Đối với lớp mình chủ nhiệm, tôi nhận thấy rằng khi tìm hiểu về từ nhiều nghĩa học sinh đôi khi còn nhầm lẫn giữa nghĩa gốc và nghĩa chuyển, ngoài ra một số em còn nhầm lẫn giữa các lớp t
Trang 11 Phần mở đầu:
1.1 Lý do chọn sáng kiến:
Trong các môn học ở tiểu học, môn Tiếng Việt là môn học có nhiệm vụ cung cấp
cho học sinh những tri thức về hệ thống Tiếng Việt (cấu tạo từ, cấu trúc ngữ pháp, quy tắc hoạt động của ngôn ngữ) Ngôn ngữ Tiếng Việt rất phong phú và đa dạng đặc biệt là hệ thống vốn từ Bước vào năm học lớp 5 là lớp cuối cùng của bậc tiểu học, học sinh được tìm hiểu nhiều kiến thức về các lớp từ trong đó có kiến thức về từ nhiều nghĩa Theo sách giáo khoa Tiếng Việt 5 (trang 67 - Tập 1): “Từ nhiều nghĩa là từ có một nghĩa gốc và một hay một số nghĩa chuyển Các nghĩa của từ nhiều nghĩa bao giờ cũng có mối liên hệ với nhau” Như vậy khái niệm nghĩa gốc - nghĩa chuyển của một
từ nhiều nghĩa được hiểu như sau:
- Nghĩa gốc: Là nghĩa cơ bản, là nền tảng cho sự phát triển nghĩa của từ Trong từ điển nghĩa gốc được nói đến đầu tiên
- Nghĩa chuyển: Là loại nghĩa được hình thành từ nghĩa gốc, có mối quan hệ mật thiết với nghĩa gốc Trong từ điển, nghĩa chuyển được nói đến sau nghĩa gốc
Ví dụ : Đối với từ “răng” nghĩa gốc của nó là phần xương cứng, màu trắng, mọc trên
hàm, dùng để cắn, giữ và nhai thức ăn Các cách hiểu khác về từ “răng” ngoài cách hiểu nêu trên được xem là nghĩa chuyển (ví dụ: răng lược, răng cưa, răng cào) Điểm giống của từ “răng” ở cả nghĩa gốc và nghĩa chuyển là: đều chỉ vật nhọn, sắc, sắp xếp đều nhau thành hàng
Qua ví dụ trên ta thấy việc nhận dạng từ nhiều nghĩa đối với học sinh là tương đối khó Đối với lớp mình chủ nhiệm, tôi nhận thấy rằng khi tìm hiểu về từ nhiều nghĩa học sinh đôi khi còn nhầm lẫn giữa nghĩa gốc và nghĩa chuyển, ngoài ra một số
em còn nhầm lẫn giữa các lớp từ: từ nhiều nghĩa - từ đồng nghĩa - từ đồng âm Học sinh còn lúng túng trong quá trình vận dụng đặt câu có từ nhiều nghĩa, vốn hiểu biết của các em về từ nhiều nghĩa còn hạn chế, sử dụng từ nhiều nghĩa trong viết văn chưa phong phú, chưa đa dạng Đối với học simh lớp 5, chúng ta không thể yêu cầu học sinh nắm vững các thành phần ý nghĩa của từ, cách thức chuyển nghĩa của từ song yêu
Trang 2cầu học sinh phải giải nghĩa một số từ thông qua các câu văn, các cụm từ cụ thể, xác định được nghĩa gốc và nghĩa chuyển của từ, phân biệt từ nhiều nghĩa với từ đồng âm, tìm được một số ví dụ về sự chuyển nghĩa của từ, đặt câu với các nghĩa của từ nhiều nghĩa Mặt khác tư duy của học sinh tiểu học đang trong giai đoạn “tư duy cụ thể”, chưa hoàn chỉnh, vì vậy việc nhận thức các thành phần ý nghĩa của từ, cách thức chuyển nghĩa của từ là vấn đề khó đối với các em Để giúp học sinh nhận biết nhanh kiến thức về từ nhiều nghĩa trong quá trình dạy học, giáo viên cần nắm vững sự phát triển có quy luật của tư duy học sinh, đánh giá đúng khả năng hiện có và khả năng tiềm ẩn của học sinh Bên cạnh đó người giáo viên phải cần mẫn và kiên nhẫn để giúp học sinh tiếp nhận kiến thức về từ nhiều nghĩa một cách đầy đủ, chính xác và dễ hiểu nhất Người giáo viên cần tìm tòi những hình thức, phương pháp dạy học phù hợp nhằm gây được hứng thú cho học sinh mà không phải là ép buộc, nhồi nhét kiến thức vào đầu các em Vì thế từ đầu năm học tôi đã đề ra một số biện pháp trong quá trình giảng dạy về từ nhiều nghĩa, từ đó áp dụng vào lớp mình chủ nhiệm và đã đạt được một số kết quả tương đối khả quan
Ngay từ đầu năm học tôi đã tìm hiểu kĩ, nắm vững từng đối tượng học sinh của lớp mình để có biện pháp giúp đỡ từng em cụ thể Dựa trên cơ sở hiểu biết sâu sắc của các em, tôi đưa ra nhiều dạng bài về từ nhiều nghĩa, đặt trong mọi tình huống văn cảnh thúc đẩy từng em học tập và trau dồi kiến thức, tạo điều kiện cho các em thực hành luyện tập thường xuyên để các em có thói quen dùng từ nhiều nghĩa và hiểu đúng nghĩa của nó Từ những căn cứ đó tôi đã chọn đề tài "Một số biện pháp dạy từ nhiều nghĩa ở lớp 5'' để nghiên cứu, với mục đích là:
- Khảo sát và hướng dẫn cụ thể về cách nhận dạng từ nhiều nghĩa, tránh nhầm lẫn giữa từ nhiều nghĩa với từ đồng nghĩa và từ đồng âm, từ đó đúc rút kinh nghiệm, đề xuất một số ý kiến góp phần nâng cao chất lượng dạy từ nhiều nghĩa ở lớp 5
- Cải tiến phương pháp giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng học tập khi tìm hiểu kiến thức về từ nhiều nghĩa của học sinh
- Giúp học sinh rèn luyện kĩ năng phân biệt nghĩa của từ và kĩ năng vận dụng từ nhiều nghĩa vào trong giao tiếp, từ đó học sinh sẽ có vốn từ phong phú hơn
Trang 3Bằng những nổ lực phấn đấu của bản thân và những kinh nghiệm mà bản thân đã trực tiếp giảng dạy nhiều năm, tôi xin được trình bày một số kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy từ nhiều nghĩa đối với học sinh lớp 5
1.2 Điểm mới của sáng kiến:
Đã có nhiều sáng kiến nghiên cứu về đề tài "Một số biện pháp dạy từ nhiều nghĩa
ở lớp 5'', song mỗi sáng kiến lại có những cách nhìn nhận, khai thác ở những khía cạnh khác nhau Điểm mới của sáng kiến tôi đang nghiên cứu là :
- Đặc biệt quan tâm đến những giải pháp rèn luyện kỹ năng nhận dạng về từ nhiều nghĩa ở lớp 5
- Tìm hiểu nội dung và những phương pháp dùng để giảng dạy về từ nhiều nghĩa
- Tìm hiểu những kỹ năng cơ bản cần trang bị để phục vụ việc nhận dạng và xác định nhanh từ nhiều nghĩa
- Quan tâm nhiều đến kỹ năng vận dụng từ nhiều nghĩa vào viết văn và úng dụng vào trong cuộc sống hằng ngày của học sinh
2 Phần nội dung:
2.1 Thực trạng về kỹ năng nắm kiến thức về từ nhiều nghĩa của học sinh lớp 5
Qua điều tra khảo sát chất lượng học sinh ngay từ đầu năm học tôi nhận thấy số lượng học sinh làm được các dạng bài tập về từ nhiều nghĩa còn hạn chế Trong quá trình điều tra chất lượng học của học sinh lớp 5 đầu năm học 2015 - 2016 , tôi đã có
số liệu cụ thể như sau:
- Tổng số học sinh : 26 em Trong đó phân loại: làm bài tập thành thạo chiếm tỉ lệ 65,4%, học sinh làm bài còn chậm: 34,6%, học sinh còn lúng túng khi phân biệt nghĩa gốc và nghĩa chuyển, còn nhầm lẫn giữa từ nhiều nghĩa với từ đồng âm và từ đồng nghĩa
*Phân tích thành phần của mỗi loại cho thấy:
Những học sinh làm bài tập chậm do nhiều nguyên nhân trong đó chủ yếu do học sinh chưa nắm chắc kiến thức, các em không hiểu thế nào là từ một nghĩa, thế nào
là từ nhiều nghĩa Hầu hết học sinh lớp 5 khi học các tiết luyện từ và câu về từ nhiều nghĩa đều gặp rất nhiều khó khăn Cụ thể là:
Trang 4- Khó khăn trong việc giải nghĩa các từ: học sinh còn giải nghĩa từ sai, lúng túng và còn lủng củng
- Phân biệt nghĩa gốc và một số nghĩa chuyển của từ: học sinh còn làm sai khá nhiều
- Phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa: còn mơ hồ, định tính
- Đặt câu có sử dụng từ nhiều nghĩa: chưa hay, chưa đúng với nét nghĩa theo yêu cầu
*Nguyên nhân dẫn đến thực trạng nói trên:
Như trên đã nói từ nhiều nghĩa là một khái niệm rất khó đối với học sinh tiểu học lứa tuổi mà vốn kiến thức ngữ nghĩa còn ít Mặt khác do các bài tập trong sách giáo khoa nhiều, đa dạng và cấu tạo tương đối khó đối với học sinh Hơn nữa giáo viên còn gặp nhiều khó khăn trong việc giúp học sinh nắm vững hiện tượng nhiều nghĩa của từ, còn lúng túng trong việc giải nghĩa các từ nhiều nghĩa, cách thức và phương pháp truyền giảng của giáo viên chưa thực sự tinh tế, dễ hiểu Giáo viên chưa lôi cuốn thu hút được học sinh vào hoạt động học tập tích cực Nguyên nhân của vấn đề này có từ hai phía: giáo viên và học sinh Về phía phụ huynh học sinh một số phụ huynh trình
độ còn hạn chế không thể hướng dẫn các em trong quá trình học tập Ngược lại nhiều phụ huynh có trình độ song không biết cách hướng dẫn các em nhận dạng từ đúng phương pháp Mặt khác phụ huynh ít gặp gỡ giáo viên để trao đổi về cách dạy phù hợp cho con em lúc ở nhà
Trước các thực trạng nói trên, tôi đã tự đặt ra cho mình câu hỏi: phải làm gì, làm
như thế nào để khắc phục tình trạng đó, làm thế nào để nâng cao chất lượng dạy và
học về từ nhiều nghĩa của học sinh lớp 5 Thực tế hiện nay chất lượng các tiết học về
từ nhiều nghĩa chưa cao, học sinh còn gặp rất nhiều khó khăn, lúng túng trong những tiết học Qua nghiên cứu tôi cũng nhận thấy rằng nếu trong quá trình dạy học giáo viên sử dụng khéo léo các phương pháp dạy học, các hình thức dạy học khác nhau thì
có thể phát huy được tính tích cực của học sinh và kích thích, lôi kéo các em vào quá trình học tập Trăn trở với nghề nghiệp, nhiều giáo viên cũng như tôi đã luôn tìm tòi các biện pháp phù hợp giúp học sinh nắm chắc kiến thức về từ nhiều nghĩa để từ đó các em có thể làm được các bài tập về từ nhiều nghĩa một cách dễ dàng và thành thạo Tuy nhiên việc tìm hiểu về từ nhiều nghĩa ở học sinh đôi khi còn mang nặng tính hình thức, chưa thật tập trung vào để hiểu về dạng từ Một phần khác do học sinh còn máy móc theo khuôn mẫu của giáo viên đã định ra chứ không có sự tìm tòi tài liệu chi tiết
Trang 52.2 Các giải pháp dạy từ nhiều nghĩa ở lớp 5:
Là người thầy giáo, cô giáo trực tiếp đứng lớp giảng dạy hơn ai hết phải hiểu rằng
việc nâng cao chất lượng giáo dục là vấn đề được quan tâm hàng đầu, luôn là mục tiêu phấn đấu của mỗi cấp học, bậc học Đặc biệt lớp 5 là lớp cuối cấp, đòi hỏi học sinh phải nắm vững các kiến thức cơ bản của phân môn Luyện từ và câu trong đó có kiến thức về từ nhiều nghĩa Các bài tập về từ nhiều nghĩa trong sách giáo khoa Tiếng Việt
5 được chia thành các dạng như sau:
1/ Tìm nghĩa của từ
2/ So sánh các nghĩa của từ: giống nhau và khác nhau
3/ Tìm nghĩa gốc và nghĩa chuyển của một số từ thông qua một só câu cụ thể 4/ Tìm một số ví dụ về sự chuyển nghĩa của từ
5/ Đặt câu để phân biệt được các nghĩa của từ nhiều nghĩa
6/ Phân biệt từ nhiều nghĩa với từ đồng âm, từ đồng nghĩa
Để học sinh nắm chắc các dạng bài tập nêu trên giáo viên cần:
1 Nắm vững kiến thức về từ nhiều nghĩa:
Phương pháp dạy học mới không cho phép giáo viên cung cấp kiến thức cho học sinh theo kiểu truyền thụ một chiều song lại yêu cầu giáo viên phải nắm vững kiến thức sâu sắc để hướng dẫn cho học sinh Đối với các tiết Luyện từ và câu về từ nhiều nghĩa vốn kiến thức của giáo viên rất quan trọng Muốn có điều này giáo viên phải bồi dưỡng, nghiên cứu kĩ tài liệu, đặc biệt phải nắm rõ các nghĩa của từ một cách chính xác
Ví dụ: khi cho học sinh tìm hiểu về từ “tai”, ngoài nghĩa gốc (là phần xương cứng,
màu trắng, mọc trên hàm, dùng để cắn, giữ và nhai thức ăn), giáo viên cần phải nắm thêm một số nét nghĩa nữa của từ “tai” (phần bên của cái ấm nước: tai ấm; năng lực cảm giác về tai: con chó có tai thính) Điểm giống nhau của từ “tai” là cùng chỉ bộ phận mọc ở hai bên, chìa ra như cái tai
2 Thiết kế hệ thống bài tập:
Phiếu học tập cho nhóm hoặc cá nhân là một trong những hình thức học tập rất hữu
hiệu giúp học sinh có thể tích cực, chủ động trong học tập Mặt khác nó còn giúp giáo
Trang 6viên nắm được kết quả ngược từ học sinh một cách chính xác, từ đó giáo viên có thể linh hoạt trong việc giảng dạy, học sinh nắm vững nội dung bài học Phiếu học tập cần được thiết kế bằng hệ thống các bài tập trắc nghiệm khách quan như: nối, chọn đúng - sai, nhiều lựa chọn
Ví dụ: Tìm từ ở cột B lời giải nghĩa thích hợp cho từ chạy trong mỗi câu ở cột A
(1) Bé chạy lon ton trên sân. a) Hoạt động của máy móc
(2) Tàu chạy băng băng trên đường ray. b) Khẩn trương tránh những điều không
may xảy đến
(3) Đồng hồ chạy đúng giờ. c) Sự di chuyển nhanh của phương tiện
giao thông
(4) Dân làng khẩn trương chạy lũ d) Sự di chuyển nhanh bằng chân
*Đáp án đúng:
(1) Bé chạy lon ton trên sân. d) Sự di chuyển nhanh bằng chân
(2) Tàu chạy băng băng trên đường ray. c) Sự di chuyển nhanh của phương tiện
giao thông
(3) Đồng hồ chạy đúng giờ. a) Hoạt động của máy móc
(4) Dân làng khẩn trương chạy lũ b) Khẩn trương tránh những điều không
may xảy đến
3 Cần sử dụng các phương pháp dạy học mới:
Để dạy tốt các tiết học về từ nhiều nghĩa giáo viên cần đưa các phương pháp dạy học mới như phương pháp thảo luận nhóm, phương pháp đặt và giải quyết vấn đề, phương pháp trò chơi
- Phương pháp thảo luận nhóm: Nhằm giúp học sinh tham gia tính cực chủ động vào quá trình học tập, học sinh có thể chia sẻ kinh nghiệm, ý kiến hay để cùng giải quyết một vấn đề khó khăn nào đó
- Phương pháp đặt và giải quyết vấn đề: Nhằm mục đích đưa học sinh vào tình huống
có vấn đề, từ đó kích thích sự hứng thú học tập của học sinh vào việc giải quyết vấn
đề đưa ra
Ví dụ: Yêu cầu học sinh thảo luận theo nhóm đôi:
Trang 7a) Đặt một câu có từ “đi”
b) Từ “đi” trong câu trên có nghĩa là gì?
(Học sinh đặt câu theo nhóm sau đó trình bày trước lớp các nhóm khác nghe và
bổ sung giáo viên tham gia chỉnh sửa nếu nhóm làm chưa đúng)
4 Cần chuẩn bị tốt tâm thế học tập cho học sinh
Giáo viên cần phải giao nhiệm vụ cho học sinh rõ ràng, kích thích hứng thú học tập của các em bằng các hình thức thi đua, khen thưởng Ngoài ra giáo viên cần kiểm tra bài vở học sinh kể cả học sinh yếu lẫn học sinh khá, giỏi để tất cả các em cùng học tập, tránh tình trạng vì kiến thức quá khó nên một vài học sinh không học tập hoặc học tập không hiệu quả
5 Đối với từng dạng bài học cụ thể.
a Khi dạy bài “Từ nhiều nghĩa”
Mục tiêu của bài học này là giúp học sinh hiểu thế nào là từ nhiều nghĩa, nghĩa gốc và nghĩa chuyển trong từ nhiều nghĩa Phân biệt được nghĩa gốc và nghĩa chuyển của từ nhiều nghĩa trong một số câu văn Tìm được ví dụ về sự chuyển nghĩa của một
số danh từ chỉ bộ phận cơ thể người và động vật
Để giúp học sinh hiểu thế nào là từ nhiều nghĩa, giáo viên hướng dẫn học sinh từ nhận xét 1 để đi đến nhận xét 2 Học sinh có thể nêu ra một số ví dụ về nghĩa của từ
đó và tìm thêm được từ chứa tiếng mới
Ví dụ:
- Nhận xét 1: mũi của em bé, mũi của con mèo, mũi của con chó
- Nhận xét 2: học sinh tìm thêm được từ chứa tiếng mới: mũi thuyền, mũi dao
Qua hai nhận xét học sinh hiểu được mũi của chiếc thuyền, mũi cái dao không ngửi được như mũi người hay mũi động vật nhưng vẫn gọi là mũi vì chúng cùng chỉ
bộ phận có đầu nhọn nhô ra phía trước Giáo viên yêu cầu học sinh tìm thêm các từ chứa tiếng mũi có nghĩa (ví dụ: mũi súng, mũi đất) Tiếp theo yêu cầu học sinh nhận xét được từ mũi qua nhận xét 1 và nhận xét 2 có 2 nghĩa: nghĩa ở nhận xét 1 là nghĩa gốc Nghĩa ở nhận xét 2 là nghĩa chuyển Hai nghĩa này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau
Trang 8Sau khi học sinh nắm vững nhận xét 1 và nhận xét 2 cần đặt câu hỏi vấn đáp để giúp học sinh nhớ khái niệm từ nhiều nghĩa Yêu cầu học sinh lấy ví dụ về từ nhiều nghĩa Giáo viên cùng học sinh phân tích từ vừa tìm được Nếu học sinh còn lúng túng, giáo viên có thể lấy ví dụ về từ nhiều nghĩa trong các kết hợp từ khác nhau
Ví dụ: Từ “chân”
- Câu 1: Em bị đau chân
- Câu 2: Cái chân giường đã bị gãy
- Câu 3: Ở chân núi phía xa, bầu trời như thấp dần
Đối với ví dụ này giáo viên hướng dẫn học sinh nhận xét được từ chân trong câu 1
có nghĩa là phận cuối cùng của cơ thể người hoặc động vật dùng để đi, đứng Từ chân trong câu thứ 2 có nghĩa là bộ phận cuối cùng của đồ dùng, có tác dụng đỡ bộ phận khác Từ chân trong câu thứ 3 có nghĩa là phần cuối cùng của một vật, tiếp giáp và bám chặt với mặt nền Từ đó có thể rút ra kết luận, “chân” trong chân giường, “chân” trong “chân núi” là nghĩa chuyển của từ “chân” trong chân người
*Với bài tập có dạng tìm nghĩa gốc và nghĩa chuyển của từ trong các câu văn
Giáo viên nên cho học sinh thảo luận, phát biểu ý kiến của mình sau khi học sinh đã rút ra được kết quả đúng Giáo viên nên yêu cầu học sinh tìm thêm một số câu hay từ chứa tiếng đó mang nghĩa chuyển
Ví dụ : Từ “reo”
- Câu 1: Bé reo lên: “Ôi bông hoa này đẹp quá!”
- Câu 2: Hàng dương reo trước gió
Học sinh nhận biết:
- Câu 1: Reo: kêu lên tỏ ý vui mừng, phấn khởi Từ “reo” ở câu 1, chỉ tiếng kêu của người Từ “reo” ở câu 1 được dùng theo nghĩa gốc
- Câu 2: Reo: phát ra tiếng kêu đều, nghe vui tai Từ “reo” ở câu 2, chỉ tiếng kêu của vật Từ “reo” ở câu 2, được dùng theo nghĩa chuyển
Với cách làm này, các em dễ dàng phân biệt nghĩa gốc và nghĩa chuyển của từ nhiều nghĩa trong các câu văn
*Với bài tập yêu cầu học sinh tìm sự chuyển nghĩa của từ
Trang 9Giáo viên giúp học sinh ghi nhớ được nhận xét các từ chỉ bộ phận cơ thể người và
động vật là những từ nhiều nghĩa và nó luôn là nghĩa gốc của từ
Ví dụ : Các từ chỉ bộ phận cơ thể người và động vật thường là từ nhiều nghĩa Hãy
tìm một số ví dụ về sự chuyển nghĩa của những từ sau: lưỡi, miệng, cổ, tay, lưng.
Học sinh tìm được một số từ:
+ lưỡi: lưỡi liềm, lưỡi hái, lưỡi dao, lưỡi cày, lưỡi lê, lưỡi gươm, lưỡi búa, lưỡi rìu, + miệng: miệng bát, miệng hũ, miệng bình, miệng túi, miệng hố, miệng núi lửa, + cổ: cổ chai, cổ lọ, cổ bình, cổ áo, cổ tay,
+ tay: tay áo, tay ghế, tay quay, tay tre, (một) tay bóng bàn (cừ khôi),
+ lưng: lưng ghế, lưng đồi, lưng núi, lưng trời, lưng đê,
b Khi dạy các tiết “Luyện tập về từ nhiều nghĩa”
Trong SGK Tiếng Việt 5, sau khi học bài khái niệm từ nhiều nghĩa có 3 tiết
dành để luyện tập về từ nhiều nghĩa Ở các tiết luyện tập này giáo viên cần củng cố cho học sinh về khái niệm về từ nhiều nghĩa, nghĩa gốc và nghĩa chuyển, mối liên hệ
về nghĩa của từ nhiều nghĩa
Để tránh sự nhàm chán, gây hứng thú cho học sinh, đối với các bài tập tìm nghĩa
ở cột A ứng với nghĩa ở cột B giáo viên nên tổ chức các trò chơi học tập như trò chơi:
“Nhà giải nghĩa giỏi”, “ Ai nhanh hơn”, “Ai giỏi hơn” Đồng thời sau khi học sinh chơi phải yêu cầu học sinh nêu lí do vì sao em làm như vậy
Đối với các bài tập yêu cầu học sinh đặt câu để phân biệt từ nhiều nghĩa là động
từ hay tính từ, giáo viên nên hướng dẫn học sinh tìm từ ứng với từng nghĩa rồi đặt câu với những từ vừa tìm được Nên khuyến khích học sinh tìm được nhiều từ, có khi đó
là những từ có nghĩa khác như thế học sinh sẽ nắm vững nghĩa hơn sau khi được giải thích từ giáo viên
Ví dụ: Từ “đứng”
- Nghĩa 1: ở tư thế chân thẳng, chân đặt trên mặt nền.
- Nghĩa 2: ngừng chuyển động.
Học sinh đặt câu: - Nghĩa 1: Cả lớp cùng đứng nghiêm trang để làm lễ chào cờ.
- Nghĩa 2: + Trời đứng gió
Trang 10+ Đồng hồ đã đứng tim.
Song song với biện pháp trên đối với dạng bài tập này để giúp học sinh phân biệt nghĩa gốc và nghĩa chuyển, giáo viên nên sử dụng một số câu hỏi để giúp học sinh hình dung ra nghĩa ban đầu của nó
Ví dụ:
? Nhắc đến “cao” ta có suy nghĩ thế nào? (chiều cao lớn hơn mức bình thường)
? Từ “nặng” gợi cho ta điều gì? (trọng lượng lớn hơn mức bình thường)
? Từ “ngọt” gợi cho ta cảm giác gì? (vị ngọt của đường, mật)
Học sinh sẽ dể dàng nhận ra nghĩa gốc và nghĩa chuyển của từ trong dạng bài tập này và cũng nhờ thế mà học sinh dễ dàng đặt câu theo yêu cầu bài tập
c Dạng bài tập yêu cầu phân biệt từ đồng âm với từ nhiều nghĩa
- Đây là một dạng bài tập khó đối với học sinh vì học sinh rất khó khăn trong việc gọi
ra nét nghĩa của từng từ trong các kết hợp khác nhau So sánh nó với các kết hợp bên cạnh để xác định nó là đồng âm hay nhiều nghĩa
- Trước khi làm bài tập giáo viên phải yêu cầu học sinh nêu khái niệm về từ đồng âm
và từ nhiều nghĩa Nghĩa của từ đồng âm khác hẳn nhau Ví dụ: treo cờ - chơi cờ tướng Nghĩa của từ nhiều nghĩa bao giờ cũng có mối liên hệ - vừa khác vừa giống nhau nhờ biết tạo ra những từ nhiều nghĩa từ một nghĩa gốc
- Để giúp học sinh làm tốt dạng bài tập này giáo viên nên sử dụng phiếu học tập cho nhóm, cá nhân hoặc cả lớp để học sinh tìm nghĩa của nó cho phù hợp rồi nêu nhận xét
đó là từ đồng âm hay từ nhiều nghĩa
Ví dụ: Từ “vạt”
Câu 1: Những vạt nương màu mật
Lúa chín ngập lòng thung
Nguyễn Đình Ảnh
Câu 2: Chú Tư lấy dao vạt nhọn đầu chiếc gậy tre.
Câu 3: Những người Giáy, người Dao
Đi tìm măng hái nấm
Vạt áo choàng thấp thoáng