1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Ngữ nghĩa các từ chỉ hoạt động chuyển rời đối tượng trong Tiếng Việt và Tiếng Lào (LV thạc sĩ)

103 387 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 1,86 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngữ nghĩa các từ chỉ hoạt động chuyển rời đối tượng trong Tiếng Việt và Tiếng Lào (LV thạc sĩ)Ngữ nghĩa các từ chỉ hoạt động chuyển rời đối tượng trong Tiếng Việt và Tiếng Lào (LV thạc sĩ)Ngữ nghĩa các từ chỉ hoạt động chuyển rời đối tượng trong Tiếng Việt và Tiếng Lào (LV thạc sĩ)Ngữ nghĩa các từ chỉ hoạt động chuyển rời đối tượng trong Tiếng Việt và Tiếng Lào (LV thạc sĩ)Ngữ nghĩa các từ chỉ hoạt động chuyển rời đối tượng trong Tiếng Việt và Tiếng Lào (LV thạc sĩ)Ngữ nghĩa các từ chỉ hoạt động chuyển rời đối tượng trong Tiếng Việt và Tiếng Lào (LV thạc sĩ)Ngữ nghĩa các từ chỉ hoạt động chuyển rời đối tượng trong Tiếng Việt và Tiếng Lào (LV thạc sĩ)Ngữ nghĩa các từ chỉ hoạt động chuyển rời đối tượng trong Tiếng Việt và Tiếng Lào (LV thạc sĩ)Ngữ nghĩa các từ chỉ hoạt động chuyển rời đối tượng trong Tiếng Việt và Tiếng Lào (LV thạc sĩ)Ngữ nghĩa các từ chỉ hoạt động chuyển rời đối tượng trong Tiếng Việt và Tiếng Lào (LV thạc sĩ)

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

PHETLATY INTHADALINE

NGỮ NGHĨA CÁC TỪ CHỈ HOẠT ĐỘNG CHUYỂN RỜI ĐỐI TƯỢNG TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG LÀO

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

THÁI NGUYÊN - 2016

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ NHUNG

THÁI NGUYÊN - 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn Thạc sĩ “Ngữ nghĩa các từ chỉ hoạt động chuyển

rời đối tượng trong tiếng Việt và tiếng Lào” là kết quả nghiên cứu của riêng tôi,

không sao chép của ai Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong các công trình khác Nếu sai, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm./

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2016

Tác giả luận văn

Phetlaty INTHADALINE

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, với lòng biết ơn sâu sắc, em xin gởi lời cảm ơn chân thành nhất tới

cô giáo - TS Nguyễn Thị Nhung đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ em hoàn thành tốt luận văn này

Em xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo trong Ban giám hiệu, Khoa Sau đại học, Khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện để em hoàn thành khóa học và thực hiện tốt luận văn tốt nghiệp

Em xin chân thành các thầy, cô giáo - những người đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn em trong suốt quá trình học tập và giúp đỡ em hoàn thành tốt luận văn này

Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn chân thành tới người thân, bạn bè và các bạn học viên lớp Cao học Ngôn ngữ K22 đã luôn giúp đỡ, động viên, khích lệ tôi trong suốt thời gian vừa qua

Xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2016

Tác giả luận văn

Phetlaty INTHADALINE

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC BẢNG iv

DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT v

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Đóng góp mới của luận văn 4

7 Cấu trúc của luận văn 5

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 6

1.1 Khái quát về từ và nghĩa của từ 6

1.1.1 Khái quát về từ 6

1.1.2 Khái quát về nghĩa của từ 8

1.2 Khái quát về động từ trong tiếng Việt và tiếng Lào 15

1.2.1 Đặc điểm của động từ trong tiếng Việt và tiếng Lào 15

1.2.2 Sự phân loại động từ trong tiếng Việt và tiếng Lào 17

1.3 Khái quát về nhóm từ chỉ hoạt động chuyển rời đối tượng trong tiếng Việt và tiếng Lào 20

1.4 Vấn đề nghiên cứu đối chiếu về từ vựng, ngữ nghĩa 21

1.5 Đôi nét về văn hóa truyền thống trong ứng phó với khoảng cách tự nhiên của Việt Nam và Lào 24

1.5.1 Văn hóa ứng phó với khoảng cách của Việt Nam 24

1.5.2 Văn hóa ứng phó với khoảng cách của Lào 25

1.6 Tiểu kết chương 1 25

Chương 2 TỪ CHỈ HOẠT ĐỘNG CHUYỂN RỜI ĐỐI TƯỢNG TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG LÀO XÉT VỀ SỐ LƯỢNG VÀ Ý NGHĨA 26

2.1 Từ chỉ hoạt động chuyển rời đối tượng trong tiếng Việt và tiếng Lào xét về số lượng 26

Trang 6

2.1.1 Khái quát về số lượng từ chỉ hoạt động chuyển rời đối tượng trong tiếng Việt

và tiếng Lào 26

2.1.2 Những trường hợp khác biệt trong hệ thống từ chỉ hoạt động chuyển rời đối tượng trong tiếng Việt và tiếng Lào 28

2.2 Từ chỉ hoạt động chuyển rời đối tượng trong tiếng Việt và tiếng Lào xét về ý nghĩa 33

2.2.1 Khái quát về ý nghĩa của từ chỉ hoạt động chuyển rời đối tượng trong tiếng Việt và tiếng Lào 33

2.2.2 Về các nhóm nét nghĩa và các nét nghĩa của từ chỉ hoạt động chuyển rời đối tượng trong tiếng Việt và tiếng Lào 45

2.3 Tiểu kết chương 2 56

Chương 3 TỪ ĐA NGHĨA CHỈ HOẠT ĐỘNG CHUYỂN RỜI ĐỐI TƯỢNG TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG LÀO 59

3.1 Từ đa nghĩa chỉ hoạt động chuyển rời đối tượng trong tiếng Việt và tiếng Lào xét về số lượng 59

3.2 Từ đa nghĩa chỉ hoạt động chuyển rời đối tượng trong tiếng Việt và tiếng Lào xét về quan hệ giữa các nghĩa 61

3.2.1 Các nét nghĩa tham gia vào việc tạo nghĩa chuyển, phương thức chuyển nghĩa ở từ chỉ hoạt động chuyển rời đối tượng tiếng Việt 61

3.2.2 Các nét nghĩa tham gia vào việc tạo nghĩa chuyển, phương thức chuyển nghĩa ở từ chỉ hoạt động chuyển rời đối tượng tiếng Lào 78

3.2.3 Đối chiếu các nét nghĩa tham gia vào việc tạo nghĩa chuyển và phương thức chuyển nghĩa ở từ chỉ hoạt động chuyển rời đối tượng trong tiếng Việt và tiếng Lào 86

3.3 Tiểu kết chương 3 88

KẾT LUẬN 89

TÀI LIỆU THAM KHẢO 92

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Các từ chỉ hoạt động chuyển rời đối tượng trong tiếng Việt và tiếng Lào 26 Bảng 2.2 Trường hợp một từ tiếng Lào tương ứng với một số từ tiếng Việt 29 Bảng 2.3 Trường hợp từ tiếng Việt tương ứng với một số từ tiếng Lào 30 Bảng 2.4 Trường hợp từ tiếng Việt tương ứng với cụm từ tiếng Lào 31 Bảng 2.5 Hệ thống các nét nghĩa của từ chỉ hoạt động chuyển rời đối tượng trong

tiếng Việt và tiếng Lào 37 Bảng 2.6: Khả năng xuất hiện của mỗi nét nghĩa ở các từ chỉ hoạt động chuyển rời

đối tượng trong tiếng Việt và tiếng Lào 46 Bảng 2.7: Thống kê các từ chỉ hoạt động chuyển rời đối tượng trong tiếng Việt và

tiếng Lào theo lượng nét nghĩa 53 Bảng 2.8: Thống kê các cặp đồng nghĩa giữa từ chỉ hoạt động chuyển rời đối tượng trong

tiếng Việt và từ chỉ hoạt động chuyển rời đối tượng trong tiếng Lào 54 Bảng 2.9: Thống kê các cặp đồng nghĩa giữa từ chỉ hoạt động chuyển rời đối

tượng trong tiếng Việt và cụm từ chỉ hoạt động chuyển rời đối tượng trong tiếng Lào 55 Bảng 2.10: Thống kê các cặp gần nghĩa giữa từ chỉ hoạt động chuyển rời đối

tượng trong tiếng Việt và từ chỉ hoạt động chuyển rời đối tượng trong tiếng Lào 55 Bảng 2.11: Thống kê các cặp gần nghĩa giữa từ chỉ hoạt động chuyển rời đối tượng

trong tiếng Việt và cụm từ chỉ hoạt động chuyển rời đối tượng trong tiếng Lào 56 Bảng 3.1: Sự phân bố từ đa nghĩa chỉ hoạt động chuyển rời đối tượng và lượng nghĩa

chuyển của chúng trong tiếng Việt và tiếng Lào 59 Bảng 3.2: Hệ thống hóa các nét nghĩa được dùng làm cơ sở chuyển nghĩa của từ đa

nghĩa chỉ hoạt độngchuyển rời đối tượng tiếng Việt 74 Bảng 3.3: Thống kê các phương thức chuyển nghĩa ở từ đa nghĩa chỉ hoạt động

chuyển rời đối tượng tiếng Việt 77 Bảng 3.4: Hệ thống hóa các nét nghĩa được dùng làm cơ sở chuyển nghĩa của từ đa

nghĩa chỉ hoạt độngchuyển rời đối tượng tiếng Lào 84 Bảng 3.5: Thống kê các phương thức chuyển nghĩa ở từ đa nghĩa chỉ hoạt động

chuyển rời đối tượng tiếng Lào 85 Bảng 3.6: Đối chiếu một số đặc điểm ngữ nghĩa của các từ đa nghĩa chỉ hoạt động

chuyển rời đối tượng trong tiếng Việt và tiếng Lào 87

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp giữa con người với con người trong xã

hội Ngôn ngữ là phương tiện biểu đạt văn hóa, và bản thân nó cũng là một biểu hiện của văn hóa

Mỗi đất nước thường chọn cho mình một ngôn ngữ quốc gia/ ngôn ngữ chính thức để sử dụng trong các hoạt động chính trị, xã hội, văn hóa và để giao tiếp giữa các cộng đồng dân tộc Ngôn ngữ quốc gia của những đất nước gần nhau về khoảng cách địa lí và có những mối quan hệ gắn bó với nhau trong lịch sử chắc chắn sẽ có những mối quan hệ tương đồng nhất định Việt Nam và Lào nằm trong trường hợp này Cùng ở khu vực Đông Nam Á, Việt Nam và Lào là hai nước làng giềng có truyền thống hữu nghị, tình anh em gắn bó keo sơn bền chặt từ lâu đời Trong lịch sử đấu tranh cách mạng và giải phóng dân tộc, Việt Nam và Lào đã chia sẻ đắng cay, ngọt bùi Hai nước có những điểm tương đồng đồng thời cũng có những đặc thù về văn hóa Đặc trưng văn hóa này chắc chắn được thể hiện trong ngôn ngữ Vì vậy, nghiên cứu tiếng Việt trong quan hệ đối chiếu với tiếng Lào, có thể thu nhận được những thông tin bổ ích về nền văn hóa của hai dân tộc Riêng với nhà nghiên cứu Lào, đây là việc có thể giúp hiểu rõ hơn một ngôn ngữ mới và theo đó là đôi nét về một nền văn hóa mới

