1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Đặc điểm dịch tễ tăng huyết áp ở người nùng trưởng thành tại tỉnh thái nguyên và

166 297 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 166
Dung lượng 1,82 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiệu quả can thiệp đối với các chỉ số phát hiện, quản lý điều trị THA của người Nùng ở hai xã nghiên cứu .... Vì vậy, song song với ban hành và thực hiện các chính sách về kiểm soát yế

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y - DƯỢC

CHU HỒNG THẮNG

ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP

Ở NGƯỜI NÙNG TRƯỞNG THÀNH TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN

VÀ HIỆU QUẢ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CAN THIỆP

LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC

THÁI NGUYÊN - 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y - DƯỢC

CHU HỒNG THẮNG

ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP

Ở NGƯỜI NÙNG TRƯỞNG THÀNH TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN

VÀ HIỆU QUẢ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CAN THIỆP

Chuyên ngành: Vệ sinh Xã hội học và Tổ chức Y tế

Mã số: 62.72.01.64

LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1 PGS.TS DƯƠNG HỒNG THÁI

2 TS TRỊNH VĂN HÙNG

THÁI NGUYÊN - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Thái Nguyên, tháng 01 năm 2017

Tác giả luận án

Chu Hồng Thắng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để có được kết quả như ngày hôm nay, tôi xin trân trọng cảm ơn Đảng

ủy, Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo, các Phòng, Khoa, Bộ môn và các thầy giáo, cô giáo, cán bộ Trường Đại học Y Dược - Đại học Thái Nguyên, đã trang bị cho tôi kiến thức, tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành Luận án

Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành PGS.TS Dương Hồng Thái và TS Trịnh Văn Hùng những người thầy đã dành nhiều thời gian hướng dẫn, tận tình chỉ bảo và định hướng cho

tôi trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành Luận án

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo, các phòng ban chức năng và cán bộ, nhân viên Sở Y tế Thái Nguyên, Viện Trang thiết bị và Công trình y tế

- Bộ Y tế đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện nghiên cứu trong Luận án này

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Trung tâm Y tế huyện Đồng

Hỷ và các Trạm Y tế xã Văn Hán, Tân Long của huyện đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện nghiên cứu tại địa phương để có được kết quả nghiên cứu trong Luận án

Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, đồng nghiệp, những người bạn thân thiết đã luôn giúp đỡ, động viên, khích lệ, chia sẻ khó khăn trong thời gian tôi học tập để hoàn thành khóa học

Xin trân trọng cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 01 năm 2017

Chu Hồng Thắng

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

(Knowlege Attiude Practice)

Trang 6

NCS : Nghiên cứu sinh

Trang 7

MỤC LỤC

STT Nội dung Trang

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii

MỤC LỤC v

DANH MỤC BẢNG viii

DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ x

DANH MỤC HỘP xi

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 TỔNG QUAN 4

1.1 Tình hình tăng huyết áp hiện nay 4

1.1.1 Tình hình bệnh tăng huyết áp ở một số nước trên thế giới 4

1.1.2 Tình hình bệnh tăng huyết áp ở Việt Nam 6

1.2 Các yếu tố nguy cơ của THA 9

1.2.1 Một số yếu tố nguy cơ về hành vi lối sống 9

1.2.2 Yếu tố thuộc về môi trường sống 15

1.2.3 Hệ thống y tế 17

1.2.4 Yếu tố sinh học 17

1.2.5 Một vài nét về người dân tộc Nùng 19

1.3 Các giải pháp phòng chống tăng huyết áp 21

1.3.1 Xu hướng chủ động dự phòng THA hiện nay 21

1.3.2 Huy động cộng đồng truyền thông phòng chống tăng huyết áp 22

1.3.3 Một số giải pháp can thiệp cộng đồng phòng chống THA 27

1.4 Một số thông tin về địa điểm nghiên cứu 31

1.4.1 Huyện Võ Nhai 31

1.4.2 Huyện Đồng Hỷ 31

Trang 8

1.4.3 Xã Tân Long, huyện Đồng Hỷ 32

1.4.4 Xã Văn Hán, huyện Đồng Hỷ 33

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34

2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 34

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 34

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 34

2.1.3 Thời gian nghiên cứu 37

2.2 Phương pháp nghiên cứu 37

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 37

2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu định lượng 38

2.2.3 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu định tính 42

2.2.4 Một số giải pháp can thiệp 42

2.2.5 Các chỉ số nghiên cứu 47

2.2.6 Một số tiêu chuẩn đánh giá sử dụng trong nghiên cứu 49

2.2.7 Phương pháp thu thập số liệu 51

2.2.8 Phương pháp xử lý số liệu 53

2.2.9 Phương pháp khống chế sai số 54

2.3 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 54

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 55

3.1 Đặc điểm dịch tễ THA ở người Nùng trưởng thành (25-64 tuổi) tại các điểm nghiên cứu ở tỉnh Thái Nguyên năm 2012 55

3.1.1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu 55

3.1.2 Đặc điểm THA ở người Nùng trưởng thành 58

3.2 Một số yếu tố nguy cơ THA ở người Nùng trưởng thành tại

Thái Nguyên 63

3.3 Hiệu quả một số giải pháp can thiệp cộng đồng 72

3.3.1 Kết quả thực hiện hoạt động can thiệp 72

3.3.2 Hiệu quả thay đổi kiến thức, thái độ, thực hành dự phòng THA 77

Trang 9

3.3.3 Hiệu quả thay đổi về phát hiện, quản lý điều trị THA ở TYT xã 83

Chương 4 BÀN LUẬN 89

4.1 Đặc điểm dịch tễ THA ở người Nùng trưởng thành (25-64 tuổi) tại tỉnh Thái Nguyên năm 2012. 89

4.2 Một số yếu tố nguy cơ THA ở người Nùng trưởng thành (25- 64 tuổi) tại tỉnh Thái Nguyên. 96

4.2.1 Một số yếu tố nguy cơ thuộc về đặc điểm cá nhân 96

4.2.2 Một số yếu tố nguy cơ THA thuộc về đặc điểm gia đình 97

4.2.3 Yếu tố nguy cơ THA liên quan đến tiền sử gia đình 98

4.2.4 Một số yếu tố nguy cơ THA thuộc về hành vi sức khỏe 99

4.2.5 Yếu tố văn ảnh hóa hưởng đến THA của người Nùng trưởng thành (25 - 64 tuổi) tại xã Văn Hán, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên 105

4.3 Đánh giá hiệu quả một số giải pháp can thiệp phòng chống THA ở người Nùng trưởng thành (25- 64 tuổi) tại xã Văn Hán, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên 107

4.3.1 Hiệu quả thay đổi kiến thức, thái độ, thực hành dự phòng THA 107

4.3.2 Hiệu quả thay đổi về phát hiện, quản lý điều trị THA ở TYT xã 115

4.4 Hạn chế của nghiên cứu 119

KẾT LUẬN 121

KHUYẾN NGHỊ 122

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 10

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Cỡ mẫu và chọn mẫu hệ thống cho từng xã nghiên cứu 39

Bảng 2.2 Phân loại THA theo WHO (2003) và Bộ Y tế (2010) 50

Bảng 3.1 Thông tin chung về đặc điểm cá nhân của đối tượng nghiên cứu 55

Bảng 3.2 Thông tin chung về đặc điểm hộ gia đình của đối tượng nghiên cứu 57

Bảng 3.3 Tỷ lệ và phân loại THA ở người Nùng trưởng thành 58

Bảng 3.4 Tỷ lệ THA của người Nùng trưởng thành theo một số đặc điểm cá nhân 59

Bảng 3.5 Tỷ lệ THA của người Nùng trưởng thành theo một số đặc điểm hộ gia đình 60

Bảng 3.6 Tỷ lệ THA theo BMI của người Nùng trưởng thành 61

Bảng 3.7 Kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống THA của người Nùng trưởng thành 61

Bảng 3.8 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu bệnh chứng 63

Bảng 3.9 Mối liên quan giữa trình độ học vấn và nghề nghiệp với THA 63

Bảng 3.10 Mối liên quan giữa yếu tố gia đình với THA 64

Bảng 3.11 Mối liên quan giữa kiến thức, thái độ, thực hành với THA 65

Bảng 3.12 Nguy cơ thuộc về tiền sử gia đình người THA 66

Bảng 3.13 Mối liên quan giữa thói quen ăn uống, sinh hoạt với THA 67

Bảng 3.14 Mối liên quan giữa sở thích ăn uống của người THA 68

Bảng 3.15 Mối liên quan giữa sử dụng một số loại đồ uống với THA 69

Bảng 3.16 Nguy cơ thuộc về thói quen luyện tập của người THA 69

Bảng 3.17 Mối liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng (BMI ) và THA 70

Bảng 3.18 Kết quả tập huấn cho các thành viên tham gia can thiệp 74

Bảng 3.19 Kết quả hoạt động truyền thông phòng chống THA của các thành viên tham gia can thiệp cộng đồng 75

Trang 11

Bảng 3.20 Kết quả theo dõi, giám sát các hoạt động can thiệp cộng đồng 76

Bảng 3.21 Sự thay đổi kiến thức của người Nùng ở xã can thiệp (xã Văn Hán) 77

Bảng 3.22 Sự thay đổi kiến thức của người Nùng ở xã đối chứng (xã Tân Long) 77

Bảng 3.23 Hiệu quả can thiệp đối với kiến thức phòng chống THA của người Nùng ở hai xã nghiên cứu 78

Bảng 3.24 Sự thay đổi tỷ lệ thái độ tốt của người Nùng ở xã can thiệp (xã Văn Hán) 78

Bảng 3.25 Sự thay đổi tỷ lệ thái độ tốt của người Nùng ở xã đối chứng (xã Tân Long) 79

Bảng 3.26 Hiệu quả can thiệp đối với thái độ phòng chống THA của người Nùng ở hai xã nghiên cứu 79

Bảng 3.27 Sự thay đổi thực hành về phòng chống THA ở xã can thiệp (xã Văn Hán) 80

Bảng 3.28 Sự thay đổi thực hành về phòng chống THA ở xã đối chứng (xã Tân Long) 81

Bảng 3.29 Hiệu quả can thiệp đối với thực hành dự phòng THA của người Nùng ở hai xã nghiên cứu 82

Bảng 3.30 Đánh giá chung hiệu quả can thiệp đối với thực hành dự phòng THA của người Nùng ở hai xã nghiên cứu 82

Bảng 3.31 Thay đổi các chỉ số phát hiện, quản lý điều trị THA ở xã can thiệp (xã Văn Hán) 83

Bảng 3.32 Thay đổi các chỉ số phát hiện, quản lý điều trị THA ở xã đối chứng 84

Bảng 3.33 Hiệu quả can thiệp đối với các chỉ số phát hiện, quản lý điều trị THA của người Nùng ở hai xã nghiên cứu 85

Bảng 3.34 Sự thay đổi mức độ THA trước và sau can thiệp tại xã Văn Hán 86

Bảng 3.35 Sự thay đổi mức độ THA tại xã đối chứng (xã Tân Long) 86

Bảng 3.36 Hiệu quả can thiệp đối với mức độ THA ở hai xã nghiên cứu 87

Trang 12

DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ

Hình 2.1 Bản đồ hành chính huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên 35

Hình 2.2 Bản đồ hành chính huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên 36

Hình 2.3 Sơ đồ nghiên cứu can thiệp so sánh trước sau và có đối chứng 37

Hình 2.4 Chọn nhóm bệnh bằng phần mềm Epi info 6.04 40

Hình 2.5 Sơ đồ tổ chức phòng chống tăng huyết áp tại cộng đồng 43

Biểu đồ 3.1 Phân loại tình trạng dinh dưỡng của người Nùng trưởng thành theo BMI 56

Biểu đồ 3.2 So sánh thực hành về phòng chống THA của người Nùng ở hai xã nghiên cứu sau can thiệp 81

Trang 13

Hộp 3.4 Tính khả thi và bền vững của giải pháp can thiệp phòng chống

Trang 14

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tăng huyết áp là bệnh lý phổ biến trên thế giới cũng như ở Việt Nam Tăng huyết áp là mối đe dọa rất lớn đối với sức khoẻ của con người, là nguyên nhân gây tàn phế và tử vong hàng đầu trong bệnh tim mạch [70] Theo Tổ chức Y tế thế giới, trên thế giới tỷ lệ mắc tăng huyết áp khoảng 10 - 15% dân số và ước tính đến 2025 vào khoảng 29% [117], [118] Tại Hoa Kỳ, hàng năm chi phí cho phòng chống tăng huyết áp mất trên 259 tỷ đô la Mỹ [68] Tỷ lệ tăng huyết áp rất cao và có xu hướng gia tăng nhanh chóng không chỉ ở các nước có nền kinh tế phát triển mà ở cả các nước đang phát triển [119] Tăng huyết áp gây nhiều biến chứng nguy hiểm như tai biến mạch máu não, suy tim, suy mạch vành, suy thận phải điều trị lâu dài, cần sử dụng thuốc và phương tiện kỹ thuật đắt tiền Chính vì thế, tăng huyết áp còn được

gọi là “kẻ thù số một” vì những hậu quả nặng nề mà nó gây ra Tăng huyết áp cũng được nói đến như là “kẻ giết người thầm lặng” vì phần lớn những người

bị tăng huyết áp không biết mình đã bị tăng huyết áp [66] Người bị tăng huyết áp không những ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bản thân người mắc bệnh, mà còn là gánh nặng cho gia đình và xã hội

Ở Việt Nam, cùng với sự phát triển của công nghiệp hoá, đô thị hoá, tỷ

lệ bệnh lý tăng huyết áp cũng ngày một tăng cao [4], [10] Nghiên cứu tại cộng đồng của Viện Tim mạch Việt Nam cho thấy sự gia tăng của bệnh lý tăng huyết áp ở người từ 25 tuổi trở lên trong cộng đồng tăng từ 11,7% năm

1992, lên 16,3% năm 2002 (ở 4 tỉnh phía Bắc) [3], [5] và 27,2% năm 2008 (cả nước), cao ngang hàng với các nước trên thế giới [6] Năm 2010, Lại Đức Trường nghiên cứu tại tỉnh Thái Nguyên cho thấy tỷ lệ bệnh tăng huyết áp ở người trưởng thành là 17,8% [56] Nghiên cứu của Nguyễn Kim Kế ở thị xã Hưng Yên năm 2013, tỷ lệ THA ở người cao tuổi là 28,2% [27] Một nghiên cứu mới đây cho thấy tỷ lệ tăng huyết áp ở người cao tuổi dân tộc thiểu số đã lên đến 33,3% [23]

Trang 15

Tỷ lệ tăng huyết áp trong các nghiên cứu về dịch tễ học luôn vào khoảng

từ 20% đến 30% [6], [9], [78], [90], [111] Dự báo trong những năm tới số người mắc bệnh tăng huyết áp sẽ còn tăng Có nhiều nguyên nhân, nguy cơ dẫn đến sự gia tăng của bệnh tăng huyết áp như tuổi, hút thuốc, tập thể dục, béo phì và yếu tố kinh tế - xã hội Lối sống cũng là yếu tố ảnh hưởng đến tăng huyết áp [39], [42], [94], [102] Theo Tổ chức Y tế thế giới, khống chế được những yếu tố nguy cơ có thể làm giảm được 80% tăng huyết áp [116] Tập trung vào quản lý huyết áp tại cộng đồng bằng cách theo dõi đều, điều trị đúng và đủ là những giải pháp phòng chống tăng huyết áp phù hợp ở cộng đồng [66] Vì vậy, song song với ban hành và thực hiện các chính sách về kiểm soát yếu tố nguy cơ như tăng thuế thuốc lá, rượu bia, cấm hút thuốc nơi công cộng, thực hiện vệ sinh an toàn thực phẩm…thì các sáng kiến xây dựng các giải pháp phòng chống tăng huyết áp tại cộng đồng là vô cùng quan trọng

và cần thiết

Người Nùng là một trong 53 dân tộc ít người ở Việt Nam Với số lượng khoảng 980.000 người, chủ yếu sinh sống ở miền núi phía Bắc [58] Thái Nguyên cũng là nơi có nhiều người Nùng sinh sống [59] Người Nùng có những nét văn hóa riêng, có nhiều phong tục tập quán, trong đó còn có những tập quán không tốt cho sức khỏe ảnh hưởng đến tăng huyết áp [21], [22], [58] Theo Hoàng Minh Nam, tỷ lệ tăng huyết áp ở người dân tộc Nùng Thái Nguyên khá cao (25,5% người cao tuổi bị tăng huyết áp) [38] Vấn đề tăng huyết áp của người dân tộc Nùng có thể khác với người Kinh hay các dân tộc thiểu số khác hay không? Yếu tố nguy cơ nào hay liệu các yếu tố văn hóa của người Nùng như phong tục tập quán có ảnh hưởng đến vấn đề tăng huyết áp của người Nùng hay không?…Và giải pháp nào để dự phòng có hiệu quả bệnh tăng huyết áp cho người Nùng ở Thái Nguyên Chính vì thế nhóm

nghiên cứu thực hiện đề tài: “Đặc điểm dịch tễ tăng huyết áp ở người Nùng

trưởng thành tại tỉnh Thái Nguyên và hiệu quả một số giải pháp can thiệp”

Trang 16

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:

1- Xác định tỷ lệ tăng huyết áp ở người Nùng trưởng thành (25-64 tuổi) tại tỉnh Thái Nguyên năm 2012

2- Xác định một số yếu tố nguy cơ tăng huyết áp ở người Nùng trưởng thành (25-64 tuổi) tại tỉnh Thái Nguyên

3- Đánh giá hiệu quả một số giải pháp can thiệp phòng chống tăng huyết

áp ở người Nùng trưởng thành (25-64 tuổi) tại một xã của huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên

Trang 17

Chương 1 TỔNG QUAN

1.1 Tình hình tăng huyết áp hiện nay

1.1.1 Tình hình bệnh tăng huyết áp ở một số nước trên thế giới

Tăng huyết áp (THA) trong cộng đồng ngày càng gia tăng và hiện tại đang ở mức cao, đặc biệt các nước phát triển [119] Tại các nước phát triển,

mô hình bệnh tật chuyển đổi từ các bệnh nhiễm trùng sang các bệnh không nhiễm trùng, trong đó có THA Theo Tổ chức Y tế thế giới (Word Health Organization - WHO), THA là khi huyết áp tâm thu (HATT) ≥ 140 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương (HATTr) ≥ 90 mmHg THA là nguyên nhân trung gian gây các bệnh lý tim mạch nguy hiểm (như tai biến mạch máu não - TBMMN và nhồi máu cơ tim) và là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong của các bệnh không lây nhiễm và có tới 30% tử vong là do nguyên nhân này [119]

THA là một thách thức đối với y tế công cộng do tỷ lệ của bệnh ngày một gia tăng, nhiều biến chứng về tim mạch nặng nề và bệnh thận đi kèm Tỷ

lệ người trưởng thành bị THA trên toàn thế giới chiếm 26,4% vào năm 2000, tương đương với 972 triệu người mắc bệnh Tỷ lệ mắc bệnh ngày càng gia tăng và dự đoán tỷ lệ này sẽ tăng lên đến 60% tương đương với 1,56 tỷ người trưởng thành bị THA trên toàn thế giới vào năm 2025 [86], [117], [118]

Điều tra tại Hoa Kỳ trên đối tượng là người trưởng thành cho thấy tỷ lệ huyết áp (HA) bình thường là 39%, 31% thuộc nhóm tiền THA và 29% là THA [68], [78] Tỷ lệ hiện mắc hiệu chỉnh theo tuổi ở nam là 39% so với nữ 23,1% Nhưng tỷ lệ THA ở nam chỉ cao hơn ở nữ lứa tuổi trước 45 tuổi Ở độ tuổi 45 – 54 tuổi, tỷ lệ THA ở nữ bắt đầu nhỉnh hơn ở nam giới và ở các độ tuổi lớn hơn tỷ lệ THA ở nữ cao hơn nam [68], [78] THA được coi là nguyên

Trang 18

nhân chủ yếu hoặc góp phần chính trong 11,4% các ca tử vong ở Mỹ năm

2003 Trong vòng 10 năm (1993 - 2003), tỷ lệ tử vong do THA tăng 29,3%,

làm tăng nguy cơ đột quỵ thêm 4 lần so với người có HA bình thường [68], [78] THA cũng tăng nguy cơ phát triển suy tim ứ huyết 2 - 3 lần Năm 1999 -

2000 có tới 37,5 triệu lượt bệnh nhân phải đi khám vì THA tại Mỹ Ước tính chi phí trực tiếp và gián tiếp cho THA năm 2003 đã lên tới 65,3 tỷ USD [68], [78] Theo thống kê của Tổ chức y tế Thế giới năm 2005, tỷ lệ tử vong do nguyên nhân tim mạch chiếm đến 30% trong tổng số các bệnh không lây nhiễm [113]

Tỷ lệ mắc tăng huyết áp thay đổi ở các quốc gia như Indonesia 6-15%, Malaysia 10-11%, Hà Lan là 37%, Pháp là 10-24%, Hoa Kỳ là 24% [71], [74], [83], [95], [107], [111]; Trung Quốc (2001) 27%; Thái Lan (2001) 20,5%; Châu Phi (2007) 21,3% [77], [85], [87], [103], [104]

Tỷ lệ THA ở người cao tuổi (NCT) rất cao Nhiều nghiên cứu ở châu Âu

và Mỹ đã chỉ ra rằng tỷ lệ THA ở người cao tuổi trong khoảng 53% - 72% [67] Theo Sarah Yoon thì tỷ lệ người cao tuổi bị THA ở Mỹ vào khoảng 64% vào năm 2008 và từ năm 1999-2008, tỷ lệ này có tăng nhẹ từ khoảng 62% đến 64% [120] Theo một nghiên cứu ở Maracaibo, Venezuela thì tỷ lệ bệnh nhân THA ở NCT chiếm 61,2%, trong đó nam giới có tỷ lệ THA cao hơn nữ giới (67,4% so với 55,8%) [103] Theo nghiên cứu của Shyamal Kumar Das nghiên cứu tại vùng thành thị của Ấn Độ cho thấy, tỷ lệ đối tượng từ 60-69 bị tiền THA là 48,8%, bị THA giai đoạn I là 48,2% và THA giai đoạn II là 41%, trong khi đó thì đối với đối tượng từ 70 tuổi trở lên thì tỷ lệ bị tiền THA là 49,5%, THA giai đoạn I là 36,7%, THA giai đoạn II là 43,1% Đồng thời nhóm đối tượng từ 60-69 tuổi và trên 70 tuổi có nguy cơ bị THA giai đoạn I cao gấp 5,22 lần và 3,07 lần so với nhóm đối tượng dưới 20 tuổi Tỷ lệ bị THA giai đoạn II ở 2 nhóm đối tượng này cao gấp 13,7 lần và 15,6 lần so

Trang 19

với nhóm đối tượng dưới 20 tuổi [74] Tỷ lệ người cao tuổi bị THA tại Mỹ vào năm 1999-2000 là 64,2%, vào năm 2001-2002 là 65,7% và vào năm 2003-2004 là 66,3% [96]

Trong một nghiên cứu khác về THA tại Ấn Độ và Bangladesh cho thấy

tỷ lệ người có thái độ tốt về việc cần thiết đánh giá tình trạng huyết áp của mình thường xuyên chỉ đạt 44,7% và tỷ lệ thực hiện kiểm soát HA tốt chỉ chiếm 25,6% [82] Hay theo nghiên cứu của Prencipe M (2000) tại Italia thì trong số người bị THA chỉ có 65,6% bệnh nhân nhận thức được tình trạng THA của mình, 59,5% bệnh nhân được điều trị và chỉ có 10,5% bệnh nhân có kiểm soát huyết áp [100]

1.1.2 Tình hình bệnh tăng huyết áp ở Việt Nam

Theo thống kê, bệnh tim - mạch là nguyên nhân thứ 2 gây tử vong tại các bệnh viện Trong các bệnh tim mạch, tăng huyết áp là bệnh phổ biến nhất và gia tăng nhanh nhất Các số liệu điều tra dịch tễ về THA cho thấy, tình hình mắc bệnh này đang gia tăng mạnh mẽ [4], [10] Theo thống kê của Đặng Văn Chung năm 1960, tỷ lệ THA ở người lớn phía Bắc Việt Nam chỉ là 1%, hơn

30 năm sau (1992) theo điều tra trên toàn quốc của Trần Đỗ Trinh và cộng sự thì tỷ lệ này đã 11,7%, tăng lên hơn 11 lần Mười năm sau (2002), điều tra dịch tễ học THA và các yếu tố nguy cơ tại 4 tỉnh phía Bắc Việt Nam ở người dân từ 25 tuổi trở lên, tỷ lệ THA đã tăng đến 16,3% Tỷ lệ THA ở vùng thành thị là 22,7% cao hơn nhiều so với vùng nông thôn 12,3% [30] Tại 8 tỉnh, thành phố: tỷ lệ THA từ 25 tuổi trở lên là 25,1%, nghĩa là cứ 4 người trưởng thành thì có 1 người bị THA (theo điều tra của Viện Tim mạch Việt Nam) [9], [28] Như vậy, với dân số theo tổng điều tra 2009 khoảng 86 triệu người [54], Việt Nam ước tính có khoảng gần 7 triệu người bị THA, nếu không có các biện pháp dự phòng và quản lý hữu hiệu thì đến năm 2025 sẽ có khoảng 10 triệu người bị THA [8]

Trang 20

Năm 2002, theo điều tra của Viện Tim mạch Việt Nam, tỷ lệ THA là 23,2%; theo số liệu điều tra y tế quốc gia năm 2001 - 2002 của Việt Nam, tỷ

lệ tăng huyết áp ở nam giới từ 16 tuổi trở lên là 15,1% và nữ giới là 13,5% [5] Điều tra của Viện Tim mạch Việt Nam về tần suất THA và các yếu tố nguy cơ tại các tỉnh miền Bắc Việt Nam năm 2001 - 2002 (trên 5.012 người) cho thấy tần suất THA ở người trưởng thành là 16,5%; trong đó THA độ 1, độ

2, độ 3 lần lượt là 10,2%; 4,2% và 1,9% Tỷ lệ được điều trị thuốc hạ áp chỉ chiếm 11,5%, trong số đó kiểm soát HA tốt (đưa HA về bình thường) chỉ chiếm 19,1% [5] Các yếu tố nguy cơ bao gồm: tuổi cao, giới nam, chỉ số khối

cơ thể tăng, béo bụng, chỉ số vòng bụng/vòng mông tăng, rối loạn đường máu, rối loạn mỡ máu, uống nhiều rượu, tiền sử gia đình huyết thống trực hệ có người THA [92], [101], [114], [115] Yếu tố liên quan mạnh nhất đến THA là tuổi và mức độ béo phì [40], [81], [89] Tỷ lệ người dân hiểu biết đúng tất cả các yếu tố nguy cơ chỉ chiếm 23% (18,8% nông thôn so với 29,5% ở thành thị), trong khi hiểu biết sai về các yếu tố nguy cơ chiếm hơn 1/3 dân số (44,1% ở nông thôn so với 27,1% ở thành thị) [26]

Theo điều tra mới nhất của Nguyễn Thị Hoàn ở Na Hang, tỉnh Tuyên Quang, cho thấy tỷ lệ THA ở NCT dân tộc Tày rất cao chiếm tỷ lệ 33,3% [23] Kết quả điều tra năm 2002 cũng cho thấy, trong số người THA thì tỷ lệ được điều trị còn rất thấp (11,7%) Trong số bệnh nhân được điều trị, chỉ có 19,1% số bệnh nhân được điều trị tốt [29] THA có ở cả thành thị và nông thôn, cả người nghèo và người có kinh tế khá Một trong những biến chứng nguy hiểm nhất của THA là đột quỵ, biến chứng này có thể gây tử vong hoặc

để lại di chứng nặng nề như mất ý thức, liệt nửa người…[119]

Ở Việt Nam hiện nay đã có nhiều nghiên cứu về THA ở người cao tuổi Các nghiên cứu này đều chỉ ra rằng tỷ lệ THA ở NCT là cao và có xu hướng tăng lên theo từng năm Theo Nguyễn Thanh Ngọc khi nghiên cứu tỷ lệ THA của người cao tuổi ở phường Phương Mai, Đống Đa, Hà Nội cho kết quả là

Trang 21

37,6%; trong đó tỷ lệ THA ở nam giới là 48,5% và ở nữ giới là 32,4% [40] Trong nghiên cứu ở Huế cho thấy tỷ lệ người cao tuổi bị THA tại xã Hương Xuân, huyện Hương Trà là 38,9% [24] và tại xã Hương Vân, huyện Hương Trà là 40,53% [32] và mức độ THA ở người cao tuổi theo các giai đoạn có xu hướng: Mức độ nặng dần thì tỷ lệ mắc cũng giảm dần: như tỷ lệ THA độ I là 39,25%; THA độ II là 35,51% và THA độ III là 25,24% [39] Nghiên cứu tại tỉnh Long An, tỷ lệ người cao tuổi bị THA chiếm 52,5%; nhưng trong số những bệnh nhân này thì số NCT có điều trị THA chiếm 76,6% và số người cao tuổi kiểm soát tốt huyết áp chỉ chiếm có 10,6% [25] Chính vì khả năng kiểm soát huyết áp tại cộng đồng chưa tốt nên tỷ lệ NCT phải nhập viện vào khoa nội tim mạch vì biến chứng TBMMN do THA chiếm tới 60,7%, còn do THA đơn thuần chỉ chiếm 13%, do tác dụng phụ của thuốc: 0,7% và nguyên nhân khác: 25,6% [15]

Nghiên cứu gần đây của Nguyễn Kim Kế ở Hưng Yên cho thấy: Tỷ lệ THA ở người cao tuổi trung bình tại thị xã Hưng Yên là 28,2%, trong đó tỷ lệ THA ở nam giới là 29,7%, nữ giới là 26,9%, tỷ lệ THA tăng dần theo tuổi: nhóm tuổi 60-69 tuổi là 21,3%, nhóm tuổi 70-79 tuổi là 29,6% và nhóm tuổi trên 80 tuổi là 44,9%; Tỷ lệ THA ở người cao tuổi cư trú tại các phường của thị xã Hưng Yên (31,1%) cao hơn so với các xã (25,3%); Tỷ lệ THA giai đoạn I là 15,5%, THA giai đoạn II là 12,7%, tiền THA là 17,2% [27]

Nguyễn Văn Phát nghiên cứu tình hình THA ở người cao tuổi dân tộc thiểu số (chủ yếu là Mông, Dao, Tày, Nùng) ở xã Du Tiến, huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang năm 2011 cho thấy: Tỷ lệ THA khá cao (40%), phân bố THA

theo tuổi: Nhóm tuổi cao nhất thì tỷ lệ bệnh cao nhất (57,1%); Nhóm tuổi thấp

nhất thì tỷ lệ THA cũng thấp nhất (33,3%); Nhóm nam có tỷ lệ bệnh THA cao hơn nhóm nữ (tương ứng là 62,5% và 25%) [41]

Nguyễn Thị Hoàn nghiên cứu THA ở riêng người dân tộc Tày thuộc xã Năng Khả, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang năm 2015 với kết quả: Tỷ lệ

Trang 22

THA của người cao tuổi dân tộc Tày là 33,3%, phân bố theo tuổi: tỷ lệ THA cao nhất là lứa tuổi ≥ 80 tuổi (43,8%), tiếp theo là lứa tuổi 70 – 79 tuổi (37,5%), thấp nhất là lứa tuổi 60 – 69 tuổi (30,7%); Theo giới: Tỷ lệ THA của NCT nam cao hơn nữ rõ rệt (42,9 % so với 29,3%) Theo trình độ học vấn: người cao tuổi trình độ tiểu học trở xuống có tỷ lệ THA cao hơn (38,8%); Theo điều kiện kinh tế, văn hóa xã hội: người cao tuổi ở gia đình nghèo, sống trong nhà tạm và có phương tiện truyền thông thì tỷ lệ THA cao hơn; Theo tình trạng tinh thần vật chất gia đình như người cao tuổi có cuộc sống tinh thần, vật chất không thoải mái thì có tỷ lệ THA cao hơn [23]

1.2 Các yếu tố nguy cơ của tăng huyết áp

1.2.1 Một số yếu tố nguy cơ thuộc về hành vi lối sống

Các yếu tố nguy cơ (YTNC) thuộc về hành vi lối sống vô cùng quan trọng trong THA [43] Một số nước, ví dụ như Nhật Bản gọi bệnh lý THA là bệnh liên quan đến lối sống Kiểm soát tốt các YTNC này là cách hiệu quả nhất trong phòng bệnh THA Theo WHO, 80% bệnh tim- mạch có thể phòng được thông qua thực hiện lối sống lành mạnh loại bỏ các YTNC [116]

1.2.1.1 Thói quen uống rượu

Theo WHO năm 2001, có khoảng 140 triệu người trên thế giới nghiện rượu, 400 triệu người sử dụng rượu ở mức nguy hại, dẫn đến tai nạn và tử vong Ở Việt Nam, tỷ lệ lạm dụng rượu ước tính 8% dân số và 4% là nghiện rượu [26] Rượu được hấp thu nhanh qua đường tiêu hoá, chủ yếu đoạn đầu ruột non và đạt hàm lượng trong máu cao nhất sau khi uống từ 30 đến 90 phút Đã có một số nghiên cứu được báo cáo về sự liên quan của uống rượu nhiều và THA, nhưng cơ chế của liên quan này vẫn còn chưa rõ ràng Có những ý kiến chưa thống nhất nhưng đa số thừa nhận uống nhiều rượu làm THA Một số nghiên cứu cho thấy THA ở 20 - 30% số người lạm dụng rượu Hơn nữa rượu còn có thể gây rối loạn nhịp tim, rối loạn điều hòa lipoprotein

Trang 23

và triglycerid, làm tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim và các bệnh lý về mạch máu [72], [80], [115]

Uống nhiều rượu hay gây THA, càng uống nhiều HA càng cao Vùng nào tiêu thụ nhiều rượu, nhất là vùng người dân tộc thiểu số sinh sống, nơi đó nhiều người bị THA [1] Rượu uống nhiều còn làm mất hiệu quả của những thuốc chữa THA Qua điều tra dịch tễ học THA ở Việt Nam, trong 4 năm (1989 - 1992) nhận thấy lạm dụng rượu ở người THA cao hơn những người bình thường Nghiên cứu của Phạm Gia Khải về dịch tễ học bệnh lý THA tại

Hà Nội năm 1999 thấy uống rượu có mối liên quan chặt chẽ với THA ở cả 2 giới [29] Khoảng 10% trường hợp THA liên quan đến uống rượu Uống rượu thường xuyên trên 3 cốc/1ngày làm tăng nguy cơ mắc bệnh THA Tăng huyết

áp thấy ở 20 - 30% số người lạm dụng rượu và rượu còn liên quan đến rối loạn nhịp tim [72], [80], [115]

1.2.1.2 Ăn nhiều muối

Ở Nhật Bản, sau khi vận động nhân dân ăn ít muối, tỷ lệ mắc bệnh chảy máu não giảm 40%, tắc mạch não giảm 24,6% Một số nghiên cứu trước về hiệu quả của chế độ muối khoáng tác động lên HA 24 giờ ở người lớn tuổi THA: Chế độ ăn muối hàng ngày được điều chỉnh cho ít Na và tăng K, Mg trong 6 tháng Một máy đo HA tự động đo HA cứ 20 phút một lần vào ban ngày và 30 phút một lần vào ban đêm Nghiên cứu được làm trước và sau 6 tháng bắt đầu chế độ ăn này Kết quả giảm ăn Na và ăn tăng cả K và Mg có thể có tác dụng trong việc khống chế THA [69], [79], [98] Các thử nghiệm cho thấy rằng ăn nhiều muối (trên 14g/ngày) sẽ gây THA; trong khi ăn ít muối (dưới 1g/ngày) gây giảm HA động mạch Theo WHO nên ăn dưới 6g/ngày [112] Hạn chế muối trong khẩu phần ăn hàng ngày là một trong những biện pháp dễ nhất để phòng ngừa THA và là cách điều trị mà không

phải dùng thuốc tốt nhất

Trang 24

Việt Nam ở vùng nhiệt đới, với trên 3000 km bờ biển, nhân dân ở các vùng ven biển này chủ yếu là lao động thuần tuý nên họ có thói quen ăn mặn

Vì vậy, tác động của chế độ ăn gây ra THA ở nước ta có thể là tác nhân có ý nghĩa Khi nghiên cứu ở tỉnh Nghệ An là nơi người dân hay ăn mặn, mỗi ngày trung bình ăn 13,9g muối, thì tỷ lệ THA 17,9%, còn người dân ở Hà Nội ăn nhạt hơn, chỉ có 10,5g muối thì chỉ có 10,6% bị THA [30] Một số nghiên cứu cho thấy: vùng ven biển ăn mặn có tỷ lệ THA cao rõ hơn ở vùng đồng bằng

và miền núi Trong một điều tra dịch tễ học: so sánh 1.128 và 909 cặp đôi giữa nhóm THA và nhóm đối chứng thấy rằng, tỷ lệ số người ăn mặn THA cao hơn rõ rệt so với nhóm những người bình thường [53]

Theo WHO và Tổ chức tim mạch thế giới khuyến cáo người bình thường chỉ nên tiêu thụ dưới 5g muối/người/ngày [79]

1.2.1.3 Béo phì

Một nghiên cứu ở châu Phi cho thấy ảnh hưởng của các yếu tố: trọng

lượng, chiều cao, vòng mông và vòng bụng tới THA Kết quả cho thấy: 18%

Circumference/vòng bụng), WHR (Waist-Hip Ratio/tỷ số vòng eo trên vòng mông) đều tăng đáng kể cùng với tuổi Chỉ có 1,6% sinh viên có THA, 1% hút thuốc lá và 4,4% nghiện hút Qua nghiên cứu cho thấy BMI, WC và WHR có mối tương quan với HA và tuổi [104] Tiêu chuẩn được gọi là béo phì khi: hoặc

rằng: béo phì tính theo BMI có sự liên quan với THA ở cả hai giới [27], [45] Trong nhiều nghiên cứu khác cũng nhận thấy béo phì có mối liên quan với các mức HA Nguy cơ THA ở người thừa cân, béo phì cao gấp 2 lần so với người bình thường và cao gấp 3 lần so với người nhẹ cân [14], [36], [37], [44]

Trang 25

Tại Việt Nam, trong nghiên cứu của Phạm Gia Khải và cộng sự cho thấy

này có nghĩa là vòng bụng càng to thì nguy cơ THA càng cao [28] Ngoài ra, trên các đối tượng béo phì có sự thay đổi bất lợi về các chỉ số sinh hoá như tăng lipid máu toàn phần, tăng cholesterol ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ [60]

Ở những người béo phì có THA, chỉ cần giảm 5 kg là HA đã giảm nhiều Người ta tính rằng, nếu giảm 10 kg thì HA tâm thu có thể giảm từ 5 đến 20 mmHg, đồng thời còn có nhiều lợi ích khác như giảm tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường, hạ lipid máu

1.2.1.4 Thói quen hút thuốc lá

Tại Việt Nam, trong một nghiên cứu về dịch tễ học bệnh THA kết quả cho thấy: ở nhóm người hút thuốc lá nhiều (trên 8 điếu/ngày) có tỷ lệ THA cao hơn hẳn nhóm không hút thuốc lá, nhưng nếu hút thuốc lá dưới 8 điếu/ngày thì tỷ lệ THA giữa nhóm có hút thuốc lá và nhóm không hút thuốc

là không có sự khác biệt rõ ràng [30]

Năm 1998 - 1999, Phạm Gia Khải và cộng sự tại Hà Nội đã tiến hành nghiên cứu trên các đối tượng nghiện thuốc lá, có 1.450 người chiếm tỷ lệ 19,03% (nam: 1.399 người chiếm 96,48%; nữ 51 người chiếm 3,51%) Số điếu

Tỷ lệ THA chung ở nhóm những người nghiện thuốc lá là 15,86% [29]

Hút thuốc làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch lên gấp 2-3 lần [108] Khi hít khói thuốc vào cơ thể sẽ gây ra một số tác động ngay lập tức lên tim

và mạch máu Khói thuốc có thể gây ra loạn nhịp tim, nặng có thể gây ngoại tâm thu thất và rung thất gây đột tử Một tác động quan trọng khác là gây THA cấp tính và THA dao động [105] Những người hút thuốc có nguy cơ mắc bệnh mạch vành gấp 2-4 lần và tử vong nhiều hơn khoảng 70% do bệnh này Nguy cơ của hút thuốc lá thụ động: Người thường xuyên hít phải khói thuốc cũng bị mắc các bệnh giống như những người hút thuốc Tiếp xúc với

Trang 26

khói thuốc thụ động thì nguy cơ bị bệnh mạch vành tăng 20-30% Hút thuốc còn giảm tác dụng của các thuốc điều trị THA [108]

1.2.1.5 Thói quen lười vận động, thể dục thể thao

Theo nghiên cứu của một số tác giả, thói quen sống lười vận động rất

nguy hại đối với hệ tim mạch [91], [109], [110]

Ngược lại, tăng cường vận động thể lực vừa sức và đều đặn lại có tầm quan trọng, đặc biệt đối với người cao tuổi Vận động thể lực bao gồm các hoạt động thường ngày và luyện tập thể dục thể thao Thể dục thể thao đối với con người không phải nhằm mục đích làm cơ thể nở nang mà nhằm tác dụng đối với chuyển hóa và đối với hệ thần kinh trung ương Vì vậy, đối với mọi người nên thực hiện đều đặn và phù hợp với từng trường hợp Mỗi người có thể chọn cho mình bài tập vừa sức, như đi bộ, tập dưỡng sinh, tự xoa bóp [91] Hai môn thể dục phù hợp đối với người THA là đi bộ và chạy chậm Mọi người không nên tập nặng quá sức mà nên tập đều đặn Mức vận động quá mức phụ thuộc vào từng người và quá trình luyện tập Một cách đơn giản có thể tự đánh giá mức độ vận động là sau mỗi lần tập thấy có cảm giác thoải mái, dễ chịu, tâm hồn thanh thản, quên hẳn các căng thẳng trong ngày có thể chỉ trong chốc lát lúc đó được gọi là tập vừa phải và đúng cách [75] Hiện nay, vận động thể lực đúng mức, đều đặn được coi như một liệu pháp hiện đại để dự phòng THA Mọi người nên tránh các vận động quá mức và nhất là các động tác đó lại ở tư thế cúi khom người Xoa bóp cũng có tác dụng đối với người THA vì tuần hoàn ở trên mặt da có liên quan chặt chẽ với tuần hoàn ở nội tạng Xoa bóp toàn thân sẽ làm cho một lượng máu khá lớn vận chuyển ra ngoài da và ngược lại, làm cho tuần hoàn máu trong cơ thể được lưu thông, chống lại hiện tượng co mạch, vì co mạch là một hiện tượng rất bất lợi trong THA [75]

Trang 27

1.2.1.6 Hành vi dự phòng tăng huyết áp

Theo khảo sát 1.716 người mắc bệnh lý THA của Trần Đỗ Trinh năm

1992, có tới 67,5% người bệnh không biết mình bị mắc bệnh, 15% người bệnh biết mình có bệnh nhưng không điều trị, 13,5% người bệnh được điều trị thất thường, không đúng cách, chỉ có 4% là điều trị đúng [55] Năm 2002, Phạm Gia Khải và cộng sự điều tra 5.012 người từ tuổi 25 trở lên ở 4 tỉnh miền Bắc (Nghệ An, Thái Bình, Thái Nguyên, Hà Nội) có 23% số người biết đúng YTNC của THA [30] Theo một điều tra của Viện Tim mạch Việt Nam tại 8 tỉnh, thành phố thấy rằng: tỷ lệ THA của những người dân từ 25 tuổi trở lên là 25,1%, nghĩa là cứ 4 người trưởng thành thì có 1 người bị THA; trong

đó có 52% không biết mình bị THA, 30% số người biết mình bị THA nhưng không điều trị; 64% số người biết mình bị THA đã được điều trị nhưng không đạt HA mục tiêu [9]

Theo Dương Minh Thu và cộng sự, về nhận thức của người dân về THA: 68% bệnh nhân không biết mình có bệnh THA, sự phát hiện THA chỉ là tình

cờ đi khám bệnh phát hiện thấy THA Do đó mà tỷ lệ bị biến chứng do THA vẫn còn khá cao trong cộng đồng [50] Trong thực tế còn có những quan niệm sai

về THA và điều trị THA, nhiều người còn cho rằng THA là hậu quả tất yếu của

tuổi tác Nhiều trường hợp THA, còn chủ quan vì vẫn thấy "khoẻ mạnh" nên không

giữ gìn và không điều trị nên đã bị biến chứng một cách rất đáng tiếc [67]

Cho đến nay, việc phòng chống THA vẫn còn nhiều khó khăn và một trong các vấn đề khó khăn đó là vấn đề nhận thức của người dân Để phòng tai biến do THA, vấn đề quan trọng nhất là phải phát hiện và điều trị sớm THA Vì vậy, cần phải đẩy mạnh hơn nữa công tác TT-GDSK nhằm nâng cao

sự hiểu biết của cộng đồng về THA, đồng thời phải gắn liền với việc phát triển tổ chức chăm sóc sức khỏe ở mỗi cộng đồng [2]

Trang 28

1.2.2 Yếu tố thuộc về môi trường sống

Môi trường sống liên quan trực tiếp hay gián tiếp tới sức khoẻ, trong đó

có THA Môi trường tự nhiên bao gồm thời tiết, khí hậu, không khí, nước, vi khuẩn, bụi, bức xạ là các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe Cuộc sống môi trường nông thôn, nhiều cây xanh có lợi cho sức khỏe hay cuộc sống nơi

đô thị ồn ào, ngột ngạt làm gia tăng bệnh tật nhất là THA Song môi trường xã hội cũng rất ảnh hưởng đến sức khỏe con người như các tập quán, phong tục của cộng đồng, kiến trúc các gia đình bao gồm các thế hệ, gia đình ít thế hệ hay sống cô đơn, khi già không nơi nương tựa; không còn quan hệ nghề nghiệp và xã hội nữa khi về hưu hoặc về già… Vấn đề nhà ở, đặc biệt ở đô thị còn rất nan giải đối với khu dân cư và mọi người dân, hầu hết không được sắp xếp phù hợp về không gian, thời gian, điều kiện vệ sinh, tâm lý

Các yếu tố môi trường đặc biệt là môi trường xã hội ảnh hưởng rất nhiều tới sức khỏe mọi người nói chung và THA nói riêng như cô đơn, stress, lối sống, gia đình, vấn đề về hưu, kinh tế

* Cô đơn hoặc bị stress: Một trong những nguyên nhân được nêu lên

nhiều nhất ảnh hưởng tới tâm lý của con người là sự cô đơn, tình trạng sống cách biệt Trước kia cho tình trạng đó là do hậu quả của bệnh tật Ngày nay cô đơn chính là nguyên nhân của sự giảm sút sức khoẻ, bệnh tật, nhất là bệnh tâm thần, góp phần làm THA Theo một số nghiên cứu thì sự cô đơn có thể là hậu quả của tâm trạng buồn, thường do mất người thân, do hoàn cảnh éo le trong cuộc sống Biểu hiện là con người không muốn mọi tiếp xúc trong gia đình và xã hội Nhiều tác giả cũng thống nhất là mọi tổ chức xã hội làm tăng sự sống cách biệt đều làm cho bệnh tâm thần phát triển ở mọi người Trái lại, mọi biện pháp gắn mọi người với

xã hội, làm cho họ gắn bó với cuộc sống, thì đều có tác dụng tốt đến tâm

lý và sức khỏe của con người

Trang 29

Gần đây, tình trạng stress, hay tình trạng căng thẳng, lo âu quá mức, thường được đề cập đến rất nhiều trong lĩnh vực sức khỏe Sự căng thẳng tâm

lý, lo âu quá mức có thể thúc đẩy quá trình làm xơ vữa động mạch vì chúng được các nhà khoa học, y học cho là một yếu tố quan trọng gây nên bệnh lý

xơ vữa động mạch Khi bị căng thẳng về tinh thần hay tâm lý cấp tính có thể gây rung tâm thất tim và bị đột tử do sự kích hoạt hệ thống bảo vệ dẫn đến hiện tượng giảm đột ngột trương lực thần kinh phó giao cảm Trong khi đó, trương lực thần kinh giao cảm ở tim tăng dẫn đến triệu chứng tăng nhịp tim, tăng sức co bóp của cơ tim, tăng huyết áp tâm thu, gây thiếu máu cơ tim ở các bệnh nhân có xơ vữa động mạch vành dẫn đến nguy cơ bị rung tâm thất và đột tử Đối với những người có sự hiểu biết về stress, có sức khỏe tốt và tâm

lý vững vàng sẽ dễ dàng vượt qua được những tác động ảnh hưởng của stress

và có được một cuộc sống vô tư, tươi vui, lành mạnh Ngược lại, những người

có cơ thể ốm yếu, tinh thần suy sụp, không thể vượt qua và thích nghi nổi với những sự kiện tiêu cực và stress thì dễ dàng phát sinh bệnh tật Như vậy, stress hay trình trạng căng thẳng, lo âu quá mức có thể làm tăng huyết áp và gây nên các bệnh tim mạch [66]

* Về giáo dục: Người học vấn thấp, đặc biệt ở nông thôn miền núi, người

dân tộc thiểu số gặp rất nhiều khó khăn trong việc tiếp nhận thông tin, nhất là các thông tin CSSK nói chung và phòng chống THA nói riêng Ngay ở đồng bằng số người cao tuổi học vấn thấp còn cao, một số nơi tỷ lệ người cao tuổi mù chữ cao gấp 3 lần tỷ lệ mù chữ chung của dân số, nhất là ở vùng nông thôn Vì vậy, với thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay, trình độ học vấn thấp ở người cao tuổi không tiếp cận được, thông tin đã bị gạt ra ngoài với họ, trong số thông tin đó có

cả thông tin về dự phòng THA rất quan trọng [4], [12]

* Kinh tế: Kinh tế cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến sức

khoẻ mọi người, nói về vấn đề sức khỏe không thể không nói đến yếu tố khó khăn về kinh tế Cần có điều kiện kinh tế nhất định để bồi dưỡng sức khoẻ, để

Trang 30

đảm bảo cho đời sống không bị lệ thuộc Cứ năm người dân thì mới có một người có lương hưu và cứ ba người thì hai người có nhu cầu việc làm, trong

đó một người còn đang là trụ cột nuôi sống gia đình, một người còn đang làm việc để tăng thu nhập Nhiều người có được cuộc sống đầy năng động là do có

sự hỗ trợ của hệ thống lương và các nguồn cung cấp tài chính khác Trong khi

đó có những người vẫn bị nghèo hơn các thành phần khác trong xã hội, đặc biệt là người sống ở nông thôn không có thu nhập chắc chắn, thậm chí cả những người có có chế độ lương nhưng quá thấp không đủ chi trả, an toàn cho sức khỏe Một số nghiên cứu đã chứng minh được mối liên quan giữa điều kiện kinh tế với bệnh tật nói chung, trong đó liên quan nhiều đến bệnh THA Kinh tế càng eo hẹp thì bệnh tật xảy ra càng nhiều [3], [4], [10]

1.2.3 Hệ thống y tế

Hệ thống y tế ở nước ta tương đối phát triển về quy mô và chất lượng phục vụ ở các tuyến trên, còn mạng lưới y tế cơ sở chưa thực sự tiếp cận đến mọi người dân, đến mọi vùng miền, đặc biệt là những người có bệnh lý tăng huyết áp [4] Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, chương trình phòng chống THA cho người dân trong cộng đồng ngày càng được chú trọng [6], [51] Tuy nhiên, nhân lực y tế, cơ sở vật chất của y tế tuyến cơ sở chưa tương đồng và chưa đầy đủ…, vấn đề này cũng gây ảnh hưởng rất lớn đến sức khoẻ

và tính mạng của người mắc bệnh tăng huyết áp [12], [48]

1.2.4 Yếu tố sinh học

* Tiền sử gia đình mắc bệnh THA: Theo kết quả của một số nghiên cứu

cho thấy bệnh THA có yếu tố di truyền Trong gia đình nếu ông, bà, cha, mẹ

bị THA thì con cái có nguy cơ mắc bệnh này nhiều hơn [66] Một trong các nguy cơ làm cho một đối tượng có thể bị THA trong tương lai là trong gia

đình đã có người bị THA [106]

* Tuổi và giới: Tất cả chúng ta đều biết rằng người lớn tuổi có nguy cơ

mắc bệnh và tử vong do những bệnh có liên quan đến THA cao hơn những

Trang 31

người trẻ tuổi Mặc dù THA tâm trương giảm nhẹ dần khi vượt qua độ tuổi 65

- 70, huyết áp tâm thu lại tiếp tục tăng so với tuổi đời [99]

Nghiên cứu gần đây của Nguyễn Kim Kế cho thấy một số yếu tố nguy

cơ THA của người cao tuổi ở thị xã Hưng Yên như: Tình trạng thừa cân béo phì: Người cao tuổi thừa cân, béo phì có nguy cơ THA cao gấp 5,1 lần (p<0,001); Chế độ ăn uống sinh hoạt: người cao tuổi hút thuốc lá có nguy cơ THA cao gấp 2,0 lần, uống rượu có nguy cơ THA cao gấp 2,2 lần, ăn mặn có nguy cơ THA cao gấp 2,4 lần, sử dụng mỡ động vật có nguy cơ THA cao gấp 1,9 lần (p<0,01); Tiền sử gia đình THA có nguy cơ THA cao gấp 3,8 lần (p<0,01) Người cao tuổi có cuộc sống tinh thần không thoải mái có nguy cơ THA cao gấp 7,4 lần, vật chất không thoải mái nguy cơ là 1,5 lần (p<0,05); Kiến thức chưa tốt thì nguy cơ THA cao gấp 2,0 lần, thái độ chưa tốt thì nguy

cơ THA cao gấp 3,4 lần, thực hành chưa tốt thì nguy cơ THA cao gấp 4,3 lần

so với những người có kiến thức, thái độ, thực hành tốt về phòng chống bệnh THA (p<0,01) [27]

Nguyễn Văn Phát nghiên cứu tình hình THA của người cao tuổi người dân tộc thiểu số (DTTS) ở xã Du Tiến, huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang (năm 2011), thấy rằng có một số yếu tố liên quan như sau: Nam giới có nguy cơ mắc bệnh cao hơn nữ giới; Lứa tuổi càng cao thì tỷ lệ mắc bệnh càng cao; NCT có trình độ học vấn càng cao thì tỷ lệ bệnh THA càng thấp; Gia đình có ≤ 2 thế

hệ sinh sống thì tỷ lệ THA càng cao; Hộ gia đình NCT có phương tiện truyền thông (PTTT) thì tỷ lệ THA thấp hơn hộ gia đình NCT không có PTTT; NCT

có cuộc sống tinh thần không thoải mái thì tỷ lệ THA cao hơn NCT có cuộc sống tinh thần thoải mái (p < 0,05) [41]

Năm 2015, Nguyễn Thị Hoàn nghiên cứu ở người Tày xã Năng Khả, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang cho thấy yếu tố liên quan đến bệnh THA bao gồm: Về giới, người cao tuổi là nam giới có tỷ lệ THA cao; Về lứa tuổi, người cao tuổi lứa tuổi càng cao thì tỷ lệ THA càng cao; Trình độ học vấn:

Trang 32

Người cao tuổi trình độ học vấn càng thấp thì tỷ lệ THA càng cao; Thế hệ trong gia đình: Người cao tuổi sống trong hộ gia đình có ≥3 thế hệ cùng sống

có xu hướng tỷ lệ THA thấp hơn; Phương tiện truyền thông: Người cao tuổi sống trong hộ gia đình không có phương tiện truyền thông có xu hướng tỷ lệ THA cao hơn; Cuộc sống tinh thần: Người cao tuổi có cuộc sống tinh thần thoải mái có xu hướng tỷ lệ THA thấp hơn; Kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống THA: Người cao tuổi có kiến thức thái độ thực hành phòng chống THA tốt có xu hướng có tỷ lệ THA thấp hơn [23]

1.2.5 Một vài nét về người dân tộc Nùng

Người Nùng là một dân tộc thiểu số ở Việt Nam, có số dân khoảng 1 triệu người [54] Người Nùng phân chia thành nhiều tộc như Nùng Xuồng, Nùng Giang, Nùng An, Nùng Lòi, Nùng Phàn Sình, Nùng Cháo, Nùng Inh, Nùng Quy Rịn, Nùng Dín [47] Tiếng nói của người Nùng là tiếng Nùng, tiếng Việt Tiếng Nùng thuộc nhóm ngôn ngữ Tày-Thái của hệ ngôn ngữ Thái-Kadais Người Nùng sống tập trung ở các tỉnh đông bắc Bắc Bộ như Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Bắc Giang, Tuyên Quang (chiếm tới 84%) Hiện tại, một lượng lớn đã di cư vào các tỉnh Tây Nguyên (11 %), chủ yếu tại Đắk Lắk Người Nùng có quan hệ gần gũi với người Tày và người Choang (Zhuang) sống dọc biên giới với Trung Quốc Tại Trung Quốc, người Nùng cùng với người Tày được xếp chung vào dân tộc Choang [57] Nguồn sống chính của người Nùng là lúa và ngô Họ kết hợp làm ruộng nước ở các thung lũng với trồng lúa nương trên các sườn đồi Người Nùng còn trồng nhiều cây công nghiệp, cây ăn quả lâu năm như quýt, hồng Người Nùng thích ăn các món xào mỡ lợn Món ăn độc đáo và được coi trọng là sang trọng của người

Nùng là "Khau nhục" Tục mời nhau uống rượu chéo chén có lịch sử từ lâu

đời, nay đã thành tập quán của người Nùng Người Nùng ăn cơm tẻ là chủ yếu Trong những ngày lễ, tết, người Nùng thường làm nhiều loại bánh từ gạo

và có tục uống rượu bằng thìa Họ thường ăn cơm trưa 2 giờ chiều, tối thường

Trang 33

ăn 8 giờ tối [47] Người Nùng thường ở nhà sàn và nhà nửa sàn, nửa đất, trong đó nhà sàn là kiểu nhà truyền thống ưa thích của họ Nhà thường khá to, rộng, có ba gian, vách thường bằng gỗ và lợp ngói máng [62] Trong gia đình, quan hệ giữa cha chồng, anh chồng với nàng dâu có sự cách biệt nghiêm ngặt Theo phong tục Nùng, dù là con anh, con em, con chị ai nhiều tuổi hơn được gọi là anh, là chị Người Nùng thờ cúng tổ tiên trong nhà Bàn thờ tổ tiên có bài vị, lư hương và được đặt vào nơi trang trọng nhất Ngoài ra, mỗi nhà còn thờ bà mụ Mẹ Hoa (Thần bảo hộ trẻ nhỏ), Mẹ Cửa (Thần trông nhà) Vào những ngày đầu tháng, ngày rằm họ thường đốt hương [62] Ngày lễ, tết

có cúng chè, rượu và các món ăn Người Nùng cúng ma sàn (pi thang sàn) và các cô hồn đầu ngõ vào dịp tết nguyên đán Những gia đình cùng một dòng họ thì cùng chung một miếu thờ thổ công, thổ địa Tuy nhiên, có một số phong tục tập quán của người Nùng ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe mà người cán bộ y tế cần biết để vận động, thuyết phục, giáo dục người dân dần dần thay đổi để chăm sóc sức khỏe [57], đó là:

* Nhà ở: Nhiều tộc người Nùng ở nhà sàn, 2 tập quán cần quan tâm là

nuôi, nhốt gia súc gầm sàn rất mất vệ sinh và đun bếp trong nhà sàn tất cả đều gây ô nhiễm không khí ảnh hưởng tới đường hô hấp Ngoài ra, nhà sàn người Tày, người Nùng thường mái thấp, nhà rộng, ít cửa sổ nên trong nhà thường thiếu ánh sáng, tất cả đều bất lợi cho sức khỏe [58]

* Vệ sinh: Tập quán nuôi gia súc thả rông, phóng uế bừa bãi, làng bản

chật chội, đường xá nhiều phân gia súc, trong khi nguồn nước ăn của người dân nhiều nơi dùng nước suối, nước khe không hợp vệ sinh ảnh hưởng tới việc phát triển bệnh đường tiêu hóa

* Cúng bái chữa bệnh: Người Nùng khi có người ốm thường đến nhà

thầy bói để đoán ma, sau đó mời thầy cúng về cúng ma giải hạn Điều này là không tốt, người Tày tập quán này ít hơn Khi có người chết, người Nùng thường để người chết lâu trong nhà, có nơi để 5-7 ngày rất mất vệ sinh [21]

Trang 34

* Sinh đẻ và nuôi con: Tập quán đẻ nhiều vẫn cũng tồn tại ở các bản

Nùng vùng cao, vùng sâu Tập quán nuôi con của người Tày, Nùng thường không đúng với chương trình nuôi con bằng sữa mẹ: đẻ ra chưa cho bú ngay,

mà bú muộn, ăn sam sớm và cai sữa sớm [22]

Nguyễn Thị Hoàn nghiên cứu THA ở người Tày cho thấy có một số phong tục tập quán của người Tày liên quan đến phòng chống THA đó là uống nhiều rượu; ăn mặn và ăn nhiều mỡ lợn, ít đi đến cơ sở y tế để khám chữa bệnh THA [23]

1.3 Các giải pháp phòng chống tăng huyết áp

1.3.1 Xu hướng chủ động dự phòng THA hiện nay

Kiểm soát huyết áp có hiệu quả làm giảm tỷ lệ tử vong và biến chứng của các bệnh tim mạch Tuy vậy, tỷ lệ kiểm soát tốt huyết áp (HA) bằng thuốc trên thế giới chỉ đạt từ 25 - 40% Điều trị thuốc hạ áp tích cực cho phép giảm

số đo huyết áp tâm thu 6,3 mmHg so với nhóm chứng không dùng thuốc hạ

áp tích cực, hơn nữa nhóm chứng không dùng thuốc hạ áp tích cực lại làm tăng số đo HA thêm 4,8 mmHg [118] Các mô hình như bệnh nhân tự theo dõi

HA, nhân viên y tế theo dõi THA phải được xây dựng và đánh giá thêm Nếu chỉ truyền thông giáo dục cho người THA đơn thuần có tác dụng rất ít trong việc làm giảm số đo HA ở bệnh nhân mà phải tiến hành kiểm soát HA, tức là quản lý điều trị THA thật tốt ở cộng đồng [73], [84]

Phân tích tổng hợp khác trên các thử nghiệm phòng tiên phát bệnh mạch vành cho thấy: thay đổi các nguy cơ về lối sống (hút thuốc, chế độ luyện tập thể lực thường xuyên, chế độ ăn) dù không thay đổi đáng kể tỷ lệ tử vong chung và tử vong riêng do bệnh động mạch vành, song đã có tác dụng làm giảm HA tâm thu xuống 3,9 mmHg (95% CI: 3,6 - 4,2); giảm HA tâm trương xuống 2,9 mmHg (95% CI: 2,7 - 3,1) thêm ngoài tác dụng của thuốc hạ áp So sánh việc dùng thuốc tích cực, thay đổi lối sống đơn thuần cũng đã đạt hiệu quả tương tự 50% khi dùng thuốc Hơn nữa phân tích này cũng cho thấy các

Trang 35

biện pháp can thiệp yếu tố nguy cơ thông quan tư vấn giáo dục đến từng cá nhân người THA hay đến từng hộ gia đình có hiệu quả nhiều hơn trong việc giảm các yếu tố nguy cơ và cũng dẫn đến giảm tỷ lệ tử vong ở nhóm bệnh nhân THA có nguy cơ cao [56]

Như vậy, để quản lý và giám sát bệnh THA hiệu quả ở cộng đồng, cần phối hợp việc điều trị thuốc hạ áp với những biện pháp can thiệp các yếu tố nguy cơ THA, nhằm thay đổi hành vi lối sống theo chiều hướng có lợi cho người THA Điều kiện quyết định là phải nâng cao nhận thức, tìm hiểu các rào cản trong suy nghĩ và thực hành của người dân để có thể xây dựng, thay đổi và điều chỉnh các biện pháp giáo dục sức khoẻ phù hợp, có hiệu quả với từng địa phương Vậy, cần phải có nhiều nghiên cứu về bệnh THA và các yếu

tố liên quan ở nhiều địa phương khác nhau để có thể đưa ra những kế hoạch chiến lược, cũng như kế hoạch chi tiết cho chương trình phòng chống bệnh tăng huyết áp tại các địa phương

Tình trạng quản lý bệnh nhân THA ở Việt Nam, cho đến nay chưa có hệ thống quản lý và dự phòng đối với bệnh THA Các hoạt động y tế mới chỉ tập trung vào công tác điều trị bệnh nhân tại các bệnh viện, mô hình, giải pháp dự phòng, ghi nhận và quản lý bệnh THA tại cộng đồng chưa thực sự thành công Công tác tuyên truyền bệnh THA tại cộng đồng chưa sâu rộng, các hoạt động điều tra dịch tễ, đào tạo cán bộ cho công tác phòng chống THA tại các cơ sở y

tế còn nhiều hạn chế nên việc xây dựng các giải pháp phòng chống THA ở các địa phương, vùng miền, dân tộc là rất cấp thiết cho cộng đồng

1.3.2 Huy động cộng đồng truyền thông phòng chống tăng huyết áp

Huy động cộng đồng tham gia truyền thông giáo dục sức khỏe GDSK) phòng chống THA là một quá trình hoạt động do người cán bộ y tế tham mưu cho chính quyền địa phương thực hiện, kêu gọi sự ủng hộ, hỗ trợ, nhất trí từ các bên liên quan trong cộng đồng, nhằm tạo ra một môi trường

Trang 36

(TT-mọi người đều có trách nhiệm để đạt được những mục tiêu của chương trình huy động cộng đồng [11], [18], [65]

* Các bên liên quan trong thực hiện TT-GDSK phòng chống THA:

- Các tổ chức ở địa phương như tổ chức Đảng, chính quyền, ban ngành, đoàn thể ở xã, thôn/xóm/bản Hoạt động của những tổ chức này có liên quan nhiều đến TT-GDSK phòng chống THA Muốn huy động được các tổ chức này, cán bộ y tế cần phải truyền thông cho các cán bộ lãnh đạo của các tổ chức đó để họ có cách nhìn nhận mới, đúng đắn về sức khỏe Họ cần hiểu thật đầy đủ nội dung phòng chống bệnh THA, nhận thức được lợi ích giá trị của

dự phòng THA cho bản thân và cộng đồng Họ phải có quan điểm ủng hộ tích cực, có trách nhiệm cao khi tham gia chương trình Những cán bộ nòng cốt này sẽ tìm cách để tham gia có hiệu quả, từ đó sẽ triển khai chương trình TT-GDSK bằng các hoạt động cụ thể như ra các văn bản, nghị quyết, quyết định của Đảng ủy, Ủy ban, các ban ngành… Họ đưa việc thực hiện phòng chống THA vào các tiêu chuẩn thi đua của các thành viên, hội viên của Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên, Ban văn hóa xã… [19]

- Các hội quần chúng: Ở địa phương có các hội như Hội người cao tuổi, Hội nông dân, Hội phụ nữ, Hội chữ thập đỏ Hoạt động của các hội này ít nhiều có liên quan đến các hoạt động chăm sóc sức khỏe (CSSK) Vì thế, chúng ta cần vận động họ phối hợp chặt chẽ với y tế để TT-GDSK, thực hiện TT-GDSK trong phòng chống THA cho cộng đồng Ví dụ: Hội người cao tuổi tham gia bằng cách vận động hội viên TT-GDSK phòng chống THA cho mọi người trong các hộ gia đình [19], [50]

- Ban Chăm sóc sức khoẻ nhân dân: Hiện nay ở nước ta, hầu hết các xã đều có Ban chăm sóc sức khỏe ban đầu (CSSKBĐ), thường do Chủ tịch hoặc Phó chủ tịch xã làm Trưởng ban, Trạm trưởng Trạm Y tế (TYT) xã làm Phó trưởng ban thường trực phụ trách về công tác chuyên môn Ngoài ra các thành viên của ban là cán bộ phụ trách các ban, ngành của xã Để hoạt động có hiệu

Trang 37

quả, cán bộ y tế phải là người tham mưu giỏi để người lãnh đạo sử dụng thật tốt Ban này vào thực hiện CSSK nhân dân Trong các nội dung CSSK thì công tác phòng chống THA luôn là vấn đề quan trọng, nhưng một số nhà lãnh đạo của Ban CSSKBĐ chưa coi trọng đúng đắn về vấn đề này Mọi người thường cho rằng phòng chống THA chưa cần thực hiện ngay vì chưa gây hậu quả chết người như các dịch bệnh như Tả, Cúm A hay sốt rét… Chúng ta cần nêu rõ rằng: Nếu phòng chống bệnh THA không tốt là nguyên nhân gây tai biến mạch máu não, đột quỵ gây tăng tử vong ở cộng đồng Mọi người hãy chung tay thực hiện phòng chống THA ngay từ bây giờ, mọi người dân mới được bảo vệ và tăng cường sức khỏe [18], [19]

- Người dân trong cộng đồng: Không phải bao giờ người ta cũng hiểu tại

sao mình lại cần phải cố gắng nâng cao sức khoẻ bằng những nỗ lực của chính mình Đôi khi họ cảm thấy rằng chăm sóc sức khoẻ là trách nhiệm của Nhà nước Việc nâng cao lòng tin của người dân vào các lợi ích của dịch vụ chăm sóc sức khỏe là nhiệm vụ tăng cường TT-GDSK của cán bộ y tế Truyền thông để mọi thành viên trong cộng đồng nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề phòng chống THA để họ tự nguyện tham gia Thu hút sự tham gia của cộng đồng đòi hỏi một sự đầu tư rất lớn về nguồn nhân lực, cũng như thời gian và công sức Không một cán bộ y tế nào có thể thực hiện sự đầu

tư ấy một cách có hiệu quả mà không có sự cam kết của cộng đồng Chúng ta muốn huy động người dân, trước tiên chúng ta phải huy động những người có trách nhiệm trước Đó là các Đảng viên, các cán bộ địa phương từ lãnh đạo xã đến thôn, xóm Mọi cán bộ đều gương mẫu tham gia trước, tất nhiên người

dân sẽ làm theo… [19], [63], [65]

- Những người có uy tín ở cộng đồng: Những người có uy tín ở cộng đồng tuy họ không phải là những người lãnh đạo chính quyền hay các tổ chức

xã hội song họ rất có trách nhiệm với mọi người và được mọi người kính trọng Khi những người này nói thì mọi người sẵn sàng nghe theo, những

Trang 38

người này còn được gọi là "Người lãnh đạo dư luận" Mỗi khu vực hoặc mỗi

nhóm dân cư đều có người lãnh đạo dư luận riêng của mình Một số người lãnh đạo dư luận có danh tiếng rất dễ nhận ra họ như Già làng, Trưởng tộc, Trưởng họ ở người Nùng, vai trò của Trưởng họ, Già làng rất quan trọng Ai

là người lãnh đạo dư luận ở cộng đồng này? Nếu sau khi nói chuyện với một

số người trong cộng đồng, chúng ta thấy người nào được nhiều người biết đến

và kính trọng nhất, đó chính là người lãnh đạo dư luận của cộng đồng đó Họ nói gì thì mọi người dân, con cháu đều nghe theo vì họ có uy tín rất lớn trong cộng đồng, trong nội tộc Trong TT-GDSK phòng chống THA rất cần huy động những người lãnh đạo dư luận này tham gia [19], [20], [57]

* Phân nhóm các bên liên quan trong thực hiện TT-GDSK phòng chống tăng huyết áp:

Một trong những nguyên tắc của huy động cộng đồng thực hiện GDSK phòng chống THA là việc tiếp cận được nhiều bên liên quan Vì vậy, ngay từ đầu phải xác định được các bên liên quan giữ vai trò quan trọng đối với chương trình huy động cộng đồng Các bên liên quan có thể chia thành 4

TT-nhóm:

- Những người ra quyết định, hoạch định chính sách, lập pháp: đây là những người có quyền lực, có thẩm quyền để ra các quyết định và tổ chức thực hiện nhằm tạo ra những thay đổi mong muốn Những người ra quyết định là những đối tượng quan trọng nhất trong chương trình Mục đích của huy động nhằm đạt được sự thay đổi các quyết định có lợi với chương trình TT-GDSK phòng chống THA Đó là lãnh đạo xã (Bí thư, Chủ tịch), những người có thể ra các văn bản, nghị quyết hay quyết định huy động nguồn lực cho chương trình Những lãnh đạo chủ chốt cần phải được huy động đầu tiên

và tham gia tích cực thì khả năng thực hiện chương trình mới thành công

- Các đối tác và người ủng hộ: bao gồm các cá nhân, các nhóm và các tổ chức cam kết cùng giải quyết vấn đề trên cùng quan điểm, sẵn sàng ủng hộ về

Trang 39

thời gian và nguồn lực cho việc thúc đẩy thực hiện mục tiêu của chương trình TT-GDSK phòng chống THA Họ là ai ? Ở địa phương đó là các cơ quan, doanh nghiệp đóng trên địa bàn, ít nhiều họ cũng có thể chia sẻ những khó khăn với chúng ta Người cán bộ y tế cần xác định xem sự đóng góp của các đối tác với vấn đề TT-GDSK phòng chống THA cụ thể là gì ? Những yếu tố có thể làm tăng cường mối quan hệ đối tác có thể bao gồm cả việc thỏa thuận về mục tiêu, mục đích của mối quan hệ đối tác, chia sẻ thông tin, bài học thu được, giao tiếp cởi mở, chân thực, gặp gỡ và trao đổi thông tin thường xuyên

- Những người hưởng lợi: là những người thừa hưởng lợi ích trực tiếp từ kết quả của chương trình Nếu biết cách huy động, những người hưởng lợi sẽ trở thành người đi vận động thuyết phục đáng tin cậy, đó chính là người dân Người dân cũng cần huy động tích cực vào các hoạt động TT-GDSK phòng chống THA cho chính họ và cộng đồng Đóng góp của họ có thể là công sức lao động, lớn hơn nữa đó là tiền bạc Vận động họ tham gia như thế nào? Rõ ràng phải TT-GDSK, để họ hiểu được vệ sinh môi trường là gì ? Ý nghĩa của TT-GDSK phòng chống THA với sức khỏe chính họ ra sao? Sự cần thiết, tầm quan trọng của việc tham gia vào TT-GDSK phòng chống THA của họ, từ đó

họ có thái độ tốt, có trách nhiệm TT-GDSK phòng chống THA cho cộng đồng

- Nhóm đối lập: họ là những cá nhân, những nhóm có quan điểm khác biệt hoặc đối lập về chương trình TT-GDSK phòng chống THA Số này không nhiều, không nên xem họ là đối thủ cạnh tranh, mà nên coi họ là những người có nhận thức và niềm tin khác về vấn đề này Một người phản đối về vấn đề này nhưng có thể tán thành những vấn đề khác Điều quan trọng là xác định những người phản đối là ai, tìm hiểu quan điểm của họ và tìm những cơ

sở để đối thoại, trao đổi với họ Để đảm bảo các quan điểm đối lập không có tác động tiêu cực đến vấn đề mình đang huy động, người cán bộ y tế phải sẵn

Trang 40

sàng trình bày những lập luận có tính thuyết phục thông qua các số liệu thống

kê, kết quả nghiên cứu với những số liệu cập nhật [19], [20]

1.3.3 Một số giải pháp can thiệp cộng đồng phòng chống THA

1.3.3.1 Thế giới

Yeon-Hwan Park đã nghiên cứu can thiệp chia 2 nhóm, một nhóm chứng

và một nhóm được TT-GDSK, được tư vấn và được tập các bài tập thể dục thể thao phù hợp trong vòng 12 tuần Kết quả cho thấy, đối với nhóm can thiệp, huyết áp tâm thu của những người cao tuổi THA tại cộng đồng đã giảm một cách rõ rệt với p<0,05 đồng thời năng lực tự tập thể dục thể thao, các chỉ

số sức khỏe liên quan đến chất lượng cuộc sống cũng tăng lên có ý nghĩa thống kê [97]

Trong nghiên cứu của Khosravi (2010) tại Isfahan (Iran) nhằm nâng cao kiến thức, thái độ và hành vi của những người THA và người thân của họ bằng giáo dục sức khỏe bởi các nhân viên y tế, kết quả cho thấy tỷ lệ bệnh nhân THA giảm từ 20,5% xuống còn 19,6% (không có ý nghĩa thống kê) tại vùng can thiệp trong khi đó tại vùng đối chứng, tỷ lệ bệnh nhân THA tăng từ 17,4% đến 19,6% (p=0,003) Sự cải thiện về nhận thức, điều trị và kiểm soát tăng huyết áp của vùng thành thị và nông thôn trên địa bàn nghiên cứu tốt hơn trên địa bàn đối chứng [88]

McAlistervaf CS nghiên cứu nhằm can thiệp thay đổi nhận thức và quản

lý tăng huyết áp tại cộng đồng ở Canada Tác giả đã đã tiến hành giáo dục cho những người tình nguyện từ 65 tuổi trở lên, đánh giá huyết áp, nguy cơ bệnh tim… và được theo dõi lại trong vòng 4-6 tháng sau Kết quả có 71% người tình nguyện quay trở lại theo dõi sau 4-6 tháng, huyết áp tâm thu của họ giảm 16,9±17,2 mmHg (p<0,05, n=105) so với lần đầu khám Can thiệp đã nâng cao nhận thức và quản lý về THA của người cao tuổi tại Airdrie Chương trình giáo dục sức khỏe phòng chống THA ở Canada được thực hiện bởi các bác sỹ gia đình, dược sỹ, các nhà khoa học tại trường đại học và tại cộng

Ngày đăng: 21/03/2017, 08:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy An (2003), "Điều tra ban đầu chỉ số huyết áp và tỷ lệ tăng huyết áp ở người dân tộc thiểu số thị xã Kon Tum", Tạp chí Tim mạch học Việt Nam, (35), tr. 47-50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra ban đầu chỉ số huyết áp và tỷ lệ tăng huyết áp ở người dân tộc thiểu số thị xã Kon Tum
Tác giả: Đào Duy An
Năm: 2003
2. Đào Duy An (2005), "Cải thiện tình trạng nhận biết, điều trị và kiểm soát tăng huyết áp: Thách thức và vai trò của Truyền thông - giáo dục sức khỏe", Tạp chí Y học Việt Nam, Số đặc biệt tháng 12 (36-47) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải thiện tình trạng nhận biết, điều trị và kiểm soát tăng huyết áp: Thách thức và vai trò của Truyền thông - giáo dục sức khỏe
Tác giả: Đào Duy An
Năm: 2005
4. Bộ Y tế (2005), Chăm sóc sức khỏe ban đầu ở Việt Nam trong tình hình mới, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăm sóc sức khỏe ban đầu ở Việt Nam trong tình hình mới
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2005
5. Bộ Y tế (2005), Thực trạng huyết áp cao ở Việt Nam, Điều tra y tế quốc gia 2001-2002, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng huyết áp cao ở Việt Nam
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2005
6. Bộ Y tế (2010), Chương trình quốc gia phòng chống tăng tăng huyết áp, Bộ Y tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình quốc gia phòng chống tăng tăng huyết áp
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2010
7. Bộ Y tế (2010), Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị tăng huyết áp (Ban hành kèm theo Quyết định số 3192 /QĐ-BYT ngày 31 tháng 08 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Y tế), Bộ Y tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị tăng huyết áp (Ban hành kèm theo Quyết định số 3192 /QĐ-BYT ngày 31 tháng 08 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Y tế)
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2010
9. Bộ Y tế (2011), Tổng kết dự án phòng chống tăng tăng huyết áp năm 2011, Bộ Y tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết dự án phòng chống tăng tăng huyết áp năm 2011
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2011
11. Lý Văn Cảnh (2005), Huy động cộng đồng truyền thông giáo dục sức khỏe một số nội dung chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người dân xã Tân Long, Đồng Hỷ, Thái Nguyên, Luận văn Thạc sĩ Y học dự phòng, Trường Đại học Y Dược, Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huy động cộng đồng truyền thông giáo dục sức khỏe một số nội dung chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người dân xã Tân Long, Đồng Hỷ, Thái Nguyên
Tác giả: Lý Văn Cảnh
Năm: 2005
12. Trần Thị Trung Chiến (2003), Xây dựng y tế Việt Nam công bằng và phát triển, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng y tế Việt Nam công bằng và phát triển
Tác giả: Trần Thị Trung Chiến
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2003
13. Viên Văn Đoan, Đồng Văn Thành (2005), "Bước đầu nghiên cứu mô hình quản lý, theo dõi, và điều trị có kiểm soát bệnh tăng huyết áp", Kỷ yếu toàn văn các đề tài khoa học Đại hội tim mạch quốc gia Việt Nam lần thứ X, pp. 68-79 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu nghiên cứu mô hình quản lý, theo dõi, và điều trị có kiểm soát bệnh tăng huyết áp
Tác giả: Viên Văn Đoan, Đồng Văn Thành
Năm: 2005
14. Đào Thu Giang, Nguyễn Kim Thủy (2006), "Tìm hiểu mối liên quan giữa thừa cân béo phì với tăng huyết áp nguyên phát”, Tạp chí Y học thực hành, 667 (5), tr. 12-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu mối liên quan giữa thừa cân béo phì với tăng huyết áp nguyên phát
Tác giả: Đào Thu Giang, Nguyễn Kim Thủy
Năm: 2006
15. Trần Minh Giao, Châu Ngọc Hoa (2009), "Khảo sát đặc điểm tăng huyết áp ở người có tuổi tại bệnh viện Nhân dân Gia Định", Tạp chí Y học thành phố Hồ Chí Minh, 13 (Phụ bản của số 6), tr. 120-126 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát đặc điểm tăng huyết áp ở người có tuổi tại bệnh viện Nhân dân Gia Định
Tác giả: Trần Minh Giao, Châu Ngọc Hoa
Năm: 2009
16. Nguyễn Thu Hiền (2007), Bước đầu tìm hiểu thực trạng tăng huyết áp ở xã Linh Sơn huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên, Khóa luận tốt nghiệp Bác sỹ đa khoa, Trường Đại học Y Dược, Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu tìm hiểu thực trạng tăng huyết áp ở xã Linh Sơn huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên
Tác giả: Nguyễn Thu Hiền
Năm: 2007
17. Trịnh Thị Thu Hoài (2012), Đánh giá kết quả sau 1 năm triển khai hoạt động chương trình phòng chống tăng huyết áp tại tỉnh Yên Bái, Luận án chuyên khoa cấp II Y tế công cộng, Trường Đại học Y Dược, Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá kết quả sau 1 năm triển khai hoạt động chương trình phòng chống tăng huyết áp tại tỉnh Yên Bái
Tác giả: Trịnh Thị Thu Hoài
Năm: 2012
18. Đàm Khải Hoàn (1998), Nghiên cứu xây dựng mô hình cộng đồng tham gia vào các hoạt động chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân một số vùng núi phía Bắc, Luận án Tiến sĩ Y học, Học viện Quân Y, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xây dựng mô hình cộng đồng tham gia vào các hoạt động chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân một số vùng núi phía Bắc
Tác giả: Đàm Khải Hoàn
Năm: 1998
19. Đàm Khải Hoàn (2010), Huy động cộng đồng Truyền thông - giáo dục sức khỏe ở miền núi, Nhà xuất bản y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huy động cộng đồng Truyền thông - giáo dục sức khỏe ở miền núi
Tác giả: Đàm Khải Hoàn
Nhà XB: Nhà xuất bản y học
Năm: 2010
20. Đàm Khải Hoàn (2010), Khoa học hành vi và truyền thông giáo dục nâng cao sức khỏe, Tài liệu đào tạo sau đại học, Trường Đại học Y Dược, Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học hành vi và truyền thông giáo dục nâng cao sức khỏe
Tác giả: Đàm Khải Hoàn
Năm: 2010
21. Đàm Khải Hoàn, Lê Thị Nguyệt và cs (2001), "Thực trạng chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người dân tộc Nùng và Dao ở hai xã vùng cao, vùng sâu huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên", Nội san khoa học công nghệ Y Dược học miền núi của trường Đại học Y khoa Thái Nguyên, 3/2001, tr. 214-223 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người dân tộc Nùng và Dao ở hai xã vùng cao, vùng sâu huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên
Tác giả: Đàm Khải Hoàn, Lê Thị Nguyệt và cs
Năm: 2001
22. Đàm Khải Hoàn, Lê Thị Quyên (2001), "Thực trạng chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người Nùng và H'Mông ở xã Quang Sơn, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên", Nội san khoa học công nghệ Y Dược học miền núi của trường Đại học Y khoa Thái Nguyên, 3/2001, tr. 199-207 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người Nùng và H'Mông ở xã Quang Sơn, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
Tác giả: Đàm Khải Hoàn, Lê Thị Quyên
Năm: 2001
23. Nguyễn Thị Hoàn (2015), Thực trạng bệnh tăng huyết áp ở người cao tuổi dân tộc Tày ở xã Năng Khả huyện Na Hang tỉnh Tuyên Quang và các yếu tố liên quan, Chuyên đề tốt nghiệp chuyên khoa I Y tế công cộng, Trường Đại học Y Dược, Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng bệnh tăng huyết áp ở người cao tuổi dân tộc Tày ở xã Năng Khả huyện Na Hang tỉnh Tuyên Quang và các yếu tố liên quan
Tác giả: Nguyễn Thị Hoàn
Năm: 2015

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w