1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Chính sách quản lý sản phẩm đầu ra nhằm thúc đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp công ích tại thành phố Hồ Chí Minh

20 201 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 571,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- LÊ NGỌC THẠCH CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ SẢN PHẨM ĐẦU RA NHẰM THÚC ĐẨY ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CÔNG ÍC

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

LÊ NGỌC THẠCH

CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ SẢN PHẨM ĐẦU RA NHẰM THÚC ĐẨY

ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP

CÔNG ÍCH TẠI TP.HCM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Hà Nội, 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

LÊ NGỌC THẠCH

CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ SẢN PHẨM ĐẦU RA NHẰM THÚC ĐẨY

ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP

CÔNG ÍCH TẠI TP.HCM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

MÃ SỐ: 60.34.04.12

Người hướng dẫn khoa học: TS Đào Thanh Trường

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập Chương trình cao học chuyên ngành Quản lý Khoa học

và Công nghệ tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia

Hà Nội, học viên đã có cơ hội tiếp nhận kiến thức, kinh nghiệm và sự giúp đỡ nhiệt tình của các Thầy, Cô trong Khoa Khoa học Quản lý nói riêng và các Thầy, Cô giáo trong trường cũng như Ban lãnh đạo nhà trường nói chung

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS.Đào Thanh Trường – người thầy đã dành nhiều thời gian, công sức, hết lòng và tận tình giúp đỡ hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp một cách tốt nhất

Một lần nữa, tôi muốn gửi lời cảm ơn và lòng tri ân sâu sắc đến các chuyên gia, các đồng nghiệp và bạn bè đã tạo điều kiện ủng hộ, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành tốt luận văn

Xin trân trọng cám ơn

Trang 4

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

PHẦN MỞ ĐẦU 4

1 Lý do chọn đề tài 5

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu: 9

3 Mục tiêu nghiên cứu: 11

4 Phạm vi nghiên cứu 11

5 Mẫu khảo sát: 12

6 Câu hỏi nghiên cứu: 12

7 Giả thuyết nghiên cứu: 12

8 Phương pháp nghiên cứu: 12

9 Kết cấu của Luận văn: 13

Chương 1 Cơ sở lý luận về chính sách quản lý sản phẩm đầu ra và hoạt động

đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp công ích 14

1.1 Khái niệm chính sách quản lý sản phẩm đầu ra và các khái niệm có liên quan 14 1.1.1 Khái niệm quản lý sản phẩm đầu ra 14

1.1.2 Khái niệm chính sách 18

1.1.3 Khái niệm chính sách quản lý sản phẩm đầu ra 20

1.2 Khái niệm doanh nghiệp công ích và đổi mới công nghệ 21

1.2.1 Khái niệm hàng hóa công cộng, doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp công ích 21

1.2.2 Một số đặc điểm của doanh nghiệp công ích 28

1.2.3 Khái niệm công nghệ và đổi mới công nghệ 31

Chương 2 Nhận diện và đánh giá thực trạng chính sách quản lý sản phẩm,

dịch vụ công ích với hoạt động đổi mới công nghệ ở các doanh nghiệp công ích của Tp Hồ Chí Minh 42

2.1 Thực trạng chính sách quản lý sản phẩm, dịch vụ công ích tại các doanh nghiệp công ích của Tp Hồ Chí Minh 42

2.1.1 Khái quát về hoạt động của các doanh nghiệp công ích 42

2.1.2 Nhận diện các chính sách quản lý sản phẩm, dịch vụ công ích tại các doanh nghiệp công ích của Tp Hồ Chí Minh 56

Trang 5

2.2 Đánh giá tác động của chính sách quản lý sản phẩm, dịch vụ công ích tại các doanh nghiệp công ích đối với hoạt động đổi mới công nghệ 64 2.2.1 Tác động dương tính của chính sách quản lý sản phẩm, dịch vụ công ích tại các doanh nghiệp công ích đối với hoạt động đổi mới công nghệ 64 2.2.2 Tác động âm tính của chính sách quản lý sản phẩm, dịch vụ công ích tại các doanh nghiệp công ích đối với hoạt động đổi mới công nghệ 68 2.2.3 Tác động ngoại biên của chính sách quản lý sản phẩm, dịch vụ công ích tại các doanh nghiệp công ích đối với hoạt động đổi mới công nghệ 74