1.2 Động từ là một từ loại quan trọng hàng đầu trong hệ thống từ loại của mỗi

ngôn ngữ Về mặt ngữ pháp động từ có thể giữ chức vụ ngữ pháp chính trong câu Về ngữ nghĩa, động từ là tâm điểm của nghĩa miêu tả Động từ chỉ hoạt động chuyển rời đối tượng (HĐCRĐT) là một bộ phận nhỏ trong tiếng Việt Tuy vậy, nhóm động từ này lại tương đối phong phú về số lượng và đặc biệt tinh tế về ý nghĩa, có thể phản ánh phần nào

về lịch sử, văn hóa Việt Nam Qua hiểu biết sơ bộ của chúng tôi, so với nhóm nói trên, nhóm động từ tương ứng ở tiếng Lào có những điểm thống nhất và khác biệt về số lượng

và ý nghĩa Tuy nhiên, những thống nhất và khác biệt giữa hai nhóm động từ này cụ thể

ra sao là một việc mà chưa công trình nghiên cứu nào đề cập tới

Vì những lí do trên mà chúng tôi chọn đề tài “Ngữ nghĩa các từ chỉ hoạt động

chuyển rời đối tượng trong tiếng Việt và tiếng Lào”

Trang 10

2 Lịch sử vấn đề

Trong Việt ngữ học, hầu hết các công trình có nghiên cứu về từ pháp đều đề

cập tới động từ Đó là những công trình như: Ngữ pháp tiếng Việt, tập I (Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung, 1991), Từ loại tiếng Việt hiện đại (Lê Biên, 1999), Ngữ pháp tiếng Việt - Giáo trình đào tạo GV THCS hệ CĐSP (Diệp Quang Ban, Hoàng Dân, 2000), Tiếng Việt hiện đại (Nguyễn Văn Thành, 2001), Ngữ pháp tiếng Việt

(Nguyễn Thị Nhung, 2014)

Cũng có công trình nghiên cứu tương đối toàn diện về động từ như: Động từ trong tiếng Việt (Nguyễn Kim Thản,1977) Một số công trình khác lại đi sâu tìm hiểu một phương diện nào đó của động từ như: Phân loại động từ tiếng Việt (I.S.Bystov, 1966), Nhóm động từ chỉ hướng tiếng Việt (Nguyễn Lai, 1976), Ngữ nghĩa và cấu trúc của động từ (Vũ Thế Thạch nghiên cứu, 1984), Kết trị của động từ tiếng Việt (Nguyễn Văn Lộc, 1995), Vị từ hoạt động và các tham tố của nó (Nguyễn Thị Quy,

1995) Nhìn chung, trong những công trình trên đây, vấn đề tiêu chí xác định và phân loại động từ, đặc điểm ý nghĩa và khả năng kết hợp của động từ đã được nghiên cứu tương đối kĩ

Từ loại, trong đó có động từ tiếng Lào từng được đề cập tới trong một số chuyên luận, đề cương bài giảng, sách giáo khoa và khóa luận tốt nghiệp Đó là

chuyên luận Ngữ pháp Lào (Phoumy VONGVICHITH, 1967); các đề cương bài giảng: Các từ loại trong tiếng Lào của tác giả Saysana CHANTHAOUDOM thuộc khoa Ngữ văn, Trường Đại học Quốc gia năm 2000; Hệ thống ngôn ngữ Lào của tác

giả Bounlerth SENGSOULINE, khoa Ngữ văn, Trường Đại học Quốc gia năm 2002

Cuốn sách giáo khoa Ngữ văn lớp 7 do Bộ giáo dục Lào ban hành năm 2008 của

nhóm tác giả Methong SOUVANVIXAY, Khamhung SENMANY, Venphet SYSOULATH, Somphai VILAYSACK, Meexay SOUKCHALERN, Aonkeo NUANENAVONG, Khamsone THONGMEEXAY, Bounlerth SENGSOULINE,

Duangta MANYVONG và khóa luận tốt nghiệp đại học: Động từ đồng nghĩa trong tiếng Lào của nhóm tác giả Chansouly BUASAVANH, Keopanya INTHADALINE

và Soulixay XAYSOMBOUN đều đề cập đến động từ tiếng Lào

Trang 11

Nghĩa của từ với các vấn đề về bản chất của nghĩa, các thành phần nghĩa, mối quan hệ giữa các nghĩa trong từ nhiều nghĩa hay mối quan hệ giữa các từ về mặt ngữ nghĩa (sự phân chia vốn từ theo tiêu chí ngữ nghĩa) cũng đã được nhiều nhà Việt ngữ học

quan tâm Những người có đóng góp tiêu biểu về lĩnh vực này là Đỗ Hữu Châu với Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt (1981), Các bình diện của từ và từ tiếng Việt (1986), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng(1987) và Nguyễn Thiện Giáp với Từ và từ vựng học tiếng Việt (2014) Ngoài ra là đóng góp của tác giả Lê Quang Thiêm với Ngữ nghĩa học (2006), Nguyễn Thiện Giáp với Từ và từ vựng học tiếng Việt (2014), Phan Thị Nguyệt Hoa với

Từ đa nghĩa từ vựng trong tiếng Việt hiện đại (2012), Đỗ Việt Hùng với Ngữ nghĩa học

(từ bình diện hệ thống đến hoạt động)(2013), và một số tác giả khác

Riêng vấn đề đối chiếu các từ chỉ hoạt động chuyển rời đối tượng trong tiếng Việt và tiếng Lào về phương diện ngữ nghĩa thì chưa được công trình nào đi sâu nghiên cứu

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Qua việc làm rõ những điểm tương đồng và khác biệt giữa hệ thống từ chỉ HĐCRĐT trong tiếng Việt và tiếng Lào về các mặt số lượng và ngữ nghĩa, có thể giúp nắm vững hơn về từ chỉ HĐCRĐT nói riêng, động từ tiếng Việt, tiếng Lào nói

chung và có thêm hiểu biết về lịch sử, văn hóa, tư duy của hai cộng đồng

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Xác định cơ sở lí luận cho việc nghiên cứu đề tài

- Thống kê số lượng của từ chỉ HĐCRĐT trong tiếng Việt và tiếng Lào

- Phân tích, đối chiếu cấu trúc nghĩa biểu niệm trong nghĩa chính của các từ chỉ HĐCRĐT trong tiếng Việt và tiếng Lào

- Đối chiếu cơ cấu nghĩa của từ đa nghĩa chỉ HĐCRĐT trong tiếng Việt và tiếng Lào

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các từ chỉ hoạt động chuyển rời đối tượng trong tiếng Việt và tiếng Lào

Trang 12

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là các từ chỉ HĐCRĐT trong tiếng Việt và tiếng Lào hiện đại xét ở mặt số lượng, ở cấu trúc nghĩa của từng từ và hệ thống nghĩa của các từ đa nghĩa

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Dùng các thủ pháp phân loại, phân tích, tổng hợp để tìm hiểu các tài liệu đã đề cập đến động từ trong tiếng Việt và tiếng Lào cùng các vấn đề khác có liên quan đến

đề tài nhằm có cơ sở cho việc viết lịch sử vấn đề và xây dựng nền tảng lí luận cho việc nghiên cứu đề tài

5.2 Phương pháp điều tra khảo sát

Sử dụng để tập hợp các từ chỉ HĐCRĐT trong tiếng Việt và tiếng Lào

5.4 Phương pháp so sánh đối chiếu

Nhằm tìm ra sự thống nhất và khác biệt giữa từ chỉ HĐCRĐT trong tiếng Việt

với bộ phận tương ứng trong tiếng Lào

6 Đóng góp mới của luận văn

6.1 Về lí luận

Nghiên cứu, làm rõ những đặc trưng về số lượng, ngữ nghĩa của nhóm động

từ chỉ HĐCRĐT trong tiếng Việt và tiếng Lào; làm rõ sự thống nhất và khác biệt giữa hai nhóm Từ đó, góp phần chỉ ra những đặc trưng về lịch sử, văn hóa Việt Nam và Lào, cùng tư duy của hai cộng đồng ngôn ngữ, cách dịch chuyển giữa hai ngôn ngữ

Trang 13

6.2 Về thực tiễn

Công trình có thể trở thành tài liệu tham khảo cho những người làm từ điển song ngữ Việt - Lào, những người làm công tác dịch thuật và những người muốn tìm hiểu ngôn ngữ và văn hóa Việt - Lào

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận văn dự kiến

gồm 3 chương cụ thể là:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn

Chương 2: Từ chỉ hoạt động chuyển rời đối tượng trong tiếng Việt và tiếng

Lào xét về số lượng và ý nghĩa

Chương 3: Từ đa nghĩa chỉ hoạt động chuyển rời đối tượng trong tiếng Việt

và tiếng Lào

Trang 14

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Khái quát về từ và nghĩa của từ

1.1.1 Khái quát về từ

1.1.1.1 Khái niệm từ

Mặc dù hầu hết các nhà ngôn ngữ học đều thừa nhận từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, nhưng nhận diện và định nghĩa từ thì không dễ Bởi từ trong các ngôn ngữ khác nhau có thể khác nhau về cách định hình, về chức năng và đặc điểm ý nghĩa Thậm chí trong một ngôn ngữ, cũng có những điểm không thống nhất giữa các bộ phận từ

Có rất nhiều định nghĩa về từ nói chung của mọi ngôn ngữ trên thế giới cũng như về từ tiếng Việt, từ tiếng Lào Ở đây, chúng tôi chỉ xin chọn ra những định nghĩa

mà chúng tôi cho rằng có tính tiêu biểu

Định nghĩa có phổ quát về từ là: “Từ là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ, độc lập

về ý nghĩa và hình thức” [dẫn theo 17, tr.32]

Định nghĩa này giúp phân biệt từ với đơn vị nhỏ hơn nó - hình vị - ở tính độc lập, và đơn vị lớn hơn nó là câu - ở chỗ chưa phải là đơn vị thông báo

Về từ tiếng Việt, chúng tôi chọn định nghĩa của tác giả Đỗ Hữu Châu:

“Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang những đặc trưng ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu

ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt 1 và nhỏ nhất để tạo câu” [24, tr.69]

Định nghĩa này giúp chỉ rõ những gì thuộc về bản thân từ: một đơn vị có phương diện hình thức (gồm các thành phần: ngữ âm, ngữ pháp, cấu tạo); phương diện nội dung (ý nghĩa); có vị trí nhất định trong tiếng Việt và có chức năng tạo câu

Từ tiếng Lào thì được định nghĩa là: “Từ là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ, độc lập về ý nghĩa và hình thức” [43, tr.2]

Trang 15

- Về cấu tạo: từ được tạo thành bởi một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến;

- Về nội dung: từ có thể biểu thị ý nghĩa từ vựng, ý nghĩa ngữ pháp, ý nghĩa tình thái; hay là dấu hiệu của những cảm xúc nào đó

- Về chức năng: từ là đơn vị trực tiếp nhỏ nhất để tạo câu

Ngoài những đặc điểm chung nêu trên, từ tiếng Việt và từ tiếng Lào còn có đặc điểm là: không biến hình trong sử dụng

Từ ghép là: “Từ gồm từ hai hình vị trở lên đều có khả năng tách ra để dùng độc lập” [42, tr.359]

- Dựa vào tiêu chí ngữ pháp, từ tiếng Việt được chia thành hai nhóm lớn là thực từ và hư từ Thực từ và hư từ có một số điểm phân biệt nhau:

+ Thực từ là những từ có ý nghĩa từ vựng còn hư từ thì không

+ Thực từ là những từ có khả năng làm trung tâm đoản ngữ còn hư từ thì không + Thực từ là những từ có thể giữ chức vụ ngữ pháp chính trong câu (làm chủ ngữ, vị ngữ) còn hư từ thì không

Thực từ và hư từ lại tiếp tục được phân chia thành các từ loại Động từ là một

từ loại nằm trong nhóm thực từ

1 Thuật ngữ “tiếng Việt” được hiểu là hệ thống ngôn ngữ Việt Nam (Chú thíc của Đỗ Hữu Châu)

Trang 16

1.1.2 Khái quát về nghĩa của từ

1.1.2.1 Khái niệm nghĩa của từ

tư duy hóa

Nghĩa của từ là khái niệm về sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan được

phản ánh vào trong tư duy, được ngôn ngữ hóa

1.1.2.2 Các thành phần nghĩa của từ

a Ý nghĩa biểu vật (nghĩa biểu vật)

Ý nghĩa biểu vật là liên hệ giữa từ với sự vật (hoặc hiện tượng, thuộc tính,

hành động ) mà nó chỉ ra Bản thân sự vật, hiện tượng, thuộc tính, hành động , đó

người ta gọi là biểu vật hay cái biểu vật

Biểu vật có thể hiện thực hoặc phi hiện thực, hữu hình hoặc vô hình, có bản

chất vật chất hoặc phi vật chất

Ví dụ: đất, trời, mưa, nắng, lạnh, ma, quỷ, thánh, thần, thiên đường

b Ý nghĩa biểu niệm (nghĩa biểu niệm)

Ý nghĩa biểu niệm là liên hệ giữa từ với ý (hoặc ý nghĩa, ý niệm) Các ý đó

người ta gọi là cái biểu niệm

Nghĩa biểu niệm của từ chứa đựng những hiểu biết của con người về những

thuộc tính bản chất của sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan

Ví dụ: Từ “bàn” (danh từ): (Đồ dùng), (Có mặt phẳng được đặt cách mặt nền

một khoảng đủ lớn bởi các chân), (Dùng để đặt đồ vật, sách vở, hoặc để viết)

Đối với từ vựng ngữ nghĩa học, cái quan trọng là nghĩa biểu niệm Trọng tâm

chú ý phân tích miêu tả của từ vựng - ngữ nghĩa học là nghĩa biểu niệm

c Ý nghĩa biểu thái (nghĩa biểu thái, nghĩa biểu cảm, nghĩa hàm chỉ)

Nghĩa biểu thái là mối liên hệ giữa từ với thái độ chủ quan, cảm xúc của

người nói

Ví dụ: to, nhỏ, mạnh, yếu (nhân tố đánh giá)/ ma quái, chém giết, tàn sát

(nhân tố cảm xúc sợ hãi) đê tiện, hèn ha, lì lợm (nhân tố bộc lộ sự khinh bỉ)

Các thành phần nghĩa nói trên hiện diện trong mỗi từ không phải bao giờ cũng

đồng đều và rõ ràng như nhau [25, tr.88-89]

Trang 17

1.1.2.3 Hiện tượng nhiều nghĩa

a Nhận xét chung

Ngôn ngữ có quy luật tiết kiệm vô cùng kì diệu: dùng cái hữu hạn để biểu hiện cái vô hạn Quy luật này thể hiện ở tất cả các mặt ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp Ở ngữ âm, với vài chục âm vị, bằng cách kết hợp khác nhau có thể tạo nên một số lượng rất lớn các âm tiết Trong ngữ pháp, với một số từ hữu hạn, có thể tạo ra các câu biểu hiện toàn bộ thế giới tư tưởng phong phú và đa dạng của con người Về mặt từ vựng, quy luật tiết kiệm của ngôn ngữ thể hiện ở chỗ: cùng một hình thức ngữ âm có thể diễn đạt nhiều nội dung khác nhau Vì vậy, hiện tượng đa nghĩa được xem là một trong những quy luật có tính phổ quát của các ngôn ngữ Giở bất kì cuốn từ điển tường giải nào của tiếng Việt, chúng ta cũng bắt gặp ngay hiện tượng đa nghĩa Ví dụ,

trong Từ điển tiếng Việt phổ thông (A-C), từ bện có hai nghĩa: 1 Chập nhiều sợi lại

thành dây, rồi tết các dây đó thành sợi to hoặc thành đồ dùng 2 Quấn và dính chặt

vào (rơm bện vào bánh xe); từ cây có ghi 5 nghĩa: 1 Thực vật có thân, lá rõ rệt hoặc

có hình thù giống những thực vật có thân, lá; 2 Từ dùng để chỉ từng đơn vị riêng lẻ thuộc loại vật có hình thức như thân cây; 3 Gỗ (địa phương); 4 Từ dùng để chỉ người thông thạo đặc biệt về một mặt nào đó trong sinh hoạt; 5 Cây số

So với nhiều ngôn ngữ khác trên thế giới, hiện tượng đa nghĩa trong tiếng Việt cũng có những đặc điểm riêng của mình

Trang 18

Để biểu thị những sự vật, hiện tượng hoặc khái niệm mới ra đời, tiếng Việt có thiên hướng cấu tạo các đơn vị từ vựng mới hơn là phát triển nghĩa của các đơn vị từ vựng đã có từ trước Theo Nguyễn Thiện Giáp thì số đơn vị có nhiều nghĩa, cũng như

số nghĩa trong những từ đa nghĩa của tiếng Việt đều thấp so với nhiều ngôn ngữ khác Trong khi đó, số lượng các đơn vị từ vựng mới tăng lên rất nhanh, đặc biệt là những đơn vị hai âm tiết [17, tr,187, 188]

Hiện tượng đa nghĩa của tiếng Việt chủ yếu xảy ra ở các từ Các tổ hợp từ cũng có hiện tượng nhiều nghĩa, song tỉ lệ rất thấp Hiện tượng đa nghĩa của tiếng Việt có hai kiểu sau đây:

1) Hiện tượng đa nghĩa của các từ độc lập về nghĩa, hoạt động tự do

2) Hiện tượng đa nghĩa của các từ độc lập về nghĩa, hoạt động hạn chế

Các nghĩa của mỗi từ đa nghĩa có thể thuộc hai loại: nghĩa tự do và nghĩa hạn chế2 Nghĩa tự do là nghĩa liên hệ trực tiếp với sự phản ánh các hiện tượng của thực tế khách quan Sự hoạt động của các nghĩa này không bị hạn chế vào các ngữ cố định,

mà có mối quan hệ rộng rãi và nhiều vẻ Bởi vì rằng mối quan hệ của các từ có nghĩa

tự do với các từ khác không phải do quy luật nội tại của hệ thống từ vựng quy định

mà do bản thân những mối liên hệ có thật tồn tại giữa những sự vật hiện tượng khách

quan được các từ này biểu thị quy định Chẳng hạn, bộ phận thân thể được gọi là cổ

có thể ngắn, dài, rám nắng, nhưng nó không biết nghe, biết đi, biết suy nghĩ, cho

nên từ cổ có thể kết hợp với dài, ngắn, rám nắng, mà không kết hợp với nghe, đi, suy nghĩ, Nghĩa hạn chế là nghĩa chỉ được thể hiện trong những kết hợp hạn chế Các từ

trong kiểu tổ hợp này kết hợp với nhau không phải do nội dung lôgic của các từ mà

do quy luật nội tại của hệ thống từ vựng quy định Ví dụ: Nghĩa của các từ dài,

chua trong áo dài (một kiểu áo của phụ nữ), cà chua (một loại cà để ăn) là các nghĩa hạn chế, bởi vì chỉ trong các ngữ cố định trên, dài mới có nghĩa là một loại áo, chua mới biểu thị một loại cà Có lẽ đối với tiếng Việt, nghĩa hạn chế là hiện tượng

phổ biến hơn các ngôn ngữ khác Mặc dù chưa kiểm tra được toàn bộ các từ trong từ điển, song có thể cho rằng một khi tiếng Việt đã phát triển mạnh khả năng cấu tạo các

2Về khái niệm “nghĩa tự do và nghĩa chế” xin xem V.V Vinôgradov Các kiểu nghĩa từ vựng cơ bản của từ,

Trang 19

ngữ thì các nghĩa hạn chế cũng sẽ tăng lên Chính các nghĩa hạn chế góp phần tạo ra tính cố định của các cụm từ

Từ đơn nghĩa thì hoặc chỉ có nghĩa tự do (ví dụ bầu - người làm chủ hoặc đỡ bầu một gánh hát, một đội thể thao trong xã hội cũ) hoặc chỉ có nghĩa hạn chế (ví dụ: đai trong đất đai, lẽo trong lạnh lẽo)

Từ đa nghĩa có thể vừa có nghĩa tự do vừa có nghĩa hạn chế Ví dụ: dài, theo

Từ điển tiếng Việt của Văn Tân có 3 nghĩa tự do: 1 Từ đầu nọ đến đầu kia có một quãng; 2 Lâu mới hết; 3 Nhiều Dài trong áo dài có nghĩa hạn chế; chua, theo Từ điển tiếng Việt phổ thông (A - C) có 5 nghĩa tự do: 1 có vị như vị của chanh, dấm;

2.Có chứa nhiều chất axít (nói về đất); a Có mùi của chất lên men như mùi của dấm;

4 Giọng the thé nghe khó chịu; 5 Khó khăn vất vả rất nhiều Chua trong cà chua có

nghĩa hạn chế

Trong các nghĩa của một từ đa nghĩa có một nghĩa là cơ bản còn các nghĩa khác là nghĩa phái sinh Nghĩa cơ bản thường phải là nghĩa tự do Trường hợp từ có một vài nghĩa tự do, thì có một nghĩa tự do là cơ bản, các nghĩa khác là nghĩa tự do phái sinh Trong các ví dụ trên, nghĩa thứ nhất là nghĩa cơ bản, các nghĩa còn lại là nghĩa phái sinh

b Các kiểu nghĩa của đơn vị đa nghĩa

b.1 Nghĩa trực tiếp và nghĩa chuyển tiếp

Căn cứ vào sự khác nhau của những mối quan hệ với sự vật có thể chia ra nghĩa trực tiếp (direct meaning) và nghĩa chuyển tiếp (transferred meaning) Nghĩa trực tiếp

là nghĩa phản ánh sự vật một cách trực tiếp không thông qua nghĩa nào khác của từ này Nghĩa chuyển tiếp là nghĩa phản ánh đối tượng gián tiếp thông qua nghĩa khác Hai kiểu nghĩa này cũng đối lập nhau ở chỗ có thể giải thích được hay không giải thích được Nghĩa chuyển tiếp bao giờ cũng có thể giải thích được qua nghĩa trực tiếp, còn nghĩa trực tiếp không giải thích được

b.2 Nghĩa đen và nghĩa bóng

Cách chia ra nghĩa đen và nghĩa bóng trong các từ điển tiếng Việt hiện có và

cả trong các tài liệu ngôn ngữ nước ngoài thực chất là dựa trên sự đối lập có tính hình tượng hay không có tính hình tượng Nghĩa đen là nghĩa vốn có của từ, không

có tính hình tượng Ngược lại, nghĩa bóng có tính hình tượng Thực chất, nghĩa

Trang 20

bóng cũng là một kiểu nghĩa chuyển tiếp: nghĩa bóng biểu thị sự vật gián tiếp thông qua nghĩa đen Tuy nhiên, không phải tất cả các nghĩa chuyển tiếp đều là nghĩa bóng Những nghĩa chuyển tiếp đã mất tính hình tượng tạo ra các nghĩa đen của từ chứ không phải nghĩa bóng

Mặt khác cần phân biệt nghĩa bóng của từ với những trường hợp dùng từ tạm thời trong ngữ cảnh nào đó, có tính chất cá nhân Người ta chỉ có thể coi là nghĩa của

từ khi nào nghĩa đó được xã hội thừa nhận và sử dụng

b.3.Nghĩa thông thường và nghĩa thuật ngữ

Căn cứ vào sự khác nhau của mối quan hệ đối với nhận thức, có thể chia ra nghĩa thông thường và nghĩa thuật ngữ Nghĩa thông thường và nghĩa thuật ngữ phản ánh trình độ nhận thức khác nhau đối với sự vật, hiện tượng Nghĩa thông thường phản ánh những đặc điểm bên ngoài của sự vật, đủ để phân biệt những đối tượng cùng loại được khái quát trong nghĩa đó với những đối tượng khác Nghĩa thuật ngữ phản ánh những thuộc tính bản chất của sự vật, hiện tượng

b.4 Nghĩa chính và nghĩa phụ, nghĩa tự do và nghĩa hạn chế

Căn cứ vào sự khác nhau của mối quan hệ đối với các từ khác trong ngôn ngữ, người ta phân loại nghĩa của từ đa nghĩa thành nghĩa chính và nghĩa phụ, nghĩa từ do

và nghĩa hạn chế

Nghĩa chính là nghĩa thường dùng nhất Cơ sở của việc phân chia nghĩa chính

và nghĩa phụ là nguyên tắc thống kê Thực tế, trong các từ điển, người ta không nêu lên con số thống kê nào mà chỉ dựa vào ngữ cảm của người biên soạn từ điển

