Giải pháp tăng cường quản lý thuế đối với hộ kinh doanh tại Chi cục Thuế Thị xã Sông Công tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Giải pháp tăng cường quản lý thuế đối với hộ kinh doanh tại Chi cục Thuế Thị xã Sông Công tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Giải pháp tăng cường quản lý thuế đối với hộ kinh doanh tại Chi cục Thuế Thị xã Sông Công tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Giải pháp tăng cường quản lý thuế đối với hộ kinh doanh tại Chi cục Thuế Thị xã Sông Công tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Giải pháp tăng cường quản lý thuế đối với hộ kinh doanh tại Chi cục Thuế Thị xã Sông Công tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Giải pháp tăng cường quản lý thuế đối với hộ kinh doanh tại Chi cục Thuế Thị xã Sông Công tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Giải pháp tăng cường quản lý thuế đối với hộ kinh doanh tại Chi cục Thuế Thị xã Sông Công tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Giải pháp tăng cường quản lý thuế đối với hộ kinh doanh tại Chi cục Thuế Thị xã Sông Công tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Giải pháp tăng cường quản lý thuế đối với hộ kinh doanh tại Chi cục Thuế Thị xã Sông Công tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Giải pháp tăng cường quản lý thuế đối với hộ kinh doanh tại Chi cục Thuế Thị xã Sông Công tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Giải pháp tăng cường quản lý thuế đối với hộ kinh doanh tại Chi cục Thuế Thị xã Sông Công tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN THANH HƯƠNG
GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH TẠI CHI CỤC THUẾ THỊ XÃ SÔNG CÔNG - TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60.34.04.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS VĂN BÁ THANH
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ cho một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2015
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Thanh Hương
Trang 3
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến sự giúp đỡ của các thầy cô giáo trong quá trình giảng dạy, đã trang bị cho tôi những kiến thức khoa học Đặc biệt là thầy giáo, PGS-TS Văn Bá Thanh người trực tiếp hướng dẫn giúp đỡ tôi trong suốt chặng đường học tập và nghiên cứu
Tôi xin chân thành cám ơn Cục thuế tỉnh Thái Nguyên, Chi cục thuế Thị xã Sông Công - cùng các cơ quan, Sở, Ban, Ngành Trung ương và địa phương đóng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, cùng toàn thể các đồng nghiệp, học viên lớp cao học quản lý kinh tế khóa 10, gia đình, bạn bè đã tạo điều kiện, cung cấp tài liệu cho tôi hoàn thành chương trình học của mình và góp phần thực hiện tốt hơn cho công tác thực tế sau này
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Thanh Hương
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC SƠ ĐỒ vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 3
5 Bố cục của luận văn 3
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH 4
1.1 Cơ sở lý luận về quản lý thuế với hộ kinh doanh 4
1.1.1 Khái niệm về hộ kinh doanh 4
1.1.2 Đặc điểm của thành phần kinh tế cá thể 4
1.1.3 Vai trò của của kinh tế cá thể 6
1.2 Khái niệm, đặc điểm và chức năng của thuế 8
1.2.1 Khái niệm chung về thuế 8
1.2.2 Đặc điểm của thuế 8
1.2.3 Chức năng của thuế 9
1.3 Chính sách thuế chủ yếu áp dụng đối với hộ kinh doanh 11
1.3.1 Thuế môn bài 11
1.3.2 Thuế giá trị gia tăng (GTGT) 12
1.3.3 Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) 14
1.4 Quản lý thuế đối với hộ kinh doanh 16
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
1.4.1 Khái niệm, mục tiêu, yêu cầu của quản lý thuế 16
1.4.2 Các nội dung của quản lý thuế đối với hộ kinh doanh 17
1.4.3 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả quản lý thuế 24
1.5 Những nhân tố ảnh hưởng đến quản lý thuế đối với hộ kinh doanh 30
1.5.1 Chính sách, cơ chế và môi trường quản lý thuế 30
1.5.2 Các yếu tố thuộc về cơ quan thuế 30
1.5.3 Các yếu tố thuộc về hộ kinh doanh 32
1.6 Kinh nghiệm thực tế về quản lý thuế 32
1.6.1 Kinh nghiệm thực tế về quản lý thuế ở Chi cục thuế Ninh Bình 32
1.6.2 Kinh nghiệm thực tế về quản lý thuế ở Chi cục thuế Đông Hưng – Thái Bình 34
1.6.3 Bài học chung về quản lý thuế hộ kinh doanh 35
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37
2.1 Câu hỏi nghiên cứu 37
2.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể 37
2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 37
2.2.2 Phương pháp xử lý số liệu 39
2.2.3 Phương pháp phân tích số liệu 39
2.3 Các chỉ tiêu phân tích 39
2.3.1 Trình độ học vấn, chuyên môn của cán bộ tại Chi cục thuế TX Sông Công 39
2.3.2 Các chỉ tiêu phản ánh về quản lý thuế 40
Chương 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH TẠI CHI CỤC THUẾ THỊ XÃ SÔNG CÔNG TỈNH THÁI NGUYÊN 41
3.1 Điều kiện kinh tế - tự nhiên - xã hội của Thị xã Sông Công - tỉnh Thái Nguyên 41
3.1.1 Vị trí địa lý 41
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội của Thị xã Sông Công 42
3.1.3 Nhận xét chung 47
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
3.2 Khái quát về Chi cục thuế thị xã Sông Công 49
3.2.1 Cơ cấu bộ máy quản lý tại Chi cục thuế TX Sông Công 49
3.3 Thực trạng quản lý thuế đối với hộ kinh doanh tại Chi cục thuế thị xã Sông Công 57
3.3.1 Đặc điểm tình hình hoạt động của hộ kinh doanh trên địa bàn Thị xã Sông Công 57
3.3.2 Thực trạng quản lý các thủ tục hành chính thuế đối với hộ KDCT 58
3.3.3 Thực trạng giám sát việc tuân thủ pháp luật thuế 67
3.3.4 Thực trạng quản lý quy trình thu thuế 70
3.4 Một số nhân tố ảnh hưởng, kết quả đạt được và những hạn chế trong quản lý thuế đối với hộ kinh doanh tại TX Sông Công 77
Chương 4: GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH TẠI CHI CỤC THUẾ THỊ XÃ SÔNG CÔNG TỈNH THÁI NGUYÊN 82
4.1 Phương hướng đổi mới và nhiệm vụ quản lý thuế đối với hộ kinh doanh thời gian tới 82
4.2 Các giải pháp tăng cường quản lý thuế đối với hộ kinh doanh 83
4.2.1 Thường xuyên rà soát diện hộ kinh doanh thực tế để đưa vào quản lý thuế 83
4.2.2 Tập trung xác định lại doanh thu kinh doanh của các hộ kinh doanh 85
4.3 Kiến nghị điều kiện thực thi giải pháp 91
KẾT LUẬN 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Nội dung
CNH-HĐH Công nghiệp hóa- hiện đại hóa
GTGT Giá trị gia tăng
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Biểu thuế môn bài 12
Bảng 1.2 Thuế suất thuế lũy tiến từng phần 15
Bảng 1.3 Biểu thuế suất thuế TNCN toàn phần 15
Bảng 2.1 Số lượng mẫu theo ngành nghề kinh doanh 38
Bảng 3.1 Trình độ quản lý của toàn bộ chi cục thuế Sông Công 54
Bảng 3.2 Đánh giá chất lượng nguồn nhân lựctại Chi cục Thuế Thị xã Sông Công - tỉnh Thái Nguyên năm 2014 54
Bảng 3.3 Trang thiết bị quản lý thuế của Chi cục thuế Sông Công năm 2014 56
Bảng 3.4 Thống kê tình hình cấp mã số thuế 59
Bảng 3.5 Kết quả quản lý đối với hộ kinh doanh 59
Bảng 3.6 Số lương tờ khai thuế đã tiếp nhận và xử lý 62
Bảng 3.7 Tổng hợp số thuế đã kê khai hộ 63
Bảng 3.8 Số thu NSNN TX Sông Công giai đoạn 2012 - 2014 65
Bảng 3.9 Kết quả kiểm tra hộ nghỉ kinh doanh 67
Bảng 3.10 Kết quả thu ngân sách tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2012 - 2014 71
Bảng 3.11 Tổng hợp nợ thuế các năm 2012 - 2014 73
Bảng 3.12 Tổng hợp kết quả điều tra 88 hộ 75
DANH MỤC SƠ ĐỒ Sơ đồ 3.1 Mô hình phân cấp quản lý 49
Sơ đồ 3.2 Quy trình quản lý thuế hộ kinh doanh 74
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hơn 20 năm qua từ khi ngành thuế hoạt động theo một sự thống nhất
từ Trung Ương đến địa phương, công tác quản lý thu thuế liên tục đổi mới Đặc biệt từ sau đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI nền kinh tế nước ta có một sự biến chuyển mạnh mẽ, từ một nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN Việc chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế một cách đúng đắn
đã đem lại cho đất nước ta những thành tựu đáng kể trên mọi lĩnh vực, kinh
tế, chính trị, xã hội uy tín của đất nước ta trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao Trong đó, chính sách Tài chính - Thuế có vai trò hết sức quan trọng, đòi hỏi ngành thuế phải tập trung nghiên cứu và đề ra các biện pháp công tác cụ thể, phải tạo cho được sự chuyển biến mới, có hiệu quả thiết thực trên các mặt công tác của mình
