Phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán đáp ứng yêu cầu bồi dưỡng giáo viên các trường Trung học cơ sở huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương (LV thạc sĩ)Phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán đáp ứng yêu cầu bồi dưỡng giáo viên các trường Trung học cơ sở huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương (LV thạc sĩ)Phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán đáp ứng yêu cầu bồi dưỡng giáo viên các trường Trung học cơ sở huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương (LV thạc sĩ)Phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán đáp ứng yêu cầu bồi dưỡng giáo viên các trường Trung học cơ sở huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương (LV thạc sĩ)Phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán đáp ứng yêu cầu bồi dưỡng giáo viên các trường Trung học cơ sở huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương (LV thạc sĩ)Phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán đáp ứng yêu cầu bồi dưỡng giáo viên các trường Trung học cơ sở huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương (LV thạc sĩ)Phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán đáp ứng yêu cầu bồi dưỡng giáo viên các trường Trung học cơ sở huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương (LV thạc sĩ)Phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán đáp ứng yêu cầu bồi dưỡng giáo viên các trường Trung học cơ sở huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương (LV thạc sĩ)Phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán đáp ứng yêu cầu bồi dưỡng giáo viên các trường Trung học cơ sở huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương (LV thạc sĩ)Phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán đáp ứng yêu cầu bồi dưỡng giáo viên các trường Trung học cơ sở huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương (LV thạc sĩ)
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
VŨ ĐÌNH LẬP
PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN CỐT CÁN ĐÁP ỨNG YÊU CẦU BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN CÁC TRƯỜNG THCS HUYỆN BÌNH GIANG,
TỈNH HẢI DƯƠNG
Chuyên ngành : Quản lý giáo dục
Mã số : 60.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Thu Hằng
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
LỜI CAM ĐOAN
Luận văn “Phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán đáp ứng yêu cầu bồi
dưỡng giáo viên các trường Trung học cơ sở huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương” được thực hiện từ tháng 11/2015 đến tháng 4/2016 Luận văn sử dụng
những thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, các thông tin đã được ghi rõ nguồn gốc, số liệu đã được tổng hợp và xử lí
Tôi xin cam đoan, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2016
Tác giả
Vũ Đình Lập
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, tác giả xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới
TS Nguyễn Thị Thu Hằng đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn để hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn Hội đồng khoa học, các thầy giáo, cô giáo Khoa
Tâm lý giáo dục, Khoa đào tạo sau Đại học thuộc trường Đại học Sư Phạm -
Đại học Thái Nguyên Các thầy cô giáo đã trực tiếp giảng dạy và tham gia quản lý trong quá trình học tập và làm luận văn tốt nghiệp
Xin cảm ơn cán bộ, chuyên viên phòng GD&ĐT huyện Bình Giang, cán bộ quản lý, giáo viên bậc THCS các trường THCS huyện Bình Giang, cùng bạn bè đã giúp đỡ, động viên, tạo mọi điều kiện tốt nhất và đóng góp những ý kiến quý báu cho tác giả trong quá trình học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp
Luận văn không tránh khỏi những sai sót, kính mong nhận được sự quan tâm chỉ dẫn của các thầy giáo, cô giáo, các bạn đồng nghiệp để kết quả nghiên cứu được hoàn chỉnh hơn
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2016
Tác giả
Vũ Đình Lập
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt iv
Danh mục các bảng v
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 4
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4
4 Giả thuyết khoa học 4
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 5
7 Phương pháp nghiên cứu 5
8 Cấu trúc luận văn 6
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN CỐT CÁN ĐÁP ỨNG YÊU CẦU BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 7
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 7
1.2 Một số khái niệm cơ bản 9
1.2.1 Đội ngũ giáo viên cốt cán 9
1.2.2 Bồi dưỡng giáo viên 10
1.2.3 Chuẩn nghề nghiệp giáo viên 11
1.3 Các mô hình phát triển nghề nghiệp giáo viên THCS và những nội dung cơ bản của phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán đáp ứng yêu cầu bồi dưỡng giáo viên THCS 12
1.3.1 Giáo viên THCS 12
Trang 51.3.2 Các mô hình phát triển nghề nghiệp giáo viên THCS 15
1.4 Nội dung phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán trong bồi dưỡng giáo viên THCS 18
1.4.1 Quan niệm về phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán đáp ứng yêu cầu bồi dưỡng giáo viên THCS 18
1.4.2 Nội dung phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán đáp ứng yêu cầu bồi dưỡng phát triển nghề nghiệp giáo viên THCS 20
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán đáp ứng yêu cầu bồi dưỡng giáo viên THCS 23
1.5.1 Thời gian 23
1.5.2 Nguồn tài chính 25
1.5.3 Các kỹ năng hỗ trợ cho giáo viên cốt cán trong vai trò hỗ trợ đồng nghiệp phát triển nghề nghiệp 27
Tiểu kết chương 1 28
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN CỐT CÁN ĐÁP ỨNG YÊU CẦU BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN CÁC TRƯỜNG THCS HUYỆN BÌNH GIANG, TỈNH HẢI DƯƠNG 29
2.1 Khái quát chung về địa bàn nghiên cứu 29
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương 29
2.1.2 Đặc điểm dân tộc, tôn giáo 29
2.1.3 Đặc điểm kinh tế 29
2.1.4 Đặc điểm Văn hoá - Xã hội 30
2.1.5 Đặc điểm Giáo dục và Đào tạo huyện Bình Giang 30
2.2 Thực trạng về giáo dục THCS huyện Bình Giang 32
2.2.1 Về số lượng học sinh và chất lượng giáo dục 32
2.2.2 Về số lượng và chất lượng đội ngũ giáo viên 32
2.3 Thực trạng đội ngũ đội ngũ giáo viên cốt cán 34
Trang 62.4 Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán đáp ứng yêu cầu bồi
dưỡng GV THCS huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương 39
2.4.1 Về cơ cấu độ tuổi và trình độ đào tạo của giáo viên 39
2.4.2 Về các hoạt động của nhà trường hỗ trợ phát triển nghề nghiệp 40
2.4.3 Về công tác đào tạo bồi dưỡng giáo viên 41
2.4.4 Về những khó khăn của giáo viên trong việc phát triển nghề nghiệp 44
2.4.5 Đánh giá chung về thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán đáp ứng yêu cầu bồi dưỡng giáo viên THCS ở huyện Bình Giang 44
2.4.6 Nguyên nhân của thực trạng 45
Tiểu kết chương 2 46
Chương 3: ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN CỐT CÁN ĐÁP ỨNG YÊU CẦU BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN CÁC TRƯỜNG THCS HUYỆN BÌNH GIANG, TỈNH HẢI DƯƠNG 48
3.1 Các định hướng để đề xuất biện pháp 48
3.1.1 Chiến lược phát triển giáo dục của quốc gia 48
3.1.2 Định hướng phát triển giáo dục và đào tạo của Tỉnh Hải Dương 49
3.1.3 Định hướng phát triển giáo dục và đào tạo của huyện Bình Giang 49
3.2 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 51
3.2.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu 51
3.2.2 Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học, sư phạm 51
3.2.3 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 52
3.2.4 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa và phát triển bền vững 52
3.2.5 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 52
3.3 Một số biện pháp đề xuất 52
3.3.1 Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức cho các đối tượng về bồi dưỡng giáo viên THCS và vai trò của đội ngũ giáo viên cốt cán THCS 52
3.3.2 Biện pháp 2: Xây dựng kế hoạch phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán đáp ứng yêu cầu bồi dưỡng giáo viên THCS 54
Trang 73.3.3 Biện pháp 3: Xây dựng các tiêu chí tuyển chọn giáo viên cốt cán