Chương 3 Định hướng chính sách quản lý sản phẩm đầu ra và một số giải pháp nhằm thúc đẩy đổi mới công nghệ ở các doanh nghiệp công ích 76

3.1 Các quan điểm về chính sách quản lý sản phẩm đầu ra nhằm thúc đẩy hoạt động đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp công ích 76 3.2 Một số giải pháp triển khai chính sách quản lý sản phẩm đầu ra nhằm thúc đẩy hoạt động đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp công ích 85

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 89 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92

Trang 6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

CTGTSG Công trình giao thông Sài Gòn

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong quá trình đổi mới ở Việt Nam, nhiệm vụ phát triển đất nước theo mục tiêu nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xác định là nhiệm vụ chủ chốt Bên cạnh những khó khăn mang tính nội tại về nguồn lực, việc Việt Nam hiện nay tích cực gia nhập các tổ chức toàn cầu trong xu hướng hội nhập quốc tế ngày càng tăng lên khiến việc thực hiện nhiệm vụ này càng không dễ dàng Chiến lược phát triển trong thời gian tới đặt ra nhiệm vụ song song với việc ổn định chính trị, xã hội Việt Nam cần đảm bảo tăng trưởng kinh tế phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững Đóng góp vào công cuộc này, các tổ chức cung cấp dịch vụ công cộng giữ vai trò thiết yếu nhằm cung cấp những nền tảng cơ bản về cơ sở hạ tầng, văn hóa xã hội, thông tin liên lạc, an ninh quốc phòng cho sự vận động và phát triển bền vững của quốc gia

DNNN nói chung và DNNN hoạt động vì mục tiêu công ích nói riêng (gọi tắt

là doanh nghiệp công ích) hoạt động theo các chính sách xã hội của nhà nước phục

vụ cho lợi ích trực tiếp của toàn xã hội hay lợi ích công cộng như: cung ứng hàng hóa công cộng theo kế hoạch hay đơn đặt hàng của nhà nước như các hàng hóa về quốc phòng, an ninh, y tế công cộng và văn hóa Các doanh nghiệp công ích là các công ty TNHH một thành viên độc lập hoạt động cung ứng dịch vụ, sản phẩm công ích, trực tiếp phục vụ an ninh, quốc phòng, thường xuyên làm các nhiệm vụ của chủ

sở hữu giao nhằm phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội Nằm trong khối doanh nghiệp, song DNCI không đặt mục tiêu lợi nhuận làm đầu mà lợi ích của xã hội phải được xác định là yếu tố quan trọng nhất Nhóm hàng hóa công cộng được coi là hàng hóa đặc biệt này chiếm tỷ trọng không lớn trong nền kinh tế nhưng nhà nước phải có những nguyên tắc quản lý riêng do vai trò quan trọng và tính đặc thù của nó đối với nền kinh tế

Những năm qua của thời kỳ đổi mới, quá trình sắp xếp, tổ chức lại doanh nghiệp công ích cho phù hợp với yêu cầu phát triển của KTTT nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội, DNCI đã có những đóng góp đáng kể: kết cấu hạ tầng được cải thiện, góp phần đảm bảo những cân đối lớn trong nền kinh tế ổn định và phát triển, giảm thiểu mức đầu tư từ ngân sách nhà nước Theo báo cáo từ các Bộ, địa phương trong năm 2014, các doanh nghiệp công ích thực hiện tốt nhiệm vụ thông qua chính

