1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Giám sát lưu giữ virus trên đàn thuỷ cầm nuôi tại một số xã của huyện Gia Lâm, Hà Nội

67 289 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 742,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thêmvào đó phương thức chăn nuôi nhỏ lẻ chưa tập trung do đó công tác vệ sinh phòngbệnh chưa được thực hiện nghiêm ngặt tạo điều kiện cho một số bệnh truyềnnhiễm có cơ hội bùng phát như:

Trang 1

Phần I

MỞ ĐẦU1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Chăn nuôi gia cầm, thuỷ cầm hiện nay là một trong những ngành quantrọng thuộc lĩnh vực chăn nuôi có đóng góp đáng kể trong nền kinh tế quốc dân.Trong những năm gần đây, chăn nuôi gia cầm, thuỷ cầm đã và đang được chútrọng phát triển dưới hình thức trang trại với quy mô lớn và hộ gia đình Mặc dùcông tác vệ sinh phòng bệnh đã được người chăn nuôi chú ý nhưng dịch bệnhvẫn thường xảy ra gây thiệt hại về kinh tế cho người chăn nuôi, một số bệnh còn

có nguy cơ lây lan sang người làm ảnh hưởng lớn tới sức người và sức của

Trong điều kiện chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán thì nguy cơ cho các dịch bệnhtái bùng phát càng trở nên nghiêm trọng Tại các trung tâm thành phố lớn đặcbiệt là Hà Nội, nơi có sức tiêu thụ khối lượng lớn các loại gia cầm và sản phẩm

huyện ngoại thành nằm phía Đông Bắc thành phố Hà Nội có nền chăn nuôi phát

nhập cho người chăn nuôi Chăn nuôi phát triển thì công tác phòng chống dịchbệnh càng được đặt lên hàng đầu, sự chu chuyển đàn gia cầm và giống được lấy ởnhiều nơi khác nhau là những nguyên nhân lớn lây lan dịch bệnh gia cầm Thêmvào đó phương thức chăn nuôi nhỏ lẻ chưa tập trung do đó công tác vệ sinh phòngbệnh chưa được thực hiện nghiêm ngặt tạo điều kiện cho một số bệnh truyềnnhiễm có cơ hội bùng phát như: Newcastle, Gumboro, Dịch tả vịt, Viêm gan vịt…

và đặc biệt nguy hiểm hơn cả là bệnh Cúm gia cầm

Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng thuỷ cầm cũng bị nhiễm một số loại virusgây bệnh cho gia cầm nhưng với mức độ nhẹ hơn và ít phát bệnh Tuy nhiên đâylại trở thành nguồn tàng trữ virus rất nguy hiểm bởi tính chất chăn thả đàn lớn

Trang 2

trong các ao, đầm, hồ, kênh mương trên diện rộng và sự tiếp xúc rộng rãi giữa vớicác gia cầm cũng như các loại dã cầm khác

Để giảm thiệt hại về kinh tế cho người chăn nuôi và tiến đến khống chế,thanh toán các bệnh truyền nhiễm do virus gây ra trên đàn gia cầm, duy trì sự pháttriển của ngành chăn nuôi gia cầm nói chung và ngành chăn nuôi thuỷ cầm nóiriêng biện pháp hiệu quả nhất là thực hiện tốt vệ sinh phòng bệnh nghiêm ngặt,tiêm phòng vacxin triệt để cho đàn thuỷ cầm Bên cạnh đó là việc giám sát chặt sựlưu hành của virus và xác định hàm lượng kháng thể sau tiêm phòng trên đàn thuỷcầm để có những biện pháp điều chỉnh kịp thời

Để nắm rõ thực tế về sự lưu hành của virus gây bệnh cho gia cầm, thuỷcầm và đáp ứng miễn dịch của thuỷ cầm đối với vacxin phòng bệnh ở một số hộchăn nuôi tại huyện Gia Lâm, Hà Nội từ tháng 01/2011 đến 05/2011, chúng tôitiến hành nghiên cứu đề tài:

“Giám sát lưu giữ virus trên đàn thuỷ cầm nuôi tại một số xã

của huyện Gia Lâm, Hà Nội”.

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

- Điều tra tình hình chăn nuôi và sử dụng vacxin phòng bệnh trên thủycầm tại huyện Gia Lâm, Hà Nội

- Phân lập virus trên đàn thuỷ cầm nuôi tại một số hộ của huyện Gia Lâm,

Hà Nội

- Giám sát lưu giữ virus, hàm lượng kháng thể sau khi tiêm phòng vacxintrên đàn thuỷ cầm nuôi tại một số hộ của huyện Gia Lâm, Hà Nội

Trang 3

Phần IITỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ BỆNH CÚM GIA CẦM

Bệnh cúm gia cầm (Influenza Avian) thường được gọi là bệnh cúm gà, làbệnh truyền nhiễm gây ra bởi virus cúm typ A thuộc họ Myxoviridea giốngOrthomyxovirus Đây là một tác nhân gây dịch bệnh rất lớn, là căn nguyên gâydịch cúm ở người, gà, gà tây, ngan, vịt và một số động vật khác…trong đó gà làloại mẫn cảm nhất Virus gây bệnh ở đường hô hấp, đường tiêu hóa hoặc hệthống thần kinh Hiện nay bệnh cúm gia cầm đang ngày càng trở nên nguy hiểmhơn bao giờ hết (Lê Văn Năm, 2004)

Bệnh cúm gia cầm được Porroncito mô tả lần đầu tiên vào năm 1878 tại Ývới tên gọi bệnh “dịch tả gia cầm” (Fowlplague), nhưng từ hội nghị quốc tế lầnthứ nhất về bệnh cúm gia cầm tại Beltsville, Mỹ, năm 1981 đã thay thế tên nàybằng tên bệnh cúm truyền nhiễm cao ở gia cầm (Highly pathogenic Avianinfluenza) viết tắt là HPAI để chỉ virus cúm typ A có độc lực mạnh (Trần HữuCổn, Bùi Quang Anh, 2004)

2.2 LỊCH SỬ BỆNH CÚM GIA CẦM

Năm 412 trước công nguyên, Hippocrate đã mô tả về bệnh cúm Năm

1680 một vụ đại dịch cúm đã được mô tả kỹ và từ đó đến nay đã xảy ra 31 vụđại dịch Trong hơn 100 năm qua đã xảy ra 4 vụ đại dịch cúm vào các năm

1889, 1918, 1957 và 1968 (Trần Hữu Cổn, Bùi Quang Anh, 2004)

Năm 1878 ở Ý đã xảy ra một bệnh gây tử vong rất cao ở đàn gia cầm, sau

đó được đặt tên là bệnh dịch hạch gia cầm Đến 1901, Centami và Savunozzi mớixác định được căn nguyên siêu nhỏ (Filterable agent) là yếu tố gây bệnh Nhưngphải đến năm 1955, Achafer mới xác định được căn nguyên gây bệnh thuộc nhómvirus cúm tup A (H7N1 và H7N7) gây chết nhiều gà, gà tây và các loại khác

Trang 4

Năm 1963, virus cúm typ A được phân lập từ gà tây ở Bắc Mỹ do loạithủy cầm di trú dẫn nhập virus vào đàn gà Cuối thập kỷ 60, phân lập typ H1N1

ở lợn có liên quan đến những ổ dịch ở gà tây, đây là những dấu hiệu đầu tiên vềvirus cúm ở động vật có vú có thể lây nhiễm và gây bệnh cho gia cầm Nhữngnghiên cứu này đều cho rằng virus cúm typ A H1N1 đã ở lợn và truyền cho gàtây, ngoài ra phân typ H1N1 ở vịt còn truyền cho lợn (Trần Hữu Cổn, BùiQuang Anh, 2004)

Sự lây nhiễm từ chim hoang dã sang gia cầm đã có từ trước năm 1970nhưng chỉ được công nhận khi xác định được tỷ lệ nhiễm virus cúm cao ở một

số loài thủy cầm di trú (Trần Hữu Cổn, Bùi Quang Anh, 2004)

Đến nay dịch cúm gia cầm đã xảy ra ở khắp nơi trên thế giới với mức độngày càng nguy hiểm đã thôi thúc hiệp hội các nhà chăn nuôi gia cầm tổ chứchội thảo chuyên đề về bệnh cúm gia cầm vào các năm 1981, 1987 và 1992 Từ

đó đến nay trong các hội nghị về dịch tễ thế giới, bệnh cúm gia cầm luôn là mộttrong những nội dung được coi trọng (Lê Văn Năm, 2004)

2.3 TÌNH HÌNH DỊCH CÚM GIA CẦM TRÊN THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC 2.3.1 Tình hình dịch cúm gia cầm trên thế giới

Virus cúm gia cầm phân bố và lưu hành nhiều nơi, nhiều quốc gia trênthế giới Chủng virus cúm A/H5N1 được phát hiện lần đầu tiên trên gà tạiScotland vào năm 1959 Năm 1977 ở Minesota đã phát hiện dịch trên gà tây dochủng H7N7 gây ra

