Thơ Lò Cao Nhum (LV thạc sĩ)Thơ Lò Cao Nhum (LV thạc sĩ)Thơ Lò Cao Nhum (LV thạc sĩ)Thơ Lò Cao Nhum (LV thạc sĩ)Thơ Lò Cao Nhum (LV thạc sĩ)Thơ Lò Cao Nhum (LV thạc sĩ)Thơ Lò Cao Nhum (LV thạc sĩ)Thơ Lò Cao Nhum (LV thạc sĩ)Thơ Lò Cao Nhum (LV thạc sĩ)Thơ Lò Cao Nhum (LV thạc sĩ)Thơ Lò Cao Nhum (LV thạc sĩ)Thơ Lò Cao Nhum (LV thạc sĩ)Thơ Lò Cao Nhum (LV thạc sĩ)Thơ Lò Cao Nhum (LV thạc sĩ)Thơ Lò Cao Nhum (LV thạc sĩ)Thơ Lò Cao Nhum (LV thạc sĩ)Thơ Lò Cao Nhum (LV thạc sĩ)Thơ Lò Cao Nhum (LV thạc sĩ)Thơ Lò Cao Nhum (LV thạc sĩ)Thơ Lò Cao Nhum (LV thạc sĩ)Thơ Lò Cao Nhum (LV thạc sĩ)Thơ Lò Cao Nhum (LV thạc sĩ)Thơ Lò Cao Nhum (LV thạc sĩ)
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ HỒNG CHUNG
THƠ LÒ CAO NHUM
VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ HỒNG CHUNG
THƠ LÒ CAO NHUM
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 01 21
VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: TS LÊ HỒNG MY
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực, khách quan và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào trước đây
Thái Nguyên ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hồng Chung
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ iii
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Dự kiến đóng góp của luận văn 6
7 Cấu trúc của luận văn 7
NỘI DUNG 8
Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ THƠ DÂN TỘC THÁI VIỆT NAM THỜI KỲ HIỆN ĐẠI VÀ NHÀ THƠ LÒ CAO NHUM 8
1.1 Khái quát về thơ dân tộc Thái Việt Nam thời kỳ hiện đại 8
1.2 Giới thiệu về nhà thơ Lò Cao Nhum 12
1.2.1 Quê hương và gia đình nhà thơ 12
1.2.2 Con người 14
1.2 Giới thiệu về hành trình thơ Lò Cao Nhum 15
Chương 2 CẢM HỨNG CHỦ ĐẠO VÀ NHÂN VẬT TRỮ TÌNH TRONG THƠ LÒ CAO NHUM 18
2.1 Cảm hứng chủ đạo trong thơ Lò Cao Nhum 18
2.1.1 Khái niệm cảm hứng chủ đạo 18
2.1.2 Cảm hứng về vẻ đẹp của quê hương đất nước 19
2.1.3 Tự hào về con người miền núi 27
2.1.4 Ngợi ca, tự hào về truyền thống văn hóa của dân tộc Thái và đồng bào miền núi Tây Bắc 38
Trang 52.2 Nhân vật trữ tình 49
2.2.1 Khái niệm nhân vật trữ tình 49
2.2.2 Nhân vật trữ tình mạnh mẽ, phóng khoáng 50
2.2.3 Nhân vật trữ tình suy tư, hoài niệm 54
Chương 3 ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT THƠ LÒ CAO NHUM 66
3.1 Thơ Lò Cao Nhum giàu biểu tượng 66
3.2 Thể thơ tự do chiếm ưu thế 79
3.3 Ngôn ngữ thơ gần với ngôn ngữ của đồng bào miền núi 84
KẾT LUẬN 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
Trang 6
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng:
Bảng 3.1 Tổng hợp các hình ảnh mang ý nghĩa biểu tượng trong thơ Lò
Cao Nhum 67 Bảng 3.2 Thống kê thể thơ sử dụng trong các tập thơ của Lò Cao Nhum 79
Bảng 3.3 Thống kê thể thơ sử dụng trong tập thơ Rượu núi 80
Biểu đồ:
Biểu đồ 3.1 Số lần sử dụng các hình ảnh mang ý nghĩa biểu tượng trong
thơ Lò Cao Nhum 67 Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ sử dụng các thể thơ 79
Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ sử dụng các thể thơ trong tập thơ Rượu núi 80
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay, văn học viết dân tộc thiểu số Việt Nam đã có những bước phát triển tích cực và đạt được những thành tựu đáng khích lệ Ngày càng nhiều tác giả người dân tộc thiểu số có tác phẩm hay được bạn đọc đón nhận, chất lượng tác phẩm ngày một ổn định hơn Các thể loại văn học đạt được thành tựu là truyện ngắn, tiểu thuyết, thơ…
Nằm trong dòng chảy thơ dân tộc thiểu số nói chung, thơ dân tộc Thái không ngừng phát triển; nhiều tác giả, tác phẩm đã được “ghi danh” trong nền
thơ Việt Nam hiện đại: Cầm Biêu với Ngọn lửa không tắt (2001); Vương Trung với Sóng Nậm Rốm (1979); Lò Cao Nhum với Soi gương núi (1997), Sàn trăng (2000), Theo lời hát về nguồn (2001), Gốc trời (2009), Rượu núi
(2010)… Trong đó, Lò Cao Nhum là một trong số những tác giả tiêu biểu
Là một cây bút thơ dân tộc Thái, Lò Cao Nhum đem đến cho bạn đọc những bài thơ mang dấu ấn riêng Thơ ông mang phong vị vùng núi Tây Bắc, đặc biệt là phong vị đồng bào dân tộc Thái Đó là những vẻ đẹp hùng vĩ và thơ mộng của núi rừng Tây Bắc, là vẻ đẹp văn hóa Thái gắn liền với những lễ hội ở Bản Lác, Mai Châu nơi ông sống; đó là những cảm nhận của một tâm hồn thiết tha với văn hóa quê hương trong thời kỳ đổi mới, là những trải nghiệm của tác giả trên mọi miền của Tổ quóc thân yêu Đến với thơ Lò Cao Nhum, người đọc cảm nhận được nhiều điều thú vị, hấp dẫn, sâu sắc về quê hương, đất nước; về truyền thống văn hoá, phong tục tập quán của đồng bào dân tộc Thái; về vẻ đẹp tâm hồn nhà thơ
Là một giáo viên môn Ngữ văn đang giảng dạy ở Hòa Bình, nơi nhà thơ
Lò Cao Nhum đang sống và sáng tác, tác giả luận văn mong muốn qua đề tài nghiên cứu góp phần giới thiệu thơ Lò Cao Nhum và cuộc sống, văn hóa của đồng bào dân tộc Thái và đồng bào miền núi cao Tây Bắc với công chúng độc
Trang 8giả Đồng thời, chọn đề tài nghiên cứu cụ thể một tác giả văn học dân tộc thiểu
số địa phương, luận văn còn hướng tới mục đích giúp cho việc giảng dạy văn học địa phương ở Hòa Bình có hiệu quả hơn; mang đến cho các em học sinh tình cảm gắn bó, tự hào về quê hương
2 Lịch sử vấn đề
Lò Cao Nhum bắt đầu sáng tác thơ từ những năm bảy mươi của thế kỷ hai
mươi Ông có thơ đăng báo đầu tiên là chùm thơ ba bài trên Tạp chí Văn nghệ
Hà Sơn Bình, số tháng 8 năm 1980 (Những tâm tư gặp mưa; Một sớm mùa
gặt; Em về Piềng Lướng) Ngay sau khi ra mắt, chùm thơ đầu tay này đã tạo
được sự chú ý với bạn đọc Cũng trên tạp chí Văn nghệ Hà Sơn Bình, số tháng
9 năm 1980, tác giả Vũ Tuấn Anh (Viện Văn học Việt Nam) đã có bài viết giới thiệu về hai chùm thơ của hai tác giả trẻ Lò Cao Nhum và Đinh Nam Khương (Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) Khi đó, Lò Cao Nhum là một nhà thơ trẻ, mới bước chân vào “làng” văn nghệ Bài giới thiệu của Vũ Tuấn Anh về chùm thơ ba bài của Lò Cao Nhum đã có ý nghĩa động viên rất lớn đối với nhà thơ dân tộc Thái đến từ Hòa Bình này
Năm 1996, nhà thơ Lò Cao Nhum in tập thơ Rượu núi Sau đó một năm,
năm 1997, trên báo Văn nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam số tháng 4, nhà thơ
Nguyễn Đức Mậu đã có bài viết giới thiệu về bài thơ Rượu núi, khẳng định sự độc đáo “cả về ý lẫn tình” của bài thơ: “Toàn bộ bài thơ Rượu núi được viết bằng bút pháp giản dị, giàu chất dân tộc Phải chăng Rượu núi là thứ rượu
chan chứa tình đời, tình người, và chính những câu thơ hay trong bài cũng là men rượu chắt ra từ cuộc sống? Trong cuộc thi truyện ngắn và thơ năm 1996
do Tạp chí Văn nghệ quân đội tổ chức, bài thơ Rượu núi đã giành được vị trí
xứng đáng trong số các giải thưởng, thực sự là một đóng góp độc đáo cả về ý
lẫn tình” [dẫn theo 25] Đến nay Rượu núi vẫn là một trong những bài thơ hay
nhất của Lò Cao Nhum Bằng “con mắt xanh”, Nguyễn Đức Mậu đã giúp cho
Trang 9sắc màu, hương vị của bài thơ Rượu núi lan toả đến bạn đọc, bắc chiếc cầu nối đưa Rượu núi của Lò cao Nhum đến với người yêu thơ
Năm 2000, ngay sau khi Lò Cao Nhum in tập thơ Sàn trăng, nhà thơ Trần Quốc Thực đã viết bài giới thiệu tập thơ Sàn Trăng với nhan đề: Lò Cao Nhum trên Sàn trăng in trên báo Văn nghệ dân tộc miền núi của Hội nhà văn
Việt Nam Nhà thơ Trần Quốc Thực đã cảm nhận được sự gắn bó của Lò Cao Nhum với quê hương miền núi và đặc điểm ngòi bút Lò Cao Nhum trong cách
diễn đạt, thể hiện cảm xúc: “Muốn tìm gặp Sàn trăng của Lò Cao Nhum, dứt khoát phải đi qua vùng Rẻo cao Pù Bin rồi Gian khổ là cái chắc Ở đấy có sấm rền bất chợt, có gió lành gió độc, có mưa như khóc, có củi ướt khói bay đỏ mắt, có cái nết lầm lỳ của người miền núi và cái tình Pù Bin bền như củi lửa bốn mùa
Rõ ràng ngay từ đầu, Lò Cao Nhum đã không hề có ý định thi vị hóa con người và cảnh vật quê hương mình Cái nếp ngay thẳng của người miền núi đã tạo cho anh
có cách cảm xúc và diễn đạt khúc triết, có độ nén riêng trong thơ” [31]
Năm 2011, trong cuốn Văn học dân tộc thiểu số Việt Nam thời kỳ hiện đại - Một số đặc điểm, Lò Cao Nhum được nhắc đến với các tập thơ: Giọt sao trở về (1995), Rượu núi (1996), Sàn trăng (2000), Theo lời hát về nguồn
(2001), Lò Cao Nhum được xếp vào hàng các nhà thơ trẻ sau năm 1975 đến
nay với nét “trẻ trung, sôi nổi, hồn nhiên và giàu sức sáng tạo” [34] Trong
công trình nghiên cứu này, Lò Cao Nhum mặc dù chưa được giới thiệu như một tác giả tiêu biểu, song thơ ông được nhìn nhận dưới góc độ phê bình văn học với những nhận xét thỏa đáng Điều đó đã giúp cho quá trình nghiên cứu thơ Lò Cao Nhum có điểm tựa chắc chắn
Ngoài những bài viết về thơ Lò Cao Nhum kể trên, chúng tôi còn tham khảo những bài viết về thơ Lò Cao Nhum đăng tải trên website Tác giả Đỗ
Thu Huyền (Viện Văn học) với bài viết Lò Cao Nhum tình bền củi lửa đã có cái nhìn khái quát về 7 tập thơ của Lò Cao Nhum: “Qua 7 tập thơ (Giọt sao trở
về (1995), Rượu núi (1996), Soi gương núi (1997), Sàn trăng (2000), Theo
Trang 10lời hát về nguồn (2001), Gốc trời (2009), Rượu núi - thơ chọn lọc, (2010)
người đọc tưởng như khó nắm bắt ngay phong cách thơ Lò Cao Nhum nhưng chính qua sự thoạt tiên rời rạc, pha tạp ấy chúng ta tìm được sự nhất quán, đấy
là mạch cảm xúc của một con người lúc nào cũng khát khao khám phá và
chiêm nghiệm” [12] Bài viết của Đỗ Thu Huyền tập trung khám phá phong
cách thơ Lò Cao Nhum Tác giả đã nhận thấy từ thơ Lò Cao Nhum cốt cách của
một con người “nâng niu, trân trọng” văn hoá Thái “trong từng câu chữ, hình ảnh và giọng điệu” [12]
Nhà thơ Bùi Việt Phương trên website Văn học quê nhà có bài viết Nét mới trong thơ Lò Cao Nhum Tác giả bài viết đã khẳng định hồn thơ của Lò Cao Nhum: “Cái tên Lò Cao Nhum bấy lâu nay đã bị “đóng đinh” vào Rượu núi, bởi rượu núi hay bằng rượu núi? Không phải vì rượu núi đã cạn vì tiếp
sau tiếng vang đó anh vẫn có Nóc nhà ta có hoa khau cút, Sàn trăng, Lời
tháng giêng… mà bởi trong thơ của chàng thi sĩ Thái đã xuất hiện những
hướng nghĩ khác, những suy tư cật vấn” [26] Bùi Việt Phương đã nhận thấy,
sau Rượu núi, Lò Cao Nhum đã có những bài thơ đặc sắc khác, với những
hướng suy tư “cật vấn” hơn
Tìm hiểu lịch sử nghiên cứu thơ Lò Cao Nhum tác giả luận văn nhận thấy, các ý kiến viết về thơ Lò Cao Nhum nhìn chung thống nhất, nhiều bài có những điểm chung trong nhận xét Các bài viết nói trên đã khẳng định những ‘nét riêng” trong thơ Lò Cao Nhum: thơ ông mang cốt cách của một con người yêu dân tộc mình tha thiết với những tin tưởng, lạc quan; hồn thơ gắn bó tha thiết với quê hương miền núi với những khao khát khám phá, chiêm nghiệm; bút pháp thơ giản dị, diễn đạt khúc triết, có độ nén trong thơ
Tuy nhiên, các bài viết về thơ Lò Cao Nhum chủ yếu nhằm giới thiệu khái quát về thơ ông; hoặc cảm nhận, phê bình về một số bài thơ cụ thể Cho đến nay, chưa có một công trình chuyên sâu nào nghiên cứu toàn bộ sáng tác của nhà thơ Lò Cao Nhum
Trang 11Hy vọng rằng, kết quả nghiên cứu về thơ Lò Cao Nhum sẽ tiếp tục được
mở rộng, đi sâu trong công trình nghiên cứu này; từ đó có được bức chân dung hoàn chỉnh hơn về một nhà thơ dân tộc Thái trong diện mạo thơ dân tộc thiểu
số Việt Nam hiện đại
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích của đề tài
Nghiên cứu đặc điểm thơ Lò Cao Nhum; đánh giá đóng góp của nhà thơ đối với sự phát triển của thơ dân tộc Thái nói riêng và thơ ca dân tộc thiểu số nói chung; làm tài liệu giảng dạy văn học địa phương tại các trường trên địa bàn tỉnh Hòa Bình; vận dụng vào nghiên cứu, phát triển văn hoá, văn học địa phương
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu về nhà thơ Lò Cao Nhum và những yếu tố ảnh hưởng đến sáng tác thơ của ông
- Làm rõ đặc điểm cơ bản về nội dung, nghệ thuật thơ Lò Cao Nhum
- Kết luận, đánh giá về những đóng góp của nhà thơ Lò Cao Nhum trong
sự phát triển của thơ dân tộc Thái hiện đại, khẳng định được vị trí của nhà thơ trong nền văn học dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại
- Đề xuất việc vận dụng kết quả nghiên cứu của đề tài luận văn
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là toàn bộ các tập thơ in chung và riêng của nhà thơ Lò Cao Nhum; cụ thể là bảy tập thơ sau:
1 Giọt sao trở về, Thơ, Hội VHNT Hòa Bình, 1995
2 Rượu núi, Thơ, Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc, 1996
3 Mùa hoa chuông, Thơ in chung 3 tác giả, Sở VHTT Hòa Bình, 1997
4 Sàn trăng, Thơ, Hội VHNT Hòa Bình, 2000
5 Theo lời hát về nguồn, Thơ, Hội VHNT Hòa Bình, 2001
6 Gốc trời, Thơ, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2009
7 Rượu núi, Thơ chọn, Nhà xuất bản Văn học, 2010
Trang 12Trong quá trình triển khai làm luận văn, tác giả mở rộng phạm vi nghiên cứu đến các thể loại khác của Lò Cao Nhum (ký, dịch) và so sánh, đối chiếu với tác phẩm của một số nhà thơ dân tộc thiểu số khác
5 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản như sau:
5.1 Phương pháp nghiên cứu tác giả văn học
Phương pháp này được sử dụng để nghiên cứu thơ Lò Cao Nhum; lý giải những tác động của hoàn cảnh lịch sử - xã hội, văn hóa dân tộc, thiên nhiên, cuộc sống, con người tới khát vọng sáng tạo của nhà thơ
5.2 Phương pháp khảo sát, thống kê
Luận văn sử dụng các phương pháp khảo sát, thống kê làm căn cứ để phân tích, đánh giá các nội dung nghiên cứu, giúp cho việc triển khai các luận điểm, luận cứ được sáng tỏ
5.3 Phương pháp phân tích
Phương pháp này được sử dụng để phân tích đặc điểm nội dung và nghệ thuật thơ Lò Cao Nhum; từ đó, tổng hợp, khái quát những đóng góp của Lò Cao Nhum đối với văn học địa phương Hòa Bình - Tây Bắc nói riêng và văn học dân tộc thiểu số nói chung
6 Dự kiến đóng góp của luận văn
Luận văn là công trình đầu tiên tập trung nghiên cứu thơ Lò Cao Nhum;
lý giải những tác động của hoàn cảnh lịch sử - xã hội, văn hóa dân tộc, thiên
Trang 13nhiên, cuộc sống, con người tới khát vọng sáng tạo của nhà thơ; phân tích những đặc điểm nội dung và nghệ thuật thơ Lò Cao Nhum; góp phần khẳng định vị trí và những đóng góp của Lò Cao Nhum trong sự phát triển của thơ ca dân tộc thiểu số hiện đại
Đề tài nghiên cứu về thơ Lò Cao Nhum đóng góp thêm cho việc nghiên cứu thơ dân tộc Thái và nghiên cứu văn học dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa khích lệ, thúc đẩy sáng tác của các tác giả là người dân tộc thiểu số của tỉnh Hòa Bình nói riêng và vùng núi cao Tây Bắc nói chung
Từ năm học 2008 - 2009, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có Công văn số 5977/BGD&ĐT-GDTrH ngày 07/7/2008, về việc hướng dẫn thực hiện nội dung giáo dục địa phương ở cấp THCS và cấp THPT; Năm học 2015 - 2016,
Sở GD&ĐT Hòa Bình có công văn số 1649/SGD&ĐT-TrH ngày 10/9/1015 về việc hướng dẫn thực hiện nội dung giáo dục địa phương cấp THCS, THPT (Phụ lục 1) Cả hai văn bản nói trên đều thống nhất hướng dẫn thực hiện nội dung
giáo dục địa phương đối với các nhà trường là “cần tham khảo các tài liệu về văn hoá, ngôn ngữ, tác phẩm văn học sáng tác về đề tài địa phương hoặc tác giả người địa phương” Như vậy, luận văn Thơ Lò Cao Nhum sẽ cung cấp
thêm một tư liệu khoa học đáng tin cậy; góp phần làm phong phú thêm tài liệu nghiên cứu, giảng dạy, học tập văn học địa phương trong các nhà trường ở tỉnh Hòa Bình
7 Cấu trúc của luận văn
Luận văn gồm có ba phần: Mở đầu, Nội dung, Kết luận Phần Nội dung được triển khai theo ba chương:
Chương 1: Khái quát về thơ dân tộc Thái Việt Nam thời kỳ hiện đại và
nhà thơ Lò Cao Nhum
Chương 2: Cảm hứng chủ đạo và nhân vật trữ tình trong thơ Lò Cao Nhum Chương 3: Đặc điểm nghệ thuật thơ Lò Cao Nhum
Trang 14NỘI DUNG Chương 1
KHÁI QUÁT VỀ THƠ DÂN TỘC THÁI VIỆT NAM THỜI KỲ HIỆN ĐẠI
VÀ NHÀ THƠ LÒ CAO NHUM
1.1 Khái quát về thơ dân tộc Thái Việt Nam thời kỳ hiện đại
Hòa chung sự phát triển của nền văn học dân tộc thiểu số Việt Nam thời
kỳ hiện đại, văn học dân tộc Thái ngày một phát triển và có được nhiều thành công Trong đó, thơ là một trong những thể loại kết tinh được nhiều thành tựu nhất, thể hiện ở sự phát triển của lực lượng sáng tác, chất lượng tác phẩm, nội dung phản ánh và hình thức nghệ thuật
Từ trước năm 1945, thơ ca dân tộc Thái chủ yếu là các tác phẩm văn học
dân gian như truyện thơ Xống chụ xon xao, Khun lú - Nàng ủa, Tản chụ xiết sương… Tác phẩm được cho là đóng vai trò là bước chuyển tiếp giữa thơ ca dân gian và thơ dân tộc Thái hiện đại là Lời hát nền Văn Hoan của nghệ nhân
Ngần Văn Hoan: “Lời hát nền Văn Hoan đã đóng vai trò là bước chuyển tiếp giữa thơ ca dân gian và thơ ca dân tộc Thái hiện đại, chuẩn bị những tiền đề quan trọng để hình thành và phát triển thơ ca dân tộc Thái hiện đại nói riêng
và thơ ca dân tộc thiểu số hiện đại Việt Nam nói chung” [dẫn theo 32, tr.60]
Từ sau Cách mạng tháng Tám thành công, được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm, văn học dân tộc thiểu số không ngừng phát triển và nhanh chóng khẳng định vị thế của mình Thơ ca dân tộc Thái hiện đại cũng giữ một vai trò quan trọng trong sự phát triển thơ ca dân tộc thiểu số hiện đại nói chung
Đội ngũ các nhà thơ dân tộc Thái phát triển nhanh, số lượng tác phẩm ngày một phong phú, nhiều cây bút đã đạt được những thành công đáng ghi nhận Ban đầu, bạn đọc chỉ mới biết đến một số tên tuổi như Cầm Biêu, Lương Quy Nhân, Hoàng Nó Thế hệ các nhà thơ trưởng thành sau đó gồm có Vương Trung, Lò Văn Cậy, La Quán Miên… Sau năm 1975 có thêm nhiều tác giả trẻ sớm khẳng định
Trang 15được tên tuổi như Lò Vũ Vân, Lò Cao Nhum, Cầm Bá Lai, Cà Thị Hoàn, Lò Ngọc Duyên… Cho đến nay, đội ngũ các nhà thơ dân tộc Thái hiện đại ngày một trưởng thành; sáng tác ngày càng phong phú, đa dạng và hấp dẫn
Cầm Biêu, Lương Quy Nhân, Hoàng Nó… là lớp các nhà thơ dân tộc Thái thuộc thế hệ đầu tiên Họ đều sinh vào những năm hai mươi của thế kỷ XX: Cầm Biêu (1920 - 1998), Lương Quy Nhân (1926 - 1996), Hoàng Nó (sinh năm 1925); đều bắt đầu sáng tác từ sau Cách mạng tháng Tám Người cho ra
mắt tập thơ đầu tay sớm nhất là Lương Quy Nhân với tập Cán bộ với dân mường (1947) Người có số lượng sáng tác nhiều nhất là Cầm Biêu với 09 tác phẩm (Thơ ca Hạn Khuống (1957), Hạn Khuống (1992), Cầu văn bản (1982), Ánh hồng Điện Biên (1984), Thơ cưới xin và lên nhà mới (1992), Bản Mường nhớ ơn (1994), Ngọn lửa không tắt - Peo Phầy mì mọt
(1995)…) Nhà thơ Hoàng Nó từ khi cầm bút cho đến năm 1993 đã xuất bản 05
tác phẩm (Diễn ca khu tự trị (1954), Lòng dân miền núi (1957), Chị công nhân cầu đường (1957), Tiếng hát mường hoa lan (1987), Vượt sông Đà
(1993) Lớp nhà thơ này là những người đầu tiên vượt mọi khó khăn mở ra con đường đưa thơ dân tộc Thái đến với đến với thơ hiện đại Việt Nam
Lớp các nhà thơ trưởng thành sau cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1954) cũng đã đem đến cho thơ dân tộc Thái nhiều thành công Nhà thơ Vương Trung (1938 - 2012) ngoài viết tiểu thuyết, dịch thơ cổ, nghiên cứu sử
thi, đã sáng tác các tập thơ: Ing-Éng (thơ tiếng dân tộc và dịch tiếng phổ thông, 1967); Sóng Nậm Rốm (thơ, 1979) Nhà thơ Lò Văn Cậy (sinh năm 1928) được bạn đọc biết đến với tác phẩm thơ Hạt muối hạt tình (1986) Thời gian
này, các nhà thơ lớp trước vẫn tiếp tục sáng tác Lương Quy Nhân (sinh năm
1926) đã xuất bản khá nhiều tác phẩm như Cán bộ với dân Mường (tập thơ chữ Thái, khu tự trị Thái - Mèo xuất bản 1947), Hoa đang nở (tập thơ chữ Thái cho thiếu nhi, khu tự trị Tây Bắc xuất bản 1961), Thơ Lương Qui Nhân (tuyển thơ, Khu tự trị Tây Bắc xuất bản 1960), Biên giới lòng người (Nhà xuất bản
Trang 16Văn hóa Dân tộc, Hà Nội), Hoa trời (Hội Văn nghệ Lai Châu xuất bản 1987),
Độ dày của tình yêu (thơ song ngữ, Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc Hà Nội
1994) Sự tiếp nối và kế tục giữa các lớp nhà thơ đã góp phần khẳng định sự trưởng thành của thơ dân tộc Thái
Đặc biệt, sau năm 1975 xuất hiện thêm nhiều nhà thơ trẻ, có nhiều tác
phẩm xuất sắc Tiêu biểu có Lò Vũ Vân (sinh năm 1943) với Lời cây sáo ôi (2001), Vòng xòe và sao xa; Cầm Bá Lai (1950 - 1988) có tập Hoa và nắng;
Lò Cao Nhum với 7 tập thơ Giọt sao trở về (1995), Rượu núi (1996), Soi gương núi (1997), Sàn trăng (2000), Theo lời hát về nguồn (2001), Gốc trời (2009), Rượu núi - thơ chọn lọc (2010)
Các nhà thơ dân tộc Thái dù có những điểm khác nhau về thời đại, vùng miền, nghề nghiệp, học vấn… nhưng cội nguồn và văn hóa dân tộc đã bồi đắp nên những hồn thơ dung dị, giàu lòng nhân ái, yêu thiên nhiên, quê hương làng bản, yêu văn hóa dân tộc mình
Nguồn cảm hứng vô tận tạo nên hồn thơ Thái đặc sắc là thiên nhiên hùng vĩ, nên thơ; những phong tục, tập quán đậm đà bản sắc dân tộc; những con người chất phác hồn hậu giàu tình cảm, đặc biệt là người con gái Thái khỏe mạnh, đảm đang, xinh đẹp, khéo léo, dịu dàng
Một trong những đặc trưng dễ nhận thấy trong thơ của các nhà thơ dân tộc Thái là ở sự gắn bó, yêu mến đến đắm say thiên nhiên hùng vĩ, nên thơ của quê hương Đến với thơ ca dân tộc Thái ta có thể bắt gặp những đỉnh núi cao hùng vĩ, những cánh đồng cỏ xanh mướt nối tiếp nhau đến tận chân trời, những con gió quen thuộc nhiều vẻ nhưng thân thương gần gũi trong thơ Lương Quy Nhân:
“Gió về đây, gió ơi!
Mong gió hãy về mát mẻ Gió giong đường thuyền, gió ruổi đường xe Gió lướt đường trời xanh cao, gió ơi!
Trang 17…Đã làm gió, gió đừng giận dữ Gió giận dữ lửa sẽ cháy tàn
Đã làm gió, gió đừng gắt gỏng Gió gắt gỏng tim người sẽ đau”
(Gió - Nhà xuất bản Giáo dục 2005)
Các nhà thơ dân tộc Thái luôn có nguồn cảm hứng đặc biệt trước vẻ đẹp nguyên sơ, hùng vĩ của núi rừng Tây Bắc Những hình ảnh ruộng bậc thang như bắc đến tận trời, những cánh đồng lúa chín vàng ẩn hiện trong sương sớm, những cao nguyên đồng cỏ xanh mướt tới tận chân trời hay màu trắng tinh khiết của hoa Ban rừng quyến rũ… đã để lại dấu ấn sâu đậm trong tâm hồn các nhà thơ; đồng thời, hiện thực cuộc sống, tình yêu, lao động sản xuất, phong tục
tập quán, văn hóa… cũng đi vào thơ Đọc thơ ca Thái thời kỳ hiện đại, “chúng
ta có thể hình dung ra một cách cụ thể và sinh động cảnh sắc thiên nhiên, con người, cùng những nếp sinh hoạt cũng như những phong tục tập quán đậm đà bản sắc của người Thái, thấu hiểu được thế giới tâm hồn vốn rất phong phú của người Thái” [33, tr.294]
Thơ dân tộc Thái vừa kết tinh, kế thừa những đặc trưng của thơ dân gian Thái, vừa có tính hiện đại Trong quá trình phát triển, các nhà thơ Thái đã phát hiện và khẳng định “thần thái”, “hồn vía”, bản sắc và tầm vóc dân tộc mình
Sự trưởng thành về đội ngũ và chất lượng sáng tác của thơ dân tộc Thái
được tác giả Trần Thị Việt Trung khẳng định trong công trình nghiên cứu Bản sắc dân tộc trong thơ các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại: “Có thể thấy, số
lượng các tác phẩm thơ Thái ngày càng nhiều và chất lượng các tác phẩm ngày càng được nâng cao Nhiều bài thơ của các tác giả dân tộc Thái được bạn đọc yêu mến, thừa nhận; nhiều tác phẩm, tập thơ được trao những giải thưởng có
uy tín như: Ngọn lửa không tắt (Cầm Biêu) - đạt Giải A của Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam 1995, Hoa và nắng (Cầm Bá Lai) được trao
giải B của Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam năm 1997;
Trang 18Rượu núi của Lò Cao Nhum đạt giải C cuộc thi thơ Tạp chí Văn nghệ quân
đội, Giải A Giải thưởng văn học nghệ thuật Hoà Bình 50 năm, (1998) Đó không chỉ là sự thừa nhận về chất lượng nghệ thuật của thơ ca Thái mà còn là
sự khẳng định vị trí cũng như những đóng góp của thơ Thái đối với nền thơ ca dân tộc Việt Nam hiện đại” [33, tr.238]
Có thể nói, môi trường thơ ca với nhiều vẻ đẹp của đồng bào dân tộc Thái đã giúp tâm hồn Lò Cao Nhum ủ ấp, chưng cất và kết tinh được chất men say độc đáo trong thơ
1.2 Giới thiệu về nhà thơ Lò Cao Nhum
1.2.1 Quê hương và gia đình nhà thơ
Lò Cao Nhum người dân tộc Thái, quê ở Mai Châu, Hòa Bình; sinh ngày
09 tháng 06 năm 1955, tại một một bản nhỏ bên núi Khọ Pha, nơi ông bà ngoại nhà thơ sơ tán thời kháng chiến chống thực dân Pháp
Người Thái ở Mai Châu có cội nguồn từ vùng đất Mường Hước Pước Khà tức là miền Bắc Hà thuộc tỉnh Lào Cai ngày nay, theo dọc sông Hồng rẽ sang sông Đà, rồi tới lập nghiệp ở vùng Mộc Châu, vùng Mường Khoòng, Thanh Hóa và vùng Mai Châu Hòa Bình tính đến nay được khoảng trên dưới
700 năm, tức vào khoảng đầu thế kỷ XIV
Mai Châu là con đường tơ lụa giao lưu buôn bán giữa người Kinh ở Thăng Long - Hà Nội, người Mường ở tỉnh Hòa Bình, người Thái ở các tỉnh Sơn La, Hòa Bình, Thanh Hóa với các tộc người Lào ở đất nước Triệu Voi Con đường đó từ kinh đô Thăng Long - Hà Nội theo thuyền buôn lên chợ Bờ tới chợ Suối Rút và đi đường bộ vào Mai Châu, sang Quan Hóa lên Mường Lát và sang Lào
Bản Chác Lác (tức bản Lác ngày nay) đã có tên trong gia phả này ngay khi người Thái đặt chân đến mường Mùn khai phá mở mang đất đai cư trú và sinh sống Bản Chác Lác nằm thuộc vùng trung tâm của mường Mùn, cũng là trung tâm các Tạo mường cư trú Mặt khác, thung lũng mường Mùn được bao bọc bởi các dãy núi cao Bởi vậy, văn hóa cổ truyền Thái ở bản Lác cũng như
Trang 19của mường Mùn nói chung rất đậm đặc sắc thái, khác với một số vùng tiếp giáp các nền văn hóa khác như đã nói trên
Lò Cao Nhum gắn bó với quê hương Tây Bắc Dấu ấn quê hương in rõ nét trong thơ ông từ các hình ảnh quen thuộc của thiên nhiên Tây Bắc như đá núi, rừng cây, dòng sông, mây, gió, tiếng chim hót, mặt trời đến những phong tục tập quán như tục bắt vợ, tục ở rể của người Thái, tục cúng thần linh ngày
mùa (Bắt vợ, Sàn trăng…); những lễ hội quen thuộc của bản làng quê hương qua đêm múa xòe, lễ khuộng mùa (Đêm xòe và múa lăm vông, Đêm mường Bui, Tung còn…); những sinh hoạt trong lao động sản xuất như phát nương, làm rẫy, đan phên, dựng nhà, chống sàn, sửa gác (Bàn tay, Trên bờ lúa…);
những vật dụng, đồ dùng, những hình ảnh quen thuộc của người Thái như nhà
sàn, cầu thang, bếp lửa, hoa khau cút, vò rượu cần… (Sàn trăng, Nóc nhà ta có hoa khau cút…)
Ngoài quê hương, những yếu tố từ gia đình cũng có ảnh hưởng lớn đến
sự nghiệp sáng tác của nhà thơ Ông nội của Lò Cao Nhum sinh ra trong một gia đình nghèo tại bản Tòng (xã Tòng Đậu, Mai Châu, Hòa Bình) Người cha
Lò Cao Nhum sinh năm 1931 tại bản Lác, xã Chiềng Châu, Mai Châu, Hòa Bình Từ thuở niên thiếu, ông đã nhanh chóng hòa nhập vào các phong trào cách mạng như tham gia giành chính quyền trong Cách mạng tháng Tám tại huyện, tham gia du kích kháng chiến chống Pháp tại địa phương, tham gia Ban quản trị Hợp tác xã và nhiều năm là Bí thư Chi bộ bản Lác
Trong cảm nhận của nhà thơ Lò Cao Nhum, ông nội và người cha của nhà thơ là hai con người vừa bình dị, vừa phi thường Hình ảnh ông nội và người cha của nhà thơ đã trở đi trở lại nhiều lần với nhiều xúc cảm khác nhau,
đôi chỗ nó sáng lên như những hình ảnh đẹp (Ông nội tôi khai sinh miền đất)
Lò Cao Nhum mồ côi mẹ từ năm lên hai tuổi, có lẽ vì thế mà trong thơ ông, bạn đọc luôn cảm nhận một nỗi khát khao tình mẹ đến cháy bỏng Nỗi khát khao ấy khiến hình ảnh về người mẹ có khi được chuyển hóa thành người phụ nữ
Trang 20nói chung, hay hình ảnh người bà, người vợ… Dù là hình ảnh nào thì người phụ
nữ trong thơ ông luôn là người tận tâm với gia đình, đảm đang, giỏi giang, tháo
vát, ân cần, tận tụy, thủy chung… (Mưa, Bà đi tàu thủy xuôi sông Đà…)
Gia đình và quê hương, là những yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến con đường văn chương của nhà thơ Nó vừa là động lực thôi thúc, vừa là nguồn cảm hứng, vừa là đề tài, vừa là chất liệu đầy ắp và tiềm tàng những hình ảnh, hình tượng, cách suy nghĩ, cách triết lý mộc mạc mà sâu sắc của người Thái
1.2.2 Con người
Nhà thơ Lò Cao Nhum là một người giàu nghị lực, luôn khao khát vươn lên trong cuộc sống Ông mồ côi mẹ từ nhỏ nhưng không chịu chấp nhận sự thua thiệt của số phận Lớn lên gặp thời chiến tranh ác liệt ở cả hai miền Nam Bắc đang tạm thời chia cắt nên việc học hành của ông bị đứt đoạn liên tục Mặc
dù vậy, ông vẫn luôn phấn đấu học hỏi không ngừng Năm 16 tuổi (1971), nhà thơ nhập ngũ theo lệnh tổng động viên, gia nhập lực lượng Công an nhân dân
vũ trang của tỉnh Những năm này, rồi về sau nữa, theo các vị trí công việc khác nhau, Lò Cao Nhum phải nỗ lực củng cố bồi bổ thêm kiến thức của mình bằng cách theo học các lớp tại chức, các lớp bồi dưỡng như sư phạm, công an,
kế toán, văn hóa
Trong hành trình phấn đấu không ngừng, nhà thơ Lò Cao Nhum đã tích cực tham gia vào các hoạt động văn hóa văn nghệ và đạt được nhiều thành công Tháng 1 năm 2001, Lò Cao Nhum trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam Ngoài ra, ông còn là hội viên Hội Nhà báo Việt Nam, hội viên Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, hội viên Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam, hội viên Hội Văn học nghệ thuật Hòa Bình… Lò Cao Nhum từng đi nhiều nơi, đảm nhiệm nhiều công việc khác nhau và có nhiều đóng góp tích cực Ông từng là ủy viên Ban chấp hành Hội Văn học Nghệ thuật Hòa Bình các nhiệm kỳ 2,3,4; Ủy viên Ban Thường vụ Hội Văn học Nghệ thuật Hòa Bình nhiệm kỳ 4; Ủy viên Ban văn học dân tộc miền núi Hội Nhà văn Việt Nam
Trang 21nhiệm kỳ 7; Ủy viên Ban Kiểm tra Hội Nhà văn Việt Nam nhiệm kỳ 8; Trưởng phòng Biên tập, Thư ký tòa soạn báo Văn nghệ Hòa Bình
Mặc dù đã trải nhiều nghề khác nhau, nhưng với Lò Cao Nhum, niềm đam mê lớn nhất của ông vẫn là thơ Với ông, làm thơ trước hết là để sẻ chia tâm tư tình cảm với mọi người Nhà thơ khao khát sẻ chia những vần thơ của mình với bạn đọc mọi miền đất nước Trong sâu thẳm tâm hồn mình, nhà thơ
luôn nặng trĩu một nỗi lòng với văn hóa Thái Ông tâm sự: “Tôi viết khi nào cần viết, cần nói ra Viết tự nhiên theo giọng của mình, tức là cách nghĩ cách cảm của người Thái miền núi Viết được như vậy tôi cho là thành công” (ghi
trực tiếp)
Với những trải nghiệm cuộc sống và niềm say mê tìm hiểu, sáng tác văn học, Lò Cao Nhum đã có những thành công nhất định trên hành trình lao động nghệ thuật Ông đã khẳng định được chỗ đứng của mình trong văn học dân tộc Thái nói riêng và trong văn học dân tộc thiểu số nói chung
1.2 Giới thiệu về hành trình thơ Lò Cao Nhum
Lò Cao Nhum ngoài sáng tác thơ còn viết ký, dịch, sưu tầm, khảo cứu Tác phẩm của ông gồm nhiều thể loại:
Ký: Phiên chợ hoa văn, Hội Văn học nghệ thuật Hòa Bình, 2005;
Sưu tầm, dịch dân ca ca Thái: Dân ca Thái Mai Châu, Sở Văn hóa Thông tin Hà Sơn Bình, 1991; Lời hát trong lễ hôi Chá Chiêng, Nhà xuất bản
Văn hóa dân tộc, 2001;
Khảo cứu: Bếp lửa trong đời sống người Thái, Nhà xuất bản Văn hóa
dân tộc, 2008
Tuy nhiên, Lò Cao Nhum say mê nhất vẫn là thơ Ông làm thơ từ trước những năm 80 của thế kỷ XX, đến nay đã xuất bản 07 tập thơ
Năm 1995, ông in tập thơ đầu tay Giọt sao trở về Tập thơ gồm 31 bài, in
ở Nhà xuất bản Hội Văn học Nghệ thuật Hòa Bình Tập thơ đầu tay này bao gồm các bài thơ ông sáng tác từ năm 1981 đến năm 1995 Xuyên suốt tập thơ là
Trang 22cái nhìn của một con người dần trưởng thành Bắt đầu là một chàng trai trẻ đi
xa về cảm thấy xao xuyến trước tình cảm của người thân, làng xóm, và niềm
hạnh phúc lớn lao khi được làm cha: “Cúi hôn gót chân con làm bố” (Trở lại nhà sàn) Bài thơ kết thúc tập thơ là cái nhìn của một người đàn ông từng trải, nặng trĩu tâm sự với những đổi thay, vấp ngã của cuộc đời Giọt sao trở về tuy
chưa gây được nhiều chú ý của bạn đọc nhưng đã đánh dấu sự thành công bước đầu của một nhà thơ trẻ
Năm 1996, Lò Cao Nhum in tập Rượu núi Tập thơ này gồm 34 bài (trong đó có 33 bài là sáng tác mới, 01 bài được chỉnh sửa và in lại - Ngã ba suối) Một số bài thơ trong tập Rượu núi đã nhận được những giải thưởng có giá trị: Hai bài thơ Chiều núi, Ngã ba suối đã nhận được giải thưởng Chùm thơ hay trong năm, báo Văn nghệ Trẻ, 1996 Sau đó, với bài thơ Rượu núi, Lò Cao
Nhum được tặng giải C cuộc thi Thơ của Tạp chí Văn nghệ quân đội 1996 - 1997
Đến tập thơ Rượu núi, bạn đọc cảm nhận rõ một Lò Cao Nhum như “thăng hoa”
hơn khi viết về quê hương, bạn bè và những người thân Ông đã có những câu thơ
rất xuất sắc: “Ngửa bàn tay cũng da/ Úp bàn tay cũng thịt”, “Rượu nhà tôi/ Ủ từ sắc lá rừng gai/ Chắt từ củ mài hốc đá/ Vợ tôi nấu thơm từ lửa đỏ đêm dài/ … Đã
uống vắt kiệt chum mà uống/ Đã say đổ tràn tình mà say” (Rượu núi) hay “Mỗi ngày tôi một ban mai/ Trồng một tia nắng/ Gặt chùm nụ cười chín rực” (Ban
mai)… Có thể nói, với tập thơ Rượu núi, Lò Cao Nhum đã đánh dấu một bước
tiến quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của mình đó là khẳng định được tài năng thơ của mình trước công chúng
Trong khoảng hơn chục năm sau này, Lò Cao Nhum vẫn miệt mài sáng
tác Ông đã ra mắt bạn đọc các tập thơ: Mùa hoa chuông (10 bài), Thơ in chung 3 tác giả, Sở Văn hóa Thông tin Hòa Bình, 1997; Sàn trăng (37 bài), Thơ, Hội Văn học Nghệ thuật Hòa Bình, 2000; Theo lời hát về nguồn (53 bài), Thơ, Hội Văn học Nghệ thuật Hòa Bình, 2001; Gốc trời (56 bài), Thơ, Nhà
xuất bản Hội Nhà văn, 2009 Năm 2010, Lò Cao Nhum tuyển chọn các sáng
Trang 23tác của mình in thành một tập với nhan đề Rượu núi (gồm 143 bài in tại Nhà
xuất bản Văn học, 2010) Với những tập thơ này, Lò Cao Nhum đã nhận được
các giải thưởng: tập thơ Gốc trời được nhận giải B của Hội Văn học Nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam năm 2010; tập thơ Sàn trăng (cùng với
Rượu núi), được nhận giải A giải thưởng Văn học Hòa Bình 5 năm, 10 năm…
của Ủy ban Nhân dân tỉnh Hòa Bình Xuyên suốt các tập thơ, bạn đọc vẫn gặp một con người có tâm hồn giản dị, có trái tim thiết tha với tình yêu quê hương đất nước, nhưng với một cái nhìn của con người từng trải hơn, suy tư chiêm nghiệm nhiều hơn
Ngoài các giải thưởng về thơ, Lò Cao Nhum còn được nhận các giải
thưởng về ký và khảo cứu: Tập khảo cứu Bếp lửa trong đời sống người Thái đã
đem đến cho ông giải C của Hội Văn học Nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt
Nam năm 2009; với tập ký Phiên chợ hoa văn, Lò Cao Nhum được nhận giải A
giải thưởng Văn học Hòa Bình 10 năm của Ủy ban Nhân dân tỉnh Hòa Bình
Trên hành trình nghệ thuật, Lò Cao Nhum vẫn miệt mài sáng tạo Giờ đây, ở độ tuổi ngoài 60, khi không còn vướng bận nhiều với công việc và những lo toan trong cuộc sống, Lò Cao Nhum đi nhiều hơn Đến mỗi vùng trời khác nhau của tổ quốc, nhà thơ đều tìm thấy cho mình những cảm xúc thơ tươi mới Các tác phẩm mới ra đời bồi đắp thêm cho những thành công của nhà thơ trong hành trình sáng tác thơ
Trang 24Chương 2 CẢM HỨNG CHỦ ĐẠO VÀ NHÂN VẬT TRỮ TÌNH
TRONG THƠ LÒ CAO NHUM 2.1 Cảm hứng chủ đạo trong thơ Lò Cao Nhum
2.1.1 Khái niệm cảm hứng chủ đạo
Cảm hứng thường được hiểu là trạng thái tâm tư đặc biệt khi sức chú ý được tập trung cao độ, kết hợp với cảm xúc mãnh liệt, tạo điều kiện để óc tưởng tượng, sáng tạo hoạt động có hiệu quả Cảm hứng là hứng thú sáng tạo nói chung và sáng tạo văn học nói riêng
Hê Ghen và Bêlinxki đều dùng từ “cảm hứng”: “để chỉ trạng thái hưng phấn cao độ của nhà văn do việc chiếm lĩnh được bản chất của cuộc sống mà
họ miêu tả Sự chiếm lĩnh ấy bao giờ cũng bắt ngồn từ lý tưởng xã hội của nhà văn nhằm phát triển và cải tạo thực tại” [8]
Hêghen cho rằng: “Cảm hứng chủ đạo là biểu hiện tâm hồn người nghệ sĩ say mê, thâm nhập vào bản chất của đối tượng, trở thành tương ứng với nó, gần như là xuyên suốt vào nó Theo ông, cảm hứng chủ đạo cần được xem như là một sản phẩm của “một tinh thần phong phú và hoàn thiện, một cá tính mà trong đó tất cả những năng lực bản thể phổ quát đều được thực hiện” [8]
Bêlinxki quan niệm: “Trong những tác phẩm thi ca đích thực, tư tưởng không phải là một khái niệm trừu tượng, được diễn tả một cách giáo điều, mà
nó tạo thành linh hồn tỏa vào trong tác phẩm, giống như ánh sáng chiếu vào pha lê Tư tưởng trong sáng tạo thi ca - đó chính là cảm hứng… Cảm hứng là
sự thiết tha và nhiệt tình nống cháy gợi nên bởi một tư tưởng nào đó” [8]
Từ những quan điểm trên, Bêlinxki đã đặt ra yêu cầu phải nghiên cứu cảm hứng chủ đạo của nhà văn trong tác phẩm để tìm hiểu đặc điểm sáng tác của nhà văn ấy “Công việc đầu tiên, nhiệm vụ đầu tiên của người phê bình là giải đoán cảm hứng chủ đạo của tác phẩm” [8]
Trang 25Giáo sư Trần Đình Sử đưa ra quan điểm về cảm hứng: Cảm hứng là một tình cảm mạnh mẽ, mang tư tưởng, là một ham muốn tích cực đưa đến hành động Điều quan trọng là cần nhận ra cảm hứng như một lớp nội dung đặc thù của tác phẩm văn học Cảm hứng trong tác phẩm, trước hết là niềm say mê khẳng định chân lý, tư tưởng, phủ định sự giả dối và mọi hiện tượng xấu xa, tiêu cực, là thái độ ngợi ca, đồng tình với nhân vật chính diện, là sự phê phán,
tố cáo các thế lực đen tối, các hiện tượng tầm thường
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, cảm hứng chủ đạo là: “Trạng thái tình cảm mãnh liệt, say đắm xuyên suốt tác phẩm nghệ thuật, gắn liền với một tư
tưởng xác định, một sự đánh giá nhất định, gây tác động đến cảm xúc của những
người tiếp nhận tác phẩm” [8, tr.44]
Đây là khái niệm công cụ dược sử dụng để nghiên cứu cảm hứng chủ đạo trong thơ Lò Cao Nhum Theo chúng tôi, khái niệm này cho phép người nghiên cứu xác định được những nội dung cơ bản sau:
- Cảm hứng chủ đạo gắn liền với tình cảm của tác giả về đối tượng sáng tác ở mức độ mãnh liệt, say đắm Tình cảm ấy có được do tác động của ngoại cảnh và yếu tố nội sinh
- Cảm hứng chủ đạo gắn với tư tưởng xác định, có tác động lan truyền cảm xúc đến người đọc
Vận dụng khái niệm đó, có thể xác định được cảm hứng chủ đạo trong thơ Lò Cao Nhum là cảm hứng về quê hương đất nước, là tình yêu tha thiết với thiên nhiên, phong tục tập quán, tình yêu văn hóa dân tộc Thái cùng sự gắn bó chân thành với cuộc sống giản dị, con người mộc mạc của quê hương
2.1.2 Cảm hứng về vẻ đẹp của quê hương đất nước
Cảm hứng về vẻ đẹp của quê hương, đất nước trong thơ của Lò Cao Nhum được hòa vào từng bài thơ như một lẽ tự nhiên trong tâm hồn nhà thơ Vì sao khi viết về quê hương, tâm hồn Lò Cao Nhum lại rất tự nhiên, phóng khoáng và giàu tình cảm đến thế? Tìm hiểu thơ Lò Cao Nhum, chúng tôi nhận thấy cảm
Trang 26xúc về thiên nhiêm trong thơ ông được thăng hoa bởi sự kết hợp cả yếu tố ngoại cảnh và yếu tố nội sinh
Yếu tố ngoại cảnh tạo nên cảm hứng về thiên nhiên trong thơ Lò Cao Nhum là trước hết là vẻ đẹp của quê hương nhà thơ Quê hương của Lò Cao Nhum ở bản Lác, Mai Châu, Hòa Bình Đây là nơi nhà thơ sinh ra và lớn lên Sau này, khi ông trưởng thành, làm nhiều công việc khác nhau nhưng đó vẫn là nơi nhà thơ gắn bó Dù có đi đâu xa, cuối tuần ông vẫn trở về nhà, ngồi trên chiếc bàn nhỏ của mình để sáng tác Cho đến tận bây giờ ông vẫn giữ nếp sống
ấy Có thể nói, cả đời nhà thơ đều gắn bó thân thiết với ngôi nhà, bản làng nơi ông sinh sống Bản thân Lò Cao Nhum rất tự hào về quê hương mình Nơi đó
có ông nội nhà thơ - Người đã khai sinh ra một miền đất Nơi đó có gia đình yêu quý của ông - Một gia đình có truyền thống yêu nước lâu đời Hơn nữa, Bản Lác, Mai Châu, Hòa Bình nói riêng và Tây Bắc nói chung là một vùng đất tuyệt đẹp Thiên nhiên và cuộc sống con người vùng Tây Bắc đã đi vào các tác phẩm thơ văn của Tô Hoài, Nguyễn Tuân, Nguyễn Khải, Chế Lan Viên, Quang Dũng… Đến nay, vùng đất này vẫn giữ được vẻ hùng vĩ, thơ mộng và đắm say lòng người của nó Chính vẻ đẹp của thiên nhiên, cuộc sống nơi đây đã là nguồn cảm hứng dồi dào trong thơ Lò Cao Nhum
Lò Cao Nhum có được cảm hứng ngợi ca vẻ đẹp của quê hương đất nước không phải chỉ từ vùng đất Tây Bắc Mà cảm hứng này được trải dài khắp mọi miền tổ quốc Là một người yêu thích trải nghiệm, dù đi đến đâu, trên những vùng đất khác nhau của tổ quốc nhà thơ đều tìm thấy những rung động tình cảm, sự gần gũi thân thương của thiên nhiên, văn hóa và con người Việt Nam Có lẽ, đây là cội nguồn sâu xa, bền chặt của tình yêu quê hương đất nước trong thơ Lò Cao Nhum Cảm hứng ngợi ca vẻ đẹp của quê hương đất nước mà Lò Cao Nhum có được ngoài yếu tố ngoại cảnh còn có cả yếu tố nội sinh Hay nói khác đi, cảm hứng ấy xuất phát từ chính trái tim và con người của tác giả Lò Cao Nhum là nhà thơ có tâm hồn nghệ sĩ, yêu vẻ đẹp thiên nhiên, say mê văn học dân gian
Trang 27của người Thái, trong đó có các điệu khắp của người Thái Mai Châu Ông yêu văn nghệ, thích hát những điệu khắp của quê mình…Chính những yếu tố nội sinh đã tạo nên tình cảm gắn bó máu thịt; lòng tự hào, tự tôn dân tộc; những rung động chân thành trong thơ của Lò Cao Nhum khi viết về quê hương đất nước
Cảm hứng ngợi ca, tự hào về quê hương đất nước trong thơ Lò Cao Nhum được biểu hiện chủ yếu ở hai nội dung chính: ngợi ca vẻ đẹp của thiên nhiên, tự hào về cuộc sống và con người miền núi Khi viết về thiên nhiên, Lò Cao Nhum chủ yếu dành nhiều tình cảm cho thiên nhiên miền núi hùng vĩ, thơ mộng Khi viết về con người miền núi, nhà thơ chủ yếu ngợi ca vẻ đẹp của con người với những phẩm chất đáng quý trọng: anh dũng, thủy chung, tình nghĩa chăm chỉ, chịu thương chịu khó…
Quê hương đi vào thơ Lò Cao Nhum phong phú, đa dạng và tạo được dấu
ấn riêng Ông soi chiếu quê hương từ những góc nhìn khác nhau tạo nên một thế giới hình ảnh phong phú, sinh động, vừa có độ rộng, vừa có chiều sâu Cảm hứng về quê núi được hiện lên qua các hình ảnh về thiên nhiên gần gũi với con
người miền núi Về cảnh vật, có các hình ảnh như: núi (Núi, Chiều núi ), suối (Ngã ba suối), trăng (Trăng, Chiều núi, Sàn trăng ), ruộng bậc thang (Lên Thung Khe), nhà sàn (Trở lại nhà sàn, Cây củi giữ lửa nhà sàn, Khói chiều) ; về âm thanh có: những câu hát, lời ca, tiếng khèn (Gặp khèn, lời khèn ), tiếng chim hót (Tiếng chim xanh)
Đặc biệt, qua việc đặt tên các tập thơ, các bài thơ ta cũng nhận thấy cảm hứng mãnh liệt và say đắm của nhà thơ về quê hương Cách đặt tên các tập thơ
của Lò Cao Nhum thể hiện cảm hứng về quê hương rõ nét: Giọt sao trở về, Rượu núi, Sàn trăng, Theo lời hát về nguồn Tên các tập thơ này đều gợi
cảm hứng về cảnh sắc thiên nhiên và cuộc sống con người nơi núi rừng Tên các bài thơ trong mỗi tập thơ cũng thể hiện rõ cảm hứng của nhà thơ
Trang 28Khảo sát tên các bài thơ trong ba tập thơ tiêu biểu của Lò Cao Nhum, chúng tôi thấy nhiều bài có tên gợi cảm hứng về quê hương núi rừng của nhà thơ Cụ thể như sau:
1 Giọt sao trở về
Trở lại nhà sàn, Bếp lửa nhà ta, Gặp khèn, Lời khèn, Giọt sao trở về, Cây Sằm Pùng, Chiều núi, Tung còn, Tình nương, Tiếng suối, Hoa văn mặt phà, Ngã ba suối
2 Rượu núi
Rượu núi, Bếp lửa nhà ta, Bà đi tàu thủy xuôi sông Đà, Đêm xòe và múa lăm vông, Lên Thung Khe, Bức vẽ trai bản, Chiều núi, Núi, Người trên núi
3 Sàn Trăng
Ở rẻo cao Pù Bin, Cây củi giữ lửa nhà sàn, Mảnh nương trên đồi, Sàn trăng, Bắt vợ, Thuyền độc mộc, Chiều hồ Sòng Sỹ, Rừng nguyên sinh, Sương Sông Đà, Dưới bóng xanh của mường, Guồng nước, Hòa Bình ơi nghìn năm đưa nôi, Nhớ Lạc Thủy, Theo lời hát về nguồn
Lò Cao Nhum say đắm vẻ đẹp của thiên nhiên miền núi, đặc biệt là miền núi Tây Bắc Ở thời kỳ kháng chiến, trong tiềm thức của những người ít nhất một lần ngang qua Tây Bắc, thiên nhiên Tây Bắc như có gì đó hoang sơ, dữ dội Cảm nhận ban đầu của người “miền xuôi” lên “miền ngược” đó là thiên
nhiên Tây Bắc dữ dội “rừng thiêng nước độc”, “Nước Sơn La, ma Hòa Bình”
Tuy nhiên, thiên nhiên quê hương trong thơ Lò Cao Nhum mang vẻ đẹp thật trữ tình, thơ mộng, gần gũi, thân thương:
“Hoà Bình ơi nghìn năm đưa nôi Núi thoả thích nằm co, nằm duỗi Mây Lũng Vân bồng bềnh nâng gối
Trang 29Đệm bông lau trải miền dốc Cun”
Nếu ai đến đỉnh núi Cun Pheo (Mai Châu, Hòa Bình) hay đến Lũng Vân (Tân Lạc, Hòa Bình) vào buổi sáng sớm trong một ngày đẹp trời thì chắc
chắn sẽ bị thiên nhiên nơi đây làm cho mê hoặc Những dãy núi “nằm co, nằm duỗi” những con dốc trải dài như một dải lụa được bao phủ bởi một lớp mây
bồng bềnh, lúc ẩn lúc hiện Vẻ đẹp thơ mộng ấy mang lại cho con người cảm giác hiền hòa, hạnh phúc hơn; muốn sống một cuộc sống gần gũi hơn với thiên nhiên
Vẻ đẹp thơ mộng của thiên nhiên trong thơ Lò Cao Nhum được khắc họa với nhiều hình ảnh, đường nét quyến rũ Tất cả hòa quyện với nhau tạo thành bức tranh huyền ảo:
“Làng với suối giữa lòng thung núi
Mà đường về thì vắt ngang mây Đứng trên cao thấy hàng cau như vẫy Như người về đêm ngất ngả say”
(Về những làng cau)
Trong khung cảnh núi rừng, tiếng chim thánh thót, ngọn gió trong lành
khiến lòng người “dào dạt” lạ thường:
“Chim hót ngôi sao lặn Chim ca mặt trời lên Gió reo vui đầu bãi Gió say lượn cuối nguồn
Rừng xanh bao la gió Đồi xanh bát ngát chim Không gian chẳng im lìm Khiến lòng tôi dào dạt”
(Tiếng chim xanh)
Trang 30Không chỉ ngợi ca vẻ đẹp của quê hương Tây Bắc, Lò Cao Nhum còn trải lòng mình với mọi miền đất nước qua những dòng thơ ngợi ca thiên nhiên gắn liền với những địa danh lịch sử, văn hóa, từ Sapa, Lạng Sơn, Tam Đảo… đến Kon Tum, Bến Tre, Phan Rang, Vũng Tàu, Cà Mau… Tác giả Đỗ Thu
Huyền (Viện Văn học) trong bài viết: Thơ Lò Cao Nhum - Tình bền củi lửa:
cũng đã cảm nhận: “Không chỉ viết về quê hương mình, Lò Cao Nhum còn dành nhiều vần thơ trải lòng với những miền quê của đất nước: Sa Pa, Lạng Sơn, Huế, Tam Đảo, Cà Mau, Nha Trang, Bến Tre Mỗi nơi anh đến là một ghi dấu những kỉ niệm và ẩn sau đó lại một triết lý Thiên nhiên đẹp mà dữ dội, còn con người âm thầm bền bỉ trong Rừng đước Cà Mau, mạnh mẽ, kiên cường trong nắng nẻ, bão gió Phan Xi Păng: Cười vọng núi/ Múa nghiêng rừng/ Yêu
cháy lá ngón (Phác họa Phan Xi Păng) ” [dẫn theo 24]
Khi đến Sa Pa, Lò Cao Nhum đặc biệt ấn tượng với dãy núi Phan Xi Păng
hùng vĩ với tâm thế con người của núi rừng từng trải với “Sương mù”, “bão gió
xoáy giật”, “mưa lở núi”, “nắng nẻ nương” (Phác họa Phan Xi Păng) Cách
cảm nhận thiên nhiên mạnh mẽ ấy đã làm cho thơ của Lò Cao Nhum thêm
“chất núi rừng” rắn rỏi một cách tự nhiên
Đến Lạng Sơn, Lò Cao Nhum cảm nhận đây là một thành phố có nét
đẹp cổ kính xen lẫn sự bừng nở phồn thực của đô thị mới (Chấm phá Lạng Sơn) Sang Tam Đảo, nơi nổi tiếng với thời tiết đẹp, không khí trong lành,
nhà thơ đặc biệt ấn tượng với thiên nhiên, khí hậu nơi đây Cảm nhận về thời tiết Tam Đảo như một người phụ nữ muộn chồng cũng là một phát hiện đặc
biệt của nhà thơ.“Bà chị muộn chồng” (Thời tiết Tam Đảo) nên tính khí thất
thường, nhưng chính điều đó lại là một ấn tượng khó phai đối với bất kể ai ngang qua vùng đất này
Đến với mảnh đất Nam bộ, mỗi nhà thơ có một suy nghĩ và cảm nhận khác nhau Cùng đến Kon Tum, nhà thơ Văn Công Hùng cảm nhận vẻ đẹp thiên
nhiên nơi đây dịu dàng, đầy tâm trạng vừa “thao thức”, “chập chờn”, vừa
Trang 31“huyền bí”, “cổ tích” Còn Lò Cao Nhum lại mạnh mẽ, cồn cào “gắng gỏi níu giữ” những giá trị văn hóa, di tích cổ xưa bằng cảm xúc “cuồn cuộn”, “nuối tiếc” Đến Bến Tre, lại là một cảm giác lạc lõng, như đi tìm một giá trị truyền
thống ngàn xưa với những chiến công anh hùng của dân tộc (Một chiều chưa gặp Bến Tre) Đến Phan Rang, Lò Cao Nhum trầm tư chiêm nghiệm những tòa thành tháp cổ kính nổi tiếng được “dát nắng lên sườn tháp cổ” (Thành tháp cổ) Đến vùng biên giới Việt - Cam Pu Chia, bằng quan sát tinh tế của mình,
nhà thơ mượn hình ảnh cây thốt nốt để nhấn mạnh tình hữu nghị, đoàn kết của
hai dân tộc một cách ý vị, tự nhiên (Cây thốt nốt giữa mùa biên giới)
Đến với Vũng Tàu, Lò Cao Nhum cảm nhận được sự mát mẻ của những con gió thổi từ biển xanh mang không khí trong lành vào đất liền Ở đây, nhà thơ ấn tượng với những tòa cao ốc tươi tắn sắc màu, những cánh chim hòa bình và tình yêu đôi lứa:
“Vũng Tàu nắng Vũng Tàu gió Nắng trời xanh và chim bồ câu…
Cao ốc khoe đủ mọi dáng màu Ban công biếc bồ câu hội tụ Đàn chim bay lướt trên ghế đôi Người bãi biển lấy cớ tình tự”
(Bồ câu bay xanh trời thành phố)
Vương Trung (1938 - 2012, Hội Nhà văn Việt Nam), một nhà thơ dân tộc Thái, sống tại Sơn La, khi đến Vũng Tàu ông đã có một cảm nhận giao hòa, gần gũi giữa hai miền đất nước:
“Tôi từ Sơn La đến Vũng Tàu Mênh mông biển cả vui chào đón Người hai miền núi - biển hòa nhau
Trang 32Nơi bãi cát mịn biển giao đất…
Mặt trời, mặt trăng mọc từ biển…
Mặt trời mặt trăng dậy từ non Núi rừng đội trời lên cao vút Biển kéo trời sà thấp tỏa xa”
Cảm xúc ngợi ca đất nước trong thơ Lò Cao Nhum thể hiện rất rõ trong việc đặt tên các bài thơ Nhiều bài thơ của ông có tên gắn liền với các địa danh:
Phác họa Phan Xi Păng, Chấm phá Lạng Sơn, Thời tiết Tam Đảo, Một chiều chưa gặp Bến Tre, Cây thốt nốt giữa mùa biên giới, Rừng đước Cà Mau…
Lò Cao Nhum cùng các nhà thơ dân tộc Thái và các nhà thơ Việt Nam hiện đại
vẽ nên ấm bản đồ đất nước bằng thơ Từ nơi địa đầu của Tổ quốc cho đến đất Mũi Cà Mau, nơi nào trên đất nước Việt Nam cũng là một vùng đất đẹp Vẻ đẹp ấy như ngày càng được tô thắm trên những trang thơ của các nhà thơ mang tâm hồn Việt
Cảm hứng ngợi ca vẻ đẹp của thiên nhiên trong cảm hứng về quê hương đất nước của Lò Cao Nhum không chỉ mang ý nghĩa tình cảm gắn bó máu thịt, những rung động chân thành của tâm hồn ông với quê hương đất nước mà còn thể hiện lòng tự hào, tự tôn dân tộc và tình cảm yêu nước thiết tha của nhà thơ
Trang 33Đọc toàn bộ sáng tác của Lò Cao Nhum ta có thể nhận thấy dù đi đâu, về đâu,
dù đến với vùng đất nào của Tổ quốc, Lò Cao Nhum luôn có cảm xúc mãnh liệt với thiên nhiên Nhà thơ cũng mượn thiên nhiên để bộc lộ suy nghĩ, tâm sự và tình cảm của mình với quê hương, đất nước thân yêu
2.1.3 Tự hào về con người miền núi
Không chỉ viết về thiên nhiên, Lò Cao Nhum còn dành những trang thơ thể hiện lòng tự hào về con người miền núi với những phẩm chất đáng quý: đoàn kết cộng đồng, gan lỳ trước thử thách của thiên nhiên, thủy chung trong tình cảm vợ chồng, tình nghĩa với anh em họ mạc, làng bản
Thể hiện niềm tự hào về con người miền núi, Lò Cao Nhum đã dùng
hình tượng “Vòng xòe” để ngợi ca tinh thần đoàn kết: “Vòng xoè…/ Đượm nồng sải dọc vạn năm/ Bền bỉ dưỡng nuôi sự sống loài người / Kề vai nhau/ Xòe ngàn năm vạn thuở/ Dắt tay nhau kết dính lẽ đất trời/ Nào trẻ, già, trai, gái muôn người/ Nào xóm trên, dưới mường mọi nơi/ Hãy cầm tay, hãy dắt tay/ Xòe cùng đồi, cùng núi/ Sánh cùng sao, cùng trăng/ Bền cùng trời, cùng đất”./
(Vòng xòe) Chiếc vòng xòe như một vật gắn kết cộng đồng theo sải dọc của
thời gian “vạn năm” Từ khi có “Ngọn lửa thủa hồng hoang” đã có chiếc
“vòng xòe” Chiếc vòng xòe ấy giúp con người “kề vai nhau”, “dắt tay nhau”,
“Xòe cùng đồi, cùng núi/ Sánh cùng sao, cùng trăng/ Bền cùng trời, cùng đất”
Viết về tình đoàn kết, Lò Cao Nhum không hô hào như một bài ca chính trị mà chỉ dùng giọng điệu, từ ngữ rất nhẹ nhàng nhưng vô cùng sâu sắc, ý nhị Bài thơ là một lời ngợi ca về sức mạnh của dân tộc ta Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, một trong những điều khiến ta có thể chiến thắng được mọi kẻ thù chính là tinh thần đoàn kết Chỉ bằng hình tượng chiếc vòng xòe, Lò Cao Nhum
đã khái quát được sức mạnh của truyền thống cố kết cộng đồng dân tộc chính là tinh thần đoàn kết
Trang 34Là một người con của núi rừng Tây Bắc, Lò Cao Nhum thấu hiểu sự gắn
bó sinh tồn giữa con người với thiên nhiên Trong thơ Lò Cao Nhum, thiên nhiên không đối lập với con người mà luôn hòa hợp, gắn bó, “nâng tầm” con người lên cao hơn Sự “nâng tầm” ấy thể hiện trước tiên ở tư thế chủ động của con người trước thiên nhiên Con người luôn luôn xuất hiện cùng thiên nhiên,
dù thiên nhiên có khắc nghiệt đến đâu thì bản lĩnh con người vẫn vượt lên trên tất cả:
“Phan Xi Păng Sương mù quần đảo bay Bão tố xoáy giật thổi Mưa lở núi
Nắng nẻ nương”
(Phác họa Phan Xi Păng)
Chỉ có những ai đã từng gắn bó với núi rừng mới hiểu được cái khắc
nghiệt của thiên nhiên “mưa lở núi”, “nắng nẻ nương” là như thế nào Mặc dù
vậy, con người vẫn chủ động trước thiên nhiên, thể hiện bản lĩnh của mình trước muôn vàn thử thách:
“Đàn ông khoác súng kíp trên lưng Cắp cán rìu bên sườn
Bước sải dài trên núi
Lầm lũi ngang ngạnh
Người Phan Xi Păng Dạng chân trên chóp núi”
(Phác họa Phan Xi Păng)
Với ý chí và nghị lực phi thường, con người mền núi hiện lên trong bài thơ với tư thế chủ động đón nhận những khó khăn thử thách do thiên nhiên đem lại
Vì thế, dù trong điều kiện nào thì con người cũng vẫn cảm thấy “thiên niên
Trang 35không khắc khổ” Đó chính là phẩm chất dũng cảm của con người miền núi
mà họ được thừa hưởng từ truyền thống cha ông: “Vác rìu từ bé/ Nên săn cánh tay/ Leo núi sớm ngày/ Nên chân chắc cột/ Tóc quen bay ngược/ Gió thốc lướt qua/ Bắp dao nghiêng sườn/ Chĩa về phía trước/ Chống trụ hai chân/ Đạp lên
vai núi/ Núi muốn nhô lên/ Chân như ấn xuống” (Trai bản) Chàng trai của bản
mang vẻ đẹp của núi rừng, vạm vỡ, ngang tàng Vẻ đẹp ấy mang dấu ấn của lao động sản xuất, mang vóc dáng của con người sánh vai cùng trời đất, không chịu khuất phục trước thiên nhiên và hoàn cảnh sống, con người khỏe mạnh, mang
Xua mây, đuổi nắng Che mầm xanh không héo quắt Chắn mùa vàng không lở xuống thung sâu”
(Vòng xòe)
Đã là người anh hùng thì phải có chí lực, không chỉ khỏe mạnh như “cột lim, cột nghiến”, không chỉ là “người gan” mà còn phải biết “Chắn bão, ngăn giông/ Xua mây, đuổi nắng” và hơn nữa cũng phải là người hiểu biết, giàu kinh nghiệm để “Che mầm xanh không héo quắt/ Chắn mùa vàng không lở xuống thung sâu”
Trang 36Con người miền núi trong thơ Lò Cao Nhum rất giàu tình cảm, thủy
chung, yêu thương hết mình:
“Cười vọng núi Múa nghiêng rừng Yêu cháy lá ngón Nhớ mòn vẹt lưỡi khèn”
(Phác họa Phan Xi Păng)
Cách miêu tả tình yêu và nỗi nhớ thật đặc biệt, ta chưa gặp cách miêu tả sự
mãnh liệt trong tình yêu ở một nhà thơ nào lại độc đáo như vậy: “Yêu cháy lá ngón/ Nhớ mòn vẹt lưỡi khèn” Cảm hứng tự hào về quê hương đã giúp Lò cao
Nhum sáng tạo được những câu thơ thật xuất sắc khi nói về phẩm chất tình cảm đặc trưng của con người miền núi: chân thật và mãnh liệt
Nói về người miền núi, Lò Cao Nhum không chỉ nói đến những chàng trai anh hùng đại điện cho sức mạnh của cộng đồng Thơ ông còn xuất hiện sự có mặt của người ông, người bà, người cha, người mẹ, người vợ, người chồng… Trong tiềm thức của Lò Cao Nhum, ông nội đóng một vai trò rất quan
trọng trong cuộc đời của mình Bài thơ Ông nội tôi khai sinh ra miền đất đã
nói rõ điều đó Nhà thơ đã từng tâm sự: "Tôi ấp ủ hình ảnh về ông nội tôi, một ông nội trầm tư và lầm lỳ trước mọi công việc, chẳng hề nghe ông kêu ca mỏi mệt bao giờ Có lẽ ông quen nghèo khổ từ tuổi nhỏ Ông không được học hành, mười ba tuổi đã phải đi chăn trâu cho nhà Tạo phìa vì bố ông bị phạt vạ do đốt
tổ ong làm cháy một gốc cây to trong đống tha ma của mường mà không có bạc nộp Tạo phìa cưới cho ông một người cũng làm phiên nhà Tạo người bản Lác
Từ đó, hết phiên nợ phạt, ông ở lại bản Lác quê vợ, mở đầu dòng họ Lò ở đây Hình ảnh nhỏ thân yêu ấy gợi tôi nghĩ đến thân phận tộc người Thái ở mường Mùn, đã có một lịch sử gian nan thiên di tìm đất, trụ lại khai khẩn bằng mồ hôi, máu và nước mắt suốt chiều dài 7 thế kỷ để có một thung lũng Mai Châu trù
Trang 37phú và thơ mộng như ngày nay Bài thơ Ông nội tôi khai sinh ra miền đất ban
đầu tôi viết với ý nghĩ đơn giản là để lưu giữ lại hình ảnh người ông thân yêu của tôi đã đi xa, nhưng sau do tác hợp thêm những ám ảnh về thân phận một dân tộc, lại nữa với chức năng của thơ, tôi đã đẩy từ hình ảnh cụ thể về ông nội thành hình tượng của tứ thơ” [Ghi trực tiếp]
Bài thơ Ông nội tôi khai sinh ra miền đất đã được hoàn chỉnh tại trại sáng
tác do Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam tổ chức tại Bến Tre năm 2006 và được nhà thơ Nguyễn Đức Mậu đã chọn in trên tạp chí THƠ của Hội nhà văn Việt Nam
Hình ảnh người bà cũng rất sâu đậm trong thơ Lò Cao Nhum Khi viết về người bà, ông đã dành hết tình cảm thương yêu nhất:
“Bà ơi thương bà đêm giêng lạnh Đệm bông lau cháu trải bà nằm
… Sàn bương lạnh thấm chân tê tái Lửa hồng từ tinh mơ bà nhen”
(Cây củi giữ lửa nhà sàn)
Một bài thơ khác của Lò Cao Nhum viết về hình ảnh người bà - bài thơ
Bà đi tàu thủy xuôi sông Đà cũng đem đến cho bạn đọc một tình cảm đặc biệt
Đọc bài thơ ta được gợi nhớ về cuộc đời khó nhọc, tần tảo sớm hôm của bà:
“Tám mươi năm chưa một giấc thảnh thơi/ Cuộc đời lắm nẻo/ Qua thác ghềnh lắt léo/ Nước mắt rơi muốn vắt kiệt nguồn” Cái khéo léo của Lò Cao Nhum là
ở chỗ, ông đã thể hiện tình cảm của người cháu qua sự cảm thông thấu hiểu về
bà Người cháu hiểu được rằng “Tám mươi năm đằng đẵng” trên đầu “đội nặng mây trắng” Thế mà khi theo con tàu về xuôi “nếp mặt bà lượn mãi tươi vui”, “lòng dạt dào tận chốn biển xa”, “gặp nụ cười trên môi móm mém/ Ngỡ ánh sáng rạng hồng dải đất ngàn năm” Phải là người giàu tình cảm, tinh tế
mới có thể nhìn thấy được nỗi khắc khổ thể hiện trên khuôn mặt trở thành
Trang 38những “nếp sóng tươi vui”, nghe thấy được niềm vui trong lòng trở thành tiếng
“dạt dào” của sóng vươn “tận chốn biển xa”
Khác với các nhà thơ nữ, những vần thơ viết cho con của các nhà thơ nam bao giờ cũng bộc lộ sự từng trải chứ không chỉ là sự vỗ về yêu thương Nhà thơ
Dương Khâu Luông (dân tộc Tày) khuyên con gái hãy thể hiện là người có sức mạnh, có bản lĩnh trước sóng gió cuộc đời: “Con hãy học cây nghiến, cây lim/ Gập ghềnh đá vẫn đứng lên kiêu hãnh/ Đón khí trời nuôi lá xanh cây/ Cành vươn cao vẫy gió chín tầng mây” Nhà Thơ Y Phương (dân tộc Tày) trong
“Nói với con” cũng viết: “Sống trên đá không chê đá gập ghềnh/ Sống trong
thung không chê thung nghèo đói / Người đồng mình thô sơ da thịt/ Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con / Con ơi tuy thô sơ da thịt/ Lên đường/ Không bao giờ nhỏ bé được/ Nghe con” Đó là lời tâm sự của những người cha dành cho con
về lòng tự tôn dân tộc Còn Lò Cao Nhum nói với con bằng tâm sự của người
cha qua những trải nghiệm thấm thía từ những vấp ngã của cuộc đời:
“Rồi ngày mai con xuống núi Ngỡ ngàng
Đất rộng, trời thấp Bước đầu tiên Con vấp gót chân mình Ngày mai con xuống núi Cùng tay nải hành trang đầu tiên
Đi như suối chảy về với biển Chớ quên mạch đá cội nguồn”
(Rồi ngày mai con đi)
Nhà thơ gửi gắm tới người con những bài học đầu đời quý giá, có thể ra biển lớn nhưng không được quên cội nguồn bởi nơi ấy là dân tộc, nơi hoa khau cút mãi mãi trên nóc nhà như một tín hiệu thiêng liêng:
Trang 39“Nóc nhà ta có hoa khau cút Nhận ra anh em
Nhận ra họ hàng Nhận ra đồng tộc Khi nóc nhà có hoa khau cút Chớ lạ đi, lạ về
Chớ quên nóc nhà có hoa khau cút”
(Nóc nhà ta có hoa khau cút)
Thơ Lò Cao Nhum không có nhiều bài về tình yêu đôi lứa Thơ tình của ông cũng ít nói về nhớ nhung hò hẹn giữa “anh” và “em” Đọng lại nhất là những vần thơ tình với hình ảnh người phụ nữ gần gụi, thân thương Đấy là người vợ gìn
giữ ngọn lửa hồng ấm áp, xua tan băng giá biên phòng trong Bếp lửa nhà ta:
“Sàn đầu bản/ Có thiếu phụ nhớ chồng/ Trăng/ Vô tình/ Mặc sức sáng/ Gió lay lay cây bương/ Như ai thở dài/ Bóng lá đậu mặt sàn cửa sổ/ Chị gối đầu lên đệm bông lau/ Núi nằm nghiêng đằng đông/ Rồi lại/ Núi nằm nghiêng đằng tây/ Con trở giấc/ Chị kéo vào vỗ vỗ/ Rồi vươn dậy/ Lấy áo chồng/ Dịu dàng
đắp ủ giấc mơ”/ (Áo chồng) Nhà thơ Lò Ngân Sủn cũng đã từng cảm nhận:
“Bài thơ Áo chồng nói về nỗi niềm thương nhớ chồng của một người vợ: Thấy
trăng sáng trách trăng vô tình, nghe gió lay cây bương tưởng tiếng thở dài, đêm nằm con trở giấc, chị kéo con vào sát mình vỗ vỗ… Đó là những cử chỉ, hành động thông thường của một người mẹ Nhưng ở đây lại có cái gì đó như một bất ngờ được bật ra từ nỗi nhớ, nên chị mới liền “vươn dậy” để “Lấy áo chồng/ Dịu dàng đắp ủ giấc mơ…” Có cảm giác, cả một chuỗi dài đằng đẵng những ngày tháng nhớ nhung, đợi chờ đều được dồn tụ vào đây, vào sự “vươn dậy”, vào chiếc áo chồng, vào sự dịu dàng để đắp ủ giấc mơ cho đứa con, cho
cả sự nhớ nhung, đợi chờ ở hai đầu xa cách biệt ly” [dẫn theo 24, tr.15]
Trang 40Người phụ nữ trong thơ Lò Cao Nhum hiện lên giản dị và đẹp Đó là vẻ đẹp của tấm lòng, của sự khéo léo Trong dân ca Thái, sự khéo léo của đôi bàn tay người phụ nữ được ngợi ca bằng những chất liệu quen thuộc và thủ pháp phóng đại:
“Đụng vào khung cửi vải thành hoa
Tung nắm tấm thành ra đàn gà
Khua cái chầy hoa ra gạo trắng
Đụng vào cỏ thì cỏ chết nắng
Vuốt lên lúa, bụi lúa ra bông”
Hình ảnh đôi bàn tay người phụ nữ trong thơ Lò Cao Nhum cần mẫn,
chăm chỉ, khéo léo, giỏi giang: “Bàn tay đan/ Thành bông thành vải/ Trải hoa văn bốn vách nhà sàn/ Bàn tay gieo/ Ra trái ra cơm/ Râm ran riếng chống sàn, sửa gác/ Bàn tay nắm/ Bò lang ngựa đỏ/ Vó khua tung tóe sương chiều/ Bàn tay
xòe/ Ánh bạc, ánh vàng/ Bàn tay ôm/ Mười ngón hôn nhau qua biển núi” (Bàn
tay) Sử dụng hình ảnh “bàn tay” để ca ngợi sức lao động của con người không phải đến Lò Cao Nhum mới có Nhà thơ Hoàng Trung Thông trong Bài ca vỡ đất (1948) cũng đã từng khẳng định: “Bàn tay ta làm nên tất cả/ Có sức người,
sỏi đá cũng thành cơm” Hình ảnh “bàn tay” tượng trưng cho sức lao động của
con người, con người có khả năng cải tạo thiên nhiên để tạo lập cuộc sống ấm
no, hạnh phúc Trong bài thơ Bàn tay Lò Cao Nhum đã sử dụng hình ảnh “bàn
tay” với nhiều động tác khác nhau: “bàn tay đan”, “bàn tay gieo”, “bàn tay nắm”, “bàn tay xòe” để khắc họa đất nước trong xây dựng cuộc sống mới phải bắt đầu từ những điều bình thường nhất: “thành bông thành vải”, “ra trái
ra cơm”, “ánh bạc, ánh vàng” Tất cả của cải vật chất và tinh thần của nhân
loại từ trước tới nay đều do bàn tay, khối óc của con người sáng tạo ra Con người biết trồng trọt, chăn nuôi, biết dựng nhà, dựng cửa, biết chế tạo ra công
cụ lao động và những vật dụng cần thiết… để cuộc sống văn minh, tiến bộ hơn