THCS 60
3.3.4 Biện pháp 4: Sử dụng đội ngũ giáo viên cốt cán trong bồi dưỡng giáo viên THCS của huyện 63
3.3.5 Biện pháp 5: Bồi dưỡng đội ngũ giáo viên cốt cán THCS về nghiệp vụ hỗ trợ đồng nghiệp phát triển nghề nghiệp 68
3.3.6 Biện pháp 6: Xây dựng cơ chế chính sách và các điều kiện phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán 73
3.3.7 Biện pháp 7: Kiểm tra đánh giá việc phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán 76
3.4 Mối quan hệ giữa các biện pháp 79
3.5 Khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 80
3.5.1 Mức độ cần thiết của các biện pháp được đề xuất 80
3.5.2 Mức độ khả thi của các biện pháp được đề xuất 83
3.5.3 Nhận xét chung về mức độ cần thiết và khả thi của các biện pháp được đề xuất 85
Tiểu kết chương 3 85
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 86
1 Kết luận 86
2 Khuyến nghị 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Các mô hình phát triển nghề nghiệp giáo viên 16 Bảng 2.1: Thống kê số lượng và chất lượng học sinh cấp THCS huyện
Bình Giang 32 Bảng 2.2: Thống kê giáo viên bậc THCS huyện Bình Giang năm học
2014- 2015 33 Bảng 2.3: Kết quả thanh tra, kiểm tra giáo viên của Phòng Giáo dục và Đào
tạo đối với cấp THCS huyện Bình Giang 33 Bảng 2.4: Thổng kê chất lượng thi giáo viên THCS dạy giỏi cấp tỉnh huyện
Bình Giang 34 Bảng 2.5: Thống kê chất lượng đội ngũ giáo viên cốt cán THCS huyện
Bình Giang năm học 2014 – 2015 35 Bảng 2.6: Đánh giá về việc tuyển chọn đội ngũ giáo viên cốt cán bậc THCS
huyện Bình Giang 36 Bảng 2.7: Tiêu chuẩn để tuyển chọn đội ngũ giáo viên cốt cán 37 Bảng 2.8: Nhiệm vụ của đội ngũ giáo viên cốt cán 38 Bảng 2.9: Biện pháp của nhà quản lý để xây dựng đội ngũ giáo viên cốt cán 38 Bảng 2.10: Thống kê chất lượng và cơ cấu giáo viên các trường THCS
huyện Bình Giang năm học 2014-2015 39 Bảng 2.11: Các hoạt động của các nhà trường trong bồi dưỡng giáo viên 41 Bảng 2.12: Các hình thức đào tạo bồi dưỡng giáo viên 41 Bảng 2.13: Những nội dung cần phải bồi dưỡng để phát triển nghề nghiệp
cho giáo viên 42 Bảng 2.14: Nguyên nhân của việc bồi dưỡng không có hiệu quả tốt 43 Bảng 2.15: Những khó khăn hiện nay của giáo viên trong việc bồi dưỡng
nâng cao trình độ chuyên môn cho giáo viên 43
Trang 10Bảng 2.16: Những khó khăn hiện nay của giáo viên trong việc phát triển
nghề nghiệp 44
Bảng 2.17: Nhận thức của giáo viên về vai trò của giáo viên cốt cán 45
Bảng 2.18: Mức độ ảnh hưởng của giáo viên cốt cán với bồi dưỡng phát triển nghề nghiệp giáo viên 45
Bảng 3.1: Số lượng giáo viên cốt cán cần tuyển chọn theo môn học 62
Bảng 3.2: Kết quả thăm dò mức độ cần thiết của các biện pháp đề xuất 81
Bảng 3.3: Kết quả thăm dò mức độ khả thi của các biện pháp đề xuất 83
Trang 11DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 3.1 Đánh giá giáo viên theo phương án 1 57
Sơ đồ 3.2 Đánh giá giáo viên theo phương án 2 57
Sơ đồ 3.3 Đánh giá giáo viên theo phương án 3 58
Sơ đồ 3.4 Mối quan hệ giữa các giải pháp 79
Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ % mức độ cần thiết của các biện pháp đề xuất 82
Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ % tính khả thi của các biện pháp đề xuất 84
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Các cấp học trong hệ thống giáo dục là một chỉnh thể thống nhất, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tạo nên một dòng chảy liên tục có chủ đích cho quá trình phát triển của mỗi con người Trong hệ thống này công bằng mà nói chúng ta có thể khẳng định, giáo dục phổ thông có một vị trí hết sức quan trọng, nó là chiếc cầu nối cơ bản, nó là cấp học mang tính nền tảng của cả hệ thống giáo dục của mỗi quốc gia Chất lượng của giáo dục phổ thông do vậy trước tiên ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng giáo dục dậy nghề và đại học, sâu
xa hơn, mở rộng hơn, chính nó là nguồn gốc góp phần quan trọng quyết định chất lượng của nguồn lực lao động từng nước Bởi vậy trong chiến lược phát triển giáo dục, phát triển nguồn nhân lực của mỗi quốc gia, trọng tâm đột phá đầu tiên là chú trọng chăm lo cho cấp học phổ thông Trong giáo dục phổ thông, giáo dục THCS có vị trí quan trọng trong việc nâng cao dân trí, góp phần đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước Mục tiêu của Giáo dục THCS nhằm giúp học sinh củng cố, phát triển những kết quả của giáo dục Tiểu học; có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về
kĩ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học Trung học phổ thông, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động
1.2 Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định "Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế Trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục là khâu then chốt” và “Giáo dục và Đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng xây dựng đất nước, xây dựng nền văn hoá và con người Việt Nam"; đồng thời xác định đào tạo nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao kết hợp với phát triển khoa học - công nghệ là một trong ba khâu đột phá của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020
Trang 13Chiến lược phát triển giáo dục 2011 - 2020 nhằm quán triệt và cụ thể hoá các chủ trương, định hướng đổi mới giáo dục và đào tạo, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 của đất nước, trong đó nêu rõ: Đến năm
2020, nền giáo dục nước ta được đổi mới căn bản và toàn diện theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế; chất lượng giáo dục được nâng cao một cách toàn diện, gồm: giáo dục đạo đức, kĩ năng sống, năng lực sáng tạo, năng lực thực hành, năng lực ngoại ngữ và tin học; đáp ứng nhu cầu nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và xây dựng nền kinh tế tri thức; đảm bảo công bằng xã hội trong giáo dục và cơ hội học tập suốt đời cho mỗi người dân, từng bước hình thành xã hội học tập Nhà trường là nơi truyền thụ kiến thức, là nơi đào tạo và giáo dục thế hệ trẻ trở thành những người có tài, có đức, có năng lực thực hành, năng động và sáng tạo,… thành những chủ nhân tương lai của đất nước Đây là lực lượng lao động tạo ra của cải vật chất cho xã hội, góp phần thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Để thực hiện nhiệm vụ quan trọng đó, không ai khác mà chính là người giáo viên, những người trực tiếp tạo ra các sản phẩm giáo dục Vì vậy, công tác bồi dưỡng giáo viên, nhằm giúp họ bổ sung những kiến thức mới, cập nhật thông tin và rèn luyện các kĩ năng nghề nghiệp là hết sức cần thiết Trong những năm qua, Bộ Giáo dục và Đào tạo luôn có nhiều chỉ đạo trong việc bồi dưỡng giáo viên như: bồi dưỡng thay sách giáo khoa, các phương pháp dạy học lồng ghép, tích hợp…đã được các Sở GD & ĐT các tỉnh cụ thể hoá để áp dụng cho địa phương Như vậy, việc bồi dưỡng giáo viên luôn được sự quan tâm của các cấp nhằm xây dựng một đội ngũ giáo viên đủ về lượng, mạnh về chất, thực hiện nhiệm vụ của người thầy đào tạo ra thế hệ học sinh vừa “hồng” vừa “chuyên”
1.3 Trong đội ngũ giáo viên THCS, đội ngũ giáo viên cốt cán, đầu đàn
về chuyên môn lại càng có vai trò quan trọng hơn Đây là những nhân tố tích
Trang 14cực, là tấm gương trong việc rèn luyện đạo đức, tự học, sáng tạo; họ là những giáo viên có chuẩn năng lực nghề nghiệp đạt mức độ cao, có năng lực chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm vững vàng, là lực lượng đầu tàu, nòng cốt cho việc giảng dạy bộ môn, có khả năng tổ chức các hoạt động chuyên môn, nghiên cứu khoa học ở các mức độ khác nhau, đóng vai trò chủ chốt trong việc nâng cao hiệu quả dạy học và giáo dục cũng như bồi dưỡng giáo viên của các nhà trường Trong một chừng mực nào đó, họ có hiểu biết rộng hơn, am hiểu sâu hơn về một lĩnh vực chuyên môn, về chính trị - xã hội; biết dấn thân trong công tác, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trong hành động; vận dụng tốt khoa học giáo dục hiện đại; nắm bắt và xử lý nhanh thông tin; nhạy cảm với cái mới; có năng lực cao trong tổ chức thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng dạy học; có tối thiểu những kỹ năng lãnh đạo - quản lý nhóm; kỹ năng giao tiếp chinh phục, thu phục, thuyết phục, tập hợp, cuốn hút và khả năng nắm bắt tâm
