Huy động nguồn lực doanh nghiệp vào hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo Đề án 1956 tại Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp dạy nghề Ninh Giang (LV thạc sĩ)Huy động nguồn lực doanh nghiệp vào hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo Đề án 1956 tại Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp dạy nghề Ninh Giang (LV thạc sĩ)Huy động nguồn lực doanh nghiệp vào hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo Đề án 1956 tại Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp dạy nghề Ninh Giang (LV thạc sĩ)Huy động nguồn lực doanh nghiệp vào hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo Đề án 1956 tại Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp dạy nghề Ninh Giang (LV thạc sĩ)Huy động nguồn lực doanh nghiệp vào hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo Đề án 1956 tại Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp dạy nghề Ninh Giang (LV thạc sĩ)Huy động nguồn lực doanh nghiệp vào hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo Đề án 1956 tại Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp dạy nghề Ninh Giang (LV thạc sĩ)Huy động nguồn lực doanh nghiệp vào hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo Đề án 1956 tại Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp dạy nghề Ninh Giang (LV thạc sĩ)Huy động nguồn lực doanh nghiệp vào hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo Đề án 1956 tại Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp dạy nghề Ninh Giang (LV thạc sĩ)Huy động nguồn lực doanh nghiệp vào hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo Đề án 1956 tại Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp dạy nghề Ninh Giang (LV thạc sĩ)
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
PHAN THỊ THƯƠNG
HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC DOANH NGHIỆP VÀO HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN THEO ĐỀ ÁN 1956 TẠI TRUNG TÂM KỸ THUẬT TỔNG HỢP HƯỚNG NGHIỆP DẠY NGHỀ NINH GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Trang 2THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
PHAN THỊ THƯƠNG
HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC DOANH NGHIỆP VÀO HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN THEO ĐỀ ÁN 1956 TẠI TRUNG TÂM KỸ THUẬT TỔNG HỢP HƯỚNG NGHIỆP DẠY NGHỀ NINH GIANG
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã ngành: 60.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS NÔNG KHÁNH BẰNG
Trang 4THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Phan Thị Thương
Trang 6LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết
ơn sâu sắc đến TS Nông Khánh Bằng đã tận tâm giúp đỡ, hướng dẫn, đóng góp những ý kiến quý báu cho tác giả trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Xin chân thành cảm ơn BGH trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, cảm ơn quý thầy cô đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Chân thành cảm ơn Ban Giám đốc Trung tâm KT TH HN - DN Ninh Giang đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và nghiên cứu
Xin chân thành cảm ơn các cơ sở dạy nghề, các DN và các tổ chức sử dụng lao động đã quan tâm giúp đỡ, đóng góp ý kiến trong quá trình nghiên cứu luận văn
Chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên, chia
sẻ những thông tin quý báu để tôi hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn!
Hải Dương, ngày 4 tháng 4 năm 2016
Tác giả luận văn
Phan Thị Thương
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC HÌNH vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 4
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4
4 Giả thuyết khoa học 4
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6 Phương pháp nghiên cứu 5
7 Phạm vi nghiên cứu 6
8 Cấu trúc luận văn 6
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC DOANH NGHIỆP VÀO ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN Ở TRUNG TÂM KỸ THUẬT TỔNG HỢP HƯỚNG NGHIỆP DẠY NGHỀ 7
1.1 Lịch sử nghiên vấn đề nghiên cứu 7
1.1.1 Trên thế giới 7
1.1.2 Ở Việt Nam 10
1.2 Một số khái niệm công cụ 14
1.2.1 Nghề 14
Trang 81.2.3 Lao động nông thôn (LĐNT) 16
1.2.4 Đào tạo nghề cho lao động nông thôn 17
1.2.5 Nguồn lực 18
1.2.6 Nguồn lực doanh nghiệp 18
1.2.7 Huy động nguồn lực doanh nghiệp vào hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo đề án 1956 20
1.3 Một số vấn đề cơ bản về huy động nguồn lực doanh nghiệp vào hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo Đề án 1956 tại Trung tâm KT TH HN-DN 21
1.3.1 Đề án 1956 "Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020" 21
1.3.2 Vị trí, vai trò của Trung tâm KT TH HN-DN trong đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo Đề án 1956 25
1.3.3 Mục đích, nội dung, nguyên tắc huy động các nguồn lực doanh nghiệp 26
1.3.4 Quy trình huy động nguồn lực doanh nghiệp vào hoạt động đào tạo nghề 29
1.3.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến huy động nguồn lực DN vào hoạt động đào tạo nghề ở Trung tâm KT TH HN-DN 35
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 38
Chương 2 THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC DOANH NGHIỆP VÀO HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN THEO ĐỀ ÁN 1956 TẠI TRUNG TÂM KT TH HN - DN NINH GIANG 41
2.1 Một vài nét về tình hình kinh tế - văn hoá - xã hội huyện Ninh Giang 41
2.1.1 Vị trí địa lý 41
2.1.2 Tình hình kinh tế - văn hóa - xã hội 42
2.2 Khái quát về Trung tâm KT TH HN-DN Ninh Giang 44
2.2.1 Chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm 44
Trang 92.2.2 Bộ máy tổ chức của Trung tâm 45
2.2.3 Đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên, nhân viên 45
2.2.4 Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học 46
2.2.5 Danh mục nghề đào tạo cho lao động nông thôn của Trung tâm KT TH HN-DN Ninh Giang 47
2.3 Thực trạng huy động nguồn lực DN vào hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại Trung tâm KT TH HN-DN Ninh Giang 47
2.3.1 Huy động tài lực 48
2.3.2 Huy động vật lực 49
2.3.3 Huy động nhân lực 51
2.3.4 Huy động nguồn lực thông tin 52
2.4 Thực trạng quản lý hoạt động huy động nguồn lực DN vào đào tạo nghề cho LĐNT ở Trung tâm KT TH HN-DN Ninh Giang 53
2.4.1 Thực trạng công tác lập kế hoạch 53
2.4.2 Thực trạng công tác tổ chức thực hiện 54
2.4.3 Thực trạng công tác chỉ đạo 55
2.4.4 Thực trạng công tác kiểm tra đánh giá 57
2.5 Nguyên nhân của những kết quả và hạn chế 58
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 60
Chương 3 CÁC BIỆN PHÁP HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC DOANH NGHIỆP VÀO HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN THEO ĐỀ ÁN 1956 TẠI TRUNG TÂM KT TH HN-DN NINH GIANG 62
3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp huy động nguồn lực DN tham gia vào hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo đề án 1956 tại Trung tâm KT TH HN-DN Ninh Giang 62
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 62
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu 62
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 63
Trang 103.2 Các biện pháp huy động nguồn lực doanh nghiệp tham gia vào hoạt
động đào tạo nghề tại Trung tâm KT TH HN-DN Ninh Giang 63
3.2.1 Xây dựng Chiến lược phát triển Trung tâm 63
3.2.2 Xây dựng và quảng bá thương hiệu Trung tâm 65
3.2.3 Tăng cường công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức về công tác huy động nguồn lực DN vào hoạt động dạy nghề cho lao động nông thôn 66
3.2.4 Đổi mới quy trình xây dựng chương trình đào tạo theo định hướng đáp ứng nhu cầu của Doanh nghiệp 68
3.2.5 Ký hợp đồng thỉnh giảng với các doanh nhân, các chuyên gia, cán bộ kỹ thuật có trình độ cao làm việc trong các DN tham gia giảng dạy, hướng dẫn học viên thực hành, thực tập, đánh giá chất lượng sản phẩm đào tạo 69
3.2.6 Xây dựng cơ chế hợp tác với doanh nghiệp trong đào tạo nghề 72
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 74
3.4 Khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất 74
3.4.1 Mục đích khảo nghiệm 74
3.4.2 Nội dung khảo nghiệm 75
3.4.3 Phương pháp khảo nghiệm 75
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 78
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84 PHỤ LỤC
Trang 11DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
TT Ký hiệu, viết tắt Viết đầy đủ
1 CNH-HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
12 THCS, THPT Trung học cơ sở, trung học phổ thông
13 KT TH HN-DN Kỹ thuật Tổng hợp Hướng nghiệp Dạy nghề
Trang 12DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Danh mục các nghề đào tạo cho lao động nông thôn của
Trung tâm KT TH HN-DN Ninh Giang 47 Bảng 2.2 Tổng kinh phí chi hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông
thôn của Trung tâm KT TH HN-DN Ninh Giang giai đoạn 2011-2015 48 Bảng 2.3 Kết quả khảo sát về việc thực hiện huy động nguồn tài lực
của DN 49 Bảng 2.4: Bảng tổng hợp đội ngũ giáo viên tham gia đào tạo nghề cho
lao động nông thôn 52 Bảng 2.5 Kết quả khảo sát về việc thực hiện huy động nguồn tin lực của
DN và công tác quản lý, sử dụng nguồn tin lực huy động được 52 Bảng 2.6: Kết quả khảo sát mức độ thực hiện kế hoạch huy động nguồn
lực DN vào đào tạo nghề cho lao động nông thôn ở Trung tâm KT TH HN - DN Ninh Giang 53 Bảng 2.7: Kết quả đào tạo nghề cho lao động nông thôn giai đoạn 2011-
2015 và ước thực hiện 2016 55 Bảng 2.8: Thực trạng các hoạt động chỉ đạo kế hoạch huy động nguồn
lực DN vào hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông thôn 56 Bảng 2.9 Kết quả thăm dò ý kiến về mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến
hoạt động huy động nguồn lực của DN vào đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại Trung tâm KT TH HN-DN Ninh Giang 58 Bảng 3.1: Kết quả khảo sát tính cấp thiết của hoạt động huy động nguồn
lực DN vào hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại Trung tâm KT TH HN - DN Ninh Giang 75
Trang 13Bảng 3.2: Kết quả khảo sát tính khả thi của các biện pháp trong hoạt động
huy động nguồn lực DN vào hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại Trung tâm KT TH HN - DN Ninh Giang 76
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1: Ý kiến về việc huy động nguồn vật lực của DN vào hoạt
động đào tạo nghề cho lao động nông thôn 50 Hình 2.2: Kết quả công tác tổ chức thực hiện kế hoạch huy động
nguồn lực DN vào đào tạo nghề cho lao động nông thôn 55 Hình 2.3: Kết quả đánh giá sự quan tâm, sát xao trong công tác chỉ
đạo kế hoạch huy động nguồn lực DN vào hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông thôn 56 Hình 2.4: Kết quả khảo sát tính thường xuyên, kịp thời của công tác
kiểm tra, đánh giá hoạt động huy động nguồn lực DN vào đào tạo nghề cho lao động nông thôn 57
Trang 14MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước hiện nay, đào tạo nghề cho lao động nông thôn là một trong những vấn đề cấp thiết mà Đảng và Nhà nước ta đã và đang rất chú trọng Đã có nhiều chương trình, đề án liên quan đến đào tạo nghề cho lao động nông thôn được phê duyệt và đưa vào triển khai thực hiện như: Chính sách dạy nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn (quyết định 81/2005/QĐ-TTg ngày 18/4/2005); Chương trình phối hợp về công tác dạy nghề và hỗ trợ việc làm cho nông dân giai đoạn 2007-2010, giai đoạn 2011-2016; Đề án hỗ trợ thanh niên học nghề và tạo việc làm giai đoạn 2008 - 2015; Chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục và đào tạo đến năm 2010; Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo;
Đề án 1956 "Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020"; [24]
Đề án 1956 "Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020" đã
được phê duyệt ngày 27/11/2009.[24] Đây là một đề án có ý nghĩa an sinh xã hội, tạo cơ hội học tập, cơ hội việc làm cho lao động nông thôn, đồng thời nâng cao chất lượng lao động đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, góp phần vào sự nghiệp phát triển chung của đất nước
Đến nay Đề án đã triển khai thực hiện được hơn 5 năm nhưng vẫn còn rất nhiều bất cập và hạn chế như:
Chất lượng đào tạo nghề còn thấp do trình độ nhận thức của người dân
về học nghề còn rất hạn chế và cố chấp Chương trình, giáo trình còn bất cập chưa phù hợp với tình hình thực tế công việc sau đào tạo Các chế độ chính
sách cho giáo viên dạy nghề chưa phù hợp (quá thấp) nên không thu hút được
đội ngũ giáo viên thỉnh giảng giỏi Các quy định về định mức thực hành thấp so
Trang 15với mặt bằng giá cả chung Cơ sở vật chất nhiều nhưng dàn trải, không đồng
bộ, không phù hợp với thực tế giảng dạy của từng nghề học Đặc biệt nguồn kinh phí hỗ trợ dạy nghề theo đề án thấp và việc thanh quyết toán lại phức tạp
và không kịp thời gây khó khăn trong công tác tổ chức và thực hiện đào tạo đồng thời không thúc đẩy việc tuyển sinh tốt
Đào tạo nghề chưa gắn với nhu cầu dẫn đến việc không ít LĐNT tham gia
học nghề nhưng không thể áp dụng thực tiễn hoặc không thể tồn tại lâu bền với nghề Một số nghề phi nông nghiệp vẫn đào tạo theo hình thức, người lao động sau đào tạo khó có việc làm do yếu về tay nghề và thiếu về kinh nghiệm, và để phát triển lâu dài, tạo công ăn việc làm ổn định thì thời gian 3 tháng học nghề là quá ít Phần lớn lao động sau học nghề mới chỉ sản xuất được những mặt hàng đơn giản, chưa thể sản xuất được những mẫu mã chất lượng cao Nếu không được doanh nghiệp bao tiêu sản phẩm thì không thể tự tạo việc làm Một số nghề nông nghiệp như: trồng rau an toàn, nuôi trồng thủy sản… hướng dẫn người nông dân áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất trên nền tảng kinh nghiệm sẵn
có, tuy nhiên để phát huy hiệu quả kinh tế đòi hỏi một sự đầu tư lớn, trong khi mức vay hỗ trợ ưu đãi thấp Điều này khiến không ít hộ nông dân sau khi học nghề đành, phải bỏ ngang hoặc làm không tới nơi tới chốn vì khó khăn về vốn và
kỹ thuật Chính vì vậy tạo nên tâm lý chán nản, thờ ơ với học nghề
Theo báo cáo kết quả thực hiện dạy nghề cho lao động nông thôn của Phòng LĐTB & XH huyện Ninh Giang giai đoạn 2011 - 2014, toàn huyện đã đào tạo 6715 lượt người, trong đó số lao động có việc làm sau học nghề là 47.055 lao động, chiếm 70,07%, tuy nhiên điều đáng lưu ý là số lao động được doanh nghiệp tuyển dụng chỉ đạt 10,5% , số còn lại là tự tạo việc làm và chủ
Trang 16Một trong những mục tiêu quan trọng của đề án 1956 là đào tạo nghề cho lao động nông thôn yêu cầu bắt buộc là học xong phải có việc làm, số lao động có
việc làm tối thiểu là 70% giai đoạn 2011-2015, 80% giai đoạn 2016-2020 Như
vậy sau hơn 5 năm thực hiện Đề án huyện Ninh Giang đã bước đầu hoàn thành mục tiêu của đề án về việc làm nhưng kết quả vẫn còn ở mức hạn chế Để sử dụng có hiệu quả nguồn kinh phí của Đề án và vượt mức mục tiêu việc làm giai đoạn 2016 - 2020 đề ra là tối thiểu 80% lao động sau học nghề có việc làm ổn định, thu nhập khá cần phải có biện pháp khắc phục ngay tình trạng trên Ban lãnh đạo Trung tâm đã rà soát, nghiên cứu và khẳng định: Để tiếp tục thực hiện
có hiệu quả công tác này trong thời gian tới cần phải tăng cường sự tham gia của các doanh nghiệp trong việc chủ động đào tạo, nâng cao tay nghề của người lao động; tạo công ăn việc làm, tạo động lực cho lao động nông thôn
Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương thực hiện Quyết định 1956/QĐ-TTg chủ trì cuộc họp chiều ngày 4/7/2014 của Ban chỉ đạo cũng đã nhấn mạnh Về định hướng cho hoạt động của Đề án 1956 trong thời gian tới cần bảo đảm các nghề nông nghiệp phải phù hợp với quy hoạch xây dựng nông thôn mới, quy hoạch sản xuất nông nghiệp và yêu cầu tái cấu trúc ngành nông nghiệp; các nghề phi nông nghiệp phải xuất phát từ quy hoạch sản xuất công nghiệp, dịch vụ, quy hoạch phát triển tiểu thủ công nghiệp, nhu cầu sử dụng lao động theo vị trí làm việc của doanh nghiệp Chỉ tổ chức dạy nghề cho lao động nông thôn khi xác định được nơi làm việc và mức thu nhập với việc làm có được sau khi học nghề
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài:
"Huy động nguồn lực doanh nghiệp vào hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo Đề án 1956 tại Trung tâm Kỹ Thuật Tổng hợp Hướng nghiệp Dạy nghề Ninh Giang" để nghiên cứu
Trang 172 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm mục đích nâng cao chất lượng của biện pháp quản lý hoạt động huy động nguồn lực cũng như thực trạng quản lý hoạt động huy động nguồn lực doanh nghiệp vào hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo Đề án 1956 tại Trung tâm KT TH HN-DN Ninh Giang
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động huy động nguồn lực doanh nghiệp vào đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo Đề án 1956 tại Trung tâm KT TH HN-DN Ninh Giang
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp huy động nguồn lực doanh nghiệp vào hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo đề án 1956 tại Trung tâm KT TH HN-DN Ninh Giang
4 Giả thuyết khoa học
Quản lý hoạt động huy động nguồn lực doanh nghiệp vào hoạt động đào tạo nghề của Trung tâm KT TH HN-DN Ninh Giang chưa được chú trọng đúng mức, nội dung và hình thức hợp tác còn nghèo nàn, hoạt động đào tạo nghề chưa gắn với cơ sở sản xuất, chất lượng đào tạo nghề còn hạn chế; đào tạo chưa gắn với nhu cầu sử dụng, Nếu đề xuất được các biện pháp huy động nguồn lực doanh nghiệp và sử dụng một cách hợp lý thì sẽ nâng cao được chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn ở Trung tâm KT TH HN-DN Ninh Giang
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luâ ̣n về hoạt động huy động các nguồn lực xã hội vào hoạt động đào tạo nghề của các cơ sở dạy nghề
5.2 Thực tra ̣ng huy động nguồn lực doanh nghiệp vào hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo Đề án 1956 tại Trung tâm KT TH HN-DN
Trang 185.3 Đề xuất một số biê ̣n pháp huy động nguồn lực doanh nghiệp vào hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo Đề án 1956 tại Trung tâm
KT TH HN-DN Ninh Giang Tổ chức khảo nghiê ̣m đánh giá tính cần thiết, tính khả thi của các biện pháp được đề xuất
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Sử dụng các phương
pháp: Phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá, khái quát hoá các tài liệu về công tác huy động nguồn lực DN trong phát triển giáo dục nghề nghiệp nhằm xây dựng
khung lý thuyết của vấn đề nghiên cứu
6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.1 Phương pháp quan sát: Tiếp cận, quan sát tổng thể, phát hiện những
yếu tố ảnh hưởng đến việc huy động nguồn lực DN vào hoạt động đào tạo nghề
6.2.2 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Lấy ý kiến của cán bộ quản
lý, giáo viên của các cơ sở dạy nghề, doanh nhân, chuyên gia, cán bộ kỹ thuật làm việc tại DN để thu thập thông tin, xử lý số liệu nhằm mô tả thực trạng về chất lượng đào tạo, về công tác huy động các nguồn lực DN phát triển giáo dục nghề nghiệp của Trung tâm KT TH HN - DN Ninh Giang Đồng thời cũng lấy
ý kiến của Giám đốc TT và lãnh đạo DN, giáo viên, cán bộ kỹ thuật về tính khả thi của các biện pháp
6.2.3 Phương pháp đàm thoại: Phỏng vấn, trao đổi trực tiếp với một số
khách thể có uy tín và kinh nghiệm trong quản lý nhằm bổ sung cho kết quả điều tra bằng phiếu hỏi
6.2.4 Phương pháp nghiên cứu tài liệu và sản phẩm hoạt động: Thông
qua các tài liệu lưu trữ, các báo cáo tổng kết của TT, của Sở LĐTB&XH Hải Dương, phòng LĐTB&XH huyện Ninh Giang để tổng kết kinh nghiệm về công tác huy động nguồn lực DN vào hoạt động đào tạo nghề
Trang 196.2.5 Phương pháp chuyên gia: Tổ chức phỏng vấn trực tiếp cán bộ
quản lý DN và chuyên gia về tính cần thiết, tính khả thi và tính hợp lý của các biện pháp được đề xuất
6.3.6 Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học: Xử lý và phân
tích số liệu, kết quả điều tra, khảo sát, đồng thời xác định mức độ tin cậy của việc điều tra và kết quả nghiên cứu
7 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu các biê ̣n pháp nhằm huy động nguồn lực doanh nghiệp vào hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo Đề án 1956 tại Trung tâm
KT TH HN-DN Ninh Giang
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mục lục, mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục; cấu trúc đề tài bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luâ ̣n của việc huy động nguồn lực doanh nghiệp vào
hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông thôn của Trung tâm KT TH HN-DN
Chương 2: Thực tra ̣ng việc huy động nguồn lực doanh nghiệp vào hoạt
động đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo Đề án 1956 tại Trung tâm KT
TH HN-DN Ninh Giang
Chương 3: Các biê ̣n pháp huy động nguồn lực doanh nghiệp vào hoạt
động đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo Đề án 1956 tại Trung tâm KT
TH HN-DN Ninh Giang
Kết luận và kiến nghị
Trang 20Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC
DOANH NGHIỆP VÀO ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN Ở TRUNG TÂM KỸ THUẬT TỔNG HỢP
HƯỚNG NGHIỆP DẠY NGHỀ
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Tăng cường năng lực thực hiện hệ thống song hành sửa đổi (Modified
Dual System) để tiến hành học tập tại nơi làm việc cùng với học tập tại trường
Nghiên cứu các phương thức kết hợp học tập tại trường với học tập tại nơi làm việc, ví dụ: kết hợp đào tạo [9]
Trên thế giới, ở nhiều nước đã nghiên cứu, áp dụng kết hợp đào tạo tại trường và DNSX Điển hình là:
Ở CHLB Đức, kết hợp đào tạo tại trường và DNSX được coi là loại hình đào
tạo cơ bản và được áp dụng rộng rãi trong toàn quốc Điển hình là mô hình Dual
Trang 21System Các nhà nghiên cứu giáo dục Việt Nam gọi là “đào tạo kép”, "đào tạo song
hành" hay còn gọi là “đào tạo song tuyến”, "Khái niệm Dual system" [14]
Ở Cộng hòa Pháp, việc đào tạo kết hợp tại trường và DNSX đã và đang được nghiên cứu, áp dụng Điển hình là mô hình đào tạo “luân phiên”
(Alternation) của Viện IFABTP (Viện đào tạo luân phiên về Xây dựng và Công
trình công cộng) [39] Mô hình này tỏ ra phù hợp với điều kiện hiện nay ở nước
ta, nhưng về phương diện tổ chức đào tạo sẽ gặp một số khó khăn nhất định
Nghiên cứu về vai trò, lợi ích của việc DN tham gia vào quá trình đào tạo nghề đã từng bước được nghiên cứu ở châu Á, đáng chú ý là ở nước có điều kiện kinh tế - xã hội không khác xa so với Việt Nam Ở Trung Quốc, quán triệt quan điểm “Ba kết hợp” (Đào tạo, sản xuất và dịch vụ) "Ba trong một" là quan điểm được quán triệt trong đào tạo nghề ở Trung Quốc hiện nay: Đào tạo, sản xuất, dịch vụ Theo đó, các trường dạy nghề phải gắn bó chặt chẽ với các cơ sở sản xuất và dịch vụ góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng đào tạo nghề [8]
Ở In-đô-nê-xia, để đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực cho thị trường thương mại tự do ASEAN năm 2003 và APEC năm 2020, hệ thống đào tạo nghề được nghiên cứu phát triển mạnh Trong đó, kết hợp nguồn lực của DN và nguồn lực của nhà trường trong đào tạo nghề được quan tâm đặc biệt Việc kết hợp đựợc thực hiện thông qua Mô hình kết hợp đào tạo nghề được Bộ Văn hóa
và Giáo dục bắt đầu đề xuất năm 1993 có tên gọi là Pendidican Sistem Ganda (PSG) - Hệ thống đào tạo kép được thực hiện bởi trường dạy nghề và các bên đại diện cho giới việc làm tham gia đào tạo Hệ thống PSG có những nét khác biệt với hệ thống đào tạo kép của Đức và phù hợp hơn với điều kiện châu Á
Trang 22kết hợp đào tạo nghề có tên gọi là "Hệ thống kết hợp đào tạo" (Link and Match
System) cho giáo dục kỹ thuật ở In-đô-nê-xia [40]
Ở Hàn Quốc, trong vài thập kỷ qua, khi nền kinh tế phát triển nhanh chóng, Chính phủ, các nhà giáo dục và quản lý nhân sự của ngành công nghiệp sản xuất nhận ra vai trò quan trọng của việc kết hợp đào tạo nghề tại trường và doanh nghiệp Chính phủ Hàn Quốc đã đưa ra mô hình kết hợp đào tạo nghề có
tên gọi là "hệ thống 2+1" (2+1 system) Hệ thống này có những nét giống với
mô hình đào tạo kép của Đức Đặc điểm riêng biệt của hệ thống này là 02 năm đào tạo tại trường và 01 năm đào tạo tại doanh nghiệp
Ở Thái Lan, một trong những mục tiêu chiến lược của kế hoạch phát triển quốc gia lần thứ 8 (1997- 2001) và lần thứ 9 (2002 - 2006) của Thái Lan tập trung vào phát triển nguồn nhân lực trong nền kinh tế năng động Thực tế đào tạo nghề chưa đáp ứng được yêu cầu nguồn lao động kỹ thuật Để có nhân lực kỹ thuật phục vụ tại các doanh nghiệp sản xuất, họ đã tổ chức đào tạo tại xưởng sản xuất của mình Tuy nhiên, đây chỉ là biện pháp tình thế trước mắt trong thời gian đến năm 1998 Đến năm 1999, Chính phủ Thái Lan đã nghiên
cứu và xây dựng "Hệ thống hợp tác đào tạo nghề" (Cooperative Training
System) để giải quyết tình trạng bất cập giữa đào tạo nghề và sử dụng nói trên
và hướng tới phát triển nhân lực kỹ thuật trong tương lai [41]
Ở Nhật Bản, được Chính phủ hỗ trợ, các DNSX vừa và nhỏ cùng hợp tác thành lập trung tâm đào tạo nghề Dạy lý thuyết tại trung tâm và thực tập sản xuất tại DNSX
Kết quả nghiên cứu mô hình đào tạo nghề ở các nước trên thế giới cho thấy, nguồn lực DN là một nhân tố quan trong tham gia vào quá trình đào tạo nghề ở các cơ sở giáo dục nghề nghiệp Sự hợp tác chặt chẽ giữa cơ sở đào tạo
Trang 23nghề và DN sản xuất là một trong những nhân tố đảm bảo chất lượng chuẩn đầu ra, gắn kết giữa đào tạo và sử dụng
1.1.2 Ở Việt Nam
Ở Việt Nam hiện nay, vấn đề huy động DN, xã hội hoá giáo dục để phát triển giáo dục đã thu hút sự quan tâm rất lớn của các nhà khoa học về giáo dục, các nhà quản lý giáo dục, các chuyên gia Kết quả nghiên cứu tổng kết kinh nghiệm thực tiễn của các nhà khoa học đã chỉ ra rằng, muốn đổi mới và phát triển giáo dục và đào tạo thì yếu tố nguồn lực đóng vai trò hết sức quan trọng
Sự phát triển giáo dục và nhu cầu học tập của người dân ngày càng tăng đã khiến cho không một quốc gia nào trên thế giới đủ giàu để có thể bao cấp toàn
bộ cho nền giáo dục quốc dân, đặc biệt là giáo dục nghề nghiệp [24]
Nhận thức được vai trò của nguồn lực xã hội trong sự nghiệp phát triển giáo dục, ngay từ những năm đầu của công cuộc đổi mới Đảng và Nhà nước ta đã hết sức chú trọng đến việc huy động nguồn lực xã hội, trong đó
có nguồn lực từ các Doanh nghiệp để phát triển giáo dục thông qua chủ trương xã hội hóa giáo dục Đây là một chủ trương lớn đã được triển khai rất
có hiệu quả trong những thập niên qua Việc huy động nguồn lực xã hội cho giáo dục không chỉ phương diện tài chính, vật lực mà cần đặc biệt chú trọng đến huy động trí lực và nhân lực Nghị quyết kỳ họp thứ Tám Ban Chấp
hành Trung ương khóa XI tiếp tục khẳng định “Khuyến khích xã hội hóa để
đầu tư xây dựng và phát triển các trường chất lượng cao ở tất cả các cấp học và trình độ đào tạo Tăng tỷ lệ trường ngoài công lập đối với giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học Hướng tới có loại hình cơ sở giáo dục do cộng đồng đầu tư Đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng năng lực, kỹ năng nghề
Trang 24lao động tham gia xây dựng, điều chỉnh, thực hiện chương trình đào tạo và đánh giá năng lực người học”[1]
Nghị quyết 29 NQ/TW, ngày 04/11/2013 Hội nghị lần thứ VIII Ban Chấp hành Trung ương khóa XI đã tạo cơ hội cho việc huy động nguồn lực xã hội để phát triển và đổi mới giáo dục và đào tạo đồng thời cũng đòi hỏi một sự thay đổi về tư duy và phương thức quản lý giáo dục, sự đổi mới về thể chế và tái cơ cấu hệ thống sao cho việc huy động được thực hiện đúng hướng, toàn diện và hiệu quả [1]
Đảng và Nhà nước ta ngày càng quan tâm tạo điều kiện để cho nhà trường huy động nguồn lực DN để hợp tác với nhà trường trong đào tạo nhằm phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao, nhất là trong những năm gần đây
đã ban hành cơ chế chính sách thông thoáng giúp cho sự hợp tác này được thuận lợi Điều này được cụ thể hóa trong Luật giáo dục năm 2005, Luật dạy nghề năm 2006 và Điều lệ trường CĐ nghề năm 2007, Điều lệ trường TC nghề năm 2007, Điều lệ trường trung cấp chuyên nghiệp năm 2008, Quy chế mẫu của trung tâm dạy nghề năm 2007, v.v Mặc dù có cơ chế, chính sách thuận lợi như vậy song ở nước ta, cho đến hiện nay có thể nói, thực trạng việc huy động nguồn lực DN cũng như mối quan hệ hợp tác giữa nhà trường với DN trong đào tạo nghề còn nhiều yếu kém và cũng có rất ít công trình nghiên cứu về vấn
đề này 2007 v.v Mặc dù có cơ chế, chính sách thuận lợi như vậy song ở nước
ta, cho đến hiện nay có thể nói, thực trạng mối quan hệ hợp tác giữa nhà trường với DN trong đào tạo nghề còn nhiều yếu kém và cũng có rất ít công trình nghiên cứu về vấn đề này
Một số công trình khoa học nghiên cứu việc thực hiện chủ trương của Đảng trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo bằng con đường xã hội hoá Trong các
Trang 25công trình đó cần nêu lên các đề tài nghiên cứu khoa học của các nhà khoa học công tác tại Công đoàn Giáo dục Việt Nam, Viện Khoa học Giáo dục, Ban Khoa giáo Trung ương của các tác giả Nguyễn Mậu Bành, Võ Tấn Quang, Nguyễn Thanh Bình, Nguyễn Văn Bảy, Thái Hoà Những nhân tố mới về giáo dục trong công cuộc đổi mới, NXB Giáo dục Hà Nội; Báo cáo chuyên đề
“Nghiên cứu việc thực hiện các chủ trương của Đảng về giáo dục bằng con đường xã hội hoá” do PGS TS Lê Khanh chủ trì thực hiện từ năm 1997 đến cuối năm 1999 Đề tài cấp Bộ “Đánh giá tác động của các chính sách xã hội hoá giáo dục” (mã số B99-52-TĐ32 Bộ giáo dục - đào tạo - Viện nghiên cứu phát triển giáo dục) Đây là những công trình nghiên cứu đầu tiên về vấn đề xã hội hoá nói chung, trong đó có xã hội hoá giáo dục (XHHGD) Trong đó đã đề cập đến tình hình triển khai thực hiện chủ trương xã hội hoá, nhận thức về bản chất và nội dung xã hội hoá, các mô hình xã hội hoá, những kết quả cụ thể của hoạt động xã hội hoá trong các lĩnh vực, các nguyên nhân, bài học kinh nghiệm
và các kiến nghị Việc nghiên cứu một cách có hệ thống và đầy đủ nhất về XHHGD và huy động nguồn lực xã hội phát triển GD ở Việt Nam đã được triển khai từ những năm đầu thế kỷ 21 với đề tài độc lập cấp nhà nước “Cơ sở
lý luận, thực tiễn và các biện pháp xã hội hóa GD giai đoạn 2001-2010” do Trần Quốc Toản chủ trì đã lý giải khá sâu sắc về vấn đề XHHGD, trong đó đề cập đến việc huy động nguồn lực cho đào tạo nghề
Những nghiên cứu nêu trên cũng như chính sách hiện nay về huy động nguồn lực xã hội để phát triển GD đang có những khoảng cách so với thực tiễn Điều đó khiến cho tiến trình XHH hóa bị chậm lại và có những biểu hiện đi lệch khỏi mục tiêu ban đầu mà cụ thể là nặng về huy động tài chính, chưa quan
Trang 26Đề tài Các biện pháp nhằm tăng cường mối quan hệ giữa trường Trung học Kỹ thuật xây dựng Hà Nội với các đơn vị sản xuất" và luận án "Nghiên cứu các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo công nhân kỹ thuật xây dựng
ở Thủ đô Hà Nội" Các tác giả đã phân tích mô hình đào tạo kép ở CHLB Đức,
mô hình đào tạo "luân phiên" (Alternation) ở Pháp và đưa ra một số biện pháp trong việc kết hợp đào tạo giữa trường Trung học Kỹ thuật xây dựng Hà Nội với các đơn vị sản xuất
Đề tài nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn hình thức tổ chức đào tạo nghề kết hợp tại trường và tại cơ sở sản xuất Trong công trình này, tác giả đã phân tích một số "hình thức kết hợp" ở các nước Mỹ la tinh và đào tạo nghề song tuyến ở CHLB Đức và đề xuất thực hiện một số mô hình kết hợp ở Việt Nam Biện pháp đề ra chủ yếu tập trung vào "quan hệ giữa nhà trường và đơn
vị sản xuất", chưa đi sâu vào vấn đề kết hợp đào tạo
Đề tài nghiên cứu khoa học xây dựng mô hình liên kết dạy nghề giữa nhà trường và doanh nghiệp Đây là đề tài nghiên cứu điển hình tập trung nhất vào "mô hình liên kết" giữa nhà trường và doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay Đề tài đã giải quyết được những vấn đề cơ bản đáng quan tâm liên quan đến kết hợp đào tạo nghề như: cơ sở thực tiễn để xây dựng mô hình liên kết, đánh giá các mô hình liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp, đề xuất các mô hình liên kết khả thi, đề xuất một số biện pháp chung thực hiện
mô hình liên kết Tuy nhiên, tác giả đề tài chưa đi sâu vào nghiên cứu nội dung các thành tố kết hợp, các cơ sở khoa học luận, các biện pháp đề xuất cần được bổ sung và cụ thể hơn
Các đề tài luận văn “Huy động các nguồn lực xã hội trong quá trình
xã hội hoá giáo dục nhằm nâng cao chất lượng giáo dục ở các trường tiểu
Trang 27học quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng” của tác giả Trịnh Thị Minh
(2008); [19]; “Biện pháp huy động các nguồn lực xã hội của ngành Giáo dục
và Đào tạo để pháp triển giáo dục phổ thông ở tỉnh Quảng Ninh” của tác giả
Nguyễn Vũ Thu Hoà (2013) [15]; “Biện pháp huy động các nguồn lực xã hội
để pháp triển giáo dục mầm non ở thành phố Uông Bí tỉnh Quảng Ninh” của
tác giả Nguyễn Thị Thanh Huyền (2014)[17]; Đề tài luận văn thạc sĩ “Biện
pháp huy động nguồn lực DN để phát triển giáo dục đại học trong nền giáo dục mở” của tác giả Nguyễn Thị Huyền Trang (2014)[33] Nội dung các đề
tài trên đã đề cập đến các vấn đề như: cơ sở khoa học của huy động nguồn lực xã hộị nội dung, hình thức, phương pháp huy động nguồn lực xã hội để phát triển giáo dục Tuy nhiên lại chưa chỉ ra được quy trình huy động nguồn lực DN để phát triển giáo dục
Trên đây, là tổng quan vài nét cơ bản về tình hình nghiên cứu, các công trình nghiên cứu khoa học điển hình, các bài báo khoa học liên quan đến huy động nguồn lực DN, nguồn lực xã hội để phát triển giáo dục Kết quả nghiên cứu lý luận cho thấy vấn đề huy động nguồn lực xã hội để phát triển đã được các nhà khoa học các nước trên thế giới và Việt Nam đã quan tâm nghiên cứu; nội dung các công trình khoa học chủ yếu đề cập đến biện pháp huy động nguồn lực xã hội, xã hội hoá giáo dục để phát triển giáo dục, rất ít có công trình khoa học cụ thể nghiên cứu về huy động nguồn lực DN
để phát triển giáo dục, đặc biệt là nghiên cứu huy động nguồn lực DN vào hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông thôn ở trung tâm KT TH HN-DN thì chưa có tác giả nào nghiên cứu
1.2 Một số khái niệm công cụ
1.2.1 Nghề
Trang 28Theo tiếng La tinh "Professio" - nghề có nghĩa là công việc chuyên môn được hình thành một cách chính thống, là dạng lao động đòi hỏi một trình độ học vấn nào đó, là hoạt động cơ bản giúp con người tồn tại Như vậy, Nghề là một loại hình HĐ mang tính chất riêng, đặc thù của con người,
nó được hình thành và phát triển theo sự phát triển của xã hội loài người Đó
là một dạng lao động vừa mang tính xã hội, vừa mang tính cá nhân, trong đó con người với tư cách là chủ thể hoạt động đòi hỏi thỏa mãn những yêu cầu nhất định của xã hội, của cá nhân
Theo E.A Climôv thì: "Nghề nghiệp là một lĩnh vực sử dụng sức lao
động vật chất và tinh thần con người một cách có giới hạn, cần thiết cho xã hội (do sự phân công xã hội mà có) Nó tạo cho con người khả năng sử dụng lao động của mình để thu lấy phương tiện cần thiết cho việc tồn tại và phát triển" [10]
Theo từ điển Tiếng Việt, " Nghề là công việc chuyên môn làm theo sự phân công lao động xã hội [34] Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật hiện nay, muốn hành nghề tốt, mỗi người phải trải qua quá trình đào tạo theo một chương trình quy định với những kiến thức, kỹ năng và thái độ cần thiết theo yêu cầu của thị trường lao động để có thể hành nghề
Như vậy, theo chúng tôi, nghề là một dạng lao động đòi hỏi con người
phải trải qua một quá trình đào tạo chuyên biệt để có những kiến thức, kỹ năng,
kỹ xảo chuyên môn nhất định Nhờ quá trình hoạt động nghề nghiệp, con người
có thể tạo ra sản phẩm để thỏa mãn những nhu cầu của cá nhân và xã hội
1.2.2 Đào tạo nghề (ĐTN)
Trang 29Theo Điều 5, Luật dạy nghề thì ĐTN là: “Hoạt động dạy và học nhằm trang
bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể
tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học” [20]
Phân tích khái niệm trên cho thấy, ĐTN bao gồm hai quá trình có quan
hệ hữu cơ với nhau, đó là:
+ Dạy nghề: Là quá trình giáo viên truyền bá những kiến thức về lý thuyết và thực hành để các học viên có được một trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, sự
khéo léo, thành thục nhất định về nghề nghiệp;
+ Học nghề: Là quá trình tiếp thu những kiến thức về lý thuyết và thực
hành của người LĐ để đạt được một trình độ nghề nghiệp nhất định
ĐTN cho người lao động (LĐ) là giáo dục kỹ thuật sản xuất cho người
LĐ để họ nắm vững nghề nghiệp, chuyên môn bao gồm ĐTN mới, ĐTN bổ
sung, đào tạo lại nghề
1.2.3 Lao động nông thôn (LĐNT)
Theo Tổ chức Lao động Thế giới (ILO): Lực lượng lao động là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định, thực tế có tham gia lao động và những
người không có việc làm đang tích cực tìm kiếm việc làm
Thực tế trong từng thời kỳ, và ở mỗi một nước trên thế giới quy định độ tuổi lao động khác nhau Ở nước ta, theo bộ Luật lao động, độ tuổi lao động được quy định đối với nam từ 15 tuổi đến 60 tuổi, đối với nữ từ 15 tuổi đến 55 tuổi Xét về khía cạnh việc làm, lực lượng lao động gồm hai bộ phận là có việc làm và thất nghiệp
LĐNT là những người thuộc lực lượng lao động và hoạt động trong hệ thống kinh tế nông thôn
Trang 30LĐNT là những người dân không phân biệt giới tính, tổ chức, cá nhân sinh sống ở vùng nông thôn, có độ tuổi từ 15 tuổi trở lên, hoạt động sản xuất ở nông thôn Trong đó bao gồm những người đủ các yếu tố về thể chất, tâm sinh
lý trong độ tuổi lao động theo quy định của Luật lao động và những người ngoài độ tuổi lao động có khả năng tham gia sản xuất, trong một thời gian nhất định họ hoàn thành công việc với kết quả đạt được một cách tốt nhất
Ở Việt Nam, do lao động nông thôn sống chủ yếu tham gia sản xuất trong các ngành nông, lâm, ngư nghiệp và do tính chất riêng của ngành nông nghiệp nên người lao động nông thôn ở nước ta có những đặc điểm sau: LĐNT nước ta là cần cù, chịu khó, sẵn sàng tiếp thu kiến thức mới để cải tạo thiên nhiên, giúp ích cho hoạt động nông nghiệp của mình Tuy nhiên, một trong những nhược điểm của LĐNT trong giai đoạn hiện nay là làm việc manh mún,
do tập quán làm việc theo cảm tính dẫn đến người nông dân không có định hướng phát triển hoạt động NN rõ ràng nếu như không có sự tư vấn chi tiết của các cơ quan chuyên môn, của những người có kinh nghiệm Thiếu việc làm, không tìm được việc làm, thời gian nhàn rỗi, phần lớn chưa có nghề và chưa được ĐTN là những đặc trưng cơ bản của LĐNT Chính đặc điểm của người nông dân như trên làm cho vai trò ĐTN càng trở nên quan trọng, quyết định sự thành công của việc hiện đại hóa NN, NT nói chung và thành công của xây dựng NT mới nói riêng
1.2.4 Đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Kết hợp từ khái niệm về đào tạo nghề và khái niệm lao động nông thôn (LĐNT) như đã trình bày ở trên chúng tôi xin đưa ra khái niệm về đào tạo nghề cho LĐNT như sau: Đào tạo nghề cho LĐNT là hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm truyền đạt những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của một nghề nào đó
Trang 31cho người lao động ở khu vực nông thôn, từ đó tạo ra năng lực cho người lao động đó có thể thực hiện thành công nghề đã được đào tạo
ĐTN cho LĐNT có tầm quan trọng đặc biệt, có tính nhân văn và tính xã hội rất cao, có vai trò quan trọng đối với phát triển vốn con người, nguồn nhân lực, tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, giảm nghèo, thực hiện công bằng xã hội, góp phần phát triển KT- XH bền vững ĐTN là một trong những biện pháp đột phá của chiến lược phát triển KT - XH, nhằm đào tạo nguồn nhân lực, phát triển nhanh đội ngũ LĐ kỹ thuật trực tiếp, phục vụ CNH, HÐH; góp phần bảo đảm an sinh xã hội Thực tiễn quá trình phát triển KT tại Việt Nam, khi LĐNT được sử dụng tốt thì KT phát triển nhanh và bền vững, tránh rơi vào “cái bẫy” đẩy nhanh CNH, không chú trọng đến phát triển NN, NT đã có những thời điểm rơi vào tình trạng khó khăn, gây lãng phí sức LĐNT và kéo theo hệ quả thu nhập của LĐNT thấp, mất ổn định xã hội Vì vậy, ĐTN và nâng cao chất lượng ĐTN cho LĐ nói chung và LĐNT nói riêng là yêu cầu cấp bách của nền kinh tế, ĐTN được coi là quốc sách hàng đầu
1.2.5 Nguồn lực
Theo quan điểm hệ thống: “Nguồn lực là tất cả những yếu tố và phương
tiện mà hệ thống có quyền chi phối, điều khiển sử dụng để thực hiện mục tiêu của mình Đối với hệ thống kinh tế - xã hội, có thể chia nguồn lực ra các bộ phận khác nhau như: nguồn nhân lực (con người), nguồn tài lực (nguồn tài
chính) và nguồn vật lực (nguồn cơ sở vật chất) và thông tin” [35]
1.2.6 Nguồn lực doanh nghiệp
Theo từ điển Tiếng Việt, Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế có tên riêng,
có tài sản riêng, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy
Trang 32Nguồn lực doanh nghiệp là một phần trong các nguồn lực xã hội Nguồn lực xã hội là tổng thể vị trí địa lý, các nguồn tài nguyên thiên nhiên, hệ thống tài sản quốc gia, hệ thống chính trị, nguồn nhân lực, vốn và thị trường ở cả trong nước và nước ngoài có thể được khai thác nhằm phục vụ cho việc phát triển kinh tế của một vùng lãnh thổ nhất định Con người có thể làm thay đổi nguồn lực theo hướng có lợi
Theo Daft (1983) những nguồn lực của doanh nghiệp bao gồm tất cả tài sản, năng lực, những quy trình của tổ chức, những thuộc tính của doanh nghiệp, thông tin, tri thức…, mà doanh nghiệp kiểm soát nó cho phép doanh nghiệp hình thành và thực hiện các chiến lược giúp cải thiện hiệu quả và hiệu suất của mình Trong ngôn ngữ phân tích chiến lược truyền thống, những nguồn lực của doanh nghiệp là những điểm mạnh giúp các doanh nghiệp có thể sử dụng để hình thành và thực hiện các chiến lược của mình [39]
Từ đây có thể thấy nguồn lực DN bao gồm các yếu tố: nguồn nhân lực, tài sản vật chất, các nguồn lực vô hình, năng lực quản lý của doanh nghiệp, vốn
và thị trường ở cả trong nước và nước ngoài có thể được khai thác nhằm phục
vụ cho việc phát triển kinh tế của DN
Dựa vào các khái niệm trên, căn cứ vào phạm vi nguồn lực DN để phát triển giáo dục nói chung và hoạt động đào tạo nghề nói riêng, chúng ta có thể phân chia nguồn lực DN thành hai nhóm chính:
- Nhóm nguồn lực vật chất bao gồm tài lực và vật lực;
- Nhóm nguồn lực phi vật chất là nhân lực và thông tin
Cả hai nhóm nguồn lực này đều có quan hệ chặt chẽ với nhau, tạo điều kiện cho nhau phát triển
Trang 331.2.7 Huy động nguồn lực doanh nghiệp vào hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo đề án 1956
Để có được khái niệm chính xác về Huy động nguồn lực doanh nghiệp
vào hoạt động đào tạo nghề, trước hết chúng ta cần xem xét khái niệm xã hội hoá giáo dục (XHHGD) Theo Giáo sư Phạm Phụ XHHGD là huy động nguồn
lực xã hội (societal mobilization) để phát triển giáo dục Định nghĩa này sát
thực nhất với chủ trương xã hội hóa của Đảng và Nhà nước ta XHHGD là làm cho mọi người hiểu về giáo dục, giáo dục đến với mọi nhà, mọi người, làm cho mọi người được thụ hưởng thành quả của giáo dục, góp phần nâng cao dân trí, tạo ra một phong trào, một xã hội học tập, đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội, của đất nước, đồng thời mọi người có trách nhiệm tham gia giáo dục và làm cho giáo dục phát triển Nội dung XHHGD bao gồm:
- Huy động XH tham gia xây dựng môi trường thuận lợi cho GD;
- Huy động XH tham gia quá trình GD;
- Huy động XH tham gia quá trình đa dạng hóa các hình thức học tập và các loại hình nhà trường;
- Huy động XH đầu tư các nguồn lực cho GD
Như vậy, huy động nguồn lực doanh nghiệp vào hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo đề án 1956 là một trong những nội dung của XHHGD Huy động nguồn lực DN vào hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo đề án 1956 là hệ thống các biện pháp tác động đến các chủ sở hữu các DN đóng góp nguồn lực (tài lực, vật lực, nhân lực…) của DN
để nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho đối tượng là lao động nông thôn thuộc đề án 1956
Trang 341.3 Một số vấn đề cơ bản về huy động nguồn lực doanh nghiệp vào hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo Đề án 1956 tại Trung tâm
Kỹ thuật Tổng hợp Hướng nghiệp Dạy nghề
1.3.1 Đề án 1956 "Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020"
1.3.1.1 Nội dung Đề án 1956
Ngày 27 tháng 11 năm 2009 Thủ tướng chính phủ phê duyệt Đề án “Đào
tạo nghề cho lao đô ̣ng nông thôn đến năm 2020” ban hành kèm theo Quyết định
số 1956/QĐ-TTg Có thể tóm tắt nội dung Đề án như sau:
Với quan điểm, đào tạo nghề cho lao động nông thôn là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước, của các cấp, các ngành và xã hội nhằm nâng cao chất lượng lao động nông thôn, đáp ứng yêu cầu CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn; ngày 27 tháng 11 năm 2009, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số
1956/QĐ-TTg phê duyệt đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm
2020” [24] Với bản đề án này, công tác đào tạo nghề sẽ được đổi mới và phát
triển theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo và tạo điều kiện thuận lợi để lao động nông thôn tham gia học nghề phù hợp với trình độ học vấn, điều kiện kinh tế và nhu cầu học nghề của mình
Mục tiêu tổng quát của bản đề án: bình quân hàng năm đào tạo nghề cho khoảng 1 triệu lao động nông thôn, trong đó đào tạo và bồi dưỡng 100.000 lượt cán bộ, công chức xã; nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề nhằm tạo việc làm, tăng thu nhập của lao động nông thôn, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế, phục vụ sự nghiệp CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn
* Bản đề án chia làm ba giai đoạn với những mục tiêu cụ thể:
- Giai đoạn 2009 - 2010:
Tiếp tục dạy nghề cho khoảng 800.000 lao động nông thôn theo mục tiêu của Dự án “ Tăng cường năng lực dạy nghề” thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia Giáo dục - Đào tạo đến năm 2010; Thí điểm các mô hình dạy nghề cho lao
Trang 35động nông thôn với khoảng 18.000 người, 50 nghề đào tạo và đặt hàng dạy nghề cho khoảng 12.000 người thuộc diện hộ nghèo, người dân tộc thiểu số, lao động nông thôn bị thu hồi đất canh tác có khó khăn về kinh tế Tỷ lệ có việc làm sau khi học nghề theo các mô hình này tối thiểu đạt 80%
- Giai đoạn 2011 - 2015:
Đào tạo nghề cho 5.200.000 lao động nông thôn, trong đó: khoảng 4.700.000 lao động nông thôn được học nghề (1.600.000 người học nghề nông nghiệp; 3.100.000 người học nghề phi nông nghiệp) Tỷ lệ có việc làm sau khi học nghề trong giai đoạn này tối thiểu đạt 70%
- Giai đoạn 2016 - 2020:
Đào tạo nghề cho khoảng 6.000.000 lao động nông thôn, trong đó: Khoảng 5.500.000 lao động nông thôn được học nghề (1.400.000 người học nghề nông nghiệp; 4.100.000 người học nghề phi nông nghiệp) Tỷ lệ có việc làm sau khi học nghề trong giai đoạn này tối thiểu đạt 80%
Với những mục tiêu rõ ràng và phân theo từng giai đoạn cụ thể; cùng với những nỗ lực không ngừng nghỉ trong quá trình triển khai thực hiện của các cấp, các ngành, đoàn thể; hy vọng công tác đào tạo nghề thực sự mang lại những kết quả khả quan, góp phần vào sự nghiệp phát triển KT - XH chung của
cả nước, đồng thời mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho người lao động, đặc biệt là bộ phận lao động nông thôn - nguồn nhân lực quan trọng cho sự nghiệp CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn
1.3.1.2 Kết quả thực hiện đề án 1956 giai đoạn 2010 - 2014
* Kết quả
Trong 5 năm (2010-2014), cả nước đã có gần 3,2 triệu lao động nông thôn được học nghề, đạt 70,8% Mục tiêu Đề án đặt ra (3,2/4,5 triệu người) Trong đó,
Trang 362.169.562 lao động nông thôn được hỗ trợ học nghề theo chính sách của Đề án, đạt 90,4% kế hoạch đề ra (2,169/2,4 triệu người), đạt 33,1% kế hoạch đặt ra trong cả 11 năm (2,169/6,54 triệu người)
Trong số 2.169.562 lao động nông thôn được hỗ trợ học nghề có 994.337 lao động nông thôn được hỗ trợ học nghề là nữ, chiếm 45,8% tổng số người được hỗ trợ học nghề Bình quân mỗi năm đào tạo nghề cho 198.867 lao động nông thôn là nữ, tăng 4,6% so với bình quân chung của cả nước trong 3 năm đầu thực hiện Đề án
* Hiệu quả
Trong số 2.169.562 lao động nông thôn được hỗ trợ học nghề có 1.941.168 lao động nông thôn đã học xong và có 1.526.883 người có việc làm sau học nghề, đạt 78,7%, vượt Mục tiêu Đề án đặt ra 8,7% (70% số lao động nông thôn có việc làm sau học nghề), trong đó:
- 347.915 người được doanh nghiệp tuyển dụng, chiếm 22,8% số người
có việc làm sau học nghề Bình quân mỗi năm có 69.583 lao động nông thôn sau học nghề được doanh nghiệp nhận tuyển dụng, tăng 8,1% so với bình quân chung trong 3 năm đầu thực hiện Đề án (lao động nông thôn được doanh nghiệp tuyển dụng chủ yếu là lao động nông thôn học nghề phi nông nghiệp, chiếm 87,7% tổng số người được doanh nghiệp tuyển dụng)
- 153.620 người được doanh nghiệp nhận bao tiêu sản phẩm, chiếm 10,1%
số người có việc làm sau học nghề Bình quân mỗi năm có 30.724 lao động nông thôn học nghề được doanh nghiệp nhận bao tiêu sản phẩm, tăng 6,5% so với bình quân chung trong 3 năm đầu thực hiện Đề án (lao động nông thôn được doanh nghiệp nhận bao tiêu sản phẩm chủ yếu học và làm các nghề tiểu
Trang 37thủ công nghiệp, chiếm 83,6% tổng số người được doanh nghiệp nhận bao tiêu sản phẩm)
- 1.007.284 người tiếp tục làm nghề cũ nhưng năng suất lao động, thu nhập tăng lên, chiếm 65,9% số người có việc làm sau học nghề Bình quân mỗi năm có 201.456 người học xong tự tạo việc làm, tăng 20% so với bình quân chung trong 3 năm đầu thực hiện Đề án (chủ yếu số người học xong tự tạo việc làm là người học nghề nông nghiệp, chiếm 64,2% tổng số người học xong
tự tạo việc làm)
- 18.064 người thành lập tổ nhóm sản xuất, HTX, doanh nghiệp, chiếm 1,2% số người có việc làm sau học nghề Bình quân mỗi năm có 3.612 người sau học nghề đã thành lập các tổ, nhóm sản xuất, HTX, doanh nghiệp, tạo việc làm cho bản thân và lao động khác tại địa phương (chủ yếu số người thành lập tổ, nhóm sản xuất, HTX sau học nghề học nghề phi nông nghiệp, chiếm 73,2% tổng người thành lập tổ, nhóm sản xuất, HTX sau học nghề)
- Các địa phương đã thống kê được 59.285 hộ nghèo có người tham gia học nghề, có việc làm đã thoát nghèo, chiếm 24,5% tổng số hộ nghèo có người tham gia học nghề; 98.122 hộ có người tham gia học nghề, có việc làm,
có thu nhập cao hơn mức bình quân tại địa phương (trở thành hộ khá), chiếm 4,5% tổng số lao động nông thôn tham gia học nghề
Từ những kết quả đạt được sau 5 năm thực hiện Đề án Thường trực Ban Chỉ đạo cũng đề nghị các địa phương rà soát lại danh mục nghề đào tạo để phê duyệt lại cho phù hợp với nhu cầu sử dụng của doanh nghiệp và thị trường lao động, thực hiện phương châm “chỉ đào tạo nghề khi xác định được việc làm và thu nhập sau học nghề”
1.3.1.3 Yêu cầu của đề án 1956 đối với việc đào tạo nghề cho nhân lực lao động nông thôn
Trang 38Nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành, xã hội, của cán bộ, công chức xã và lao động nông thôn về vai trò của đào tạo nghề đối với việc ta ̣o viê ̣c
làm, tăng thu nhâ ̣p và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông thôn
Ủy ban nhân dân các cấp xây dựng kế hoa ̣ch, quy hoạch hoă ̣c chương trình
hành đô ̣ng cụ thể để tổ chức thực hiê ̣n Nghị quyết về công tác đào ta ̣o nghề cho lao đô ̣ng nông thôn của cấp uỷ Đảng cấp trên và cấp uỷ Đảng cùng cấp;
Các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hô ̣i, các hô ̣i nghề nghiê ̣p tăng cường tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về đào
tạo nghề cho lao động nông thôn; tư vấn học nghề, việc làm miễn phí và vận động các thành viên của mình tham gia học nghề;
Tăng cường tuyên truyền sâu rộng trên phương tiện thông tin đại chúng các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về đào ta ̣o nghề, về vai trò, vị trí của đào ta ̣o nghề đối với phát triển kinh tế - xã hội, ta ̣o viê ̣c làm, nâng cao thu nhập để người lao động nông thôn biết và tích cực tham gia học nghề;
Đổi mới chương trình và nâng cao hiệu quả hoạt động giáo du ̣c hướng nghiệp trong các trường trung học cơ sở, trung học phổ thông để ho ̣c sinh có thái đô ̣ đúng đắn về ho ̣c nghề và chủ đô ̣ng lựa cho ̣n các loa ̣i hình ho ̣c nghề phù
hợp với điều kiê ̣n và hoàn cảnh của mình
1.3.2 Vị trí, vai trò của Trung tâm Kỹ thuật Tổng hợp Hướng nghiệp Dạy nghề trong đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo Đề án 1956
Căn cứ Thông tư số 30 BCT-BTTTT ngày 12 tháng 12 năm 2012 về việc Hướng dẫn trách nhiệm tổ chức thực hiện Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27 tháng 11 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” quy định trách nhiệm của các cơ sở dạy nghề cho lao động nông thôn theo đề án 1956 như sau:
Trang 39/2012/TTLT-BLĐTBXH-BNV-BNN&PTNT-Phối hợp với Ủy ban nhân dân xã thống nhất phương án tuyển sinh trên địa bàn báo cáo Ủy ban nhân dân huyện, tổ chức tuyển sinh học nghề theo quy định của Quyết định số 08/2007/QĐ-BLĐTBXH ngày 26 tháng 3 năm 2007 của
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành quy chế tuyển sinh học nghề;
Tổ chức dạy nghề cho lao động nông thôn theo đúng chương trình đào tạo, kế hoạch đào tạo Tổ chức kiểm tra, công nhận tốt nghiệp đối với người học nghề trình độ sơ cấp nghề đúng quy chế thi, kiểm tra và công nhận tốt nghiệp trong dạy nghề chính quy; cấp chứng chỉ sơ cấp nghề theo quy định Tổ chức kiểm tra, công nhận tốt nghiệp đối với người học nghề dưới ba tháng thực hiện theo quy định của chương trình dạy nghề; cấp chứng chỉ theo quy định;
Lập các biểu mẫu, sổ sách quản lý dạy và học đối với lớp dạy nghề cho lao động nông thôn đúng hệ thống biểu mẫu, sổ sách quản lý dạy và học trong đào tạo nghề, trình độ sơ cấp nghề
Thực hiện đầy đủ các cam kết trong hợp đồng dạy nghề ký với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Quản lý, sử dụng, thanh quyết toán kinh phí theo đúng quy định hiện hành; báo cáo tình hình, kết quả tổ chức dạy nghề cho lao động nông thôn theo quy định;
Phối hợp với Ủy ban nhân dân xã theo dõi, thống kê tình trạng việc làm, thu nhập của lao động nông thôn do cơ sở đào tạo sau học nghề
1.3.3 Mục đích, nội dung, nguyên tắc huy động các nguồn lực doanh nghiệp
1.3.3.1 Mục đích huy động các nguồn lực doanh nghiệp
Huy động nguồn lực từ DN để thúc đẩy quá trình giáo dục và xây dựng các điều kiện thiết yếu phục vụ giáo dục ở cơ sở đào tạo như: CSVC, Trung tâm lớp, đội ngũ quản lý, đội ngũ giảng viên và tham gia xây dựng đổi mới chương trình, tạo môi trường giáo dục trong sạch, lành mạnh thống nhất giữa Trung tâm - gia đình - xã hội góp phần nâng cao chất lượng giáo
Trang 40dục toàn diện, thực hiện mục tiêu đào tạo con người Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới của đất nước
1.3.3.2 Nội dung huy động các nguồn lực doanh nghiệp vào đào tạo nghề
Nội dung huy động nguồn lực DN vào hoạt động dạy nghề cho lao động nông thôn gồm:
- Huy động DN vào việc xác định nhu cầu đào tạo và xây dựng chuẩn đầu ra; DN đưa ra những tiêu chí về chất lượng nhân lực bao gồm những yêu cầu về kiến thức, kỹ năng cứng, kỹ năng mềm và thái độ nghề nghiệp Các cơ
sở đào tạo căn cứ yêu cầu của DN xây dựng kế hoạch tuyển sinh, xây dựng chương trình đào tạo nhằm tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng cao cung cấp cho DN DN tiếp nhận các sinh viên tốt nghiệp làm việc tại DN tạo nên một quy trình khép kín
- Huy động DN vào phát triển và đánh giá chương trình đào tạo Việc DN tham gia xây dựng chương trình đào tạo sẽ giúp cho chương trình đào tạo của của các cơ sở đào tạo trở nên linh hoạt hơn, sát hợp hơn với yêu cầu của các DN;
- Huy động nhân lực trình độ cao của DN vào quá trình giảng dạy;
- Huy động DN vào hỗ trợ bố trí chỗ thực tập nghề cho học viên Chính hoạt động đào tạo được diễn ra ở DN sẽ tạo điều kiện cho học viên tiếp cận sớm với thực tiễn nghề nghiệp, có được những kiến thức và kỹ năng mới thông qua trải nghiệm thực tiễn nghề nghiệp Thực tế hiện nay, nhiều cơ
sở đào tạo không đủ điều kiện để đầu tư về trang thiết bị hiện đại phục vụ cho công tác giảng dạy Bởi vậy, người học khi ra trường thường yếu về kỹ năng thực hành và vận hành các kỹ thuật tiên tiến, hiện đại trong các doanh nghiệp Do đó, nhà trường muốn người học thành thạo về kỹ năng thì phải liên kết với các doanh nghiệp Việc liên kết này sẽ giúp trường sử dụng được các thiết bị sản xuất hiện đại, những thiết bị đắt tiền mà nhà trường không