Năm 1983-1984 ở Mỹ, dịch cúm gà đã xảy ra do chủng H5N2 ở 3 bangPensylvania, Virginia, Newtersey làm chết và tiêu huỷ hơn 19 triệu gà Cũngtrong thời gian này tại Areland người ta đã tiêu huỷ 270 nghìn con vịt tuy không

có triệu chứng lâm sàng nhưng đã phân lập được virus cúm chủng độc lực cao(HPAI) để loại trừ bệnh một cách hiệu quả nhanh chóng Năm 1986 ở Australiadịch cúm gà xảy ra tại bang Victoria do chủng H5N2 gây ra

Trang 5

Sau gần 40 năm không phát hiện, cúm A/H5N1 xuất hiện tại Quảng Đông(1996) và Hồng Kông (1997) với biến đổi sâu sắc, không những gây chết giacầm mà còn thích ứng và gây chết người bệnh Như vậy, đây là lần đầu tiênvirus cúm đã vượt “rào cản về loài” để lây cho người ở Hồng Kông làm 18người nhiễm bệnh trong đó có 6 người tử vong Đặc biệt, từ 2003 đến nay virusH5N1 gây ra dịch cúm trên gia cầm tại Hồng Kông, Trung Quốc và lây lan sanghàng chục quốc gia trên thế giới ở châu Á, châu Âu và châu Phi Cơ bản về cấutrúc vẫn như trước đó, nhưng xét về độc lực, loài vật chủ nhiễm bệnh, tínhkháng nguyễn và mức độ truyền lây có nhiều nét đặc trưng hơn và khác vớinhiều biến chủng H5N1 trước đây

Cuối năm 2003 đầu năm 2004 đã có 11 quốc gia thông báo có dịch cúm làNhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Lào, Campuchia, Indonesia Trung Quốc, HồngKông, Đài Loan, Việt Nam và Pakistan

Cho đến nay chủng virus độc lực cao H5N1 đã có mặt ở hơn 50 quốc gia vàvùng lãnh thổ trên khắp các châu lục, tập trung chủ yếu ở châu Á và châu Âu

2.3.2 Tình hình dịch cúm gia cầm ở Việt Nam

Dịch cúm gia cầm xuất hiện lần đầu tiên ở Việt Nam vào cuối năm 2003đến nay có thể chia làm nhiều giai đoạn:

* Từ cuối tháng 12/2003 đến hết tháng 1/2004:

Dịch cúm gia cầm xuất hiện từ cuối tháng 12/2003, tại trại gà giống củacông ty CP tại xã Thủy Xuân Tiên, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây Cùng thờigian này, dịch xảy và lan rộng ra ở 2 tỉnh Tiền Giang và Long An Ngay sau đó,dịch lây nhanh sang các tỉnh lân cận

Trong những ngày đầu tháng 2 ( từ ngày 1-10/2/2004) dịch bùng phát rấtnhanh trên quy mô lớn và diễn biến rất phức tạp Số gia cầm phải tiêu hủy hàngngày từ 2-3 triệu con, ngày cao điểm nhất phải tiêu hủy 4 triệu con (ngày 6/2)

Từ ngày 21/2 dịch cơ bản đã được khống chế, số gia cầm phải tiêu hủygiảm rõ rệt (ngày 25/2 là 1438 con; ngày 26/2 chỉ còn 45 con) (Văn Đăng Kỳ,

Trang 6

2008) Sau ngày 29/2/2004 không có thông báo về các ổ dịch mới và không còngia cầm bị tiêu hủy.

Đặc điểm của đợt dịch thứ nhất này là dịch lây lan một cách nhanh chóngvới nhiều ổ bệnh xuất hiện cùng một lúc ở nhiều địa phương khác nhau Tính hếtngày 27/2, dịch bệnh đã xảy ra ở 2.574 xã, phường, 381 huyện, thị thuộc 57 tỉnhthành phố Các tỉnh xảy ra dịch nặng gồm: Long An, Tiền Giang, An Giang, ĐồngTháp, Hà Tây, Hải Dương (Bùi Quang Anh và Văn Đăng Kỳ, 2004; Văn Đăng

Kỳ, 2008) Tổng số gia cầm và thủy cầm bị tiêu hủy là hơn 43,9 triệu con, trong đó

có 30,4 triệu con gà; 13,5 triệu thủy cầm (chiếm 30,7% tổng đàn) Ngoài ra còn có14,76 triệu con chim cút và các loại chim khác bị chết và tiêu hủy

* Từ tháng 4 đến tháng 11 năm 2004:

Các ổ dịch cúm gia cầm thể độc lực cao đã tái xuất hiện đầu tháng 4 năm

2004 ở một số tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long Bệnh chủ yếu xuất hiện ởcác hộ chăn nuôi nhỏ lẻ và có khuynh hướng xuất hiện ở những vùng chăn nuôinhiều thủy cầm Dịch đã xảy ra ở 46 xã, phường của 32 quận, huyện, thị xãthuộc 17 tỉnh Thời gian cao điểm nhất là tháng 7 sau đó giảm dần Tổng số giacầm bị tiêu hủy trong đợt dịch này là 55.999 con gà, 8.132 con vịt và gần 20.000con chim cút (Văn Đăng Kỳ, 2008)

* Trong năm 2005:

- Đợt I: Từ 1/1 đến 29/4 dịch đã xảy ra ở 670 xã, tại 182 huyện thuộc 35tỉnh, thành phố trong cả nước Số gia cầm tiêu hủy là 1.847.213 con trong đó470.495 gà; 825.689 vịt, ngan và 551.029 chim cút

- Đợt II: Từ 29/6 đến 23/8 dịch xảy ra ở 14 xã, 12 huyện thuộc 8 tỉnh,thành phố Số gia cầm bị tiêu hủy là 12.164 con trong đó gà là 5.294 con; vịt,ngan là 6.870 con

- Đợt III: Từ ngày 1/10 đến 15/12, dịch xuất hiện ở 305 xã, phường của

108 quận, huyện thuộc 21 tỉnh, thành phố Tổng số gia cầm chết và tiêu hủy là

Trang 7

3.972.943 con, trong đó: 1.338.523 con gà, 2.135.116 con vịt, ngan và 499.304chim cút, bồ câu, chim cảnh.

Trong năm 2005 số gia cầm mắc bệnh, chết, tiêu hủy hơn 4.78 triệu chiếm2,17% tổng đàn, trong đó gà chiếm 1,816 triệu con, thủy cầm chiếm 2,968 triệu.Ngoài ra còn có hơn 1 triệu con chim và các loại chim khác chết và tiêu hủy

* Cuối năm 2006 đầu năm 2007:

Sau gần một năm khống chế thành công dịch cúm gia cầm, ngày6/12/2006 dịch lại tái phát Các ổ dịch xảy ra chủ yếu trên đàn vịt chăn nuôi nhỏ

lẻ, dưới 3 tháng tuổi, ấp nở trái phép và chưa được tiêm phòng vacxin

- Đợt I: Từ 6/12/2006 đến 7/3/2007 dịch đã xảy ra trên 83 xã, phường của

33 huyện, quận thuộc 11 tỉnh, thành phố Tổng số gia cầm mắc bệnh, chết vàtiêu hủy là 103.094 con, trong đó gà 13.622 con, vịt, ngan là 89.472 con, hai tỉnh

Sau hơn một tháng khống chế thành công dịch cúm gia cầm trong phạm vi

cả nước, từ ngày 1/10/2007 dịch đã tái phát lại ở 15 xã, phường của 9 huyện, thịthuộc 6 tỉnh buộc phải tiêu hủy 8.850 con gia cầm (1.024 con gà chiếm 12%;7.826 con vịt chiếm 88%)

* Dịch bệnh năm 2008 và 2009:

Nhìn chung năm 2008 và 2009 dịch cúm gia cầm chỉ xảy ra ở diện hẹp.Năm 2008 dịch đã xảy ra ở 80 xã, phường thuộc 54 huyện, thị của 37 tỉnh, thànhphố Tổng số gia cầm mắc bệnh, chết và tiêu hủy là 106.528 con trong đó 40.525con gà, 61.027 con vịt, 4.506 con ngan Có tới 44,59% ổ dịch xảy ra ở nơi khôngđược tiêm phòng và 26,21% là những ổ dịch phát ra ở thủy cầm mới chỉ tiêmphòng một mũi vacxin (Cục thú y, 2009)

Trang 8

* Dịch bệnh năm 2010:

Trong 6 tháng đầu năm 2010, trên toàn quốc có 20 tỉnh tái phát dịch cúmgia cầm Tổng số gia cầm mắc bệnh, chết và tiêu huỷ là 36.902 con gà, 74.308con vịt và 709 ngan (Cục chăn nuôi thú y) Tính đến ngày 13/12/2010, dịch cúmgia cầm đã xảy ra ở 63 xã, phường của 37 huyện, quận thuộc 24 tỉnh, thành phốlàm hơn 76.000 con gia cầm mắc bệnh, chết và buộc phải tiêu hủy, trong đó chủyếu là vịt (chiếm hơn 70%) Đến hết ngày 12/12, mặc dù không có các ổ dịchmới phát sinh, nhưng cả nước vẫn còn 3 tỉnh là Nam Định, Nghệ An và Cà Mau

có dịch cúm gia cầm chưa qua 21 ngày (Báo Đắc Lắc online, 13/12/2010).

