1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

THỰC TRẠNG CÔNG tác PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH tài CHÍNH của CÔNG TY cổ PHẦN LƯƠNG THỰC sơn LA

46 204 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 85,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.1.2 Ý nghĩa của việc phân tích tài chính doanh nghiệp Qua phân tích tài chính doanh nghiệp mới đánh giá được đầy đủ, chính xác tình hình phân phối, sử dụng, quản lý các loại vốn, nguồn

Trang 1

CHƯƠNG I NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH

DOANH NGHIỆP 1.1 Tổng quan về tài chính và phân tích tài chính doanh nghiệp

1.1.1 Khái niệm về phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp.

Phân tích tài chính doanh nghiệp là quá trình xem xét, kiểm tra về nội dung

và kết cấu, thực trạng của các chỉ tiêu tài chính Từ đó, so sánh đối chiếu các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính với các chỉ tiêu trong quá khứ, hiện tại, tương lai ở tại doanh nghiệp, ở các doanh nghiệp khác, các đơn vị cùng ngành, địa phương, lãnh thổ quốc gia nhằm xác định thực trạng, đặc điểm, xu hướng, tiềm năng của tài chính doanh nghiệp để cung cấp thông tin tài chính phục vụ việc thiết lập các giải pháp quản trị thích hợp và hiệu quả

Có thể nói, việc phân tích tài chính doanh nghiệp phản ánh một cách rõ nét

về tình hình tài chính của doanh nghiệp ở hiện tại, dự đoán xu hướng biến động

và đưa ra quyết định hợp lý trong tương lai

1.1.2 Ý nghĩa của việc phân tích tài chính doanh nghiệp

Qua phân tích tài chính doanh nghiệp mới đánh giá được đầy đủ, chính xác tình hình phân phối, sử dụng, quản lý các loại vốn, nguồn vốn, vạch rõ khả năng tiềm tàng về vốn trong doanh nghiệp

Phân tích tài chính là công cụ quan trọng trong các chức năng quản trị có hiệu quả của doanh nghiệp Phân tích tài chính là quá trình nhận thức quản lý, nhất là chức năng kiểm tra, đánh giá và điều hành hoạt động kinh doanh để đạt các mục tiêu kinh doanh

1.1.3 Sự cần thiết của phân tích tài chính doanh nghiệp

Mục đích cơ bản của việc phân tích tài chính DN là nhằm cung cấp những thông tin cần thiết, giúp các đối tượng sử dụng thông tin đánh giá được thực trạng tình hình tài chính của DN ở nhiều khía cạnh Hơn nữa mỗi đối tượng sử dụng thông tin của DN có nhu cầu về các loại thông tin khác nhau Do đó, mỗi

Trang 2

đối tượng có xu hướng tập trung vào những khía cạnh riêng của “Bức tranh tài chính” của DN.

Đối với chủ doanh nghiệp

Việc phân tích tài chính cung cấp thông tin về kết quả hoạt động kinh doanh, kết quả của việc quản lý và sử dụng vốn, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán, rủi ro tài chính… Từ đó sẽ là cơ sở để các chủ doanh nghiệp lựa chọn, cân nhắc đưa ra các quyết định về quản lý trong tương lai như quyết định về đầu tư, về tài trợ, về phân bổ vốn và sử dụng vốn, về tình hình công nợ, về cơ cấu sản xuất,

mở rộng thị trường, liên doanh liên kết,…

Đối với cơ quan chức năng của nhà nước, cơ quan thuế

Cung cấp cho cơ quan thuế kết quả hoạt động kinh doanh, việc thực hiện nghĩa vụ với nhà nước như thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế đất, thuế tài nguyên…

Đối với các nhà đầu tư, các chủ nợ của DN, các cổ đông hiện tại và tương

lai

hiện nay vốn vay và nợ phải trả chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số nguồn vốn của doanh nghiệp Do đó các đối tượng này rất quan tâm kết quả hoạt động kinh doanh, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán, khả năng trả lãi vay, hiệu quả sử dụng vốn, thu nhập của cổ phiếu, tỷ suất lợi nhuận trên vốn cổ đông…

Đối với cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp

Là người trực tiếp tham gia vào hoạt động của DN, do đó quyền lợi của họ gắn liền và tùy thuộc vào kết quả HĐKD, khả năng sinh lời, tình hình đầu tư, khả năng thanh toán

Đối với các đối thủ cạnh tranh

Trong điều kiện của kinh tế thị trường, đặc biệt là xu hướng toàn cầu hoá thì

sự cạnh tranh ngày càng quyết liệt trở nên quyết liệt Những thông tin liên quan đến tình hình tài chính của doanh nghiệp khác như kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán, tình hình đầu tư, tình hình tạo vốn… luôn được quan tâm hàng đầu

Trang 3

Từ những vấn đề đó có thể thấy có rất nhiều đối tượng quan tâm đến báo cáo tài chính và thông tin rút ra từ việc phân tích tài chính của doanh nghiệp Những thông tin đó là cở sở sở quan trọng để họ sử dụng trong việc đưa ra các quyết định liên quan tới mục đích của mình.

1.1.4 Mục tiêu của phân tích tài chính doanh nghiệp

* Từ góc độ quản lý

Phân tích tài chính sẽ đánh giá tình hình tài chính và kết quả hoạt động của doanh nghiệp, từ đó đưa ra dự báo, kế hoạch tài chính thích hợp cho từng thời

kỳ Ngoài ra phân tích tài chính cũng nhằm kiểm soát các hoạt động của Công

ty, kịp thời phát hiện các mặt yếu kém và hạn chế, đưa ra các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh, tăng lợi nhuận

* Từ góc độ kinh tế

Phân tích tài chính cung cấp thông tin có ích cho các nhà đầu tư và những người sử dụng thông tin tài chính khác nhằm giúp họ có những quyết định đúng đắn khi đầu tư, cho vay

Phân tích tài chính cho phép đánh giá và kiểm soát được luồng tiền ra vào doanh nghiệp, tình hình sử dụng vốn kinh doanh, tình hình thanh toán của doanh nghiệp,… Từ đó đưa ra các biện pháp quản lý thích hợp thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp

* Từ góc độ pháp lý

Phân tích tài chính cung cấp thông tin cho các cơ quan chức năng của nhà nước đang quản lý trực tiếp doanh nghiệp Giúp các cơ quan thuế có thể kiểm tra, giám sát được tính hợp pháp trong các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp về nghĩa vụ nộp thuế và các khoản nộp ngân sách nhà nước

1.2Tài liệu phân tích

1.2.1 Bảng cân đối kế toán

1.2.1.1 Khái niệm

Trang 4

Bảng cân đối kế toán là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát toàn bộ giá trị tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản đó của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định.( cuối quý, 6 tháng, năm).

Số liệu trên bảng Cân đối kế toán cho biết toàn bộ giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo theo cơ cấu tài sản, và nguồn hình thành tài sản đó Căn cứ vào bảng cân đối kế toán có thể nhận xét đánh giá khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp

1.2.1.2 Nội dung và kết cấu của bảng cân đối kế toán

Bảng cân đối kế toán được lập và trình bày theo quy định tại chuẩn mực kế toán số 21 “Trình bày báo cáo tài chính”

Bảng cân đối kế toán thường có kết cấu hai phần:

+ Phần tài sản: Phản ánh toàn bộ giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo theo cơ cấu tài sản và hình thức tồn tại trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp: Tài sản được chia thành hai phần: tài sản ngắn hạn (A) và tài sản dài hạn (B)

+ Phần nguồn vốn: Phản ánh nguồn hình thành tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo Các chỉ tiêu nguồn vốn thể hiện trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp đối với tài sản đang quản lý và sử dụng tại doanh nghiệp Nguồn vốn được chia thành: Nợ phải trả (A) và nguồn vốn chủ sở hữu (B)

* tài sản và nguồn vốn cân bằng nhau theo công thức:

Tổng tài sản = Tổng nguồn vốnHoặc:

Tài sản ngắn hạn+tài sản dài hạ = Nợ phải trả+Nguồn vốn chủ sở hữu

1.2.1.3 Cơ sở số liệu lập bảng cân đối kế toán

Để lập bảng CĐKT của kỳ kế toán, cần sử dụng các tài liệu sau:

- Bảng CĐKT của kỳ trước

- Số dư nợ, số dư có của các tài khoản tổng hợp thuộc loại 1,2,3,4

Trang 5

- Sổ kế toán tổng hợp, chi tiết cuối kỳ lập báo cáo.

- Bảng cân đối phát sinh (nếu có)

Trước khi lập phải kiểm tra đối chiếu các số liệu, tài liệu nói trên với nhau

và các bộ phận khác có liên quan, nếu có chênh lệch phải xử lý, điều chỉnh theo đúng quy định

Trang 6

1.2.2 Báo cáo kết quả kinh doanh

1.2.2.1 Khái niệm

Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát tình hình và kết quả kinh doanh trong một kỳ hoạt động của doanh nghiệp và chi tiết cho các hoạt động kinh doanh chính Nói cách khác báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là phương tiện trình bày khả năng sinh lời và thực trạng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

1.2.2.2 Nội dung và kết cấu của báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

Nội dung và kết cấu của báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh ban hành theo quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20 tháng 03 năm 2006 của Bộ trưởng

Phần II: Tình hình thực hiện nghĩa vụ với nhà nước:

- Thuế, Các khoản phải nộp khác…, tổng số thuế của năm trước chuyển sang

Phần III: Thuế VAT được khấu trừ, được hoàn lại, được miễn giảm

1.2.2.3 Cơ sở số liệu

- Căn cứ báo cáo họat động kinh doanh của năm trước.

- Căn cứ vào sổ kế toán tổng hợp và sổ kế toán chi tiết trong năm dùng cho các tài khoản từ loại 5 đến loại 9

Trang 7

1.2.3 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ.

1.2.3.1 Khái niệm

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là một báo cáo tài chính cung cấp thông tin về những nghiệp vụ kinh tế có ảnh hưởng đến tình hình tiền tệ của Doanh nghiệp Báo cáo lưu chuyển tiền tệ được lập trên cơ sở cân đối thu chi tiền mặt, phản ánh việc hình thành và sử dụng lượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của Doanh nghiệp

Lượng tiền phát sinh trong kỳ bao gồm vốn bằng tiền và các khoản đầu tư ngắn hạn được xem là tương đương tiền

Tiền tồn đầu kì + Tiền thu trong kỳ = Tiền chi trong kì + Tiền tồn cuối

kỳ

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ có vai trò quan trọng trong việc cung cấp những thông tin liên để đánh giá khả năng kinh doanh tạo ra tiền của DN, chỉ ra được mối liên quan giữa lợi nhuận ròng và dòng tiền ròng, phân tích khả năng thanh toán của DN và dự đoán được kế hoạch thu chi tiền cho kỳ tiếp theo

1.2.3.2 Nội dung, kết cấu báo cáo lưu chuyển tiền tệ

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ xuất phát từ cân đối sau:

Tiền có đầu kì + tiền thu trong kì = Tiền chi trong kì + tiền tồn cuối kì

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ dùng để xem xét và dự đoán khả năng về số lượng, thời gian và độ tin cậy của các luồng tiền trong tương lai; dùng để kiểm tra lại các đánh giá, dự đoán trước đây về các luồng tiền; kiểm tra mối quan hệ giữa khả năng sinh lời với lượng lưu chuyển tiền thuần và những tác động của thay đổi giá

Nội dung và kết cấu của báo cáo lưu chuyển tiền tệ ban hành theo Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20 tháng 03 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính

1.2.3.3 Cơ sở số liệu

Việc lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ căn cứ vào:

- Bảng cân đối kế toán

Trang 8

- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

- Bản thuyết minh báo cáo tài chính

- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ kỳ trước

- Các tài liệu kế toán khác như: Sổ kế toán tổng hợp, sổ kế toán chi tiết, các khoản “tiền mặt”, “tiền gửi ngân hàng”, “tiền đang chuyển” Sổ kế toán tổng hợp và sổ kế toán chi tiết của các tài khoản liên quan khác, bảng tính và phân bổ khâu hao TSCĐ và các tài liệu kế toán chi tiết khác…

1.3 Nội dung phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp

Để phân tích tình hình tài chính của DN, cần tiến hành phân tích các nội dung sau:

- Phân tích tình hình cơ cấu của vốn, nguồn vốn

- Phân tích tình hình đầu tư và nguồn tự tài trợ

- Phân tích tình hình công nợ và khả năng thanh toán

- Phân tích tình hình rủi ro về tài chính của DN

1.3.1 Phân tích tình hình TCDN thông qua bảng cân đối kế toán.

1.3.1.1 Phân tích tình hình cơ cấu của vốn.

a) Vốn lưu động

Theo khâu sản xuất kinh doanh vốn lưu động của DN gồm:

* Vốn trong khâu dự trữ: Biểu hiện là NVL tồn kho, CCDC trong kho Đối với vốn này, ngoài việc so sánh giữa thực tế cuối kỳ với đầu năm, người ta còn

so sánh giữa thực tế với nhu cầu của vốn dự trữ để đánh giá mức độ dự trữ thực

tế có hợp lí hay không Nếu dự trữ quá ít, sẽ không đảm bảo cung cấp cho nhu cầu sản xuất dẫn đến thiệt hại phải ngừng sản xuất, ngược lại nếu dự trữ quá lớn

sẽ gây ứ đọng vật tư, tăng chi phí bảo quản, tăng hao hụt, giảm chất lượng vật

tư, do đó sẽ làm tăng chi phí giảm hiệu quả SXKD

* Vốn trong khâu sản xuất: Biểu hiện cụ thể là chi phí SXKD dở dang Để đảm bảo hợp lý chi phí này, cần đảm bảo sản xuất phải lien tục, tôn trọng quy trình công nghệ mà DN đang áp dụng

Trang 9

* Vốn trong khâu thành phẩm: Biểu hiện cụ thể là thành phẩm…việc tăng giảm vốn thành phẩm có quan hệ mật thiết với kết quả HĐKD.

* Vốn trong khâu thanh toán: Biểu hiện cụ thể là các khoản phải thu Đây là

số vốn bị chiếm dụng của DN, như nợ phải thu khách hang, tiền ứng trước cho người bán, thuế GTGT được khấu trừ… Nếu các khoản phải thu còn nằm trong thời hạn thanh toán thì đó là khoản bị chiếm dụng hợp lý và ngược lại

b) Vốn cố định

Vốn cố định là biểu hiện bằng tiền của TSCĐ, do đó khi phân tích cơ cấu của vốn cố định chủ yếu người ta thường thông qua tỷ trọng của TSCĐ hữu hình, chi phí xây dựng cơ bản dở dang đang chiếm trong tổng số TSCĐ và đầu

tư dài hạn để xem xét và đánh giá

Để đánh giá cơ cấu của TSCĐ hữu hình, cần thiết phải xác định tỷ trọng của các loại TSCĐ sau đây:

- Tỷ trọng của TSCĐ dùng vào sản xuất kinh doanh

- Tỷ trọng của TSCĐ dùng vào phúc lợi

- Tỷ trọng của TSCĐ chờ xử lý, trong đó lại chia ra loại TSCĐ không cần dùng, chưa cần dùng và đã hư hỏng chờ thanh lý

Thông qua những tỷ trọng trên, người ta có thể đánh giá được việc xây dựng, mua sắm TSCĐ có hợp lý hay không và do đó tác động tích cực hoặc tiêu cực đến quá trình và kết quả kinh doanh của DN

• Đối với chi phí xây dựng cơ bản dở dang: Đây là chi phí của các công trình, hạng mục công trình theo phương thức tự làm, do đó giá trị sản lượng xây lắp thường không lớn Tuy nhiên cần làm rõ thời hạn bắt đầu và kết thúc của công trình, thông qua đó xác định thời hạn của công trình có bị kéo dài hay không, nguyên nhân cụ thể phải kéo dài từ đó đưa ra các quyết định thích hợp, kịp thời để đẩy nhanh quá trình thi công, sớm đưa công trình vào sử dụng

1.3.1.2 Phân tích tình hình cơ cấu của nguồn vốn

Xét về tổng thể, nguồn vốn trong DN bao gồm:

Trang 10

Nguồn vốn vay: Cần xác định tỷ trọng của vay ngắn hạn, vay dài hạn

vì nguồn gốc phát sinh của nó khác nhau, tính chất khoản vay cũng khác nhau,

do vậy yêu cầu quản lý cũng khác nhau

Nguồn vốn chủ sở hữu: Nguồn vốn chủ yếu bao gồm vốn - quỹ, do đó

cần xác định tỷ trọng của nguồn vốn kinh doanh và từng loại quỹ chiếm trong tổng nguồn vốn – quỹ để đánh giá cơ cấu nguồn vốn Trong thực tế, có DN sản xuất KD bị lỗ và số lỗ này lớn hơn nguồn vốn – quỹ, do đó nguồn chủ sở hữu

âm, toàn bộ nguồn vốn để bù đắp tài sản của DN lại là vốn vay, DN không tự chủ được tài chính, rủi ro tài chính tăng lên

Nguồn vốn trong thanh toán: (Nguồn vốn đi chiếm dụng thông qua nợ

phải trả) bao gồm: nợ phải trả khách hang, các khoản phải nộp nhà nước, phải trả người lao động, phải trả nội bộ và phải trả khác Khi phân tích các khoản nợ trên cần chi tiết thành 2 loại: Đã đến hạn và chưa đến hạn

1.3.2 Phân tích tình hình đầu tư và nguồn tài trợ

1.3.2.1 Phân tích khái quát tình hình đầu tư

Để phân tích khái quát về tình hình đầu tư, người ta phân tích theo 3 nội dung sau đây: - Đánh giá về hướng đầu tư

- Đánh giá về loại hình đầu tư

- Đánh giá về quy mô đầu tư

1.3.2.2 Phân tích tình hình đầu tư và nguồn tự tài trợ

Đầu tư của doanh nghiệp thường được phân làm 2 loại là đầu tư ra ngoài doanh nghiệp và đầu tư ở bên trong doanh nghiệp

Để tiến hành đầu tư, doanh nghiệp có thể sử dụng vốn tự có (nguồn vốn chủ

sở hữu) hoặc vốn vay

Khi phân tích, đánh giá cụ thể tình hình đầu tư và nguồn tự tài trợ của doanh nghiệp, ta có thể sử dụng các chỉ tiêu sau đây:

Tỷ suất đầu tư tài chính ngắn hạn và dài hạn

Tỷ suất đầu tư TC

ngắn hạn và dài hạn =

Đầu tư TC ngắn hạn + Đầu tư TC dài hạn

x 100Tổng tài sản

Trang 11

Chỉ tiêu này nói lên rằng, cứ 100 đồng tài sản thì doanh nghiệp đã dành ra bao nhiêu đồng để đầu tài chính ngắn hạn và dài hạn

Tỷ suất đầu tư TSCĐ hữu hình

Tỷ suất đầu tư

TSCĐ hữu hình =

TSCĐ hữu hình + Chi phí XDCB dở dang

x 100Tổng tài sản

Công thức tính trên giải thích rằng trong 100 đồng tài sản, doanh nghiệp đã

bỏ ra bao nhiêu đồng để đầu tư phát triển

Tỷ suất tự tài trợ tài chính ngắn hạn và dài hạn

Tỷ suất tự tài trợ TC

ngắn hạn và dài hạn =

Nguồn vốn chủ sở hữu

x 100Đầu tư TC ngắn hạn + Đầu tư TC dài hạn

Chỉ tiêu trên nói rằng, cứ 100 đồng vốn đầu tư TC ngắn hạn và dài hạn thì

có bao nhiêu đồng được tài trợ (bù đắp) bằng vốn tự có của doanh nghiệp

Tỷ suất tự tài trợ về đầu tư TSCĐ hữu hình

Chỉ tiêu trên giải thích rằng để bù đắp cho 100 đồng vốn đầu tư phát triển thì vốn tự có của doanh nghiệp phải có bao nhiêu phần

1.3.3 Phân tích tình hình công nợ và khả năng thanh toán của DN.

1.3.3.1 Phân tích tình hình công nợ của doanh nghiệp.

Công nợ của Doanh nghiệp bao gồm:

- Công nợ phải thu, phản ánh số vốn của Doanh nghiệp bị chiếm dụng

- Công nợ phải trả, phản ánh số vốn mà Doanh nghiệp đi chiếm dụng

Trong quá trình SXKD, giữa các Doanh nghiệp với Nhà nước, giữa Doanh nghiệp này với Doanh nghiệp khác, giữa Doanh nghiệp với người làm công ăn lương luôn phát sinh các quan hệ thanh toán, do vậy cũng phát sinh vốn bị chiếm dụng và đi chiếm dụng Ví dụ định kỳ doanh nghiệp phải nộp thuế GTGT, thuế TTĐB, thuế TNDN… khi quyết toán được duyệt, nếu số đã nộp lớn hơn số phải nộp, coi như vốn của Doanh nghiệp đã bị chiếm dụng và ngược lại Trong

Trang 12

quan hệ giữa các doanh nghiệp với nhau, họ vừa là người mua, vừa là người bán Nếu đã chấp nhận thanh toán chậm hoặc trả góp, doanh nghiệp đương nhiên

đã chấp nhận để đơn vị khác chiếm dụng vốn của mình và ngược lại là được chiếm dụng vốn của đơn vị khác Đối với người làm công ăn lương, hàng ngày

họ lao động để làm ra sản phẩm, trong giá thành sản phẩm có chứa đựng tiền công của họ nhưng thực tế Doanh nghiệp không thể thanh toán lương hàng ngày; như vậy giữa các kỳ trả lương, Doanh nghiệp đã chiếm dụng vốn Ngược lại, do nhu cầu thực tế, người lao động có thể tạm ứng lương, khi đó vốn của doanh nghiệp đã bị chiếm dụng

Thông qua việc phân tích chi tiết ở trên, có thể thấy rằng cần thiết phải phân tích, đánh giá tình hình công nợ và rõ ràng nó là “Bức tranh” phản ánh tương đối rõ nét về thực trạng tình hình tài chính của Doanh nghiệp

1.3.3.2 Phân tích khả năng thanh toán của Doanh nghiệp

Khả năng thanh toán của Doanh nghiệp phản ánh mối tương quan giữa 2 yếu tố:

- Số tiền và tương đương tiền mà Doanh nghiệp có thể dùng để thanh toán

- Tổng số nợ ngắn hạn Doanh nghiệp cần thanh toán

Khả năng thanh toán là khả năng trả các khoản nợ ngắn hạn của Doanh nghiệp khi đến hạn thanh toán bằng tiền và các tài sản có thể chuyển đổi ngay thành tiền được

Để phân tích, đánh giá khả năng thanh toán ở các mức độ khác nhau của Doanh nghiệp, có thể thông qua các chỉ tiêu sau:

Hệ số thanh toán nợ ngắn hạn

Hệ số thanh toán

nợ ngắn hạn =

Tài sản ngắn hạnTổng số nợ ngắn hạn

Hệ số thanh toán nợ ngắn hạn phản ánh khả năng chuyển đổi tài sản thành tiền để thanh toán các khoản nợ ngắn hạn (trong vòng 12 tháng) Khi đánh giá khả năng thanh toán nợ ngắn hạn, nếu hệ số lớn hơn 1 chứng tỏ Doanh nghiệp thừa khả năng thanh toán; nếu nhỏ hơn 1 là thiếu khả năng thanh toán và nó tiến

Trang 13

dần đến 0 chứng tỏ Doanh nghiệp mất khả năng thanh toán và khi đó Doanh nghiệp đối diện với khả năng phá sản

Hệ số thanh toán nhanh

Hệ số thanh toán nhanh = Tài sản ngắn hạn – Hàng tồn khoTổng nợ ngắn hạn

Hệ số này nói lên tình trạng tài chính ngắn hạn của một Doanh nghiệp có lành mạnh không Về nguyên tắc, hệ số này càng cao thì khả năng thanh toán công nợ càng cao và ngược lại Hệ số này phải lớn hơn hoặc bằng 1 là tốt và chứng tỏ Doanh nghiệp có khả năng đáp ứng thanh toán ngay cả các khoản nợ ngắn hạn

Hệ số thanh toán tức thời

hệ số này tiến dần đến 0 thì doanh nghiệp dần mất khả năng thanh toán

1.3.4 Phân tích rủi ro tài chính của Doanh nghiệp

Rủi ro tài chính là sự bất trắc, không ổn định trong quá trình hoạt động, tuần hoàn, chu chuyển của vốn lưu động trong quá trình kinh doanh, khả năng mất tự chủ tài chính của Doanh nghiệp và làm giảm kết quả hoạt động SXKD

Để đánh giá mức độ rủi ro tài chính hay khả năng tự chủ về tài chính của Doanh nghiệp, cần thông qua các chỉ tiêu sau:

Tỷ suất các khoản phải thu

Tỷ suất các khoản

Tổng số nợ phải thu

x 100Tổng tài sản

Tỷ suất các khoản phải trả

Tỷ suất các = Tổng số nợ phải trả x 100

Trang 14

khoản phải trả Tổng nguồn vốn

Hệ số nợ trên tài sản

Hệ số nợ trên tài sản = Nợ phải trả (cộng A nguồn vốn)

Tổng tài sản (A + B tài sản)Chỉ tiêu này nói lên rằng, trong tổng tài sản hiện có của Doanh nghiệp, có bao nhiêu đồng do vay nợ mà có, do vậy, nếu hệ số này càng lớn và có xu hướng càng tăng, chứng tỏ rủi ro tài chính càng tăng và ngược lại

Hệ số thu hồi nợ

Hệ số thu hồi nợ = Doanh thu (thuần, giá vốn)

Số dư nợ phải thu bình quânChỉ tiêu này giải thích rằng, nếu doanh thu bán chịu, bán trả chậm càng giảm, số dư nợ phải thu giảm đi thì hệ số thu nợ càng tăng và rủi ro tài chính càng giảm và ngược lại Để phản ánh rõ hơn, người ta sử dụng chỉ tiêu thời gian thu hồi nợ

Thời hạn thu hồi nợ

Thời hạn thu hồi nợ = Thời gian trong kỳ báo cáo

Hệ số thu hồi nợThời hạn trong kỳ báo cáo là đại lượng cố định (một năm 360 ngày, quý 90 ngày), do vậy thời hạn thu hồi nợ tùy thuộc vào hệ số thu hồi nợ Như vậy, khi

hệ số thu hồi nợ tăng, thời hạn thu hồi nợ sẽ giảm, rủi ro tài chính giảm và ngược lại

lý, do vậy hệ số quay vòng sẽ tăng và rủi ro tài chính sẽ giảm và ngược lại

Thời hạn quay vòng hàng tồn kho

Thời hạn quay vòng

Thời gian trong kỳ báo cáo

Hệ số quay vòng hàng tồn kho

Trang 15

Khi hệ số quay vòng hàng tồn kho càng lớn và có xu hướng tăng lên thì số ngày cần thiết cho một vòng quay càng nhỏ và có xu hướng càng giảm, khi đó rủi ro tài chính càng giảm và ngược lại

Hệ số thanh toán lãi vay

Hệ số thanh

toán lãi vay =

Lợi nhuận trước thuế và lãi vay

Lãi vay phải trảChỉ tiêu này nói lên rằng, SXKD càng có hiệu quả, lãi càng tăng thì hệ số thanh toán lãi vay càng tăng, rủi ro tài chính càng giảm và ngược lại

1.3.5 Phân tích khả năng sinh lời của doanh nghiệp

Lợi nhuận là chỉ tiêu tổng hợp, phản ánh rõ nhất về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Để đánh giá kết quả cuối cùng của quá trình kinh doanh, ta dùng một số chỉ tiêu sau

Tỷ suất lợi nhuận doanh thu

Phản ánh mối quan hệ tỷ lệ giữa doanh thu thuần với lợi nhuận sau thuế trong kỳ của doanh nghiệp

Tỷ suất lợi nhuận sau

thuế trên doanh thu =

Lợi nhuận sau thuế trong kỳ

Doanh thu thuần trong kỳChỉ tiêu này cho thấy cứ 100 đồng doanh thu sẽ tạo được bao nhiêu đồng lợi nhuận ( sau thuế ) Tỷ suất này càng cao thì hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp càng lớn Như vậy, để tăng tỷ suất lợi nhuận chúng ta không chỉ tăng khối lượng tiêu thụ mà phải tăng cả chất lượng sản phẩm hàng hóa tiêu thụ

Sự biến động của tỷ số này phản ánh sự biến động về hiệu quả tăng giảm giá thành hay ảnh hưởng của các chiến lược tiêu thụ, nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp

Nếu tỷ số này càng cao và doanh thu của doanh nghiệp càng lớn thì tiềm năng lợi nhuận cũng càng lớn

Tỷ suất lợi nhuận trước lãi vay và thuế TNDN (hệ số khả năng sinh lời của vốn kinh doanh)

Trang 16

Tỷ suất lợi nhuận trước lãi vay và thuế TNDN (còn gọi là hệ số khả năng sinh lời của vốn kinh doanh) là chỉ tiêu phản ánh mối quan hệ giữa vốn kinh doanh

sử dụng với lợi nhuận của đồng vốn tạo ra, không tính tới ảnh hưởng của yếu tố chi phí trả lãi tiền vay và thuế thu nhập doanh nghiệp

Tỷ suất lợi nhuận

trước lãi vay và thuế =

Lợi nhuận trước lãi vay và thuế

x 100Vốn kinh doanh sử dụng bình quân trong kỳ

Ý nghĩa: Cứ 100 đồng vốn kinh doanh sừ dụng bình quân trong kỳ thì tạo ra bao

nhiêu đồng lợi nhuận chưa tính tới việc trả lãi tiền vay và nộp thuế thu nhập

doanh nghiệp

Tỷ suất lợi nhuận vốn kinh doanh

Là mối quan hệ giữa lợi nhuận trước thuế với vốn kinh doanh sử dụng trong kì,

Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn kinh doanh trong kỳ có khả năng mang lại cho chủ sở hữu bao nhiêu đồng lợi nhuận trong kỳ sau khi đã trang trải lãi tiền vay Như vậy, nó cũng phản ánh được mức sinh lời của đồng vốn có tính đến ảnh hưởng của lãi vay nhưng chưa tính đến ảnh hưởng của thuế thu nhập doanh nghiệp

Tỷ suất lợi nhuận ròng của vốn kinh doanh

Tỷ suất lợi nhuận ròng vốn kinh doanh: Là mối quan hệ giữa lợi nhuận sau thuế

và vốn kinh doanh sử dụng trong kì, được xác định bằng công thức sau:

Tỷ suất lợi nhuận

ròng vốn kinh doanh =

Lợi nhuận sau thuế

x 100Vốn kinh doanh sử dụng bình quân trong kỳ

Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn kinh doanh trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận ròng ( lãi thực )

Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu:

Trang 17

Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu: Là mối quan hệ giữa lợi nhuận sau thuế và vốn chủ sở hữu trong kỳ, nó được xác định bằng công thức sau:

Tỷ suất lợi nhuận

vốn chủ sở hữu =

Lợi nhuận sau thuế

x 100Vốn chủ sở hữu bình quân sử dụng trong kỳ

Chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả của mỗi đồng vốn chủ sở hữu ở trong kỳ tạo ra được bao nhiêu đồng vốn lợi nhuận ròng Chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả nguồn vốn chủ sở hữu bỏ vào sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp, từ đó giúp doanh nghiệp định hướng được những mặt hàng có lợi cao, đảm bảo sản xuất có hiệu quả

1.3.6Phân tích tình hình sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp

Mức giá trị sản xuất tính cho một đồng vốn bình quân

Mức giá trị tính cho một đồng vốn

(Vốn SXKD,VCĐ, VLĐ) bình quân =

Giá trị sản xuấtVốn (VSXKD, VCĐ, VLĐ) bình quân

Mức doanh thu thuần tính cho 1 đồng vốn

Mức doanh thu thuần tính cho một

Doanh thu thuầnVốn (VSXKD, VCĐ, VLĐ) bình quânCác chỉ tiêu trên nói lên rằng, cứ 1 đông vốn bỏ ra, doanh nghiệp thu về được bao nhiêu đồng giá trị sản xuất và doanh thu

Số vòng luân chuyển vốn lưu động

Số vòng (lần) luân chuyển = Doanh thu thuần

Số dư bình quân của vốn lưu động

1.4 Các phương pháp phân tích

Để đánh giá các kết quả kinh tế cũng như kết quả của việc thực hiện mục tiêu do chính DN đặt ra, phân tích có thể sử dụng phương pháp so sánh, Phương pháp xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến kết quả kinh tế, phương pháp

đồ thị, mô hình Dupont… trong đó chủ yếu là phương pháp so sánh

Trang 18

1.4.1 Phương pháp so sánh

Là một phương pháp nhằm nghiên cứu sự biến động và xác định mức độ biến động của chỉ tiêu phân tích

- Điều kiện so sánh:

+ Phải đảm bảo sự thống nhất về nội dung kinh tế của các chỉ tiêu

+ Phải đảm bảo sự thống nhất về phương pháp tính các chỉ tiêu

+ Phải đảm bảo sự thống nhất về đơn vị tính các chỉ tiêu (kể cả hiện vật, giá trị và thời gian)

- Tiêu chuẩn so sánh: Là chỉ tiêu được lựa chọn làm căn cứ so sánh Gốc để so sánh được lựa chọn là gốc về mặt thời gian hoặc không gian Kỳ phân tích được lựa chọn là kỳ thực hiện kỳ kế hoạch Giá trị so sánh có thể là số tuyệt đối, số tương đối hay số bình quân

- Nội dung so sánh bao gồm:

+ So sánh giữa số thực tế kỳ phân tích với số thực tế kỳ kinh doanh trước nhằm xác định rõ xu hướng thay đổi về mặt tài chính doanh nghiệp, đánh giá tốc độ tăng lên hay giảm đi của hoạt động tài chính

+ So sánh giữa số thực tế kỳ phân tích với số thực tế kỳ kinh doanh trước nhằm xác định mức độ phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ kế hoạch trong mọi mặt hoạt động tài chính tại doanh nghiệp

+ So sánh giữa số liệu của doanh nghiệp với số liệu trung bình của ngành hoặc của các doanh nghiệp khác nhằm đánh giá tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là tốt hay xấu, khả quan hay không khả quan

- Quá trình phân tích theo phương pháp so sánh có thể thực hiện bằng 2 hình thức:

+ So sánh theo chiều dọc là xem xét và xác định tỷ trọng của từng chỉ tiêu trong quy mô tổng thể nói chung

+ So sánh theo chiều ngang là so sánh cả về số tương đối trên cùng một hàng (cùng một chỉ tiêu) trên các báo cáo tài chính

Trang 19

1.4.2 Phương pháp xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến kết quả kinh tế.

Phương pháp thay thế liên hoàn (kiểu mắt xích):

Phương pháp này sử dụng để xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến kết quả kinh tế khi các nhân tố này có quan hệ tích số, thương số hoặc kết hợp cả tích và thương với kết quả kinh tế

- Nội dung và phương pháp phân tích:

+ Phải biết được số lượng các nhân tố ảnh hưởng, mối quan hệ của chúng với chỉ tiêu phân tích, từ đó xác định công thức tính chỉ tiêu

+ Sắp xếp thứ tự các nhân tố ttheo 1 trình tự nhất định: nhân tố số lượng xếp trước, nhân tố chất lượng xếp sau, trường hợp có nhiều nhân tố số lượng cùng ảnh hưởng thì nhân tố chủ yếu xếp trước, nhân tố thứ yếu xếp sau và không đảo lộn trình tự này

+ Tiến hành lần lượt thay thế từng nhân tố theo trình tự nói trên Nhân tố nào được thay thế, nó sẽ lấy giá trị thực tế từ đó, còn các nhân tố chưa được thay thế phải giữ nguyên giá trị ở kỳ gốc hoặc kỳ kế hoạch Thay thế xong một nhân tố phải tính ra kết quả cụ thể của lần thay thế đó, lấy kết quả này so với kết quả của bước trước nó thì chênh lệch tính được chính là kết quả do ảnh hưởng của nhân

tố vừa được thay thế

+ Có bao nhiêu nhân tố phải thay thế bấy nhiêu lần và tổng hợp ảnh hưởng của các nhân tố bằng đối tượng cụ thể của phân tích

Phương pháp cân đối

- Được sử dụng để tính mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố khi chúng có quan hệ tổng hợp với chỉ tiêu phân tích, cho nên mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố là độc lập với nhau

- Để tính mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố nào đó, chỉ cần tính ra chênh lệch giữa thực tế và kế hoạch của bản thân nhân tố đó

 Ngoài những phương pháp phân tích chủ yếu trên, người ta còn sử dụng một số phương pháp phân tích như: phương pháp biểu đồ, phương pháp đồ thị, phương

Trang 20

pháp tương quan, phương pháp Dupont (phụ lục 01)…

CHƯƠNG II:

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA

CÔNG TY CỔ PHẦN LƯƠNG THỰC SƠN LA.

2.1 Tổng quan về công ty cổ phần lương thực Sơn La.

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty.

Công ty cổ phần lương thực Sơn La là một doanh nghiệp nhà nước, hạch toán độc lập có con dấu riêng

Tên giao dịch: CÔNG TY CỔ PHẦN LƯƠNG THỰC SƠN LA

Loại hình doanh nghiệp: CÔNG TY CỔ PHẦN

Địa chỉ trụ sở chính: Số 4, đường Lò Văn Giá, tổ 1, phường Chiềng Lề, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La, Việt Nam

Mã số thuế: 5500208911 – ngày cấp: 04/05/2007

Ngày hoạt động: 25/0/7/2010

Người đại diện theo pháp luật: giám đốc Nguyễn Văn Muộn

ĐT: 0223852375 ; 0904090907

2.1.2 Chức năng của công ty

Công ty lương thực Sơn La là 1 DN kinh doanh mặt hang lương thực và dự trữ lương thực đóng trên địa bàn tỉnh Sơn La để góp phần vào việc bình ổn giá

và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, đồng thời cung ứng ủy thác thu mua xuất khẩu lương thực, nông sản và chế biến lương thực, thức ăn gia súc để đáp ứng nhu cầu của nhân dân trong tỉnh Ngoài ra còn dự trữ lưu thông lương thực để đảm bảo an toàn về số lượng cho những biến cố xảy ra Đồng thời còn giao lưu, buôn bán với các tỉnh bạn và xuất khẩu ra nước ngoài Ngoài ra công ty còn kinh doanh ngành nghề phù hợp với mục tiêu nhiệm vụ của ngành và mở rộng các ngàng nghề khác

Trang 21

Ngành nghề kinh doanh:

- Kinh doanh lương thực, dự trữ lương thực trong lưu thông

- Vận tải hàng hóa

- Kinh doanh phân bón (Nhà nước không trợ giá)

Các mặt hàng KD: ngô, gạo, sắn, phân bón, ngô giống, cho thuê tài sản…

2.1.3 Tổ chức bộ máy quản lý kinh doanh của công ty

2.1.3.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý (Phụ lục 02)

2.1.3.2 Chức năng nhiệm vụ của từng phòng ban

* Giám đốc là người có thẩm quyền cao nhất, trực tiếp điều hành các hoạt động của công ty và có trách nhiệm quản lý mọi hoạt động của công ty

* Phó giám đốc: Phụ trách kinh doanh trợ giúp cho giám đốc trong việc giao nhiệm vụ, kiểm tra đôn đốc các công việc và tạo mối liên hệ giữa giám đốc tới các phòng ban

* Các phòng ban thực hiện các nhiệm vụ theo chức năng đã được giao

2.1.4 Tình hình và kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Căn cứ vào “Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh” năm 2013-2014 (Phụ

lục 03) ta nhận thấy: tình hình kinh doanh của công ty trong hai năm 2013-2014

có sự thay đổi đáng kể Tổng doanh thu của năm 2014 so với năm 2013 tăng lên, lợi nhuận trước thuế và sau thuế của doanh nghiệp đều tăng Điều đó có nghĩa là năm 2014 công ty đã hoàn thành xuất sắc các đơn đặt hàng và kế hoạch đề ra, góp phần thúc đẩy sự phát triển của công ty và đời sống của công nhân đã được cải thiện Cụ thể:

 Đầu tiên kể đến doanh thu, so với năm 2013 doanh thu 2014 tăng lên 4.551.027.163 đồng tương ứng với mức tăng 4,68% Qua đó nhận thấy được công ty đã có những phương án bán sản phẩm hiệu quả

 Cùng với sự gia tăng về doanh thu là giá vốn tăng 4,76% Do sự gia tăng

về doanh thu nên giá vốn hàng hóa tăng lên Hơn nữa do giá cả thị trường năm

2014 vật tư mua vào lớn hơn nên giá vốn tăng hợp lí

 Chi phí quản lý kinh doanh năm 2014 so với năm 2013 tăng lên 9,26%

Trang 22

Do công ty có them nhân sự, cũng như chế độ bảo hiểm phụ cấp cho người lao động tăng lên, vì vậy chi phí quản lý kinh doanh cũng tăng.

 - Lợi nhuận gộp về bán hàng của năm 2013 là 8.294.334.902 đồng thì năm 2014 là 8.606.680.683 đồng tăng lên 312.345.781 đồng tương đương tăng 3,77 %

 - Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh của năm 2013 là 4.471.275.550 đồng đến năm 2014 đã đạt 4.860.513.627 đồng tăng lên 389.238.077 đồng tương đương 8,71 %

 - Lợi nhuận trước thuế của năm 2013 là 4.920.457.185 đồng đến năm

2014 đã đạt 5.047.698.356 đồng tăng lên 127.241.171 đồng tương ứng với 2,59

%

 - Do nhà nước giảm thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp nên năm 2014 lợi nhuận sau thuế đạt 3.937.204.718 đồng tăng 246.861.829 đồng tương đương 6,69 % so với năm 2013

2.2 Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán và chính sách kế toán áp dụng tại công ty.

2.2.1 Tổ chức bộ máy kế toán.

a) Hình thức tổ chức bộ máy kế toán

Công ty tổ chức bộ máy kế toán theo hình thức tập trung Toàn bộ công tác

kế toán được tiến hành tập trung ở phòng kế toán, ở các bộ phận khác không tổ chức kế toán riêng mà chỉ bố trí các nhân viên thu thập kiểm tra chứng từ, ghi chép sổ sách hạch toán nghiệp vụ cho nhu cầu quản lý kinh doanh từng bộ phận

đó, lập báo cáo nghiệp vụ và chuyển chứng từ cùng báo cáo về phòng kế toán.b) Cơ cấu tổ chức bộ máy kế toán

Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán (Phụ lục 04)

 Chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận trong bộ máy kế toán

Kế toán trưởng:Là người đứng đầu bộ máy kế toán của công ty có trách nhiệm

quản lý toàn bộ công tác tài chính kế toán của công ty, thực hiện các quy định của pháp luật về tài chính - kế toán, cung cấp các thông tin cần tiết cho Giám

Trang 23

đốc về tình hình tài chính, kinh doanh và có vai trò tham mưu cho Giám đốc trong việc xây dựng các kế hoạch và kí kết các hợp đồng kinh tế

Thủ quỹ: Hàng ngày, căn cứ vào các chứng từ thu, chi, tạm ứng, hoàn ứng và các

chứng từ khác để nhập xuất tiền mặt, để đối chiếu với kế toán tổng hợp

Kế toán thanh toán:Phụ trách về tình hình thanh toán của công ty, lập phiếu

thu, phiếu chi tiền mặt, lập ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi, vào sổ kế toán các nghiệp vụ kiên quan đồng thời theo dõi các khoản tạm ứng, công nợ nội bộ và bên ngoài của công ty

Kế toán kho và lưu chuyển hàng hoá và các dịch vụ khác: Phụ trách quản lý,

theo dõi tình hình lưu chuyển hàng hóa, xác định lượng hàng hóa tồn kho

Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương:chuyên trách về vấn đề kế

toán tiền lương và BHXH, lập bảng thanh toán tiền lương và BHXH với cán bộ công nhân viên trong Công ty…

Kế toán tổng hợp và TSCĐ: Theo dõi tình hình nhập, xuất vật tư, tình hình

tăng giảm TSCĐ, tính và phân bổ khấu hao TSCĐ tham gia lập kế hoạch sửa chữa dự toán chi phí sửa chữa Tổng hợp các thông tin, số liệu kế toán do các phần hành kế toán khác cung cấp, lên các loại báo cáo của công ty

Kế toán thuế và xác định kết quả kinh doanh:

+ Tiến hàng xác định kết quả kinh doanh lãi, lỗ của công ty

+Phụ trách công tác thuế, thực hiện nghĩa vụ thuế

2.2.2 Các chính sách kế toán hiện đang áp dụng tại công ty

- Chế độ kế toán: áp dụng theo QĐ số 48/2006/QĐ - BTC ngày 14/09/2006

- Hình thức ghi sổ kế toán: Áp dụng hệ thống sổ kể toán theo hình thức Nhật

ký chung (phụ lục 05)

- Niên độ kế toán: Tính theo năm (bắt đầu từ 01/01 và kết thúc vào ngày 31/12 hàng năm)

- Đơn vị tiền dùng để ghi sổ kế toán: đồng Việt Nam kí hiệu là "đ"

- Phương pháp kê khai và tính thuế GTGT: Theo phương pháp khấu trừ

- Phương pháp kế toán hàng tồn kho: Theo phương pháp kê khai thường

Ngày đăng: 20/03/2017, 17:39

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w