1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Nhung pham chat can thiet tao nen tinh cach nha lanh dao

23 209 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 835,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN 1: MỞ ĐẦU2PHẦN 2: NỘI DUNG32.1. Khái niệm phẩm chất của người lãnh đạo32.2. Những giá trị đạo đức theo học thuyết Khổng tử32.2.1. Đức nhân32.2.2. Đức lễ42.2.3. Đức nghĩa52.2.4. Đức trí62.2.5. Đức tín72.2.6. Đức hiếu82.2.7. Đức trung92.3. Quan điểm “Nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm” của Hồ Chủ tịch102.4. Quan điểm của quản trị hiện đại về phẩm chất cần có của người lãnh đạo102.4.1. Về trình độ chính trị102.4.2. Về chuyên môn102.4.3. Về năng lực tổ chức112.5. Ba phẩm chất quan trọng nhất mà người lãnh đạo cần phải có (theo quan điểm cá nhân)132.5.1. Tự tin132.5.2. Khả năng kiềm chế152.5.3. Thành tín17PHẦN 3: KẾT LUẬN19

Trang 1

KHOA KINH TẾ & QTKD

SVTH: Nguyễn Thế Duy MSSV: 0014460146

Năm 2016

Trang 3

SVTH: Nguyễn Thế Duy – ĐHQTKD14-B2 1 GVHD: ThS Trương Minh Lễ

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN

Trang 5

SVTH: Nguyễn Thế Duy – ĐHQTKD14-B2 1 GVHD: ThS Trương Minh Lễ

MỤC LỤC

PHẦN 1: MỞ ĐẦU 2

PHẦN 2: NỘI DUNG 3

2.1 Khái niệm phẩm chất của người lãnh đạo 3

2.2 Những giá trị đạo đức theo học thuyết Khổng tử 3

2.2.1 Đức nhân 3

2.2.2 Đức lễ 4

2.2.3 Đức nghĩa 5

2.2.4 Đức trí 6

2.2.5 Đức tín 7

2.2.6 Đức hiếu 8

2.2.7 Đức trung 9

2.3 Quan điểm “Nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm” của Hồ Chủ tịch 10

2.4 Quan điểm của quản trị hiện đại về phẩm chất cần có của người lãnh đạo 10

2.4.1 Về trình độ chính trị 10

2.4.2 Về chuyên môn 10

2.4.3 Về năng lực tổ chức 11

2.5 Ba phẩm chất quan trọng nhất mà người lãnh đạo cần phải có (theo quan điểm cá nhân) 13

2.5.1 Tự tin 13

2.5.2 Khả năng kiềm chế 15

2.5.3 Thành tín 17

PHẦN 3: KẾT LUẬN 19

Trang 6

SVTH: Nguyễn Thế Duy – ĐHQTKD14-B2 2 GVHD: ThS Trương Minh Lễ

PHẦN 1: MỞ ĐẦU

Lãnh đạo là quá trình tác động đến con người sao cho họ cố gắng một cách tự nguyện

và nhiệt tình phấn đấu để đạt được các mục tiêu của tổ chức Lãnh đạo là nâng tầm nhìn của con người lên mức cao hơn, đưa việc thực hiện công việc đạt tới một tiêu chuẩn cao hơn, và phát triển tính cách của con người vượt qua những giới hạn thông thường

Nhà lãnh đạo là người đứng đầu doanh nghiệp Vai trò của họ ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển của doanh nghiệp Khi họ thực hiện tốt vai trò của mình, họ sẽ thúc đẩy doanh nghiệp phát triển Khi họ làm sai vai trò, họ sẽ kìm hãm sự phát triển của doanh nghiệp Trong điều kiện môi trường thay đổi nhanh như hiện nay, lãnh đạo càng trở thành chủ đề được quan tâm đặc biệt

Các nhà lãnh đạo kinh doanh giỏi không tự dưng sinh ra Nếu có ước mơ và khát vọng, bằng sự phấn đấu nỗ lực không ngừng của bản thân cũng như việc trau dồi kiến thức và kinh nghiệm lãnh đạo thì bất cứ ai có thể có cơ hội trở thành một nhà lãnh đạo thành công Vậy, nhà lãnh đạo thành công có những phẩm chất nào và phải đạt những yêu cầu gì? Sau đây ta

cùng tìm hiểu thông qua tiểu luận “Phân tích và bình luận những phẩm chất cần thiết để

tạo nên tính cách của một nhà lãnh đạo”

Trang 7

SVTH: Nguyễn Thế Duy – ĐHQTKD14-B2 3 GVHD: ThS Trương Minh Lễ

PHẦN 2: NỘI DUNG

2.1 Khái niệm phẩm chất của người lãnh đạo

Phẩm chất của người lãnh đạo là tổ hợp những đặc điểm, phẩm chất tâm lý ổn định tạo nên hai mặt Đức – Tài nhằm đảm bảo cho người lãnh đạo đạt được hiệu quả trong hoạt động khi thực hiện vai trò xã hội của mình

Phẩm chất của người lãnh đạo phải thôngq nhất giữa “cái bên trong” và “cái bên ngoài”; Đức – Tài là hai mặt thống nhất

2.2 Những giá trị đạo đức theo học thuyết Khổng tử

Xuất phát từ hiện thực xã hội Trung Hoa thời Xuân Thu và từ việc cho rằng, con người chỉ có thể có được nhờ giáo dục và giáo hóa bằng đạo đức, Khổng Tử đã đưa ra những chuẩn mực đạo đức cụ thể cho từng đối tượng và những quy tắc, cách thức tu dưỡng, rèn luyện đạo đức Khổng Tử cho rằng, có năm đức cơ bản là nhân, nghĩa, lễ, trí, tín và nhiều đức khác

nữa mà mỗi người cần phải tu dưỡng, học tập

2.2.1 Đức nhân

Hạt nhân trong tư tưởng đạo đức của Khổng Tử là “nhân” vì mọi đức khác đều là biểu hiện cụ thể của đức nhân Để tìm hiểu quan niệm của Khổng Tử về đức nhân thì trước hết chúng ta cần khảo sát một vài định nghĩa khác nhau về “nhân”

Trong tư tưởng đạo đức của Khổng Tử, phạm trù nhân là trọng tâm; người có nhân là chỉ con người có bản tính giống như người quân tử, đối lập với kẻ tiểu nhân; nhân là mục đích lớn nhất trong việc tu dưỡng đạo đức con người Trong sách Luận ngữ, Nhân được nhắc tới 109 lần và tuỳ từng đối tượng, tuỳ từng hoàn cảnh mà nhân được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau Theo nghĩa rộng nhất, nhân được hiểu là một chuẩn mực đạo đức, là nguyên tắc đạo đức Nó được coi là cái quy định bản tính con người thông qua lễ và nghĩa, quy định quan hệ giữa người với người từ trong gia tộc đến ngoài xã hội; với chính bản thân mình Nhân có quan hệ chặt chẽ với các phạm trù đạo đức khác như: nghĩa, lễ, trí, tín, làm nên

hệ thống các phạm trù đạo đức Nếu coi các phạm trù đạo đức của Khổng Tử là vòng tròn đồng tâm thì “nhân” là tâm điểm, là cái lõi bên trong bởi nó chỉ ra cái bản chất của con người

Nhân là chuẩn mực đạo đức cơ bản của con người Khổng Tử và học trò của ông luôn coi nhân như một tiêu chuẩn đạo đức cơ bản và cao nhất trong đạo làm người Khổng Tử cho rằng, dân cần điều nhân hơn cả cần nước và lửa Có nghĩa là, điều nhân phải là cái cần

có và được thực hiện trong tất cả mọi người từ vua xuống thứ dân Khi trả lời học trò của mình về nhân, ông luôn mong ước các học trò của mình phải rèn luyện, tu dưỡng để đạt được đức nhân và ứng dụng trong thực tiễn

Theo Khổng Tử, người cai trị có đức nhân là phải biết lo cho dân, huy động sức dân một cách hợp lý, chăm lo, dưỡng sức dân thì cuộc sống của dân mới bình an Người có lòng nhân phải biết phân biệt người chính đáng, những người trau chuốt, sắc diện, tư lợi là kém lòng nhân

Trang 8

SVTH: Nguyễn Thế Duy – ĐHQTKD14-B2 4 GVHD: ThS Trương Minh Lễ

Trong tư tưởng đạo đức của Khổng Tử, nhân còn gắn liền với người quân tử Nhân là thuộc tính cơ bản của người quân tử, do vậy nếu không có đức nhân thì không phải là quân

tử nữa Nhân bao gồm dũng (dũng cảm), thanh (trong sạch), hòa (không hiếu thắng, không khoe khoang, không oán giận), tài (trí tuệ) Người nhân biết yêu người, ghét người một cách chính trực, làm điều nghĩa, ghét điều lợi; có đức và có tài…

Đối với bản thân mình, theo Khổng Tử, người có đức nhân phải là người thực hiện theo đúng lễ Như trong Luận ngữ có viết: “khắc kỷ, phục lễ vi nhân” Nhân ở đây được biểu hiện ra là nhân cách, chỉ tư cách của con người Nhân là lòng yêu người nhưng tình cảm ấy phải là tình cảm tự nhiên, không khiên cưỡng, làm việc gì cũng ung dung, hợp với điều thiện Nhân an là niềm vui lớn của người có đức nhân Nhân chỉ sự nhân hậu, là thuỷ chung như nhất, trước sau như một, hứa là phải giúp Trong sách Luận ngữ, biểu hiện đức nhân của người quân tử là trong bữa ăn cũng không trái điều nhân, dù vội vàng cũng theo điều nhân,

dù hoạn nạn cũng phải giữ đạo nhân

Như vậy, nhân trong quan niệm của Khổng Tử là đạo lý làm người, vừa yêu thương người, vừa phải giúp đỡ mọi người Khổng Tử gọi người có nhân là quân tử, đối lập với kẻ tiểu nhân Quan niệm về nhân của Khổng Tử khác với quan niệm kiêm ái của Mặc Tử và thuyết từ bi của đạo Phật Kiêm ái trong quan niệm của Mạnh Tử là yêu thương hết thảy, không phân biệt thân sơ, địa vị, đẳng cấp Còn thuyết từ bi của đạo Phật thì chủ trương cứu vớt mọi người thoát khỏi bể khổ cuộc đời, khỏi vòng luân hồi, nghiệp báo và khuyên mọi người quên đi nỗi khổ trong cuộc sống hiện thực để được giải thoát trên cõi niết bàn Còn người nhân trong tư tưởng đạo đức của Khổng Tử là phải biết tìm mọi cách giúp con người

có cuộc sống vui vẻ, ý nghĩa hơn ngay trên cõi trần gian

Trong việc trị nước, Khổng Tử chủ trương thực hiện đường lối đức trị, dùng sức mạnh đạo đức cảm hoá con người, không coi trọng việc dùng pháp luật trong trị nước Khổng Tử dùng đường lối trị nước bằng đạo đức để xã hội được ổn định, con người với con người có quan hệ hòa hợp, xã hội trở thành một khối bền vững Trong Luận ngữ có chép rằng, khi Tử Trương hỏi về cách cai trị, Khổng Tử đáp rằng: “Trong tâm mình lúc nào cũng lo việc dân, việc nước chẳng biết mệt chán, và thi hành việc chi thì giữ niềm trung chính, hết tình”

2.2.2 Đức lễ

Khổng Tử quan niệm về lễ không chỉ mang ý nghĩa là lễ nghi mà còn bao hàm ý nghĩa đạo đức Lễ là những quy định về mặt đạo đức trong quan hệ ứng xử giữa người với người, mang ý nghĩa chính trị Nó là các phép tắc, những quy định buộc mọi người phải thực hiện Trong tư tưởng đạo đức của Khổng Tử, việc thực hiện lễ là rất quan trọng từ nhà vua tới dân thường Theo đó, mọi người trong xã hội phải tu dưỡng, rèn luyện, thực hiện lễ suốt đời Theo Khổng Tử, lễ là những quy định về mặt đạo đức trong quan hệ ứng xử giữa người với người Theo đó, con cái phải có hiếu với cha mẹ, bề tôi phải trung với nhà vua, vợ chồng phải có nghĩa với nhau, bạn bè phải giữ được lòng tin Những quy định này được coi là quy tắc bất di bất dịch mọi người phải nhất thiết tuân theo Lễ còn là trật tự, kỉ cương và phép nước mà mọi người phải tuân theo Khổng Tử đã đưa ra những khuôn phép rất chặt chẽ và

cụ thể từ suy nghĩ tới hành động của con người Mọi người thực hiện lễ không được thái quá

mà phải đúng mực Như sách Luận ngữ có dẫn rằng: “Cung kính quá lễ thành ra lao nhọc

Trang 9

SVTH: Nguyễn Thế Duy – ĐHQTKD14-B2 5 GVHD: ThS Trương Minh Lễ

thân hình, cẩn thận quá lễ thành ra nhát gan, dũng cảm quá lễ thành ra loạn nghịch, ngay thẳng quá lễ thành ra gắt gỏng, cấp bách” Như thế, lễ tiết là quy củ, là chuẩn mực của con người Ngoài ra, tuỳ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể, mọi người cần phải có cách hành xử cho phù hợp với lễ

Khổng Tử rất coi trọng việc thi hành lễ Như sách Luận ngữ có viết: “Lễ cốt ở kính, nghiêm nhưng quý ở điều hoà Lễ chỉ kính mà không có hòa, thành ra nghiêm khắc, khô khan Còn như giữ lễ mà chỉ có hòa thì hết nghiêm làm sao mà thành lễ? Vậy thì hành lễ vừa phải nghiêm kính, vừa hoà hảo mới được” Thực hiện lễ theo Khổng Tử, là phải thành tâm

và kính trọng thể hiện ở cả hình thức (sắc mặt, trang phục, cử chỉ …) và ở hành động Ông kịch liệt phê phán hành động thực hiện lễ chỉ ở hình thức Như Tể Ngã xin phép thầy chỉ để tang cha mẹ một năm, Khổng Tử mắng là bất nhân bởi không nhớ công sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ Khổng Tử luôn cho rằng, trong xã hội, giữ được lễ thì xã hội hữu đạo, thịnh trị còn nếu không giữ được lễ sẽ vô đạo, đại loạn Do vậy, lễ còn là một phạm trù chính trị, mang nội dung và mục đích chính trị nhằm duy trì trật tự xã hội phong kiến Theo đó, Lễ còn là công cụ để bảo vệ vương quyền, bảo vệ chế độ chính trị hiện hành

Do vai trò của lễ như trên, cho nên Khổng Tử yêu cầu trong lời nói cũng như việc làm phải theo lễ Như trong giáo dục, ông chủ trương: Trước học lễ nghĩa, sau học văn chương lục nghệ Chỉ khi con người biết lễ nghĩa và hành động theo lễ nghĩa thì họ mới có đạo đức, cuộc sống của con người mới bình yên, sau đó học văn chương lục nghệ để biết nhiều tri thức, tô điểm thêm nét đẹp cho cuộc sống Khổng Tử đòi hỏi mọi người từ nhà vua đến thường dân phải nghiêm khắc với mình từ những điều nhỏ nhặt nhất trong sinh hoạt hàng ngày đến những tình huống, hoàn cảnh phức tạp trong cuộc sống Ví như miếng thịt thái không vuông vắn thì ông không ăn, chiếu chải không ngay ngắn thì ông không ngồi Tuỳ từng hoàn cảnh cụ thể, Ngài ứng xử phù hợp đúng lễ

Như vậy, theo quan niệm của Khổng Tử, lễ được đề ra và với những yêu cầu rất khắt khe, tỉ mỉ Lễ trong tư tưởng đạo đức của Khổng Tử trở thành tiêu chuẩn cơ bản để đánh giá đạo đức và hành vi con người Từ đó, lễ có vai trò, sức mạnh rất lớn không chỉ là những lễ giáo, nghi thức, kỉ cương mà quan trọng hơn là đạo đức, bổn phận, nghĩa vụ con người phải sống đúng danh và thực, đúng lễ giáo, kỉ cương Và vì vậy, lễ đã huy động được dư luận của toàn thể xã hội biết quý trọng lễ, khinh ghét người vô lễ và đi vào lương tâm con người

2.2.3 Đức nghĩa

Đức nghĩa là một trong năm đức cơ bản trong tư tưởng đạo đức của Khổng Tử Nó đòi hỏi và thể hiện trách nhiệm của con người với nhau trong các mối quan hệ giữa người với người Xét về mặt đạo đức, nội hàm của đức “nghĩa” được hiểu: Nghĩa là lẽ phải, là điều nên làm, khuôn phép cho cách xử thế (làm việc nghĩa); quan hệ tình cảm tốt, trước sau như một (ăn ở với nhau có nghĩa: nghĩa vợ chồng) Như vậy, nghĩa là chuẩn mực, là điều hay lẽ phải

mà mọi người cần thực hiện để làm cho các quan hệ xã hội được tốt hơn

Tuy nhiên, trong tư tưởng đạo đức của Khổng Tử thì nghĩa không được giảng giải nhiều Song những lời dạy của ông đối với học trò cũng toát lên được nội dung cơ bản của nghĩa xét về phương diện đạo đức để giáo dục, giáo hóa nhân cách con người Theo đó, nghĩa là một trong những quy tắc, chuẩn mực đạo đức mà con người cần phải thực hiện

Trang 10

SVTH: Nguyễn Thế Duy – ĐHQTKD14-B2 6 GVHD: ThS Trương Minh Lễ

Nghĩa có quan hệ mật thiết với nhân Nó vừa là một biểu hiện của đức nhân, vừa là một trong năm chuẩn mực đạo đức của ngũ thường Mặc dù Khổng Tử ít bàn đến đức nghĩa nhưng luôn hành động theo đức nghĩa

Sách Luận ngữ đã cho thấy rõ rằng, trong các mối quan hệ xã hội của con người (nhân luân) như vua tôi, cha con, anh em, vợ chồng, bạn bè thì nghĩa thể hiện với tư cách là trách nhiệm Nếu nhân là tình cảm sâu sắc nhất của con người trong các mối quan hệ thì nghĩa là trách nhiệm thể hiện tình cảm đó, tức là mỗi người phải có nghĩa vụ, trách nhiệm và bổn phận của người đó với người khác trong mỗi mối quan hệ xã hội

Nghĩa còn bao gồm sự trả nghĩa, trả cái ân huệ mà người khác đã đem lại cho mình hoặc giúp mình qua cơn hoạn nạn: “Xả thân vì nghĩa”, không tiếc thân mình để giữ điều nghĩa Khổng Tử cho rằng, người ta hành động phải dựa vào nghĩa, điều gì nên làm thì làm, điều gì không nên làm thì không làm Người có đức nghĩa thấy việc phải làm mà không làm thì lương tâm cắn rứt, không yên

Theo Khổng Tử, người nhân muốn thực hiện điều nghĩa thì cần phải có “dũng” tức là lòng dũng cảm, phải dám hi sinh Người muốn làm điều nghĩa mà không có dũng thì không thể làm được Ngược lại, thấy việc nghĩa mà không làm thì không phải là người có dũng Con người có trách nhiệm, thực hiện tình cảm sâu sắc trong năm mối quan hệ xã hội của con người mà chỉ dừng lại trong ý thức, suy nghĩ thì chưa đủ mà còn cần phải có lòng dũng cảm,

ý chí sắt đá để thực hiện bằng được nhân nghĩa

Trong tư tưởng đạo đức của Khổng Tử, nghĩa thường đi cùng với lợi Bởi theo ông, người ta sinh ra và sống bằng nghĩa và lợi Lợi để nuôi thân thể, nghĩa để nuôi cái tâm Tâm

mà không có nghĩa không vui được, thân mà không có lợi thì không yên được, thân an không

có gì quý bằng cái tâm trong sáng, nuôi thân thể không có gì quý bằng cái nghĩa Và từ chỗ cho rằng, nghĩa nuôi người ta sống lớn hơn cái lợi, Khổng Tử và Nho giáo luôn coi trọng nghĩa hơn lợi Vì theo Khổng Tử, lợi có thể dẫn người ta tới những hành động phi nhân, phi đức và làm mất ổn định, an ninh và trật tự như tranh giành, đấu đá, người trên hại kẻ dưới,

kẻ dưới hại bề trên thì khi đó, gia đình và xã hội sẽ loạn

Để có đức nghĩa, theo Khổng Tử, con người cần phải luôn tu luyện, trau dồi cái đạo làm người, trong từng quan hệ giữa người với người và trong mọi hoàn cảnh Khổng Tử nói trong Luận ngữ: “Quân tử tinh tường về việc nghĩa, kẻ tiểu nhơn rành rẽ về việc lợi” Như vậy, nghĩa và lợi là tiêu chuẩn phân biệt mục đích hành động của người quân tử và kẻ tiểu nhân Người quân tử làm việc luôn hướng tới lợi ích, nhu cầu của người khác, làm việc nghĩa cho người nhưng ngược lại, kẻ tiểu nhân luôn đặt lợi ích của mình lên trên hết, mục đích làm việc tất cả chỉ để thoả mãn cái “lợi” của bản thân

2.2.4 Đức trí

Trong học thuyết đạo đức của Khổng Tử, đức trí có vị trí và vai trò rất quan trọng Đức trí là một trong năm đức lớn mà con người cần phải có để đạt được mục đích tu dưỡng thành con người hoàn thiện Trong sách Luận ngữ, Khổng Tử có nói đức trí: “Trí là biết người”

Trang 11

SVTH: Nguyễn Thế Duy – ĐHQTKD14-B2 7 GVHD: ThS Trương Minh Lễ

Trí là sự hiểu biết của con người, hiểu biết một cách rõ ràng về điều phải, trái trong mọi vấn đề Nói rộng hơn, trí là sự hiểu biết được đạo, mối quan hệ lớn nhỏ, rộng hẹp, trên dưới của con người với trời đất, vạn vật và với người khác trong thiên hạ

Một mặt, Khổng Tử tin rằng: tri thức bẩm sinh là tri thức thượng thặng, thượng trí, trời sinh ra đã có và không biến đổi Mặt khác, ông cho rằng, trí không phải ngẫu nhiên mà có,

nó là kết quả của quá trình học hỏi, tu dưỡng trong cuộc sống Học tức là đến gần với trí, nếu không học thì dù có thiện tâm đến đâu cũng bị cái ngu muội, phóng đãng, lầm lạc che khuất, làm biến chất

Theo Khổng Tử, người có trí phải biết chọn chỗ ở, chọn người hiền mà học hỏi như sách Luận ngữ có viết: “Người có trí nên chọn xóm có nhiều người nhân đức mà ở, tức ở gần người hiền mình được yên ổn, dễ bề tu học” Nếu chỉ có bậc thánh nhân là sinh ra đã biết thì theo Khổng Tử, người bình thường ngoài những cái bản tính tiên thiên do trời phú phải học mới biết được phải trái, thiện ác mới phân biệt được rõ ràng: “Chẳng phải ta sinh

ra là tự nhiên hiểu biết đạo lý, … ta cố gắng mà tầm học đạo lý (tức phải học mới biết)” Trong quan niệm của Khổng Tử, người có trí biết phân biệt phải trái, biết việc gì nên làm, việc gì không nên làm Người có trí rất quan trọng bởi theo Khổng Tử, “Đức trí chuyên làm việc nghĩa giúp người, kính trọng quỷ thần”, và người có trí biết rõ việc nghĩa và việc lợi, việc nên làm hay không nên làm Chính vì thế mà người trí luôn biết hành động đúng mới có thể là người có nhân, có nghĩa, có lễ Người có trí là một trong những nhân tố quan trọng nhất để đạt được đức nhân Muốn đạt được đức nhân phải có trí và dũng Khổng Tử cho rằng, con người phải hiểu biết, có trí tuệ mới thực hành đạo đức tốt được Muốn biết thì con người cần học hỏi

Khổng Tử hiểu rõ việc học là rất quan trọng, ông không ngừng học hỏi để có được hiểu biết rộng lớn Trí lực là cơ sở quan trọng để phân biệt phải trái, tốt xấu, không ngừng thúc đẩy nhân đức tăng lên Theo Khổng Tử, học hỏi để đạt được đức trí là rất quan trọng và

có ý nghĩa quyết định trong đối nhân xử thế Vì vậy, người có đức trí cần phải cách vật (hiểu biết rõ về sự vật, hiện tượng); trí tri (hiểu biết vấn đề phải đến nơi đến chốn); thành ý (chân thành trong ý thức); chính tâm (hiểu biết sự vật phải ngay thẳng, chính trực) Có như vậy thì người ta mới có thể “Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” được Nói chung, đức trí theo quan niệm của Khổng Tử là sự minh mẫn để phân biệt, đánh giá con người, sự vật, qua đó xác định cho mình cách ứng xử cho phải đạo Người có trí mới vươn tới được đức nhân, do vậy không thể là người nhân mà thiếu trí được

2.2.5 Đức tín

Tín là đức quan trọng thứ năm trong các chuẩn mực đạo đức của con người Tín ở đây

có nghĩa là lời nói và việc làm phải thống nhất với nhau; nó còn thể hiện ở lòng tin của con người với nhau Tín góp phần củng cố lòng tin cậy giữa người với người.Theo quan điểm của Khổng Tử, nội hàm của đức tín không chỉ bó hẹp trong mối quan hệ bạn bè mà còn bao hàm cả lòng tin vô hạn vào đạo lý của bậc thánh hiền, các mối quan hệ vua tôi, cha con, chồng vợ, … Theo ông, con người cần có nhân, nghĩa, lễ, trí thì mới gây dựng được lòng tin, mới thực hiện được đức tín Như vậy, đức tín là hệ quả của bốn đức: nhân, nghĩa, lễ, trí Người không có đức tín thì bốn đức trên cũng không thể tồn tại

Ngày đăng: 21/03/2017, 10:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w