Nghĩa tự do là nghĩa liên hệ trực tiếp với sự phản ánh các hiện tượng của thực

tế khách quan Nghĩa hạn chế là nghĩa được thực hiện trong các thành ngữ Các từ trong các thành ngữ này kết hợp được với nhau không phải do nội dung logic của các

từ mà do quy luật nội tại của hệ thống từ vựng

b.5 Nghĩa gốc và nghĩa phái sinh

Căn cứ vào sự hình thành và phát triển của các nghĩa, có thể chia ra nghĩa gốc

và nghĩa phái sinh Ví dụ: Nghĩa gốc của từ thẻ là mảnh tre, gỗ, dẹp và mỏng, dùng

để ghi nhận hoặc đánh dấu điều gì, chẳng hạn: vào đền xin thẻ Các nghĩa khác của từ

Trang 21

thẻ là nghĩa phái sinh: thẻ trong “thẻ nhà báo” có nghĩa là giấy chứng nhận một tư cách nào đó; thẻ trong “thẻ đỏ” có nghĩa là thẻ màu đỏ, trọng tài dùng để phạt đuổi ra

khỏi sân đối với cầu thủ bóng đá phạm lỗi

c Cấu trúc nghĩa của đơn vị đa nghĩa

Thực tế ngôn ngữ học ngày càng chứng tỏ rằng mặt nghĩa của các đơn vị từ vựng không phải là sự tổng hợp giản đơn của các nghĩa khác nhau mà là một hệ thống các yếu tố có liên hệ và quy định lẫn nhau Xác định cấu trúc ngữ nghĩa của từ cũng như của các đơn vị từ vựng khác cần phải một mặt tách ra các nghĩa khác nhau của chúng, mặt khác, phải làm sáng tỏ những mối liên hệ và sự quy định lẫn nhau

giữa các nghĩa đó Chúng tôi sẽ phân tích cấu trúc ngữ nghĩa của từ đầu để minh họa

trí điều khiển, lãnh đạo” Ngoài ra, chúng tôi thấy có các kết hợp như: đầu đạn, đầu đanh, đầu mấu, đầu mắt Có thể những kết hợp này biểu hiện một bước phát triển xa

hơn của nghĩa “vị trí trước hết, trên hết.” Chúng bao hàm vị trí có thể tác động đến người ta trước nhất; 1 b) Vị trí tận cùng Nghĩa này cũng năng động linh hoạt thể

hiện trong nhiều trường hợp: đầu nhà, đầu đường, đầu hè, đầu dây Một vật có thể có

hai điểm tận cùng trái ngược nhau Vì vậy, tiến thêm một bước trên con đường khái

quát hóa, trừu tượng hóa, đầu có thêm sắc thái “đằng”, “phía”

Dòng nghĩa thứ hai phát triển dựa vào thuộc tính về chức năng điều khiển của

bộ óc Do đó đã tạo ra nghĩa 2 là “trí tuệ, ý chí”

Cuối cùng, đầu có thể phát triển thêm nghĩa “chỉ đơn vị”: một đầu trâu, cá kể đầu rau kể mớ Đây là nghĩa phái sinh thứ ba độc lập với hai dòng nghĩa trên Kiểu

chuyển nghĩa này không hoàn toàn gần với thuộc tính riêng của nghĩa gốc mà nằm

Trang 22

trong một quy luật chung lớn hơn: danh từ chỉ sự vật chuyển thành từ chỉ đơn vị (một

ca nước, một thúng gạo, )

Nếu thể hiện bằng sơ đồ, trong đó, mũi tên hướng vào nghĩa phái sinh, ta thấy: Các nghĩa phái sinh có thể quan hệ trực tiếp với các nghĩa gốc (1a, 2, 3), có thể quan hệ gián tiếp với nghĩa gốc thông qua một nghĩa khác (1b) Tất cả các nghĩa liên

hệ lẫn nhau làm thành một hệ thống

Đa nghĩa là kết quả của các quá trình chuyển nghĩa mà thực chất chuyển nghĩa lại là “quá trình biểu tượng hóa của tín hiệu một quá trình vốn có nguồn gốc tâm lí của nó trong đời sống xã hội và được ghi lại một cách tế nhị, độc đáo trong ngôn ngữ”3 Cho nên, nếu so sánh kết cấu ngữ nghĩa của các từ tương ứng trong các ngôn ngữ khác nhau, chúng ta sẽ phát hiện thấy những điều thú vị, bổ ích

d Các phương thức chuyển nghĩa

Để chuyển biến ý nghĩa, tạo từ nhiều nghĩa, tiếng Việt có thể dùng các phương thức mở rộng nghĩa, thu hẹp nghĩa, ẩn dụ, hoán dụ

- Mở rộng nghĩa: là một quá trình phát triển cái riêng đến cái chung, từ cái cụ thể đến cái trừu tượng Ý nghĩa được hình thành nhờ quá trình này gọi là nghĩa rộng Bản thân từ bắt đầu biểu thị khái niệm rộng trong khi đó không thay đổi nghĩa cơ sở của mình

- “Thu hẹp nghĩa: là quá trình ngược lại Phạm vi nghĩa của các từ phát triển

từ cái chung đến cái riêng, từ cái trừu tượng đến cái cụ thể” [15, tr.225]

Việc mở rộng và thu hẹp nghĩa không nhất thiết làm cho nghĩa cũ mất đi mà nhiều khi cả hai nghĩa cùng tồn tại tạo nên sự đa nghĩa của từ

Trang 23

- “Ẩn dụ: là cách gọi tên một sự vật này bằng tên của một sự vật khác, giữa chúng có mối quan hệ tương đồng” [42, tr 19]

- “Hoán dụ: là hiện tượng chuyển hóa về tên gọi - tên của một đối tượng này

được dùng để gọi vật kia - dựa trên quy luật liên tưởng tiếp cận” [42, tr.122]

1.1.2.4 Trường từ vựng

Trường từ vựng là một tập hợp các đơn vị từ vựng căn cứ vào một nét đồng nhất

nào đó về ngữ nghĩa Đái Xuân Ninh giải thích rõ là “Trường từ vựng là các đơn vị từ của một hệ thống ngôn ngữ nào đó phủ kín lên khu vực khái niệm nhất định và được cấu trúc hóa theo mối quan hệ về nghĩa tạo nên một trường từ vựng Như vậy, một đơn vị từ được coi như phủ kín một khu vực khái niệm nào đó và đến lượt nó, cái khu vực này có thể được cấu trúc hóa thành một trường từ vựng với một tập hợp từ khác Ví dụ, cái khu vực mà từ “đỏ” phủ lên sẽ được cấu trúc hóa với những từ như “hồng điều”, “tía”, “đỏ sẫm”, “đỏ son” Nghĩa của một đơn vị từ như là một khu vực khái niệm Mỗi khu vực

khái niệm gắn bó với một đơn vị từ là một khái niệm” [42, tr.328]

1.2 Khái quát về động từ trong tiếng Việt và tiếng Lào

ĐT là một trong các từ loại cơ bản Chúng có số lượng lớn sau DT Bản chất

NP của ĐT cũng được đặc trưng bởi các phương diện: ngữ nghĩa, khả năng kết hợp

và chức vụ ngữ pháp

1.2.1 Đặc điểm của động từ trong tiếng Việt và tiếng Lào

a) Về ý nghĩa ngữ pháp

ĐT thường là những từ có ý nghĩa chỉ tình thái, hoạt động, trạng thái của sự vật

Các tình thái (bèn, toan, định, cần, nên) hoạt động (chạy, học, đan, vẽ ) trạng thái (ngủ, thức, nhớ, còn, hết) đều có quan hệ với chủ thể và diễn ra trong thời gian

Như vậy, điểm chung nhất trong ý nghĩa của ĐT là tính quá trình Chủ thể của những quá trình này không phải chỉ là sự vật mà bao hàm cả các khái niệm được thực thể hóa Vậy nên, có thể cho rằng, ĐT là những từ chỉ các dạng vận động khác nhau của mọi thực thể

b) Về hình thức ngữ pháp

 Về khả năng kết hợp

- ĐT có thể kết hợp về phía trước với các PT như:

Trang 24

+ PT chỉ thời gian: đã, đang, sẽ, vừa, mới,

+ PT chỉ sự tiếp diễn: vẫn, cứ, còn, lại, cũng,

+ PT phủ định: không, chưa, chẳng,

+ PT chỉ mức độ: rất, hơi, vô cùng, cực kì,

Các thành tố phụ trước của ĐT không thể cùng xuất hiện và có vị trí ổn định, dứt khoát như các thành tố phụ trước DT Có những thành tố phụ có khả năng di động

từ phía trước sang phía sau trung tâm và ngược lại: ào ào chảy - chảy ào ào Nhóm

PT chỉ mức độ có khả năng kết hợp hạn chế hơn các nhóm khác, thường chỉ kết hợp với các ĐT trạng thái tâm lí, sinh lí, ĐT tình thái Ví dụ:

a Và hắn say thị lắm (Nam Cao, NV11, tl, 152)

b Cây xanh rất cần khí trời (TV5, tl, 94)

- Khả năng kết hợp về phía sau của ĐT rất phong phú, đa dạng

+ Xét về cấu tạo, phía sau của ĐT có thể là từ, cụm chính phụ, cụm đẳng lập

hay cụm C-V

+ Xét về từ loại, sau ĐT có thể có các thành tố là thực từ hoặc hư từ

Các thành tố phụ là thực từ phong phú hơn, thường do DT đảm nhiệm Ví dụ:

viết thơ, đọc sách, đến trường, biếu bà, đi xe đạp Ngoài ra là các từ loại khác như

ĐT, TT, ST, ĐaT: bẻ gãy, du đổ, học giỏi, nói khéo, nhớ nhiều, chia sáu, nghĩ thế

Chúng có thể kết hợp trực tiếp (như trong nghỉ tết) hoặc gián tiếp (như trong nghỉ vì ốm) với thành tố chính

Các thành tố phụ thực từ có thể bổ sung các ý nghĩa chỉ đối tượng mục đích, nguyên nhân, thời gian, địa điểm, phương tiện, cách thức,

Các thành tố phụ do hư từ (phó từ) đảm nhiệm có thể biểu thị những ý nghĩa

chỉ sự tiếp diễn, kết quả, sự hoàn thành, mức độ, hướng, định hướng: nghĩ mãi, ăn nữa, rơi mất, tìm được, làm xong, đi rồi, mệt lắm, mắng cho, tranh lấy,

 Về chức vụ ngữ pháp

- Chức năng NP chính của ĐT là làm VN ĐT có khả năng làm VN trực tiếp Đặc trưng này là tất yếu do ĐT mang ý nghĩa vận động, mà vận động là đặc trưng của thực thể, gắn với chức năng VN

Trang 25

Khi giữ chức vụ CN, động từ trên không còn giữ nguyên được bản chất của nó nữa Bởi dù vẫn giữ hình thức ngữ âm, nhưng ý nghĩa của chúng đã không còn là ý nghĩa từ vựng của ĐT (không còn ý nghĩa quá trình biểu hiện ở việc mất khả năng kết

hợp với PT có ý nghĩa thời thể) mà đã bị “thực thể hóa”

ĐT có thể giữ chức vụ định tố, bổ tố

* Những đặc trưng trên giúp vạch ranh giới giữa ĐT và các từ loại khác

Bên cạnh điểm phân biệt với hư từ, ST, ĐaT như DT, ĐT còn có điểm phân biệt với DT và TT Ngoài sự khác biệt về nghĩa, ĐT còn khác DT ở các thành tố phụ

cụ thể và chức vụ NP chính của nó ĐT phân biệt với TT ở nghĩa, khả năng kết hợp rộng rãi với PT chỉ mệnh lệnh, và chức vụ NP chính của nó

1.2.2 Sự phân loại động từ trong tiếng Việt và tiếng Lào

Có thể phân loại ĐT thành hai nhóm lớn: ĐT không độc lập và ĐT độc lập Các nhóm này lại được chia tiếp thành các nhóm nhỏ hơn

a) Động từ không độc lập

Đây là những ĐT biểu thị quá trình chưa đầy đủ, trọn vẹn

Do còn trống nghĩa, khi làm thành phần câu, lớp từ này thường đòi hỏi kết hợp với thực từ (thường là ĐT độc lập) ĐT không độc lập gồm hai nhóm: ĐT tình thái và

ĐT quan hệ

a1) Động từ tình thái: Là những ĐT biểu thị tình thái vận động, quá trình nhưng

tự thân chưa mang nghĩa trọn vẹn Dựa vào ý nghĩa, có thể chia ĐT thình thái thành các

nhóm nhỏ: ĐT chỉ sự cần thiết (cần, nên, phải, cần phải, khỏi, khỏi phải, ); ĐT chỉ khả năng (có thể, không thể, chưa thể); ĐT chỉ ý nguyện (toan, định, dám, chực, mong,

chịu, dám, nỡ, buồn); ĐT chỉ sự thụ động (bị, được, chịu, đành, …) a2) Động từ

quan hệ: Là những ĐT biểu thị quan hệ giữa chủ thể với nội dung nêu ở từ ngữ sau

ĐT chỉ quan hệ Đó có thể là quan hệ giữa các thực thể, các quá trình hoặc các đặc

trưng Chẳng hạn: ĐT chỉ quan hệ đồng nhất - chức nghiệp (làm); ĐT chỉ quan hệ biến hóa (thành, hóa thành, biến thành, hóa ra, ); ĐT chỉ quan hệ sở hữu (có, còn);

ĐT chỉ quan hệ diễn biến trong không gian (gần, xa, gần gụi ); - ĐT chỉ quan hệ diễn biến theo thời gian (bắt đầu, tiếp tục, thôi, ngừng )

Trang 26

Về ý nghĩa: ĐT nội động là những ĐT chỉ trạng thái hay hoạt động không

hướng tới, tác động tới một đối tượng nào ở bên ngoài chủ thể Ví dụ các ĐT: đi, nằm, ngồi, ngủ, nghỉ ngơi, ốm, nghĩ ngợi, hồi hộp, băn khoăn, càu nhàu, sụt sùi,

Về hình thức: ĐT nội động không chi phối bổ tố bắt buộc Mô hình câu có VN

là ĐT nội động dạng tối giản là: C-V: Nó ốm Nếu câu có VN là ĐT nội động có

thành tố phụ thì đó là các từ ngữ chỉ thời gian, địa điểm, nguyên nhân Ví dụ;

- ĐT chỉ tư thế, trạng thái: Đây là những ĐT biểu thị tư thế tĩnh tại của chủ thể,

hoặc trạng thái vật lý, tâm lí như: vỡ, nứt, thức, ngủ, bối rối, hậm hực, ngồi, nằm, đứng

- ĐT tồn tại: Nhóm này gồm các ĐT chỉ sự xuất hiện, tồn tại, tiêu biến của đối

tượng như: có, còn, nảy sinh, nở, mọc, lặn, ở, nổi, sống, chết, tàn, tắt, tan tác,

b2) Động từ ngoại động

* Đặc điểm:

Về ý nghĩa: ĐT ngoại động là các ĐT chỉ các hoạt động hướng tới hoặc tác động tới đối tượng bên ngoài chủ thể

Về hình thức: ĐT ngoại động đòi hỏi phải có bổ tố - thành tố phụ cho ĐT

(hoặc TT) Ví dụ: tiệc, bạn, phim, của trong dự tiệc, mến bạn, xem phim, cây của,

* Các nhóm ĐT ngoại động

Dựa vào số lượng bổ tố bắt buộc bị chi phối, có thể chia các ĐT ngoại động thành nhóm ĐT chi phối một bổ tố và nhóm ĐT chi phối hai bổ tố

(1) Động từ chi phối một bổ tố

Trang 27

Dựa vào kiểu cấu tạo của bổ tố, có thể tiếp tục chia nhóm ĐT chi phối một bổ tố

thành ĐT chi phối bổ tố là một từ, một ngữ và nhóm ĐT chi phối bổ tố là cụm C-V

(1a) Động từ chi phối bổ tố là một từ, một ngữ

- ĐT là tác động tích cực: Đó là những ĐT biểu thị hoạt động mà kết quả của

nó có thể làm đối tượng khách quan phải thay đổi về trạng thái, tính chất, hoặc vị trí

không gian, thời gian cùng những hoạt động mà kết quả làm cho đối tượng hình

thành, tiếp tục, tồn tại hay tiêu hủy Thuộc nhóm này là các ĐT như: ăn, uống, học,

xây, lau, chặt, đào, trồng, may, cắt, giết, gánh, xách, thổi

- ĐT chỉ hoạt động cảm xúc: Đây là những ĐT hướng cảm xúc tới đối tượng

khách quan nhưng không làm đối tượng bị thay đổi về trạng thái, tính chất như: yêu,

ghét, kính trọng, chán, thương, nhớ, tin tưởng,

- ĐT chỉ hoạt động của bộ phận cơ thể: Đây là những ĐT biểu thị hoạt động mà

chủ thể gây ra và chuyển tới bộ phận cơ thể mình: cau, cúi, chép, lim dim, nhắm, ngửa,

nhăn, nháy, phùng, phưỡn, vẫy, vục, vươn, xòe, xua, và một số ĐT dùng riêng cho

động vật như: quắp, quặp, cúp, cụp, húc, ngoe nguẩy, ve vẩy, Bổ tố đặt sau các ĐT

này chỉ có thể là các bộ phận cơ thể như: đầu, mặt, miệng, mắt, má, tay, bụng,

(1b) Động từ có thể chi phối bổ tố là cụm chủ vị

- ĐT cảm nghĩ, nói năng: Đó là nhóm ĐT biểu thị hoạt động của trí não, của

các cơ quan cảm giác và ngôn ngữ: Nhóm từ này có thể đòi hỏi bổ tố là một từ, một

ngữ hoặc một cụm C-V thường biểu thị nội dung của những cảm giác, tình cảm, suy

nghĩ, hoặc nội dung của lời nói mà người ta muốn diễn đạt Ví dụ: bảo, đồn, kể, kêu,

khen, khoe, phao, nói, tuyên bố, trả lời, cãi, nhận định, cảm thấy, biết, hiểu, tin, nghĩ,

mong, muốn, hi vọng, quên, nghe,

- ĐT gây khiến: Các ĐT này chỉ hoạt động gây ra một hệ quả nào đó, giữa CN

và bổ tố (cụm C-V) thường có quan hệ nhân quả Tiêu biểu cho nhóm này là các ĐT:

làm, khiến

(2) Nhóm động từ chi phối hai bổ tố

Nhóm ĐT này có mô hình là C-V-B1, B2, bao gồm các tiểu nhóm:

-ĐT trao nhận: Những ĐT này chỉ vận động, hoạt động mang ý nghĩa trao nhận

Các ĐT trao nhận thường có bổ tố B1 chỉ vật được trao hoặc nhận (tức đối

tượng bị thay đổi về kẻ sở hữu), bổ tố B2 chỉ kẻ được tiếp nhận (có thể có từ cho

đướng trước) hoặc chỉ kẻ bị tổn thất (có thể có từ của đứng trước) Những ĐT thuộc

Trang 28

nhóm này gồm có: cho, tặng, biếu, nhường, chia, ban, phát, cấp, dành, đưa, đút lót, vay, mua, bán, lấy, cướp, ăn cắp, đoạt, xin, nhận Ví dụ:

- ĐT cầu khiến: Đây là những ĐT có tác động ngăn cấm hay yêu cầu đối tượng thực hiện một hoạt động nào đó Các ĐT này thường có B1 chỉ đối tượng cầu

khiến, B2 chỉ nội dung cầu khiến Các ĐT cầu khiến thường gặp là: bảo, bắt, sai, yêu cầu, đề nghị, thúc ép, rủ, mời, cấm, nài, nài ép, đòi hỏi,

- ĐT đánh giá nhận xét: Nhóm ĐT này biểu thị sự đánh giá, nhận xét đối tượng Chúng đòi hỏi hai bổ tố: B1 biểu thị đối tượng đánh giá, nhận xét, B2 nêu đặc trưng của đối tượng hay kết quả của sự đánh giá, nhận xét Các ĐT thuộc nhóm này

là: coi, lấy, gọi, xác nhận, thừa nhận, cho rằng , và cả các ĐT chỉ sự lựa chọn, cất nhắc: bầu, chọn, cử, lựa, tôn, phong,

- ĐT biến hóa: Nhóm này gồm các ĐT chỉ hoạt động tác động vào đối tượng tạo sự biến đổi về đặc điểm, thể chất Chúng đòi hỏi hai bổ tố: B1 biểu thị đối tượng

mà hoạt động do ĐT biểu thị tác động tới, B2 nêu kết quả biến hóa Thuộc nhóm này

là các ĐT: biến, hóa, đổi, chuyển, xây dựng, vun đắp,

Lưu ý: Các ĐT chỉ sự biến đổi đối tượng trên có thể có hình thức như ĐT chỉ quan hệ biến hóa nhưng được sử dụng khác với nhóm ĐT đó

- ĐT nối kết: Đây là các ĐT chỉ hoạt động khiến các đối tượng hòa hợp, gắn

kết với nhau Chúng thường đòi hỏi hai bổ tố Các ĐT thuộc nhóm này là: pha, hòa, trộn, ghép, gắn, kèm, nối,

- Thuộc nhóm này còn có ĐT chỉ hoạt động chuyển rời đối tượng [25, tr 51-65 ]

1.3 Khái quát về nhóm từ chỉ hoạt động chuyển rời đối tượng trong tiếng Việt

b) Về hình thức ngữ pháp

Chúng thường đòi hỏi hai bổ tố, B1 chỉ đối tượng chịu tác động trực tiếp của chủ thể, B2 chỉ hướng, vị trí mà đối tượng chịu tác động chuyển rời đến [26, 64]

Trang 29

c) Về vị trí trong hệ thống các nhóm động từ tiếng Việt

ĐT chuyển rời đối tượng là một loại của ĐT ngoại động chi phối hai bổ tố ĐT ngoại động là một nhóm của ĐT độc lập và đối lập với ĐT không độc lập [27, tr.60]

1.4 Vấn đề nghiên cứu đối chiếu về từ vựng, ngữ nghĩa

a) Nghiên cứu đối chiếu về nghĩa

Tác giả Lê Quang Thiêm, trong công trình của mình [33, 124-177] đã cho rằng nghiên cứu đối chiếu về nghĩa của từ là:

- Đối chiếu các từ tương ứng giữa hai ngôn ngữ (trong cùng của một trường nghĩa) ở cấu trúc nghĩa chính Đây là sự đối chiếu giữa một từ của ngôn ngữ này với từ tương ứng (về nghĩa) của ngôn ngữ khác ở các nét nghĩa trong cấu trúc nghĩa chính

- Đối chiếu hiện tượng đồng âm của các ngôn ngữ

- Phân tích sự tương đồng ngữ nghĩa của các ngôn ngữ để phân biệt ba hiện tượng: tương ứng, tương đương và đồng nghĩa

+ Sự tương ứng phải tuân thủ:

a) Thuộc cùng phạm vi nhân tố ngoài ngôn ngữ: cùng phạm vi sự vật, hiện tượng; tính chất, thuộc tính; trạng thái, cảnh huống

b) Thuộc cùng phạm vi nhân tố nội bộ ngôn ngữ: cùng thuộc một phạm trù từ loại, tiểu loại; cùng thuộc một hình thái ngữ pháp (số, giống, ); cùng thuộc về một kiểu loại đơn vị (hình vị, từ, câu, )

+ Sự tương đương theo cách hiểu thông thường là: ngang nhau, xấp xỉ nhau Nếu chỉ đối chiếu về mặt nghĩa thì hai đơn vị được coi là tương đương khi chúng là các đơn vị khác nhau về mặt vật chất âm thanh nhưng ngang bằng nhau về nghĩa,

Trang 30

những đơn vị tương đương chủ yếu xảy ra giữa các từ đơn nghĩa hoặc các từ có hai nghĩa hay giữa một từ đơn nghĩa với một nghĩa của một từ đa nghĩa Nói tương đương là ngang bằng về nội dung nghĩa, tức đối tượng đưa ra đối chiếu là các nội dung cụ thể Các thành tố nội dung cùng loại (các nghĩa cùng kiểu loại) hoặc không cùng loại (nghĩa khác kiểu loại) chỉ tương đương khi có cùng một nội dung xác định Tương đương là ngang bằng như không giống nhau hoàn toàn, không đồng nghĩa Sự tương đương có thể xảy ra giữa các đơn vị không cùng cấp độ

+ Đồng nghĩa là các đơn vị ngôn ngữ khác nhau có nội dung ngang bằng nhau

ở bộ phận xác định, có thể xảy ra ở những đơn vị cùng cấp độ hoặc khác cấp độ

- Đối chiếu các nghĩa trong từ đa nghĩa

b) Nghiên cứu đối chiếu về từ

Theo R Lado (dẫn theo Bùi Mạnh Hùng [20, 195 - 204]) thì các khả năng có thể có trong quá trình nghiên cứu đối chiếu từ vựng của hai ngôn ngữ là:

(1) Giống nhau về hình thức và ý nghĩa

(2) Giống nhau về hình thức nhưng khác nhau về ý nghĩa

(3) Giống nhau về ý nghĩa nhưng khác nhau về hình thức

(4) Khác nhau về hình thức và ý nghĩa

(5) Khác nhau về kiểu cấu tạo, liên quan đến cấu trúc hình thái học của từ (6) Giống nhau về nghĩa gốc, nghĩa cơ sở, nhưng khác nhau về nghĩa phái sinh, nghĩa liên tưởng

(7) Giống nhau về ý nghĩa, nhưng có những giới hạn về địa lí [19, 195]

c)Nghiên cứu đối chiếu từ vựng - ngữ nghĩa trong đề tài

Vận dụng các lí thuyết nêu trên, đề tài xác định sẽ nghiên cứu đối chiếu từ về mặt ngữ nghĩa ở các phương diện sau:

- Đối chiếu các từ tương ứng giữa hai ngôn ngữ (trong cùng của một trường nghĩa) ở cấu trúc nghĩa chính:

+ Đối chiếu hai hệ thống từ tương ứng về mặt số lượng;

+ Đối chiếu hai hệ thống từ tương ứng về hệ thống các tiêu chí phân chia nét nghĩa và các nét nghĩa;

Trang 31

+ Phân tích mức độ đồng nhất nghĩa của từng cặp từ tương ứng ở cấu trúc nghĩa chính Ở đây, chúng tôi chọn ba trường hợp 3, 6 và một phần của trường hợp 4 theo sự phân loại các khả năng của R Lado để nghiên cứu Đó là các trường hợp

* Giống nhau về ý nghĩa nhưng khác nhau về hình thức Đây là trường hợp thông dụng nhất khi so sánh hai ngôn ngữ Nhiều từ chỉ HĐCRĐT trong tiếng Việt và tiếng Lào đều thuộc trường hợp này Đó là các trường hợp xảy ra giữa các từ đơn

nghĩa Ví dụ: từ ẩy trong tiếng Việt và xục trong tiếng Lào đều có nghĩa là: đẩy nhanh

một cái

*Giống nhau về nghĩa gốc, nghĩa cơ sở, nhưng khác nhau về nghĩa phái sinh, nghĩa liên tưởng Nhiều cặp từ tương ứng của từ chỉ HĐCRĐT đa nghĩa trong

tiếng Việt và tiếng Lào thuộc trường hợp này Ví dụ: từ kéo và từ kè giống nhau

ở nghĩa thứ nhất (nghĩa gốc): làm cho di chuyển hoặc làm cho căng thẳng ra, bằng tác động của một lực truyền qua một điểm nối Nhưng chúng khác nhau về

nghĩa phái sinh (từ nghĩa thứ 2) Cụ thể, các nghĩa phái sinh của từ kéo và từ kè

dưới đây không giống nhau

Trong luận văn, hai trường hợp trên sẽ được gọi là các trường hợp đồng nghĩa

Và ở đây, chúng tôi còn mở rộng cặp đồng nghĩa về mặt cấu tạo Nghĩa là, có cả trường hợp từ đồng nghĩa với cụm từ

* Khác nhau về hình thức và ý nghĩa: Ở đây, chỉ có trường hợp khác nhau về

hình thức và khác một phần ở nghĩa gốc Ví dụ: từ thả và từ pòi khác nhau ở nghĩa thứ nhất (nghĩa gốc): từ thả là không giữ lại một chỗ nữa mà để cho được tự do hoạt động Từ pòi có ý nghĩa là bỏ đi (không giữ lại) Nhưng chúng giống nhau một điểm

là làm cho sự vật/ người khác được tự do

Luận văn không nghiên cứu đối chiếu về từ vựng ở các khả năng một và hai vì hai hệ thống từ CHĐCRĐT trong tiếng Việt và tiếng Lào không có sự giống nhau về hình thức Khả năng: 4 khác nhau về hình thức và ý nghĩa thì xảy ra ở mức độ thấp, chúng tôi nhập vào khả năng 3 Khả năng 5 không xảy ra với tiếng Việt và tiếng Lào

vì hai ngôn ngữ này không thuộc loại hình tổng hợp tính, không biến đổi hình thái

Trang 32

Khả năng 7 cũng không được nghiên cứu bởi khả năng này không xảy ra trong nhóm

từ chỉ HĐCRĐT trong hai ngôn ngữ

- Đối chiếu các từ chỉ HĐCRĐT đa nghĩa trong hai ngôn ngữ

1.5 Đôi nét về văn hóa truyền thống trong ứng phó với khoảng cách tự nhiên của Việt Nam và Lào

1.5.1 Văn hóa ứng phó với khoảng cách của Việt Nam

Phương Tây là nơi của các nền văn hóa trọng động (gốc du mục), cho nên giao thông thuộc loại lĩnh vực rất phát triển Ngay Trung Hoa tuy đã là một nền văn hóa nông nghiệp nhưng cái gốc du mục vẫn để lại dấu ấn đậm nét: không phải ngẫu nhiên

mà vào thời xưa, số lượng xe ngựa là thước đo sức mạnh của một nước, còn nam để xác định phương hướng là do tổ tiên người Trung Hoa phát minh ra

kim-chỉ-Ở xã hội Việt Nam cổ truyền, do bản chất nông nghiệp sống định cư cho nên

con người ít có nhu cầu di chuyển; có đi thì đi gần nhiều hơn đi xa Nhiều cụ già nông thôn suốt đời không hề bước chân ra khỏi làng mình, mặc dù đô thị chỉ cách đó vài

cây số Vì vậy, dễ hiểu là tại sao ở Việt Nam trước đây, giao thông, nhất là giao

thông đường bộ, thuộc loại lĩnh vực rất kém phát triển: Đến thế kỉ XIX mới chỉ có

những con đường nhỏ, phương tiện đi lại và vận chuyển, ngoài sức trâu, ngựa, voi, thì phổ biến là đôi chân; quan lại thì di chuyển bằng cáng, kiệu Thời Nguyễn mới tổ

chức được hệ thống ngựa trạm; công văn chuyển từ Huế vào Gia Định đi mất 4 ngày

Ở các đô thị phổ biến loại xe tay do người kéo, sau này kết hợp với xe đạp để thành cái xích-lô (mượn từ tiếng Pháp cycle, cyclo-) được dùng phổ biến đến tận bây giờ

Hoạt động đi lại chủ yếu của người nông dân Việt Nam là đi gần - từ nhà ra đồng, từ nhà lên nương Mà ruộng nước và nương rẫy lại là nơi không thể đưa xe tới được nên họ thường dùng sức để tự vận chuyển mọi thứ Chính vì vậy mà trên thế giới không một ngôn ngữ nào có số lượng từ chỉ hoạt động vận chuyển bằng sức

người đa dạng và phong phú như tiếng Việt Trong khi tiếng Pháp chỉ có porter, tiếng Nga có Hecmu, tiếng Anh có to carry và phần nào to take, thì trong tiếng Việt, ngoài

từ mang với nghĩa khái quát, còn có hàng loạt từ chỉ những cách thức vận chuyển rất chuyên biệt như mang trong bàn tay là cầm, mang gọn trong bàn tay là nắm, mang trong tay qua trung gian sợi dây là xách, sợi dây dài chạm đất là kéo, v.v

Trang 33

1.5.2 Văn hóa ứng phó với khoảng cách của Lào

Địa hình của Lào là chủ yếu là rừng núi, cảnh vật phức tạp, giao thông vận tải

và viễn thông gặp nhiều khó khăn Vùng cao càng ít đường giao thông Sự đi lại của con người chủ yếu là đi bộ Người dân vận chuyển hàng hóa chủ yếu sử dụng gùi, quang gánh, hay dùng bò, trâu kéo xe và ngựa thồ Nơi nào có sông nước, họ sử dụng tàu thuyền vận chuyển Nơi nào có voi thì họ sử dụng voi để vận chuyển hàng hóa

Nhìn chung, phương tiện vận chuyển chủ yếu ở vùng cao nguyên và đồng bằng là xe cộ, tàu thuyền; ở vùng cao miền Bắc của Lào là ngựa, bò; ở vùng miền Nam của Lào là voi Nhưng phương tiện vận chuyển có ở tất cả các nhóm dân tộc khác nhau tại Lào là chiếc ba lô và xe cộ [48, 136] Và đương nhiên, bên cạnh những phương tiện là tàu thuyền, xe cộ, voi, ngựa, người Lào phải sử dụng trực tiếp đôi chân của mình để di chuyển và đôi tay để mang theo mình các vật dụng cần thiết phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt Do địa hình đồi núi nhiều, quãng đường di chuyển thường không quá xa (mỗi người thường di chuyển phương tiện sản xuất từ ngôi nhà đến ruộng vườn của mình) nên người Lào chủ yếu cũng dùng sức mình để tiến hành các hoạt động CRĐT

1.6 Tiểu kết chương 1

Trong chương 1, chúng tôi đã trình bày những vấn đề lí thuyết và thực tiễn có liên quan đến đề tài Trước hết, chúng tôi đề cập đến mấy vấn đề quan trọng với đề tài là: khái quát về từ và nghĩa của từ (khái niệm, đặc điểm, phân loại từ, các thành phần nghĩa của từ, hiện tượng nhiều nghĩa, trường từ vựng); khái quát về động từ trong tiếng Việt và tiếng Lào (khái niệm, đặc điểm, phân loại); khái quát về từ chỉ hoạt động chuyển rời đối tượng trong tiếng Việt và tiếng Lào Đồng thời ở chương này, chúng tôi cũng đề cập đến việc nghiên cứu đối chiếu từ vựng, ngữ nghĩa giữa các ngôn ngữ; và đôi nét về văn hóa truyền thống trong ứng phó với khoảng cách tự nhiên của Việt Nam và Lào Đây là những cơ sở cần thiết cho việc triển khai những khảo sát, nghiên cứu trong các chương tiếp theo