Thời gian qua công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh có nhiều chuyển biến tích cực góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật thuế của các hộ kinh doanh, hạn chế thất thu, tăng thu cho ngân sách Tuy nhiên, tiềm năng vẫn còn và có thể khai thác thu để đạt ở mức cao hơn Tình trạng thất thu tuy có giảm nhưng vẫn còn tình trạng quản lý không hết hộ kinh doanh, doanh thu tính thuế không sát thực tế, dây dưa nợ đọng thuế còn nhiều… Vì vậy, vấn đề mang tính cấp thiết đặt ra cho Ngành Thuế là phải tìm cho được các giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh
Tình hình quản lý thuế đối với hộ kinh doanh tại Chi cục Thuế Thị xã Sông Công trong vài năm gần đây, việc thu thuế đối với hộ kinh doanh của Chi cục đã được áp dụng và từng bước phát triển, xong hiệu quả thu thuế đối với hộ kinh doanh của Chi cục Thuế Thị xã Sông Công còn chưa cao so với tiềm năng và còn nhiều vấn đề cần phải xem xét, giải quyết
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Xuất phát từ những yêu cầu thực tế ở địa phương, tôi quyết định chọn
đề tài “Giải pháp tăng cường quản lý thuế đối với hộ kinh doanh tại Chi cục Thuế Thị xã Sông Công - tỉnh Thái Nguyên” làm đề tài nghiên cứu
nhằm góp phần thiết thực tăng cường công tác quản lý thuế đạt hiệu quả cao đối với hộ kinh doanh trên địa bàn Thị xã Sông Công
2 Mục tiêu của đề tài
2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu thực trạng quản lý thuế đối với hộ kinh doanh tại Chi cục Thuế Thị xã Sông Công, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường công tác quản l ý thuế đối với hộ kinh doanh trên địa bàn Thị xã Sông Công
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh trên địa bàn Thị xã Sông Công
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Về nội dung nghiên cứu:
Nội dung nghiên cứu của luận văn chủ yếu đi sâu phân tích thực trạng quản lý thuế theo đối tượng nộp thuế, doanh thu, tình hình đôn đốc thu nộp thuế, tình hình triển khai kế toán hộ kinh doanh của Chi cục Thuế Thị xã Sông Công; phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến việc quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh, tìm hiểu nguyên nhân tại sao quản lý thuế đối với hộ kinh doanh chưa đạt hiệu quả cao; căn cứ vào kết quả nghiên cứu trên đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường công tác quản l ý thuế đối với hộ kinh doanh của vùng nghiên cứu
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Luận văn là công trình khoa học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn thiết thực, là tài liệu tham khảo giúp Chi cục Thuế Thị xã Sông Công có kế hoạch tăng cường công tác quản l ý thuế đối với hộ kinh doanh Luận văn nghiên cứu khá toàn diện và hệ thống, có ý nghĩa thiết thực cho quá trình quản l ý thuế đối với hộ kinh doanh tại Thị xã Sông Công và đối với các thành phố có điều kiện tương tự
5 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 4 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý thuế đối với hộ kinh doanh Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng quản lý thuế đối với hộ kinh doanh tại Chi cục
thuế Thị xã Sông Công
Chương 4: Giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường quản lý thuế đối với
hộ kinh doanh tại Chi cục thuế Thị xã Sông Công
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THUẾ
ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH 1.1 Cơ sở lý luận về quản lý thuế với hộ kinh doanh
1.1.1 Khái niệm về hộ kinh doanh
Theo Nghị định số 88/2006/NĐ-CP ngày 29/8/2006 về đăng ký kinh doanh và mới nhất hiện nay là Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 về đăng ký doanh nghiệp thì "Hộ kinh doanh" được gọi là "Hộ kinh doanh cá thể" Tên gọi "Hộ kinh doanh cá thể" được ghi nhận tại Nghị định
số 109/2004/NĐ-CP ngày 02/4/2004 Tại Điều 24-khoản 1-Nghị định số 109/2004/NĐ-CP thể hiện "Hộ kinh doanh cá thể do một cá nhân hay một gia đình làm chủ, chỉ được kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá 10 lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh" Hiện nay theo Nghị định số 43/2010/NĐ-CP định nghĩa hộ kinh doanh do một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một nhóm người hoặc một gia đình làm chủ, chỉ được kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá 10 lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh
1.1.2 Đặc điểm của thành phần kinh tế cá thể
Thành phần kinh tế cá thể là thành phần kinh tế hoạt động sản xuất kinh doanh dựa vào vốn và sức lao động của bản thân mình là chính Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, kinh tế cá thể phát triển rất nhanh trong cả nước, hoạt động trong mọi ngành sản xuất, giao thông vận tải, thương nghiệp, ăn uống, dịch vụ Đặc điểm của thành phần kinh tế cá thể là dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, người chủ kinh doanh tự quyết định từ quá trình sản xuất kinh doanh đến phân phối tiêu thụ sản phẩm Hoạt động kinh tế cá thể mang tính tự chủ cao, tự tìm kiếm nguồn lực, vốn, sức lao động Thành phần kinh tế này rất nhạy bén trong kinh doanh, dễ dàng chuyển đổi ngành nghề kinh doanh cho phù hợp với yêu cầu của thị trường và nền kinh tế
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Thành phần kinh tế cá thể có vị trí rất quan trọng trong nhiều ngành nghề ở nông thôn và thành thị, do đó nó có khả năng đóng góp vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Những ưu thế của thành phần kinh tế
cá thể là:
Thành phần kinh tế cá thể có một tiềm năng to lớn về trí tuệ, sáng kiến, được phân bổ rộng rãi ở mọi nơi, mọi lúc Nhờ đó họ có thể phát huy được sáng kiến của mình vào việc sản xuất và tìm tòi ra những hình thức kinh doanh thích hợp với nền kinh tế mà sản xuất nhỏ còn phổ biến
Có tiềm năng về kinh nghiệm quản lý, tổ chức sản xuất, những bí quyết sản xuất truyền thống được tích lũy từ nhiều thế hệ Điều này cho phép phát huy những ngành nghề truyền thống để tạo ra những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu xã hội và xuất khẩu Nó có ý nghĩa quan trọng trong điều kiện đất nước còn thiếu vốn như hiện nay Thực tế những nước như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc đã biết vận dụng đúng đắn tiềm năng này và đã thành công trong quá trình phát triển kinh tế
Trong khi nguồn vốn của Nhà nước, của tập thể còn hạn hẹp thì nguồn vốn tiềm năng trong dân lại rất lớn Do đó, nếu có các chính sách kinh tế hợp
lý sẽ mở đường cho các hộ cá thể gia đình có khả năng bỏ vốn vào sản xuất, tiết kiệm trong tiêu dùng để tích luỹ, mở rộng tái sản xuất góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế nhanh chóng
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, khu vực kinh tế cá thể đã thu hút một lực lượng lao động đáng kể, góp phần giải quyết vấn đề việc làm cho xã hội Ở nước ta hàng năm có khoảng 1,5 đến 2 triệu người bổ sung vào lực lượng lao động, bao gồm nhiều loại hình như công nhân, kỹ sư, cử nhân kinh
tế nhưng khả năng thu hút lao động của khu vực nhà nước lại rất hạn chế, thậm chí dư thừa một số lao động hiện có do sắp xếp lại quá trình sản xuất Vì vậy, tình trạng người có sức lao động nhưng chưa có việc làm và người có việc làm nhưng chưa sử dụng hết thời gian lao động còn phổ biến Với hình
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
thức kinh doanh linh hoạt trong nhiều ngành nghề và sử dụng công nghệ - kỹ thuật thủ công, khu vực kinh tế cá thể có khả năng tận dụng lao động dôi thừa trong xã hội
Sự đa dạng trong loại hình sản xuất kinh doanh của khu vực kinh tế này cho phép tạo ra nhiều chủng loại sản phẩm, dịch vụ ở mọi nơi, mọi lúc, đáp ứng nhu cầu của xã hội, đóng vai trò vệ tinh cho các doanh nghiệp trong nền kinh tế Trên thực tế, có những ngành nghề nếu tổ chức sản xuất tập thể hoặc do Nhà nước đảm nhiệm với quy mô lớn sẽ không có hiệu quả hoặc hiệu quả thấp hơn so với việc tổ chức sản xuất nhỏ ở các hộ gia đình
Bên cạnh những ưu thế trên, thành phần kinh tế hộ cá thể cũng có một
số mặt hạn chế Đặc điểm của hộ cá thể là làm ăn riêng lẻ, rời rạc và luôn tìm mọi cách để tìm ra những chỗ sơ hở, non yếu trong quản lý kinh tế để kinh doanh trái phép, trốn lậu thuế Dưới tác động của quy luật giá trị, thành phần kinh tế này rất dễ bị phân hoá
Sự năng động của thành phần kinh tế cá thể mang tính chất tự phát theo thị trường, nếu thiếu sự định hướng thì sẽ không bao quát được nhu cầu thị trường
Để phát huy được những tiềm năng vốn có và khắc phục được những khiếm khuyết trên, cần phải tăng cường sự quản lý của Nhà nước về kinh tế đối với thành phần kinh tế cá thể thông qua công cụ pháp luật, nhằm tạo ra hành lang pháp lý và môi trường hoạt động lành mạnh, giúp thành phần kinh
tế này hoạt động có hiệu quả theo định hướng XHCN, trở thành một thành phần kinh tế trọng điểm đem lại hiệu quả kinh tế và xã hội cho đất nước
1.1.3 Vai trò của của kinh tế cá thể
Kinh tế cá thể là thành phần kinh tế dựa trên tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất và khả năng lao động của bản thân người lao động Sau hơn một thập kỷ tiến hành công cuộc đổi mới cùng với sự chuyển biến to lớn của nền kinh tế, thành phần kinh tế cá thể đã được từng bước phát triển và ngày càng khẳng định vai trò, vị trí của mình trong nền kinh tế nhiều thành phần dưới sự quản
lý của Nhà nước
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Trong những năm trước khi tiến hành công cuộc đổi mới, kinh tế cá thể được coi là đẻ ra tư bản chủ nghĩa, vì vậy luôn là đối tượng cải tạo của xã hội chủ nghĩa và không được khuyến khích phát triển
Đến Đại hội Đảng Toàn quốc Lần thứ VI, Đảng ta thực hiện đường lối đổi mới kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nền kinh tế kế hoạch sang nền kinh tế thị trường có sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, trong đó có thành phần kinh tế cá thể Chủ trương này tiếp tục được khẳng định tại Đại hội Đảng VII "Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế nhiều thành phần, thành phần kinh tế chủ yếu trong thời kỳ quá độ ở nước ta là kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế tư bản Nhà nước " Các thành phần kinh tế tồn tại khách quan tương ứng với tổ chức và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong giai đoạn hiện nay nên quan
hệ sản xuất được thiết lập từng bước từ thấp đến cao, đa dạng hoá về hình
thức sở hữu Trong đó kinh tế cá thể gồm những đơn vị kinh tế và hoạt động
sản xuất kinh doanh dựa vào vốn và sức lao động của từng hộ là chủ yếu Nếu như thành phần kinh tế quốc doanh đóng vai trò chủ đạo nắm giữ nhiều bộ phận then chốt thì thành phần kinh tế cá thể nói riêng và kinh tế ngoài quốc doanh nói chung tuy chiếm tỷ trọng nhỏ hơn nhưng ngày càng phát triển và chiếm một vị trí xứng đáng trong nền kinh tế quốc dân Kinh tế cá thể không những tạo ra một lượng sản phẩm không nhỏ trong tổng sản phẩm xã hội mà nguồn thu từ thành phần kinh tế này vào Ngân sách Nhà nước cũng chiếm một tỷ trọng tương đối lớn, đồng thời còn thu hút được một lực lượng lớn lao động nhàn rỗi đáp ứng mọi yêu cầu của xã hội mà thành phần kinh tế quốc doanh chưa đảm bảo hết, tạo thu nhập và từng bước góp phần nâng cao đời
sống của các tầng lớp nhân dân
Vì vậy, thành phần kinh tế cá thể vẫn còn tồn tại như một tất yếu khách quan, bắt nguồn từ nhu cầu sản xuất và đời sống xã hội Với quan điểm đó, hoạt động của thành phần kinh tế cá thể ngày càng trở nên quan trọng trong nền kinh tế quốc dân
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
1.2 Khái niệm, đặc điểm và chức năng của thuế
1.2.1 Khái niệm chung về thuế
Lịch sử phát triển của loài người đã chứng minh sự ra đời của thuế là một tất yếu khách quan, gắn liền với sự ra đời và phát triển của Nhà nước Để tồn tại
và phát triển, Nhà nước cần có những nguồn tài chính để chi tiêu, chi cho việc duy trì và củng cố bộ máy cai trị từ Trung ương đến địa phương thuộc phạm vi lãnh thổ mà Nhà nước đó đang cai quản Như vậy thuế luôn gắn liền với sự ra đời và phát triển của Nhà nước
Để làm rõ được bản chất của thuế thì định nghĩa về thuế phải nêu bật được các khía cạnh sau:
Thứ nhất, nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi các quan hệ
tiền tệ giữa Nhà nước với các pháp nhân và các cá thể, không mang tính hoàn trả trực tiếp
Thứ hai, Những mối quan hệ dưới dạng tiền tệ này được nảy sinh một
cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt, việc chuyển giao thu nhập có tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh của Nhà nước
Thứ ba, Các pháp nhân và thể nhân chỉ phải nộp cho Nhà nước các
khoản thuế đã được Pháp luật quy định
Qua phân tích các những quan niệm về thuế chúng ta có thể đưa ra một định nghĩa tổng quan về thuế như sau:
"Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc của các tổ chức, cá nhân cho
Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định, không mang tính chất hoàn trả trực tiếp, nhằm sử dụng cho mục đích chung của toàn xã hội"
1.2.2 Đặc điểm của thuế
- Thuế luôn gắn liền với tính quyền lực, tính pháp lý và tính cưỡng chế cao của Nhà nước, thuế công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế Tiền thuế được dùng để xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước
- Thuế là một phần thu nhập của các tầng lớp dân cư bắt buộc phải nộp cho Nhà nước, tính bắt buộc của thuế thể hiện nghĩa vụ đóng góp của mọi công
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
dân với lợi ích công cộng của toàn xã hội, tính bắt buộc được ghi nhận ở hiến pháp năm 1992 được ghi nhận ở điều 80 công nhận thuế là trách nhiệm, nghĩa vụ
và quyền lợi của công dân
- Thuế là hình thức chuyển giao thu nhập không mang tính chất hoàn trả trực tiếp và không đối giá, số tiền thuế phải nộp không gắn trực tiếp với lợi ích
cụ thể mà người nộp thuế được hưởng từ hàng hóa công cộng do nhà nước cung cấp Các tổ chức, cá nhân thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cho nhà nước mà không
có quyền đòi hỏi nhà nước phải cung cấp trực tiếp cho họ một lượng hàng hóa dịch vụ cụ thể nào đó Tuy nhiên tổ chức cá nhân có quyền nêu ý kiến của mình nếu như những gì mà họ nhận được từ sự đầu tư của nhà nước là quá thấp trong khi số thuế phải nộp của họ quá cao
Thuế là một biện pháp kinh tế của nhà nước, nó được thực thi khi hoạt động kinh tế tạo ra thu nhập hoặc sử dụng nguồn thu nhập tạo ra Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường vai trò của nhà nước ngày càng trở nên quan trọng thì vai trò của thuế cũng chiếm vị trí không thể thiếu được trong công tác quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế
1.2.3 Chức năng của thuế
- Chức năng huy động tập trung nguồn lực tài chính; đây là chức năng cơ bản của thuế, đặc trưng cho thuế ở tất cả các dạng Nhà nước trong tiến trình phát triển của xã hội Về mặt lịch sử, đây là chức năng đầu tiên, phản ánh nguyên nhân sự ra đời của thuế Thông qua chức năng này các quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước được hình thành để đảm bảo cơ sở vật chất cho sự tồn tại
và hoạt động của Nhà nước Chức năng huy động tập trung nguồn lực tài chính tạo ra những tiền đề khách quan cho sự can thiệp của Nhà nước và nền kinh tế Bằng chính chức năng này, Nhà nước tiến hành tham gia phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân trong xã hội Chức năng phân phối và phân phối lại thu nhập của thuế là sự huy động một bộ phận thu nhập quốc dân dưới hình thức tiền tệ vào ngân sách Nhà nước Phần lớn thuế
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
đánh trên hàng hóa và thu nhập Người có thu nhập cao và sử dụng nhiều hàng hóa, dịch vụ là người nộp thuế nhiều hơn Số tiền này sau đó lại được Nhà nước chi ra nhằm thực hiện chính sách kinh tế-xã hội, tạo ra tính công bằng tương đối cho xã hội Trong một chừng mực nhất định, chức năng phân phối và phân phối lại đã tạo điều kiện cho sự ra đời và phát huy tác dụng chức năng điều tiết của thuế
- Chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế; trong quá trình thực hiện chức năng huy động tập trung nguồn lực tài chính đã tự động làm xuất hiện chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế của thuế Nhà nước quản lý, điều tiết vĩ mô niền kinh tế-xã hội bằng nhiều biện pháp như giáo dục, hành chính, luật pháp
và kinh tế, trong đó biện pháp kinh tế làm gốc Nhà nước cũng sử dụng nhiều công cụ để quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế như các công cụ tài chính, tiền
tệ, tín dụng Trong đó thuế là một công cụ thuộc lĩnh vực tài chính và là một trong những công cụ sắc bén nhất được Nhà nước sử dụng để điều tiết vĩ mô nền kinh tế Trong nền kinh tế thị trường, mọi tổ chức, cá nhân có quyền kinh doanh bất kỳ ngành nghề, mặt hàng nào mà Nhà nước không cấm, miễn là họ phải đăng ký kinh doanh và hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế theo quy định của pháp luật Bằng việc ban hành hệ thống pháp luật về thuế, Nhà nước quy định đánh thuế hoặc không đánh thuế, đánh thuế với thuế suất cao hay thuế suất thấp, có chính sách ưu đãi, miễn, giảm thuế đối với ngành nghề, mặt hàng và địa bàn kinh doanh cụ thể Thông qua đó mà tác động làm thay đổi mối quan
hệ giữa cung và cầu trên thị trường, góp phần điều tiết vĩ mô nền kinh tế, đảm bảo sự cân đối trong cơ cấu kinh tế giữa các ngành và các vùng lãnh thổ Ngoài ra, Nhà nước còn sử dụng thuế để tác động trực tiếp lên các yếu tố đầu vào của sản xuất như lao động, vật tư, tiền vốn nhằm điều tiết hoạt động kinh
tế trong nước Nhà nước cũng sử dụng thuế để tác động và hoạt động xuất nhập khẩu nhằm thực hiện chính sách thương mại quốc tế và hội nhập kinh tế
Giữa hai chức năng trên của thuế có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau Chức năng phân phối và phân phối lại của thuế là nguyên nhân ảnh
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
hưởng đến sự vận động và phát triển của chức năng điều tiết Nhưng chức năng điều tiết của thuế cũng có tác động ngược lại đến chức năng phân phối
và phân phối lại thu nhập Nguồn tài chính mà Nhà nước tập trung được dưới dạng thuế là tiền đề của sự can thiệp của Nhà nước trên diện rộng và theo chiều sâu tới quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Ngược lại, việc điều tiết, sắp xếp sản xuất của Nhà nước nhằm vào việc thúc đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế lại tạo điều kiện để tăng thu nhập của các tầng lớp nhân dân và đây chính là cơ sở quan trọng để mở rộng phạm vi tác động của chức năng phân phối và phân phối lại
Sự thống nhất nội tại của các chức năng hoàn toàn không loại trừ các mâu thuẩn nội tại trong mỗi chức năng và giữa hai chức năng Sự tăng cường chức năng phân phối và phân phối lại làm cho nguồn thu của Nhà nước tăng lên Ðiều
đó có nghĩa là mở rộng khả năng của Nhà nước trong việc thực hiện các chương trình kinh tế xã hội Mặt khác, việc tăng cường chức năng phân phối và phân phối lại một cách quá mức sẽ làm tăng gánh nặng thuế và hậu quả là làm giảm động lực phát triển kinh tế, trong nhiều trường hợp làm hạn chế vai trò của chức năng điều tiết Ðó là tính hai mặt của thuế, nó có khả năng làm ảnh hưởng đến nền kinh tế một cách tích cực, nhưng cũng có thể ảnh hưởng một cách tiêu cực Tính hai mặt của sự tác động đó cần phải được xem xét nghiêm túc kỹ lưỡng trong tiến trình hoạch định, xây dựng, ban hành các chính sách pháp luật về thuế của Nhà nước trong từng giai đoạn phát triển kinh tế-xã hội nhất định
1.3 Chính sách thuế chủ yếu áp dụng đối với hộ kinh doanh
Sau khi thực hiện chương trình cải cách thuế bước hai, nếu không kể các khoản thu về tiền sử dụng đất và thu lệ phí trước bạ, các loại phí, lệ phí, hiện nay hệ thống thuế của nước ta bao gồm 9 sắc thuế, trong đó các sắc thuế chủ yếu áp dụng đối với hộ KD gồm:
1.3.1 Thuế môn bài
Trong hệ thống thuế ở Việt Nam, thuế môn bài là một sắc thuế trực thu rất quen thuộc với quần chúng, là thuế đăng ký kinh doanh được tính theo năm, mức thuế được áp dụng theo số tuyệt đối căn cứ vào loại hình doanh
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
nghiệp Đối với hộ kinh doanh, mức thuế môn bài được áp dụng 6 mức từ 50.000 đồng/năm đến 1.000.000 đồng/năm căn cứ vào mức thu nhập tháng của hộ kinh doanh Hộ ra kinh doanh vào thời gian 6 tháng đầu năm thì nộp mức thuế môn bài cả năm, của 6 tháng cuối năm thì nộp 50% mức thuế môn bài cả năm Hộ đang kinh doanh thì nộp thuế môn bài ngay tháng đầu của năm dương lịch, hộ mới ra kinh doanh thì nộp thuế môn bài ngay trong tháng bắt đầu kinh doanh
Mặc dù số thu hàng năm của thuế môn bài luôn giữ một địa vị khiêm nhường so với số thu các loại thuế khác nhưng đây lại là một tài nguyên tương đối vững chắc cho ngân sách Nhà nước, đáp ứng kịp thời nhu cầu chi tiêu của Nhà nước ngay từ đầu mỗi năm khi các nguồn thu khác chưa nhiều Một ưu điểm quan trọng nhất của thuế môn bài là nó có giá trị chỉ dẫn cho thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt Mọi
tổ chức, cá nhân muốn kinh doanh đều phải đăng ký kinh doanh và nộp thuế môn bài Vì thế, thuế môn bài có tác dụng kiểm kê, kiểm soát, các cơ sở kinh doanh nhằm hỗ trợ cho việc hành thu các loại thuế có số thu cao như thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế giá trị gia tăng
Bảng 1.1 Biểu thuế môn bài
Bậc thuế Thu nhập/tháng (đồng) Mức thuế cả năm
(Nguồn: Thông tư số 96/2002/TT-BTC ngày 24/10/2002 của Bộ Tài chính)
1.3.2 Thuế giá trị gia tăng (GTGT)
Thuế giá trị gia tăng là loại thuế gián thu đánh vào phần giá trị tăng
thêm của các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Về đối tượng nộp thuế GTGT là tất cả các hộ có hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế
Các hộ kinh doanh áp dụng đồng thời cả hai phương pháp tính thuế GTGT là: phương pháp khấu trừ và phương pháp tính thuế trực tiếp trên GTGT
Phương pháp khấu trừ: áp dụng đối với các hộ kinh doanh lớn chấp
hành đầy đủ chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ mua bán hàng hoá, hạch toán được cả đầu vào, đầu ra
Số thuế GTGT phải nộp = Thuế GTGT đầu ra - Thuế GTGT đầu vào
Khối lượng hàng hoá bán ra
Thuế suất thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ tương ứng
Thuế GTGT đầu vào là số thuế được ghi trên hoá đơn mua hàng của hàng hoá, dịch vụ mà hộ đó mua vào
Phương pháp trực tiếp: Theo phương pháp này có ba hình thức
khác nhau
Đối với hộ kinh doanh đã thực hiện đầy đủ chế độ hoá đơn, chứng từ theo quy định: Hàng hoá dịch vụ mua vào và bán ra đều có hoá đơn, chứng từ hợp lệ thì:
Thuế GTGT phải nộp =
GTGT của hàng hoá, dịch vụ Thuế suất thuế
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Đối với hộ kinh doanh đã thực hiện chế độ lập hoá đơn, chứng từ khi bán hàng hoá, dịch vụ nhưng không có đủ hoá đơn, chứng từ đối với hàng hoá, dịch vụ mua vào thì:
Thuế GTGT
phải nộp = Doanh số bán ra Tỷ lệ GTGT Thuế suất thuế
GTGT tương ứng Đối với hộ kinh doanh không thực hiện chế độ kế toán, chế độ lập hoá đơn, chứng từ khi mua bán hàng hoá, dịch vụ: Về nguyên tắc, những hộ loại này thường là những hộ kinh doanh nhỏ, bán lẻ và kinh doanh nhiều mặt vụn vặt, hàng bán có thể không có hoá đơn, chứng từ (vì chi phí cho hoá đơn chứng từ chiếm tỷ lệ cao trong doanh số) Những hộ này nộp thuế GTGT như sau:
Thuế GTGT
phải nộp = Doanh số ấn định Tỷ lệ GTGT Thuế suất thuế
GTGT Gần đây, luật thuế GTGT có một số sửa đổi:
Áp dụng một phương pháp tính thuế là phương pháp khấu trừ thuế Các đối tượng nộp thuế không đủ điều kiện áp dụng phương pháp khấu trừ thuế thì nộp thuế theo một tỷ lệ % trên doanh thu
Tỷ lệ % để tính thuế giá trị gia tăng được quy định như sau:
Phân phối, cung cấp hàng hoá: 1%;
Dịch vụ, xây dựng không bao thầu nguyên vật liệu: 5%;
Sản xuất, vận tải, dịch vụ có gắn với hàng hoá, xây dựng có bao thầu nguyên vật liệu: 3%;
Hoạt động kinh doanh khác: 2%
1.3.3 Thuế thu nhập cá nhân (TNCN)
Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập chính đáng của từng cá nhân Do là thuế trực thu nên nó phản ánh sự đồng nhất giữa đối tượng nộp thuế theo luật và đối tượng chịu thuế theo ý nghĩa kinh tế Người chịu thuế thu nhập cá nhân không có khả năng chuyển giao gánh nặng thuế khoá sang cho các đối tượng khác tại thời điểm đánh thuế
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Cách tính thuế TNCN:
Thuế thu nhập cá nhân (thuế TNCN) đối với thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công là tổng số thuế được tính theo từng bậc thu nhập và thuế suất tương ứng theo biểu luỹ tiến từng phần, trong đó số thuế tính theo từng bậc thu nhập được xác định bằng thu nhập tính thuế thu nhập cá nhân của bậc thu nhập nhân (x) với thuế suất tương ứng của bậc thu nhập đó
Bảng 1.2 Thuế suất thuế lũy tiến từng phần Bậc thuế
Phần thu nhập tính thuế/ năm (triệu đồng)
Phần thu nhập tính thuế/ tháng (triệu đồng)
Thuế suất (%)
(Nguồn: Điều 22- Luật thuế TNCN số 04/2007/QH12, ngày 21/11/2007)
Bảng 1.3 Biểu thuế suất thuế TNCN toàn phần
Phần thu nhập tính thuế Thuế suất
(%)
b) Thu nhập từ bản quyền, nhượng quyền thương mại 5
đ) Thu nhập từ chuyển nhượng vốn quy định tại khoản 1, Điểu
Thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán quy định tại khoản 2,
e) Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản quy định tại khoản
Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản quy định tại khoản 2,
(Nguồn: Điều 23- Luật thuế TNCN số 04/2007/QH12, ngày 21/11/2007)
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
1.4 Quản lý thuế đối với hộ kinh doanh
1.4.1 Khái niệm, mục tiêu, yêu cầu của quản lý thuế
1.4.1.1 Khái niệm về quản lý thuế
Quản lý thuế là việc cơ quan thuế dùng các biện pháp hành chính của mình tuyên truyền, phổ biến, tác động đến ĐTNT để theo dõi việc thực hiện nghĩa vụ thuế của các tổ chức, cá nhân thuộc ĐTNT theo các Luật quy định
hiện hành để tạo nguồn thu cho NSNN
- Cơ quan quản lý thuế bao gồm: Cơ quan Thuế và Hải quan, trong đó: + Cơ quan Thuế gồm: Tổng cục thuế, Cục thuế, Chi cục thuế
+ Cơ quan Hải quan gồm: Tổng cục hải quan, Cục hải quan, Chi cục hải quan
- Công chức quản lý thuế bao gồm công chức thuế và công chức hải quan
- Cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến việc thực hiện pháp luật về thuế
1.4.1.2 Mục tiêu quản lý thuế
Công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh nhằm đạt được các mục đích cơ bản sau:
Tăng thu cho ngân sách Nhà nước
Ở nước ta, số thu bằng thuế hàng năm chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng số thu của NSNN Số thuế thu được từ khu vực kinh tế cá thể tuy chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng thu nhập ngân sách nhưng đây lại là lĩnh vực phức tạp, khó quản lý Vì vậy, làm tốt công tác quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh sẽ có tác dụng động viên, tăng thu cho NSNN
Thực hiện vai trò quản lý của Nhà nước đối với khu vực kinh tế này Vai trò của thuế mang tính toàn diện trên nhiều lĩnh vực Song, những vai trò đó không mang tính khách quan, mà nó là kết quả của những tác động
từ phía con người Những tác động này được thực hiện thông qua những nội dung, những công việc cụ thể của công tác quản lý thuế
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Tăng cường ý thức chấp hành pháp luật cho các hộ kinh doanh
Qua công tác tổ chức thực hiện và kiểm tra, thanh tra việc chấp hành các luật thuế cùng với việc tăng cường tính pháp chế của các luật thuế, ý thức chấp hành các luật thuế được nâng cao, từ đó tạo thói quen "Sống và làm việc theo pháp luật" trong mọi tầng lớp nhân dân
1.4.1.3 Yêu cầu của công tác quản lý thuế
Yêu cầu của công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh có thể khái quát như sau:
Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục sâu rộng thường xuyên các luật thuế
và các văn bản dưới luật để đối tượng nộp thuế hiểu và tự giác chấp hành
Tận thu, khai thác triệt để các nguồn thu, kết hợp nuôi dưỡng nguồn thu: Thu hết số thuế ghi thu, không để nợ đọng
Kiểm tra, giám sát chặt chẽ hộ nghỉ kinh doanh
Quản lý hết các đối tượng tham gia sản xuất, kinh doanh (gồm cố định
có cửa hàng - cửa hiệu và đối tượng kinh doanh vãng lai)
Quản lý sát doanh thu thực tế của đối tượng nộp thuế (thường xuyên kiểm tra sổ sách kế toán, hoá đơn, chứng từ ., rà soát điều chỉnh thuế hộ khoán ổn định)
Phải thực hiện đầy đủ, đúng quy trình nghiệp vụ của ngành đã đề ra cho từng loại đối tượng kinh doanh
1.4.2 Các nội dung của quản lý thuế đối với hộ kinh doanh
1.4.2.1 Quản lý các thủ tục hành chính thuế
Các hộ kinh doanh sau khi được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh có trách nhiệm liên hệ với cơ quan thuế để làm thủ tục đăng ký thuế Các hộ mới ra kinh doanh lần đầu phải tiến hành kê khai đăng ký thuế để được cấp mã số thuế Các hộ trước đó đã được cấp mã số thuế nhưng nghỉ kinh doanh dài hạn, sau đó lại ra kinh doanh lại vẫn phải thực hiện đăng ký nộp thuế lại với cơ quan thuế, nhưng không cấp mã số thuế mới Đội thuế có trách nhiệm phối hợp với Chính quyền địa phương và Hội đồng tư vấn
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
thuế của các xã-thị trấn để điều tra số hộ có sản xuất, kinh doanh trên địa bàn mình quản lý để nắm bắt tình hình hoạt động của các hộ kinh doanh Kịp thời cập nhật số hộ mới ra kinh doanh, số hộ nghỉ kinh doanh, số hộ di chuyển địa điểm kinh doanh để đốn đốc đăng ký thuế Đối với hộ mới ra kinh doanh, Đội thuế cấp phát tờ khai đăng ký thuế và hướng dẫn cách kê khai để ĐTNT kê khai đăng ký thuế với cơ quan thuế Đội thuế có trách nhiệm nhận tờ khai đăng
ký thuế của các ĐTNT Tiến hành kiểm tra các chỉ tiêu kê khai và trực tiếp liên
hệ với ĐTNT chỉnh sửa tờ khai đăng ký thuế nếu có lỗi Qua kiểm tra tờ khai đăng ký thuế, nếu phát hiện ĐTNT chưa có giấy phép đăng ký kinh doanh thì
đề nghị ĐTNT lập thủ tục đăng ký kinh doanh hoặc phối hợp với các cơ quan liên quan xử phạt hành chính Đối với các hộ mới ra kinh doanh lần đầu thì các Đội thuế lập Bảng kê kèm theo tờ khai chuyển về Đội KK-KTT soát xét lại trước khi cấp mã số thuế Đối với các tờ khai đăng ký thuế đã có mã số thuế thì Đội KK-KTT ghi bổ sung sổ danh bạ để đưa vào danh sách lập bộ thuế Đội KK-KTT của Chi cục thuế căn cứ vào danh sách các ĐTNT được cấp mã số thuế để lập sổ danh bạ thuế theo mẫu quy định Sổ này được cập nhật thường xuyên khi có phát sinh các hộ kinh doanh được cấp mã số thuế và các hộ nghỉ,
bỏ kinh doanh Đội KK-KTT có trách nhiệm lưu giữ các tờ khai đăng ký thuế của các ĐTNT theo từng địa bàn và Đội thuế Đăng ký thuế lưu theo thời gian hoạt động của ĐTNT, chỉ huỷ sau khi ĐTNT nghỉ kinh doanh trên 5 năm Đội KK-KTT chuyển các Giấy chứng nhận đăng ký thuế cùng bảng kê danh sách các đối tượng được cấp mã số thuế cho các Đội thuế để làm cơ sở thu thuế Đội thuế có trách nhiệm lập sổ theo dõi việc phát Giấy chứng nhận đăng ký thuế, sau đó tiến hành phát Giấy chứng nhận đăng ký thuế cho ĐTNT Khi phát giấy chứng nhận cho ĐTNT, cán bộ Đội thuế có trách nhiệm hướng dẫn ĐTNT các thủ tục nộp thuế và việc sử dụng mã số thuế
Thông qua các thủ tục, hồ sơ đăng ký thuế, cơ quan thuế tiến hành thực hiện việc quản lý thông tin về NNT Các thông tin về người nộp thuế được cơ quan thuế cập nhật vào CSDL để phục vụ cho công tác quản lý thu thuế bao gồm:
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
+ Tên doanh nghiệp hoặc tên Hộ kinh doanh
+ Loại hình doanh nghiệp
+ Họ và tên Chủ doanh nghiệp, chủ hộ kinh doanh
+ Địa chỉ, số điện thoại, số fax
+ Thời điểm bắt đầu kinh doanh
+ Ngành nghề kinh doanh, sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ kinh doanh + Mã số thuế
+ Số Tài khoản
+ Tình trạng ngưng, nghỉ kinh doanh
+ Tình hình biến động doanh số
+ Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh hàng năm
+ Tình hình thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đối với ngân sách Nhà nước hàng năm
+ Báo cáo quyết toán thuế hàng năm
1.4.2.2 Giám sát tuân thủ pháp luật về thuế
Quản lý thuế được quy định tại Điều 4- Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006 cụ thể như sau:
- Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước Nộp thuế theo quy định của pháp luật là nghĩa vụ và quyền lợi của mọi tổ chức, cá nhân Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tham gia quản lý thuế
- Việc quản lý thuế được thực hiện theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan
- Việc quản lý thuế phải đảm bảo công khai, minh bạch, bình đẳng, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người nộp thuế
1.4.2.3 Thực hiện các biện pháp chế tài
Ðối tượng nộp thuế là các pháp nhân và thể nhân có nghĩa vụ phải nộp thuế cho Nhà nước khi có các điều kiện được quy định trong các Luật thuế
Theo quy định tại khoản 1-Điều 2 của Luật quản lý thuế, người nộp thuế bao gồm:
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
- Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nộp thuế theo quy định của pháp luật
- Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nộp các khoản thu khác thuộc ngân sách Nhà nước (sau đây gọi chung là thuế) do cơ quan quản lý thuế quản lý thu theo quy định của pháp luật
- Tổ chức, cá nhân khấu trừ thuế, tổ chức, cá nhân làm thủ tục về thuế thay người nộp thuế
Trong một sắc thuế bao giờ cũng quy định cụ thể chủ thể nào có nghĩa
vụ phải nộp thuế Theo thuật ngữ chuyên ngành về thuế, chủ thể chịu sự điều chỉnh của một sắc thuế thường được gọi là đối tượng nộp thuế Đối tượng nộp thuế thể hiện phạm vi áp dụng của một chính sách thuế cụ thể Trong thực tế,
có những đối tượng nộp thuế chỉ kê khai và nộp một loại thuế, nhưng cũng có những đối tượng nộp thuế, trong cùng một thời gian phải kê khai và nộp nhiều loại thuế khác nhau
Đối tượng nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế là thể nhân hoặc pháp nhân có trách nhiệm trực tiếp nộp thuế cho Nhà nước Người có trách nhiệm nộp thuế theo pháp luật quy định không nhất thiết là người phải chịu thuế Trong nhiều trường hợp người có trách nhiệm nộp thuế cũng chính
là người chịu thuế khi trong sắc thuế đó người nộp thuế không có khả năng chuyển giao nghĩa vụ nộp thuế cho người khác
Đối tượng chịu thuế là đối tượng được đưa ra đánh thuế Đối tượng chịu thuế thường được xác định là thu nhập, hàng hóa hay tài sản Mỗi một sắc thuế có một đối tượng chịu thuế riêng, thông thường tên gọi của một sắc thuế bắt nguồn từ đối tượng chịu thuế của sắc thuế đó
1.4.2.4 Các hoạt động hỗ trợ quản lý thuế
* Bộ thuế
Bộ thuế là một bảng tổng hợp được lập ra để theo dõi và quản lý các
đối tượng nộp thuế Nếu phân loại dựa theo kỳ lập bộ thì Bộ thuế gồm có Bộ
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
thuế tháng, Bộ thuế quý và Bộ thuế năm Bộ thuế tháng dùng để quản lý số thuế mà các ĐTNT thực hiện trong một tháng, Bộ thuế quý dùng để quản lý
số thuế mà các ĐTNT thực hiện trong một quý và Bộ thuế năm dùng để quản
lý số thuế mà các ĐTNT thực hiện trong một năm Ngoài ra bộ thuế còn được lập để theo dõi chi tiết cho từng loại thuế như Bộ thuế môn bài, Bộ thuế GTGT, Bộ thuế TNCN, Bộ thuế SDĐ phi nông nghiệp,……
* Tính thuế và lập bộ thuế
+ Đối với các hộ kinh doanh còn trong thời hạn ổn định thuế: Đội
KK-KTT thực hiện chuyển sổ, giữ nguyên mức doanh số, thuế và tính tiền nợ, tiền phạt (nếu có) ngay từ đầu tháng, sau đó, thực hiện in thông báo thuế Đội KK-KTT chịu trách nhiệm về độ chính xác về việc tính nợ, phạt nộp chậm nếu có
+ Đối với các hộ kinh doanh mới phát sinh hoặc hết hạn ổn định thuế:
Đội KK-KTT căn cứ vào bảng dự kiến doanh số ấn định của từng hộ kinh doanh mới phát sinh hoặc hết hạn ổn định thuế (nếu có), dựa vào bảng tỷ lệ GTGT, bảng tỷ lệ thu nhập chịu thuế và thuế suất để tính thuế cho từng hộ kinh doanh này Đồng thời tính nợ thuế và phạt nộp chậm (nếu có) đối với các
hộ kinh doanh hết hạn ổn định
Đội KK-KTT và Đội kiểm tra Chi cục thuế có trách nhiệm theo dõi việc nộp thuế của các hộ kinh doanh, qua đó đề xuất danh sách các hộ kinh doanh bị phạt hành chính thuế do vi phạm các quy định trong quá trình nộp thuế Dự thảo quyết định phạt hành chính thuế trình Lãnh đạo Chi cục thuế ký ban hành Quyết định xử phạt được chuyển đến tổ Hành chính để sao thành 3 bản Một bản được gửi cho đối tượng nộp thuế để thực hiện, một bản lưu tại tổ Hành chính và một bản được chuyển đến Đội KK-KTT để làm căn cứ điều chỉnh số thuế phải nộp trong kỳ lập bộ
Đội KK-KTT lập sổ bộ thuế của các ĐTNT mới phát sinh trình Lãnh đạo Chi cục duyệt Riêng tháng lập bộ có cả các hộ kinh doanh hết hạn ổn định thuế thì sổ bộ thuế phải đưa ra Hội đồng duyệt bộ của Chi cục xem xét
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Nội dung duyệt bộ gồm các việc như xem xét số hộ kinh doanh ghi sổ
bộ thuế bao gồm hộ kinh doanh mới phát sinh, hộ kinh doanh hết hạn ổn định thuế, mức doanh số và số thuế phải nộp của từng hộ kinh doanh, xác định thời hạn ổn định thuế cho từng hộ kinh doanh, xem xét các trường hợp đề nghị miễn thuế, nghỉ kinh doanh, xem xét kết quả kiểm tra các hộ kinh doanh miễn thuế và nghỉ kinh doanh Sau khi Hội đồng duyệt bộ thuế xem xét cho ý kiến, Đội KK-KTT điều chỉnh lại sổ bộ thuế và trình Lãnh đạo Chi cục duyệt
Sau khi lãnh đạo duyệt sổ bộ thuế, các đội thuế thực hiện niêm yết công khai hoá mức thuế của các hộ kinh doanh này tại trụ sở UBND xã-thị trấn để các ĐTNT được biết
* Xử lý tờ khai
Các hộ kinh doanh nộp thuế theo phương pháp trực tiếp trên GTGT phải lập và gửi tờ khai thuế GTGT chậm nhất là ngày 20 hàng tháng, lập
và gửi tờ khai thuế TNCN của quý chậm nhất ngày 30 của tháng đầu quý
tiếp theo Các hộ kinh doanh nộp thuế theo phương pháp trực tiếp trên
doanh số bán ra thì lập và gửi tờ khai thuế GTGT và TNCN theo tháng Hạn nộp tờ khai thuế GTGT chậm nhất là 20 ngày, tờ khai thuế TNCN
của quý chậm nhất ngày 30 của tháng đầu quý tiếp theo
Đội thuế có trách nhiệm nhận và kiểm tra tờ khai để phát hiện các sai sót trong quá trình ĐTNT lập tờ khai đơn cử như:
+ Ghi sai tên ĐTNT
+ Không ghi mã số thuế của ĐTNT
+ Khai thiếu chỉ tiêu hoặc sai mẫu tờ khai
+ Áp thuế suất sai, tính toán sai
+ Các chỉ tiêu bằng ngoại tệ chưa quy đổi ra tiền Việt Nam
Trong quá trình kiểm tra Tờ khai của các ĐTNT, nếu có phát hiện lỗi Đội thuế cử cán bộ trực tiếp liên hệ với ĐTNT để chỉnh sửa lỗi Sau khi kiểm tra tờ khai Đội thuế tiến hành phân loại và đóng tập tờ khai theo ngày kiểm tra Đối với các trường hợp nghi ngờ kê khai không đúng, Đội thuế có trách
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
nhiệm đề nghị Đội kiểm tra tiến hành kiểm tra thực tế Kết quả kiểm tra phải được lập biên bản và gửi Đội KK-KTT làm căn cứ tính thuế ấn định Việc ấn định dựa trên cơ sở kết quả điều tra doanh số và số thuế tương đương với các ĐTNT khác có cùng quy mô và ngành nghề kinh doanh
Nếu sau khi đã phát hành thông báo thuế, ĐTNT mới nộp tờ khai, thì
cơ quan thuế không sửa lại số liệu đã ấn định thuế Đội thuế chuyển tờ khai nộp chậm cho Đội KK-KTT Đội KK-KTT so sánh số thuế kê khai trên tờ khai với thông báo thuế đã phát hành Số thuế chênh lệch sẽ được tính điều chỉnh vào số thuế phải nộp của kỳ thuế tiếp sau
* Xét miễn, giảm thuế đối với các hộ kinh doanh
Theo quy định hiện hành cá nhân, các hộ kinh doanh có thu nhập bình quân tháng trong năm của mỗi người lao động dưới mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định đối với công chức Nhà nước thì được miễn thuế GTGT và
Cơ quan thuế trực tiếp quản lý sau khi thông qua Hội đồng tư vấn thuế cùng cấp ra thông báo miễn thuế, giảm thuế hoặc lý do từ chối đề nghị miễn thuế, giảm thuế
Đội thuế có trách nhiệm tập hợp các đơn nghỉ và đơn đề nghị miễn, giảm thuế để chuyển danh sách đơn cho Đội kiểm tra của Chi cục thuế Đội kiểm tra của Chi cục thuế phối hợp với các Đội thuế tiến hành kiểm tra các hộ
có đơn nghỉ kinh doanh Sau khi kiểm tra, Đội kiểm tra phải lập danh sách các
hộ kinh doanh thực nghỉ kinh doanh trước ngày 10 của tháng để ra quyết định miễn, giảm Trường hợp các hộ kinh doanh nghỉ vì các lý do đột xuất ngoài
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
dự kiến thì Đội thuế lập danh sách thông báo cho Đội KK-KTT để tính giảm thuế, đồng thời gửi danh sách cho Đội kiểm tra để tiến hành kiểm tra sau Các tháng trước hoặc sau Tết nguyên đán, nếu số hộ có đơn nghỉ kinh doanh quá nhiều, Đội kiểm tra không kiểm tra xong trước ngày 10 thì Đội kiểm tra phải lập danh sách các hộ đã kiểm tra và chưa kiểm tra cho Đội KK-KTT để tính giảm thuế, sau đó tiếp tục tiến hành kiểm tra sau và thông báo kết quả kiểm tra cho Đội KK-KTT
Đội kiểm tra phối hợp với các đội thuế kiểm tra xác minh thu nhập thực
tế đạt được trong quá trình kinh doanh của đối tượng nộp thuế có đơn đề nghị miễn thuế Sau đó, chuyển kết quả kiểm tra cho Đội KK-KTT Đội KK-KTT xem xét các trường hợp đề nghị miễn thuế, kết quả kiểm tra đối chiếu với các quy định trong chính sách, chế độ về miễn thuế Nếu thủ tục hợp lệ và đúng diện được miễn thuế thì Đội KK-KTT làm thủ tục trình lãnh đạo Chi cục thuế
ra quyết định miễn, giảm
Kết quả duyệt sẽ được chuyển về Đội KK-KTT để điều chỉnh miễn, giảm thuế Đội thuế phải quản lý biến động về hoạt động kinh doanh của các đối tượng trong thời gian miễn thuế để phát hiện kịp thời các đối tượng có thay đổi thu nhập kinh doanh tăng vượt quá mức được miễn thuế để yêu cầu đưa các đối tượng này vào diện nộp thuế
1.4.3 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả quản lý thuế
1.4.3.1 Kết quả thực hiện dự toán thu thuế
Các hộ kinh doanh có trách nhiệm kê khai lập quyết toán thuế để nộp
cơ quan thuế chậm nhất là 60 ngày kể từ khi kết thúc năm dương lịch Đội thuế có trách nhiệm nhận hồ sơ quyết toán, kiểm tra thủ tục kê khai trên tờ khai quyết toán, sau đó chuyển cho Đội KK-KTT xem xét để xác định số thuế phải nộp và thực nộp trong năm, số thuế nộp thừa, nộp thiếu… Trong quá trình xem xét, nếu phát hiện nghi ngờ về tờ khai quyết toán, Đội KK-KTT thông báo cho NNT hoặc Đội Kiểm tra xác minh tại cơ sở Kết quả xác định
sẽ được Đội KK-KTT điều chỉnh số thuế trong kỳ thuế hiện tại
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
1.4.3.2 Quản lý người nộp thuế, doanh thu, thu nhập
+ Nộp thuế: ĐTNT căn cứ vào thông báo thuế để nộp thuế trực tiếp tại KBNN, Ngân hàng hoặc nộp tiền thuế cho cán bộ thuế để cán bộ thuế nộp vào KBNN
+ Thu thuế tại kho bạc: Kho bạc, Ngân hàng thu thuế của NNT trực tiếp và của cán bộ thuế bằng tiền mặt hoặc Ngân hàng thực hiện trích chuyển
từ tài khoản của các NNT tại Ngân hàng để nộp thuế vào NSNN Kho bạc có trách nhiệm ghi ngày nộp tiền, số tiền nộp và hạch toán chương loại, khoản mục tương ứng với từng nội dung của khoản thuế trên giấy nộp tiền Đồng thời xác nhận vào giấy nộp tiền và chuyển một liên cho cơ quan thuế để làm
cơ sở theo dõi và tổng hợp báo cáo
+ Theo dõi tình hình nộp thuế: Hàng ngày Đội KK-KTT nhận bảng kê
và giấy nộp tiền từ Kho bạc để chấm sổ bộ thuế, theo dõi tình hình nộp thuế
và nợ đọng thuế Lập báo cáo số thu trình Lãnh đạo Chi cục và cung cấp cho các đội thuế và Đội quản lý nợ để nhắc nhở, đôn đốc hoặc kiểm tra các ĐTNT chưa nộp hoặc nộp thiếu tiền thuế
+ Lập báo cáo kế toán, thống kê: Định kỳ theo quy định Đội KK-KTT lập các báo cáo kế toán, thống kê theo chế độ để gửi Lãnh đạo Chi cục và cấp trên để phục vụ cho công tác chỉ đạo thu
Qua công tác nắm bắt địa bàn, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh
và các thông tin kê khai đăng ký thuế của các ĐTNT, Đội thuế tiến hành sắp xếp phân loại các hộ kinh doanh theo ngành nghề kinh doanh, mặt hàng kinh
doanh, quy mô kinh doanh theo phương pháp tính thuế
Đội thuế hướng dẫn các thủ tục kê khai thuế cho các hộ mới ra kinh doanh nộp thuế theo phương pháp ấn định thuế và các hộ kinh doanh sắp hết hạn ổn định thuế (kê khai dự kiến doanh số trung bình hàng tháng cho thời gian
ổn định thuế tới)
Thời hạn ổn định thuế cho các hộ nộp thuế theo phương pháp ấn định thuế được quy định thống nhất là 1 năm Các hộ mới phát sinh kinh doanh
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
trong các tháng thì sẽ được tính thời hạn ổn định thuế lần đầu bằng số tháng tính từ tháng bắt đầu kinh doanh đến tháng tháng 12 kế cận
Trước tháng 6 và tháng 12 Đội thuế chọn mẫu mỗi ngành nghề, mỗi loại hộ một số hộ điển hình để trực tiếp điều tra hoặc phối hợp với Hội đồng tư vấn thuế, xã-thị trấn tổ chức điều tra xác định doanh số điển hình để làm căn cứ tham khảo khi xác định doanh số chung của các hộ Hàng tháng Đội thuế tổ chức điều tra tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của các hộ mới ra kinh doanh Việc điều tra doanh số của các hộ có sự tham gia của đại diện Hội đồng tư vấn thuế xã- thị trấn (không để một cán bộ thuế làm để tránh tiêu cực)
Sau khi điều tra, đội thuế lập danh sách các hộ kinh doanh và mức doanh số ấn định dự kiến để thực hiện công khai và chuyển cho Hội đồng tư vấn thuế xem xét trước ngày 15 của tháng
Đội thuế có trách nhiệm niêm yết danh sách dự kiến doanh số ấn định của các hộ mới ra kinh doanh và các hộ phải điều chỉnh doanh số khi hết hạn
ổn định thuế tại trụ sở UBND phường, xã, thị trấn thuộc địa bàn quản lý Đồng thời tiến hành thu thập ý kiến đóng góp và thắc mắc của các hộ kinh doanh để phân tích và xem xét lại mức doanh số dự kiến ấn định của từng hộ Nếu cần thiết có thể tiến hành điều tra lại để đảm bảo mức doanh số ấn định sát với thực tế kinh doanh
Đội thuế tham khảo ý kiến của Hội đồng tư vấn thuế về danh sách và
dự kiến mức doanh thu ấn định Đồng thời có trách nhiệm giải thích cơ sở của việc điều tra xác định doanh số và giải thích các mức doanh số dự kiến của từng ngành hàng, từng hộ Sau khi thảo luận, thống nhất mức doanh thu ấn định cho từng hộ kinh doanh thì đội thuế chuyển kết quả dự kiến doanh số ấn định về Chi cục Thuế để làm căn cứ tính thuế Những trường hợp không thống nhất được, Đội thuế tập hợp để báo cáo Lãnh đạo Chi cục thuế quyết định theo thẩm quyền
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Đội KK-KTT của Chi cục thuế có trách nhiệm kiểm tra lại kết quả ấn định doanh số của các hộ kinh doanh, trao đổi lại với các Đội thuế hoặc phối hợp với Đội kiểm tra điều tra lại doanh số của một số trường hợp để điều chỉnh một số mức doanh số dự kiến cho hợp lý hơn và cân đối giữa các địa bàn quản lý hoặc theo yêu cầu chỉ đạo của Lãnh đạo Chi cục Kết quả điều chỉnh mức dự kiến doanh số này sẽ được Đội KK-KTT sử dụng để làm căn cứ tính thuế và lập sổ bộ thuế
1.4.3.3 Chỉ tiêu thanh tra, kiểm tra thuế
Trong quá trình quản lý thuế, theo dõi tình hình thu nộp thuế, Đội
Kiểm tra phối hợp với các đội thuế lựa chọn các ĐTNT nợ đọng thuế lớn, nợ kéo dài hoặc nghi ngờ về trốn lậu thuế để lập kế hoạch kiểm tra trình lãnh đạo duyệt và tiến hành kiểm tra tại cơ sở kinh doanh
Về nguyên tắc, việc kiểm tra không làm cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân là người nộp thu, đồng thời phải tuân thủ đúng các quy định của Luật quản lý thuế
Việc kiểm tra có thể được tiến hành tại trụ sở cơ quan quản lý thuế hoặc tại trụ sở của người nộp thuế
Việc kiểm tra thuế tại trụ sở cơ quan quản lý thuế được thực hiện thường xuyên nhằm đánh giá tính đầy đủ, chính xác của các thông tin, chứng
từ trong hồ sơ thuế, sự tuân thủ pháp luật về thuế của người nộp thuế
Khi kiểm tra hồ sơ thuế, công chức quản lý thuế thực hiện việc đối chiếu, so sánh nội dung trong hồ sơ thuế với các thông tin, tài liệu có liên quan, các quy định của pháp luật về thuế, kết quả kiểm tra thực tế hàng hoá trong trường hợp cần thiết
Trường hợp hồ sơ thuế có nội dung cần làm rõ liên quan đến số tiền thuế phải nộp, số tiền thuế được miễn, số tiền thuế được giảm, số tiền thuế được hoàn, cơ quan quản lý thuế thông báo yêu cầu người nộp thuế giải trình hoặc bổ sung thông tin, tài liệu Trường hợp người nộp thuế đã giải trình và
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
bổ sung thông tin, tài liệu chứng minh số thuế đã khai là đúng thì hồ sơ thuế được chấp nhận; nếu sau khi giải trình và bổ sung hồ sơ mà không đủ căn cứ chứng minh số thuế đã khai là đúng thì cơ quan quản lý thuế yêu cầu người nộp thuế khai bổ sung
Trường hợp hết thời hạn theo thông báo của cơ quan quản lý thuế mà người nộp thuế không giải trình, bổ sung thông tin, tài liệu hoặc không khai
bổ sung hồ sơ thuế hoặc giải trình, khai bổ sung hồ sơ thuế không đúng thì thủ trưởng cơ quan quản lý thuế quản lý trực tiếp ấn định số tiền thuế phải nộp hoặc ra quyết định kiểm tra thuế tại trụ sở của người nộp thuế
Trình tự và thủ tục kiểm tra thuế tại trụ sở người nộp thuế được quy định tại Khoản 2-Điều 77- Luật quản lý thuế cụ thể như sau:
a) Công bố quyết định kiểm tra thuế khi bắt đầu tiến hành kiểm tra thuế; b) Đối chiếu nội dung khai báo với sổ kế toán, chứng từ kế toán, báo cáo tài chính, các tài liệu có liên quan, tình trạng thực tế trong phạm vi, nội dung của quyết định kiểm tra thuế
c) Thời hạn kiểm tra thuế không quá năm ngày làm việc, kể từ ngày công bố quyết định kiểm tra; trường hợp kiểm tra theo kế hoạch đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu thì thời hạn không quá mười lăm ngày
d) Trong trường hợp cần thiết, quyết định kiểm tra thuế được gia hạn một lần, thời gian gia hạn không quá thời hạn quy định tại Điểm c
đ) Lập biên bản kiểm tra thuế trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày hết thời hạn kiểm tra
e) Xử lý theo thẩm quyền hoặc chuyển cấp có thẩm quyền xử lý theo kết quả kiểm tra
1.4.3.4 Chỉ tiêu thể hiện sự hài lòng NNT
- Người nộp thuế có các quyền sau
Được hướng dẫn thực hiện việc nộp, cung cấp thông tin, tài liệu để thực hiện nghĩa vụ, quyền lợi của người nộp thuế
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Được yêu cầu cơ quan thuế giải thích về việc tính thuế, ấn định thuế, yêu cầu cơ quan, tổ chức giám định số lượng, chất lượng, chủng loại hàng hóa xuất nhập khẩu
Được giữ bí mật thông tin theo quy định của Pháp luật
Được hưởng các ưu đãi về thuế, hoàn thuế theo quy định của pháp luật Được ký hợp đồng với các tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế Nhận văn bản kết luận kiểm tra thuế, thanh tra thuế của cơ quan quản lý thuế, yêu cầu giải thích, nội dung kết luận kiểm tra thuế, thanh tra thuế, bảo lưu ý kiến trong biên bản kiểm tra thuế, thanh tra thuế
Được bồi thường thiệt hại do cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế gây ra theo quy định của pháp luật
Yêu cầu cơ quan quản lý xác nhận việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế của mình
Khiếu nại, khởi kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính liên quan đến quyền lợi hợp pháp của mình
Tố cáo các hành vi vi pháp phạm luật của công chức quản lý thuế và tổ chức, cá nhân khác
- Người nộp thuế có các nghĩa vụ sau
Đăng ký thuế, sử dụng mã số thuế theo quy định của pháp luật
Khai thuế chính xác, trung thực, đầy đủ và nộp hồ sơ thuế đúng thời hạn, chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực, đầy đủ của hồ
sơ thuế
Nộp tiền thuế đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm
Chấp hành chế độ kế toán, thống kê và quản lý, sử dụng hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật
Ghi chép chính xác, trung thực, đầy đủ những hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế, khấu trừ thuế và giao dịch phải kê khai thông tin về thuế
Trang 38Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Lập và giao hóa đơn, chứng từ cho người mua theo đúng số lượng, chủng loại, giá trị thực thanh toán khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ theo quy định của pháp luật
Cung cấp chính xác, đầy đủ, kịp thời thông tin, tài liệu liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế, số hiệu và nội dung giao dịch của tài khoản mở tại ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác, giải thích việc tính thuế, khai thuế, nộp thuế theo yêu cầu của cơ quan quản lý thuế
Chấp hành quyết định, thông báo, yêu cầu của cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế theo quy định của pháp luật
Chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ thuế theo quy định của pháp luật trong trường hợp người đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền thay mặt người nộp thuế thực hiện thủ tục về thuế sai quy định
1.5 Những nhân tố ảnh hưởng đến quản lý thuế đối với hộ kinh doanh
1.5.1 Chính sách, cơ chế và môi trường quản lý thuế
Qua việc quản lý thuế hộ kinh doanh, ngoài những kết quả đã đạt được
về cơ chế, chính sách còn một số bất cập như: Trong bộ máy quản lý thuế đã chuyển đổi sang mô hình quản lý theo chức năng thì ở khu vực hộ kinh doanh quản lý thuế vẫn mang tính chất quản lý theo đối tượng Quy trình quản lý thuế còn mang tính chủ quan chưa đi vào thực chất hoạt động của các hộ kinh doanh Tính thuế chủ yếu là ấn định, cào bằng
Các quy định về thuế con rườm rà, phức tạp Việc sử lý vi phạm về
thuế của hộ kinh doanh chưa được cụ thể hóa bằng luật, hiệu lực pháp lý chưa cao, bất lợi cho cơ quan thuế
1.5.2 Các yếu tố thuộc về cơ quan thuế
Yếu tố đầu tiên phải kể đến đó là hệ thống chính sách thuế của nước ta hiện nay Có thể nói, bất kỳ một chính sách nào khi được ban hành và muốn thực hiện thành công thì trước hết các đối tượng điều chỉnh của chính sách đó phải hiểu được chính sách đó Đối với các chính sách thuế, để các ĐTNT tự
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
giác chấp hành nghĩa vụ của mình, thì bản thân họ phải hiểu rõ về luật thuế
đó, phải tự tính ra được số thuế mà họ phải nộp và số thuế này nằm trong khả năng đóng góp của họ Do đó, mỗi luật thuế phải có nội dung đơn giản, rõ ràng, dễ hiểu, mang tính phổ thông, phù hợp với trình độ chung của cả người nộp thuế và người quản lý và quan trọng là các mức thuế suất phải được xây dựng trên cơ sở phân tích khoa học, toàn diện để đảm bảo vừa huy động được nguồn thu cho ngân sách Nhà nước nhưng đồng thời qua đó tạo ra động lực khuyến khích thúc đẩy các cơ sở sản xuất kinh doanh mở rộng và phát triển sản xuất từ đó sẽ tăng được tính hiệu quả của công tác quản lý thuế
Một hệ thống chính sách thuế và cơ cấu thuế suất hợp lý nhưng tổ chức và
cơ chế quản lý thuế không khoa học, không phù hợp sẽ không đạt được hiệu quả cao Do đó việc tổ chức bộ máy quản lý và xây dựng cơ chế quản lý khoa học, phù hợp là nhân tố hết sức quan trọng, góp phần vào sự thành công trong công tác quản lý thuế
Mục tiêu của công tác quản lý thuế là tập trung huy động đầy đủ, kịp thời nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước trên cơ sở không ngừng nuôi dưỡng
và phát triển nguồn thu Sự tự nguyện, tự giác chấp hành các luật thuế của các ĐTNT là điểm mấu chốt để thực hiện mục tiêu đó Chính vì vậy mà ý thức chấp hành chính sách pháp luật về thuế của các ĐTNT cũng ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản lý thuế
Trình độ và ý thức trách nhiệm của cán bộ quản lý thuế có ý nghĩa quyết định đến kết quả công tác quản lý thuế vì chính họ là những người trực tiếp làm nhiệm vụ thu thuế Chính vì vậy mà công tác đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ thuế cần phải được quan tâm
Bên cạnh đó các nhân tố như phương tiện làm việc, chế độ lương bổng, chế độ khen thưởng, kỷ luật cũng hết sức quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của công tác quản lý thuế
Trang 40Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
1.5.3 Các yếu tố thuộc về hộ kinh doanh
Sự phát triển, ổn định của nền kinh tế là nhân tố có sức ảnh hưởng rất lớn đến công tác thu thuế Trong điều kiện nền kinh tế phát triển ổn định, các
cơ sở sản xuất kinh doanh sẽ mạnh dạn đầu tư phát triển, mở rộng sản xuất kinh doanh, từ đó tạo ra nguồn thu cho ngân sách góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho công tác thu thuế Tuy nhiên trong điều kiện nền kinh tế bị khủng hoảng, suy thoái… sẽ là nhân tố khách quan ảnh hưởng bất lợi cho công tác thu thuế Có thể đơn cử như trong năm 2011, 2012, do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu đã làm cho nền kinh tế nước ta gặp rất nhiều khó khăn, nhiều doanh nghiệp, nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh không thể phát triển mở rộng sản xuất, chỉ sản xuất mang tính cầm chừng, thậm chí nhiều doanh nghiệp đứng bên bờ vực phá sản, từ đó đã làm cho công tác thu thuế gặp rất nhiều khó khăn
Đối với các hộ kinh doanh nộp thuế theo hình thức khoán ấn định số thuế phải nộp, nên việc quản lý triệt để doanh thu phát sinh gặp rất nhiều khó khăn do hộ kinh doanh không mở sổ sách theo dõi tình hình kinh doanh Việc
kê khai doanh thu bán hàng thường các hộ kinh doanh bao giờ cũng kê khai thấp hơn thực tế để tránh phải nộp nhiều thuế cho nhà nước
1.6 Kinh nghiệm thực tế về quản lý thuế
1.6.1 Kinh nghiệm thực tế về quản lý thuế ở Chi cục thuế Ninh Bình
Tại thời điểm tháng 5 năm 2010 Chi cục Thuế thành phố Ninh Bình, thuộc Cục Thuế tỉnh Ninh Bình quản lý 3288 hộ kinh doanh nộp thuế thường xuyên hàng tháng, chiếm 24% tổng số hộ kinh doanh trên địa bàn tỉnh Ninh Bình, trong đó chỉ có 135 hộ mở sổ sách kế toán, được nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ và phương pháp trực tiếp trên doanh thu, còn lại tới 96% số hộ nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khoấn thuế, ổn định 6 tháng hoặc 12 tháng Tuy nhiên số thuế thu được thông qua các hộ kinh doanh chưa tương xứng với mức độ kinh doanh thực tế Công tác thu tuy