Trang 8

sách an sinh- xã hội với việc sẵn sàng tham gia làm nhiệm vụ theo yêu cầu của Bộ, địa phương Đặc biệt, các doanh nghiệp công ích được chủ động hơn trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao do được chuyển từ cơ chế giao kế hoạch sang đặt hàng, đấu thầu.Các doanh nghiệp công ích trên toàn quốc hiện đang tạo việc làm cho khoảng 196.000 người lao động với mức thu nhập bình quân của người lao động là 7 triệu đồng/người/tháng (tăng 3,1% so với mức lương bình quân năm 2012) Trong đó, mức thu nhập bình quân của khối doanh nghiệp công ích thuộc Bộ quản lý cao hơn so với mức thu nhập bình quân của người lao động thuộc khối doanh nghiệp công ích thuộc địa phương (9,7 triệu đồng/người so với 5,3 triệu đồng/người) Đến nay các doanh nghiệp công ích đã hoạt động trong các lĩnh vực như: Cấp, thoát nước; cung ứng dịch

vụ vệ sinh, môi trường; xử lý nước thải, rác thải; chiếu sáng đô thị; trồng và chăm sóc cây xanh, vườn hoa công cộng; duy tu, bảo trì các công trình giao thông; cung ứng dịch vụ vận tải hành khách công cộng; cung ứng dịch vụ khai thác các công trình thủy lợi; cung ứng các sản phẩm, dịch vụ công ích đặc thù thuộc các Bộ, ngành; trực tiếp phục vụ an ninh, quốc phòng

Vậy làm thế nào để phát huy được hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp công ích mà không dẫn đến việc phá vỡ các nguyên tắc “công ích” hay lợi ích công cộng là điều cần được cân nhắc hiện nay Khi mà trong thực tế các hoạt động của DNCI vẫn theo lối mòn, dựa trên các phương tiện, công nghệ lạc hậu, thiếu một phương thức quản lý phù hợp thì việc nâng cao chất lượng dịch vụ công ở các doanh nghiệp này ngày càng trở nên khó khăn DNNN mà đặc biệt là DNCI, trong quá trình chuyển sang KTTT đang phát sinh nhiều bất cập như tình trạng đầu tư lớn nhưng kết quả kinh

tế - xã hội không được như mong muốn Nhiều vấn đề về chính sách đặt ra gây lúng

túng trong công tác tổ chức quản lý Thậm chí DNCI còn bị đánh giá là khu vực kém

hiệu quả nhất hiện nay Một số công trình trọng điểm triển khai chưa đạt yêu cầu so

với tiến độ đặt ra, không đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển của xã hội, gây ảnh hưởng lớn đến đời sống nhân dân Những công trình về dân sinh như cấp thoát nước, chiếu sáng, cải tạo và nâng cấp hạ tầng kỹ thuật… tiến hành còn chậm Tại Thành phố

Hồ Chí Minh, nhiều khu vực của thành phố thiếu nước sạch sinh hoạt, rác tồn đọng ở các ngõ xóm, phế thải xây dựng còn chưa được thu dọn kịp thời, bụi đường phố vượt mức tiêu chuẩn gấp nhiều lần, vệ sinh nơi công cộng chưa đảm bảo Công tác xử lý

và phối hợp xử lý các vi phạm chưa đạt yêu cầu, lãng phí điện, nước công cộng vẫn ở

Trang 9

mức cao, dịch vụ vui chơi giải trí chưa phát triển tương xứng Công tác chống ngập trước kia được giao Sở Giao thông vận tải và Công ty Thoát nước đô thị (TNĐT) quản

lý, triển khai thực hiện song từ năm 2008, UBND TPHCM thành lập và giao nhiệm vụ này cho Trung tâm chống ngập nước TPHCM Dù vậy, việc duy tu, thi công sửa chữa, nâng cấp nhiều tuyến cống thoát nước, nạo vét kênh rạch, vận hành các trạm bơm, đập ngăn triều, nhà máy nước thải… vẫn được giao cho công ty TNĐT Cả nghìn tỷ đồng