Trang 34

Chương 2

TỪ CHỈ HOẠT ĐỘNG CHUYỂN RỜI ĐỐI TƯỢNG TRONG TIẾNG VIỆT

VÀ TIẾNG LÀO XÉT VỀ SỐ LƯỢNG VÀ Ý NGHĨA

2.1 Từ chỉ hoạt động chuyển rời đối tượng trong tiếng Việt và tiếng Lào xét về

số lượng

2.1.1 Khái quát về số lượng từ chỉ hoạt động chuyển rời đối tượng trong tiếng Việt

và tiếng Lào

Số lượng từ chỉ hoạt động chuyển rời đối tượng trong tiếng Việt và tiếng Lào

cụ thể ra sao? Hãy quan sát bảng thống kê sau:

Bảng 2.1: Các từ chỉ hoạt động chuyển rời đối tượng

trong tiếng Việt và tiếng Lào

Trang 35

TT Từ trong tiếng Việt TT Từ trong tiếng Lào

Trang 36

Bảng trên cho thấy trong vốn từ vựng tiếng Việt và tiếng Lào từ chỉ HĐCRĐT

có số lượng rất lớn Có thể giải thích điều này bằng thực tế đời sống kinh tế xã hội của hai nước trong lịch sử Trước đây (cuối thế kỷ XIX), giao thông, nhất là giao thông đường bộ của Việt Nam và Lào đều rất kém phát triển Đường nhựa và phương tiện giao thông hiện đại dường như chưa có Nhưng cũng như các cộng đồng dân tộc khác, việc vận chuyển đồ vật, con vật và con người luôn luôn đặt ra Và đối với những nước giao thông còn khó khăn thì việc chuyển rời các đối tượng luôn là vấn đề quan trọng cần quan tâm Và sự chuyển di đối tượng không có sự hỗ trợ của phương tiện hiện đại thì thường phải tiến hành bằng nhiều phương tiện, cách thức khác nhau khi đứng trước những đối tượng và mục đích khác nhau Và những sự khác biệt đó cần phải được phân biệt nhau bằng những tên gọi khác nhau của hoạt động rời chuyển đối tượng Đó là lí do để từ chỉ HĐCRĐT trở thành một bộ phận rất phong phú trong tiếng Việt và tiếng Lào

Bảng trên cũng cho thấy từ chỉ HĐCRĐT trong tiếng Việt phong phú hơn trong tiếng Lào (đến 16 đơn vị) Điều này phần nào cho thấy trong lịch sử của mình, nhu cầu vận chuyển của người Lào đã lớn nhưng ở người Việt còn lớn hơn và phức tạp hơn

Sự không tương ứng giữa từ tiếng Việt và tiếng Lào đã xảy ra ở hai trường hợp: thứ nhất là một từ tiếng Lào tương ứng với một số từ tiếng Việt và ngược lại; thứ hai là từ trong tiếng Việt không có từ tương ứng trong tiếng Lào

Sau đây, chúng tôi sẽ phân tích cụ thể những trường hợp khác biệt này

2.1.2 Những trường hợp khác biệt trong hệ thống từ chỉ hoạt động chuyển rời đối tượng trong tiếng Việt và tiếng Lào

2.1.2.1 Một từ tiếng Lào tương ứng với một số từ tiếng Việt và ngược lại

a Trường hợp một từ tiếng Lào tương ứng với một số từ tiếng Việt

Để rõ hơn về sự khác biệt chúng tôi tách các từ thuộc trường hợp này thành một bảng riêng

Trang 37

Bảng 2.2 Trường hợp một từ tiếng Lào tương ứng với một số từ tiếng Việt

ẩy

du đẩy/ đẩn

gùi

Ở đây, xục tương ứng với 5 từ Việt ẩy, du, đẩy/ đẩn, xô Tức cùng chỉ hoạt

động làm chuyển rời đối tượng bằng cách dùng tay tác động vào phía sau đối tượng, tiếng Việt có phân biệt việc làm cho chuyển động theo một hướng nào đó bằng tác

dụng của lực ép thẳng tới (hai từ đồng nghĩa đẩy, đẩn) với đẩy (người hoặc vật) nhanh một cái (ẩy), đẩy (thường là người) một cách nhanh, gọn (du); và đẩy mạnh cho ngã, đổ (xô) Từ xục trong tiếng Lào bao hàm nghĩa của các từ trên, chỉ hoạt động làm cho người hay là vật (thường là vật lớn) di chuyển phía trước bằng tay

Từ phai thì tương ứng với địu/ gùi chỉ HĐCRĐT bằng vai, lưng và phương

tiện khác Tiếng Việt phân biệt đối tượng là người (trẻ em), phương tiện là cái địu

(địu) với đối tượng là vật, phương tiện là cái gùi (gùi) Từ phai trong tiếng Lào chỉ

hoạt động chuyển rời đối tượng là người hay vật nhẹ bằng vai, lưng và phương tiện

(gùi hay địu), tức bao hàm nghĩa của 2 từ gùi, địu tiếng Việt

Trường hợp từ hám tương ứng với 2 từ tiếng Việt: khênh/ khiêng là trường hợp

có đôi chút khác biệt so với các trường hợp nói trên Khênh và khiêng là hai từ đồng

nghĩa ở nghĩa chính, đều chỉ hoạt động chuyển rời vật bằng hai tay, vai của hai hay

một số người, có thể dùng thêm phương tiện khác Từ hám trong tiếng Lào chỉ hoạt

động chuyển rời vật bằng tay, vai của hai hay một số người, có dùng thêm phương tiện khác

Như vậy, 3 từ tiếng Lào đã tương ứng với 9 từ tiếng Việt Trường hợp này đã tạo nên sự chênh lệch 6 từ giữa tiếng Việt và tiếng Lào

Trang 38

b Trường hợp từ tiếng Việt tương ứng với một số từ tiếng Lào

Hiện tượng ngược lại từ phía tiếng Việt thì không hẳn giống với trường hợp trên Quan sát bảng sau:

Bảng 2.3 Trường hợp từ tiếng Việt tương ứng với một số từ tiếng Lào

vậy, hai từ Việt phân biệt nhau về mức độ tự nguyện di chuyển của đối tượng, ba từ Lào lại phân biệt về trọng lượng của đối tượng

c Nhận xét

Qua các phân tích trên, có thể có một số nhận xét sau:

- Tiếng Việt và tiếng Lào có sự phân chiết thực tại về HĐCRĐT khác nhau.Nhưng nhìn chung, tiếng Việt có sự phân chiết thực tại chi tiết, cụ thể hơn Đó là nguyên nhân của

sự mất tương ứng 1/1 trong 2 trường hợp giữa các từ chỉ HĐCRĐT của ngôn ngữ

- Trường hợp không tương ứng này đã dẫn tới hệ quả là có sự chênh lệch 6/11, khiến từ tiếng Việt dôi hơn từ tiếng Lào 5 đơn vị

- Việc dịch 9 từ ẩy, du, đẩy/ đẩn, xô, khênh/ khiêng và khuân/ khuân vác sang tiếng Lào không gặp khó khăn gì 5 từ đầu, đều được dịch là xục, 2 từ tiếp dịch là hám, 2 từ cuối đều được dịch là bạch khường

Nhưng khi dịch các từ xục, chung, hám sang tiếng Việt thì cần dựa vào văn

cảnh hay bối cảnh sử dụng ngôn ngữ mà chọn từ cho phù hợp trong số các từ tương

ứng Khi dịch các từ lôi, kéo sang tiếng Lào hay đưng, lạc, kè sang tiếng Việt cũng

đều phải xử lí theo cách tương tự

Chẳng hạn, xục trong:

Ại nặn xục pạ tu khẩu ma

Trang 39

cần dịch là đẩy, cả câu dịch là:

Anh ấy đẩy cửa bước vào.

Còn trong:

Phuộc đệc nọi xục căn lộm lông

từ xục phải được dịch là xô, cả câu dịch là:

Mấy đứa bé xô nhau ngã

Còn trong:

Mè phai lục nọi pay hày

từ phai phải được dịch là địu, cả câu dịch là:

Mẹ địu bé đi nương

Còn trong:

Ượi phai mạc sá li lông tạ lạt

từ phai phải được dịch là gùi, cả câu dịch là:

Chị gùi ngô xuống chợ

2.1.2.2 Trường hợp từ trong tiếng Việt không có từ tương ứng trong tiếng Lào

a Khái quát về trường hợp từ trong tiếng Việt không có từ tương ứng trong tiếng Lào

Đó là các trường hợp của 4 từ chỉ HĐCRĐT mang tính khái quát (chỉ chung): bế bồng, du đẩy, gánh gồng, mang vác và 7 từ khác: bế, bồng, cắp, đội, hích, khuân, khuân vác

Để biểu đạt nội dung những từ trên, tiếng Lào dùng các cụm từ (gồm 2 đến 4 từ) Cụ thể như sau:

Bảng 2.4 Trường hợp từ tiếng Việt tương ứng với cụm từ tiếng Lào

Trang 40

b Các trường hợp từ tiếng Việt tương ứng với cụm từ tiếng Lào

Như vậy, cùng chỉ HĐCRĐT bằng cách dùng tay đỡ và giữ cho sát vào người,

tiếng Việt phân biệt hoạt động hướng tới người hoặc động vật (bế), với hoạt động chỉ hướng tới trẻ em (bồng) và hoạt động bế trẻ em nói một cách khái quát (bế bồng) Tiếng Lào phải dùng cụm từ để phân biệt đối tượng được chuyển rời Đó là ụm vạy biểu thị hoạt động tay bế chân đứng; ụm pay biểu thị hoạt động tay bế chân đi Như

vậy, nếu tiếng Việt phân biệt về đối tượng được chuyển rời thì tiếng Lào lại phân biệt

về việc có sự chuyển rời bằng chân hay không

Cắp trong tiếng Việt có nghĩa chính là dùng cánh tay kẹp vào nách hay bên sườn Tiếng Lào phải dùng cụm từ thứ nịp sày khảng có nghĩa là mang bằng cách kẹp vào nách

Đội của tiếng Việt có nghĩa là mang trên đầu, tiếng Lào dùng nhộc sày húa tức

để trên đầu để biểu thị

Tiếng Việt, hích là áp sát một bộ phận cơ thể (khuỷu tay hay bả vai) rồi dùng lực hất hoặc đẩy mạnh một cái, tiếng Lào dùng hai cụm từ thằng khén sọc (hích bằng khuỷu tay) và sịt bà lày (hích bằng vai) để biểu thị nội dung tương ứng trong từng văn cảnh

Từ khuân tiếng Việt có nghĩa là vận chuyển đồ vật nặng bằng sức của hai tay, hay vai Như vậy, từ khuân đã có nghĩa khái quát về về chuyển rời, nhưng nó được

dùng biểu thị những hoạt động cụ thể, ví dụ: Mấy anh em tôi đang khuân cái tủ vào

nhà Từ khuân vác tiếng Việt có nghĩa tương tương khuân (mang chuyển những vật

nặng bằng sức của hai tay, lưng hay vai) nhưng được dùng trong những trường hợp chỉ

chung, ví dụ: Các anh xem việc khuân vác đồ đạc thế nào? Tiếng Lào dùng cụm từ

bạch khường (chuyển bằng vai nhiều đồ đạc) để biểu thị, có thể dùng biểu thị những hoạt động cụ thể hoặc chỉ chung Như vậy, ý nghĩa của cụm từ này không hoàn toàn tương ứng với khuân và khuân vác cả về nét nghĩa phương tiện và cách sử dụng

Mang vác trong tiếng Việt có nghĩa chính là giữ cho lúc nào cũng cùng di chuyển theo mình, tiếng Lào dùng cụm từ thứ pay (tay cầm, chân đi) để biểu thị

Du đẩy trong tiếng Việt có nghĩa là đẩy một cách nhanh, gọn hoặc làm cho

chuyển động theo một hướng nào đó bằng một lực tác động thẳng tới (nói chung),

tiếng Lào dùng cụm từ phặc đăn là làm cho chuyển động theo một hướng nào đó

bằng một lực tác động thẳng tới

Ngày đăng: 20/03/2017, 14:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Diệp Quang Ban (1989), Ngữ pháp tiếng Việt phổ thông, Tập II, Nxb.Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt phổ thông
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb.Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp
Năm: 1989
2. Diệp Quang Ban (chủ biên), Hoàng Văn Thung (1996), Ngữ pháp tiếng Việt, tập 1, Nxb.Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban (chủ biên), Hoàng Văn Thung
Nhà XB: Nxb.Giáo dục
Năm: 1996
3. Diệp Quang Ban (Chủ biên) - Hoàng Dân (2000), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb.Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban, Hoàng Dân
Nhà XB: Nxb.Giáo dục
Năm: 2000
4. Diệp Quang Ban (2005), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb.Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb.Giáo dục
Năm: 2005
5. Lê Biên (1999), Từ loại tiếng Việt hiện đại (In lần thứ tư), Nxb.Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ loại tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Lê Biên
Nhà XB: Nxb.Giáo dục
Năm: 1999
6. Nguyễn Tài Cẩn (1975), Ngữ pháp tiếng Việt: Tiếng, Từ ghép, Đoản ngữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt: Tiếng, Từ ghép, Đoản ngữ
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Năm: 1975
7. Nguyễn Tài Cẩn (1998), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb.Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: Nxb.Đại học Quốc gia
Năm: 1998
8. Đỗ Hữu Châu (1981), Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Năm: 1981
9. Đỗ Hữu Châu (1986), Các bình diện của từ và từ tiếng Việt, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bình diện của từ và từ tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb. Khoa học Xã hội
Năm: 1986
10. Đỗ Hữu Châu (1987), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, Nxb.Đại học và Trung học chuyên nghiệp. (Biên tập: Vũ Thúy Anh) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb.Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1987
11. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (2008), Cơ sở ngôn ngữ học tiếng Việt, Nxb.Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học tiếng Việt
Tác giả: Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức nghiệu, Hoàng Trọng Phiến
Nhà XB: Nxb.Giáo dục
Năm: 2008
12. Phạm Đức Dương, TS. Onekeo NUANNAVONG (ĐỒNG CHỦ BIÊN Từ điển tiếng Việt - Lào, (2011), Nxb.Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt - Lào
Tác giả: Phạm Đức Dương, Onekeo NUANNAVONG
Nhà XB: Nxb.Giáo dục Việt Nam
Năm: 2011
13. Hữu Đạt, Trần Trí Dõi, Đào Thanh Lan (1998), Cơ sở tiếng Việt, Nxb.Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở tiếng Việt
Tác giả: Hữu Đạt, Trần Trí Dõi, Đào Thanh Lan
Nhà XB: Nxb.Giáo dục
Năm: 1998
14. Đinh Văn Đức (2001), Ngữ pháp tiếng Việt từ loại, Nxb.Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt từ loại
Tác giả: Đinh Văn Đức
Nhà XB: Nxb.Đại học Quốc gia
Năm: 2001
15. Nguyễn Thiện Giáp (1997), Cơ sở ngôn ngữ học, Nxb. Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 1997
16. Nguyễn Thiện Giáp (2008), Giáo trình ngôn ngữ học, Nxb.Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb.Đại học Quốc gia
Năm: 2008
17. Nguyễn Thiện Giáp (2014), Từ và từ vựng học tiếng Việt, Nxb.Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ và từ vựng học tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb.Đại học Quốc gia
Năm: 2014
18. Phan Thị Nguyệt Hoa (2012), Từ đa nghĩa từ vựng trong tiếng Việt hiện đại, Nxb.Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ đa nghĩa từ vựng trong tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Phan Thị Nguyệt Hoa
Nhà XB: Nxb.Khoa học xã hội
Năm: 2012
19. Bùi Mạnh Hùng (2008), Ngôn ngữ học đối chiếu, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học đối chiếu
Tác giả: Bùi Mạnh Hùng
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 2008
20. Đỗ Việt Hùng (2013), Ngữ nghĩa học (từ bình diện hệ thống đến hoạt động), Nxb.Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ nghĩa học (từ bình diện hệ thống đến hoạt động)
Tác giả: Đỗ Việt Hùng
Nhà XB: Nxb.Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2013

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2. Trường hợp một từ tiếng Lào tương ứng với một số từ tiếng Việt - Ngữ nghĩa các từ chỉ hoạt động chuyển rời đối tượng trong Tiếng Việt và Tiếng Lào (LV thạc sĩ)
Bảng 2.2. Trường hợp một từ tiếng Lào tương ứng với một số từ tiếng Việt (Trang 37)
Bảng 2.3. Trường hợp từ tiếng Việt tương ứng với một số từ tiếng Lào - Ngữ nghĩa các từ chỉ hoạt động chuyển rời đối tượng trong Tiếng Việt và Tiếng Lào (LV thạc sĩ)
Bảng 2.3. Trường hợp từ tiếng Việt tương ứng với một số từ tiếng Lào (Trang 38)
Bảng 2.4. Trường hợp từ tiếng Việt tương ứng với cụm từ tiếng Lào - Ngữ nghĩa các từ chỉ hoạt động chuyển rời đối tượng trong Tiếng Việt và Tiếng Lào (LV thạc sĩ)
Bảng 2.4. Trường hợp từ tiếng Việt tương ứng với cụm từ tiếng Lào (Trang 39)
Bảng 2.6: Khả năng xuất hiện của mỗi nét nghĩa ở các từ chỉ hoạt động - Ngữ nghĩa các từ chỉ hoạt động chuyển rời đối tượng trong Tiếng Việt và Tiếng Lào (LV thạc sĩ)
Bảng 2.6 Khả năng xuất hiện của mỗi nét nghĩa ở các từ chỉ hoạt động (Trang 54)
Bảng 2.7: Thống kê các từ chỉ hoạt động chuyển rời đối tượng trong tiếng Việt - Ngữ nghĩa các từ chỉ hoạt động chuyển rời đối tượng trong Tiếng Việt và Tiếng Lào (LV thạc sĩ)
Bảng 2.7 Thống kê các từ chỉ hoạt động chuyển rời đối tượng trong tiếng Việt (Trang 61)
Bảng 2.8: Thống kê các cặp đồng nghĩa giữa từ chỉ hoạt động chuyển rời đối  tượng trong tiếng Việt và từ chỉ hoạt động chuyển rời đối tượng trong tiếng Lào - Ngữ nghĩa các từ chỉ hoạt động chuyển rời đối tượng trong Tiếng Việt và Tiếng Lào (LV thạc sĩ)
Bảng 2.8 Thống kê các cặp đồng nghĩa giữa từ chỉ hoạt động chuyển rời đối tượng trong tiếng Việt và từ chỉ hoạt động chuyển rời đối tượng trong tiếng Lào (Trang 62)
Bảng 2.10: Thống kê các cặp gần nghĩa giữa từ chỉ hoạt động - Ngữ nghĩa các từ chỉ hoạt động chuyển rời đối tượng trong Tiếng Việt và Tiếng Lào (LV thạc sĩ)
Bảng 2.10 Thống kê các cặp gần nghĩa giữa từ chỉ hoạt động (Trang 63)
Bảng 2.11: Thống kê các cặp gần nghĩa giữa từ chỉ hoạt động chuyển rời đối tượng  trong tiếng Việt và cụm từ chỉ hoạt động chuyển rời đối tượng trong tiếng Lào - Ngữ nghĩa các từ chỉ hoạt động chuyển rời đối tượng trong Tiếng Việt và Tiếng Lào (LV thạc sĩ)
Bảng 2.11 Thống kê các cặp gần nghĩa giữa từ chỉ hoạt động chuyển rời đối tượng trong tiếng Việt và cụm từ chỉ hoạt động chuyển rời đối tượng trong tiếng Lào (Trang 64)
Bảng 3.1: Sự phân bố từ đa nghĩa chỉ hoạt động chuyển rời đối tượng - Ngữ nghĩa các từ chỉ hoạt động chuyển rời đối tượng trong Tiếng Việt và Tiếng Lào (LV thạc sĩ)
Bảng 3.1 Sự phân bố từ đa nghĩa chỉ hoạt động chuyển rời đối tượng (Trang 67)
Bảng thống kê cho thấy, hiện tượng đa nghĩa của từ chỉ HĐCRĐT trong tiếng  Việt và tiếng Lào vừa có điểm thống nhất, vừa có điểm khác biệt: - Ngữ nghĩa các từ chỉ hoạt động chuyển rời đối tượng trong Tiếng Việt và Tiếng Lào (LV thạc sĩ)
Bảng th ống kê cho thấy, hiện tượng đa nghĩa của từ chỉ HĐCRĐT trong tiếng Việt và tiếng Lào vừa có điểm thống nhất, vừa có điểm khác biệt: (Trang 68)
Bảng 3.2: Hệ thống hóa các nét nghĩa được dùng làm cơ sở chuyển nghĩa của từ đa nghĩa chỉ hoạt động - Ngữ nghĩa các từ chỉ hoạt động chuyển rời đối tượng trong Tiếng Việt và Tiếng Lào (LV thạc sĩ)
Bảng 3.2 Hệ thống hóa các nét nghĩa được dùng làm cơ sở chuyển nghĩa của từ đa nghĩa chỉ hoạt động (Trang 82)
Bảng 3.3: Thống kê các phương thức chuyển nghĩa ở từ đa nghĩa chỉ hoạt động - Ngữ nghĩa các từ chỉ hoạt động chuyển rời đối tượng trong Tiếng Việt và Tiếng Lào (LV thạc sĩ)
Bảng 3.3 Thống kê các phương thức chuyển nghĩa ở từ đa nghĩa chỉ hoạt động (Trang 85)
Bảng 3.4: Hệ thống hóa các nét nghĩa được dùng làm cơ sở chuyển nghĩa của từ đa nghĩa chỉ hoạt động - Ngữ nghĩa các từ chỉ hoạt động chuyển rời đối tượng trong Tiếng Việt và Tiếng Lào (LV thạc sĩ)
Bảng 3.4 Hệ thống hóa các nét nghĩa được dùng làm cơ sở chuyển nghĩa của từ đa nghĩa chỉ hoạt động (Trang 92)
Bảng 3.5: Thống kê các phương thức chuyển nghĩa ở từ đa nghĩa chỉ hoạt động chuyển rời đối tượng tiếng Lào - Ngữ nghĩa các từ chỉ hoạt động chuyển rời đối tượng trong Tiếng Việt và Tiếng Lào (LV thạc sĩ)
Bảng 3.5 Thống kê các phương thức chuyển nghĩa ở từ đa nghĩa chỉ hoạt động chuyển rời đối tượng tiếng Lào (Trang 93)
Bảng 3.6: Đối chiếu một số đặc điểm ngữ nghĩa của các từ đa nghĩa chỉ hoạt - Ngữ nghĩa các từ chỉ hoạt động chuyển rời đối tượng trong Tiếng Việt và Tiếng Lào (LV thạc sĩ)
Bảng 3.6 Đối chiếu một số đặc điểm ngữ nghĩa của các từ đa nghĩa chỉ hoạt (Trang 95)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm