Nghiên cứu xây dựng Quy hoạch Bảo vệ và Phát triển rừng theo đề án tái cơ cấu ngành lâm nghiệp đến năm 2020 của huyện Đoan Hùng tỉnh Phú Thọ (LV thạc sĩ)Nghiên cứu xây dựng Quy hoạch Bảo vệ và Phát triển rừng theo đề án tái cơ cấu ngành lâm nghiệp đến năm 2020 của huyện Đoan Hùng tỉnh Phú Thọ (LV thạc sĩ)Nghiên cứu xây dựng Quy hoạch Bảo vệ và Phát triển rừng theo đề án tái cơ cấu ngành lâm nghiệp đến năm 2020 của huyện Đoan Hùng tỉnh Phú Thọ (LV thạc sĩ)Nghiên cứu xây dựng Quy hoạch Bảo vệ và Phát triển rừng theo đề án tái cơ cấu ngành lâm nghiệp đến năm 2020 của huyện Đoan Hùng tỉnh Phú Thọ (LV thạc sĩ)Nghiên cứu xây dựng Quy hoạch Bảo vệ và Phát triển rừng theo đề án tái cơ cấu ngành lâm nghiệp đến năm 2020 của huyện Đoan Hùng tỉnh Phú Thọ (LV thạc sĩ)Nghiên cứu xây dựng Quy hoạch Bảo vệ và Phát triển rừng theo đề án tái cơ cấu ngành lâm nghiệp đến năm 2020 của huyện Đoan Hùng tỉnh Phú Thọ (LV thạc sĩ)Nghiên cứu xây dựng Quy hoạch Bảo vệ và Phát triển rừng theo đề án tái cơ cấu ngành lâm nghiệp đến năm 2020 của huyện Đoan Hùng tỉnh Phú Thọ (LV thạc sĩ)Nghiên cứu xây dựng Quy hoạch Bảo vệ và Phát triển rừng theo đề án tái cơ cấu ngành lâm nghiệp đến năm 2020 của huyện Đoan Hùng tỉnh Phú Thọ (LV thạc sĩ)Nghiên cứu xây dựng Quy hoạch Bảo vệ và Phát triển rừng theo đề án tái cơ cấu ngành lâm nghiệp đến năm 2020 của huyện Đoan Hùng tỉnh Phú Thọ (LV thạc sĩ)Nghiên cứu xây dựng Quy hoạch Bảo vệ và Phát triển rừng theo đề án tái cơ cấu ngành lâm nghiệp đến năm 2020 của huyện Đoan Hùng tỉnh Phú Thọ (LV thạc sĩ)
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN MẠNH HÙNG
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG QUY HOẠCH BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG THEO ĐỀ ÁN TÁI CƠ CẤU NGÀNH LÂM NGHIỆP ĐẾN 2020 CỦA HUYỆN ĐOAN HÙNG TỈNH PHÚ THỌ
LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM NGHIỆP
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN MẠNH HÙNG
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG QUY HOẠCH BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG THEO ĐỀ ÁN TÁI CƠ CẤU NGÀNH LÂM NGHIỆP ĐẾN 2020 CỦA HUYỆN ĐOAN HÙNG TỈNH PHÚ THỌ
Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60.62.02.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: TS VŨ THỊ QUẾ ANH
TS HỒ NGỌC SƠN
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là do tôi trực tiếp nghiên cứu và tổ chức thực hiện dưới sự hướng dẫn của
TS Vũ Thị Quế Anh - Bộ Khoa học và Công nghệ; TS Hồ Ngọc Sơn - Phó trưởng Khoa Lâm nghiệp, Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên
Các nội dung trích dẫn trong luận văn được trích dẫn từ những báo cáo, văn bản của huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ, chính sách của Nhà nước và các công trình khoa học trong và ngoài nước đã được công bố rộng rãi
Các số liệu, kết quả trong đề tài là trung thực và do bản thân tôi nghiên cứu, thu thập tại cơ sở và hiện trường
Phú Thọ, ngày 15 tháng 10 năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Mạnh Hùng
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp trong chương trình đào tạo Thạc sỹ Lâm nghiệp, chuyên ngành Lâm học tại Trường Đại học Nông lâm, tôi luôn nhận được sự ủng hộ và giúp đỡ quý báu của các thầy, cô giáo, các cơ quan, đơn vị, các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình
Nhân dịp này tôi xin chân thành cảm ơn:
۰ Ban giám hiệu, Khoa Lâm nghiệp, Phòng Đào tạo Sau đại học và toàn thể giáo viên trường Đại học Nông lâm đã giúp đỡ tôi hoàn thành khoá đào tạo
۰ TS Vũ Thị Quế Anh là người trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện luận văn
۰ TS Hồ Ngọc Sơn là hướng dẫn 2 giúp tôi thực hiện luận văn
۰ Chi cục Lâm nghiệp, Chi cục Kiểm lâm, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Tài nguyên và Môi trường, Uỷ ban nhân dân huyện Đoan Hùng, các phòng ban của huyện, Hạt Kiểm lâm Đoan Hùng, các lâm trường, trại, trung tâm, Công ty giống lâm nghiệp đóng trên địa bàn huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ, đã tạo mọi điều kiện để tôi thu thập tài liệu, hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè và người thân trong gia đình đã động viên, giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và hoàn thiện luận văn Chắc chắn luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, tôi mong muốn nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy, cô giáo và các đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn
Tôi xin trân trọng cám ơn !
Phú Thọ, ngày 15 tháng 10 năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Mạnh Hùng
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Ý nghĩa của đề tài 3
Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 5
1.1 Tái cơ cấu ngành lâm nghiệp 5
1.1.1 Khái niệm Tái cơ cấu ngành lâm nghiệp 5
1.1.2 Sự cần thiết phải tái cơ cấu ngành lâm nghiệp 5
1.1.3 Nội dung tái cơ cấu ngành lâm nghiệp 9
1.2 Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng gắn với Tái cơ cấu 12
1.2.1 Trên thế giới 12
1.2.2 Ở Việt Nam 16
1.2.3 Quy hoạch và phát triển lâm nghiệp với tái cơ cấu ngành ở huyện Đoan Hùng 26
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 27
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 27
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 27
2.2 Nội dung nghiên cứu 27
2.2.1 Đánh giá thực trạng quản lý, phát triển lâm nghiệp huyện Đoan Hùng 27
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
2.2.2 Đánh giá về điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong phát triển
lâm nghiệp của huyện Đoan Hùng 27
2.2.3 Quy hoạch Bảo vệ và Phát triển rừng theo đề án tái cơ cấu ngành lâm nghiệp huyện Đoan Hùng 27
2.2.4 Các giải pháp thực hiện quy hoạch 27
2.3 Phương pháp nghiên cứu 28
2.3.1 Phương pháp kế thừa có chọn lọc, thu thập các tài liệu nghiên cứu có liên quan đến đề tài 28
2.3.2 Sử dụng phương pháp bộ công cụ PRA 28
2.3.3 Phương pháp chuyên gia tư vấn 29
2.3.4 Điều tra khảo thực địa bổ sung 29
2.3.5 Phương pháp phân tích, tổng hợp số liệu 29
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30
3.1 Đánh giá thực trạng quản lý, bảo vệ và phát triển rừng huyện Đoan Hùng tỉnh Phú Thọ 30
3.1.1 Hiện trạng sử dụng đất huyện Đoan Hùng 30
3.1.2 Hiện trạng sử dụng đất lâm nghiệp huyện Đoan Hùng 31
3.1.3 Hiện trạng công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng 35
3.1.4 Tổ chức quản lý Nhà nước về lâm nghiệp 37
3.1.5 Kết quả các hoạt động sản xuất lâm nghiệp 38
3.2 Đánh giá về điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong phát triển lâm nghiệp của huyện Đoan Hùng 42
3.2.1 Những điểm mạnh 42
3.2.2 Những điểm yếu 42
3.2.3 Cơ hội 44
3.2.4 Thách thức 44
3.3 Quy hoạch Bảo vệ và Phát triển rừng theo đề án tái cơ cấu ngành lâm nghiệp huyện Đoan Hùng 45
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
3.3.1 Những căn cứ pháp lý, quy hoạch 3 loại rừng 45
3.3.2 Quy hoạch bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng 53
3.3.3 Quy hoạch cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và cơ sở chế biến 54
3.4 Các giải pháp thực hiện 55
3.4.1 Tuyên truyền, phố biến nâng cao nhận thức 55
3.4.2 Nâng cao chất lượng và giá trị rừng; Khoa học công nghệ và khuyến lâm 55
3.4.3 Phát triển công nghiệp chế biến gỗ và lâm sản ngoài gỗ 57
3.4.4 Sắp xếp bộ máy tổ chức quản lý ngành và đơn vị sản xuất 58
3.4.5 Giải pháp về bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng 58
3.4.6 Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 60
3.4.7 Mở rộng thị trường 60
3.4.8 Cơ chế chính sách 61
3.4.9 Huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn đầu tư 62
3.4.10 Giải pháp về các biện pháp kinh doanh rừng 63
3.4.11 Hiệu quả đầu tư 67
KẾT LUẬN - TỒN TẠI - KIẾN NGHỊ 72
1 Kết luận 72
2 Những tồn tại 73
3 Kiến nghị 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
PHỤ LỤC 80
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
DDNN : Doanh nghiệp nhà nước
ĐHLN : Đại học lâm nghiệp
HĐND : Hội đồng nhân dân
NN & PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn
NXBNN : Nhà xuất bản nông nghiệp
PCCCR : Phòng cháy chữa cháy rừng
PTNT : Phát triển nông thôn
SXKD : Sản xuất kinh doanh
SXLN : Sản xuất lâm nghiệp
SXNN : Sản xuất nông nghiệp
UBND : Uỷ ban nhân dân
VQG : Vườn Quốc gia
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Diễn biến rừng và đất lâm nghiệp - huyện Đoan Hùng 34
Bảng 3.2 Năng suất rừng trồng trên địa bàn huyện Đoan Hùng 35
Bảng 3.3 Kết quả trồng rừng - huyện Đoan Hùng 36
Bảng 3.4 Tổng hợp kết quả khai thác rừng trồng (2010 - 2014) 39
Bảng 3.5 Quy hoạch rừng đặc dụng Đoan Hùng theo đơn vị hành chính 48
Bảng 3.6 Quy hoạch rừng phòng hộ Đoan Hùng theo đơn vị hành chính 49 Bảng 3.7 Quy hoạch rừng sản xuất huyện Đoan Hùng 50
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, ngành lâm nghiệp tỉnh Phú Thọ nói chung và huyện Đoan Hùng nói riêng đã đạt được nhiều thành tựu khá toàn diện và to lớn, như: Tốc độ tăng trưởng khá cao và ổn định; đã hình thành vùng sản xuất tập trung gắn với chế biến; năng suất, chất lượng và độ che phủ rừng không ngừng được nâng lên (từ 35,9% năm 2000 tăng lên 50,6% năm 2014); bảo vệ và phát triển rừng là điều kiện quan trọng phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn miền núi, đóng góp vào sự phát triển kinh tế chung của tỉnh, đảm bảo an ninh lương thực; tạo việc làm và thu nhập cho dân cư nông thôn, góp phần xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Rừng đã đóng góp tích cực vào phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trường sinh thái Do đó, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lần thứ XVII xác định: phát triển kinh tế lâm nghiệp, phát triển rừng là một trong những chương trình kinh tế trọng điểm của tỉnh
Đoan Hùng là huyện trung du miền núi nằm ở phía Bắc tỉnh Phú Thọ, gồm 28 xã, thị trấn với tổng diện tích tự nhiên 30.261,3 ha, trong đó đất lâm nghiệp là 13.174,3 ha, chiếm 43,5% tổng diện tích tự nhiên của huyện Sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn huyện những năm qua đã mang lại hiệu quả lớn
về kinh tế và xã hội Nâng cao nhận thức của cộng đồng, của nhân dân về ý thức quản lý bảo vệ và phát triển rừng Tiếp thu những tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng hợp lý phù hợp với điều kiện tự nhiên và nhu cầu nguyên liệu của thị trường Đã tạo được công việc làm cho người dân, có nguồn thu nhập, đời sống của người dân từng bước được cải thiện Bên cạnh lợi ích kinh tế, còn có lợi ích về môi trường, tạo nên
độ che phủ tăng khả năng phòng hộ, điều hòa khí hậu, là nơi lưu giữ và điều tiết nguồn nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp Do đó, Nghị
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
quyết Đại hội Đảng bộ huyện Đoan Hùng lần thứ XXI xác định: phát triển kinh tế lâm nghiệp, phát triển rừng là một trong 4 chương trình kinh tế trọng điểm của huyện
Tuy lâm nghiệp phát triển, nhưng thu nhập và đời sống của người làm lâm nghiệp còn thấp, nông dân vẫn còn nghèo Nguyên nhân chính là do sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, thiếu ổn định và dễ bị tổn thương do thiên tai và biến động của thị trường; các hình thức liên kết trong sản xuất còn lỏng lẻo, thiếu tính ràng buộc, quy mô, phạm vi liên kết còn ở dạng mô hình Việc quản lý và thực hiện quy hoạch còn nhiều hạn chế như: tình trạng tranh chấp, chồng lấn đất lâm nghiệp vẫn còn xảy ra, nhiều diện tích đất sử dụng kém hiệu quả, rừng trồng năng suất, chất lượng rừng có tăng lên nhưng chưa thật sự hiệu quả, nhất là rừng phòng hộ còn nhiều tồn tại, bất cập, thiếu tính khả thi, chậm được điều chỉnh; đầu tư thâm canh rừng còn hạn chế; quyền lợi, nghĩa vụ của
hộ gia đình, cá nhân được giao, thuê, nhận khoán bảo vệ rừng và đất lâm nghiệp chưa rõ; việc khai thác và sử dụng vốn rừng chưa tương xứng với tiềm năng; công tác phối hợp giữa chính quyền địa phương với các Sở, ngành chức năng trong việc quản lý bảo vệ rừng và thực thi pháp luật về rừng còn thiếu chặt chẽ, vẫn xảy ra tình trạng vi phạm lâm luật
Bộ Nông nghiệp và PTNT có Quyết định số 1565/QĐ-BNN-TCLN ngày 08/7/2013 phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành lâm nghiệp đây là cơ sở cho việc xây dựng các chương trình, dự án phục vụ kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2015-2020 và các năm tiếp theo; sau kết quả Quy hoạch Bảo
vệ và Phát triển rừng tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2011 - 2020 thì việc lập Quy hoạch Bảo vệ và Phát triển rừng cấp huyện là cần thiết theo yêu cầu của Bộ Nông nghiệp và PTNT tại Thông tư số 05/2008/TT-BNN ngày 14/01/2008 hướng dẫn lập quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng và phù hợp với Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội tỉnh Phú Thọ đến năm 2020
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Để có những cơ sở, luận cứ góp phần quy hoạch lại phát triển lâm nghiệp trên địa bàn huyện Đoan Hùng cho phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương một cách bền vững, nhằm phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế
xã hội của huyện, tôi chọn thực hiện đề tài: “Nghiên cứu xây dựng Quy
hoạch Bảo vệ và Phát triển rừng theo đề án tái cơ cấu ngành lâm nghiệp đến năm 2020 của huyện Đoan Hùng tỉnh Phú Thọ”
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn cho ngành lâm nghiệp huyện Đoan Hùng xây dựng quy hoạch quản lý và bảo vệ rừng gắn với đề án tái cơ cấu ngành lâm nghiệp cho huyện Đoan Hùng góp phần phát triển lâm nghiệp
có hiệu quả trong thời gian tới tại huyện Đoan Hùng tỉnh Phú Thọ
- Đề tài là cơ sở khoa học và thực tiễn bổ sung những luận cứ nhằm tái
cơ cấu ngành lâm nghiệp cho khu vực nghiên cứu được sát thực, hiệu quả
- Thông qua nghiên cứu đề tài giúp cho tác giả hiểu thêm các quy định của Nhà nước về Quy hoạch Bảo vệ và phát triển rừng, về Tái cơ cấu ngành lâm nghiệp, hệ thống được toàn bộ kiến thức chuyên ngành vào thực tiễn sản xuất của ngành
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả đề tài là tư liệu tham khảo cho sinh viên, học viên sau này, là nguồn tư liệu khoa học bổ sung vào thư viện với mong muốn góp phần nâng
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
cao hiệu quả Quy hoạch Bảo vệ và phát triển rừng cấp huyện, đáp ứng nhu cầu học tập của sinh viên và học viên
Kết quả đề tài sẽ là tài liệu để địa phương có thể nhìn nhận đánh giá được quá trình quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng trong thời gian nhất định Các kết quả đánh giá phân tích của đề tài có thể làm cơ sở cho cán bộ lâm nghiệp huyện tham khảo, tham mưu xây dựng kế hoạch hoạt động trong công tác quy hoạch phát triển rừng gắn với tái cơ cấu tại địa phương trong những năm tiếp theo để có thể duy trì nguồn tài nguyên rừng cho tương lai
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1 Tái cơ cấu ngành lâm nghiệp
1.1.1 Khái niệm Tái cơ cấu ngành lâm nghiệp
Tái cơ cấu là việc xem xét và cấu trúc lại một phần, một số phần
hay toàn bộ một hệ thống, tổ chức, một đơn vị nào đó nhằm đạt được các mục tiêu đặt ra
Tái cơ cấu ngành lâm nghiệp là quá trình tổ chức sắp xếp lại tất cả các
yếu tố liên quan tác động đến chuỗi giá trị ngành hàng lâm nghiệp, từ quy hoạch, cơ sở hạ tầng sản xuất, chế biến, bảo quản; tổ chức sản xuất, chuỗi cung ứng dịch vụ sản xuất, thu hoạch, thu mua, chế biến, bảo quản, tiêu thụ Tái cơ cấu ngành lâm nghiệp được xem xét là một quá trình (từ Trung ương là Chính phủ và các cấp địa phương như cấp tỉnh…) thông qua ban hành hệ thống các chính sách (tài chính, tiền tệ, hành chính, kinh tế…) và sử dụng các công cụ thuộc chức năng, nhiệm vụ của mình để tác động tới việc phân bổ sử dụng các nguồn lực sản xuất lâm nghiệp cần thiết (đất đai, lao động và vốn…)
nhằm đạt được các mục tiêu đặt ra trong từng giai đoạn phát triển [26]
Phát triển bền vững là quá trình phát triển cần sự kết hợp hợp lý, hài
hòa, gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với việc thực hiện tốt các vấn đề
xã hội và môi trường Sự phát triển đó đòi hỏi phải đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai (WCED, 1987; United Nations, 2010)
1.1.2 Sự cần thiết phải tái cơ cấu ngành lâm nghiệp
Trong 10 năm qua, Lâm nghiệp Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng, đóng góp ngày càng nhiều vào công cuộc phát triển kinh tế-xã hội bền vững, bảo vệ môi trường sinh thái Độ che phủ của rừng năm 1998 từ
32% đã lên đến 39,5% vào năm 2010 và năm 2012 là 40,7% [26]
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Rừng được bảo vệ tốt hơn, tình trạng vi phạm các quy định của pháp luật về bảo vệ, phòng cháy, chữa cháy rừng giảm dần;
Sản lượng khai thác gỗ rừng trồng tăng mạnh, giảm sản lượng khai thác RTN; Công nghiệp chế biến gỗ phát triển mạnh, giá trị xuất khẩu gỗ và lâm sản liên tục tăng; Kim ngạch xuất khẩu gỗ và lâm sản ngoài gỗ tăng xấp xỉ 2 lần trong vòng 5 năm, từ 2,8 tỷ USD năm 2009 lên 5,7 tỷ USD năm 2013; Giá trị sản xuất lâm nghiệp tăng tương đối ổn định
Xã hội hóa nghề rừng được đẩy mạnh: Ngân sách nhà nước tập trung đầu tư cho rừng đặc dụng và rừng phòng hộ (chiếm khoảng 25%), còn lại 75% vốn được huy động từ các nguồn lực ngoài ngân sách nhà nước
Chính sách chi trả DVMTR tạo nguồn thu cho các hộ gia đình tham gia bảo vệ rừng, đặc biệt là tăng cường hiệu quả bảo vệ rừng: Năm 2013, đạt gần 1.200 tỷ đồng, tổng diện tích rừng thuộc đối tượng được chi trả là 4,1 triệu ha [31]
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, Lâm nghiệp đã bộc
lộ nhiều hạn chế như tăng trưởng chậm, kém bền vững, hiệu quả sản xuất kinh doanh và năng lực cạnh tranh thấp: Các tổ chức nhà nước quản lý 63% diện tích rừng, nhưng hiệu quả sử dụng chưa cao; diện tích rừng tăng, nhưng năng suất, chất lượng rừng thấp; thu nhập của người dân tham gia nghề rừng cũng vì thế chưa giúp dân sống được bằng nghề, nảy sinh nhiều tiêu cực…
Công tác bảo vệ rừng còn gặp nhiều khó khăn; Tình trạng phá rừng, khai thác, sử dụng đất lâm nghiệp trái phép còn diễn ra phức tạp; tổ chức sản xuất chưa chặt chẽ, thiếu sự gắn kết theo chuỗi từ trồng rừng, chế biến và tiêu thụ sản phẩm lâm sản; hiệu quả sản xuất, kinh doanh của các công ty lâm nghiệp nhà nước còn chưa tương xứng với tiềm năng
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Lâm nghiệp chưa thực sự trở thành ngành kinh tế Đóng góp vào GDP thấp: khoảng 0,7% theo nghĩa hẹp và 3,2% nếu bao gồm cả khâu chế biến gỗ;
Kinh tế hợp tác chưa phát triển; thiếu sự gắn kết giữa các cơ sở chế biến gỗ với vùng nguyên liệu và còn phụ thuộc nhiều vào gỗ nguyên liệu và phù liệu nhập khẩu [31]
Nguyên nhân của những tồn tại chủ yếu là:
* Nguyên nhân chủ quan:
- Nhận thức về lâm nghiệp của các ngành các cấp chưa đầy đủ và toàn diện, chưa đánh giá đúng các giá trị môi trường của rừng đem lại cho xã hội, chưa xác định rõ vị thế lâm nghiệp là một ngành kinh tế hoàn chỉnh từ khâu tạo rừng, khai thác, chế biến lâm sản và cung cấp các dịch vụ từ rừng
- Hệ thống chính sách lâm nghiệp thiếu đồng bộ, chưa phù hợp với chủ trương xã hội hoá nghề rừng và cơ chế thị trường Chưa bổ sung kịp thời những cơ chế chính sách mới đầu tư cho phát triển rừng sản xuất, chế biến gỗ
và lâm sản ngoài gỗ để tạo động lực thúc đẩy các thành phần kinh tế nhất là khu vực hộ gia đình, cộng đồng và tư nhân tham gia phát triển nghề rừng;
- Việc thực hiện xã hội hóa lâm nghiệp chưa có chuyển biến rõ rệt, quản lý rừng và đất rừng còn nhiều bất cập, tiến độ giao đất, giao rừng chậm; nhiều địa phương chưa mạnh dạn tổ chức giao rừng tự nhiên và rừng trồng cho dân, đặc biệt giao cho cộng đồng, hộ gia đình và tư nhân; sự tham gia các hoạt động lâm nghiệp của khu vực ngoài quốc doanh chưa tương xứng với tiềm năng;
- Hệ thống tổ chức quản lý ngành lâm nghiệp chưa thống nhất, còn phân tán, chia cắt Số lượng, năng lực và trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ khoa học kỹ thuật chưa đáp ứng yêu cầu khi bước vào cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế
Về quản lý rừng và lâm nghiệp chưa tạo đủ tiền đề về cơ chế chính sách, cơ sở vật chất kỹ thuật và cán bộ để phát huy vai trò của chính
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
quyền địa phương trong quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, nhất là ở cấp huyện và xã;
- Khoa học công nghệ chưa tạo được sức bật, làm chuyển biến căn bản hiệu quả kinh tế của nghề rừng, chưa gắn kết với sản xuất và thị trường, chưa có định hướng đầy đủ cho phát triển giống cây trồng lâm nghiệp, chưa có đóng góp đáng kể vào nâng cao năng suất rừng tự nhiên
và chưa có giải pháp sử dụng hợp lý hàng triệu ha rừng tự nhiên nghèo kiệt để tạo nguồn thu nhập cho người dân miền núi Mạng lưới tổ chức khuyến lâm còn rất thiếu và yếu [26] [ 31];
Nguyên nhân khách quan:
- Rừng trải rộng trên địa bàn lớn, trong khi sức ép dân số lên đất rừng
và lâm sản gia tăng, nhất là đối với khu vực miền núi thiếu đất sản xuất nông nghiệp và có dân di cư tự do;
- Chu kỳ sản xuất của cây lâm nghiệp dài, lợi nhuận thấp, nhiều rủi ro
và phân bố chủ yếu ở những vùng miền núi có điều kiện kinh tế, xã hội kém phát triển [34];
Ngày 08/7/2013, Bộ Nông nghiệp và PTNT có Quyết định số 1565/QĐ-BNN-TCLN phê duyệt đề án tái cơ cấu ngành lâm nghiệp với mục tiêu chung là phát triển lâm nghiệp bền vững vả về kinh tế, xã hội và môi trường; từng bước chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả, năng lực cạnh tranh Đây là một Đề án hết sức quan trọng nhằm thúc đẩy ngành lâm nghiệp thực sự tăng trưởng về chất, đem lại giá trị vật chất cho người trồng và bảo vệ rừng góp phần thực hiện Đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh
và Đề án Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững Chính vì vậy, Tổng cục Lâm nghiệp đã xây
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
dựng và đang tiến hành triển khai đề án tái cơ cấu ngành Lâm nghiệp để tháo gỡ những hạn chế trên
1.1.3 Nội dung tái cơ cấu ngành lâm nghiệp
Đề án tái cơ cấu đã đưa ra mục tiêu cụ thể đó là: Nâng cao giá trị gia
tăng sản phẩm và dịch vụ môi trường rừng; tăng giá trị sản xuất bình quân 4 - 4,5%; Từng bước đáp ứng nhu cầu gỗ, lâm sản cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu;
Góp phần tạo việc làm, xóa đói, giảm nghèo, cải thiện sinh kế, bảo vệ môi trường sinh thái để phát triển bền vững [26]
Theo Bộ trưởng Cao Đức Phát hướng tái cơ cấu của lĩnh vực lâm nghiệp là thay vì chạy theo diện tích, độ che phủ thì sẽ tính toán để độ che
phủ ấy tỷ lệ thuận với lượng tiền người dân trồng và bảo vệ rừng được hưởng
Nội dung và định hướng chính gồm:
Cơ cấu các loại rừng: Diện tích đất lâm nghiệp đến năm 2020 khoảng
16,2 - 16,5 triệu ha, trong đó: RSX 8,132 triệu ha, RPH 5,842 triệu ha và RĐD 2,271 triệu ha
Nâng cao giá trị gia tăng của ngành theo chuỗi hành trình của sản phẩm từ
khâu tạo nguyên liệu cho tới khai thác, chế biến và tiêu thụ sản phẩm
Điều chỉnh cơ cấu các loại hình tổ chức quản lý rừng theo hướng
các tổ chức của Nhà nước trực tiếp quản lý không quá 50%
Công ty lâm nghiệp: Tiếp tục duy trì, củng cố phát triển các công
ty quản lý chủ yếu rừng tự nhiên là rừng sản xuất được phê duyệt phương
án quản lý rừng bền vững và cấp chứng chỉ rừng quốc tế về quản lý rừng bền vững Các Công ty chưa được phê duyệt phương án: thực hiện nhiệm
vụ công ích
Chuyển thành Ban quản lý rừng (đơn vị sự nghiệp có thu)
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Thực hiện cổ phần hóa công ty quản lý chủ yếu là rừng trồng, nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối từ 65% trở lên
Thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên trở lên
Giải thể các công ty lâm nghiệp: kinh doanh thua lỗ kéo dài; thực hiện khoán trắng, giao khoán đất nhưng không quản lý được đất đai và sản phẩm làm ra; có quy mô nhỏ
Phát triển kinh tế tƣ nhân, kinh tế hợp tác: Xây dựng mô hình
hợp tác trong lâm nghiệp, đưa số hợp tác xã trong lâm nghiệp tăng 200% vào năm 2020
Huy động và sử dụng các nguồn lực tài chính
Để tái cơ cấu ngành lâm nghiệp đòi hỏi phải có điều kiện vật chất nhất định tương ứng Để đáp ứng đòi hỏi về các điều kiện vật chất này nhất thiết phải huy động đầu tư và phải có vốn đầu tư; các nguồn vốn đầu tư chủ yếu để tái cơ cấu ngành lâm nghiệp gồm: nguồn vốn đầu tư từ ngân sách và đầu tư ngoài ngân sách nhà nước của các chủ thể kinh tế trong lâm nghiệp; nguồn vốn cho vay của các ngân hàng; nguồn vốn vay của các tổ chức tín dụng; nguồn vốn đầu tư trực tiếp hay gián tiếp của nước ngoài Giải quyết tốt vấn đề vốn là một trong những điều kiện quan trọng nhất để phát triển kinh tế lâm nghiệp và xây dựng cơ cấu kinh tế lâm nghiệp hợp lý và phù hợp với yêu cầu khai thác tốt các nguồn lực xây dựng cơ sở hạ tầng lâm nghiệp
Phát triển theo vùng kinh tế - sinh thái lâm nghiệp: Được phân ra 8 vùng sinh thái lâm nghiệp
Vùng Tây Bắc: xây dựng, củng cố hệ thống rừng phòng hộ đầu nguồn, rừng đặc dụng và rừng sản xuất là rừng tự nhiện nằm trong lưu vực của các thủy điện, tạo điều kiện hưởng lợi nhiều hơn từ chính sác chi trả dịch vụ môi trường rừng;
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Vùng Đông Bắc: xây dựng vùng nguyên liệu gỗ lớn nhất cả nước; xây dựng, củng cố hệ thống rừng phòng hộ đầu nguồn, phòng hộ ven biển; vùng đồng bằng sông Hồng; đẩy mạnh trồng cây phân tán, tạo nguồn gỗ gia dụng;
Vùng Bắc Trung bộ: xây dựng vùng nguyên liệu gỗ lớn hai cả nước, xây dựng, củng cố hệ thống rừng phòng hộ đầu nguồn của dãy Trường Sơn, phòng hộ ven biển, chống cát bay, chắn sóng và chống sạt lở bờ biển;
Vùng Duyên hải Nam Trung bộ: xây dựng vùng nguyên liệu gỗ lớn ba
cả nước, xây dựng, củng cố hệ thống rừng phòng hộ đầu nguồn, phòng hộ ven biển, chống cát bay, chắn sóng và chống sạt lở bờ biển;
Vùng Tây Nguyên: xây dựng, củng cố hệ thống rừng phòng hộ đầu nguồn; Vùng Đông Nam bộ: xây dựng, củng cố hệ thống rừng phòng hộ đầu nguồn cho các công trình thủy điện, thủy lợi và phòng hộ môi trường;
Vùng Đồng bằng sông Cửu Long: xây dựng và củng cố các khu rừng phòng hộ chắn sóng ven biển; phục hồi và phát triển hệ sinh thái rừng ngập mặn; tổ chức sản xuất kinh doanh tổng hợp nông lâm thủy sản
Theo Tiến sỹ Nguyễn Bá Ngãi, Tổng Cục phó Tổng cục Lâm nghiệp thì Diện tích đất lâm nghiệp đến năm 2020 khoảng 16,2-15,6 triệu ha Mũi nhọn để đem lại lợi ích kinh tế là rừng sản xuất sẽ được tập trung phát triển
và nâng cao chất lượng thông qua nuôi dưỡng làm giàu rừng, cải tạo rừng nghèo kiệt Cùng với đó ngành Lâm nghiệp sẽ đưa giống mới vào sản xuất, phát triển trồng rừng gỗ lớn nhằm nâng cao sản lượng gỗ thương phẩm, phục
vụ chế biến, xuất khẩu gỗ Đặc biệt, nếu như trước khi có Đề án tái cơ cấu
ngành lâm nghiệp, trong 3 loại rừng (phòng hộ, đặc dụng, sản xuất) chỉ có rừng sản xuất mới có mục đích đem lại hiệu quả kinh tế Khi thực hiện tái cơ cấu thì cả ba loại rừng trên sẽ đem lại giá trị vật chất cho người trồng và bảo
vệ rừng Trong đó, hình thức gia tăng kinh tế từ độ che phủ của rừng hiệu
quả nhất đang được kỳ vọng hiện nay là chính sách Chi trả dịch vụ môi trường rừng Đây là công cụ kinh tế yêu cầu những người được hưởng lợi từ
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
các dịch vụ hệ sinh thái chi trả cho những người tham gia duy trì, bảo vệ và
phát triển các chức năng của hệ sinh thái đó
Trên cơ sở của sự chuyển đổi hình thức quản lý như trên, tỷ trọng đầu
tư của Nhà nước vào lâm nghiệp cũng sẽ giảm dần Đầu tư phát triển cho lâm nghiệp sẽ được huy động các nguồn lực tài chính ngoài ngân sách Cùng với thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng như đã nói ở trên, ngành
cũng sẽ tranh thủ tiềm năng từ các nguồn hỗ trợ tài chính khác
Đề án đã hoàn thành nhưng để thực thi được chiến lược cho ngành Lâm nghiệp thì còn nhiều vấn đề phải hoàn thiện Điển hình như việc quy hoạch rừng gắn với quy hoạch sử dụng đất Việc gắn kết 2 quy hoạch theo 2 luật khác nhau sẽ là khó khăn không nhỏ cho ngành Lâm nghiệp Tương tự như vậy là sự quy hoạch gắn kết giữa quy hoạch phát triển vùng nguyên liệu gắn
với quy hoạch chế biến gỗ…
Bộ trưởng Cao Đức Phát đã nhìn nhận: “Việt Nam đã được coi là công xưởng gỗ của thế giới Chúng ta cần công nghệ chế biến để đem lại giá trị cao hơn Nhưng trước hết ta phải xác định được trồng những cây gì là đặc biệt của Việt Nam Muốn làm được điều đó, mỗi địa phương phải tìm ra thế mạnh của
mình và tập trung vào cây trồng thế mạnh” Đạt được kỳ vọng của đề án tái cơ
cấu lĩnh vực lâm nghiệp, thì chắc chắn một lần nữa chúng ta sẽ có cơ sở để tự hào rằng “rừng vàng, biển bạc” là đây [26] [31]
1.2 Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng gắn với Tái cơ cấu
1.2.1 Trên thế giới
1.2.1.1 Quy hoạch vùng
Quy hoạch vùng tuân theo học thuyết Mác - Lê Nin về phân bố và phát triển lực lượng sản xuất theo lãnh thổ và sử dụng các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Các Mác và Ăng Ghen đã chỉ ra: “Mức độ phát triển lực lượng sản xuất của một dân tộc thể hiện rõ nét hơn hết ở chỗ phân công lao động của dân tộc
đó được phát triển đến mức độ nào”
Như vậy, sức lao động là một bộ phận cấu thành quan trọng nhất của phân bố lực lượng sản xuất
Lê Nin đã chỉ ra: “Sự nghiên cứu tổng hợp tất cả các đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của mỗi vùng là nguyên tắc quan trọng để phân bố lực lượng sản xuất” Vì vậy, nghiên cứu các đặc điểm đặc trưng cho sự phân bố lực lượng sản xuất ở một vùng trong quá khứ và hiện tại để xác định khả năng tiềm tàng và tương lai phát triển của vùng đó
Từ đánh giá sức lao động và nguồn tài nguyên thiên nhiên đã đi tới nhận định: phân bố lực lượng sản xuất hợp lý là một trong các điều kiện cơ bản để nâng cao năng xuất lao động, tích luỹ nhiều của cải vật chất cho xã hội, không ngừng phát triển sản xuất và văn hóa của đất nước
Kế hoạch phát triển của các ngành kinh tế quốc dân liên quan chặt chẽ với kế hoạch phân bố lực lượng sản xuất
Sự phân bố dân cư và các hình thái điểm dân cư và mức độ trang thiết
bị thay đổi phụ thuộc vào sự biến đổi hình thành xã hội
Dựa trên cơ sở học thuyết của Mác và Ăng Ghen, V.I.Lê Nin đã nghiên cứu các hướng cụ thể về kế hoạch hoá phát triển lực lượng sản xuất trong xã hội chủ nghĩa
Sự phân bố lực lượng sản xuất được xác định theo các nguyên tắc sau:
- Phân bố lực lượng sản xuất có kế hoạch trên toàn bộ lãnh thổ của đất nước, tỉnh, huyện nhằm thu hút các nguồn tài nguyên thiên nhiên và lao động của tất cả các vùng và quá trình tái sản xuất mở rộng
- Kết hợp tốt lợi ích của Nhà nước và nhu cầu phát triển kinh tế của từng tỉnh và từng huyện
- Đưa các xí nghiệp công nghiệp đến gần nguồn nguyên liệu để hạn chế
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
chi phí vận chuyển
- Kết hợp chặt chẽ các ngành kinh tế quốc dân ở từng vùng, từng huyện nhằm nâng cao năng suất lao động và sử dụng hợp lý tiềm năng thiên nhiên
- Tăng cường toàn diện tiềm lực kinh tế và quốc phòng bằng cách phân
bố hợp lý và phát triển đồng đều lực lượng sản xuất ở các vùng, huyện [39]
1.2.1.2 Quy hoạch vùng nông nghiệp
Quy hoạch vùng nông nghiệp là một biện pháp tổng hợp của Nhà nước
về phân bố và phát triển lực lượng sản xuất trên lãnh thổ của các vùng hành chính - nông nghiệp nhằm đáp ứng các nhu cầu về phát triển tất cả các thành phần kinh tế quốc dân trong vùng
Quy hoạch vùng nông nghiệp là giai đoạn kết thúc kế hoạch hoá tương lai của Nhà nước một cách chi tiết sự phát triển và phân bố lực lượng sản xuất theo lãnh thổ của vùng, là biện pháp xác định các xí nghiệp chuyên môn hoá một cách hợp lý là biện pháp thiết kế và đưa vào nề nếp việc sử dụng đất đai trên từng khu vực cụ thể của vùng, là biện pháp xác định sự phân bố đúng đắn các cơ quan y tế và phục vụ sinh hoạt văn hoá cho nhân dân; là biện pháp xây dựng các tiền đề tổ chức lãnh thổ nhằm sử dụng hợp lý các của cải tự nhiên, các thành tựu khoa học kỹ thuật, các nguồn lao động nhằm phát triển với tốc
độ nhanh kinh tế của tất cả các xí nghiệp đồng thời cải thiện đời sống vật chất
và văn hoá của nhân dân trong vùng lao động nông nghiệp đó
Vùng hành chính là đối tượng quy hoạch vùng nông nghiệp Đồng thời các vùng hành chính cũng là các vùng lãnh thổ mà ở đó cá các điều kiện kinh
tế và tổ chức lãnh thổ thuận lợi cho việc phát triển có kết quả tất cả các ngành kinh tế quốc dân, như vậy trong quy hoạch vùng nông nghiệp lấy vùng hành chính nông nghiệp làm đối tượng quy hoạch
Lập kế hoạch sử dụng tài nguyên thiên nhiên, tổ chức lãnh thổ với việc lập các sơ đồ quy hoạch vùng là một trong những nội dung của quy hoạch vùng nông nghiệp (Hay quy hoạch huyện nông nghiệp )
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
1.2.1.3 Quy hoạch sản xuất lâm nghiệp
Sự phát sinh của qui hoạch lâm nghiệp gắn liền với sự phát triển kinh tế
tư bản chủ nghĩa Do công nghiệp và giao thông vận tải phát triển nên khối lượng gỗ yêu cầu ngày càng tăng Sản xuất gỗ đã tách khỏi nền kinh tế địa phương của phong kiến và bước vào thời đại kinh tế hàng hoá tư bản chủ nghĩa Thực tế sản xuất lâm nghiệp đã không còn bó hẹp trong việc sản xuất
gỗ đơn thuần mà cần phải có ngay những lý luận và biện pháp nhằm đảm bảo thu hoạch lợi nhuận lâu dài cho các chủ rừng Chính hệ thống hoàn chỉnh về
lý luận qui hoạch lâm nghiệp và điều chế rừng đã được hình thành trong hoàn cảnh như vậy
Đầu thế kỷ 18, phạm vi qui hoạch lâm nghiệp mới chỉ giải quyết việc
“khoanh khu chặt luôn chuyển”, có nghĩa là đem trữ lượng hoặc diện tích tài
nguyên rừng đem chia đều cho từng năm của chu kỳ khai thác và tiến hành khoanh khu chặt luôn chuyển theo trữ lượng hoặc diện tích Phương thức này phục vụ cho phương thức kinh doanh rừng chồi, chu kỳ khai thác ngắn
Sau cách mạng công nghiệp, vào thế kỷ 19 phương thức kinh doanh rừng chồi được thay bằng phương thức kinh doanh hạt với chu kỳ khai thác
dài Và phương thức “Khoanh khu chặt luôn chuyển” nhường chỗ cho phương thức “Chia đều” của Hating đã chia chu kỳ khai thác thành 20 thời kỳ
lợi dụng và cũng lấy đó khống chế lượng chặt hàng năm
Sau đó phương pháp "Bình quân thu hoạch" ra đời Quan điểm phương pháp này là giữ đều mức thu hoạch trong chu kì khai thác hiện tại, đồng thời vẫn đảm bảo thu hoạch được liên tục trong chu kì sau Và đến cuối thế kỉ 19, suất hiện phương pháp “lâm phần kinh tế” Về căn bản, Judeich cho rằng những lâm phần nào đảm bảo thu hoạch được nhiều tiền nhất sẽ được đưa vào diện khai thác Hai phương pháp “Bình quân thu hoạch” và “lâm phần kinh tế” chính là tiền đề của hai phương pháp tổ chức kinh doanh và tổ chức rừng khác nhau
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Phương pháp "Bình quân thu hoạch" và sau này là phương pháp "Cấp tuổi" chịu ảnh hưởng của "lý luận rừng tiêu chuẩn", có nghĩa là rừng phải có kết cấu tiêu chuẩn về tuổi cũng như về diện tích và trữ lượng, vị trí và đưa các cấp tuổi cao vào diện tích khai thác Hiện nay, phương pháp kinh doanh rừng được dùng phổ biến ở các nước có tài nguyên rừng phong phú Còn phương pháp “lâm phần kinh tế” và hiện nay là phương pháp “ lâm phần” không căn
cứ vào tuổi rừng mà dựa vào đặc điểm cụ thể của mỗi lâm phần tiến hành phân tích, xác định sản lượng và biện pháp kinh doanh, phương thức điều chế rừng Cũng từ phương pháp này còn phát triển thành “ phương pháp kinh
doanh lô” và “phương pháp kiểm tra” [39]
1.2.2 Ở Việt Nam
1.2.2.1 Quy hoạch vùng chuyên canh (QH vùng chuyên canh cây trồng)
Trong quá trình xây dựng nền kinh tế, đã quy hoạch các vùng chuyên canh lúa ở vùng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long, các vùng rau thực phẩm cho các thành phố lớn, các vùng cây công nghiệp ngắn ngày (hàng năm): Vùng bông Thuận Hải, vùng đay Hải Hưng, vùng thuốc lá Quảng An - Cao Bằng , Ba vì- Hà Sơn Bình, Hữu Lũng - Lạng Sơn, Nho quan - Hà Nam Ninh, vùng mía Vạn Điểm, Việt Trì, Sông Lam, Quảng Ngãi Các vùng cây công nghiệp dài ngày( lâu năm ): Vùng cao su Sông Bé, Đồng Nai, Buôn Hồ- Đắc Lắc, Chư Par- Gia Lai Kon Tum, vùng cà phê Krông Búc, Krông Bách- Đắc Lắc, Chư Pả, Ninh Đức- Gia Lai Kon Tum (Hợp tác với Liên Xô trước đây, CH dân chủ Đức, Tiệp Khắc, Bungari) vùng chè ở Hoàng Liên Sơn, Mộc Châu, Bắc Thái, Vĩnh Phú, Hà Tuyên , Lâm Đồng, Gia Lai Kon Tum, vùng dâu tằm Bảo Lộc - Lâm Đồng [42]
a) Tác dụng của quy hoạch vùng chuyên canh:
- Xác định phương hướng sản xuất, chỉ ra những vùng chuyên môn hoá
và những vùng có khả năng hợp tác kinh tế
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
- Xác định và chọn những vùng trọng điểm giúp Nhà nước tập trung vốn đầu tư đúng đắn
- Xây dựng được cơ cấu sản xuất, các chỉ tiêu sản xuất sản phẩm và sản phẩm hàng hoá của vùng, yêu cầu xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ sản xuất, nhu cầu lao động
- Cơ sở để xây dựng kế hoạch phát triển nghiên cứu tổ chức quản lý kinh doanh theo ngành và theo lãnh thổ
Quy hoạch vùng chuyên canh đã thực hiện nhiệm vụ chủ yếu là bố trí
cơ cấu cây trồng được chọn với quy mô và chế độ canh tác hợp lý, theo hướng tập trung để ứng dụng tiến bộ kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, sản lượng và chất lượng sản phẩm cây trồng đồng thời phân bố các chỉ tiêu nhiệm
vụ cụ thể cho từng cơ sở sản xuất, làm cơ sở cho công tác quy hoạch, kế hoạch xuất các cơ sở sản xuất
b) Nội dung của quy hoạch vùng chuyên canh:
- Xác định quy mô, ranh giới vùng
- Xác định phương hướng, chỉ tiêu nhiệm vụ sản xuất
- Ước tính đầu tư và hiệu quả kinh tế
- Dự kiến tiến độ thực hiện quy hoạch
1.2.2.2 Quy hoạch nông nghiệp huyện: Quy hoạch nông nghiệp huyện được
tiến hành ở hầu hết các huyện, là một quy hoạch ngành bao gồm cả nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản, thủ công nghiệp và công nghiệp chế biến
a) Nhiệm vụ của quy hoạch nông nghiệp huyện:
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
- Trên cơ sở điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện căn cứ vào dự
án phát triển và phân bố lực lượng sản xuất và phân vùng nông nghiệp tỉnh hoặc thành phố đã được phê duyệt, xác định phương hướng nhiệm vụ, mục tiêu phát triển nông nghiệp và xây dựng các biện pháp nhằm thực hiện được các mục tiêu đó theo hướng chuyên môn hoá, tập trung hoá kết hợp phát triển tổng hợp nhằm thực hiện 3 mục tiêu nông nghiệp là giải quyết lương thực, thực phẩm, nguyên liệu cho công nghiệp và nông sản xuất khẩu ổn định
- Hoàn thiện phân bổ sử dụng đất đai cho các đối tượng sử dụng đất nhằm sử dụng đất đai có hiệu quả cao, đồng thời bảo vệ và nâng cao được độ phì nhiêu của đất
- Tạo điều kiện để ứng dụng các kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp
- Tính vốn đầu tư cơ bản và hiệu quả sản xuất nông nghiệp
b) Nội dung chủ yếu của quy hoạch nông nghiệp huyện:
- Xác định phương hướng và mục tiêu phát triển nông nghiệp
- Bố trí sử dụng đất đai
- Xác định cơ cấu và quy mô sản xuất nông nghiệp (phân chia và tính toán quy mô các vùng sản xuất chuyên môn hoá, xác định vùng sản xuất thâm canh cao sản, các tổ chức liên kết nông - công nghiệp, các cơ sở dịch vụ nông nghiệp, bố trí trồng trọt, bố trí chăn nuôi)
- Tổ chức các cơ sở sản xuất nông nghiệp
- Tổ chức công nghiệp chế biến nông sản và tiểu thủ công nghiệp trong nông nghiệp
- Giải quyết mối quan hệ giữa các ngành sản xuất có liên quan trong và ngoài ngành nông nghiệp
- Bố trí cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ nông nghiệp (thuỷ lợi, giao thông, cơ khí, điện cơ sở dịch vụ thương nghiệp)
- Tổ chức sử dụng lao động nông nghiệp, phân bố các điểm dân cư nông thôn
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
- Những cân đối chính trong sản xuất nông nghiệp (lương thực, thực phẩm) thức ăn gia súc, trong đó vật tư kỹ thuật nông nghiệp, nguyên liệu cho các xí nghiệp chế biến
- Tổ chức các cụm kinh tế xã hội
- Bảo vệ môi trường
- Vốn đầu tư cơ bản
- Hiệu quả sản xuất và tiến độ thực hiện quy hoạch
c) Cân đối của quy hoạch nông nghiệp huyện:
Đối tượng của quy hoạch nông nghiệp huyện là toàn bộ đất đai, ranh giới hành chính huyện
1.2.2.3 Quy hoạch lâm nghiệp
Quy hoạch lâm nghiệp áp dụng ở nước ta ngay từ thời kỳ pháp thuộc, như việc xây dựng phương án điều chế rừng chồi, sản xuất củi Điều chế rừng thông theo phương pháp hạt đều
Đến năm 1955- 1957, tiến hành sơ thám và mô tả để ước lượng tài nguyên rừng Năm 1958- 1959 tiến hành thống kê trữ lượng rừng miền Bắc Đến năm 1960- 1964, công tác quy hoạch mới áp dụng ở miền Bắc Từ năm
1965 đến nay, lực lượng quy hoạch lâm nghiệp ngày càng được tăng cường và
mở rộng Viện điều tra quy hoạch rừng kết hợp chặt chẽ với lực lượng điều tra quy hoạch ở các Sở Nông nghiệp và PTNT không ngừng cải tiến phương pháp điều tra, quy hoạch của các nước ngoài cho phù hợp với trình độ và điều kiện tài nguyên rừng ở nước ta Tuy nhiên, so với lịch sử phát triển của các nước khác thì quy hoạch lâm nghiệp nước ta hình thành và phát triển muộn hơn nhiều Vì vậy những nghiên cứu cơ bản về kinh tế, xã hội, kỹ thuật và tài nguyên rừng làm cơ sở cho công tác quy hoạch lâm nghiệp chưa được giải quyết nên công tác này ở nước ta đang trong giai đoạn vừa tiến hành vừa nghiên cứu áp dụng
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Theo chiến lược phát triển lâm nghiệp Quốc gia giai đoạn 2006- 2020, một trong những tồn tại mà Bộ Nông nghiệp và PTNT đánh giá là “Công tác quy hoạch nhất là quy hoạch dài hạn còn yếu và chậm đổi mới, chưa kết hợp chặt chẽ với quy hoạch của các ngành khác, còn mang nặng tính bao cấp và thiếu tính khả thi Chưa quy hoạch 3 loại rừng hợp lý và chưa thiết lập được lâm phần ổn định trên thực địa ” Đây cũng là nhiệm vụ đặt ra ngày càng được hoàn thiện đối với ngành lâm nghiệp
Đặc thù của công tác quy hoạch lâm nghiệp:
- Địa bàn quy hoạch lâm nghiệp rất đa dạng, phức tạp (bao gồm cả vùng ven biển, trung du, núi cao và biên giới, hải đảo), thường có địa hình cao, dốc, chia cắt phức tạp, giao thông đi lại khó khăn và có nhiều ngành kinh
tế hoạt động
- Là địa bàn cư trú của đồng bào các dân tộc ít người, trình độ dân trí thấp, kinh tế xã hội chậm phát triển, đời sống vật chất và tinh thần còn gặp nhiều khó khăn Đối tượng của công tác quy hoạch lâm nghiệp là rừng và đất lâm nghiệp, từ bao đời nay của chung của đồng bào các dân tộc nhưng thực chất là vô chủ
- Cây lâm nghiệp có chu kỳ kinh doanh dài (ngắn 8-10 năm, dài 40-100 năm) Người dân chỉ bỏ vốn tham gia trồng rừng nếu biết chắc chắn sẽ có lợi
- Mục tiêu của quy hoạch lâm nghiệp cũng rất đa dạng: Quy hoạch rừng phòng hộ (phòng hộ đầu nguồn, ven biển và phòng hộ môi trường ); Quy hoạch rừng đặc dụng (Các vườn quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên, các khu di tích văn hóa, lịch sử, danh thắng) và quy hoạch phát triển các loại rừng sản xuất
- Quy mô của công tác quy hoạch lâm nghiệp bao gồm cả tầm vĩ mô và
vi mô: Quy hoạch toàn quốc, từng vũng lãnh thổ, từng tỉnh, huyện, công ty lâm nghiệp, Quy hoạch Bảo vệ và Phát triển rừng xã và làng lâm nghiệp
- Lực lượng tham gia làm công tác quy hoạch thường luôn phải lưu động, điều kiện sinh hoạt khó khăn, cơ sở vật chất thiếu thốn về mọi mặt Đội ngũ cán bộ xây dựng phương án quy hoạch cũng rất đa dạng, bao gồm cả lực
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
lượng của trung ương và địa phương, thậm chí các ngành khác cũng tham gia làm quy hoạch lâm nghiệp (Nông nghiệp, Công an, Quân đội); Trong đó có một bộ phận được đào tạo bài bản qua các trường lớp, song phần lớn chỉ dựa vào kinh nghiệm hoạt động lâu năm trong ngành lâm nghiệp
* Những yêu cầu của công tác quy hoạch lâm nghiệp phục vụ chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp nông thôn
Công tác quy hoạch lâm nghiệp được triển khai dựa trên những chủ trương, chính sách và định hướng phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước và chính quyền các cấp trên từng địa bàn cụ thể Với mỗi phương án quy hoạch lâm nghiệp phải đạt được:
- Hoạch định rõ ranh giới đất nông nghiệp - đất lâm nghiệp và đất do các ngành khác sử dụng; trong đó đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp được quan tâm hàng đầu vì là hai ngành chính sử dụng đất đai
- Trên phần đất lâm nghiệp đã được xác định, tiến hành hoạch định 3 loại rừng (phòng hộ, đặc dụng và sản xuất) Từ đó xác định các giải pháp lâm sinh thích hợp với từng loại rừng và đất rừng (bảo vệ, trồng rừng mới, khoanh nuôi tái sinh tự nhiên, khoanh nuôi tái sinh kết hợp trồng bổ sung, nông lâm kết hợp, khai thác lợi dụng rừng…)
- Tính toán nhu cầu đầu tư (nhu cầu lao động, vốn và vật tư thiết bị) Vì
là phương án quy hoạch nên việc tính toán nhu cầu đầu tư chỉ mang tính khái quát, phục vụ cho việc lập kế hoạch sản xuất ở những bước tiếp theo
- Xác định một số giải pháp đảm bảo thực hiện những nội dung quy hoạch (giải pháp lâm sinh, khoa học công nghệ, cơ chế chính sách, giải pháp
về vốn, lao động)
- Đối mới một số phương án quy hoạch có quy mô lớn (cấp toàn quốc, vùng, tỉnh) còn đề xuất các chương trình, dự án cần ưu tiên để triển khai bước tiếp theo là lập dự án đầu tư hoặc báo cáo nghiên cứu khả thi
Các văn bản chính sách của Nhà nước đề cập đến Quy hoạch Bảo vệ
và Phát triển rừng thể hiện qua:
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
- Hiến pháp của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 nêu “ Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, đảm bảo sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả Nhà nước giao đất cho các tổ chức , hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài”
- Luật đất đai năm 2003 và hiện nay Luật đất đai 2013 quy định rõ 3 loại đất (đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp, đất chưa sử dụng) và 6 quyền chung của người sử dụng đất (được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất; hưởng các lợi ích do công trình của Nhà nước về bảo vệ, cải tạo đất nông nghiệp; được nhà nước hướng dẫn và giúp đỡ trong việc cải tạo, bồi bổ đất nông nghiệp; được nhà nước bảo
hộ khi bị người khác xâm phạm đến quyền sử dụng đất hợp pháp của mình; khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về những hành vi, vi phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của mình và những hành vi khác vi phạm pháp luật về đất đai
- Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 phân định rõ 3 loại rừng (rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất) làm cơ sở cho quy hoạch lâm nghiệp (Quy hoạch Bảo vệ và Phát triển rừng)
- Năm 2005, Quyết định số 61/2005/QĐ- BNN ngày 12/10/2005 và Quyết định số 62/2005/QĐ- BNN ngày 12/10/2005 quy định về tiêu chí phân cấp rừng phòng hộ và tiêu chí phân loại rừng đặc dụng [2][7]
Quy chế quản lý rừng năm 2006 quy định về việc tổ chức quản lý, bảo
vệ, phát triển và sử dụng rừng đặc dụng, phòng hộ và sản xuất bao gồm diện tích có rừng diện tích không có rừng đã được nhà nước giao, cho thuê hoặc quy hoạch cho lâm nghiệp
Theo biên bản hội thảo quốc gia về “ Quy hoạch sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp” năm 1997 nhiều ý kiến cho rằng cần nghiên cứu tính thống nhất giữa 2 luật: Luật đất đai và Luật bảo vệ và phát triển rừng trong quy hoạch và giao đất nông nghiệp và lâm nghiệp, xác định rõ vai trò của địa phương trong quy hoạch và giao đất giao rừng
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Năm 1999 thực hiện tổng kiểm kê rừng toàn quốc nhằm chuẩn bị cho thực hiện dự án 5 triệu ha rừng và phát triển kinh tế lâm nghiệp, nhiều địa phương đã lập dự án quy hoạch rừng của địa phương Kể từ đó công tác quy hoạch rừng ngày càng được quan tâm
Đặc biệt đến năm 2008 Bộ Nông nghiệp và PTNT đã chính thức ban hành Thông tư hướng dẫn công tác lập quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã
Song song với việc tiến hành và áp dụng công tác quy hoạch lâm nghiệp trong thực tiễn sản xuất, môn quy hoạch cũng được đưa vào giảng dạy
ở các trường đại học
Quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp
1) Quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp quản lý SXKD
Quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp quản lý SXKD bao gồm: Quy hoạch tổng công ty lâm nghiệp, công ty lâm nghiệp; quy hoạch lâm nghiệp cho các đối tượng khác (quy hoạch cho các khu rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, quy hoạch phát triển sản xuất nông lâm nghiệp cho các cộng đồng làng bản, trang trại lâm nghiệp và hộ gia đình) Các nội dung quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp quản lý SXKD là khác nhau tuỳ theo điều kiện cụ thể của mỗi đơn vị và thành phần kinh tế tham gia vào sản xuất lâm nghiệp mà lựa chọn các nội dung quy hoạch cho phù hợp
2) Quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp quản lý lãnh thổ
a Quy hoạch lâm nghiệp toàn quốc:
Quy hoạch lâm nghiệp toàn quốc là quy hoạch phát triển sản xuất lâm nghiệp trên phạm vi lãnh thổ quốc gia nhằm giải quyết một số vấn đề cơ bản, bao gồm: Xác định phương hướng nhiệm vụ chiến lược phát triển lâm nghiệp toàn quốc Quy hoạch đất đai tài nguyên rừng theo các chức năng (sản xuất, phòng hộ và đặc dụng) Quy hoạch bảo vệ, nuôi dưỡng và phát triển tài nguyên rừng hiện có Quy hoạch tái sinh rừng (bao gồm tái sinh tự nhiên và
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
trồng rừng), thực hiện nông lâm kết hợp Quy hoạch lợi dụng rừng, chế biến lâm sản gắn với thị trường tiêu thụ Quy hoạch tổ chức sản xuất, phát triển nghề rừng, phát triển lâm nghiệp xã hội Quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải Xác định tiến độ thực hiện
b Quy hoạch lâm nghiệp cấp tỉnh
Xác định phương hướng nhiệm vụ phát triển lâm nghiệp trong phạm vi tỉnh Căn cứ vào phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, căn cứ quy hoạch lâm nghiệp toàn quốc đồng thời căn cứ vào điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của tỉnh Tiến hành quy hoạch đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh theo ba chức năng: Rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất Căn cứ vào phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, căn cứ vào điều kiện đất đai tài nguyên rừng, đồng thời căn cứ vào nhu câu phòng hộ
và các nhu cầu đặc biệt khác Quy hoạch bảo vệ, nuôi dưỡng và phát triển tài nguyên rừng hiện có Quy hoạch tái sinh rừng (bao gồm tái sinh tự nhiên và trồng rừng), thực hiện nông lâm kết hợp Quy hoạch lợi dụng rừng, chế biến lâm sản gắn với thị trường tiêu thụ Quy hoạch tổ chức sản xuất, phát triển nghề rừng, phát triển lâm nghiệp xã hội Quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải Xác định tiến độ thực hiện
c Quy hoạch lâm nghiệp cấp huyện
Về cơ bản các nội dung quy hoạch lâm nghiệp cũng tương tự như quy hoạch lâm nghiệp tỉnh, tuy nhiên nó được thực hiện cụ thể, chi tiết hơn và được tiến hành trên phạm vi địa bàn huyện Quy hoạch lâm nghiệp huyện đề cập giải quyết các vấn đề sau:
- Căn cứ vào phương hướng, nhiệm vụ phát triển tổng thể kinh tế xã hội của huyện, căn cứ vào phương án phát triển lâm nghiệp của tỉnh và điều kiện kinh tế xã hội, đặc biệt là điều kiện tài nguyên rừng của huyện để xác định phương hướng nhiệm vụ phát triển trên địa bàn huyện
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
- Căn cứ phương hướng phát triển lâm nghiệp huyện và điều kiện đất đai tài nguyên rừng, nhu cầu phòng hộ và các nhu cầu đặc biệt khác Tiến hành quy hoạch đất lâm nghiệp trong huyện theo 3 chức năng: Sản xuất, phòng hộ và đặc dụng
- Quy hoạch bảo vệ tài nguyên rừng hiện có
- Quy hoạch các biện pháp tái sinh rừng: Trồng rừng, khoanh nuôi tái sinh kết hợp trồng bổ sung Quy hoạch thực hiện nông lâm kết hợp và sản xuất hỗ trợ trên đất lâm nghiệp
- Quy hoạch khai thác lợi dụng lâm đặc sản, chế biến lâm sản gắn liền với thị trường tiêu thụ
- Quy hoạch tổ chức sản xuất lâm nghiệp; quy hoạch đất lâm nghiệp cho các thành phần kinh tế trong huyện, tổ chức phát triển lâm nghiệp xã hội
- Quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải
- Xác định tiến độ thực hiện
d) Quy hoạch lâm nghiệp xã:
- Điều tra các điều kiện cơ bản của xã hội có liên quan đến sản xuất lâm nghiệp như: Điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội, điều kiện tài nguyên rừng Căn cứ vào quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội, căn cứ vào quy hoạch cấp huyện và các điều kiện cơ bản của xã, xác định phương hướng nhiệm vụ phát triển lâm nghiệp trên địa bàn xã
- Quy hoạch đất đai trong xã theo ngành và theo đơn vị sử dụng Xác định rõ mối quan hệ giữa các ngành sử dụng đất đai trên địa bàn xã Căn cứ vào phương hướng phát triển, các điều kiện nhu cầu phòng hộ và các nhu cầu đặc biệt khác (nếu có) phân chia đất lâm nghiệp theo 3 chức năng sử dụng: Sản xuất, phòng hộ, đặc dụng
- Quy hoạch các nội dung sản xuất kinh doanh rừng, bố trí không gian,
tổ chức các biện pháp kinh doanh rừng: Bảo vệ và nuôi dưỡng rừng hiện có,
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
trồng rừng và tái sinh phục hồi rừng, nông lâm kết hợp, khai thác, chế biến các loại lâm sản, đặc sản phục vụ nhu cầu của địa phương và thị trường
- Quy hoạch tổ chức sản xuất lâm nghiệp cho các thành phần kinh tế trong xã gắn với phát triển lâm nghiệp xã hội
- Quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải, các công trình phục vụ sản xuất và đời sống
- Ước tính đầu tư và hiệu quả: ước tính đầu tư lao động tiền vốn, vật tư thiết bị Hiệu quả đầu tư cần được đánh giá đầy đủ trên các mặt kinh tế, xã hội, môi trường
- Xác định tiến độ thực hiện
Về cơ bản quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp quản lý lãnh thổ từ toàn quốc đến tỉnh, huyện, xã là tương tự nhau Tuy nhiên mức độ giải quyết khác nhau về chiều sâu và chiều rộng tuỳ theo các cấp
1.2.3 Quy hoạch và phát triển lâm nghiệp với tái cơ cấu ngành ở huyện Đoan Hùng
Những năm qua huyện Đoan Hùng đã thực hiện quy hoạch sử dụng đất, Quy hoạch phát triển lâm nghiệp, rà soát kinh doanh rừng và các chủ rừng
Dự án quy hoạch phát triển trang trại, cây ăn quả trên địa bàn Đặc biệt năm
2008, điều chỉnh, bổ sung dự án 661 giai đoạn 2008-2010, Dự án bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011 - 2015 Tuy nhiên nhiều tài liệu quy hoạch rừng, qua quá trình sử dụng đã không còn phù hợp với thực tiễn khách quan
và quy luật phát triển của huyện Trước tình hình đó, Tỉnh uỷ và UBND tỉnh
đã có nhiều văn bản chỉ đạo các ngành chức năng và huyện Đoan Hùng nghiên cứu, quy hoạch lại các diện tích rừng cho phù hợp, làm cơ sở cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho các tổ chức, hộ gia đình, nhằm quản lý bảo vệ chặt chẽ, sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên quý báu của huyện [17][44]
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng của đề tài là 13.174,4 ha rừng và đất lâm nghiệp huyện Đoan Hùng tỉnh Phú Thọ; Điều kiện tự nhiên, dân sinh kinh tế xã hội và nhân văn của huyện; Một số văn bản pháp quy của Nhà nước về đất đai, chính sách phát triển lâm nghiệp; Các cơ chế đã và đang thực hiện liên quan đến quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp; Các mô hình, các chủ quản lý,
sử dụng đất lâm nghiệp
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Địa bàn huyện Đoan Hùng - tỉnh Phú Thọ
Thời gian từ 01/2010 đến 01/2015
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Đánh giá thực trạng quản lý, phát triển lâm nghiệp huyện Đoan Hùng
- Hiện trạng sử dụng đất; hiện trạng sử dụng đất lâm nghiệp của huyện
- Hiện trạng công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng; tổ chức quản lý nhà nước về lâm nghiệp; kết quả hoạt động sản xuất lâm nghiệp
2.2.2 Đánh giá về điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong phát triển lâm nghiệp của huyện Đoan Hùng
2.2.3 Quy hoạch Bảo vệ và Phát triển rừng theo đề án tái cơ cấu ngành lâm nghiệp huyện Đoan Hùng
- Những căn cứ pháp lý, quy hoạch ba loại rừng
- Quy hoạch bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng
- Quy hoạch cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và cơ sở chế biến
2.2.4 Các giải pháp thực hiện quy hoạch
- Tuyên truyền, phố biến nâng cao nhận thức
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
- Nâng cao chất lượng, giá trị rừng; khoa học công nghệ và khuyến lâm
- Phát triển công nghiệp chế biến gỗ và lâm sản ngoài gỗ
- Sắp xếp bộ máy tổ chức quản lý ngành và đơn vị sản xuất
- Giải pháp về bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng
- Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
- Mở rộng thị trường
- Cơ chế chính sách
- Huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn đầu tư
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp kế thừa có chọn lọc, thu thập các tài liệu nghiên cứu có liên quan đến đề tài
- Các số liệu về điều kiện tự nhiên – xã hội của khu vực nghiên cứu
- Các tài liệu văn bản về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, các chính sách của địa phương, các ngành có liên quan đến Quy hoạch Bảo
vệ và Phát triển rừng và đề án tái cơ cấu ngành lâm nghiệp
2.3.2 Sử dụng phương pháp bộ công cụ PRA
Sử dụng phương pháp PRA để thu thập thông tin có liên quan đến hiện trạng sử dụng, những hạn chế của cơ cấu lâm nghiệp hiện tại và xác định sự cần thiết phải tiến hành tái cơ cấu ngành lâm nghiệp Đây là phương pháp phỏng vấn linh hoạt và có hiệu quả cao
Điều tra đối tượng: Người dân và các cán bộ đang trực tiếp tham gia vào công tác bảo vệ và bảo vệ rừng trên địa bàn huyện Đoan Hùng
Điều tra thu thập thông tin - Các số liệu về điều kiện tự nhiên - Kinh tế
- xã hội; tài nguyên động, thực vật; các loại bản đồ hiện trạng, bản đồ lập địa
và bản đồ quy hoạch lâm nghiệp Điều tra thu thập thông tin về tình hình giá
cả thị trường trong và ngoài nước, các chỉ tiêu định mức kinh tế xã hội
Trang 38Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
- Phương pháp phân tích điểm mạnh, điểm yếu (SWOT): Đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội; hiện trạng rừng, công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng
2.3.3 Phương pháp chuyên gia tư vấn
Nhằm xây dựng các quan điểm, định hướng phát triển lâm nghiệp huyện; các nội dung và giải pháp thực hiện quy hoạch
2.3.4 Điều tra khảo thực địa bổ sung
Điều tra số liệu ở các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp sản xuất lâm nghiệp về các hoạt động sản xuất kinh doanh lâm nghiệp; Xây dựng bản
đồ hiện trạng, bản đồ quy hoạch huyện Đoan Hùng; Phúc tra trữ lượng rừng: Mỗi trạng thái rừng lập 3 ô tiêu chuẩn điển hình (ngẫu nhiên hoặc theo tuyến) để tiến hành điều tra Dung lượng phúc tra 10-15%
2.3.5 Phương pháp phân tích, tổng hợp số liệu
- Tổng hợp số liệu bằng phần mềm Microsoft Excel: Hệ thống bảng, biểu, phụ Bảng kèm theo; phân tích các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế của các loại rừng: Rừng tự nhiên, rừng trồng, Rừng trồng với đầu tư khoa học công nghệ
và thâm canh cao;
- Phân tích hiệu quả kinh tế của người nông dân là nghề trồng rừng, bảo
vệ và phát triển rừng, từ đó đưa ra mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp năng cao giá trị sản xuất kinh doanh, môi trường, tái cơ cấu ngành lâm nghiệp
- Xây dựng bản đồ bằng phần mềm Mapinfo
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Đánh giá thực trạng quản lý, bảo vệ và phát triển rừng huyện Đoan Hùng tỉnh Phú Thọ
3.1.1 Hiện trạng sử dụng đất huyện Đoan Hùng
Huyện Đoan Hùng là huyện có quỹ đất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn (85,1%) trong tổng diện tích tự nhiên Trong đó: Đất sản xuất nông nghiệp: 11.922,9 ha, chiếm 39,4% diện tích tự nhiên, bình quân 1.078,3 m2
/nhân khẩu Diện tích đất nông nghiệp được phân bổ không đồng đều giữa các xã,
xã nhiều nhất là Vân Đồn với 781,6 ha, ít nhất là Thị trấn Đoan Hùng 185,8ha Đối tượng sử dụng đất nông nghiệp là hộ gia đình, cá nhân là chính với diện tích 9.192,0 ha, chiếm 91,6%; Các tổ chức kinh tế 62,4 ha, chiếm 0,48%; Uỷ ban nhân dân xã quản lý 944,2 ha, chiếm 7,92%
Toàn bộ đất nông nghiệp đã được giao cho các đối tượng sử dụng, đã hoàn thành lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 28/28 xã, Thị trấn với 20.788 hộ/23.366 hộ, đạt 88,9%; diện tích đã cấp giấy chứng nhận 8.642/11.056,5 ha đạt 78% diện tích Trong đất sản xuất nông nghiệp, đất trồng cây lâu năm 6.230,9 ha, chiếm 52,3%, đây là thế mạnh của huyện để phát triển cây công nghiệp, cây ăn quả như Bưởi, Xoài
Nhìn chung sản xuất nông nghiệp đã có bước chuyển biến, nhiều tiến
bộ khoa học kỹ thuật, nhiều giống mới có năng suất chất lượng được đưa vào sản xuất; Đất lâm nghiệp là 13.819,5 ha, chiếm 45,7% diện tích tự nhiên của huyện, đã giao cho các đơn vị, tập thể, UBND xã và 4.927 hộ quản lý, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đạt 68,8% số hộ, 78% diện tích
Trang 40Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
3.1.2 Hiện trạng sử dụng đất lâm nghiệp huyện Đoan Hùng
Đất lâm nghiệp trên địa bàn huyện được phân ra cụ thể như sau: Đất rừng phòng hộ 2.240,9 ha (đất có rừng tự nhiên 1.283,2 ha, đất có rừng trồng 957,7 ha); Đất rừng sản xuất 11.578,6 ha (đất có rừng tự nhiên 91,0 ha, đất có rừng trồng 11.213,3 ha, đất chưa có rừng 275,3 ha) Trong 275,3 ha đất chưa
có rừng quy hoạch cho lâm nghiệp có 59,0 ha núi đá không có cây và 216,3
ha đất trống để trồng rừng vào những năm tới
Đất lâm nghiệp đã giao đến các chủ quản lý, không còn diện tích chưa
có chủ, cụ thể đã giao là: Hộ gia đình, cá nhân: 8.319,7 ha, trong đó: Rừng tự nhiên 194,8 ha; Rừng trồng 8.124,9 ha; Công ty Lâm nghiệp, trại, trung tâm,
xí nghiệp giống: 3.630,06 ha, trong đó: Rừng tự nhiên 620,3 ha; Rừng trồng 3.009,76ha; Uỷ ban nhân dân xã: 1.869,71 ha, trong đó: rừng tự nhiên 559,1ha; rừng trồng 1.035,31ha; đất trống 216,27 ha; núi đá 59,03 ha
Theo số liệu của Hạt Kiểm lâm huyện Đoan Hùng thì tài nguyên rừng
của huyện được thể hiện như sau:
- Rừng tự nhiên có: 1.374,2 ha, trong đó có 180,2 ha do trại thực nghiệm lâm sinh Quế Lâm, xã Hùng Long và Trung tâm nghiên cứu lâm sinh Cầu Hai quản lý Những diện tích này mật độ cây trồng đảm bảo, cây sinh trưởng và phát triển tốt, rất hữu ích cho việc phòng hộ và công tác nghiên cứu học tập, bảo tồn nguồn gen Diện tích 1.194 ha còn lại, hiện trạng chủ yếu là rừng hỗn giao nứa và cây gỗ tái sinh Trong những năm tới tiếp tục khoanh nuôi tái sinh có trồng bổ sung, một số diện tích không có khả năng phục hồi sẽ áp dụng biện pháp làm giàu rừng và chuyển mục đích sang rừng sản xuất