đã được đầu tư cho hệ thống thoát nước đô thị của thành phố nhưng đến nay, nạn ngập úng vẫn thường xuyên diễn ra và gây bất an cho người dân Gần đây, Công ty TNĐT còn xây dựng trái phép công trình kho bãi trên khu đất hơn 1.000 m2 đã bị thu hồi tại Khu liên hợp xử lý chất thải rắn và nghĩa trang Đa Phước (huyện Bình Chánh) Công

ty chiếu sáng công cộng (CSCC) gây bức xúc cho nhiều người dân, vì gắn đèn nhưng không…chiếu sáng hoặc chiếu sáng không liên tục mà chỉ chú trọng vào các dịp lễ tết Đối với Công ty Công viên cây xanh (CVCX), sự cố gãy đổ cây xanh trúng người dân

và phương tiện trên đường phố liên tiếp xảy ra đã tạo nên một hình ảnh đáng buồn về dịch vụ công cộng Năm 2003, TPHCM giao cho Công ty Quản lý Công trình giao thông Sài Gòn (CTGTSG) làm chủ đầu tư dự án nâng cấp mở rộng đường Lê Văn Quới Do triển khai ì ạch, con đường đầy ổ voi, lầy lội, gây phiền hà, mất an toàn cho người dân nên đến năm 2006, UBND TPHCM buộc phải thu hồi, giao cho đơn vị khác1 Rõ ràng thực tế hoạt động các DNCI tại Tp Hồ Chí Minh cho thấy những hạn chế vẫn đang tồn tại và chưa được giải quyết một cách triệt để Thiếu một môi trường cạnh tranh lành mạnh càng tạo ra những bất cập trong hoạt động của doanh nghiệp như công nghệ lạc hậu, dự án chậm triển khai, chất lượng sản phẩm, dịch vụ không đáp ứng nhu cầu của người dân

Để khắc phục hiện tượng trên, cùng với việc đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao về chất lượng dịch vụ của nhân dân thành phố, doanh nghiệp công ích buộc phải thực hiện lộ trình đổi mới công nghệ nhằm tạo ra những sản phẩm dịch vụ chất lượng tốt và giá thành hạ vì mục tiêu phát triển bền vững Trong những năm gần đây, với chủ trương đẩy mạnh xã hội hóa trong lĩnh cung cấp dịch vụ công ích thông qua công tác đấu thầu của UBND TP Hồ Chí Minh doanh nghiệp công ích đứng trước những khó khăn và không ít cơ hội đối với phát triển

1 Huy Thịnh, “Sếp công ích” vì sao lương khủng?, http://cafef.vn/doanh-nghiep/sep-cong-ich-vi-sao-luong-khung-2013082807165582719.chn, 28/8/2013

Trang 10

Hiện nay, trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh đã có 22 doanh nghiệp công ích các quận, huyện và 6 doanh nghiệp thành phố và một số doanh nghiệp tư nhân tuy nhiên, thực tế hiện nay giá thành dịch vụ ngày càng tăng, nhu cầu của người dân cũng chưa được đáp ứng tốt Thực tế này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, tuy nhiên việc chậm đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp công ích là một trong những nguyên nhân chính Qua 2 trường hợp nghiên cứu là CTCIQ2 và CTTNĐT tác giả nhận thấy vấn đề nằm ở phía các cơ quan quản lý sản phẩm dịch vụ công ích của Thành phố cũng chưa có một những chính sách cụ thể nhằm thúc đẩy các doanh nghiệp công ích đổi mới công nghệ Bên cạnh những thành tựu chung của lĩnh vực công ích, các doanh nghiệp này vẫn gặp phải những thách thức do hạn chế về công nghệ và năng lực công nghệ, hạn chế bởi quy trình kiểm tra, đánh giá của các cơ quản lý chức năng còn rườm

rà, sự chậm trễ trong việc huy động các nguồn vốn cho đổi mới, cho tái cấu trúc Vì

vậy, tôi quyết định chọn đề tài: “Chính sách quản lý sản phẩm đầu ra nhằm thúc

đẩy đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp công ích tại Thành phố Hồ Chí Minh” Qua đó có một số kiến nghị nhằm thúc đẩy các doanh nghiệp đẩy mạnh hơn

hoạt động đổi mới công nghệ

- Ý nghĩa lý luận: thông qua việc nghiên cứu có tính chất hệ thống, khoa học quá trình hình thành và phát triển DNCI, hoạt động quản lý các DNCI từ đó thấy được vị trí, vai trò, đặc điểm của hệ thống DNCI, thiết chế quản lý của DNCI Đặc biệt khái quát những vấn đề lý luận cơ bản về mối quan hệ giữa chính sách quản lý sản phẩm đầu ra với hoạt động đổi mới công nghệ của các DNCI

