1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Quản lý hoạt động dạy nghề ngắn hạn ở trung tâm kỹ thuật tổng hợphướng nghiệp dạy nghề huyện kinh môn, tỉnh Hải Dương đáp ứng nhu cầu lao động địa phương (LV thạc sĩ)

117 317 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 1,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quản lý hoạt động dạy nghề ngắn hạn ở trung tâm kỹ thuật tổng hợphướng nghiệp dạy nghề huyện kinh môn, tỉnh Hải Dương đáp ứng nhu cầu lao động địa phương (LV thạc sĩ)Quản lý hoạt động dạy nghề ngắn hạn ở trung tâm kỹ thuật tổng hợphướng nghiệp dạy nghề huyện kinh môn, tỉnh Hải Dương đáp ứng nhu cầu lao động địa phương (LV thạc sĩ)Quản lý hoạt động dạy nghề ngắn hạn ở trung tâm kỹ thuật tổng hợphướng nghiệp dạy nghề huyện kinh môn, tỉnh Hải Dương đáp ứng nhu cầu lao động địa phương (LV thạc sĩ)Quản lý hoạt động dạy nghề ngắn hạn ở trung tâm kỹ thuật tổng hợphướng nghiệp dạy nghề huyện kinh môn, tỉnh Hải Dương đáp ứng nhu cầu lao động địa phương (LV thạc sĩ)Quản lý hoạt động dạy nghề ngắn hạn ở trung tâm kỹ thuật tổng hợphướng nghiệp dạy nghề huyện kinh môn, tỉnh Hải Dương đáp ứng nhu cầu lao động địa phương (LV thạc sĩ)Quản lý hoạt động dạy nghề ngắn hạn ở trung tâm kỹ thuật tổng hợphướng nghiệp dạy nghề huyện kinh môn, tỉnh Hải Dương đáp ứng nhu cầu lao động địa phương (LV thạc sĩ)Quản lý hoạt động dạy nghề ngắn hạn ở trung tâm kỹ thuật tổng hợphướng nghiệp dạy nghề huyện kinh môn, tỉnh Hải Dương đáp ứng nhu cầu lao động địa phương (LV thạc sĩ)Quản lý hoạt động dạy nghề ngắn hạn ở trung tâm kỹ thuật tổng hợphướng nghiệp dạy nghề huyện kinh môn, tỉnh Hải Dương đáp ứng nhu cầu lao động địa phương (LV thạc sĩ)Quản lý hoạt động dạy nghề ngắn hạn ở trung tâm kỹ thuật tổng hợphướng nghiệp dạy nghề huyện kinh môn, tỉnh Hải Dương đáp ứng nhu cầu lao động địa phương (LV thạc sĩ)

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LƯƠNG MINH TRUNG

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY NGHỀ NGẮN HẠN

Ở TRUNG TÂM KỸ THUẬT TỔNG HỢP-HƯỚNG NGHIỆP- DẠY NGHỀ HUYỆN KINH MÔN, TỈNH HẢI DƯƠNG ĐÁP ỨNG NHU CẦU LAO ĐỘNG ĐỊA PHƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

THÁI NGUYÊN, NĂM 2016

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LƯƠNG MINH TRUNG

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY NGHỀ NGẮN HẠN

Ở TRUNG TÂM KỸ THUẬT TỔNG HỢP-HƯỚNG NGHIỆP- DẠY NGHỀ HUYỆN KINH MÔN, TỈNH HẢI DƯƠNG ĐÁP ỨNG NHU CẦU LAO ĐỘNG ĐỊA PHƯƠNG

Chuyên ngành: Quản lý giáo dục

Mã số: 60.14.01.14

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN THANH BÌNH

THÁI NGUYÊN, NĂM 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn: “Quản lý hoạt động dạy nghề ngắn hạn ở

Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp- Hướng nghiệp - Dạy nghề huyện Kinh Môn,

cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác Tài liệu tham khảo và nội dung trích dẫn đảm bảo sự đúng đắn, chính xác, trung thực và tuân thủ các quy định về quyền sở hữu trí tuệ

Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, tháng 6 năm 2016

Tác giả luận văn

Lương Minh Trung

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn, tác giả đã nhận được sự động viên, khuyến khích và sự giúp đỡ nhiệt tình của các cấp lãnh đạo, của các thầy giáo, cô giáo, bạn bè đồng nghiệp và gia đình

Với tình cảm chân thành, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:

- PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Bình, người hướng dẫn khoa học và giúp

đỡ chuyên môn cho tác giả trong quá trình thực hiện luận văn này

- Lãnh đạo Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã tham gia Đào tạo lớp cao học Quản lý Giáo dục

- Tập thể CBGV, CNV Trung tâm KTTH-HN-DN huyện Kinh Môn nơi công tác

Do khả năng và thời gian nghiên cứu còn hạn chế, thực tiễn công tác và chỉ đạo công tác này trong trung tâm là vô cùng phong phú và sinh động, có nhiều vấn đề cần giải quyết, chắc chắn luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót

Tác giả rất mong sự đóng góp chân thành của các thầy giáo, cô giáo, các cấp lãnh đạo, bạn bè đồng nghiệp và bạn đọc để luận văn này được hoàn thiện hơn và có giá trị thực tiễn hơn

Tác giả xin chân thành cảm ơn

Thái Nguyên, tháng 6 năm 2016

Tác giả luận văn

Lương Minh Trung

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG v

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ vi

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3

4 Giả thuyết khoa học 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

6 Giới hạn của đề tài 3

7 Phương pháp nghiên cứu 4

8 Dự kiến cấu trúc của luận văn 4

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY NGHỀ NGẮN HẠN Ở TRUNG TÂM KTTH-HN-DN ĐÁP ỨNG NHU CẦU LAO ĐỘNG ĐỊA PHƯƠNG 6

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 6

1.1.1 Ở nước ngoài 6

1.1.2 Ở Việt Nam 8

1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài 9

1.2.1 Khái niệm quản lý và biện pháp quản lý 9

1.2.2 Khái niệm hoạt động đào tạo nghề 14

1.2.3 Khái niệm nhu cầu lao động 17

1.2.4 Khái niệm quản lý đào tạo nghề 20

1.3 Hoạt động dạy nghề ngắn hạn ở Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp - Dạy nghề 21

1.3.1.Chức năng của Trung tâm KTTH-HN-DN 21

Trang 6

1.3.3 Dạy nghề ngắn hạn ở Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp - Hướng

nghiệp - Dạy nghề 23

1.4 Quản lý hoạt động dạy nghề ngắn hạn đáp ứng nhu cầu lao động địa phương ở Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp - Dạy nghề 24

1.4.1 Công tác khảo sát nhu cầu của người lao động và nhu cầu lao động địa phương 24

1.4.2 Công tác lập kế hoạch dạy nghề ngắn hạn đáp ứng nhu cầu lao động địa phương 25

1.4.3 Công tác tổ chức và chỉ đạo thực hiện kế hoạch dạy nghề ngắn hạn đáp ứng nhu cầu lao động địa phương 26

1.4.4 Công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động dạy nghề ngắn hạn đáp ứng nhu cầu lao động địa phương 27

1.4.5 Công tác đảm bảo cơ sở vật chất phục vụ dạy nghề ngắn hạn đáp ứng nhu cầu lao động địa phương 28

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động dạy nghề ngắn hạn đáp ứng nhu cầu lao động địa phương 29

1.5.1 Yếu tố khách quan 29

1.5.2 Yếu tố chủ quan 31

Tiểu kết chương 1 32

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY NGHỀ NGẮN HẠN Ở TRUNG TÂM KTTH-HN-DN HUYỆN KINH MÔN, TỈNH HẢI DƯƠNG 33

2.1 Khái quát tình hình kinh tế- xã hội và giáo dục huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương 33

2.1.1 Tình hình kinh tế- xã hội 33

2.1.2 Tình hình phát triển giáo dục 35

2.1.3 Khái quát về Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp-Hướng nghiệp-Dạy nghề huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương 36

2.2 Thực trạng hoạt động dạy nghề ngắn hạn ở Trung tâm KTTH-HN-DN huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương hiện nay 39

Trang 7

2.2.1 Nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên, … về việc dạy nghề ngắn

hạn cho người lao động 39

2.2.2 Các kết quả đạt được trong hoạt động dạy nghề của Trung tâm KTTH-HN-DN huyện Kinh Môn 40

2.2.3 Đánh giá chung về hoạt động dạy nghề ngắn hạn ở Trung tâm KTTH-HN-DN huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương 44

2.3 Thực trạng quản lý hoạt động dạy nghề ngắn hạn ở trung tâm KTTH- HN-DN huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương đáp ứng nhu cầu lao động địa phương 45

2.3.1 Quản lý công tác khảo sát nhu cầu học nghề ngắn hạn của người lao động địa phương 45

2.3.2 Lập kế hoạch dạy nghề ngắn hạn theo nhu cầu của người lao động địa phương 51

2.3.3 Tổ chức và chỉ đạo hoạt động dạy nghề ngắn hạn theo nhu cầu người lao động địa phương 52

2.3.4 Kiểm tra đánh giá hoạt động dạy nghề ngắn hạn theo nhu cầu người lao động địa phương 55

2.3.5 Quản lý cơ sở vật chất phục vụ hoạt động dạy nghề ngắn hạn theo nhu cầu người lao động địa phương 59

2.4 Đánh giá chung 60

2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động dạy nghề ngắn hạn ở Trung tâm KTTH-HN-DN huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương 62

2.5.1 Yếu tố khách quan 62

2.5.2 Yếu tố chủ quan 63

Tiểu kết chương 2 65

Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY NGHỀ NGẮN HẠN Ở TRUNG TÂM KTTH-HN-DN HUYỆN KINH MÔN, TỈNH HẢI DƯƠNG ĐÁP ỨNG NHU CẦU LAO ĐỘNG ĐỊA PHƯƠNG 66

3.1 Nguyên tắc đề xuất 66

3.1.1 Đảm bảo tính hệ thống 66

Trang 8

3.1.3 Đảm bảo tính kế thừa và phát triển 67

3.1.4 Đảm bảo đáp ứng nhu cầu học tập của mọi người dân 67

3.2 Các biện pháp quản lý hoạt động dạy nghề ngắn hạn ở trung tâm KTTH-HN-DN huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương đáp ứng nhu cầu lao động địa phương 68

3.2.1 Nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý, giáo viên và người lao động ở địa phương về tầm quan trọng của dạy nghề ngắn hạn cho người lao động 68

3.2.2 Tổ chức bồi dưỡng năng lực chuyên môn và kỹ năng thực hành nghề cho giáo viên 71

3.2.3 Chỉ đạo đổi mới nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động dạy nghề ngắn hạn đáp ứng nhu cầu lao động địa phương 76

3.2.4 Tăng cường đầu tư, nâng cấp cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ dạy nghề ngắn hạn đáp ứng nhu cầu lao động địa phương 80

3.3 Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp quản lý hoạt động dạy nghề ngắn hạn ở trung tâm KTTH- HN- DN huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương đáp ứng nhu cầu lao động địa phương 85

Tiểu kết chương 3 88

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 89

1 Kết luận chung 89

2 Khuyến nghị 90

2.1 Đối với Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội 90

2.2 Đối với Sở Lao động- Thương binh và Xã hội 91

2.3 Đối với UBND huyện và các địa phương trong huyện 91

2.4 Đối với trung tâm KTTH-HN-DN huyện Kinh Môn 91

TÀI LIỆU THAM KHẢO 92 PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

1 CBGV,CNV Cán bộ giáo viên, công nhân viên

3 CNH-HĐH Công nghiệp hóa- Hiện đại hóa

4 GDTX Giáo dục thường xuyên

5 GDTX-DN Giáo dục thường xuyên- Dạy nghề

6 HĐND Hội đồng nhân dân

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Số lượng người học tham gia học nghề ngắn hạn tại Trung tâm

KTTH-HN-DN huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương 41Bảng 2.2 Đội ngũ giáo viên dạy nghề ngắn hạn ở trung tâm KTTH- HN-

DN huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương 42Bảng 2.3 Nhu cầu học nghề ngắn hạn của người lao động ở huyện Kinh

Môn, tỉnh Hải Dương 46Bảng 2.4 Nhu cầu học nghề cụ thể của người lao động ở huyện Kinh

Môn, tỉnh Hải Dương 47Bảng 2.5 Lý do chọn nghề ngắn hạn của người lao động ở huyện Kinh

Môn, tỉnh Hải Dương 49Bảng 2.6 Mức độ cần thiết của đào tạo nghề ngắn hạn của người lao

động ở huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương 50Bảng 2.7 Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động

dạy nghề ngắn hạn ở Trung tâm KTTH-HN-DN Kinh Môn 62 Bảng 3.1 Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết của các biện pháp 85Bảng 3.2 Kết quả khảo nghiệm về tính khả thi của các biện pháp 86

Trang 11

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ

Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức của Trung tâm KTTH-HN-DN huyện Kinh Môn 37Biểu đồ 2.1 Thống kê số lượng người học nghề ngắn hạn của Trung tâm

KTTH-HN-DN huyện Kinh Môn từ năm 2011 đến năm 2015 41Biểu đồ 2.2 Nhu cầu học nghề ngắn hạn của người lao động ở huyện

Kinh Môn, tỉnh Hải Dương 46Biểu đồ 2.3 Nhu cầu học nghề cụ thể của người lao động ở huyện Kinh

Môn, tỉnh Hải Dương 48Biểu đồ 2.4 Lý do chọn học nghề ngắn hạn của người lao động ở huyện

Kinh Môn, tỉnh Hải Dương 49Biểu đồ 2.5 Mức độ cần thiết của đào tạo nghề ngắn hạn của người lao

động ở huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương 50Biểu đồ 3.1 Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết của các biện pháp 86Biểu đồ 3.2 Kết quả khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp 87

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đào tạo nghề cho người lao động nhất là đối với người lao động nông thôn là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước, của các cấp, các ngành và xã hội nhằm nâng cao chất lượng nguồn lao động, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Học nghề cũng là nghĩa vụ và quyền lợi của người lao động nhằm tạo việc làm, chuyển nghề, tăng thu nhập góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống

Để thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về dạy nghề và việc làm, ngày 27 tháng 11 năm 2009 Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 1956/QĐ-TTg phê duyệt đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” Căn cứ quyết định trên, ngày 22 tháng 3 năm 2011, Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương ra Quyết định số 758/QĐ-UBND phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh Hải Dương đến năm 2020” Từ những quyết định trên,

có thể thấy đây là một trong những cơ chế chính sách của Đảng và Nhà nước ta quan tâm đến việc xoá đói giảm nghèo, hỗ trợ tạo điều kiện cho người lao động nông thôn chuyển đổi canh tác, chuyển đổi hướng sản xuất, đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật, tri thức vào sản xuất Đổi mới và phát triển đào tạo nghề cho người lao động theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo và tạo điều kiện thuận lợi để người lao động tham gia học nghề phù hợp với trình độ học vấn, điều kiện kinh tế và nhu cầu học nghề Sau khi được đào tạo nghề sẽ giúp người lao động có thể tìm được việc làm phù hợp với nhu cầu, có thu nhập ổn định hoặc tự tổ chức lao động sản xuất đạt năng suất cao Qua đó giúp người lao động nhất là lao động nông thôn an tâm làm việc, bớt các tệ nạn xã hội như

cờ bạc, rượu chè, trộm cắp, xảy ra Từ đó góp phần phục vụ phát triển kinh tế

xã hội của địa phương cũng như xây dựng quê hương đất nước ngày một giàu đẹp và phồn vinh

Trang 13

Tuy nhiên, hiện nay việc dạy nghề và quản lý dạy nghề cho người lao động còn một số hạn chế như: Công tác quản lý đào tạo còn bộc lộ nhiều thiếu sót, yếu kém; Nhận thức của cán bộ giáo viên và nhân dân về công tác đào tạo nghề chưa cao, chưa coi trọng công tác này trong hoạt động của đơn vị; Năng lực chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm dạy nghề của đội ngũ giáo viên dạy nghề còn hạn chế, việc đổi mới nội dung, hình thức và phương pháp giảng dạy trong dạy nghề còn ít được quan tâm; cơ sở vật chất phục vụ cho công tác dạy nghề còn thiếu thốn, chưa đồng bộ, … Điều đó làm giảm hiệu quả của đào tạo nghề và công tác quản lý đào tạo nghề, chưa đáp ứng được nhu cầu của người lao động cũng như nhu cầu của các doanh nghiệp và các cơ sở sản xuất kinh doanh tại các địa phương

Việc đổi mới và phát triển đào tạo nghề cho người lao động theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo và tạo điều kiện thuận lợi để người lao động tham gia học nghề phù hợp với trình độ học vấn, điều kiện kinh tế và nhu cầu học nghề là việc làm cần thiết và có tính thời sự Chính vì vậy đã lôi cuốn một số tác giả, một số nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm, nghiên cứu

về công tác đào tạo nghề, giới thiệu các nghề trong xã hội cũng như các yêu cầu của một số nghề này,… Tuy nhiên, họ ít quan tâm nghiên cứu công tác quản lý đào tạo nghề ở các cơ sở đào tạo nghề

Xuất phát từ những lý do trên tác giả chọn đề tài “Quản lý hoạt động

dạy nghề ngắn hạn ở Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp-Hướng nghiệp-Dạy nghề huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương đáp ứng nhu cầu lao động địa phương”

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng quản lý hoạt động dạy nghề theo nhu cầu của người lao động ở huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương, đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động này nhằm góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

Trang 14

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp quản lý hoạt động dạy nghề ngắn hạn ở Trung tâm

KTTH-HN-DN huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương đáp ứng nhu cầu lao động địa phương

3.2 Khách thể nghiên cứu

Hoạt động quản lý việc dạy nghề ngắn hạn ở Trung tâm KTTH-HN-DN huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương đáp ứng nhu cầu lao động địa phương

4 Giả thuyết khoa học

Việc đào tạo nghề ngắn hạn hiện nay còn bộc lộ nhiều hạn chế thiếu sót nhất là trong công tác quản lý đào tạo Nếu áp du ̣ng đồng bô ̣ các biện pháp quản lý do đề tài nêu ra thì sẽ nâng cao chất lượng quản lý hoạt động dạy nghề ngắn hạn ở Trung tâm KTTH-HN-DN huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương đáp ứng nhu cầu lao động địa phương

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Khái quát một số vấn đề lí luận về dạy nghề ngắn hạn (quản lý, dạy nghề, quản lý hoạt động dạy nghề theo nhu cầu của người lao động…) để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài

5.2 Khảo sát thực trạng quản lý hoạt động dạy nghề ngắn hạn đáp ứng nhu cầu lao động địa phương ở huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương và nguyên nhân của thực trạng

5.3 Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động dạy nghề ngắn hạn ở Trung tâm KTTH-HN-DN huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương đáp ứng nhu cầu lao động địa phương

6 Giới hạn của đề tài

Nghiên cứu quản lý hoạt động dạy nghề ngắn hạn đáp ứng nhu cầu lao động địa phương của người lao động ở 25 xã, thị trấn của huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương trong 5 năm gần đây

Trang 15

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu, văn bản: Sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa để phân tích các tài liệu: sách, báo, tạp chí, thông tin trên mạng internet, các văn bản, nghị quyết, các báo cáo tổng kết, về chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước có liên quan đến vấn nghiên cứu để hệ thống những vấn đề lý luận về hoạt động dạy nghề, quản lý hoạt động dạy nghề ngắn hạn, nhằm xây dựng cơ sở lý luận của đề tài

7.2 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Phương pháp này được sử dụng để điều tra thực trạng hoạt động dạy nghề và quản lý hoạt động dạy nghề ngắn hạn ở trung tâm KTTH-HN-DN huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương và nguyên nhân của thực trạng

7.3 Phương pháp phỏng vấn: Tiến hành phỏng vấn một số cán bộ quản

lý, giáo viên, lãnh đạo địa phương và nhân dân nhằm thu tập thêm thông tin, bổ xung cho phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi để tăng thêm tính khách quan của kết quả điều tra bằng phiếu hỏi

7.4 Phương pháp quan sát: Quan sát việc dạy của giáo viên và việc thực hành nghề của học viên để làm rõ thêm thực trạng của hoạt động dạy nghề và quản lý hoạt động dạy nghề của trung tâm KTTH-HN-DN huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương

7.5 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Tổng kết quá trình đào tạo nghề trong 5 năm qua để tìm ra điểm mạnh, điểm hạn chế của công tác quản lý đào tạo nghề ngắn hạn để sử dụng cho quá trình nghiên cứu

7.6 Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng thống kê toán học để phân tích các số liệu liên quan đến nội dung dạy nghề ngắn hạn ở Trung tâm KTTH-HN-DN huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương

8 Dự kiến cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được cấu trúc làm 3 chương:

Trang 16

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy nghề ngắn hạn đáp ứng nhu cầu lao động địa phương

Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy nghề ngắn hạn ở Trung tâm KTTH-HN-DN huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương đáp ứng nhu cầu lao động địa phương

Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động dạy nghề ngắn hạn ở Trung tâm KTTH-HN-DN huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương đáp ứng nhu cầu lao động địa phương

Trang 17

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY NGHỀ

NGẮN HẠN Ở TRUNG TÂM KTTH-HN-DN ĐÁP ỨNG NHU CẦU

LAO ĐỘNG ĐỊA PHƯƠNG

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

Chẳng hạn: Ở Mỹ, việc đào tạo công nhân kỹ thuật được chú trọng và tiến hành ngay từ cấp THPT phân ban và các trường dạy nghề cấp trung học, các cơ sở đào tạo nghề sau THPT Học sinh tốt nghiệp được cấp bằng chứng nhận và chứng chỉ công nhân lành nghề và có quyền được đi học tiếp theo Thời hạn đào tạo dao động từ 2 đến 7 năm tùy thuộc vào từng nghề đào tạo Các loại trường tư thục thuộc vào các công ty tư nhân mà công ty của họ khá lớn Các nhà trường trong công ty đào tạo công nhân ngay trong công ty mình

và có thể đào tạo cho công ty khác theo hợp đồng

Còn ở Cộng hòa liên bang Đức đã sớm hình thành hệ thống đào tạo nghề

và hệ trung cấp chuyên nghiệp Giáo dục chuyên nghiệp còn là một bộ phận trung học cấp hai của hệ thống giáo dục quốc dân với các loại hình trường đa dạng Họ đã phân thành hai trình độ: Ở trình độ 1 được xếp vào bậc trung học tương đương với THPT từ lớp 9 đến lớp 12; Ở trình độ 2 được xếp cao hơn bậc THPT Ngoài trường phổ thông mang tính không chuyên nghiệp chỉ nhằm mục tiêu đào tạo chuẩn bị lên đại học còn có các trường phổ thông chuyên nghiệp,

Trang 18

trường hỗn hợp,… Học sinh các trường này có thể vào học ở các trường đại học chuyên ngành Sau khi tốt nghiệp chủ yếu học sinh ra làm việc sơ cấp Do các loại hình trường rất đa dạng nên không có mô hình tổ chức quản lý đồng nhất giữa các bang khác nhau, có trường công lập, trường tư thục, có trường thuộc công ty tư nhân chuẩn bị phần nhân lực cho công ty mình,…

Ở các nước xã hội chủ nghĩa, nhất là ở Liên Xô trước đây cũng sớm quan tâm đến vấn đề đào tạo nghề, với những đóng góp quan trọng của các nhà giáo dục học, tâm lý học như X.I Arkhangenxki, A.E Klimov, T.V Cuđrisep,…dưới góc độ giáo dục học nghề nghiệp, tâm lý lao động, tâm lý học kỹ sư, tâm lý học

xã hội Tuy nhiên, theo nhận xét của T.V Cuđrisep, những nghiên cứu trong lĩnh vực dạy học và giáo dục nghề vào những năm 70 của thế kỷ XX còn mang tính từng mặt, một chiều nên chưa giải quyết được một cách triệt để vấn đề chuẩn bị cho thế hệ trẻ bước vào cuộc sống và lao động Quá trình hình thành nghề lúc đó được chia thành 4 giai đoạn tách rời nhau đó là: Giai đoạn nảy sinh

dự định nghề và bước vào học các trường nghề; giai đoạn học sinh lĩnh hội có tính chất tái tạo những tri thức, kỹ năng nghề nghiệp; giai đoạn thích ứng nghề

và cuối cùng là giai đoạn hiện thực hóa từng phần hoạt động nghề Quan niệm trên của T.V Cuđrisep đã tạo ra những khó khăn rất lớn trong quá trình học và dạy nghề Quá trình đào tạo nghề trở lên áp đặt và không thấy được mối quan

hệ giữa các giai đoạn hình thành nghề

Cũng theo T.V Cuđrisep, để khắc phục những khó khăn hạn chế trên cần phải có sự nhận thức lại, theo ông sự hình thành nghề của thế hệ trẻ trong điều kiện của giáo dục và dạy học là một quá trình lâu dài, liên tục và thống nhất Quá trình hình thành nghề trải qua 4 giai đoạn nhưng nó có sự gắn bó mật thiết với nhau Quan điểm này của ông đã tạo nên nhận thức mới về sự hình thành nghề, là cơ sở khoa học để xây dựng mô hình đào tạo nghề và nâng cao chất lượng đào tạo nghề [25]

Từ kết quả trên có thể thấy: Một số nước trên thế giới đã quan tâm tới việc đào tạo nghề, hình thành nghề cho người lao động Cho đến hiện nay, hầu

Trang 19

hết các nước trên thế giới đều bố trí hệ thống giáo dục kỹ thuật và dạy nghề bên cạnh bậc phổ thông và đào tạo bậc cao đẳng, đại học Do sớm có hệ thống đào tạo nghề nên các nước tư bản phát triển đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong quá trình đào tạo Quá trình đào tạo cũng như quản lý đào tạo nghề liên tục được hoàn thiện, đổi mới để đảm bảo chất lượng đào tạo, đáp ứng nhu cầu của thực tiễn

1.1.2 Ở Việt Nam

Ở Việt Nam, những vấn đề về đào tạo nghề, quản lí quá trình đào tạo nghề cũng được quan tâm ngay từ cuối những năm 70 của thế kỷ XX, khi đó có Tổng cục dạy nghề Lúc đó đã có một số nhà nghiên cứu như Đặng Danh Ánh, Nguyễn Minh Đường, Nguyễn Văn Hộ,…nghiên cứu những khía cạnh khác nhau về sự hình thành nghề và công tác dạy nghề Tuy nhiên, sau đó những nghiên cứu về đào tạo nghề, quản lý quá trình đào tạo nghề ở nước ta lắng xuống, ít được chú trọng Chỉ đến những năm gần đây do nhu cầu của xã hội và nhu cầu của thị trường lao động, vấn đề đào tạo nghề tiếp tục được quan tâm nghiên cứu trở lại trên cả hai bình diện lý luận và thực tiễn

Đảng và nhà nước từ khi tiến hành sự nghiệp đổi mới rất quan tâm đến công tác đào tạo nghề và chất lượng đào tạo nghề Trong những năm gần đây đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách giúp cho công tác đào tạo nghề luôn phát triển

và đạt được những thành tựu nhất định Điều này được cụ thể hóa trong Luật Giáo dục năm 2005, Luật dạy nghề năm 2006, Quy chế của trung tâm dạy nghề năm

2007, … Mặt khác, nhiều nhà khoa học cũng đã có các công trình nghiên cứu về

lĩnh vực này như: “Tuổi trẻ với nghề truyền thống Việt Nam” của tác giả Nguyễn Viết Sự (2001); “Việc làm ở nông thôn, thực trạng và giải pháp” của Chu Tiến Quang (2001); “Đổi mới hệ thống giáo dục kỹ thuật và dạy nghề ở Việt Nam giai

đoạn 2001-2010” của Đỗ Minh Cương (2001) ; “Giáo dục kỹ thuật- Nghề nghiệp

và phát triển nguồn nhân lực” của Trần Khánh Đức (2002); “Giáo dục nghề nghiệp- Những vấn đề và giải pháp” của Nguyễn Viết Sự (2005); “Thị trường lao

Trang 20

động Việt Nam, thực trạng và giải pháp” của Nguyễn Thị Thơm (2006); “Sổ tay

tư vấn hướng nghiệp và chọn nghề” của Trung tâm Lao động- Hướng nghiệp- Bộ

Giáo dục và Đào tạo do Nguyễn Hùng chủ biên (2008);…

Tóm lại, ở Việt Nam hiện nay, công tác đào tạo nghề cho người lao động

có nhiều bước phát triển nhanh Do xu thế thời đại và hội nhập quốc tế nên các ngành nghề đào tạo được đa dạng Hệ thống các trường dạy nghề phát triển không ngừng, cơ sở vật chất phục vụ cho quá trình đào tạo được đầu tư có trọng tâm, trọng điểm Tuy nhiên số lượng nhân lực qua đào tạo còn thấp, chất lượng không cao Cơ cấu nguồn nhân lực qua đào tạo trong các lĩnh vực nhất là lĩnh vực nông nghiệp còn mất cân đối Các ngành nghề lao động chân tay cho người lao động nông thôn ít được quan tâm Do đó những vấn đề về quản lý hoạt động dạy nghề trong đó có dạy nghề ngắn hạn cũng ít được quan tâm

1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài

1.2.1 Khái niệm quản lý và biện pháp quản lý

1.2.1.1 Khái niệm quản lý

Theo Từ điển Tiếng Việt: “Quản lý là hoạt động của con người tác động

vào tập thể người khác để phối hợp, điều chỉnh, phân công thực hiện mục tiêu chung” [23]

Hiện nay có nhiều cách tiếp cận khái niệm quản lý theo các hướng khác nhau Đó là: Cai quản, chỉ huy, lãnh đạo, kiểm tra theo góc độ tổ chức

Theo Điều khiển học thì quản lý là lái, điều khiển, điều chỉnh

Theo cách tiếp cận hệ thống thì quản lý là sự tác động của chủ thể quản

lý đến đối tượng quản lý nhằm tổ chức, phối hợp hoạt động của con người trong quá trình sản xuất xã hội để đạt được mục đích đã định

Các nhà khoa học cũng đưa ra nhiều định nghĩa về quản lý nhìn từ những góc độ khác nhau, cụ thể:

Theo Harold Koontz: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo

phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của

Trang 21

nhóm (tổ chức) với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn ít nhất Với tư cách thực hành thì quản lý là một nghệ thuật, còn với kiến thức thì quản lý là một khoa học” [9]

Theo M.I.Konđacôp: “Quản lý xã hội một cách khoa học không phải là

cái gì khác mà chính là việc tác động một cách hợp lý đến hệ thống xã hội, làm cho hệ thống đó phù hợp với những quy luật vốn có của nó” [16]

Mác viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào

tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh

từ sự vận động của toàn bộ cơ thể khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần có nhạc trưởng” (Mác- Anghen toàn tập- Tập 4) [15]

Các nhà lý luận quản lý như: Frederich Wiliam Taylor (1856-1915), Mỹ; Henri Fayol (1841-1925), Pháp; Max Weber (1864-1920), Đức, đều đã khẳng định: Quản lý là khoa học và đồng thời là nghệ thuật thúc đẩy sự phát triển xã hội

Theo tác giả Nguyễn Bá Sơn: “Quản lý là sự tác động có hướng đích của

chủ thể quản lý đến đối tượng bằng một hệ thống các giải pháp nhằm thay đổi trạng thái của đối tượng quản lý, đưa hệ thống tiếp cận với mục tiêu cuối cùng, phục vụ lợi ích của con người”[20]

Tác giả Nguyễn Ngọc Quang quan niệm: “Quản lý là tác động có mục

đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến những người lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [18]

Theo Phan Văn Kha, khái niệm quản lý trong hoạt động giáo dục được

hiểu là: “Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công

việc của các thành viên thuộc một hệ thống đơn vị và việc sử dụng các nguồn lực phù hợp để đạt được các mục đích đã định” [12]

Tác giả Nguyễn Bá Dương quan niệm: “Hoạt động quản lý là sự tác

động qua lại một cách tích cực giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý qua

Trang 22

con đường tổ chức, là sự tác động điều khiển, điều chỉnh tâm lý và hành động của các đối tượng quản lý, lãnh đạo cùng hướng vào hoàn thành những mục tiêu nhất định của tập thể và xã hội” [7]

Còn theo tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Quản lý một hệ thống xã hội là

tác động có mục đích đến tập thể người - thành viên của hệ- nhằm làm cho hệ vận hành thuận lợi và đạt tới lục đích dự kiến” [13]

Hai tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc quan niệm: “Hoạt

động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức đó vận hành và đạt được mục đích đề ra” [5]

Theo tác giả Nguyễn Văn Bình: “Quản lý là một nghệ thuật đạt được

mục tiêu đã đề ra thông qua điều khiển, phối hợp, hướng dẫn, chỉ huy hoạt động của những người khác” [1]

Hai tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt lại quan niệm: “Quản lý là một

quá trình có tính định hướng, có mục tiêu, quản lý một hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được đến mục tiêu nhất định Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn” [17]

Từ rất nhiều định nghĩa dưới các góc độ khác nhau của các tác giả nêu trên, chúng ta thấy:

- Quản lý là sự tác động, chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt được mục đích đề ra Sự tác động của quản lý bằng cách nào đó để người bị quản lý luôn tự giác, phấn khởi đem hết năng lực, trí tuệ của mình tạo nên lợi ích cho bản thân, cho tổ chức và cho cả xã hội

- Quản lý là biểu hiện mối quan hệ giữa con người với con người, đó là quan hệ giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý

- Quản lý là quá trình tác động có ý thức; là phối hợp các nguồn lực nhằm thực hiện mục tiêu chung để tồn tại trong một môi trường luôn biến đổi

Trang 23

Mô hình của hoạt động quản lý:

Từ những phân tích trên chúng tôi hiểu: Quản lý là quá trình tác động có

định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức đó vận hành và đạt được mục đích đề ra

Như vậy quản lý là một hệ thống bao gồm những nhân tố cơ bản là: Chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, mục tiêu quản lý, công cụ, phương tiện quản lý, các thức quản lý và môi trường quản lý Những nhân tố đó có quan hệ và tác động lẫn nhau để hình thành nên quy luật và tính quy luật quản lý

Để thực hiện tốt công tác quản lý thì cần chú trọng tới 4 chức năng của quản lý Đó là:

Kế hoạch hoá: Là việc thực hiện có kế hoạch trên diện rộng, quy mô

lớn Căn cứ vào thực trạng và dự định của tổ chức để xác định mục tiêu, mục đích, những biện pháp trong từng thời kỳ nhằm đạt được mục tiêu dự định

Tổ chức: Là quá trình hình thành nên những cấu trúc quan hệ giữa các

thành viên, bộ phận nhằm đạt được mục tiêu kế hoạch Nhờ việc tổ chức có hiệu quả, người quản lý có thể phối hợp, điều phối nguồn lực, vật lực, nhân lực

Chỉ đạo: Đó chính là phương thức tác động của chủ thể quản lý Lãnh

đạo bao hàm việc liên kết, liên hệ với người khác, động viên họ hoàn thành để đạt mục tiêu của tổ chức

Môi trường quản lý

Trang 24

Kiểm tra: Thông qua một số cá nhân, nhóm hay tổ chức để xem xét thực

tế, theo dõi giám sát thành quả lao động, tiến hành uốn nắn, sửa chữa những hoạt động sai Đây chính là quá trình tự điều chỉnh của hoạt động tự quản lý

Với những chức năng đó, quản lý có vai trò quan trọng đối với sự phát triển xã hội Nó nâng cao hiệu quả của hoạt động, đảm bảo trật tự kỷ cương trong bộ máy và nó là nhân tố tất yếu của sự phát triển [21]

Khi chúng ta thực hiện được đầy đủ các chức năng của quản lý cũng có nghĩa là nhằm thực hiện các mục tiêu quản lý: Thể hiện ý chí của chủ thể quản

lý đồng thời phải phù hợp với sự vận động và phát triển của các yếu tố có liên quan đến quản lý là: Yếu tố xã hội - môi trường, yếu tố chính trị - pháp luật, yếu tố tổ chức, yếu tố quyền uy, yếu tố thông tin

Tóm lại, quản lý là quá trình tác động có ý thức để điều khiển, hướng

dẫn các hoạt động của con người nhằm đạt tới mục tiêu quản lý

1.2.1.2 Khái niệm biện pháp quản lý

Theo Từ điển Tiếng Việt (1998) định nghĩa: “Biện pháp là cách làm,

cách giải quyết một vấn đề cụ thể” [23]

Biện pháp quản lý là nội dung, cách thức giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó của chủ thể quản lý Trong quản lý giáo dục, biện pháp quản lý là cách thức mà chủ thể quản lý sử dụng nhằm tác động đến đối tượng quản lý để giải quyết những vấn đề trong công tác quản lý, làm cho hệ quản lý vận hành đạt mục tiêu mà chủ thể quản lý đã đề ra và phù hợp với quy luật khách quan Trong nhà trường thì biện pháp quản lý hoạt động dạy và học là những cách thức tổ chức, điều hành, kiểm tra, đánh giá hoạt động dạy và học của cán bộ, giáo viên và học sinh nhằm đạt được kết quả đề ra

Theo nghĩa hẹp thì biện pháp quản lý là tổng thể những cách thức mà chủ thể quản lý sử dụng để tác động lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra

Theo nghĩa rộng thì biện pháp quản lý còn bao hàm cách thức hoạt động của chính bản thân chủ thể, cách thức giải quyết vấn đề cụ thể phát sinh trong quá trình quản lý

Trang 25

Nói tóm lại chúng ta có thể hiểu: Biện pháp quản lý là sự tác động, chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để chúng phát triển hợp với quy luật, đạt mục đích đề ra và đúng với ý chí của người quản lý

Trong đào tạo nghề nói chung và đào tạo nghề ngắn hạn nói riêng, biện pháp quản lý là sự tác động là tổ hợp các phương pháp tiến hành của chủ thể quản lý nhằm tác động đến đối tượng quản lý để các hoạt động đào tạo nghề đạt được hiệu quả cao nhất Trong đào tạo nghề, các biện pháp quản lý phải có mục tiêu xác định rõ ràng, cụ thể, có cơ sở khoa học và tính thực tiễn, biện pháp có tính khả thi và đạt được mục tiêu đặt ra

1.2.2 Khái niệm hoạt động đào tạo nghề

1.2.2.1 Khái niệm nghề

Từ điển Tiếng Việt (1998) định nghĩa: “Nghề là công việc chuyên làm,

theo sự phân công lao động của xã hội” [23]

Theo tác giả Nguyễn Hùng thì: “Những chuyên môn có những đặc điểm

chung gần giống nhau được xếp thành một nhóm chuyên môn và được gọi là nghề Nghề là tập hợp của một nhóm chuyên môn cùng loại gần giống nhau Chuyên môn là một dạng lao động đặc biệt, mà qua đó con người dùng sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần của mình để tác động vào những đối tượng cụ thể nhằm biến đổi những đối tượng đó theo hướng phục vụ mục đích, yêu cầu và lợi ích của con người” [11]

Như vậy, có thể hiểu: Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong

đó nhờ được đào tạo, con người có được những tri thức, những kỹ năng để làm

ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội

1.2.2.2 Khái niệm đào tạo nghề (dạy nghề)

Theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO) thì: “Dạy nghề là cung cấp cho

người học những kỹ năng cần thiết để thực hiện tất cả các nhiệm vụ liên quan tới công việc nghề nghiệp được giao”

Trang 26

Tác giả William Mc Gehee cho rằng: “Dạy nghề là những quy trình mà

các công ty sử dụng để tạo thuận lợi cho việc học tập có kết quả các hành vi đóng góp vào mục đích và các mục tiêu của công ty”

Ông Max Forter (1979) đưa ra khái niệm dạy nghề là đáp ứng bốn điều kiện:

- Gợi ra những giải pháp cho người học;

- Phát triển tri thức, kĩ năng và thái độ;

- Tạo ra sự thay đổi trong hành vi;

- Đạt được những mục tiêu chuyên biệt

Ngày 29/11/2006, Quốc hội đã ban hành Luật dạy nghề số 76/2006/QH11,

trong đó viết: “Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ

năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học” [14]

Tổng hợp các quan niệm của các tác giả trên trong quá trình nghiên cứu,

chúng tôi hiểu: Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ

năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học

1.2.2.3 Khái niệm đào tạo nghề ngắn hạn

Là cách thức đào tạo nghề trong thời gian ngắn đối với người có trình độ học vấn, sức khỏe phù hợp với nghề cần học nhằm tạo cơ hội cho người học tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm

Qua các khái niệm trên, ta có thể thấy dạy nghề là khâu quan trọng trong việc giải quyết việc làm cho người lao động, tuy nó không tạo ra việc làm ngay nhưng nó lại là yếu tố cơ bản tạo thuận lợi cho quá trình tìm việc làm và thực hiện công việc Dạy nghề giúp cho người lao động có kiến thức chuyên môn,

kỹ năng và thái độ nghề nghiệp để từ đó họ có thể xin được việc làm trong các

cơ quan, doanh nghiệp hoặc có thể tự tạo ra công việc sản xuất cho bản thân

Hiện nay, dạy nghề mang tính tích hợp giữa lý thuyết và thực hành Sự tích hợp thể hiện ở chỗ nó đòi hỏi người học sinh hôm nay, người thợ trong

Trang 27

tương lai phải vừa chuyên sâu về kiến thức, vừa phải thành thục về kỹ năng Đây là điểm khác biệt lớn trong dạy nghề so với dạy văn hóa

Điểm khác biệt tiếp theo cần kể đến đó là: Nguyên lý và phương châm của dạy nghề: Học đi đôi với hành; lấy thực hành, thực tập kỹ năng nghề làm chính; coi trọng giáo dục đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, rèn luyện ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong công nghiệp cho người học, đảm bảo tính giáo dục toàn diện [22]

Căn cứ vào thời gian đào tạo, đào tạo nghề hiện nay được phân loại gồm: đào tạo ngắn hạn và đào tạo dài hạn Đào tạo ngắn hạn là loại hình đào tạo có thời gian đào tạo dưới 1 năm gồm dạy nghề sơ cấp và dạy nghề thường xuyên Loại hình này chủ yếu áp dụng đối với phổ cập nghề, xây dựng làng nghề mới

và khôi phục làng nghề truyền thống ở các địa phương Loại hình này có ưu điểm là có thể tập hợp được đông đảo lực lượng lao động ở mọi lứa tuổi, những người không có điều kiện học tập trung vẫn có thể tiếp thu được tri thức Đối với đào tạo dài hạn là loại hình đào tạo nghề có thời gian từ 1 năm trở lên, là hình thức đào tạo trung cấp nghề và cao đẳng nghề Loại hình này chủ yếu áp dụng đối với đào tạo công nhân kỹ thuật và nhân viên nghiệp vụ Đào tạo nghề dài hạn thường có chất lượng cao hơn đào tạo nghề ngắn hạn

Về hình thức đào tạo nghề nhìn chung rất phong phú và đa dạng Có thể giới thiệu một số hình thức sau:

+ Đào tạo nghề chính quy: Được thực hiện với các chương trình sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề tại các cơ sở dạy nghề theo các khóa tập trung và liên tục Có thể hiểu đào tạo nghề chính quy là loại hình đào tạo tập trung tại các cơ sở đào tạo nghề với quy mô đào tạo tương đối lớn, chủ yếu là đào tạo công nhân kỹ thuật có trình độ lành nghề cao

+ Đào tạo nghề thường xuyên: Là hình thức đào tạo nghề trực tiếp, trong

đó người học sẽ được học những kiến thức, kỹ năng cần thiết cho công việc thông qua thực tế thực hiện công việc dưới sự hướng dẫn của giáo viên hoặc người truyền nghề

Trang 28

Ở các cơ sở dạy nghề địa phương hiện nay hầu hết tồn tại loại hình dạy nghề ngắn hạn trong đó có dạy nghề sơ cấp 3 tháng và dạy nghề thường xuyên dưới 3 tháng

1.2.3 Khái niệm nhu cầu lao động

Trong quá trình phát triển, một xã hội công nghiệp với sự phát triển mạnh

mẽ của KHCN, nhu cầu đào tạo nhân lực của các ngành sản xuất - dịch vụ ngày càng cao và càng đa dạng tương ứng với các giai đoạn công nghiệp hóa Sau cách mạng công nghiệp, giai cấp tư sản lớn mạnh nhanh chóng, họ yêu cầu giáo dục phải hướng về cuộc sống, đào tạo một đội ngũ nhân lực mới, tức là lớp người được giáo dục có đủ khả năng tham gia có hiệu quả vào nền công, thương nghiệp hiện đại và trở thành những công nhân kỹ thuật thành thạo [10]

Theo tác giả A.V.Côvaliov: “Nhu cầu là sự đòi hỏi tất yếu mà mỗi cá

nhân cần được thỏa mãn để có thể tồn tại và phát triển”

Lao động: Là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm thay

đổi các vật thể tự nhiên phù hợp với nhu cầu của con người Thực chất là sự vận động của sức lao động trong quá trình tạo ra của cải vật chất cho xã hội; lao động cũng chính là quá trình kết hợp của sức lao động và tư liệu sản xuất để sản xuất ra sản phẩm phục vụ nhu cầu con người Có thể nói lao động là yếu tố quyết định cho mọi hoạt động kinh tế

Nguồn lao động: Là bộ phận dân cư gồm những người trong độ tuổi

lao động và những người ngoài tuổi lao động nhưng trong thực tế vẫn tham gia lao động

Cầu lao động: Là lượng lao động mà người thuê có thể thuê ở mỗi mức

giá có thể chấp nhận được Nó mô tả toàn bộ hành vi người mua có thể mua được hang hóa sức lao động ở mỗi mức giá hoặc ở tất cả các mức giá có thể đặt

ra Cầu về sức lao động có liên quan chặt chẽ tới giá cả sức lao động, khi giá cả tăng hoặc giảm sẽ làm cho cầu về lao động giảm hoặc tăng

Cung lao động: Là lượng lao động mà người làm thuê có thể chấp nhận

được ở mỗi mức giá nhất định Giống như cầu và lượng cầu, đường cung lao

Trang 29

động mô tả toàn bộ hành vi của người đi làm thuê khi thỏa thuận ở các mức giá đặt ra Cung lao động có quan hệ tỷ lệ thuận với giá cả Khi giá cả tăng thì lượng cung lao động tăng và ngược lại

Nhu cầu là trạng thái tâm lý mà con người cảm thấy thiếu thốn không thoải mái về một cái gì đó và mong muốn được đáp ứng nó Nhu cầu gắn liền với sự tồn tại, phát triển của con người, cộng đồng và tập thể xã hội

Căn cứ vào nguồn gốc có hai loại nhu cầu cơ bản đó là nhu cầu vật chất

và nhu cầu tinh thần

+ Nhu cầu vật chất: Là các nhu cầu về ăn, mặc, ở, … đảm bảo cho người lao động có thể sống được, thỏa mãn được nhu cầu tối thiểu cùng với sự phát triển của xã hội

+ Nhu cầu tinh thần: Là nhu cầu bậc cao hơn, nó đòi hỏi những điều kiện

để con người tồn tại và phát triển về mặt trí lực nhằm tạo ra tâm lý thoải mái

Cả 2 yếu tố vật chất và tinh thần cùng tồn tại trong bản thân người lao động

Trên cơ sở hiểu biết chung về nhu cầu, chúng ta thấy:

Nhu cầu lao động: Là đòi hỏi khách quan phải được thỏa mãn về hoạt động chân tay và hoạt động trí óc nhằm cải tạo thiên nhiên, cải tạo xã hội và cải tạo con người Nhờ quá trình lao động và thông qua lao động mà tư duy con người ngày càng hoàn thiện và phát triển từ người nguyên thủy cho đến người hiện đại Tuy trong cùng một xã hội nhưng nhu cầu lao động của mỗi người rất khác nhau, đó là kết quả của giáo dục và tự giáo dục Để có nhu cầu lao động chúng ta cần giáo dục về giá trị lao động, hình thành trong mỗi con người khát khao được cống hiến tài năng, trí lực của bản thân cho xã hội Mà bước ban đầu

là làm những điều đơn giản nhất Bởi nếu chúng ta không biết lao động từ nhỏ thì lớn lên sẽ không biết quý trọng giá trị lao động, không biết làm việc và đương nhiên trở thành kẻ vô dụng Chính vì vậy, nó thôi thúc con người cần phải lao động, và con người đang làm việc là đang đáp ứng nhu cầu lao động của mình [6]

Trang 30

Như vậy, nhu cầu lao động là những đòi hỏi, mong muốn được tham gia vào hoạt động lao động, đóng góp công sức tạo ra sản phẩm phục vụ cho cá nhân và xã hội Muốn như vậy thì mỗi con người phải có kỹ năng lao động và

kỹ thuật lao động Từ đó nảy sinh nhu cầu học nghề (nhu cầu đào tạo nghề)

Nhu cầu học nghề (nhu cầu đào tạo nghề) của một người là những gì người đó cần học để có thể đạt được mục tiêu học được một nghề nhất định trong cuộc sống Thông thường nhu cầu học thường xuất phát từ những mong muốn hay nguyện vọng của chính người học Đôi khi người học không tự mình thấy ngay được những nhu cầu đó mà cần phải có sự hỗ trợ, tư vấn của người làm công tác đào tạo để có thể thấy rõ hơn

Như vậy, nhu cầu đào tạo nghề là những mong muốn được đào tạo một nghề để đạt được mục tiêu trang bị một nghề nhất định trong cuộc sống

Để thỏa mãn nhu cầu đào tạo nghề của người lao động thì phải quan tâm tới việc đánh giá nhu cầu đào tạo của họ trước khi thực hiện đào tạo họ

Đánh giá nhu cầu đào tạo nghề: Việc đánh giá nhu cầu đào tạo nghề

trong một tổ chức cần được dựa trên ba yếu tố: phân tích tổ chức, phân tích

công việc và phân tích con người (I.L Goldstein, 1993; Paul M Muchinsky,

1996; Paul E Spector, 2000) [6]

+ Phân tích tổ chức: Việc đào tạo nghề cho người lao động trong một tổ

chức phải căn cứ vào quy mô của tổ chức, nhu cầu đào tạo nghề trong tổ chức và thời điểm đào tạo nghề Một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu đối với việc đào tạo nghề cho người lao động là đào tạo cho họ các kỹ năng nghề nghiệp

+ Phân tích công việc của người lao động: Nó được quy định bởi đối

tượng đào tạo nghề (người lao động) Sự phân tích này liên quan tới việc thực hiện các hoạt động lao động và các thao tác nghề trong thực tế của người lao động Theo Paul M Muchinsky (1996), phân tích công việc của người lao động gồm bốn bước cơ bản: Phát triển các ý tưởng về công việc; Phát triển các nhóm vấn đề về công việc; Phát triển kiến thức, kỹ năng, năng lực và các công việc

Trang 31

thích hợp; Thiết kế môi trường đào tạo từ sự kết hợp các kiến thức, kỹ năng của công việc

+ Phân tích con người: Phân tích con người để tìm lời giải cho hai câu hỏi: Ai là những người cần đào tạo trong tổ chức? Loại hình đào tạo nào cần

cho họ? Việc phân tích về kiến thức, kỹ năng và năng lực của người lao động ở

trên là một trong những nội dung quan trọng của phân tích con người Bởi lẽ, kiến thức, kỹ năng và năng lực của người lao động có liên quan đến việc thực hiện các nhiệm vụ mà tổ chức giao cho họ Việc phân tích con người giúp chúng ta nắm được chính xác nhu cầu đào tạo người lao động trong tổ chức: Những ai cần được đào tạo nghề, đào tạo về nghề gì và hình thức đào tạo là gì Trong một tổ chức, nhất là các tổ chức lớn thì nhu cầu đào tạo nghề là rất đa dạng Xác định được chính xác nhu cầu đào tạo của người lao động là công việc không dễ dàng Phân tích con người trong tổ chức còn giúp chúng ta phân công nhiệm vụ cho người lao động một cách phù hợp: phù hợp với trình độ, kỹ năng và năng lực của họ [6]

1.2.4 Khái niệm quản lý đào tạo nghề

Đào tạo là một lĩnh vực bao gồm toàn bộ các hoạt động của nhà trường nhằm cung cấp kiến thức và giáo dục cho học sinh, sinh viên Đây là công việc kết nối giữa mục tiêu đào tạo, nội dung chương trình đào tạo, tổ chức thực hiện chương trình và các vấn đề liên quan đến tuyển sinh, đào tạo, giám sát, đánh giá, kiểm tra, thi tốt nghiệp cùng các quy trình đánh giá khác, các chính sách liên quan đến chuẩn mực và cấp bằng ở lĩnh vực đào tạo chuyên nghiệp ở các

cơ sở đào tạo nghề

Quản lý đào tạo nghề là một quá trình lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, kiểm tra, đánh giá các hoạt động đào tạo nghề của toàn hệ thống theo kế hoạch

và chương trình nhất định nhằm đạt được các mục tiêu đề ra

Quản lý quá trình đào tạo nghề thực chất là quản lý các yếu tố sau theo một trình tự, quy trình vừa khoa học, vừa phù hợp với điều kiện thực tế của các

Trang 32

cơ sở đào tạo nghề, đem lại hiệu quả trong công tác đào tạo Theo chức năng quản lý là: kế hoạch hóa; tổ chức; chỉ đạo; kiểm tra, đánh giá Còn theo quy trình quản lý là: Mục tiêu; Nội dung; Phương pháp; Hình thức tổ chức; Hoạt động dạy nghề (chủ thể là người dạy); Hoạt động học nghề (chủ thể là người học); Cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện đào tạo nghề; Môi trường; Tổ chức thực hiện Quy chế đào tạo nghề trong kiểm tra, đánh giá; Tổ chức bộ máy Các thành tố này có mối quan hệ chặt chẽ và tác động qua lại lẫn nhau

Trong quá trình quản lý đào tạo nghề có quản lý đào tạo nghề ngắn hạn

Đó là quá trình diễn ra trong một thời gian ngắn (ngắn về thời gian, thấp về trình độ) Người học có thể học trong thời gian ngắn (dưới 3 tháng) và chỉ cần nắm bắt được những nguyên lý và làm được những kỹ thuật cơ bản của một nghề nào đó Do đó, để phù hợp với thực tiễn, chúng tôi kết hợp sử dụng cả hai cách trên trong quá trình quản lý đào tạo nghề ngắn hạn tại đơn vị

Nhiệm vụ của quản lý đào tạo nghề chính là ổn định duy trì quá trình đào tạo nghề và đổi mới phát triển đào tạo nghề, đón đầu những tiến bộ khoa học

kỹ thuật đem lại hiệu quả kinh tế, chính trị, xã hội Từ đó đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế xã hội, nhu cầu của thị trường, nhu cầu của doanh nghiệp và nhu cầu của lao động địa phương trong từng giai đoạn phát triển của đất nước

1.3 Hoạt động dạy nghề ngắn hạn ở Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp - Dạy nghề

1.3.1.Chức năng của Trung tâm KTTH-HN-DN

Theo Hướng dẫn số 132/SGD&ĐT-TCCB ngày 15 tháng 01 năm 2008 của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Hải Dương thì các Trung tâm KTTH-HN-DN

có chức năng cụ thể như sau:

Là đơn vị sự nghiệp công lập tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động Trung tâm có chức năng thực hiện giáo dục hướng nghiệp và dạy nghề cho học sinh bậc trung học phổ thông và người lao động; liên kết với các cơ sở dạy nghề để tổ chức đào tạo nghề ngắn hạn, dài hạn và các lớp trung cấp nghề cho

Trang 33

người lao động Trung tâm chịu sự quản lý trực tiếp, toàn diện của Sở Giáo dục

và Đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ của các Sở, ngành có liên quan

Trung tâm có tư cách pháp nhân, có con dấu và được mở tài khoản theo quy định của pháp luật [19]

1.3.2.Nhiệm vụ của Trung tâm KTTH-HN-DN

Theo Hướng dẫn số 132/SGD&ĐT-TCCB ngày 15 tháng 01 năm 2008 của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Hải Dương thì các Trung tâm KTTH-HN-DN

có nhiệm vụ cụ thể như sau:

- Dạy kỹ thuật (công nghệ), dạy nghề phổ thông và tư vấn hướng nghiệp cho học sinh THPT, Trung tâm GDTX theo chương trình của Bộ Giáo dục & Đào tạo

- Bồi dưỡng giáo viên kỹ thuật cho các trường THPT về giáo dục kỹ thuật tổng hợp, hướng nghiệp

- Nghiên cứu ứng dụng các đề tài khoa học và giáo dục kỹ thuật tổng hợp, hướng nghiệp, dạy nghề cho học sinh phổ thông; thử nghiệm, ứng dụng và chuyển giao công nghệ mới phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

- Xây dựng kế hoạch tuyển sinh, tổ chức tuyển sinh học nghề Mở lớp dạy nghề cho thanh thiếu niên và các đối tượng khác khi địa phương có nhu cầu

và trung tâm KTTH-HN-DN có điều kiện góp phần đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ ở trình độ sơ cấp nghề nhằm trang bị cho người học năng lực thực hành một số nghề đơn giản hoặc năng lực thực hành một số công việc của một nghề, có đạo đức lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khỏe, tạo điều kiện cho họ có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động

- Kiểm tra, cấp chứng chỉ nghề phổ thông theo quy định của Bộ Giáo dục

và Đào tạo và chứng chỉ sơ cấp nghề theo quy định của Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội

Trang 34

- Tổ chức xây dựng và thực hiện các chương trình, giáo trình, học liệu dạy nghề đối với ngành nghề được phép đào tạo Đưa nội dung giảng dạy về ngôn ngữ, phong tục tập quán, pháp luật của nước mà người lao động đến làm việc và pháp luật có liên quan của Việt Nam vào chương trình dạy nghề khi tổ chức dạy nghề cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài

- Tuyển dụng, quản lý đội ngũ giáo viên, cán bộ, nhân viên của trung tâm

đủ về số lượng; phù hợp với nghành nghề, quy mô đào tạo theo tiêu chuẩn quy định của pháp luật

- Tư vấn học nghề, tư vấn việc làm miễn phí cho người học nghề

- Tổ chức lao động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ khoa học, kỹ thuật phục vụ giáo dục đào tạo theo quy định của pháp luật

- Phối hợp với các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân, gia đình người học nghề trong hoạt động dạy nghề; tổ chức cho người học nghề tham quan, thực tập tại doanh nghiệp

- Tổ chức cho giáo viên, cán bộ, nhân viên và người học nghề tham gia các hoạt động xã hội [19]

1.3.3 Dạy nghề ngắn hạn ở Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp - Dạy nghề

Chức năng dạy nghề ở các Trung tâm kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp

- Dạy nghề có hai hình thức chính đó là dạy nghề cho học sinh phổ thông và dạy nghề cho thanh niên, lao động nông thôn theo Đề án 1956

Nghề phổ thông là nghề phổ biến, thông dụng Những nghề ấy có kỹ thuật tương đối đơn giản, quy trình dạy nghề không đòi hỏi thiết bị phức tạp, thời gian đào tạo ngắn (70 đến 105 tiết) phù hợp với điều kiện kinh tế, khả năng đầu tư của địa phương

Trong kết luận của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Trần Hồng Quân tại Hội nghị Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo từ ngày 23-24/7/1993 tại Hà

Nội có ghi: Dạy nghề cho học sinh phổ thông với tư cách là dạy tri thức, kĩ

năng lao động, hướng nghiệp là chính

Trang 35

Vậy dạy nghề phổ thông là dạy học học sinh bậc trung học hiểu biết, nắm bắt được những kỹ thuật cơ bản nhất và biết thực hiện các thao tác thực hành cơ bản của một nghề nào đó Qua đó tìm hiểu về nghề nhằm giúp cho việc định hướng nghề nghiệp trong tương lai của bản thân

Dạy nghề cho thanh niên và người lao động là nhằm cung cấp cho họ những kĩ năng, kĩ xảo của một nghề nào đó mà sau khi tốt nghiệp họ có thể thực hiện thành công nghề mình đã học để tự nuôi sống bản thân và gia đình

Hiện nay tại Hải Dương hình thức dạy nghề theo Đề án 1956 đang được các trung tâm thực hiện giảng dạy theo chỉ tiêu phân bổ của Sở Lao động Thương binh và Xã hội, Chi cục Phát triển nông thôn tỉnh giao cho các đơn vị tùy thuộc vào quy mô của từng đơn vị Nhìn chung các trung tâm KTTH-HN-

DN chủ yếu tập trung giảng dạy một số nghề cơ bản Các nghề phi nông nghiệp như: May công nghiệp; thêu tay; điện dân dụng; cơ khí; Hàn điện;… Các nghề nông nghiệp như: trồng trọt; chăn nuôi gia súc, gia cầm; chăn nuôi thủy sản;

…Tuy nhiên việc dạy nghề là theo đăng ký dạy nghề hàng năm với các sở mà chưa chú ý đến nhu cầu của người lao động trong việc họ muốn học nghề gì? Thị trường đang cần những lao động qua đào tạo như thế nào? Nhu cầu của lao động địa phương là gì? Chính vì vậy dẫn đến tình trạng là các lớp học nghề ngắn hạn cho người lao động thường không duy trì được sĩ số đông đủ, tình trạng học viên đến lớp còn ít, người học không hiểu mình học nghề để làm gì, người học sau khi học nghề không làm đúng nghề mình được đào tạo do đó chất lượng dạy nghề bị ảnh hưởng không nhỏ

1.4 Quản lý hoạt động dạy nghề ngắn hạn đáp ứng nhu cầu lao động địa phương ở Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp - Dạy nghề

1.4.1 Công tác khảo sát nhu cầu của người lao động và nhu cầu lao động địa phương

Cần phải điều tra nhu cầu lao động và lao động địa phương để tìm hiểu xem địa phương đó cần tuyển lao động có ngành nghề gì? Chẳng hạn như: Ở

Trang 36

các địa phương có nhiều nhà máy xí nghiệp cần lực lượng lao động trẻ nhiều thì nên mở một số nghề như: May công nghiệp; hàn; điện tử - điện lạnh; Còn

ở các địa phương trang trại phát triển thì nên tập trung vào một số nghề như: Chăn nuôi thú y; trồng rau an toàn, Ở địa phương có nghề truyền thống như làm hàng mây tre đan, làm chổi, … thì cần điều tra xem họ có muốn phát triển nghề truyền thống của họ không để giúp đỡ, hỗ trợ và tạo điều kiện để họ phát triển các nghề truyền thống của địa phương mình Đối với người dân địa phương có muốn học nghề và sống bằng nghề truyền thống đó không để giúp

đỡ họ yêu thích và gắn bó với nghề đó của địa phương Mặt khác khi khảo sát nhu cầu của người lao động trên các địa bàn cần chú ý đến việc phát triển KT-

XH của địa phương đó Điều này hết sức quan trọng vì việc nắm bắt nhu cầu của địa phương, của nhà tuyển dụng có liên quan mật thiết với nhu cầu của người lao động Bên cạnh đó cũng cần điều tra nhu cầu của người lao động để biết được mong muốn nghề nghiệp của họ như thế nào thì việc mở các lớp đào tạo nghề sẽ thu hút được học viên dễ dàng hơn

Chính vì vậy việc quản lý khảo sát nhu cầu học nghề của người lao động

và nhu cầu nguồn nhân lực ở các địa phương là rất quan trọng đối với những cơ

sở đào tạo nghề, nó sẽ giúp cho công tác tuyển sinh đầu vào một cách dễ dàng hơn, chất lượng học viên qua đào tạo nghề có việc làm và gắn bó với nghề được đào tạo cũng được nâng cao hơn

1.4.2 Công tác lập kế hoạch dạy nghề ngắn hạn đáp ứng nhu cầu lao động địa phương

Quản lý hoạt động lập kế hoạch đào tạo nghề ngắn hạn ở trung tâm KTTH - HN - DN là: Quản lý quá trình đảm bảo chất lượng tuyển sinh đầu vào: Tổng số học viên theo chỉ tiêu; cách thức tuyển sinh và các chế độ ưu đãi; trình

độ học vấn phù hợp với nghề đăng ký; động cơ học tập và sức khỏe

Trước mỗi khóa đào tạo nghề thì nhà quản lý cần phải lập được kế hoạch dạy nghề theo từng nghề trong đó có dạy nghề ngắn hạn Nội dung của kế hoạch dạy nghề ngắn hạn cần phải thể hiện được:

Trang 37

- Mục tiêu đào tạo chung và mục tiêu đào tạo thực hành, lý thuyết

- Thời gian và phân bổ thời gian cho các mô đun của khóa học

- Thời gian thực học tối thiểu cho hoạt động dạy nghề

Căn cứ vào chương trình đào tạo, xây dựng tiến độ đào tạo cho khóa học, năm học, lịch trình giảng dạy của các nghề trong trung tâm và cơ sở đào tạo qua đó triển khai việc phân công cho giáo viên nghiên cứu nắm bắt chương trình và chuẩn bị cho môn học như: Giáo trình, tài liệu tham khảo, phương tiện dạy học, Đây cũng chính là nhiệm vụ quan trọng của giáo viên để hoàn thành được chức năng, trách nhiệm của mình, đảm bảo chất lượng đào tạo đạt hiệu quả cao, đảm bảo cho hoạt động đào tạo đạt được mục tiêu của chương trình đào tạo

1.4.3 Công tác tổ chức và chỉ đạo thực hiện kế hoạch dạy nghề ngắn hạn đáp ứng nhu cầu lao động địa phương

Tổ chức thực hiện kế hoạch dạy nghề trong đó có dạy nghề ngắn hạn thực chất là quản lý chương trình đào tạo bao gồm toàn bộ nội dung kiến thức của các mô đun, môn học được bố trí theo thời lượng một nghề, theo cấp đào tạo Tổ chức thực hiện kế hoạch đào tạo là thực hiện đúng, đủ nội dung đã được đặt ra theo mục tiêu xác định của mỗi nghề Quản lý việc tổ chức và chỉ đạo thực hiện kế hoạch dạy nghề ở trung tâm đó là:

+ Đảm bảo thực hiện nội dung, chương trình đào tạo: Nội dung dạy nghề ngắn hạn phải phù hợp với mục tiêu dạy nghề, tập trung vào năng lực thực hành nghề và phù hợp với thực tiễn Chương trình dạy nghề phải được giám đốc tổ chức biên soạn và phê duyệt

+ Quản lý hoạt động dạy của giáo viên: Quản lý việc thực hiện kế hoạch giảng dạy, việc đổi mới phương pháp giảng dạy, quản lý sinh hoạt chuyên môn, việc theo dõi chỉ đạo việc hoàn thiện các hồ sơ sổ sách chuyên môn theo quy định Theo dõi, đôn đốc, đánh giá kết quả thực hiện của giáo viên.Đánh giá giáo viên thông qua học viên, đồng nghiệp và người quản lý

Trang 38

+ Quản lý hoạt động học của học viên: Quản lý quá trình học tập tại lớp, thực hành ở xưởng và ở cơ sở sản xuất Theo dõi, tìm hiểu để nắm được những biểu hiện tích cực và tiêu cực trong việc thực hiện nhiệm vụ học tập, rèn luyện của học viên Khuyến khích, động viên học viên phát huy các yếu tố tích cực và khắc phục tiêu cực để vươn lên đạt kết quả cao trong học tập và rèn luyện

1.4.4 Công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động dạy nghề ngắn hạn đáp ứng nhu cầu lao động địa phương

Kiểm tra, đánh giá kết quả dạy nghề ngắn hạn là khâu không thể thiếu trong quá trình đào tạo nghề trong đó có dạy nghề ngắn hạn Đánh giá là động lực để thúc đẩy tích cực và là công cụ đo trình độ người học Qua đánh giá giúp cho các nhà quản lý điều chỉnh, cải tiến nội dung chương trình, kế hoạch dạy học đồng thời giúp giáo viên luôn đổi mới nội dung, phương pháp dạy học Những yêu cầu cơ bản của việc đánh giá kết quả học nghề ngắn hạn của người học gồm:

- Đảm bảo việc đánh giá là đánh giá kết quả đạt được mục tiêu đào tạo nghề Đây là yêu cầu cơ bản nhất và quan trọng nhất của đánh giá kết quả học tập của người học và đó cũng chính là độ giá trị của đánh giá Không đạt yêu cầu này thì coi như cả quá trình đánh giá không đạt

- Đảm bảo tính khách quan Yêu cầu đảm bảo tính khách quan của đánh giá kết quả học nghề ngắn hạn vừa đòi hỏi kết quả đánh giá, phải phản ánh đúng kết quả lĩnh hội kiến thức và kỹ năng của người học vừa đòi hỏi kết quả đánh giá không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của người đánh giá Thực hiện được yêu cầu này không những nhằm thu được những thông tin phản hồi chính xác mà còn đảm bảo sự công bằng trong đánh giá vốn là một trong những yêu cầu có ý nghĩa giáo dục và xã hội to lớn

- Đảm bảo tính công khai Đảm bảo tính công khai trong đánh giá kết quả học nghề ngắn hạn từ khâu chuẩn bị tiến hành đến khâu công bố kết quả không những có ý nghĩa giáo dục mà còn có ý nghĩa xã hội, thể hiện tính dân

Trang 39

chủ cũng như góp phần hạn chế tiêu cực trong giáo dục nói chung và đào tạo nghề ngắn hạn nói riêng

Ba yêu cầu cơ bản trên có thể dùng làm thước đo giá trị của việc đánh giá kết quả học nghề ngắn hạn Ngoài ra cần phải đảm bảo ý nghĩa của việc đánh giá kết quả như sau:

- Đối với giáo viên dạy nghề: Xác định được thành tích và thái độ của từng người học nghề và của toàn bộ lớp học, qua đó phân tích nguyên nhân của những kết quả thu được từ đó tìm ra biện pháp để cải tiến công tác sư phạm

- Đối với người học nghề: Họ tự xác định được sự hiểu biết và năng lực của chính mình so với yêu cầu đặt ra trong chương trình đào tạo

- Đối với người quản lý: Rút ra được những trọng tâm của công tác đào tạo và từ đó có những biện pháp trong công tác tổ chức, quản lý và chỉ đạo mọi hoạt động đào tạo của đơn vị

1.4.5 Công tác đảm bảo cơ sở vật chất phục vụ dạy nghề ngắn hạn đáp ứng nhu cầu lao động địa phương

Cơ sở vật chất của trung tâm dạy nghề bao gồm toàn bộ các điều kiện

để trung tâm tồn tại thực hiện nhiệm vụ đào tạo, giáo dục như: Đất đai, phòng học, nhà xưởng, phòng làm việc của cán bộ giáo viên, máy móc thiết

bị, dụng cụ, vật tư, vật liệu, nguồn kinh phí là những nguồn lực đảm bảo thực hiện đúng đủ mục tiêu, chương trình đào tạo nói chung và đào tạo nghề ngắn hạn nói riêng

Quản lý đảm bảo cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học: Đảm bảo cung cấp đầy đủ máy móc thiết bị và nguyên vật liệu phục vụ cho quá trình dạy nghề Đảm bảo nguồn tài chính cho việc xây dựng cơ sở vật chất và các hoạt động khác phục vụ quá trình đào tạo Đảm bảo lớp học và nhà xưởng đáp ứng nhu cầu dạy và học Cung cấp đầy đủ giáo trình, tài liệu giảng dạy và học tập

Quản lý tốt cơ sở vật chất chính là chỉ đạo sao cho phát huy cao nhất nguồn lực để thực hiện có hiệu quả mục tiêu đào tạo bao gồm:

Trang 40

- Sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất hiện có phục vụ cho đào tạo nghề Các nhà xưởng phục vụ cho đào tạo nghề ngắn hạn đều được phân công cho giáo viên phụ trách có nội quy rõ ràng, thực hiện sửa chữa bảo dưỡng đồ dùng định kỳ thường xuyên

- Sử dụng có hiệu quả nguồn kinh phí được cấp cho việc mua sắm trang thiết bị, đồ dùng dạy học, vật tư kỹ thuật Ban giám đốc Trung tâm luôn tham khảo ý kiến của các giáo viên chuyên môn để mua sắm các đồ dùng phù hợp với ngành nghề, tránh lãng phí, đồ dùng mua về không sử dụng mà vẫn thiếu

đồ dùng để đào tạo

- Phát huy tính chủ động sáng tạo của giáo viên trong việc chế tạo đồ dùng, thiết bị phục vụ cho giảng dạy, học tập nhất là trong đào tạo các nghề ngắn hạn như các nghề lao động chân tay: Thêu tay; làm hàng thủ công;… Hàng năm Trung tâm đều triển khai, yêu cầu giáo viên dạy nghề tích cực tự làm các đồ dùng dạy học phù hợp với nghề đào tạo

- Đưa giáo viên đi thực tế, đi đào tạo để tiếp cận công nghê mới về khai thác các thiết bị công nghệ đạt hiệu quả cao nhất, hoặc liên hệ cho người học đến các cơ sở sản xuất tiếp xúc, thực tập trên các trang thiết bị hiện đại, mang kiến thức đã được học về sử dụng và khai thác các trang thiết bị của trung tâm

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động dạy nghề ngắn hạn đáp ứng nhu cầu lao động địa phương

Thứ hai, nội dung chương trình, phương pháp đào tạo nghề của Trung tâm KTTH - HN - DN Nội dung, chương trình đào tạo theo hướng mềm hóa,

Ngày đăng: 20/03/2017, 16:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Nguyễn Quốc Chí- Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2014): Đại cương khoa học quản lý, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương khoa học quản lý
Tác giả: Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc
Nhà XB: Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2014
6. Vũ Dũng (2007): Tâm lý học quản lý, NXB Đại học sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học quản lý
Tác giả: Vũ Dũng
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
Năm: 2007
7. Nguyễn Bá Dương (1999): Tâm lý học cho người lãnh đạo, NXB chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học cho người lãnh đạo
Tác giả: Nguyễn Bá Dương
Nhà XB: NXB chính trị Quốc gia
Năm: 1999
9. Harold Koontz (1993): Những vấn đề cốt lõi của quản lý, NXB KHXH- Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cốt lõi của quản lý
Tác giả: Harold Koontz
Nhà XB: NXB KHXH- Hà Nội
Năm: 1993
11. Nguyễn Hùng (2008): Sổ tay tư vấn Hướng nghiệp và chọn nghề, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay tư vấn Hướng nghiệp và chọn nghề
Tác giả: Nguyễn Hùng
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
12. Phan Văn Kha (2007): Quản lý nhà nước về giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước về giáo dục
Tác giả: Phan Văn Kha
Nhà XB: Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2007
13. Trần Kiểm (1990): Quản lý giáo dục và quản lý trường học, Viện Khoa học giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý giáo dục và quản lý trường học
Tác giả: Trần Kiểm
Nhà XB: Viện Khoa học giáo dục
Năm: 1990
16. MI Konđacôp (1984): Cơ sở lý luận của khoa học quản lý giáo dục, Trường cán bộ QLGD và ĐT Trung ương 1- Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận của khoa học quản lý giáo dục
Tác giả: MI Konđacôp
Nhà XB: Trường cán bộ QLGD và ĐT Trung ương 1
Năm: 1984
18. Nguyễn Ngọc Quang (1986): Những kiến thức cơ bản về quản lý giáo dục, Trường cán bộ quản lý Giáo dục Trung ương 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những kiến thức cơ bản về quản lý giáo dục
Tác giả: Nguyễn Ngọc Quang
Nhà XB: Trường cán bộ quản lý Giáo dục Trung ương 1
Năm: 1986
21. Trần Quốc Thành (2014): Khoa học quản lý đại cương, Đề cương bài giảng dành cho học viên cao học, trường Đại học sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học quản lý đại cương
Tác giả: Trần Quốc Thành
Nhà XB: trường Đại học sư phạm
Năm: 2014
22. Thủ tướng Chính phủ: Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27 tháng 11 năm 2009 phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020
24. Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương: Quyết định số 758/QĐ-UBND ngày 22 tháng 3 năm 2011 phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh Hải Dương đến năm 2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh Hải Dương đến năm 2020
1. Nguyễn Văn Bình (1999): Khoa học tổ chức và quản lý- Một số lý luận và thực tiễn, NXB thống kê, Hà Nội Khác
2. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội: Quyết định số 08/2007/QĐ-BLĐTBXH ngày 26 tháng 3 năm 2007 ban hành quy chế tuyển sinh học nghề Khác
3. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội: Quyết định số 14/2007/QĐ- BLĐTBXH ngày 24 tháng 5 năm 2007 ban hành quy chế thi, kiểm tra và công nhận tốt nghiệp trong dạy nghề hệ chính quy Khác
4. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội: Quyết định số 62/2008/QĐ- BLĐTBXH ngày 04 tháng 11 năm 2008 về việc ban hành hệ thống biểu mẫu, sổ sách quản lý dạy và học trong đào tạo nghề Khác
8. Đảng bộ huyện Kinh Môn: Văn kiện Đại hội Đảng bộ huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương nhiệm kỳ 2015-2020 Khác
10. Nguyễn Văn Hộ (2009): Triết lý giáo dục nhân lực Khác
14. Luật Dạy nghề số 76/2006/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2006 Khác
17. Hà Thế Ngữ-Đặng Vũ Hoạt (1986): Giáo dục học 1, NXB Giáo dục Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức của Trung tâm KTTH-HN-DN huyện Kinh Môn - Quản lý hoạt động dạy nghề ngắn hạn ở trung tâm kỹ thuật tổng hợphướng nghiệp dạy nghề huyện kinh môn, tỉnh Hải Dương đáp ứng nhu cầu lao động địa phương (LV thạc sĩ)
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ tổ chức của Trung tâm KTTH-HN-DN huyện Kinh Môn (Trang 48)
Bảng 2.1. Số lượng người học tham gia học nghề ngắn hạn tại Trung tâm - Quản lý hoạt động dạy nghề ngắn hạn ở trung tâm kỹ thuật tổng hợphướng nghiệp dạy nghề huyện kinh môn, tỉnh Hải Dương đáp ứng nhu cầu lao động địa phương (LV thạc sĩ)
Bảng 2.1. Số lượng người học tham gia học nghề ngắn hạn tại Trung tâm (Trang 52)
Bảng 2.2. Đội ngũ giáo viên dạy nghề ngắn hạn ở trung tâm KTTH- HN- - Quản lý hoạt động dạy nghề ngắn hạn ở trung tâm kỹ thuật tổng hợphướng nghiệp dạy nghề huyện kinh môn, tỉnh Hải Dương đáp ứng nhu cầu lao động địa phương (LV thạc sĩ)
Bảng 2.2. Đội ngũ giáo viên dạy nghề ngắn hạn ở trung tâm KTTH- HN- (Trang 53)
Bảng 2.3. Nhu cầu học nghề ngắn hạn của người lao động - Quản lý hoạt động dạy nghề ngắn hạn ở trung tâm kỹ thuật tổng hợphướng nghiệp dạy nghề huyện kinh môn, tỉnh Hải Dương đáp ứng nhu cầu lao động địa phương (LV thạc sĩ)
Bảng 2.3. Nhu cầu học nghề ngắn hạn của người lao động (Trang 57)
Bảng 2.5. Lý do chọn nghề ngắn hạn của người lao động ở huyện - Quản lý hoạt động dạy nghề ngắn hạn ở trung tâm kỹ thuật tổng hợphướng nghiệp dạy nghề huyện kinh môn, tỉnh Hải Dương đáp ứng nhu cầu lao động địa phương (LV thạc sĩ)
Bảng 2.5. Lý do chọn nghề ngắn hạn của người lao động ở huyện (Trang 60)
Bảng 2.6. Mức độ cần thiết của đào tạo nghề ngắn hạn của người lao động - Quản lý hoạt động dạy nghề ngắn hạn ở trung tâm kỹ thuật tổng hợphướng nghiệp dạy nghề huyện kinh môn, tỉnh Hải Dương đáp ứng nhu cầu lao động địa phương (LV thạc sĩ)
Bảng 2.6. Mức độ cần thiết của đào tạo nghề ngắn hạn của người lao động (Trang 61)
Bảng 2.7. Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động - Quản lý hoạt động dạy nghề ngắn hạn ở trung tâm kỹ thuật tổng hợphướng nghiệp dạy nghề huyện kinh môn, tỉnh Hải Dương đáp ứng nhu cầu lao động địa phương (LV thạc sĩ)
Bảng 2.7. Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động (Trang 73)
Hình thức bồi dưỡng được mô tả bằng sơ đồ như sau: - Quản lý hoạt động dạy nghề ngắn hạn ở trung tâm kỹ thuật tổng hợphướng nghiệp dạy nghề huyện kinh môn, tỉnh Hải Dương đáp ứng nhu cầu lao động địa phương (LV thạc sĩ)
Hình th ức bồi dưỡng được mô tả bằng sơ đồ như sau: (Trang 84)
Hình thức thực hành sản xuất, tham quan rất bổ ích vì giáo viên được trực  tiếp thực hiện các thao tác, kỹ năng cùng với các trang thiết bị để làm ra các sản  phẩm, được trao đổi với các công nhân lành nghề, những người có kinh nghiệm - Quản lý hoạt động dạy nghề ngắn hạn ở trung tâm kỹ thuật tổng hợphướng nghiệp dạy nghề huyện kinh môn, tỉnh Hải Dương đáp ứng nhu cầu lao động địa phương (LV thạc sĩ)
Hình th ức thực hành sản xuất, tham quan rất bổ ích vì giáo viên được trực tiếp thực hiện các thao tác, kỹ năng cùng với các trang thiết bị để làm ra các sản phẩm, được trao đổi với các công nhân lành nghề, những người có kinh nghiệm (Trang 85)
Bảng 3.1. Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết của các biện pháp - Quản lý hoạt động dạy nghề ngắn hạn ở trung tâm kỹ thuật tổng hợphướng nghiệp dạy nghề huyện kinh môn, tỉnh Hải Dương đáp ứng nhu cầu lao động địa phương (LV thạc sĩ)
Bảng 3.1. Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết của các biện pháp (Trang 96)
4. Hình thức tổ chức dạy nghề ngắn hạn hiện nay? - Quản lý hoạt động dạy nghề ngắn hạn ở trung tâm kỹ thuật tổng hợphướng nghiệp dạy nghề huyện kinh môn, tỉnh Hải Dương đáp ứng nhu cầu lao động địa phương (LV thạc sĩ)
4. Hình thức tổ chức dạy nghề ngắn hạn hiện nay? (Trang 111)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w