tư, nguyện vọng của các giáo viên khác…
1.4 Hiện nay ở các trường THCS trên địa bàn huyện Bình Giang, việc bồi dưỡng giáo viên có những chuyển biến tích cực song cũng còn nhiều hạn chế Hiệu trưởng các trường đã có nhiều cố gắng, tuy nhiên quản lý việc bồi dưỡng giáo viên còn không ít yếu kém, bất cập, đặc biệt là chất lượng đội ngũ giáo viên chưa ngang tầm với yêu cầu phát triển giáo dục trong giai đoạn hiện nay Đội ngũ giáo viên cốt cán cấp THCS của huyện hàng năm đã được thành lập, song hoạt động và phát triển chưa đáp ứng được yêu cầu, mô hình mạng lưới giáo viên cốt cán chưa được nghiên cứu thấu đáo để có thể hỗ trợ quá trình bồi dưỡng phát triển nghề nghiệp của giáo viên một cách hiệu quả Trong huyện chưa có đề tài nào nghiên cứu về phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán và
sử dụng đội ngũ này, nhất là trong bồi dưỡng giáo viên THCS hiện nay Những phân tích trên là lý do để tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu luận văn tốt nghiệp với
tiêu đề: “Phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán đáp ứng yêu cầu bồi dưỡng
giáo viên các trường trung học cơ sở huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương”
Trang 152 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán, các biện pháp nhằm phát huy vai trò của đội ngũ giáo viên cốt cán đáp ứng yêu cầu bồi dưỡng giáo viên THCS theo chuẩn nghề nghiệp, góp phần nâng cao chất lượng của đội ngũ giáo viên THCS huyện Bình Giang tỉnh, Hải Dương
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Giáo viên trường trung học cơ sở, quản lý trường trung học cơ sở, lãnh đạo và chuyên viên Phòng GD&ĐT huyện
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán đáp ứng yêu cầu bồi dưỡng giáo viên các trường trung học cơ sở huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương
4 Giả thuyết khoa học
Đội ngũ giáo viên cốt cán có vai trò hết sức quan trọng đối với giáo dục THCS Nếu đề xuất và thực thi các biện pháp trên cơ sở xây dựng các tiêu chí
để tuyển chọn và sử dụng đội ngũ này, cũng như tạo ra cơ chế chính sách và các điều kiện phù hợp thì sẽ phát huy được vai trò của đội ngũ giáo viên cốt cán các trường THCS huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương, đáp ứng yêu cầu bồi dưỡng giáo viên của cấp học này theo chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học
đã ban hành
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Xây dựng cơ sở lý luận của việc phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán
đáp ứng yêu cầu bồi dưỡng giáo viên các trường trung học cơ sở
5.2 Khảo sát đánh giá thực trạng về phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán
đáp ứng yêu cầu bồi dưỡng giáo viên các trường trung học cơ sở huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương
5.3 Đề xuất các biện pháp về phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán đáp
ứng yêu cầu bồi dưỡng giáo viên các trường trung học cơ sở huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương
Trang 166 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
6.1 Giới hạn về nội dung nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu
về phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán đáp ứng yêu cầu bồi dưỡng giáo viên các trường trung học cơ sở huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương
6.2 Giới hạn về phạm vi, địa bàn nghiên cứu: 1 Phòng GD&ĐT huyện,
19 trường THCS trên địa bàn huyện Bình Giang Trong đó đi sâu khảo sát, nghiên cứu một số trường THCS mang tính mẫu, điển hình: THCS Vũ Hữu, Tráng Liệt, Kẻ Sặt, Thái Học, Nhân Quyền, Bình Xuyên, Vĩnh Hồng, Long Xuyên, Thúc Kháng, Hưng Thịnh
6.3 Giới hạn về khách thể nghiên cứu: Điều tra, nghiên cứu về phát
triển đội ngũ giáo viên cốt cán đáp ứng yêu cầu bồi dưỡng giáo viên các trường trung học cơ sở huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương với mẫu khách thể: 200 người, trong đó cán bộ và chuyên viên Phòng GD&ĐT huyện 11 người, cán bộ quản lý 19 người, giáo viên các trường THCS là 170 người
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Sử dụng các phương pháp: phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa, so sánh, mô hình hóa để thao tác với các văn bản tài liệu nhằm xây dựng các khái niệm công cụ và khung lý thuyết cho vấn đề nghiên cứu
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Khảo sát, điều tra tình hình thực tiễn, thu thập các dữ kiện, số liệu có liên quan đến phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán đáp ứng yêu cầu bồi dưỡng giáo viên các trường THCS huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương
7.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Xây dựng hệ thống câu hỏi,
điều tra với mục đích chủ yếu là thu thập các số liệu nhằm xác định thực trạng việc phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán đáp ứng yêu cầu bồi dưỡng giáo viên các trường THCS huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương, phân tích các nguyên nhân thành công và hạn chế của thực trạng này
Trang 177.2.2 Phương pháp phỏng vấn trực tiếp: Tiến hành trao đổi trực tiếp với
lãnh đạo, chuyên viên Phòng GD&ĐT, cán bộ quản lý, giáo viên cốt cán, giáo viên các trường THCS để tìm hiểu kỹ hơn về thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán đáp ứng yêu cầu bồi dưỡng giáo viên các trường THCS huyện Bình Giang, lý giải nguyên nhân của vấn đề
7.2.3 Phương pháp quan sát: Thu thập thông tin qua việc quan sát các
hoạt động của đội ngũ giáo viên cốt cán bằng việc: Dự buổi sinh hoạt chuyên môn do giáo viên cốt cán triển khai, cùng cán bộ quản lý nhà trường và chuyên viên Phòng GD&ĐT có kinh nghiệm phân tích nội dung sinh hoạt, điều tra thông qua hồ sơ, sổ sách (việc thực hiện sinh hoạt chuyên môn, chương trình, tài liệu, kế hoạch, đào tạo, bồi dưỡng…), quan sát các hoạt động quản lý của Phòng GD&ĐT, đặc biệt là công tác quản lý của trường THCS đối với giáo viên cốt cán
7.3 Phương pháp thống kê toán học: Bằng một số thuật toán của toán học
thống kê áp dụng trong nghiên cứu Khoa học giáo dục Phương pháp này được
sử dụng để xử lý các kết quả điều tra, phân tích kết quả nghiên cứu, đồng thời
để đánh giá mức độ tin cậy của phương án điều tra Trên cơ sở đó rút ra các nhận xét, kết luận khoa học mang tính khái quát
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được cấu trúc thành 3 chương sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận của việc phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán
đáp ứng yêu cầu bồi dưỡng giáo viên các trường trung học cơ sở
Chương 2: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán đáp ứng yêu cầu
bồi dưỡng giáo viên các trường trung học cơ sở huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương
Chương 3: Biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán đáp ứng yêu cầu
bồi dưỡng giáo viên các trường trung học cơ sở huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương
Trang 18Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN CỐT CÁN ĐÁP ỨNG YÊU CẦU BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN CÁC
TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Xuất phát từ nhận thức về vai trò của giáo viên nên và tính chất chuyên nghiệp trong lao động nghề nghiệp của giáo viên nên các nghiên cứu về vấn đề bồi dưỡng giáo viên phải nhằm mục đích phát triển nghề nghiệp của giáo viên Nhiều đánh giá thiết thực về công việc của giáo viên và đề cao kỹ năng giảng dạy như một lĩnh vực chuyên nghiệp cần được đào tạo, huấn luyện đã được khẳng định
Theo Eleonora Villegas – Reimers (1998), các nghiên cứu về phát triển nghề nghiệp đã khẳng định [30]:
(i) Những phương pháp giảng dạy tốt sẽ có ảnh hưởng tích cực đến việc học sinh học gì và học như thế nào Học cách dạy và làm việc để trở thành một giáo viên giỏi là cả một quá trình lâu dài đòi hỏi không chỉ sự phát triển những
kỹ năng nghề nghiệp (lý luận và thực tiễn) dưới sự hướng dẫn, giám sát của các chuyên gia mà còn là sự lĩnh hội những kiến thức nghề nghiệp và sự thúc đẩy những giá trị và quan điểm đạo đức nhất định;
(ii) Phát triển nghề nghiệp giáo viên là một quá trình lâu dài bắt đầu từ sự chuẩn bị khởi đầu ở cơ sở đào tạo nghề và tiếp tục cho đến khi người giáo viên
Trang 19(ii) Nghiên cứu hỗ trợ cho các hoạt động thực tiễn để phát triển nghề nghiệp giáo viên
Trên cơ sở nhận thức tầm quan trọng của vấn đề phát triển nghề nghiệp giáo viên, nhiều tổ chức trên thế giới đã đặt hàng các nghiên cứu về vấn đề này với mục đích xác định các con đường hiệu quả để hỗ trợ các chương trình, các
đề án phát triển nghề nghiệp giáo viên một cách hiệu quả;
(iii) Nghiên cứu cải tiến các kỹ năng và tăng cường hiểu biết nghề nghiệp cho giáo viên Xu hướng nghiên cứu này được thể hiện rõ trong những
nỗ lực của APEC để cải thiện công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo viên Các nước (18 nước) Châu á khu vực Thái Bình Dương đã xác định đào tạo bồi dưỡng giáo viên là một trong những vấn đề then chốt trong phát triển kinh tế của họ Theo đó, các nghiên cứu để nâng cao chất lượng công tác này theo quan điểm phát triển nghề nghiệp liên tục cho giáo viên rất được coi trọng
(iv) Nghiên cứu phát triển nghề nghiệp giáo viên như là một yêu cầu của tiến trình thay đổi
Hầu hết các cải cách giáo dục hiện nay đều gồm có một phần là phát triển nghề nghiệp liên tục của giáo viên Nói cách khác, phát triển nghề nghiệp liên tục của giáo viên là một yêu cầu then chốt của tiến trình thay đổi, cải cách giáo dục Các nghiên cứu về phát triển nghề nghiệp giáo viên phục vụ yêu cầu này của cải cách giáo dục
Ở Việt Nam, các cơ quan quản lý giáo dục đã sử dụng giáo viên cốt cán đáp ứng yêu cầu bồi dưỡng giáo viên Những giáo viên này được tập huấn ở cấp trung ương và triển khai nội dung bồi dưỡng cho giáo viên thuộc cấp học của mình theo phân công của sở hoặc phòng giáo dục Tuy nhiên, những nghiên cứu lý luận về đội ngũ giáo viên cốt cán không nhiều Gần đây một số tác giả như Bùi Văn Quân [23], Nguyễn Hữu Độ [10]; [11]; [12] có đề cập đến vấn đề này
Trang 201.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Đội ngũ giáo viên cốt cán
Theo Điều 70 của Luật Giáo dục năm 2005 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng
6 năm 2005, cho rằng “Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục
trong nhà trường, cơ sở giáo dục khác Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên; ở cơ sở giáo dục đại học gọi là giảng viên” [24, tr.6]
Do vậy giáo viên được hiểu là “nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục nghề nghiệp” Giáo viên trong các cơ
sở giáo dục có nhiệm vụ, quyền lợi, vai trò và trách nhiệm được qui định tại Luật Giáo dục, Điều lệ và quy chế trường học
Khái niệm cốt cán được sử dụng để chỉ người hoặc bộ phận nòng cốt tạo nên sự vững mạnh của một tổ chức, một phong trào Theo Từ điển Tiếng Việt, cốt cán là “Người hoặc bộ phận nòng cốt tạo nên sức mạnh, sự vững chắc trong một tổ chức, một phong trào xã hội, chính trị, văn hóa ” [20] Khái niệm này thường được sử dụng để chỉ một bộ phận người có vai trò chính, quan trọng trong một đội ngũ nhiều người cùng chung chức năng, nhiệm vụ
Các giáo viên tập hợp thành một đội ngũ Đó là đội ngũ giáo viên Theo quan niệm hiện nay, đội ngũ giáo viên là tập hợp những nhà giáo giảng dạy ở
cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp có chung nhiệm vụ, vai trò và trách nhiệm nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục được quy định tại Luật giáo dục, Điều lệ và Quy chế trường học [3]; [4]; [23]
Với cách hiểu nêu trên, có thể khẳng định: Đội ngũ giáo viên cốt cán là
tập hợp những nhà giáo - những người có vai trò nòng cốt trong đội ngũ giáo viên để tạo nên sức mạnh, sự vững chắc của đội ngũ giáo viên góp phần thực hiện tốt vai trò giảng dạy của mình trong cơ sở giáo dục và hỗ trợ đồng nghiệp trưởng thành hơn về chuyên môn và nghiệp vụ
Trang 21Đội ngũ giáo viên cốt cán là một tổ chức với tập hợp các giáo viên cốt cán được hình thành theo quyền lực hành chính hoặc chuyên môn làm nòng cốt trong việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn và phát triển nghề nghiệp liên tục cho đội ngũ giáo viên trong các cơ sở giáo dục
Phần tử của mạng lưới giáo viên cốt cán là giáo viên cốt cán (theo môn học hoặc cấp học) Đó là những giáo viên giỏi về chuyên môn và xuất sắc về nghiệp vụ dạy học, giáo dục; đồng thời họ còn là nguồn trợ giúp tích cực đối với các đồng nghiệp của mình trong việc phát triển nghề nghiệp
1.2.2 Bồi dưỡng giáo viên
Bồi dưỡng giáo viên, theo một cách hiểu rộng, liên quan tới việc phát triển một cá nhân trong vai trò phát triển nghề nghiệp của họ Cụ thể hơn,
“Bồi dưỡng giáo viên là sự phát triển mà một giáo viên có thể đạt được như
là việc thu lượm những kinh nghiệm và thử nghiệm việc giảng dạy một cách có hệ thống”
Bồi dưỡng giáo viên bao gồm những kinh nghiệm đã được xác lập chính thống (như việc tham dự các hội thảo, những cuộc họp chuyên môn, tư vấn )
và những kinh nghiệm không chính thống (như là đọc các ấn phẩm chuyên môn, xem phim tài liệu liên quan tới sự rèn luyện mang tính hàn lâm, .) (Ganser, 2000) Theo Glatthorn, phát triển nghề nghiệp giáo viên được định nghĩa là “sự tiến bộ mà mỗi giáo viên có được trong mỗi vòng quay nghề nghiệp của mình” (Glatthorn, 1995)
Bồi dưỡng giáo viên bao hàm phát triển năng lực chuyên môn và năng lực nghiệp vụ của nghề (nghiệp vụ sư phạm) cho giáo viên Năng lực nghiệp vụ
sư phạm của giáo viên lại được xác định bởi năng lực thực hiện các vai trò của giáo viên trong quá trình lao động nghề nghiệp của mình Bản thân các vai trò của giáo viên (gắn liền với chức năng của họ) cũng không phải là không thay đổi được
Trang 22Nhà trường hiện nay đã và đang đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với giáo viên, theo đó, người giáo viên phải đảm nhận thêm những vai trò mới Những phương pháp giảng dạy tốt sẽ có ảnh hưởng tích cực đến việc học sinh học gì
và học như thế nào Học cách dạy và làm việc để trở thành một giáo viên giỏi
là cả một quá trình lâu dài đòi hỏi không chỉ sự phát triển những kỹ năng nghề nghiệp (lý luận và thực tiễn) dưới sự hướng dẫn và giám sát của các chuyên gia
mà còn là sự lĩnh hội những kiến thức nghề nghiệp và sự thúc đẩy những giá trị
và quan điểm đạo đức nhất định
Bồi dưỡng giáo viên là một quá trình lâu dài bắt đầu từ sự chuẩn bị khởi đầu ở cơ sở đào tạo và tiếp tục cho đến khi về hưu
Về bản chất, phát triển chuyên môn liên tục là quá trình gia tăng sự thích ứng trong lao động nghề nghiệp của người giáo viên Thích ứng nghề nghiệp là quá trình liên tục với những giai đoạn xác định, từ tiền đào tạo nghề, đào tạo nghề đến giai đoạn trực tiếp lao động nghề nghiệp Mức độ thích ứng nghề của
cá nhân diễn ra dưới sự tác động của nhiều yếu tố, tuy nhiên những yếu tố liên quan đến cá nhân và nghề nghiệp có vai trò quan trọng hơn cả
Theo logic này, nội dung bồi dưỡng theo chuẩn nghề nghiệp liên tục của giáo viên rất phong phú, bao gồm cả việc mở rộng, đối với tri thức khoa học liên quan đến giảng dạy môn học do giáo viên phụ trách đến mở rộng, phát triển đối với tri thức, kỹ năng thực hiện các hoạt động dạy học và giáo dục trong nhà trường
1.2.3 Chuẩn nghề nghiệp giáo viên
Điều 3, Thông tư số: 30/2009/TT-BGDĐT ngày 22 tháng 10 năm
2009 qui định Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học cơ sở, giáo viên trung học phổ thông:
Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học là hệ thống các yêu cầu cơ bản đối với giáo viên trung học về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; năng lực chuyên môn, nghiệp vụ [5]
Trang 23Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học 2009 là văn bản qui định hệ thống các yêu cầu cơ bản đối với người giáo viên trung học về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, năng lực chuyên môn và nghiệp vụ trong thời kì đổi mới giáo dục phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Chuẩn nghề nghiệp giáo viên đáp ứng sự phát triển mang tính khách quan, theo xu hướng chung của thế giới và sự phát triển giáo dục của nước ta Chuẩn nghề nghiệp giáo viên là sự tiếp cận đối với thế giới trong quản lý giáo dục hiện đại ở thời kỳ đất nước hội nhập quốc tế- Việt Nam ra nhập tổ chức Thương mại thế giới (WTO)
Chuẩn nghề nghiệp giáo viên có cấu trúc theo các lĩnh vực, mỗi lĩnh vực
có các tiêu chuẩn, tiêu chí và mức độ cụ thể.[5]
Tiêu chuẩn là quy định về những nội dung cơ bản, đặc trưng thuộc mỗi lĩnh vực của chuẩn Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học gồm 6 tiêu chuẩn
và trong mỗi tiêu chuẩn có các tiêu chí khác nhau
Tiêu chí là yêu cầu và điều kiện cần đạt được ở một nội dung cụ thể của mỗi tiêu chuẩn
Mỗi tiêu chí có 4 mức để đánh giá kết qủa đạt được của GV Mức 1 là mức thấp nhất, phản ánh yêu cầu tối thiểu GV phải đạt; mức 4 là mức yêu cầu cao nhất về tiêu chí đó Việc phân biệt các mức độ cao thấp dựa vào số lượng
và chất lượng các hoạt động giáo viên thực hiện
1.3 Các mô hình phát triển nghề nghiệp giáo viên THCS và những nội dung cơ bản của phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán đáp ứng yêu cầu bồi dưỡng giáo viên THCS
1.3.1 Giáo viên THCS
Mục tiêu của Giáo dục THCS: “Giáo dục trung học cơ sở nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học; có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp
để tiếp tục học trung học phổ thông, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống
Trang 24lao động” Như vậy “Giáo dục trung học cơ sở phải củng cố, phát triển những nội dung đã học ở tiểu học, bảo đảm cho học sinh có những hiểu biết phổ thông
cơ bản về tiếng Việt, toán, lịch sử dân tộc; kiến thức khác về khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, pháp luật, tin học, ngoại ngữ; có những hiểu biết cần thiết tối thiểu về kỹ thuật và hướng nghiệp” [24] Xuất phát từ mục tiêu ấy, đòi hỏi đội ngũ giáo viên THCS phải quán triệt phương pháp dạy học và giáo dục: phải lấy học sinh làm trung tâm, tôn trọng nhân cách của học sinh, coi trọng nội lực thúc đẩy hoạt động của học sinh, phát huy năng lực tư duy độc lập và năng lực thực hành, từng bước phát triển những kỹ năng nhất định để các em bước vào cuộc sống lao động khỏi bỡ ngỡ
Giáo viên THCS là nhà giáo giảng dạy ở các trường THCS phải có đầy
đủ các tiêu chuẩn như trong Luật Giáo dục quy định:
+ Phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt;
+ Đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ;
+ Đủ sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp;
+ Lý lịch bản thân rõ ràng
Về nhiệm vụ của giáo viên THCS, Luật Giáo dục cũng quy định rất chi tiết và rõ ràng như sau [24]:
1 Giáo dục, giảng dạy theo mục tiêu, nguyên lý giáo dục, thực hiện đầy
đủ và có chất lượng chương trình giáo dục;
2 Gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân, các quy định của pháp luật
và điều lệ nhà trường;
3 Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo; tôn trọng nhân cách của người học, đối xử công bằng với người học, bảo vệ các quyền, lợi ích chính đáng của người học;
4 Không ngừng học tập, rèn luyện để nâng cao phẩm chất đạo đức, trình
độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, đổi mới phương pháp giảng dạy, nêu gương tốt cho người học;
Trang 255 Các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật
Trước hết để thực hiện được mục tiêu giáo dục của cấp học, người giáo viên THCS không chỉ làm tốt việc truyền thụ kiến thức đơn thuần mà còn phải dạy cho học sinh biết cách học, cách thu thập và xử lý các kiến thức, thông tin
và các kỹ năng phục vụ trong cuộc sống
Giáo dục THCS cũng như các bậc học khác để đạt được mục tiêu chung cần có chất lượng đào tạo mà người giáo viên là nhân tố hàng đầu quyết định chất lượng giáo dục
Người giáo viên THCS liên hệ với cộng đồng thông qua việc thực hiện nhiệm vụ giáo dục đặc biệt qua việc giáo dục học sinh và giao tiếp với cha mẹ học sinh; thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp người giáo viên đã phát huy được vai trò của mình trong đời sống cộng đồng
Học sinh THCS trong độ tuổi từ mười một đến mười lăm tuổi đã và đang hình thành nhân cách, tiếp cận với cuộc sống với cách nhìn của chính mình Vì vậy người giáo viên THCS có vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của học sinh Hành vi, ngôn ngữ ứng xử, trang phục của người thầy đều ảnh hưởng
và tác động tới học trò Người thầy thực sự là tấm gương cho học sinh, trình độ học vấn, tình cảm của người thầy sẽ tác động rất lớn đến học sinh
Ngoài nhiệm vụ giảng dạy và giáo dục, giáo viên THCS còn tham gia công tác phổ cập giáo dục THCS, phổ cập bậc trung học ở địa phương Đây là một công việc đòi hỏi giáo viên phải giành nhiều thời gian, sự kiên trì và tấm lòng chân thành, sự cảm thông và hiểu biết hoàn cảnh của từng học sinh cụ thể Trong đó phải kể đến vai trò của người giáo viên trong việc liên kết các lực lượng xã hội: cha mẹ học sinh và Hội cha mẹ học sinh, Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh, Hội nông dân, Hội phụ nữ, Hội khuyến học, để làm tốt nhiệm vụ giáo dục học sinh Bởi vì hiệu quả giáo dục THCS phụ thuộc không nhỏ vào khả năng liên kết các lực lượng xã hội đó
Trang 26Ngoài vai trò làm thầy, giáo viên THCS cũng phải thực hiện các nhiệm
vụ khác theo qui định của pháp luật: Thực hiện nghĩa vụ của người công dân, tham gia các phong trào văn hóa, xã hội ở địa phương Là người có trình độ học vấn, được đào tạo ở trình độ nhất định, có phẩm chất đạo đức tốt, các thầy cô giáo cũng luôn luôn làm tốt nghĩa vụ công dân Do đó ngoài việc làm tấm gương cho học sinh noi theo, các thầy cô giáo THCS còn là người gương mẫu
đi đầu trong các phong trào ở địa phương nơi cư trú
Theo quy định của Luật Giáo dục thì trình độ chuẩn được đào tạo của giáo viên THCS là có bằng tốt nghiệp cao đẳng sư phạm hoặc có bằng tốt nghiệp cao đẳng và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm Thực tế giáo viên THCS có thể được chia làm hai nhóm:
- Nhóm thứ nhất bao gồm các giáo viên tốt nghiệp các trường đại học như: Đại học Sư phạm, Đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Khoa học Xã hội
và Nhân văn v.v
- Nhóm thứ hai gồm các giáo viên tốt nghiệp cao đẳng sư phạm
1.3.2 Các mô hình phát triển nghề nghiệp giáo viên THCS
Nhiều mô hình được phát triển và thực hiện ở nhiều quốc gia để phát huy
và hỗ trợ giáo viên phát triển nghề nghiệp từ khi họ bắt đầu khởi nghiệp đến khi nghỉ hưu Rất quan trọng khi chỉ ra rằng các mô hình được trình bày một cách riêng rẽ vì sự rõ ràng và khu biệt, nhưng hầu hết các sáng kiến phát triển nghề nghiệp đều là sự kết hợp các mô hình, và sự kết hợp này cũng hết sức đa dạng, tùy theo hoàn cảnh Nghiên cứu của Eleonora Villegass-Reimers đã khái quát các loại mô hình phát triển nghề nghiệp giáo viên như bảng 1.1 [30]:
Theo tác giả Nguyễn Hữu Độ [10], các mô hình phát triển nghề nghiệp giáo viên tương đối đa dạng , được phát triển và thực hiện ở nhiều quốc gia để phát huy và hỗ trợ giáo viên phát triển nghề nghiệp từ khi họ bắt đầu khởi nghiệp đến khi nghỉ hưu
Trang 27Bảng 1.1: Các mô hình phát triển nghề nghiệp giáo viên
Mô hình tổ chức hợp tác Mô hình nhóm nhỏ hoặc riêng lẻ
- Đánh giá năng lực của các học sinh
- Hội thảo, hội nghị, các khóa học
- Nghiên cứu dựa trên các trường hợp cụ thể
- Sự phát triển mang tính tự định hướng
- Mô hình dựa trên các dự án
- Huấn luyện, hướng dẫn
Điểm chung nhất dễ nhận thấy của các mô hình là tính mục đích của nó Các mô hình đều hướng đến mục đích phát triển nghề nghiệp cho giáo viên Theo đó, việc đưa ra các tiêu chí để định hướng các chương trình phát triển nghề nghiệp của giáo viên là rất quan trọng Theo Little (1992), phát triển nghề nghiệp cho giáo viên đòi hỏi phải có sự gia tăng về kiến thức, các kĩ năng, phán đoán (liên quan đến các vấn đề trong lớp học) và có sự đóng góp của các giáo viên đối với cộng đồng dạy học Leithwood (1992) cho rằng, các chương trình nhằm mục đích phát triển nghề cho giáo viên nên tập trung vào các vấn
đề sau:
Trang 28(i) Phát triển các kĩ năng sống;
(ii) Trở thành người có năng lực đối với các kĩ năng cơ bản của nghề dạy học;
(iii) Phát huy tính linh hoạt của người giảng dạy;
(iv) Có chuyên môn giảng dạy;
(v) Đóng góp vào sự phát triển nghề nghiệp của đồng nghiệp; và
(vi) Thực hiện vai trò lãnh đạo và tham gia vào việc ra quyết định
Môt số ví dụ về tiêu chí định hướng các chương trình phát triển nghề nghiệp giáo viên nêu trên cho thấy, phát triển nghề nghiệp giáo viên có thể đươc thực hiện một cách có chủ định hoặc không chủ định Không ít những trường hợp, nhiều hoạt động được thực hiện liên quan đến giáo viên (hoặc được thực hiện bởi giáo viên) nhưng không có chủ ý thực hiện các tiêu chí của phát triển nghề nghiệp giáo viên Tuy nhiên, nếu các hoạt động đó nếu được định hướng từ trước bởi mục đích phát triển nghề nghiệp giáo viên thì hiệu quả của các hoạt động đó sẽ cao hơn rất nhiều Nói cách khác, cần thiết phải quan tâm đến những cơ hội mà ở đó giáo viên có thể phát triển nghề nghiệp của bản thân Các cơ hội phát triển nghề nghiệp có thể được tạo ra cùng lúc bởi các giáo viên
và những người hỗ trợ, hoặc bởi cách lựa chọn tập trung vào một nhiệm vụ mới
mà giáo viên hứng thú với việc học về nó, hoặc bằng cách tập trung vào thực hành mà giáo viên thực hiện một cách đều đặn nhưng muốn có sự thay đổi Đây chính là những gợi ý trực tiếp cho sự hình thành và phát triển các mô hình phát triển nghề nghiệp giáo viên trong thực tiễn
Theo Eleonora Villegass -Reimers (2003), có thể sắp xếp các mô hình phát triển nghề nghiệp giáo viên thành 2 nhóm Nhóm thứ nhất , các mô hình
do các tổ chức nhất định hoặc các tổ chức liên kết với nhau nhằm hoạt động có hiệu quả, hay còn gọi là mô hình tổ chức hợp tác Nhóm thứ hai, miêu tả các
mô hình mà có thể được thực hiện với quy mô nhỏ (trường học, lớp học ) hay còn gọi là mô hình nhóm nhỏ hoặc riêng lẻ
Trang 29Nhóm mô hình hợp tác tổ chức đề cập đến các mô hình như: Các trường học phát triển nghề; mối quan hệ hợp tác giữa trường học và trường đại học khác; sự hợp tác khác giữa các cơ sở đào tạo; mạng lưới các trường học phổ thông; mạng lưới các giáo viên
Nhóm mô hình nhóm nhỏ hoặc riêng lẻ có các mô hình như: Hội thảo, hội nghị, các khóa học ; nghiên cứu dựa trên các trường hợp cụ thể; phát triển hợp tác; sự tham gia của giáo viên trong các vai trò mới; cá nhân tự định hướng phát triển; dự giờ và góp ý kiến; tham gia vào quá trình đổi mới giáo dục; thực hiện các nghiên cứu trong lớp học; tham gia tập huấn; hướng dẫn, tư vấn
1.4 Nội dung phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán trong bồi dưỡng giáo viên THCS
1.4.1 Quan niệm về phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán đáp ứng yêu cầu bồi dưỡng giáo viên THCS
Tổng thuật các nghiên cứu của Calderhead, J; Shorrock, S.B (1997) [29]; Eleonora Villegas – Reimers (1998) [30]; Guskey, T.R; Huberman, M(Eds.) (1995) [31], mô hình mạng lưới giáo viên cốt cán được tóm lược như sau:
“Văn hóa hỗ trợ” được xem như là một yếu tố có vai trò quan trọng đối với nhà trường và các nhà lãnh đạo trong giáo dục Để thành công trong quá trình phát triển nghề dạy học, cần phải hình thành được “văn hóa hỗ trợ” Lieberman (1994) trình bày chi tiết 5 yếu tố cần thiết để hình thành văn hóa hỗ trợ trong nhà trường phổ thông và trong hệ thống giáo dục Đó là:
Phát triển quy tắc bình đẳng, cởi mở và tin tưởng;
Tạo cơ hội và thời gian cho quá trình điều tra lấy thông tin;
Tạo nhiều cơ hội cho nội dung học tập của giáo viên theo bối cảnh; Đánh giá các chức năng lãnh đạo khác nhau và định nghĩa lại sự lãnh đạo trong trường học bao gồm cả giáo viên;
Hình thành và hỗ trợ các mạng lưới, sự hợp tác và liên minh
Bush (1999) bổ sung thêm yếu tố thứ 6: chuẩn bị cho giáo viên trở thành nhà lãnh đạo trong chính sự nghiệp phát triển nghề của họ Biết cách thiết kế,
Trang 30thực hiện và đánh giá các cơ hội phát triển nghề là một quá trình cần phải học hỏi và giáo viên cần có thời gian và cơ hội để học các kĩ năng và kiến thức cần thiết để trở thành những người phát huy hiệu quả quá trình hành nghề dạy học
Việc xây dựng văn hóa trường học mang tính hợp tác hiệu quả đòi hỏi có
sự tham gia của các giáo viên, nhà quản lý và các chuyên gia khác cùng làm việc trong trường học, bởi vì tất cả đều xứng đáng và có thể hưởng lợi từ các cơ hội phát triển nghề nghiệp Dự án “Hiệu trưởng - nhà lãnh đạo khoa học” được khởi xướng bởi Trung tâm phát triển giáo dục Mỹ Trong dự án này, các nhóm giáo viên và hiệu trưởng được hình thành để hỗ trợ cải cách trường học Cả giáo viên và hiệu trưởng đều trình bày về việc quan trọng thế nào khi sự hợp tác này thành công trong quy mô dự án và quan trọng như thế nào đối với việc
hỗ trợ các thay đổi trong giáo viên về niềm tin, thái độ ứng xử và thực hành giảng dạy môn khoa học (Matsumoto, 1999) Quỹ NEA vì sự phát triển giáo dục (2000) tiến thêm một bước nữa khi nhấn mạnh về nhu cầu cần thiết hỗ trợ Theo báo cáo của quỹ NEA, rất quan trọng khí gắn kết không chỉ các nhà giáo dục, nhà quản lý mà cả công đồng xã hội tham gia hỗ trợ quá trình phát triển nghề của giáo viên Báo cáo đưa ra một danh sách dài các dự án thực tế được thực hiện ở nhiều nơi ở Mỹ với sự tham gia và hỗ trợ của cộng đồng xã hội
Một vài nghiên cứu chỉ tập trung tính đến các nhu cầu của các giáo viên Bush, 1999; Clement và Vandenberghe, 2001; Fernandez, 2000; Moore, 2000; Marshall …, 2001) cho thấy sự lãnh đạo của hiệu trưởng là rất quan trọng trong việc hỗ trợ sự phát triển nghề của các giáo viên ở trường phổ thông
Trong một nghiên cứu về các giáo viên và hiệu trưởng trường phổ thông
ở Canada, Fernandez (2000) xác định các nét tính cách mà phổ biến nhất đối với các hiệu trưởng ủng hộ quá trình phát triển nghề của giáo viên (mặc dù các hiệu trưởng có tính cách và phong cách làm việc khác nhau) Các nét chung là
“tính rõ ràng, có khả năng mô hình hóa, hỗ trợ, kì vọng cao, kiên quyết và dũng cảm” (Fernandez, 2000) Tương tự, một nghiên cứu liên quan đến các nhà lãnh
Trang 31đạo trường phổ thông của Clement và Vandenberghe (2001) chỉ ra rằng trong tất cả các hành động mà các hiệu trưởng có liên quan, hành động mang tính hiệu quả nhất đối với sự phát triển nghề dạy học là tạo ra môi trường làm việc
mà ở đó có cơ hội học tập và không gian học tập Nếu thay đổi 2 vấn đề này thì giáo viên có thể tổ chức, thiết kế và thực hiện nhiều mô hình phát triển nghề nghiệp khác nhau
Moore (2000) đưa ra một vài gợi ý dành cho hiệu trưởng và những người đứng đầu các chương trình ở trường phổ thông để hỗ trợ quá trình phát triển nghề của giáo viên Đó là: lên kế hoạch trước tiên, bắt đầu sớm, lên lộ trình, khai thác nguồn nội bộ, thành lập chương trình hướng dẫn, tổ chức cuộc họp giữa các nhân viên vì sự phát triển nghề, quan sát và hướng dẫn thay đổi
Ngoài việc cần có sự lãnh đạo và hỗ trợ của hiệu trưởng, sự phát triển nghề thành công còn đòi hỏi văn hóa hỗ trợ mà có liên quan không chỉ giáo viên, các nhà làm giáo dục khác, cộng đồng xã hội mà còn có sự tham gia của các tổ chức quốc tế, các nhà lãnh đạo về giáo dục và học sinh Càng nhận được nhiều sự hỗ trợ, sự phát triển nghề càng thành công hơn (Burget, 2000)
Như vậy xây dựng mạng lưới giáo viên cốt cán để tạo ra sự hợp tác và liên minh là một trong những yếu tố hỗ trợ tốt cho quá trình bồi dưỡng phát triển nghề nghiệp của giáo viên Trong đó vai trò trụ cột của người hiệu trưởng
là không thể xem nhẹ và cũng cần có sự hỗ trợ từ các nguồn lực khác trong nhà trường và ngoài xã hội
1.4.2 Nội dung phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán đáp ứng yêu cầu bồi dưỡng phát triển nghề nghiệp giáo viên THCS
Trong phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán THCS cũng giống như phát triển đội ngũ giáo viên THCS là phát triển cả về số lượng và chất lượng, tuy nhiên phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán THCS khác ở chỗ yêu cầu phát triển
về chất lượng cao hơn để đáp ứng yêu cầu bồi dưỡng cho giáo viên THCS
Nội dung phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán đáp ứng yêu cầu bồi dưỡng phát triển nghề nghiệp giáo viên bao gồm:
Trang 32(i) Xây dựng đội ngũ giáo viên cốt cán
Nội dung này nhằm tạo ra đội ngũ giáo viên cốt cán THCS để làm nòng cốt trong phát triển nghề nghiệp cho đồng nghiệp
Giáo viên cốt cán có thể được lựa chọn từ những giáo viên có nhiều thành tích cao trong lao động nghề nghiệp Những giáo viên này được gọi bởi những tên gọi khác nhau như giáo viên giỏi (Thụy Điển), giáo viên tài năng (Hoa Kỳ), giáo viên xuất sắc, giáo viên chất lượng cao (Anh), giáo viên thành công (Hồng Kông)
Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc [7], giáo viên xuất sắc
ở Anh được xác định là những giáo viên có chiều sâu, chiều rộng của các kinh nghiệm, các kỹ năng sư phạm, tư vấn và các kỹ năng giáo dục một cách xuất sắc Họ là những mẫu hình sư phạm cho các giáo viên khác và là người tạo nên thành tích học tập của học sinh, người làm chủ môn học mà mình giảng dạy Theo David G.Imig & Scott R.mig (2007), giáo viên chất lượng cao là giáo viên làm chủ một loại các kỹ năng và kiến thức, các kinh nghiệm và sự cam kết
và niềm tin nghề nghiệp cần thiết đối với học sinh và đồng nghiệp
Quan niệm về giáo viên thành công ở Hồng Kông được xác định bởi khung 5 lĩnh vực với các tiêu chí cụ thể về cá nhân và nghề nghiệp Các lĩnh vực gồm: chuyên môn, dạy học, phát triển học sinh, phát triển nhà trường và cống hiến cho giáo dục Các tiêu chí cá nhân là: trách nhiệm; sự quan tâm đến học sinh; tự phản ánh bản thân; hiểu và có trách nhiệm thực hiện sứ mạng; sự tôn trọng; coi trọng giáo dục đạo đức; kiên nhẫn; công bằng; không dễ dàng từ
bỏ khi đối mặt với sự đa dạng Các tiêu chí nghề nghiệp gồm: hiểu sâu sắc môn học mà mình dạy; tấm gương cho học sinh, nhiệt tình giảng dạy; dạy học sinh kiến thức và giáo dục đạo đức; chuyển tải sâu các kiến thức trong quá trình dạy học; quản lý lớp học có hiệu quả; thường xuyên nâng cao năng lực giảng dạy
và kỹ năng quản lý lớp học; sử dụng nhiều kỹ năng dạy học khác nhau để học sinh học tập hứng thú; dạy một cách sống động và thú vị giúp học sinh hiểu
Trang 33bài; dạy học dựa trên năng lực của học sinh; có niềm tin dạy học riêng; hiểu và đáp ứng nhu cầu của đồng nghiệp; sẵn sàng đối mặt với những thách thức mới; tranh thủ thời cơ và sử dụng tốt các nguồn lực; có mối quan hệ gần gũi với cha
mẹ học sinh
Như vậy, những dấu hiệu cơ bản của giáo viên cốt cán bao gồm:
- Là chuyên gia môn học: hiểu biết sâu sắc và tâm huyết với việc giảng dạy môn học; giảng dạy cao hơn so với chuẩn đặt ra; có khả năng bồi dưỡng học sinh giỏi; nghiên cứu và phát triển các ý tưởng đối với môn học
- Là chuyên gia sư phạm: am hiểu về hoạt động học tập và giáo dục; đưa
ra và phổ biến các mục đích và mục tiêu một cách rõ ràng; đánh giá, phát huy sáng kiến của học sinh; đánh giá hệ thống và liên tục kết quả học tập của học sinh; giao tiếp sư phạm tốt
- Là chuyên gia về khoa học sáng tạo: nắm vững phương pháp luận khoa học sáng tạo và có thực hành sáng tạo có kết quả; tổ chức, điều khiển để hình thành, phát triển hoạt động học tập sáng tạo của học sinh; giúp học sinh học bằng nhiều phương pháp khác nhau; phát triển các kỹ năng trí tuệ bậc cao và kỹ năng học tập liên tục cho học sinh
- Là chuyên gia hướng dẫn, tư vấn: hướng dẫn tư vấn cho học sinh về học tập và các vấn đề có liên quan đến đời sống học đường, lựa chọn nghề nghiệp cũng như các vấn đề có tính chất riêng tư; hướng dẫn tư vấn về nghề nghiệp cho đồng nghiệp; hỗ trợ tích cực cho phát triển nghề nghiệp của đồng nghiệp cùng trường và các trường bạn
(ii) Sử dụng đội ngũ giáo viên cốt cán
Nội dung này nhằm mục đích phát huy vai trò của đội ngũ giáo viên cốt cán trong việc bồi dưỡng cho giáo viên phát triển nghề nghiệp liên tục
Sử dụng đội ngũ giáo viên cốt cán trong bồi dưỡng giáo viên bao gồm các nội dung cụ thể như:
- Làm báo cáo viên trong các đợt tập huấn, bồi dưỡng đồng nghiệp;
Trang 34- Làm trưởng nhóm điều hành trong các đợt sinh hoạt chuyên môn cấp cụm trường hoặc cấp huyện
- Làm người hướng dẫn, tư vấn đồng nghiệp về những khó khăn, vướng mắc trong lao động nghề nghiệp
- Làm người dự giờ, rút kinh nghiệm cho giáo viên trong các đợt hội giảng, thi giáo viên giỏi
- Làm người tham gia tập huấn các lớp chuyên môn, nghiệp vụ do Sở Giáo dục và Đạo tạo tổ chức để về tập huấn lại cho giáo viên trong huyện
- Làm người tham gia các đợt hội thảo khoa học, cố vấn trong các cuộc thi sáng tạo khoa học, phổ biến các đề tài sáng kiến kinh nghiệm đạt giải cao
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán đáp ứng yêu cầu bồi dưỡng giáo viên THCS
1.5.1 Thời gian
Giáo viên cần thời gian bồi dưỡng để phát triển nghề nghiệp, một công việc đòi hỏi tính liên tục thực hiện hàng ngày và cần thời gian để đánh giá những nỗ lực của mình Ủy ban hội đồng phát triển nhân viên quốc gia (NSDC) quyết định thời gian tương đối dành cho quá trình học tập của các nhân viên
và hợp tác công việc nên là 20% tuần làm việc của nhà giáo dục” [28] Kiến thức và thực hành sâu rộng của giáo viên đã tăng lên những năm gần đây Kết quả là “Giáo viên, nhà nghiên cứu và các nhà làm chính sách luôn cho thấy thách thức lớn nhất đối với quá trình thực hiện phát triển nghề hiệu quả
là thiếu thời gian” [28]
Điều này dường như là vấn đề chung của nhiều xã hội, đặc biệt là ở các nước đang phát triển, nơi mà hầu hết các trường phổ thông không có đủ lượng thời gian dành cho quá trình phát triển nghề của giáo viên Trong các trường hợp này, giáo viên hoàn thành các cuộc hội thảo trong suốt mùa hè hoặc sau giờ dạy học ở trường phổ thông, giả sử là giáo viên không có công việc thứ 2 hay thứ 3 nào hỗ trợ thì họ mới có thời gian tham gia hội thảo trong quãng thời gian như thế, đó là vấn đề ở nhiều nước đang phát triển Tuy nhiên, giáo viên
Trang 35có nhiều thời gian tham gia vào các hoạt động phát triển nghề ở nhiều nước (ví
dụ : Trung Quốc, Đức và Nhật Bản)
Ở các nước này, giáo viên chỉ dạy một số lớp và dành 30% - 40% số thời gian không đi dạy để làm việc cùng học sinh, đồng nghiệp và tham gia vào các hoạt động chuyên môn [30] APEC (1999) cho biết các trường học Nhật Bản dành cho giáo viên 20 giờ hoặc nhiều hơn mỗi tuần để làm việc, lên kế hoạch,
đi thăm các lớp học, trường học khác và dành thời gian cho các hoạt động phát triển nghề
Ở nhiều nước châu Âu và châu Á, “giáo viên thường dành 15 – 20 giờ mỗi tuần dạy học ở lớp, còn thời gian còn lại thì làm việc với đồng nghiệp, phát triển bài dạy, thăm phụ huynh, tư vấn học sinh, nghiên cứu và tham dự các nhóm nghiên cứu, hội thảo hay đi thăm các trường học khác Ngược lại, hầu hết giáo viên tiểu học ở Mỹ có 3 hay vài giờ dành cho các hoạt động chuẩn bị mỗi tuần (hoặc 8 phút trong mỗi giờ ở lớp học để chuẩn bị), trong khi đó giáo viên trung học nhìn chung có 5 giai đoạn chuẩn bị mỗi tuần (hay
13 phút mỗi giờ hướng dẫn học sinh trên lớp)” [31]
Sự khác nhau về thời gian dành cho quá trình phát triển nghề có liên quan đến sự khác nhau về lương và thời gian dạy học ở các nước này Theo Darling-Hammond (1996), hơn một nửa những người làm giáo dục ở các trường công ở Mỹ thực sự làm việc nghiêm túc trên lớp học (số còn lại làm nhiệm vụ quản lý hoặc hỗ trợ); ngược lại, hơn 3/4 số người làm việc cho ngành giáo dục công ở Australia và Nhật Bản dạy học trên lớp, trong khi đó con số này ở Bỉ, Đức, Hà Lan và Tây Ban Nha là 80%
Ngoài việc dành thời gian tham gia các hoạt động cụ thể, các giáo viên cũng cần có thời gian cho trí óc để phát triển sự nghiệp (Burget, 2000) Trên thực tế, một số sáng kiến được thực hiện ở Mỹ, nơi một số trường học phổ thông cụ thể tái cấu trúc cách chia thời gian dành cho giáo viên và các kết quả cho thấy giáo viên có nhiều thời gian hơn để lên kế hoạch, thảo luận và tham
Trang 36gia các hoạt động phát triển nghề nghiệp thì quá trình dạy học của giáo viên càng hiệu quả, do đó càng có nhiều học sinh học hơn [30]
1.5.2 Nguồn tài chính
Thử thách lớn khác mà giáo viên và những nhà làm giáo dục trên khắp thế giới phải đối mặt là tài chính để phát triển trường học và phát triển nghề cho các giáo viên Rõ ràng, tài chính là một vấn đề quan trọng trong bất cứ cải cách hay chương trình phát triển nghề nghiệp hiệu quả, nhưng Bush (1999) đưa
ra quan điểm rằng chỉ riêng tài chính thì là không đủ để xây dựng chương trình phát triển sự nghiệp dành cho các giáo viên