- Ý nghĩa thực tiễn: trên cơ sở những vấn đề lý luận được gợi mở, phân tích làm căn cứ đánh giá khách quan, khoa học thực trạng hoạt động của các DNCI Thành phố HCM trong những năm qua Chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời phân tích nguyên nhân cho việc quản lý DNCI thiếu hiệu quả Từ đó, đề xuất giải pháp chính sách hướng đến đổi mới công nghệ một cách thiết thực, khả thi nhằm nâng cao hiệu quả trước mắt và đảm bảo tính ổn định lâu dài các DNCI của thành phố Hồ Chí Minh Việc nâng cao hiệu quả hoạt động của DNCI là một tiền đề quan trọng cho việc xây dựng thành công nền kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa, cũng như đảm bảo các yếu tố về công bằng xã hội, dân chủ và văn minh

Trang 11

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu:

Những năm gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu về DNCI tiêu biểu như:

Đề tài "Thực trạng và những biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước ở doanh

nghiệp nhà nước hoạt động công ích" của tác giả Nguyễn Trung Kiên đề cập đến

những vấn đề lý luận chung về quản lý nhà nước; phân tích thực trạng quản lý nhà nước DNCI trong 2 năm (1999 - 2000) đồng thời đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước DNCI

Đề tài "Những giải pháp cơ bản nhằm đổi mới công tác quản lý các doanh nghiệp hoạt

động công ích ngành Giao thông công chính Hà Nội" của tác giả Hoàng Kim Hồng đã

phân tích thực trạng hoạt động của các DNCI ngành Giao thông công chính Hà Nội, chỉ ra những ưu điểm, những thế mạnh cần phát huy và những tồn tại, hạn chế trong hoạt động thực tiễn cần được điều chỉnh hoặc đổi mới phương thức hoạt động từ đó đề xuất các giải pháp phát huy năng lực tiềm tàng của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này

Đề tài "Thực trạng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả công tác kế

hoạch đối với doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích - Cụm cảng Hàng không miền Bắc" của tác giả Nguyễn Hữu Vinh phân tích công tác kế hoạch, tổng kết thực

tiễn hoạt động sản xuất kinh doanh thời kỳ 1998 - 2002; phân tích đánh giá tình hình quản lý điều hành kế hoạch và đề ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của DNCI - Cụm cảng Hàng không miền Bắc

Đề tài "Đổi mới cơ chế quản lý doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích ngành Văn

hóa thông tin" của tác giả Nguyễn Danh Ngà đề cập đến đổi mới cơ chế hoạt động của

DNCI ngành văn hóa thông tin dưới tiếp cận Kinh tế phát triển

Ngoài ra còn một số bài đăng trên các báo, tạp chí chuyên ngành về DNCI Tuy nhiên các công trình trên chủ yếu nghiên cứu các DNCI dưới góc độ là một bộ phận của kinh tế nhà nước và chỉ ra các giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất - kinh doanh Một số tác giả có đề cập đến giải pháp tháo gỡ khó khăn trong hoạt động của DNCI một ngành, lĩnh vực cụ thể Do giới hạn lịch sử, cách tiếp cận KTTT đã có nhiều điểm còn hạn chế, các giải pháp không còn phù hợp với thực tiễn, đòi hỏi phải được xem xét, bổ sung trong điều kiện mới, điều kiện của đổi mới và hội nhập quốc tế

Ngày đăng: 20/03/2017, 19:31

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm