệm di sản tư liệu dưới góc nhìn khác trong mối tương quan với di sản văn hóa vật thể và phi vật thể
- Dựa trên việc phân tích cơ chế, chính sách cũ kết hợp với học tập kinh nghiệm các quốc gia trong khu vực đề xuất, chỉnh sửa cơ chế, chính sách mới phù hợp với việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản tư liệu ở Việt Nam
- Dựa trên thực trạng bảo vệ và phát huy giá trị di sản đưa ra các bàn luận
về giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động này đối với di sản tư liệu ở Việt Nam
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện các mục đích nghiên cứu nêu trên, luận án có nhiệm vụ làm rõ các vấn đề chính sau:
+ Hệ thống hóa các khái niệm liên quan đến di sản tư liệu để hình thành
cơ sở lý luận cho nghiên cứu của đề tài
+ Đánh giá thực trạng việc quản lý, bảo vệ, phát huy giá trị di sản tư liệu
ở Việt Nam (trường hợp các di sản tư liệu thuộc Chương trình Ký ức Thế giới của UNESCO)
+ Xác định các yếu tố ảnh hưởng, những thành công, hạn chế, tìm ra nguyên nhân nhằm định hướng cho hoạt động quản lý, bảo vệ và phát huy giá
trị di sản tư liệu
+ Đưa ra kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới, kết hợp với định hướng từ thực trạng nhằm đề xuất các khuyến nghị và giải pháp nhằm bảo vệ, phát huy giá trị di sản tư liệu ở Việt Nam một cách có hiệu quả
Trang 135 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp tiếp cận chủ nghĩa duy vật biện chứng
và lịch sử, đặt các bên liên quan trong việc nghiên cứu về di sản tư liệu thuộc Chương trình Ký ức của UNESCO nói chung và di sản tư liệu ở Việt Nam nói riêng, trong đó, nhấn mạnh vai trò của Nhà nước, Chính phủ và sự tham gia của các tổ chức, cá nhân trong xã hội
Đánh giá thực trạng di sản tư liệu, NCS áp dụng quan điểm bảo tồn nguyên vẹn và quan điểm của UNESCO về bảo vệ và phát huy giá trị di sản
tư liệu nhằm nghiên cứu, nhận diện, quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản này trước những nguy cơ hủy hoại của tự nhiên, con người và xã hội
- Phương pháp phân tích hệ thống: đây là hệ thống quản lý mở có vai trò quan trọng trong hệ thống quản lý, là biểu hiện cụ thể của mối quan
hệ qua lại giữa chủ thể và đối tượng quản lý, luôn thay đổi trong từng tình huống cụ thể, tùy thuộc vào đặc điểm của chủ thể và di sản tư liệu ở Việt Nam hiện nay Trong 6 di sản tư liệu được vinh danh đã có 3 chủ thể quản lý khác nhau gồm: Trung tâm Lưu trữ, di tích và tư nhân (dòng họ); đối tượng quản lý thì phong phú về nội dung: văn bản, văn bia, sách giáo khoa, và đa dạng về chất liệu: đá, gỗ, giấy,
- Phương pháp sơ đồ, mô hình hóa: dựa trên cơ chế, chính sách, mô hình hoạt động đang tồn tại trong nước hoặc trên thế giới, từ đó, nghiên cứu, phân tích, so sánh, rút kinh nghiệm và đề xuất mô hình mới nhằm phát huy tối
đa hiệu quả việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản tư liệu ở Việt Nam
- Phương pháp nghiên cứu tiếp cận liên ngành/đa ngành: văn hóa, quản
lý văn hóa, lịch sử, bảo tồn di sản văn hóa đưa ra sự so sánh, xem xét vấn đề trong mối quan hệ để thấy được sự biến đổi và phát triển Đặc biệt, trong các thành tố liên ngành, hướng tiếp cận của quản lý văn hóa sẽ giúp vấn đề nghiên cứu được giải quyết đúng hướng, hiệu quả và toàn diện
Trang 14- Phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội học, trong đó có các phương pháp định tính và phương pháp định lượng, một số kỹ thuật của phương pháp này được sử dụng để đạt mục tiêu nghiên cứu gồm:
+ Phương pháp nghiên cứu trường hợp nhằm xác định vị trí, vai trò của từng di sản tư liệu trong quá trình phát huy giá trị di sản tại địa phương
+ Phương pháp khảo sát, điền dã: thâm nhập thực địa, ghi chép, chụp hình làm rõ những giá trị tiềm ẩn, xác định cụ thể vấn đề nghiên cứu, thực trạng quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản NCS trực tiếp thực hiện khảo sát tại Cục Văn thư lưu trữ, Trung tâm Lưu trữ (Hà Nội và Đà Lạt), Văn Miếu – Quốc Tử Giám (Hà Nội), chùa Vĩnh Nghiêm (Bắc Giang), Cố đô Huế, thư viện dòng họ Phúc Giang và Bảo tàng Hà Tĩnh
+ Phương pháp thống kê: thu thập, tổng hợp, trình bày, phân tích các số liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu về thực trạng tồn tại, phương án bảo vệ, biện pháp phát huy các yếu tố nhân lực, vật lực đối với 6 di sản tư liệu được UNESCO ghi danh ở Việt Nam, nhằm phục vụ cho quá trình phân tích các luận điểm được trình bày trọng luận án
- Phương pháp chuyên gia: tham khảo ý kiến, thực hiện phỏng vấn chuyên sâu với 13 chuyên gia trong nước (gồm 6 địa phương có di sản được ghi danh) và quốc tế (Hàn Quốc và Trung Quốc) nhằm tìm hiểu sâu các vấn
đề về quản lý, kinh nghiệm bảo vệ và phát huy giá trị di sản tư liệu, từ đó, đề xuất một số các giải pháp và kiến nghị giúp di sản tư liệu phát huy hiệu quả trong đời sống xã hội hiện nay
- Phương pháp tổng hợp dữ liệu: sử dụng nhiều kiến thức khác nhau thuộc nhiều lĩnh vực để tập hợp và phân tích các thông tin tài liệu đã thu thập được, xây dựng các vấn đề có liên quan đến lý luận và thực tiễn, hiện trạng di sản và đề xuất các giải pháp đáp ứng mục tiêu đề ra
Trang 156 Đóng góp của luận án
* Về phương diện khoa học: trên cơ sở kế thừa những kinh nghiệm và
quan điểm đã có, đề tài góp phần hệ thống hóa một số vấn đề lý luận và thực tiễn trong công tác bảo vệ, phát huy giá trị di sản tư liệu ở Việt Nam
- Đưa ra một số ý kiến về khái niệm, học thuật về các vấn đề liên quan đến bảo vệ và phát huy giá trị di sản tư liệu trong tổng quan chung về di sản văn hóa nói riêng và công cuộc xây dựng, phát triển đất nước nói chung
- Trên cơ sở đánh giá thực trạng quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản tư liệu ở Việt Nam trên các trường hợp nghiên cứu cụ thể, đã xác định những bước hoàn thiện tiếp theo cho di sản này
* Về phương diện thực tiễn: dựa trên các kết quả của việc khảo sát,
phân tích, đánh giá thực trạng, Luận án sẽ giúp các cấp, các ngành xây dựng các chương trình, kế hoạch cụ thể nhằm quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản tư liệu có hiệu lực, hiệu quả; đưa ra các định hướng tầm vĩ mô, hoàn thiện hành lang pháp lý, tìm ra mô hình điều phối hiệu quả, không chồng chéo, xây dựng các tiêu chí cụ thể cho Danh mục di sản tư liệu quốc gia nhằm phát hiện các di sản tư liệu quý, có giá trị trình UNESCO ghi danh
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ DI SẢN TƯ LIỆU
ĐƯỢC UNESCO GHI DANH Ở VIỆT NAM 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Di sản tư liệu và các khái niệm liên quan
Di sản văn hóa luôn là một vấn đề được thế giới và Việt Nam quan tâm, chú trọng trong tiến trình phát triển văn hóa, kinh tế và xã hội nói chung Di sản văn hóa hình thành từ sự sáng tạo của con người, có giá trị trên nhiều lĩnh vực, lưu truyền qua nhiều thế hệ, được thế giới ghi nhận gồm di sản văn hóa vật thể, di sản văn phi vật thể và mới đây là di sản tư liệu
Năm 2001, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam ban hành Luật Di sản văn hóa, đến năm 2009, tiếp tục thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa khẳng định “Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý
giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân
dân ta” [51] Điều 1, Luật Di sản văn hóa quy định: “Di sản văn hóa bao gồm
di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [50]
“Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia” [50]
“Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác” [51]
Trang 17Theo Công ước về việc bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới của UNESCO năm 1972 (Công ước 1972) là Công ước đầu tiên đưa ra định
nghĩa, tiêu chí bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa và di sản thiên nhiên Đến năm 1992, Ủy ban di sản thế giới mới bổ sung và đưa ra khái niệm di sản hỗn hợp hay còn gọi là cảnh quan văn hóa để miêu tả các mối quan hệ tương
hỗ nổi bật giữa văn hóa và thiên nhiên của một số khu di sản [79] Theo báo cáo của UNESCO năm 2015, đã có 1.031 di sản, thuộc 163 quốc gia tham gia Công ước Di sản Thế giới 1972 được ghi danh là Di sản Thế giới (802 di sản văn hóa, 197 di sản thiên nhiên, 32 di sản hỗn hợp văn hóa và thiên nhiên)
Ngay từ thập niên 1950, trong quá trình triển khai hoàn thiện Công ước
1972, một số quốc gia đã manh nha xuất hiện một khái niệm di sản văn hóa mới: luật pháp Nhật Bản và Hàn Quốc đã quy định các tập quán “truyền thống” là “sản phẩm văn hóa” (Bourdier 1993, Ogino 1995, Jongsung 2003) Tại châu Âu, từ những năm 1980, các hình thức thể hiện của di sản đã chịu ảnh hưởng của các phạm trù như “di sản dân tộc học” ở Pháp (Chiva 1990,
Fabre 1997) hay “tài sản văn hóa dân gian - dân tộc học - nhân học” ở Ý (beni demoetnoantropologici) (Tucci 2005, Bravo; Tucci 2006) Nhằm phát huy
Công ước 1972 và dung hòa với loại hình di sản văn hóa đang hình thành, Chương trình Kiệt tác của nhân loại được khởi xướng, và 30 năm sau, Công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO năm 2003 (Công ước 2003) chính thức ra đời, là một bước tiến mới về tư duy của nhân loại trong nhận thức, phương pháp tiếp cận và nhận diện cũng như hướng đến mục tiêu chung là bảo vệ và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể - bộ phận quan trọng cấu thành kho tàng DSVH của nhân loại
Và tiếp nối cho việc hoàn thiện các mảnh ghép nội hàm của di sản văn
hóa, xuất phát từ nhu cầu ngày càng tăng về việc bảo vệ và tiếp cận những di
sản tài liệu quý hiếm có nguy cơ bị xâm hại và mai một, tồn tại trong lòng di
Trang 18sản vật thể và di sản phi vật thể tại nhiều nước và khu vực trên thế giới, một khái niệm mới được thai nghén và bước đầu được quan tâm khi UNESCO
khởi xướng Chương trình Ký ức Thế giới (MOW) vào năm 1992 Chương
trình MOW ra đời nhằm ghi nhận những di sản tài liệu có giá trị, mang tầm quan trọng cấp quốc tế, khu vực và quốc gia, đồng thời hướng sự chú ý của thế giới tới việc gìn giữ các sưu tập tài liệu quý, hiếm và tạo điều kiện thuận lợi cho việc bảo tồn và tiếp cận chúng Chương trình này bổ sung và liên kết với các Chương trình, Khuyến nghị và Công ước khác của UNESCO, như:
Danh sách Di sản thế giới xác định các công trình và địa danh mà những địa
điểm đó có thể cũng là nơi lưu giữ hay có liên quan tới việc tạo ra các di sản
tư liệu; khuyến nghị gìn giữ và bảo tồn những hình ảnh động khuyến khích
việc lưu chiểu có tổ chức những di sản phim của thế giới tại các cơ quan lưu trữ Nhà nước; hay sự kế thừa những tiêu chí bổ sung các tài sản văn hóa vào
Danh mục di sản thế giới (Công ước 1972), tiêu chí để công bố các kiệt tác di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại (Công ước 2003)
Theo định nghĩa của UNESCO, “Ký ức thế giới là những hồi ức của các dân tộc trên thế giới được chọn lọc và ghi lại bằng tư liệu, ghi lại sự phát triển về tư tưởng, những khám phá và thành tựu của xã hội loài người Những
di sản tư liệu này đại diện cho một bộ phận lớn di sản văn hóa thế giới Đó là
di sản của quá khứ để lại cho thế giới trong hiện tại và tương lai” [82]
Đối với UNESCO, tư liệu là “những văn bản” hay “những ghi chép lại” một điều gì đó bởi mục đích trí tuệ có chủ ý [82] Một tư liệu
có hai thành phần: nội dung thông tin và vật mang nội dung thông tin Cả hai thành tố này đều rất đa dạng và quan trọng như nhau với
vai trò là các bộ phận của ký ức Được sản sinh trong các hoạt động
của con người, tư liệu có thể là biểu tượng của và có các tính năng liên quan đến bộ nhớ tập thể của một cộng đồng, quốc gia, khu vực
Trang 19hoặc xã hội, phản ánh sự đa dạng của các dân tộc, các nền văn hóa
và ngôn ngữ và trở thành một phần di sản của nhân loại
Tư liệu là một khái niệm tương đối rộng, là những thông tin rút ra từ tài liệu viết tay, in ấn, từ các đồ vật như: công cụ sản xuất, công trình kiến trúc, phim ảnh, băng hình, internet… và là những thông tin sống động từ con người
Có thể phân loại tư liệu theo tiêu chí: theo hình thức (văn tự và phi văn tự), tính chất tồn tại (động và tĩnh), chất liệu (tự nhiên và phi tự nhiên)…
Di sản tư liệu bao gồm các yếu tố sau:
- Có thể di chuyển được (không bao gồm những hiện vật là một phần của một công trình cố định như một tòa nhà hay một địa điểm
tự nhiên, những vật thể có các ký hiệu hay mật mã có tính chất tình
cờ liên quan đến mục đích của chúng, hay vật được thiết kế dưới dạng “bản gốc” không được sao chép như những bức tranh, những vật có tính ba chiều hoặc vật thể nghệ thuật…mặc dù vậy, một số tư liệu như những bản khắc, những chữ khắc trên đá, và những bức tranh đá là những tư liệu không di chuyển được);
- Được tạo nên từ các ký hiệu/mật mã, âm thanh và/hoặc hình ảnh;
- Có thể bảo quản được (vật mang tin không phải là vật thể sống);
- Có thể được sao chép và di trú được;
- Là sản phẩm của một quá trình lập tài liệu có chủ ý [82]
Hiện tại, di sản tư liệu được UNESCO ghi danh rất đa dạng, gồm:
Các tư liệu được thể hiện ở dạng văn bản như: sách báo, bản thảo,
công văn trao đổi, tài liệu làm việc, các file trên máy tính Nội dung văn bản có thể được ghi lại bằng mực, bút chì, sơn, kí số hoặc các phương tiện khác Vật mang tin có thể là giấy, nhựa, cói, da, lá,
vỏ cây, vải, đĩa cứng
Trang 20Có tư liệu lại được thể hiện ở dạng phi văn bản như các bản vẽ,
biểu đồ, bản đồ, bản tổng phổ nhạc, bản thiết kế, đồ họa
Các tư liệu dạng nghe nhìn như: ảnh, băng, đĩa được ghi lại ở bằng
phương tiện cơ học, kỹ thuật số, điện tử hoặc các phương tiện khác
Các tư liệu dạng ảo được chứa trong các máy chủ, trong các đĩa
cứng mà nội dung là những dữ liệu điện tử [24]
Di sản tư liệu có thể là một tài liệu độc lập của bất kỳ thể loại nào, cũng
có thể là một nhóm tài liệu dưới dạng một bộ sưu tập tài liệu, một khối tài liệu hoặc một hệ thống lưu trữ Một bộ sưu tập tài liệu là một bộ các tài liệu được lựa chọn một cách riêng biệt Một khối tài liệu bao gồm một hoặc nhiều bộ sưu tập tài liệu được một cơ quan, tổ chức hay một cá nhân nào đó lưu trữ hay nhiều hệ thống lưu trữ hoặc nhóm hồ sơ do một cơ quan lưu trữ nào đó lưu giữ Phần lớn các hồ sơ tài liệu có liên quan tới các vấn đề của địa phương, vùng miền, quốc gia và đôi khi là vấn đề khu vực [23]
Di sản tư liệu bao gồm 02 yếu tố hợp thành: trạng thái tồn tại vật chất (như là hiện vật của bảo tàng hay yếu tố của di tích) và nội dung tài liệu (gần giống như di sản phi vật thể), trong đó, giá trị nội dung mang yếu tố quyết định Ở Việt Nam, di sản tư liệu còn tồn tại được trên các chất liệu truyền thống: lá, gỗ, vải, bia đá, đất nung, giấy, lụa với chủ yếu là tư liệu dưới dạng bản thảo, văn bản, tài liệu làm việc, kinh Phật, sách giáo khoa, luật lệ, bảng ghi danh…
Hiện nay, ở Việt Nam, vẫn còn lưu giữ được các tư liệu rất có giá trị về nội dung và phong phú về loại hình chất liệu, như: kinh Phật trên lá buông (An Giang), nhiều văn bia trên đá (Hà Nội, Hải Dương, Ninh Bình…), mộc bản (Bắc Giang, Hà Tĩnh, Huế…), trên giấy ở nhiều nơi trên toàn quốc… Từ năm 2009 đến nay, Việt Nam đã có 6 tư liệu đã được UNESCO ghi danh vào Chương trình Ký ức Thế giới, trong đó, có 02 di sản tư liệu thế giới và 4 di
Trang 21sản tư liệu khu vực Châu Á – Thái Bình Dương có giá trị tiêu biểu về nội dung trên các chất liệu: gỗ, đá và giấy
Ở nước Nga, theo tiêu chuẩn quốc gia đầu tiên về thuật ngữ GOST
16487-70 và Tiêu chuẩn GOST 16487-83: Văn thư và công tác lưu trữ Các thuật ngữ và định nghĩa, thuật ngữ “tài liệu” đã được định nghĩa như là “đối
tượng vật chất cùng với thông tin được ghi nhận bởi con người, bởi phương pháp để truyền nó trong thời gian và không gian” [86]
Cần phải nói thêm rằng, tài liệu còn có hai đặc điểm phân biệt nữa Thứ nhất, thông tin chứa đựng trong tài liệu nhờ sự tham gia sáng tạo của con người, vì vậy tài liệu phản ánh quá trình quản lý hay hoạt động cá nhân; tài liệu không chỉ đơn giản là tập hợp các dữ liệu mà còn là kết quả hoặc là sản phẩm của một sự kiện nào đó Thứ hai, một thành phần mang tính pháp lý của tài liệu - khả năng dùng làm bằng chứng của nó đóng vai trò không kém phần quan trọng trong hoạt động quản lý và hoạt động cá nhân Chính vì vậy, trong
tiêu chuẩn quốc tế ISO 15489: Thông tin và tài liệu, “tài liệu” được hiểu là
thông tin được tạo lập, tiếp nhận và lưu giữ bởi tổ chức hoặc cá nhân như là bản chứng nhận khẳng định trách nhiệm pháp lý hay hoạt động quản lý [69]
Có thể nói, di sản văn hóa là bước đi từ sáng tạo, đến tư liệu hóa, rồi phổ biến lưu truyền để được cộng đồng và xã hội tiếp nhận Tư liệu được hình thành rõ nét khi xuất hiện các ký tự, chữ viết, dựa trên nhu cầu trao đổi thông tin trong lao động, sản xuất, giao thương giữa cộng đồng và xã hội Những ký
tự thường dưới dạng biểu tượng, dần hoàn thiện phát triển thành chữ viết; ban đầu được thể hiện trên cát, trên vỏ, lá cây, và sau, được khắc trên đất nung,
đá, tre, gỗ, giấy, lụa…rồi được in, sao chép trên các chất liệu hiện đại như:
CD, VCD, microfilm… Do đó, di sản tư liệu chính là quá trình tư liệu hóa những sáng tạo văn hóa, là nhân tố quan trọng để thúc đẩy xã hội tiến lên thông qua sự kế thừa những tri thức hay kinh nghiệm từ đời này sang đời
Trang 22khác, từ thế hệ này, sang thế hệ khác, trở thành bản sắc văn hóa riêng của quốc gia, dân tộc
Tại Khoản 2 Điều 2 Chương I, Pháp lệnh thư viện được thông qua năm
2000, ghi: “Tài liệu là một dạng vật chất đã ghi nhận những thông tin ở dạng thành văn, âm thanh, hình ảnh nhằm mục đích bảo quản và sử dụng” [61]
Điều 2 Chương I, Luật lưu trữ được thông qua năm 2011, ghi rằng: Tài liệu là vật mang tin được hình thành trong quá trình hoạt động
của cơ quan, tổ chức, cá nhân Tài liệu bao gồm văn bản, dự án, bản
vẽ thiết kế, bản đồ, công trình nghiên cứu, sổ sách, biểu thống kê;
âm bản, dương bản phim, ảnh, vi phim; băng, đĩa ghi âm, ghi hình; tài liệu điện tử; bản thảo tác phẩm văn học, nghệ thuật; sổ công tác, nhật ký, hồi ký, bút tích, tài liệu viết tay; tranh vẽ hoặc in; ấn phẩm
biểu về lịch sử, tư tưởng, văn hóa và khoa học” [27] Từ thực tiễn nghiên cứu,
bản thân là Thư ký đề tài Tiêu chuẩn Việt Nam, NCS nhận thấy khái niệm di sản tư liệu thực sự mới được quan tâm từ năm 2010, sau khi di sản tư liệu đầu tiên được UNESCO ghi danh đến nay vẫn chưa được chính thức được xuất hiện chính thức trong bộ luật nào của Việt Nam Việc đề xuất và thông qua định nghĩa di sản tư liệu trong TCVN 10382-2014 đã được các chuyên gia thuộc các cơ quan, đơn vị trong ngành, nhiều nhà khoa học thuộc Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia, Hội Di sản văn hóa, Viện Tiêu chuẩn Việt Nam , dựa trên định nghĩa di sản tư liệu của UNESCO và khái niệm di sản văn hóa của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật di sản văn hóa
Trang 23Có nhiều ý kiến cho rằng, di sản tư liệu là một thành phần của di sản văn hóa phi vật thể, “sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng ” [52] Điều đó có phần đúng nhưng chưa đủ, vì
di sản tư liệu lại có giá trị căn bản của một hiện vật bảo tàng hoặc di tích lịch
sử và văn hóa, tài liệu lưu trữ được biểu hiện bằng các thông điệp văn hóa đã được vật chất hóa trong bản thân chúng Có nghĩa là chúng có yếu tố phi vật thể trong tự thân Theo phân tích trên, di sản tư liệu là sản phẩm tinh thần được tư liệu hóa trên một vật mang tin, trong đó, có cả yếu tố vật thể và phi vật thể
Vì vậy, NCS đồng ý với phân tích và lấy khái niệm sau để làm khái niệm nghiên cứu luận án: Di sản tư liệu là loại hình di sản văn hóa hỗn hợp bao gồm cả yếu tố vật thể và phi vật thể gắn với cộng đồng hoặc cá nhân; là sản phẩm mang thông tin dưới nhiều dạng thức độc đáo, phản ánh thành tựu
về lịch sử, tư tưởng, văn hóa và khoa học
1.1.2 Bảo vệ và phát huy giá trị di sản tư liệu
Di sản văn hóa nói chung và di sản tư liệu nói riêng đều là tài sản của quá khứ để lại, lưu giữ dấu ấn thời gian nhưng cũng là đối tượng bị thời gian tàn phá, vì vậy, cần có các biện pháp bảo vệ thích hợp để gìn giữ lâu dài Điều
4 Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương (khóa VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc,
mục Bảo vệ và phát huy các di sản văn hóa nêu rõ: “Di sản văn hóa là tài sản
vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa Hết sức coi trọng bảo vệ, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian), văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể” [31]
Trang 24Công ước 1972 là Công ước quốc tế đầu tiên gắn khái niệm bảo vệ thiên nhiên với bảo vệ di sản văn hóa, mang đến một cách tiếp cận mới với những cơ sở pháp lý cần thiết, đảm bảo mối quan hệ cân bằng, hài hòa giữa con người với thiên nhiên, giữa quá khứ, hiện tại và tương lai Tại Điều 5 Công ước chỉ rõ:
a Đề ra một chính sách chung để trao cho di sản văn hoá và tự nhiên một chức năng nhất định trong đời sống tập thể và đưa việc bảo vệ di sản đó vào các chương trình của việc kế hoạch hoá chung;
b Thành lập trên lãnh thổ của mình (trong trường hợp chưa có) một hoặc một vài cơ quan bảo vệ, bảo tồn và tôn tạo di sản văn hoá và
tự nhiên, có số nhân viên thích hợp và có đủ phương tiện thực hiện các nhiệm vụ được giao;
c Phát triển các công trình nghiên cứu và tìm tòi khoa học - kỹ thuật và cải tiến các phương pháp can thiệp cho phép một quốc gia ứng phó với những tai hoạ đang đe doạ di sản văn hoá hay tự nhiên của nó
d Áp dụng các biện pháp luật pháp, khoa học - kỹ thuật, hành chính
và tài chính thích hợp để xác định, bảo vệ, bảo tồn, tôn tạo và tái sử dụng di sản đó;
e Tạo điều kiện thuận lợi cho việc thành lập hoặc phát triển các trung tâm quốc gia hoặc vùng về đào tạo cán bộ trong lĩnh vực bảo
vệ, bảo tồn và tôn tạo di sản văn hoá và tự nhiên, khuyến khích việc nghiên cứu khoa học về lĩnh vực này [79]
Tại Điều 2 Công ước 2003 ghi Bảo vệ là các biện pháp có mục tiêu
đảm bảo khả năng tồn tại của di sản văn hóa phi vật thể, bao gồm việc nhận diện, tư liệu hoá, nghiên cứu, bảo tồn, bảo vệ, phát huy, củng cố, chuyển giao, đặc biệt là thông qua hình thức giáo dục chính thức hoặc phi chính thức cũng
Trang 25như việc phục hồi các phương diện khác nhau của loại hình di sản này Điều
13 chỉ rõ:
(a) thông qua một chính sách chung nhằm mục đích phát huy vai trò của di sản văn hóa phi vật thể trong xã hội, và sát nhập việc bảo vệ loại hình di sản này vào các chương trình quy hoạch;
(b) chỉ định hoặc thành lập một hoặc nhiều cơ quan đủ năng lực bảo
vệ di sản văn hóa phi vật thể hiện có trên lãnh thổ mình;
(c) tăng cường nghiên cứu khoa học, kỹ thuật và nghệ thuật cũng như phương pháp luận về nghiên cứu nhằm bảo vệ có hiệu quả di sản văn hóa phi vật thể, đặc biệt là những di sản đang có nguy cơ thất truyền;
(d) thông qua các biện pháp phù hợp về pháp lý, kỹ thuật, hành chính và tài chính nhằm:
(i) tăng cường việc thành lập hoặc củng cố các cơ quan đào tạo về quản lý di sản văn hóa phi vật thể và theo đó là công tác truyền dạy những di sản này thông qua các diễn đàn và không gian dành cho việc trình diễn hay thể hiện chúng;
(ii) đảm bảo sự tiếp cận với di sản văn hóa phi vật thể trên cơ sở tôn trọng các tập tục, quản lý việc tiếp cận với các phương diện cụ thể của loại hình di sản này;
(iii) thành lập các cơ quan lưu trữ tư liệu về di sản văn hóa phi vật thể và tạo điều kiện cho mọi người tiếp cận chúng [80]
Có thể nói thông qua các Công ước 1972 và Công ước 2003 của UNESCO cho thấy, hoạt động các nội dung bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa (vật thể và phi vật thể) tập trung vào các vấn đề: xây dựng cơ chế chính sách, nghiên cứu nhận diện, kế hoạch bảo tồn để phát huy giá trị
Trang 26Theo Từ điển từ và ngữ Việt Nam (2000) của tác giả Nguyễn Lân, Nxb
TP Hồ Chí Minh, viết: “bảo tồn: giữ lại, không để mất đi”; “bảo vệ: giữ gìn cho khỏi bị hư hỏng”; “phát huy: làm cho tác dụng lan rộng ra hoặc phát triển
lên” Trong khuôn khổ của Chương trình Ký ức thế giới, bảo quản là toàn bộ
các biện pháp cần thiết nhằm bảo đảm khả năng tiếp cận lâu dài – vĩnh viễn của các di sản tư liệu [82]
Theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật di sản văn hóa năm 2009,
có quy định: “Bảo tồn di sản văn hóa là hoạt động nhằm đảm bảo sự tồn tại lâu dài, ổn định của di sản văn hóa” [52] “Bảo vệ và phát huy giá trị di sản
văn hóa phi vật thể là hoạt động quản lý, nghiên cứu, kiểm kê, sưu tầm, phân
loại, tư liệu hóa, thực hành, trình diễn, phổ biến, truyền dạy, phục hồi nhằm đảm bảo sự tồn tại lâu dài và ngăn ngừa nguy cơ làm mai một, thất truyền di sản văn hóa phi vật thể, để phát huy giá trị” [52]
Bảo vệ và phát huy di sản văn hóa là hai lĩnh vực thống nhất, tương hỗ, luôn gắn kết chặt chẽ biện chứng, chi phối ảnh hưởng qua lại trong hoạt động giữ gìn tài sản văn hóa Bảo vệ di sản văn hóa thành công thì mới phát huy được các giá trị văn hóa Phát huy cũng là một cách bảo vệ di sản văn hóa tốt nhất (lưu giữ giá trị di sản trong ý thức cộng đồng xã hội) Do vậy, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa là cơ chế chính sách, nghiên cứu, nhận diện, phân loại, bảo tồn để phát huy giá trị, nhằm đảm bảo sự tồn tại lâu dài và ngăn ngừa nguy cơ làm mai một hoặc mất đi của di sản dân tộc
Căn cứ theo nội dung bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa tại Công ước 1972 và Công ước 2003 của UNESCO, cùng với sự phân tích các vấn đề liên quan ở Việt Nam, NCS đưa ra khái niệm làm cơ sở nghiên cứu luận án như sau: bảo vệ và phát huy giá trị di sản tư liệu là hoạt động xây dựng cơ chế chính sách, nhận diện, phân loại, nhằm bảo vệ và phát huy giá trị di sản
Trang 271.1.3 Quan điểm về việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản tư liệu
* Quan điểm của UNESCO
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, văn hóa càng trở nên quan trọng trong mối liên hệ với ý nghĩa là “sức mạnh mềm” trong sức mạnh tổng hợp quốc gia Văn hóa có sức thâm nhập mạnh, có thể đạt được mục tiêu mà các biện pháp chính trị và quân sự khó đạt được Chính vì vậy, các quốc gia ngày càng chú ý nhiều đến các chủ đề văn hóa, như đa dạng văn hóa, đối thoại giữa các nền văn hóa - văn minh Kênh văn hóa được sử dụng như một phương tiện hiệu quả hỗ trợ thúc đẩy quan hệ chính trị, an ninh, kinh tế, Ở phạm vi toàn cầu, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) là điển hình của việc tuyên truyền ngoại giao văn hóa với vai trò trung tâm là điều phối các hoạt động ngoại giao văn hóa tập thể, bao gồm 193 quốc gia thành viên, có trụ sở chính đặt tại Thủ đô Pa - ri (Pháp), với hơn 50 văn phòng đại diện và một số viện, trung tâm trực thuộc, đặt khắp nơi trên thế giới
Từ những năm 90 của thế kỷ XX, UNESCO đã đưa khuyến nghị các quốc gia nên bảo quản và phát huy di sản chữ viết của dân tộc có trong các thư viện, các kho lưu trữ, đảm bảo sự tiếp cận và phổ biến chúng rộng rãi hơn
Người ta thường nghĩ rằng di sản tư liệu được lưu giữ trong
các viện bảo tàng, cơ sở lưu trữ và thư viện, nhưng Ký ức thế giới
lại không bị giới hạn bởi các dạng cơ quan, tổ chức hay nghề nghiệp Di sản có thể nằm trong sự quản lý và bối cảnh của các khuôn khổ xã hội và cộng đồng khác nhau, và bối cảnh đó có thể liên quan tới sự tồn tại, tính an toàn và khả năng tiếp cận của di sản
tư liệu Một số loại di sản tư liệu có mối liên hệ bên trong với những địa điểm, công trình kiến trúc hay những địa điểm, công trình kiến trúc hay những cộng đồng có liên kết về mặt địa lý, sẽ quyết định trước địa điểm và cách thức bảo quản tư liệu Trong một
Trang 28số trường hợp việc liên kết công tác bảo tồn và tiếp cận di sản tư
liệu với các Chương trình khác của UNESCO như Danh sách di sản thế giới sẽ là rất hợp lý, trong khi ở một số trường hợp khác, việc
khuyến khích và trao quyền cho các cơ quan, tổ chức hay cộng đồng trong việc chăm sóc di sản tại chỗ sẽ thích hợp hơn [82]
UNESCO cho rằng phần lớn di sản Ký ức Thế giới được cất giữ tại thư
viện, phòng lưu trữ, bảo tàng, di tích cũng như ở nhiều nơi khác trên toàn cầu Rất nhiều trong số đó đang bị nguy cơ mất đi Di sản tư liệu của nhiều dân tộc
bị phân tán bởi sự chuyển rời ngẫu nhiên hay cố ý trong việc cất giữ và sưu tầm tài liệu, do sự tàn phá của thiên nhiên, chiến tranh hay các hoàn cảnh lịch
sử khác Mỗi ngày lại có một phần không thể thay thế được của những hồi ức này biến mất vĩnh viễn Chương trình Ký ức thế giới (MOW) về Di sản tư liệu đưa ra 4 quan điểm mục tiêu và được các quốc gia hưởng ứng:
- Tạo điều kiện bảo tồn các di sản tư liệu bằng những kỹ thuật thích hợp Mục tiêu này có thể được thực hiện bằng những hỗ trợ thực tế
trực tiếp, bằng cách phổ biến những cố vấn, thông tin cũng như khuyến khích đào tạo hoặc bằng cách liên kết các nhà tài trợ với những dự án đúng lúc và thích hợp
- Hỗ trợ tiếp cận với các di sản tư liệu trên toàn cầu Mục tiêu này
bao gồm việc khuyến khích đưa các bản sao vào danh mục được số hóa xuất hiện trên internet cũng như công bố và phân phối sách, đĩa
CD, DVD và các sản phẩm khác một cách hợp lý và rộng rãi nhất Tại những nơi mà việc tiếp cận cần ý kiến của người quản lý, thì những ý kiến này được đảm bảo Hạn chế về luật pháp cũng như những hạn chế khác đối với việc tiếp cận tư liệu lưu trữ được công nhận Những vấn đề văn hóa nhạy cảm, bao gồm việc giữ gìn tài liệu của cộng đồng người bản xứ, sự giám sát của họ đối với việc
Trang 29tiếp cận, sẽ được tôn trọng Quyền sở hữu cá nhân được đảm bảo bằng Luật
- Nâng cao nhận thức trên toàn thế giới về sự tồn tại và tầm quan trọng của di sản tư liệu Các cách thức này bao gồm (nhưng không
hạn chế) việc phát triển hồ sơ đăng ký Ký ức Thế giới, truyền thông
và việc công bố thông tin và quảng bá các xuất bản phẩm Bảo tồn
và tiếp cận, về bản thân, không chỉ bổ sung cho nhau mà còn nâng cao nhận thức, vì tiếp cận đòi hỏi phải đẩy mạnh công tác bảo tồn Việc tạo các bản sao phục vụ việc tiếp cận nhằm giảm áp lực sử dụng những tài liệu bảo tồn được khuyến khích
- Cảnh báo chung các chính phủ, những người ra quyết định và công chứng rằng việc bảo tồn và tiếp cận các loại tư liệu cần nỗ lực
hơn nữa, đặc biệt là trong thời đại số, khi mà đang có các mức độ dân chủ thực sự trong việc sản sinh và tiếp cận với những tài liệu mới và tài liệu hiện có [82]
Không thể có một tiêu chuẩn đánh giá tuyệt đối về ý nghĩa văn hóa Vì thế, không có một mức độ cố định nào mà theo đó di sản tư liệu thỏa mãn được mọi yêu cầu đưa vào Danh mục Ký ức thế giới Vì vậy, việc lựa chọn để đưa vào danh mục sẽ dựa vào việc đánh giá các đặc điểm của di sản theo các tiêu chí lựa chọn, dựa trên tinh thần chung của bản Hướng dẫn, kết hợp với kết quả lựa chọn từ các di sản tư liệu đã được và không được đưa vào Danh
mục Các tiêu chí để được lựa chọn là di sản tư liệu thế giới gồm:
- Tính xác thực: nội dung thể hiện, nét đặc trưng và xuất xứ có thể xây dựng trên sự tin cậy hay không
- Ý nghĩa quốc tế: tính độc đáo/duy nhất và tính không thể thay thế
- Những tiêu chí riêng: thời gian/ địa điểm/ con người/ chủ đề và đề tài/ hình thức và thể loại/ ý nghĩa xã hội, tinh thần và cộng đồng
Trang 30- Thông tin ngữ cảnh (không phải tiêu chí lựa chọn, chỉ hỗ trợ): tính chất hiếm có/tính toàn vẹn/sự đe dọa, mức độ nguy hiểm/kế hoạch quản lý [82]
Di sản tư liệu có thể bị đưa ra khỏi Danh mục trong các trường hợp nó
bị giảm giá trị hoặc tính toàn vẹn của nó bị xâm phạm tới mức độ không còn đáp ứng được các tiêu chí lựa chọn mà việc công nhận đã từng dựa vào đó Việc xóa bỏ cũng có thể được thực hiện nếu có những thông tin mới đòi hỏi phải đánh giá lại việc công nhận và cho thấy sự không đủ tư cách đáp ứng các tiêu chí của nó
Tính đến năm 2015, việc ban hành văn bản Hướng dẫn chung về bảo vệ
di sản tư liệu từ phía UNESCO cũng chưa chính thức trở thành Công ước và Điều ước, dự tính năm 2017, mới đưa Hướng dẫn lên thành Khuyến nghị, rồi từng bước thực hiện hiệu quả, có tính quốc tế cao để tiến tới thông qua thành Công ước được cam kết thực hiện với các quốc gia trên toàn thế giới Quan điểm của UNESCO tập trung nhấn mạnh vào việc nâng cao nhận thức, chia sẻ
và hỗ trợ giữa các quốc gia trong việc nhận diện, bảo vệ và phát huy giá trị di sản này trên toàn thế giới
* Quan điểm của Việt Nam
Việc bảo vệ di sản tư liệu đã được các thế hệ ông cha quan tâm trong suốt chiều dài của lịch sử, từ việc gìn giữ trong các di tích, thư viện, kho lưu trữ đến ngay cả các dòng họ trên toàn quốc
Đề cương Văn hoá Việt Nam ra đời năm 1943, trong tình thế lịch sử sôi sục
ấy nhằm mục đích trực tiếp và cao cả nhất là giành độc lập, tự do cho dân tộc;
và với một quan niệm rất rõ là có cứu được dân tộc thì mới cứu được văn hóa dân tộc Đó chính là nội dung quan trọng, cơ bản và đầu tiên của Đề cương
Nó được ghi ở vị trí số 1 trong ba nguyên tắc: Dân tộc hóa, Đại chúng hóa, Khoa học hóa [14] Ngày 23 tháng 11 năm 1945, ngay sau khi tuyên bố độc lập,
Trang 31Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 65 về Bảo tồn cổ tích trên toàn cõi Việt Nam Sắc lệnh khẳng định quan điểm đúng đắn của Chính phủ đối với vai trò
và ý nghĩa quan trọng của di tích trong công cuộc kiến thiết đất nước Điều thứ tư đã nhấn mạnh: “Cấm phá huỷ những đình chùa, đền, miếu hoặc những nơi thờ tự khác, những cung điện, thành, quách cùng lăng mộ chưa được bảo tồn Cấm phá huỷ những bi ký, đồ vật, chiếu sắc, văn bằng, giấy má, sách vở
có tính sách tôn giáo hay không, nhưng có ích cho lịch sử mà chưa được bảo tồn” [20] Điều đó đã chứng tỏ, di sản tư liệu cũng đã được đưa vào trong diện bảo tồn ngay từ những năm đầu độc lập Trải qua các giai đoạn lịch sử, Đảng
và Nhà nước ta luôn quan tâm, chú trọng đến công tác bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa của dân tộc
Từ Đại hội Đảng lần thứ VI, VII, VIII, IX đến Đại hội XI, vấn đề xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống (trong đó có di sản tư liệu) ngày càng được quan tâm Đặc biệt, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ 5
(khóa VIII) đã ban hành Nghị quyết Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc Nghị quyết đã khẳng định:
Văn hóa Việt Nam là thành quả hàng nghìn năm lao động sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam,
là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới để không ngừng hoàn thiện mình, văn hóa Việt Nam đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc [34]
Từ những năm 90 của thế kỷ XX, UNESCO đã đưa khuyến nghị các nước nên bảo quản và phát huy di sản chữ viết của dân tộc có trong các Thư viện, các kho lưu trữ, đảm bảo sự tiếp cận và phổ biến chúng rộng rãi hơn Việt Nam là một trong hơn 100 nước đã ký tham gia Chương trình MOW Chúng ta đã có nhiều hoạt động tích cực như tiến hành việc lựa chọn và tổ chức các kho bảo quản sách báo, tài liệu
Trang 32lưu trữ; chuyển dạng những tài liệu quý hiếm từ giấy sang phương tiện bền vững hơn; công bố những tác phẩm tiêu biểu để nhân dân sử dụng và tham gia bảo quản, tích cực xây dựng các hồ sơ ghi danh di sản tư liệu thế giới Tuy nhiên, đối với di sản tư liệu của nước ta, còn nhiều điều đáng bàn, đáng làm nhằm tiếp tục Chương trình MOW này như vấn đề xây dựng chính sách quốc gia về bảo vệ và phát huy giá trị di sản, vấn đề xã hội hoá công tác bảo tồn, vấn đề xây dựng xã hội đọc và tôn vinh văn hoá đọc
Trong nhiều năm gần đây, các vấn đề về lý luận và thực tiễn hoàn thiện hành lang pháp lý đối với việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa đã được Việt Nam rất quan tâm Bên cạnh việc tuân thủ, tham khảo các văn bản của UNESCO, ICOM, ICOMOS, IFLA, MOW và các quốc gia tương đồng văn hóa, Việt Nam đã xây dựng 1 hệ thống các văn bản về quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản hóa bắt kịp tương đối với sự phát triển chung của toàn
xã hội Sau nhiều năm nghiên cứu, thu nhận về mặt lý luận cùng kết hợp với
hoạt động thực tiễn, năm 2001, Luật di sản văn hóa đã được Quốc hội Việt
Nam phê chuẩn đánh dấu một bước ngoặt lớn trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa Luật Di sản văn hoá được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khoá X kỳ họp thứ 9 thông qua đã khẳng định “Di sản văn hoá Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam
và là một bộ phận của Di sản văn hoá nhân loại, có vai trò to lớn trong sự
nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta” [50] Nghị quyết Hội nghị lần
thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã xác định 10 nhiệm vụ về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Trong đó nhiệm vụ thứ tư là bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa Nghị quyết đã chỉ rõ nội dung của nhiệm vụ này như sau:
Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa
Trang 33Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian), văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể
và phi vật thể Nghiên cứu và giáo dục sâu rộng những đạo lý dân tộc tốt đẹp
do cha ông để lại [34]
Đến năm 2009, Luật di sản văn hóa được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp
với xu thế phát triển mới của xã hội, di sản văn hóa phi vật thể được đưa vào các điều khoản đã giúp hoàn thiện thêm hành lang pháp lý Vào thời điểm đó,
di sản tư liệu mới được bước đầu tiếp cận nên chưa bắt kịp việc bổ sung vào
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật di sản văn hóa
Cục Di sản văn hóa đã đưa các thuật ngữ, định nghĩa về di sản tư liệu
và các vấn đề liên quan vào TCVN 2014, để trong thời gian tới sẽ bổ sung các điều khoản thêm vào luật di sản văn hóa Bên cạnh đó, việc nâng cao nhận thức của toàn xã hội, trên cơ sở các định hướng của Chính phủ và các cấp quản lý cũng đang được quan tâm và chú trọng
Trên thực tiễn, các quan điểm chung cho việc bảo vệ và phát huy giá trị
di sản tư liệu được UNESCO ghi danh tại Việt Nam đều chưa được định hướng cụ thể, vì vậy, việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản tư liệu đều phải dựa trên nguyên tắc hướng dẫn của UNESCO và các văn bản quy phạm chung
về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa của Việt Nam Để thực hiện được các quan điểm trên vào thực tế việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản tư liệu điều kiện cần có gồm:
Cơ chế chính sách chặt chẽ: trong đó hệ thống các quan điểm, định hướng được cụ thể hóa trên các văn bản quy phạm pháp luật, hướng dẫn thi hành việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản tư liệu Đây là tiêu chí quan trọng
và cần thiết thực hiện trong thời gian ngắn nhất vì trên thực tế hiện nay, Việt Nam hầu như thiếu rất nhiều
Trang 34Quy trình phối hợp chặt chẽ đối với các cơ quan quản lý các di sản dựa trên các tiêu chí rõ ràng, cụ thể về việc lựa chọn, xác nhận giá trị của các di sản tư liệu từ địa phương đến quốc gia và cuối cùng là trình UNESCO Chính
từ sự phối hợp hiệu quả với những tiêu chí công khai, việc đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên môn, đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội sẽ được hình thành
và định hướng tốt hơn
Các quy tắc về bảo vệ và phát huy giá trị di sản tư liệu được triển khai thiết thực về nội dung, đúng về quy trình, với sự chung tay của xã hội, chính quyền và cộng đồng địa phương với các nguồn lực kinh tế từ ngân sách, vốn đối ứng, xã hội hóa Kết quả trên thực tế, được chứng minh bởi sự liên kết chặt chẽ đối với các di sản trong nước (xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu chung,
hệ thống quy tắc chung hoạt động bảo vệ, phát huy), đẩy mạnh việc tuyên truyền, quảng bá, hợp tác quốc tế, chia sẻ kinh nghiệm với các quốc gia trên thế giới cùng tham gia Chương trình Ký ức thế giới
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị
di sản tư liệu
Tính đến năm 2016, Việt Nam đã được UNESCO công nhận 08 di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới (02 di sản được công nhận lần 2 là Vịnh Hạ Long và Phong Nha – Kẻ Bàng), 11 di sản văn hóa phi vật thể (02 di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp, 09 di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại) và 06 di sản tư liệu thế giới Đây thực sự là niềm tự hào nhưng cũng là thách thức không nhỏ trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản trong công cuộc phát triển kinh tế đất nước và hội nhập quốc tế
Để bảo vệ và phát huy gía trị có hiệu quả, có không ít các yếu tố ảnh hưởng và chi phối đến di sản, như:
* Yếu tố khách quan
Trang 35Những yếu tố bất khả kháng: thiên tai, hỏa hoạn, biến đổi khí hậu, chiến tranh, bạo động, rủi ro do con người (không có thói quen lưu trữ tư liệu,
bị mất trộm, buôn bán trái phép) hay những yếu tố mang tính chất thời đại:
sự mâu thuẫn giữa truyền thống và hiện đại, giữa bảo tồn và phát triển
Nguồn lực về tài chính: kinh phí cần thiết cho hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản tư liệu (Nhà nước, tư nhân và xã hội hóa) Nguồn lực đầu tư của Nhà nước cho văn hóa là thấp so với các ngành khác, Chương trình mục tiêu quốc gia cho việc bảo vệ di sản cũng bị cắt giảm, nguồn xã hội hóa và tư nhân hiện nay chưa được định hướng nên chưa hiệu quả
Nguồn lực vật chất (tài sản): trang thiết bị, phương tiện, nguyên vật liệu…đi kèm cùng các Chiến lược ứng dụng công nghệ thông tin, khả năng
xử lý kỹ thuật, phối hợp, chia sẻ…của tổ chức thực hiện chức năng bảo vệ và phát huy giá trị di sản tư liệu
di sản tư liệu trên toàn quốc
- Các tiêu chí lựa chọn và ghi danh để xếp hạng danh mục quốc gia làm
cơ sở cho việc đệ trình di dản tư liệu thế giới dựa trên việc nhận thức đúng cơ hội và thách thức trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản tư liệu
* Yếu tố con người bao gồm các thành phần chính: những người làm
công tác nghiên cứu, quản lý, chuyên môn và cộng đồng có liên quan đến di sản Đây là yếu tố tác động không nhỏ trong việc bảo tồn và phát huy giá trị
di sản tư liệu trong thực tiễn xã hội
Trang 36Theo Phụ lục Danh sách các di sản tư liệu được UNESCO ghi danh của khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, NCS nhận thấy có đến hơn 70% các di sản tư liệu được ghi danh thuộc sự quản lý của các cơ quan/tổ chức nhà nước (như trung tâm lưu trữ, thư viện, bảo tàng, di tích), 18% do cộng đồng điều phối và số còn lại thuộc sở hữu cá nhân/dòng họ [PL3]
Nhân lực triển khai việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản ngoài tâm huyết với di sản được sở hữu, cần có hiểu biết cơ bản về chính sách áp dụng, nhận diện, thông qua hình thức giáo dục chính thức hoặc phi chính thức để giúp việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản có hiệu quả
Tất cả các yếu tố trên đều quan trọng và mang tính quyết định cho việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản tư liệu thế giới hiện nay Những yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý di sản văn hóa, gồm: nhận thức của xã hội, đặc biệt là các cấp quản lý; cơ chế chính sách và hướng dẫn thực thi việc nhận diện, tư liệu hóa, nghiên cứu, bảo tồn, phát huy, củng cố, chuyển giao; năng lực của tổ chức/cá nhân có chức năng quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị
di sản; việc ứng dụng khoa học công nghệ vào hoạt động quản lý di sản; nguồn lực vật chất; lựa chọn các phương thức tiếp cận phù hợp; khuyến khích
sự tham gia của cộng đồng; khả năng liên kết các đối tượng có liên quan; kêu gọi sự hỗ trợ của các tổ chức và cá nhân… Các yếu tố trên là cơ sở để phân tích thực trạng hoạt động quản lý, từ đó đề xuất những giải pháp phù hợp nâng cao hiệu quả bảo vệ và phát huy giá trị di sản trong đó di sản tư liệu cũng không nằm ngoại lệ
Tóm lại, trong vấn đề bảo vệ và phát huy có hiệu quả giá trị di sản, ngoài sự vận động của cộng đồng, cơ quan quản lý nhà nước ở các cấp phải
có trách nhiệm tạo lập hành lang pháp lý, cơ chế, chính sách phù hợp, xây dựng các quy hoạch, kế hoạch cũng như các dự án liên quan đến hoạt động này Đồng thời nhà nước tạo điều kiện thực hiện các chương trình “giáo dục
Trang 37di sản”, tuyên truyền, phổ biến kiến thức, hiểu biết về pháp luật, giúp cho cộng đồng nhận diện sâu sắc hơn nữa về giá trị văn hóa mà họ đang nắm giữ
để nhận diện, bảo vệ và phát huy
1.2 Tổng quan về di sản tư liệu thuộc Chương trình Ký ức thế giới được UNESCO ghi danh ở Việt Nam
1.2.1 Khái quát về di sản tư liệu
Có thể nói di sản tư liệu đã được giới nghiên cứu khoa học quan tâm từ rất lâu và trên nhiều phương diện, góc độ khác nhau:
Đề tài nghiên cứu cấp Bộ Bảo tồn di sản thành văn cuả Thư viện Quốc gia Việt Nam (2007), do TS Lê Văn Viết – Phó Giám đốc Thư viện Quốc gia
Việt Nam làm Chủ nhiệm đã đề cập đến các vấn đề: về lý luận, hệ thống khái niệm, đưa ra thực trạng việc thu thập, sưu tầm, bảo quản và các giải pháp phát huy giá trị tư liệu thành văn tại Thư viện Quốc gia Việt Nam [91]
Trong Luận án tiến sĩ Lê Quý Đôn với sự phát triển của nền thư tịch Việt Nam (2008), Phạm Hồng Toàn cũng đề cập đến vấn đề khái niệm, quản
lý nền thư tịch Việt Nam, các nội dung về bảo quản thư tịch Hán Nôm, thư tịch quý hiếm, các kho sách báo Thư viện, các kho lưu trữ và kho tư liệu của các bảo tàng [75]
Bên cạnh đó, việc bảo tồn di sản văn hóa và di sản thành văn được nghiên cứu, đề cập trên nhiều khía cạnh ở một số các bài viết trên tạp chí
chuyên ngành như: Bảo vệ và phát huy di sản văn hóa – Lưu Trần Tiêu (Tạp chí Văn hóa - Nghệ thuật số 5) [73]; Văn học nghệ thuật truyền thống với phim truyện Việt Nam (2007) - Phan Bích Hà [39]; Vai trò của tư liệu Hán Nôm đối với di tích và danh lam thắng cảnh ở Việt Nam - Đinh Khắc Thuân (Tạp chí DSVH số 1/2002, trang 62) [71]; Bảo tàng với việc khai thác và phát huy di sản chữ Nôm - Nguyễn Kim Dung (Tạp chí DSVH số 8/2004, trang 107) [28]; Bảo tồn Di sản văn hóa làm bằng giấy - Trần Thị Thu Trang (Tạp
Trang 38chí DSVH số 1/2007, trang 99) [76]; Kho sách báo ở Thư viện Quốc gia Việt Nam - Một di sản văn hóa thành văn phong phú, quý giá - Nguyễn Thị Ngọc
Bích (Tạp chí TVQGVN số 4/2003, trang 78) [10]
Hướng dẫn chung về bảo vệ di sản tư liệu (2002, bổ sung năm 2014) -
Tài liệu dịch của UNESCO về Chương trình Ký ức Thế giới đề cập tới các khái niệm, cách tiếp cận, hoạt động và triển vọng trong tương lai các vấn đề bảo vệ và phát huy giá trị di sản tư liệu Việt Nam đã dựa vào văn bản này để xây dựng rất hiệu quả các hồ sơ đệ trình UNESCO xét công nhận di sản tư liệu, được các chuyên gia quốc tế đánh giá cao [82]
Ông Nguyễn Quốc Hùng – nguyên Phó Cục trưởng Cục Di sản văn hóa,
trong cuốn Truyền thống Việt Nam qua di sản văn hóa – Nhận thức, khám phá
và bảo tồn (2013), Hà Nội, đã đề cập tương đối toàn diện đến các vấn đề
nghiên cứu, quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa nói chung trong đó có các di sản thư tịch, văn bia, sắc phong trong các di tích và bảo tàng trên toàn quốc [45]
Hội nghị Khoa học quốc tế Việt Nam - Cu Ba tại Cục Văn thư và Lưu
trữ Nhà nước năm 2010 về Bảo tồn và phát huy giá trị các di sản tư liệu đã
mở ra cách nhìn rõ nét hơn về: Tổng quan về Chương trình Ký ức thế giới của UNESCO và hoạt động của Ban điều phối Chương trình Ký ức thế giới tại Việt Nam; giới thiệu quy trình, thủ tục lập hồ sơ đề cử Danh mục di sản tư liệu thế giới thuộc Chương trình Ký ức thế giới tại Việt Nam; kinh nghiệm bảo quản và phát huy giá trị các di sản tư liệu của các nước: Cu Ba, Trung Quốc, Hàn Quốc, Đức…; đánh giá công tác bảo quản và phát huy giá trị 02 di sản tư liệu của Việt Nam đã được UNESCO công nhận; giới thiệu các di sản
tư liệu quý, hiếm đang bảo quản tại một số Bảo tàng, Thư viện, Viện nghiên cứu, Trung tâm Lưu trữ… của Việt Nam; trao đổi, đề xuất các giải pháp nhằm
Trang 39nâng cao hiệu quả công tác bảo quản và phát huy giá trị các di sản tư liệu quý của Việt Nam đã và sẽ được UNESCO công nhận [23]
Tập huấn quốc tế tại Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước năm 2013 về
Xây dựng hồ sơ đề cử danh mục di sản tư liệu thuộc Chương trình Ký ức thế giới của UNESCO Các vấn đề được thảo luận với mục đích tạo điều kiện cho
cán bộ công tác tại các cơ quan lưu trữ, thư viện, bảo tàng, cơ sở văn hóa có
cơ hội học tập, chia sẻ kinh nghiệm với các chuyên gia trong nước và quốc tế
về Chương trình Ký ức thế giới và trao đổi kỹ năng xây dựng hồ sơ đề cử Danh mục Di sản tư liệu cấp khu vực và quốc tế cho các tài liệu có giá trị, như: Châu bản triều Nguyễn (1802-1945) – Cục Lưu trữ, Tài liệu lá buông – Sở Nộ
vụ An Giang, Lời tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh – Đài Tiếng nói Việt Nam, Cung oán ngâm khúc – Thư viện quốc gia Việt Nam [24]
Tập huấn quốc tế tại Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước năm 2015 về
"Kinh nghiệm đề cử danh mục di sản tư liệu Chương trình Ký ức thế giới của UNESCO " Tập huấn có sự tham gia và chia sẻ kinh nghiệm của các chuyên
gia trong lĩnh vực di sản tư liệu Chương trình Ký ức thé giới của UNESCO đến từ các quốc gia: Hà Lan, Thái Lan và Hàn Quốc Bên cạnh đó, là các báo cáo và đối thoại trên hồ sơ đề xuất cụ thể của chuyên gia Việt Nam, như: Phông Phủ Thống đốc Nam kỳ (1858 – 1945) – Trung tâm Lưu trữ quốc gia II, Thư văn trên kiến trúc cung đình Huế (1802 – 1945) – Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế, Mộc bản in sách giáo khoa ở Trường Lưu (1758 - 1788) - Bảo tàng Hà Tĩnh [25]
1.2.2 Các di sản tư liệu thuộc Chương trình Ký ức thế giới được UNESCO ghi danh ở Việt Nam
1.2.2.1 Mộc bản triều Nguyễn
* Đơn vị lưu giữ: Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV (thuộc quản lý của
Cục Văn thư và lưu trữ nhà nước), TP Đà Lạt
Trang 40Phạm Thị Huệ (chủ biên), Nguyễn Xuân Hoài, Phạm Thị Yến (2010),
Mộc bản triều Nguyễn - Chiếu dời đô và một số kiệt tác, Nxb Chính trị Quốc
gia, Hà Nội [44]… Tài liệu mộc bản triều Nguyễn được hình thành chủ yếu trong quá trình hoạt động của Quốc sử quán triều Nguyễn (được thành lập năm 1820 dưới thời vua Minh Mạng) tại Huế Ngoài ra, tài liệu này còn bao gồm cả những ván khắc in được tập hợp từ Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội) được đưa vào Huế và lưu trữ ở Quốc Tử Giám (Huế) dưới thời vua Minh Mạng và Thiệu Trị Bên cạnh đó, còn có một số xuất bản phẩm viết về giá trị nội dung, việc bảo vệ và phát huy giá trị Mộc bản triều Nguyễn như: Phan
Đình Nham (chủ biên), Nguyễn Xuân Hoài, Phạm Thị Huệ (2004), Mộc bản triều Nguyễn đề mục tổng quan, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội [58];
Nguyễn Huy Khuyến, Mộc bản triều Nguyễn từ Huế đến Đà Lạt, 2008, Số
cổ nhất Nam quốc sơn hà, các văn bản về các sự kiện lịch sử của hai quần đảo
Hoàng Sa, Trường Sa, chủ quyền biên giới Việt Nam, Lào, Campuchia…