* Dịch bệnh năm 2011:

Tình hình dịch cúm gia cầm vào những tháng cuối năm 2010 đã có sựlắng xuống so với đầu năm, nhưng đến đầu năm 2011 dịch tiếp tục bùng phát.Ngày 14 tháng 2, xuất hiện hiện tượng gà chết hàng loạt tại xã Tam Quan, TamĐảo, Vĩnh Phúc qua kiểm tra mẫu thì cho kết quả dương tính với virus cúm giacầm Đến ngày 22 tháng 2, UBNN tỉnh Vĩnh Phúc phối hợp với Cục thú y racông bố dịch cúm gia cầm Đợt dịch này buộc phải tiêu huỷ 15571 con gia cầm

Ngày 14 tháng 3, xuất hiện ổ dịch tại xã Nam Sơn - Bắc Ninh Đến ngày

19 tháng 3 cả nước có 5 tỉnh chưa qua 21 ngày: Hà Nam, Bình Định, QuảngNgãi, Quảng Trị và Nghệ An (riêng tỉnh Nghệ An phải tiêu huỷ 753 con trong

đó có 406 con gà, 252 con vịt và 95 con ngan) (Cục Thú y)

Tính đến ngày 8 tháng 5 năm 2011, cả nước không có thông báo ổ dịchmới, 2 tỉnh Quảng Ngãi và Vĩnh Long có ổ dịch cúm gia cầm chưa qua 21 ngày

* Phân tích tình hình dịch cúm gia cầm ở Việt Nam:

Tại thời điểm 2003-2004, Việt Nam là quốc gia có số ổ dịch cúm gia cầmbệnh, chết, tiêu hủy nhiều nhất (chiếm hơn 90%), có số người nhiễm bệnh và tửvong do virus cúm cao, do đó các nước và các tổ chức quốc tế coi Việt Nam làtâm điểm của đại dịch cúm

Trang 9

- Các ổ dịch xuất hiện cả ở 3 miền Bắc, Trung, Nam và ở cả 3 vùng: vùngnúi, trung du và đồng bằng;

- Dịch phát ra lẻ tẻ rải rác, phần lớn được bao vây và dập tắt ngay

- Các ổ dịch xảy ra chủ yếu trên đàn gia cầm không tiêm phòng vacxinchiếm 44,59%, đàn mới tiêm phòng 1 mũi chiếm 16,21% số còn lại (39,2%)không có thông tin

- Các ổ dịch phát ra chủ yếu ở loại hình gia trại hoặc hộ gia đình chănnuôi nhỏ lẻ, quy mô dưới 100 chiếm 13,51%, quy mô dưới 2000 con chiếm78,23%

- Ổ dịch trên gà chiếm 21,62%, trên thủy cầm chiếm 52,70% còn lại25,67% là trên đàn nuôi lẫn gà và thủy cầm Ở loại hình chăn nuôi hỗn hợp, các

ổ dịch thường phát ra trên đàn thủy cầm trước, sau đó lây nhiễm cho đàn gà

2.4 ĐẶC TÍNH CHUNG CỦA VIRUS CÚM GIA CẦM

Virus cúm gia cầm thuộc họ Myxovirdae giống Orthomyxovirus bao gồm: + Nhóm virus cúm A (Influenza A virus): gây bệnh cho mọi loài chim,một số động vật có vú và cả con người

+ Nhóm virus cúm B (Influenza B virus): chỉ gây bệnh cho con người.+ Nhóm virus cúm C (Influenza C vrrus): gây bệnh cho người, lợn

+ Nhóm Thogotovirus

Virus họ Orthomyxoviridae có đặc tính cấu trúc chung chứa hệ gen làARN 1 sợi âm [ss(-)ARN] bao gồm 8 phân đoạn, trong đó phân đoạn 4 mã hóacho protein hemagglutinin (HA) và phân đoạn 6 mã hóa cho proteinneuraminidase (NA) là những protein kháng nguyên bề mặt (Lê Thanh Hòa,2004; Muphy B R and R G Webter, 1996)

2.4.1 Hình thái và cấu trúc của virus cúm gia cầm

Virus cúm gia cầm có tên khoa học là Ifluenza virus thuộc họOrthomyxvirus, có cấu trúc hình khối hoặc đôi khi có dạng hình khối kéo dàikích thước trung bình với đường kính vào khoảng 80-120 nm, thậm chí nhiều

Trang 10

khi có dạng kéo dài thành hình sợi có thể dài đến vài µm, trọng lượng phân tử4,6-6,4 Dalton, nhân là một ARN đơn Virus có vỏ bọc là lớp lipit có gắn cácglucoprotein gây ngưng kết hồng cầu (kháng nguyên bề mặt -H và protein enzim

- HA: Là một trimer có bản chất glycoprotein typ I có chức năng bámdính vào thụ thể tế bào

- NA: Là một tetramer, có nhiệm vụ cắt acid sialic, giúp HA gắn vào thụthể và giúp giải phóng ARN từ endosom (thể nội bào) và tạo hạt virus mới

- M1: Tập hợp các thành phần của virus và gây ra hiện tượng nảy chồi đểgiải phóng virus mới hình thành

- PB1, PB2, NP và PA: có nhiệm vụ bảo vệ, sao chép và phiên dịch ARN

- NS2: Kết hợp với M1 có nhiệm vụ chuyển ARN từ trong nhân tế bào ra

Trang 11

- NS1: Là protein không cấu trúc (không là đơn vị tạo thành hạt virus)được tổng hợp trong quá trình nhân lên của virus và có nhiệm vụ cắt xén ARN

và kích thích sự phiên mã trong quá trình nhân lên của virus

2.4.2 Phân loại virus

Virus cúm nói riêng cũng như virus nói chung thường được phân loại chủyếu theo tính kháng nguyên Khi dùng phản ứng kết tủa trên thạch hoặc kết hợp

bổ thể người ta thấy có 3 nhóm virus khác nhau và đặt tên cho 3 nhóm là virus

A, B, C Về sau người ta thấy virus cúm có khả năng gây ngưng kết hồng cầu vàkhả năng này bị kháng thể kháng virus cúm ngăn trở hay ức chế Dùng phản ứngnày người ta thấy virus typ A lại có nhiều loại khác nhau Cho đến năm 2004,tổng số subtyp chia theo khả năng gây nhưng kết hồng cầu là 16 (từ H1 đếnH16), và 9 loài NA có tính kháng nguyên khác nhau và được đặt tên từ N1 đếnN9 Virus cúm typ A là kết quả của tổ hợp giữa 2 loại protein này Việc phânloại virus như trên do Ủy ban định danh quốc tế về virus tiến hành

- Ở súc vật như lợn, ngựa, gà, chim tất cả đều do typ A gây ra Với gà,theo thông báo của OIE, virus cúm gây bệnh thường là các subtype có cấu trúckháng nguyên H là H5 và H7 Người ta đã xác định được các subtype virus cúmgây bệnh cho gà ở một số quốc gia có cấu trúc kháng nguyên như sau:

+ H5N1: Hàn Quốc, Nhật Bản, Hồng Kông, Việt Nam

đó đưa ra được biện pháp phòng bệnh thích hợp (Nguyễn Tiến Dũng, 2008)

Trang 12

2.4.3 Thành phần hóa học của virus

ARN của virus chiếm 0,8-1,1%; protein chiếm 70-75%; lipid chiếm 24%; hydratcacbon chiếm 5-8% khối lượng hạt virus

20-Lipit tập trung ở màng virus và chủ yếu là lipid có gốc phospho, số còn lại

là cholesteron, glucolipid và một ít hydrocacbon gồm các hạt men galactose,ribose, fructose, glucosamin Thành phần chính protein của virus chủ yếu làglycoprotein (Lê Văn Năm,2004)

2.4.4 Quá trình nhân lên của virus

Theo Kingrbry 1985, Fenner và cộng sự mô tả quá trình nhân lên (sinhsản) của virus được tóm tắt như sau:

Quá trình nhân lên của virus cúm chia ra nhiều giai đoạn gồm có giaiđoạn bám dính, xâm nhập, tổng hợp protein và ARN, lắp ráp và giải phóngvirus Sự bám dính của virus cúm vào tế bào ký chủ do các loại đường có trênprotein HA quyết định Sau đó các men protease có trong ký chủ sẽ cắt đôiprotein HA tại điểm cắt và giúp cho protein này bám vào thụ thể của tế bào kýchủ Sau khi có mối liên kết HA-thụ thể thì men neuraminidase (NA) của virus

sẽ cắt các acid sialic của tế bào Mảng tế bào tại nơi có virus bám vào sẽ lõmvào trong tạo thành một túi nhỏ, miệng túi bịt lại và virus được nằm trong quảcầu nhỏ gọi là endosome Lúc này virus tiết men phá huỷ capsid của virus giảiphóng nucleic nhân chuẩn bị thực hiện quá trình tổng hợp ARN nguyên liệu hệ gencho các virion mới

Hệ thống enzim sao chép của virus ngay lập tức tạo nên các ARN thông

thông tin của virus sao chép trong nhân được chuyển vận ra nguyên sinh chất,được ribosome trợ giúp tổng hợp nên protein cấu trúc và protein nguyên liệu.Protein H, N, M2 ở lại trong nguyên sinh chất, được vận chuyển xuyên qua võngmạc nôi mô (RE) và hệ golgi sau đó được cắm lên màng tế bào nhiễm Protein

Trang 13

NS1, NP, M1 được vận chuyển vào để bao bọc đệm lấy nguyên liệu ARN hệgen mới được tổng hợp

Từ sợi ARN âm đơn của virus ban đầu, một sợi dương ARN toàn vẹnđược tạo ra theo cơ chế bổ sung, sợi dương mới này lại làm khuôn để tổng hợpnên sợi âm ARN mới làm nguyên liệu Các sợi âm ARN mới, một số vừa làmnguyên liệu để lắp ráp virion mới, số khác lại làm khuôn để tổng hợp ARN theo

cơ chế như với sợi ARN của virus đầu tiên Các sợi ARN hệ gen được tạo ra làmột sợi hoàn chỉnh về độ dài và được các protein đệm (NS1, M1, NP) bao góitạo nên ribonucleocapsid ngay trong nhân tế bào nhiễm, sau đó được vận chuyển

ra nguyên sinh chất rồi được chuyển đến vị trí màng tế bào có sự biến đổi đặchiệu với virus

Sự kết hợp cuối cùng của tổ hợp ribonucleocapsid với các protein cấu trúc(HA, NA, M2) tạo nên hạt virus hoàn chỉnh mới và giải phóng ra khỏi tế bàonhiễm theo hình thức nảy chồi

2.4.5 Cấu trúc kháng nguyên

Đặc điểm đặc trưng của virus cúm gia cầm là rất dễ thay đổi cấu trúckháng nguyên bề mặt và khả năng biến chủng để thích nghi tồn tại Điều này rấtnguy hiểm đối với con người vì khả năng biến đổi kháng nguyên sẽ tạo ra nhiềuchủng virus mới Có 2 loại kháng nguyên chính nằm trên capxit của virus đượcnghiên cứu nhiều nhất là protein gây ngưng kết hồng cầu (Hemagglutinin HA)

và protein cắt enzim thụ thể (Neuraminidase NA) là những kháng nguyên có vaitrò quan trọng trong miễn dịch bảo hộ

+ Kháng nguyên H (Hemagglutinin): đây là một kháng nguyên gây ngưngkết hồng cầu, do đó các virus cúm có khả năng gây ngưng kết hồng cầu của gần

20 loài động vật Người ta dùng hồng cầu gà, hồng cầu người có nhóm máu O

và hồng cầu chuột lang để phát hiện virus bằng phản ứng ngưng kết hồng cầu(Hemagglutination test-HA) Cho đến nay, người ta đã phân ra ít nhất là 15kháng nguyên ghi từ H1- H15 (Nguyễn Bá Hiên, 2009)

Trang 14

+ Kháng nguyên N (Neuraminidaza): kháng nguyên N là một enzim làmtách cầu nối axit Neuraminic với polysaccarit, giải phóng axit Neuraminic vàphá hủy thụ thể Mucoproteit của hồng cầu Người ta cũng đã phân ra 9 loạikháng nguyên N từ N1 đến N9 (Nguyễn Bá Hiên, 2009).

Đối với sự lây nhiễm 2 kháng nguyên H và N có vai trò rất lớn giúp virusgây bệnh H giúp virus bám vào tế bào nhờ đó virus xâm nhập vào bên trong tếbào N giúp virus ra khỏi tế bào đã nhiễm để lan sang tế bào lành khác

Theo Ito và Kawaoka (1998), sự phức tạp trong diễn biến kháng nguyêncủa virus cúm là sự biến đổi trao đổi trong nội bộ gen dẫn đến sự biến đổi liêntục về tính kháng nguyên Có 2 cách biến đổi kháng nguyên của virus cúm:

+ Thay đổi do đột biến điểm (Angtigenic-drift): đây là kiểu đột biến xảy

ra thường xuyên, liên tục trong quá trình tồn tại của virus với cơ chế là khi virusnhân lên trong tế bào ký chủ sẽ có sự sai lệch trong sao chép dẫn đến thay đổimột hay nhiều nucleotit, từ đó làm thay đổi cấu trúc mã di truyền và protein

HA Việc thay đổi không chỉ xảy ra ở gen HA mà ở các gen khác (Nguyễn TiếnDũng, 2008) Kết quả là tạo ra các phân typ cúm hoàn toàn mới có tính thích ứngloài vật chủ khác nhau và mức độ độc lực gây bệnh khác nhau Chính nhờ sự biếnđổi này mà virus cúm A tạo nên 16 biến thể gen HA và 9 kháng nguyên N

+ Thay đổi do tổ hợp (reassortment- Antigenic Shift): khi hai virus cúmcùng nhiễm vào trong một tế bào chúng đều tổng hợp ra hàng ngàn phân tử protein

và đoạn ARN của chính mình Để hình thành một hạt virus, cần tổ hợp 8 đoạnARN và các loại protein Lúc này không phải đoạn ARN của virus nào thì làmthành một hạt virus giống với hạt virus thế hệ trước, mà chúng tự sắp xếp miễn sao

có đủ 8 đoạn ARN bất kể của virus Kết quả là virus khi hình thành có thể có tất cả

8 đoạn ARN đều là của một trong hai loại virus bố mẹ hoặc có một số đoạn ARNcủa virus này và số còn lại thì là của virus kia (Nguyễn Tiến Dũng, 2008)

Khi nghiên cứu về đặc tính kháng nguyên của virus cúm thấy giữa cácbiến thể tái tổ hợp và biến chủng subtype về huyết thanh học không hoặc rất ít

có phản ứng chéo Đây là điểm trở ngại lớn cho việc nghiên cứu nhằm tạo ra

Trang 15

2.4.6 Nuôi cấy virus

Virus cúm gia cầm phát triển tốt trên môi trường phôi gà 9-11 ngày tuổi,trong nước phôi tập trung khá nhiều virus và có thể lưu giữ virus được vài tuần ở

Virus cúm gia cầm cũng phát triển tốt trên môi trường tế bào xơ phôi gà

và tế bào thận chó MDCK với điều kiện nuôi cấy tế bào không chứa trypsin (LêVăn Năm, 2004)

2.4.7 Sức đề kháng của virus

Virus rất nhạy cảm với nhiệt độ và một số chất sát trùng thông thường, ở

ô nhiễm virus có khả năng tồn tại hàng tuần Đây chính là nguồn bệnh nguyhiểm và tiềm tàng để làm lây lan dịch bệnh

Trong nước ao hồ virus vẫn có thể duy trì đặc tính gây bệnh tới 4 ngày ở

động trong 30 phút sau khi chịu tác động trực tiếp của ánh sáng mặt trời ở nhiệt

- Virus có độc lực cao: Sau 10 ngày tiêm tĩnh mạch cho gà, virus phải làmchết 70-100% số gà thực nghiệm và virus gây cúm gà phải làm chết 20% số gà

Trang 16

mẫn cảm thực nghiệm và phát triển tốt trên môi trường tế bào xơ phôi gà và tếbào thận trong môi trường nuôi cấy không có trypsin.

- Virus có độc lực trung bình: Là những chủng virus gây bệnh cúm gà vớitriệu chứng lâm sàng rõ rệt nhưng gây chết không quá 15% số gà bị nhiễm bệnhhoặc tự nhiên hoặc không quá 20% số gà mẫn cảm thực nghiệm

- Virus có độc lực thấp (nhược độc): Là những virus phát triển tốt trong

cơ thể gà, có thể gây ra dịch cúm nhưng không có triệu chứng lâm sàng rõ rệt vàkhông tạo ra bệnh tích đại thể, không làm chết gà (Lê Văn Năm, 2004)

Trong thực tế người ta chia virus cúm gia cầm ra làm 2 loại: Virus có độclực thấp- LPAI (Light Pathogenic Avian Influenza) Loại virus có độc lực cao-HPAI (Hight pathogenic Avian Influenza) Thực tế chứng minh rằng các chủng

có độc lực thấp trong thiên nhiên và trong đàn thủy cầm có thể có đột biến nộigen hoặc đột biến tái tổ hợp để trở thành các chủng có độc lực cao-HPAI

2.5 DỊCH TỄ HỌC BỆNH CÚM GIA CẦM

2.5.1 Phân bố dịch bệnh

Virus cúm phân bố ở khắp nơi trên thế giới trong các loài gia cầm, dã cầm

và động vật có vú Sự phân bố và lây lan của virus cúm gia cầm hết sức nguyhiểm và khó xác định chính xác đồng thời còn chịu nhiều ảnh hưởng của cả loàivật nuôi, tập quán chăn nuôi gia cầm, đường di trú của diã cầm, mùa vụ , do đórất khó dự báo khi nào virus xuất hiện, gây thành dịch cho đàn gia cầm nuôi vàviệc ngăn chặn tiếp xúc giữa các loài dã cầm với gia cầm nuôi có ý nghĩa quantrọng trong việc phát triển chăn nuôi gia cầm (Phạm Sỹ Lăng, 2004)

2.5.2 Động vật cảm nhiễm

Tất cả các loài chim thuần dưỡng (gia cầm) hoặc hoang dã (đặc biệt là các loàithủy cầm di cư) đều mẫn cảm với virus Bệnh có thể phát ra trên gia cầm ở mọilứa tuổi, nhưng thường ở độ tuổi từ 4-6 tuần tuổi Gia cầm dễ bị mắc bệnh và có

tỷ lệ chết cao nhất ở những nơi bệnh phát ra lần đầu, ở tuổi sắp đẻ hoặc đangtrong thời kỳ đẻ cao nhất

Trang 17

Virus cúm typ A phân bố hầu như tất cả các loài chim và động vật có vú.Vịt nuôi cũng bị nhiễm virus cúm nhưng rất ít được phát hiện do vịt có sức đềkháng với virus gây bệnh kể cả chủng có độc lực cao gây bệnh nặng cho gà, gàtây Tại Việt Nam thời gian gần đây dịch cúm đã xuất hiện trên cả vịt, đặc biệt lànhững đàn vịt chạy đồng (Mary J.Pantin-Jackwood và cộng sự, 2008).

2.5.3 Động vật mang virus

Virus cúm có thể gây nhiễm cho rất nhiều loài gia cầm khác nhau, baogồm các loài chim sống tự do, các chim cảnh, vịt nhà, gà, gà tây và các loài giacầm khác (Dennis J Alexander, 2007) Tuy nhiên, tần suất và số lượng virusphân lập được ở loài thủy cầm đều cao hơn các loài khác Trong các loài thủycầm di trú thì vịt trời có tỷ lệ nhiễm cao hơn các loài khác (Bùi Quang Anh vàVăn Đăng Kỳ, 2004)

Cuối tháng 10/2004 FAO, OIE, WHO lưu ý các nước đã trải qua dịchcúm gia cầm H5N1 rằng vịt nuôi có thể đóng vai trò quan trọng trong việc làmlây lan chủng virus cúm gia cầm thể độc lực cao cho gia cầm khỏe và rất có thểlây trực tiếp cho người vì vịt nhiễm nhưng không biểu hiện các triệu chứng lâmsàng Vịt có thể là con vật tàng trữ “thầm lặng” đối với virus cúm H5N1 gâybệnh thể độc cao cho gà Điều này có ý nghĩa rất quan trọng đối với những nơi

có tập quán chăn nuôi vịt thả rông, các loài gia cầm được nuôi nhốt chung Hiệntại, FAO và OEI đang phối hợp với nhau đánh giá vai trò của vịt nuôi nhằm đưa

ra chiến lược lâu dài với mục đích khống chế các ổ dịch cúm gia cầm ở châu Á

2.5.4 Phương thức truyền lây

Sau khi cảm nhiễm virus cúm thì chỉ sau đó vài giờ virus cúm sản sinh rấtnhanh trong đường hô hấp, tiêu hóa ký chủ Sự truyền lây bệnh được thực hiệntheo hai con đường trực tiếp và gián tiếp

- Bệnh có thể truyền trực tiếp từ con ốm sang con khỏe thông qua khôngkhí do hơi thở, do virus nhiễm vào trứng, vỏ trứng

Trang 18

- Hoặc lây gián tiếp qua các dụng cụ chăn nuôi, thức ăn, nước uống,phương tiện giao thông hoặc do côn trùng như ruồi nhặng mang và gieo rắcvirus một cách cơ giới.

- Ngoài ra, còn có con đường khiến bệnh có thể lây lan từ vùng dịch sangnhững vùng địa lý khác rất xa nhau, đó là các chim hoang là nguồn gốc gây racác đợt dịch cúm gia cầm qua các năm

Theo tổ chức WHO và FAO thì con người có nguy cơ lây nhiễm cúm giacầm cao do tiếp xúc trực tiếp với gia cầm bị bệnh trong quá trình bắt và giết mổ

2.5.5 Mùa phát bệnh

Bệnh cúm gia cầm xảy ra quanh năm nhưng thường tập trung vào vụ đôngxuân từ tháng 10 năm trước đến tháng 2 năm sau Khi có sự biến đổi bất lợi vềđiều kiên thời tiết như nhiệt độ lạnh, độ ẩm cao, thời tiết có những biến đổi độtngột làm giảm sức đề kháng của con vật Mặt khác, thời điểm có mật độ chănnuôi cao nhất trong năm, các hoạt động vận chuyển, giết mổ gia cầm diễn ra caonhất trong năm cũng là điều kiện tốt cho dịch bệnh phát sinh lây lan

2.6 ĐÁP ỨNG MIỄN DỊCH CHỐNG VIRUS Ở GIA CẦM

Miễn dịch (immunity) là trạng thái đặc biệt của cơ thể không mắc phải tácđộng có hại của yếu tố gây bệnh, trong khi đó cơ thể cùng loài hoặc khác loài lại bịtác động trong điều kiện sống như nhau Cũng như các động vật khác, miễn dịchchống virus cúm gia cầm có hai loại là miễn dịch đặc hiệu và không đặc hiệu

2.6.1 Miễn dịch không đặc hiệu (non-speccific immunity)

Khi mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể, gia cầm bảo vệ trước hết bằng miễndịch không đặc hiệu nhằm ngăn cản hoặc giảm số lượng và khả năng gây bệnhcủa chúng Đây là quá trình đáp ứng miễn dịch mà cơ thể phản ứng lại bất kỳloại kháng nguyên nào xâm nhập Miễn dịch không đặc hiệu có vai trò quantrọng khi miễn dịch đặc hiệu chưa phát huy tác dụng Hệ thống miễn dịch khôngđặc hiệu của gia cầm rất phát triển bao gồm:

Trang 19

- Hàng rào vật lý như da, niêm mạc có tác dụng bảo vệ cơ thể ngăn cảntác nhân gây bệnh vào cơ thể.

- Hàng rào hóa học: Khi mầm bệnh qua hàng rào da và niêm mạc nó gặpphải hàng rào hóa học đó là dịch tiết của các tuyến trong cơ thể Các chất hoáhọc này góp phần vào việc ngăn chặn và tiêu diệt virus (Nguyễn Bá Hiên, 2009)

+ Bổ thể có tác dụng làm tan màng vi khuẩn, làm tăng khả năng thực bàocủa đại thực bào (opsonin hóa), ngoài ra bổ thể cũng có vai trò nhất định trong

cơ chế đáp ứng miễn dịch đặc hiệu (nhiều trường hợp tương tác giữa khángnguyên và kháng thể có sự có mặt của bổ thể) (Nguyễn Như Thanh, 1997)

+ Interferol: Đây là một các tác nhân diệt virus có hoạt phổ rộng ở loài giacầm, lưỡng thê và cũng như ở các loài động vật bậc cao (Tô Long Thành, 2009).Các Interferol do nhiều loại tế bào tiết ra nhưng nhiều nhất là tế bào diệt tựnhiên (NK) Khi Interferol được sản sinh ra, nó gắn vào tế bào bên cạnh và cảmứng tế bào đó sản sinh ra protein AVP (antivirus protein), do đó virus xâm nhậpvào tế bào nhưng không nhân lên được

- Hàng rào tế bào: Đây là hàng rào quan trọng và phức tạp nhất bao gồmnhiều loại nhưng quan trọng nhất là các thực bào

+ Tiểu thực bào (microphage) là bạch cầu đa nhân trung tính của máu, nóchiếm 60-70% tổng số bạch cầu ở máu ngoại vi Nó thực bào những phân tử nhỏ

và vi khuẩn ngoài tế bào

+ Đại thực bào (macrophage) là các tế bào có khả năng thực bào, khi đượchoạt hóa sẽ nhận biết và loại bỏ các vật lạ, ngoài ra nó còn giữ vai trò quan trọngtrong sự trình diện kháng nguyên với tế bào T kích thích tế bào T sản sinh IL-1.Đại thực bào còn tiết ra Interferol có đặc tính kháng virus

+ Các tế bào diệt tự nhiên (NK) là một quần thể tế bào lâm ba cầu cónhiều hạt với kích thích lớn Các tế bào này có khả năng tiêu diệt các tế bào đãnhiễm virus và các tế bào đích đã biến đổi, nó còn tiết ra Interferol làm tăng khảnăng thực bào của đại thực bào

Trang 20

2.6.2 Miễn dịch đặc hiệu (Specific immunity)

Miễn dịch đặc hiệu hay là miễn dịch thu được là trạng thái miễn dịch xuấthiện khi cơ thể tiếp xúc với kháng nguyên Khi kháng nguyên xâm nhập cơ thể

sẽ sản sinh ra kháng thể đặc hiệu để loại trừ kháng nguyên đó Kháng thể đặchiệu có thể là dịch thể hoặc là tế bào đó là các lympho T mẫn cảm Người ta chiamiễn dịch đặc hiệu ra miễn dịch tế bào và miễn dịch dịch thể

- Miễn dịch qua trung gian tế bào: Quá trình đáp ứng miễn dịch đặc hiệuqua trung gian tế bào do tế bào lympho B, T đảm nhận Tế bào lympho T nhậndiện kháng nguyên lạ sau khi nó đã được các tế bào đại thực bào xử lý và trìnhdiện kháng nguyên Tế bào lympho B thành thục trong túi của Fabricius nhậnbiết các kháng nguyên hòa tan và trình diện chúng trên bề mặt Các tế bào mangdấu ấn TCD4 nhận biết các có kháng nguyên gắn với MHC lớp II, sau đó tiết raLymphokin kích thích các tế bào B hoạt hóa thành tương bào sản xuất kháng thểtiêu diệt kháng nguyên Các tế bào TCD8 có tác dụng nhận biết kháng nguyêngắn với lớp I, sau đó hoạt hóa trở thành T độc tiêu diệt kháng nguyên

- Miễn dịch dịch thể: Miễn dịch dịch thể giữ vai trò bảo vệ thông quanhững kháng thể hòa tan có mặt trong mọi dịch sinh học của cơ thể Kháng thể

có bản chất là globulin nên còn được gọi là globulin miễn dịch (Ig) gồm có 3 lớpchính IgM, IgG, IgA

- IgG của gia cầm lớn hơn của động vật có vú nên thường được gọi làIgY IgY có thế là tiền chất tổ tiên của IgE và IgG của động vật có vú

- IgA tiết ra globulin miễn dịch quan trọng nhất thuộc miễn dịch màng nhầy,IgA bảo vệ màng nhầy chống lại các mầm bệnh đặc biệt là virus bằng cách trunghòa và ngăn cản sự liên kết của chúng với receptor bề mặt tế bào đích

- IgM được tìm thấy trên bề mặt hầu hết các tế bào B và là kháng thể đượcsản xuất đầu tiên trong miễn dịch sơ cấp Sau đó các tế bào được chuyển sangsản xuất IgG hoặc IgA

Trang 21

Một đáp ứng miễn dịch của gia cầm bắt đầu bằng sự sản xuất ra IgM Sauvài lần đáp ứng miễn dịch chuyển sang sản xuất IgG, đây là kháng thể chínhsinh ra miễn dịch thứ phát và chiếm yếu thế trong máu gia cầm Những virus bịtrung hòa không thể bám vào điểm tiếp nhận trên bề mặt của tế bào đích vì thếchúng không thể tái tổ hợp Kháng thể kết hợp với mầm bệnh cũng có thể hoạthóa bổ thể và sản xuất protein bổ thể mới Protein gắn với receptor của thể thựcbào, kích thích cho thực bào phân hủy mầm bệnh.

* Những yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành kháng thể

Sự hình thành kháng thể và quá trình đáp ứng miễn dịch phụ thuộc rấtnhiều yếu tố như trạng thái sức khỏe của cơ thể, điều kiện ngoài cảnh, sự chămsóc nuôi dưỡng… Nhưng quan trọng hơn cả là phụ thuộc vào bản chất khángnguyên Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành kháng thể như sau:

- Bản chất kháng nguyên: Kháng nguyên có bản chất là protein vào cótính kháng nguyên cao sẽ kích thích sinh kháng thể tốt

- Đường xâm nhập của kháng nguyên: Đường xâm nhập của khángnguyên tốt nhất là dưới da và trong bắp thịt

- Liều lượng kháng nguyên: Lượng kháng nguyên đưa vào vừa đủ sẽ kíchthích cơ thể sản sinh miễn dịch ở mức độ tối đa mà không gây ức chế và tê liệtmiễn dịch

- Số lần đưa kháng nguyên vào cơ thể: Tiêm nhắc lại vacxin có tác dụngtốt, kháng thể sinh ra nhiều hơn và được duy trì trong thời gian nhiều hơn

- Chất bổ trợ: Chất bổ trợ cho vào khi chế vacxin với mục đích giữ và duytrì lượng kháng nguyên lâu trong cơ thể nhờ đó tạo kích thích liên tục, đều đặncác cơ quan có thẩm quyền miễn dịch tạo ra kháng thể ở mức độ cao và duy trìđược lâu hơn Những chất bổ trợ thường dùng là keo phèn, nhũ tương, dầukhoáng, dầu thực vật, saponin

Trang 22

2.7 TRIỆU CHỨNG, BỆNH TÍCH CỦA BỆNH CÚM GIA CẦM

2.7.1 Triệu chứng

Bệnh cúm gia cầm có thời gian ủ bệnh rất ngắn chỉ vài giờ đến 3 ngàysau khi xâm nhập vào cơ thể tùy theo lượng virus, đường nhiễm bệnh và loàivật thụ cảm

Thời kỳ lây nhiễm từ 3-7 ngày kể từ khi có triệu chứng bệnh Biểu hiệnlâm sàng thường rất đa dạng và phụ thuộc chủng virus, loài vật thụ cảm, tuổi,giới tính, yếu tố môi trường, chế độ dinh dưỡng, sức miễn dịch của con vật vàcuối cùng là sự nhiễm bệnh kế phát bởi các loài vi khuẩn như E.coli,Mycoplasma…

Có một số trường hợp dịch xảy ra nhưng không có dấu hiệu lâm sàng,song cũng có nhiều trường hợp dịch phát ra dữ dội với các triệu chứng điển hình

về đường hô hấp, tiêu hóa, giảm sản lượng trứng và các biểu hiện về thần kinh:

- Gia cầm chết đột ngột, ác tính, chết nhiều giống ngộ độc với tỷ lệ từ20%-100%

- Gà sốt cao, ủ rũ, bỏ ăn, giảm đẻ, suy yếu và đứng tụ thành đám, lông xù,

xơ xác, da chân xung huyết màu thâm tím Con vật có các triệu chứng cảm mạonhư chảy nước mũi, dịch mũi nhày màu xám, khó thở, vươn cổ để thở, thở khòkhè, hắt hơi

- Chảy nước mắt, viêm kết mạc mắt, nhắm mắt, sưng phù đầu, mào tíchsưng phù, màu tím sẫm

- Con vật có triệu chứng thần kinh: giật, mất thăng bằng, vận động xoay tròn

- Ỉa chảy, phân trắng hoặc xám xanh

- Bệnh ở thuỷ cầm ít xảy ra hơn và triệu chứng cũng nhẹ hơn ở gà

2.7.2 Bệnh tích

Mức độ biểu hiện bệnh tích của bệnh cúm gia cầm phụ thuộc vào độc lựccủa virus, quá trình diễn biến của bệnh Bệnh tích chủ yếu là xung huyết, xuất

Trang 23

huyết, tiết nhiều dịch rỉ viêm, hoại tử các cơ quan và hoại tử cơ Mổ khám giacầm chết thấy:

- Mào tích sưng to, tím sẫm, phù mí mắt, phù có keo nhầy và xuất huyếtdưới da đầu

- Ở hệ thống tiêu hóa: xuất huyết điểm ở miệng, viêm cata và xuất huyếtniêm mạc ruột, xuất huyết dạ dày cơ, đôi khi xuất huyết dạ dày tuyến giốngbệnh Newcastle Hạch ruột sưng, màng ruột bị viêm có tơ huyết

- Ở hệ thống hô hấp: viêm cata và viêm tơ huyết niêm mạc khí quản, khíquản phú chứa nhiều dịch nhầy, dịch nhày có thể đông đặc như phomat, tăngsinh túi khí, phổi sưng to

- Các cơ quan tổ chức khác: viêm tơ huyết của các cơ quan nội tạng nhưmàng bao tim, màng gan Gan, lách, thận sưng to, có những điểm màu vànghoặc xám, xuất huyết mỡ vành tim; xuất huyết , hoại tử tuyến tụy, tuyến tụy màuvàng có các vệt màu sẫm

- Xuất huyết điểm ở túi Fabricius và lỗ huyệt Phù keo nhầy và xuất huyết

cơ đùi phần giáp đầu gối Gà đẻ viêm ỗng dẫn trứng và vỡ trứng non Da chânxung huyết đỏ thẫm

Muốn chẩn đoán chính xác cần phải kết hợp với chẩn đoán trong phòngthí nghiệm và chẩn đoán phân biệt với một số bệnh có triệu chứng tương tự

Trang 24

2.8.2 Chẩn đoán trong phòng thí nghiệm

Các phương pháp dùng trong chẩn đoán cúm gia cầm:

- Chẩn đoán virus học

- Chẩn huyết thanh học: phản ứng ngăn trở ngưng kết hồng cầu (HI),ELISA, AGID

- Phương pháp RT-PCR (kỹ thuật PCR ngược)

2.8.3 Chẩn đoán phân biệt

Về triệu chứng, bệnh tích bệnh cúm gia cầm có các đặc điểm dễ lẫn vớibệnh tụ huyết trùng, bệnh Newcatls, bệnh CRD, bệnh viêm phế quản truyềnnhiễm nên cần chẩn đoán để phân biệt

2.9 PHÒNG CHỐNG BỆNH CÚM GIA CẦM

Dịch cúm gia cầm vẫn đang diễn biến hết sức phức tạp ở các nước trênthế giới trong đó có cả Việt Nam Do đó việc phòng chống bệnh cúm gia cầm làcông việc vô cùng khó khăn, lắm gian nan và yêu cầu phải triển khai đồng bộnhiều biện pháp cùng một lúc, trong cùng một thời gian khá dài với sự tham giatích cực của các cấp chính quyền chứ không chỉ riêng là công tác của ngành thú

y (Lê Văn Năm, 2007)

2.9.1 Vệ sinh phòng bệnh

Thực hiện nghiêm ngặt quy trình vệ sinh phòng bệnh Tiêu độc và vệ sinhthức ăn, xe chuyên chở và dụng cụ chăn nuôi, vệ sinh người chăn nuôi Các cơ

sở chăn nuôi lớn áp dụng phương thức chăn nuôi cùng vào, cùng ra

Thực hiện kiểm dịch vận chuyển gia cầm, sản phẩm gia cầm: thườngxuyên kiểm tra dịch bệnh ở các chợ buôn bán gia cầm sống và tổ chức giết mổgia cầm tập trung ở thành phố, thị xã (Văn Đăng Kỳ, 2008)

Trong ổ dịch: Tiến hành tiêu hủy gia cầm ốm chết theo đúng kỹ thuật,phun thuốc sát trùng tiêu độc triệt để

Trang 25

Đối với vòng tiếp cận ổ dịch phải áp dụng các biện pháp bảo vệ an toàn ởcấp độ cao, giám sát, kiểm tra nghiêm ngặt việc vận chuyển gia cầm và các biệnpháp vệ sinh tiêu độc.

Cấm vận chuyển gia cầm và các sản phẩm gia cầm ra khỏi tỉnh, thành phốđang có dịch Giám sát chặt chẽ diễn biến của dịch và phát hiện kịp thời nhữngbiểu hiện bệnh cúm ở người để can thiệp

Thông tin tuyên truyền đầy đủ, kịp thời về tình hình diễn biến, nguy cơdịch bệnh ở trong nước và trên thế giới để mọi người chủ động và tích cực thamgia phòng chống dịch

2.9.2 Phòng bệnh bằng vacxin

* Sự cần thiết của tiêm phòng vacxin bệnh cúm gia cầm

Vacxin được sử dụng đúng sẽ đạt được một số mục đích như sau:

- Bảo hộ cho con vật không xuất hiện các triệu chứng lâm sàng và chết

- Phòng được sự lây lan virus cường độc do tiếp xúc

- Bảo hộ chống lại virus cường độc dù liều gây nhiễm cao hay thấp

- Tăng cường sức đề kháng của gia cầm chống lại virus cúm gia cầm

* Các loại vacxin đang dùng hiện nay

Theo quyết định số 1715 QĐ/BNN-TY ngày 14/07/2005 của Bộ Nông nghiệp

& PTNN về ban hành quy định tạm thời sử dụng các loại vacxin cúm gia cầm:

- Vacxin vô hoạt nhũ dầu H5N2 (Trung Quốc) tiêm cho gà: là loại vaccine dịchủng bất hoạt, sử dụng chủng virus A/Turkey/England/N-28/73 (H5N2)

- Vacxin vô hoạt nhũ dầu H5N1 (Trung Quốc) tiêm cho vịt: là loại vacxinđồng chủng bất hoạt, sử dụng chủng virus A/Harbin/Re-1/2003 (H5N1)

- Vacxin Nobilis Influenza H5 (Hà lan) tiêm cho gà: đây là loại vacxin dịchủng: sử dụng chủng virus A/Chicken/Mexico/232/94/CPA (H5N2)

Trang 26

Phần IIIĐỐI TƯỢNG -NỘI DUNG - VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU3.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

- Các đàn thuỷ cầm (vịt, ngan, ngỗng) nuôi tại các xã Cổ Bi, Đa Tốn vàKim Sơn, huyện Gia Lâm, Hà Nội

3.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Điều tra tình hình chăn nuôi thuỷ cầm tại 3 xã Cổ Bi, Đa Tốn và KimSơn, huyện Gia Lâm, Hà Nội

- Điều tra tình hình tiêm phòng vacxin trên đàn thuỷ cầm tại 3 xã Cổ Bi,

Đa Tốn và Kim Sơn, huyện Gia Lâm, Hà Nội

- Giám sát lưu giữ virus trên đàn thủy cầm tại 3 xã Cổ Bi, Đa Tốn và KimSơn, huyện Gia Lâm, Hà Nội

- Giám sát huyết thanh học sau khi tiêm phòng vacxin trên đàn thủy cầmnuôi tại 3 xã Cổ Bi, Đa Tốn và Kim Sơn, huyện Gia Lâm, Hà Nội

3.3 NGUYÊN LIỆU VÀ DỤNG CỤ

- Kháng nguyên H5N1: A/Chicken/Scot/59 Inactivaced angtigen

- Huyết thanh vịt, ngan, ngỗng đã tiêm vacxin cúm gia cầm

- Vacxin gia cầm vô hoạt Subtyp H5N1

- Dịch ổ nhớp của ngan, vịt

- Phôi gà 9-10 ngày tuổi

- Các loại môi trường, hóa chất, dụng cụ, trang thiết bị dùng trong phòngthí nghiệm

- Seringe, cồn, tăm bông, môi trường vận chuyển dùng cho lấy mẫu

Trang 27

3.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.4.1 Phương pháp điều tra dựa theo thông tin thứ cấp qua tài liệu thú y

xã, hộ chăn nuôi và điều tra trực tiếp.

3.4.2 Phương phấp lấy mẫu và xử lý mẫu

* Lấy mẫu để phân lập virus:

Với thuỷ cầm sống thì mẫu thường lấy là dịch hầu họng và dịch ổ nhớp

Cách lấy:

- Dịch hầu họng: dùng tăm bông vô trùng cho vào miệng ngoáy quanhthành họng thuỷ cầm, giữ vài giây rồi rút que từ từ theo đường xoáy Cho ngaybông vào ống đựng môi trường bảo quản (môi trường MEM), đậy nắp kín rồicho vào bình đá

- Dịch ổ nhớp: dịch ổ nhớp được lấy bằng tăm bông tại lỗ huyệt, ngoáyquanh hậu môn, rút ra theo đường xoáy sau đó được đặt trong ống nhựa đã khửtrùng chứa 1-2 ml dung dịch bảo quản có chất kháng sinh liều cao để hạn chế sựphát triển của tạp khuẩn

Xử lý mẫu:

Lấy mẫu từ trong tủ lạnh âm, làm tan băng, ép kỹ bông lên thành ốngnhiều lần để vắt hết dịch vào môi trường sau đó bỏ bông đi Cho vào ống một

trong thời gian ít nhất 1 giờ Ly tâm nhẹ 2000 vòng/ phút để loại cặn và lấy dịchnổi để phân lập virus

* Lấy mẫu kiểm tra huyết thanh học:

Lấy máu thuỷ cầm, chắt huyết thanh làm phản ứng huyết thanh học

Cách lấy máu:

Dùng sering lấy 1,5-2 ml máu ở tĩnh mạch cánh hoặc đùi của thuỷ cầm,lấy xong kéo seringe ra đến thể tích khoảng 4-5 ml, đậy kín nắp kim lại để

Trang 28

seringe nằm ngang cho diện tích máu là rộng nhất, để khoảng vài phút cho máu

ampul (không để quá 48h) Huyết thanh chắt ra nếu cần thiết bảo quản thì có thể

3.4.3 Phương pháp phân lập virus trên phôi trứng.

- Chọn trứng gà có phôi 9-10 ngày tuổi khoẻ mạnh, 3 trứng/ mẫu

- Dùng seringe 1ml hút dịch mẫu đã xử lý ở trên tiêm vào xoang niệu môvới liều 0,2 ml/phôi

- Gắn kín lỗ bằng parafin

- Lau trứng bằng cồn 70%, sát trùng vùng buồng hơi bằng cồn iot 5%.Dùng kéo vô trùng cắt vỏ trứng, bộc lộ buồng hơi, bộc lộ xoang niệu mô

- Hút nước niệu mô bằng pipet, cho vào ống nghiệm 10ml

- Kiểm tra sự có mặt của virus gây ngưng kết hồng cầu bằng phản ứng HA

- Giám sát virus cúm gia cầm bằng phản ứng HI Nếu âm tính có thể cấychuyển trên phôi trứng gà thêm 2-3 đợt

3.4.4 Phương pháp làm phản ứng ngưng kết hồng cầu (phản ứng HA).

* Nguyên liệu:

- Nước trứng nghi chứa virus gây ngưng kết hồng cầu

- Hồng cầu gà 1%: Được chế từ máu của gà trống trưởng thành khoẻmạnh có phản ứng HI âm tính Cách pha chế:

+ Lấy 10ml máu tim gà + 5ml xitrat natri 5% để chống đông

+ Ly tâm 1500 vòng/phút cho hồng cầu lắng xuống, hút bỏ bạch cầu và

Trang 29

bỏ phần nước ở trên, rồi lại cho 8-10ml dung dịch PBS vào, đảo nhẹ nhàng, rồilại ly tâm 2000 vòng/phút và hút bỏ nước trong đi (rửa 3 lần).

+ Lấy 1 ml hồng cầu gà + 99 ml nước sinh lý, lắc nhẹ được dung dịchhồng cầu gà 1%

* Tiến hành phản ứng:

Phản ứng được tiến hành trên tấm nhựa vi ngưng kết (Microtitre Plates)

96 lỗ, đáy hình chữ U hoặc chữ V, dung tích mỗi lỗ là 0,1ml Phản ứng HA gồmcác bước sau:

- Cho 50 µl PBS vào lỗ từ 1-12

- Cho 50 µl nước trứng nghi chứa virus vào lỗ 1 Pha loãng kháng nguyêntheo bậc 2; Chuyển 50 µl từ lỗ 1 sang lỗ 2 rồi trộn đều hỗn dịch, hút 50µl từ lỗ 2sang lỗ 3, trộn đều Tiếp tục làm như vậy đến lỗ 11, hút 50µl bỏ đi

- Lỗ 12 làm đối chứng chỉ chứa 50 µl PBS

- Cho 50µl hồng cầu gà 1% vào tất cả các lỗ

- Lắc nhẹ tấm nhựa, để ở nhiệt độ phòng thí nghiệm sau 20 phút đọc kết quả.+ Phản ứng dương tính: hồng cầu bị ngưng kết nằm rải đều ở đáy giếngnhư chiếc dù lộn ngược

Hiệu giá của phản ứng ngưng kết hồng cầu: hiệu giá của phản ứng HA là

độ pha loãng virus lớn nhất mà ở đó vẫn còn một lượng virus có khả năng làmngưng kết hồng cầu Người ta gọi đó là một đơn vị HA

+ Phản ứng âm tính: hồng cầu lắng xuống đáy thành cục tròn, nước bêntrên trong như đối chứng

Trong trường hợp xác định được sự có mặt của virus gây ngưng kết hồng cầu:

- Nếu phản ứng HA dương tính: chứng tỏ trong nước trứng có chứa virusgây ngưng kết hồng cầu Tiếp tục làm phản ứng HI giữa virus với kháng huyếtthanh chuẩn của một số subtype H của virus cúm

- Nếu phản ứng HA âm tính: phôi phát triển bình thường, ta tiêm lại lần 2trên trứng

Trang 30

3.4.5 Phương pháp làm phản ứng ngăn trở ngưng kết hồng cầu gà (phản ứng HI)

- Cho 25µl PBS vào các giếng 1-12

- Cho 25µl huyết thanh cần kiểm tra vào giếng 1

- Pha loãng huyết thanh theo bậc 2: chuyển 25µl từ giếng 1 sang giếng 2,trộn đều Hút 25µl từ giếng 2 sang giếng 3, trộn đều Cứ làm như vậy đến giếng

11 rồi hút bỏ đi 25µl

- Giếng 12 dùng để đối chứng

- Kháng nguyên 4 đơn vị HA/25µl đã pha cho vào các giếng từ 1-11 Lắcnhẹ tấm nhựa, để ở nhiệt độ phòng 20-30 phút

- Cho 25µl hồng cầu gà 1% vào tất cả các đáy giếng Lắc nhẹ tấm nhựa để

ở nhiệt độ phòng 20 phút rồi đọc kết quả

+ Phản ứng HI dương tính có kháng thể, hồng cầu lắng ở đáy giếng thànhcục tròn đỏ, nước bên trên trong

Trang 31

Hiệu giá của phản ứng HI: là độ pha loãng huyết thanh cao nhất mà ở đóvẫn có khả năng ức chế ngưng kết hồng cầu.

3.5.5 Phương pháp xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê sinh học trên Excel

Mẫu huyết thanh sau khi tiêm vacxin cúm gia cầm có hiệu giá kháng thể ≥4log2 được coi là đạt mức bảo hộ

Công thức tính tỷ lệ bảo hộ cá thể

Số mẫu đạt HGKT bảo hộ ≥ 4log2

Tổng số mẫu kiểm tra

3.5.6 Phương pháp giám sát virus cúm gia cầm trên đàn thủy cầm bằng phản ứng RT-PCR

* Nguyên Liệu:

- Nước cất vô trùng

- ARN đối chứng dương tính H5, H7

- Cồn tuyệt đối

- Isopropanol 99% tinh khiết

- Chloroform 99% tinh khiết

- Trizol LS reagent (Invitrogen, cat ≠10296-010 hoặc 10296-028)

- Kít chiết tách Qiagen Rneasy Extraction (cat ≠ 74104 50 prep hoặc ≠

Trang 32

- Chiết tách ARN từ mẫu dịch hầu họng:

+ Cho 0,75 ml Trizol® LS reagent (hoặc 1 ml Trizol® reagent) + 0,25 mldịch bệnh phẩm (nước trứng thu được từ mẫu phân lập virus trên phôi trứng)vào ống 1,5 ml Lắc đều và để ở nhiệt độ phòng 5 phút

+ Thêm 0,2 ml chloroform vào mỗi ống Lắc mạnh trong 15 giây và để ởnhiệt độ phòng 5 phút

+ Chuyển phần nước (khoảng 500 µ) sang ống microtube mới

+ Thêm 0,5 ml Isopropanol và lắc đều Để 5-10 phút ở nhiệt độ phòng

ống đi

+ Rửa ARN đóng ở đáy ống bằng cồn 80%, lắc mạnh và ly tâm với tốc độ

+ Bỏ dung dịch trong ống và làm khô ARN trong 10 phút ở nhiệt độ phòng

và hoà tan lại với 30 µl nước cất không có Rnase hoặc nước cất đã xử lý DEPC

Trang 33

+ Chạy điện di:

Chuẩn bị thạch agarose 1,5% pha trong dung dịch TBE hoặc TAE cóEthidium Bromide (10 µg/µl)

Đổ thạch vào khuôn điện di (có lược)

Thạch khô, rút lược ra và cho mẫu vào các giếng (5µl sản phẩm PRC +2µl dung dịch loading buffer)

Sử dụng Marker trọng lượng phân tử (thang 100 bp)

Chú ý khi chạy PCR phải có mẫu đối chứng dương và đối chứng âm đikèm (mẫu đối chứng âm tính có thể là nước cất sạch)

- Đọc kết quả:

Mẫu dương tính: xuất vạch giống với mẫu đối chứng dương tính

Mẫu âm tính: không có vạch

- Đánh giá kết quả: Có virus cúm hoặc virus cúm thuộc subtype nào dựa

vào primer chạy mẫu

Ngày đăng: 21/03/2017, 06:32

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1. Hình thái và cấu trúc virus cúm H5N1 - Giám sát lưu giữ virus trên đàn thuỷ cầm nuôi tại một số xã của huyện Gia Lâm, Hà Nội
Hình 2.1. Hình thái và cấu trúc virus cúm H5N1 (Trang 10)
Bảng 4.1. Kết quả điều tra tình hình chăn nuôi thủy cầm tại xã Cổ Bi, huyện Gia Lâm - Giám sát lưu giữ virus trên đàn thuỷ cầm nuôi tại một số xã của huyện Gia Lâm, Hà Nội
Bảng 4.1. Kết quả điều tra tình hình chăn nuôi thủy cầm tại xã Cổ Bi, huyện Gia Lâm (Trang 36)
Bảng 4.2. Kết quả điều tra tình hình chăn nuôi thủy cầm tại xã Đa Tốn huyện Gia Lâm - Giám sát lưu giữ virus trên đàn thuỷ cầm nuôi tại một số xã của huyện Gia Lâm, Hà Nội
Bảng 4.2. Kết quả điều tra tình hình chăn nuôi thủy cầm tại xã Đa Tốn huyện Gia Lâm (Trang 38)
Bảng 4.3. Kết quả điều tra tình hình chăn nuôi thủy cầm tại xã Kim Sơn huyện Gia Lâm - Giám sát lưu giữ virus trên đàn thuỷ cầm nuôi tại một số xã của huyện Gia Lâm, Hà Nội
Bảng 4.3. Kết quả điều tra tình hình chăn nuôi thủy cầm tại xã Kim Sơn huyện Gia Lâm (Trang 41)
Bảng 4.4 : Kết quả tiêm phòng vacxin cúm gia cầm cho đàn thủy cầm tại 3 xã Cổ Bi, Đa Tốn và Kim Sơn - Giám sát lưu giữ virus trên đàn thuỷ cầm nuôi tại một số xã của huyện Gia Lâm, Hà Nội
Bảng 4.4 Kết quả tiêm phòng vacxin cúm gia cầm cho đàn thủy cầm tại 3 xã Cổ Bi, Đa Tốn và Kim Sơn (Trang 45)
Bảng 4.6. Kết quả giám sát virus cúm gia cầm trên đàn thuỷ cầm có tiêm phòng vacxin và không tiêm - Giám sát lưu giữ virus trên đàn thuỷ cầm nuôi tại một số xã của huyện Gia Lâm, Hà Nội
Bảng 4.6. Kết quả giám sát virus cúm gia cầm trên đàn thuỷ cầm có tiêm phòng vacxin và không tiêm (Trang 51)
Bảng 4.6. Kết quả giám sát virus cúm gia bằng phản ứng RT-PCR trên đàn thuỷ cầm - Giám sát lưu giữ virus trên đàn thuỷ cầm nuôi tại một số xã của huyện Gia Lâm, Hà Nội
Bảng 4.6. Kết quả giám sát virus cúm gia bằng phản ứng RT-PCR trên đàn thuỷ cầm (Trang 53)
Bảng 4.9. Kết quả giám sát kháng thể cúm gia cầm trong huyết thanh đàn thủy cầm ở 3 xã Cổ Bi, Đa Tốn và Kim Sơn tại thời điểm sau khi dùng vacxin cúm H5N1 đợt 1 năm 2011. - Giám sát lưu giữ virus trên đàn thuỷ cầm nuôi tại một số xã của huyện Gia Lâm, Hà Nội
Bảng 4.9. Kết quả giám sát kháng thể cúm gia cầm trong huyết thanh đàn thủy cầm ở 3 xã Cổ Bi, Đa Tốn và Kim Sơn tại thời điểm sau khi dùng vacxin cúm H5N1 đợt 1 năm 2011 (Trang 58)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w