Ở Mỹ, tài chính dành cho việc phát triển nghề thường là khá thấp bởi vì đây là một trong những khoản mục sẽ bị loại bỏ khỏi trường học hay loại bỏ khỏi ngân sách khu vực khi các nguồn tài chính khan hiếm Tuy nhiên, trường học và các khu vực này rất sáng tạo để giải quyết thách thức này Applewhite (1999) từ trường cấp 3 ở Colorado trình bày về việc thiết lập việc quản lý trường dựa trên chính những gì ngôi trường có và tạo ra quỹ Phát triển nghề nghiệp thông qua các sáng kiến của một nhóm giáo viên Quỹ này được quản lý bởi hội đồng các nhà lãnh đạo, bao gồm các thành viên làm việc trong trường, phụ huynh, học sinh và thành viên các cộng đồng Ban lãnh đạo quyết định sáng kiến nào thì được cấp tài chính thực hiện Quỹ này mở rộng ra nhiều kể từ khi nó được thành lập, và nhiều giáo viên được cấp tài chính quay trở lại trường học để chia sẻ quá trình học tập của họ với các đồng nghiệp
Bên cạnh đó, nhiều dự án phát triển nghề nghiệp được cấp tài chính bởi các cơ sở đào tạo tư nhân, các tổ chức tài trợ, các quỹ…Ví dụ điển hình là Chương trình sức mạnh thư viện, một sáng kiến của DeWitt Wallace – một quỹ tài liệu dành cho người đọc, cung cấp 65 triệu đô la cho 700 ngôi trường ở 19 khu vực trên nước Mỹ nhằm hỗ trợ thư viện các trường học (bao gồm việc cung cấp thêm không gian, bộ sưu tập sách mới, người trông thư viện mới và cơ hội phát triển nghề nghiệp dành cho các giáo viên, kết nối việc sử dụng thư viện
Trang 37với chương trình giảng dạy) (Haycock, 1999) Nhiều dự án khác được tài trợ hành năm bởi Quỹ khoa học quốc gia Mỹ (Lewis, 1998)
Tương tự, Geiger (1996) đưa ra một vài đề nghị về hình thức phát triển nghề mà có chi phí thấp Geiger miêu tả các chiến lược sau: phát triển các đội nghiên cứu hay nhóm nghiên cứu trong khuôn khổ trường học; có giáo viên dạy học thêm các lớp trong cùng trường, hoặc khác trường; có giáo viên và nhà quản lý chịu trách nhiệm về việc thay đổi quỹ thời gian bị giới hạn; đề nghị thảo luận nhóm trong giờ ăn trưa; yêu cầu những người bán hàng tham gia vào chương trình để họ chỉ cho cách họ bán hàng; chỉ định giáo viên là các nhà hướng dẫn; giáo viên đào tạo cho các giáo viên khác theo những mặt cụ thể của quá trình giảng dạy; tìm kiếm các hợp đồng từ các nhà tư vấn hay các tổ chức khi cần thiết
Rất khó để ước tính chi phí thực hiện chương trình phát triển nghề nghiệp, và cũng ít có thông tin về vấn đề này
Tuy nhiên, một vài con số được tờ báo NEA Today công bố Theo NEA
(2000), chi phí để thực hiện chương trình PDS dao động trong khoảng 25000 đến 50000 đô la/trường học Tuy nhiên, NEA cho biết thêm “một chương trình PDS không mất nhiều chi phí hơn việc thực hiện các chương trình đào tạo giáo viên theo truyền thống”
Ở Mỹ, “hầu hết các bang và các quận không có ý kiến về việc họ thực sự
sẽ chi tiêu gì cho quá trình phát triển nghề” (Corcoran, 1995, trang 1) Các quận
có xu hướng tự chịu chi phí phát triển nghề nghiệp với các quỹ hỗ trợ từ bang Nhưng khi ngân sách gặp khó khăn thì quỹ vì sự phát triển nghề là một trong những khoản mục sẽ bị loại bỏ, và do đó vẫn là bản thân các giáo viên tự giải quyết với vấn đề chi phí
Ngày càng có nhiều mối quan tâm về việc cải thiện giáo dục, và theo đó
là cải thiện năng lực giảng dạy của giáo viên, nhiều chính phủ và các tổ chức ở cấp độ địa phương, quốc gia và thậm chí là quốc tế đưa ra các quỹ tài trợ để
Trang 38ủng hộ những sáng kiến trong trường phổ thông và trong các cơ sở đào tạo có liên quan khác Ví dụ: người ta ước tính rằng ở Mỹ, chính phủ liên bang dành
369 triệu đô la trong năm tài chính 1993 để phát triển công việc dạy toán, khoa học và công nghệ cho các giáo viên (Corcoran, 1995), trong khi đó, Darling-Hammond và McLaughlin (1995) cho biết khi so sánh với các quốc gia khác,
“Mỹ đầu tư vào một nhóm nhỏ các giáo viên được trả lương thấp, những người được chỉ đạo, giám sát và bổ sung bởi một nhóm các nhà quản lý và các chuyên gia không tham gia giảng dạy”
Trên thực tế, theo các tác giả này, năm 1986, hệ thống trường học ở Mỹ
đã thuê một nhân viên hành chính trên 2,5 giáo viên và dành 38% quỹ để trả lương cho giáo viên và ít hơn 1% quỹ dành cho phát triển nghề nghiệp Nhiều công ty và trường học ở các quốc gia khác chi nhiều hơn gấp mấy lần số tiền đó (Darling-Hammond, 1996) Các con số thống kê này hiện đang được cải thiện, nhưng con số các nhà quản lý dành cho giáo viên vẫn là con số thấp
1.5.3 Các kỹ năng hỗ trợ cho giáo viên cốt cán trong vai trò hỗ trợ đồng nghiệp phát triển nghề nghiệp
Để thực hiện tốt vai trò hỗ trợ đồng nghiệp phát triển nghề nghiệp, người giáo viên cốt cán phải thuần thục về các kỹ năng:
- Kỹ năng tập huấn: bao gồm từ việc thiết kế kế hoạch bài giảng tập huấn đến các kỹ thuật trong tổ chức nội dung tập huấn cho đồng nghiệp
- Kỹ năng thúc đẩy đồng nghiệp: kỹ năng đưa ra những tác động với đồng nghiệp có tính chất khuyến khích đồng nghiệp biết cách vượt qua những rào cản của lao động nghề nghiệp, biết đặt ra các mục tiêu để cho quá trình phát triển nghề nghiệp của bản thân
- Kỹ năng hướng dẫn đồng nghiệp: kỹ năng làm mẫu và chỉ dẫn đồng nghiệp trong từng hoạt động cụ thể của lao động nghề nghiệp
- Kỹ năng tư vấn: kỹ năng đưa ra những lời khuyên để đồng nghiệp lựa chọn phương án giải quyết các vướng mắc trong lao động nghề nghiệp;
Trang 39- Kỹ năng lập kế hoạch hỗ trợ đồng nghiệp phát triển nghề nghiệp: kỹ năng lập kế hoạch để thực hiện các hoạt động hỗ trợ hiệu quả đồng nghiệp phát
triển nghề nghiệp liên tục
- Kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin: kỹ năng ứng dụng CNTT vào
dạy học hỗ trợ cho giáo viên thay đổi căn bản phương pháp dạy, phương pháp học, kích thích hứng thú học tập ở học sinh, đem lại niềm say mê sáng tạo cho
giáo viên góp phần nâng cao chất lượng dạy học cho giáo viên
Tiểu kết chương 1
Bồi dưỡng giáo viên THCS nhằm phát triển nghề nghiệp liên tục cho giáo viên THCS là một yêu cầu, một nội dung tất yếu trong quản lý đội ngũ giáo viên THCS Đây là quá trình mà người giáo viên THCS gặt hái được những thành công trong lao động nghề nghiệp và thể hiện được mức độ thích ứng nhanh, có chất lượng cao đối với các thay đổi trong lao động nghề nghiệp
Có nhiều nội dung đáp ứng yêu cầu bồi dưỡng giáo viên THCS có thể vận dụng trong phát triển nghề nghiệp Một trong những nội dung quan trọng
đó là phát triển sử dụng đội ngũ giáo viên cốt cán theo từng môn học của giáo dục THCS Nội dung cơ bản của phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán đáp ứng yêu cầu bồi dưỡng giáo viên THCS là xây dựng được đội ngũ này và chuẩn bị cho họ các điều kiện về cơ chế, chính sách cũng như các kỹ năng cần thiết, nhằm sử dụng họ một cách có hiệu quả trong bồi dưỡng giáo viên THCS, để họ thực sự làm nòng cốt trong hỗ trợ đồng nghiệp trong phát triển nghề nghiệp
Trang 40Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN CỐT CÁN ĐÁP ỨNG YÊU CẦU BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN CÁC TRƯỜNG THCS
HUYỆN BÌNH GIANG, TỈNH HẢI DƯƠNG
2.1 Khái quát chung về địa bàn nghiên cứu
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương
Bình Giang là một trong 12 huyện thuộc tỉnh Hải Dương Bình Giang
có quốc lộ 5, quốc lộ 38, đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng chạy qua, cách thành phố Hải Dương 20 km và cách thủ đô Hà Nội hơn 40 km Phía Bắc giáp huyện Cẩm Giàng, phía Nam giáp huyện Thanh Miện, phía Đông giáp huyện Gia Lộc, phía Tây giáp huyện Ân Thi và Mỹ Hào của tỉnh Hưng Yên Trung tâm huyện đóng tại thị trấn Kẻ Sặt, huyện có 1 thị trấn, 17 xã, 103 thôn
và khu dân cư Diện tích tự nhiên là 10.478,72 ha
2.1.2 Đặc điểm dân tộc, tôn giáo
Huyện Bình Giang có tổng số dân 109.038 người (số liệu thống kê năm 2015) đều là dân tộc kinh Trên địa bàn huyện có 02 Tôn giáo (Phật giáo và Công giáo) cùng phát triển ổn định, không có sự phân biệt tín ngưỡng, tôn giáo; các tín đồ theo tôn giáo khác nhau cùng chung sống hài hòa trong cộng đồng xã hội Trong đó Công giáo có 7.754 tín đồ, tập trung chủ yếu ở thị trấn Kẻ Sặt và
xã Tráng Liệt; trong 2 Giáo xứ lớn là: Kẻ Sặt, An Tôn và 5 họ đạo đều thuộc giáo phận Hải Phòng; có Nhà thờ lớn Kẻ Sặt, nhà thờ Giáo xứ An Tôn được xây dựng từ thế kỉ XIX
2.1.3 Đặc điểm kinh tế
Bình Giang là một huyện chủ yếu là nông nghiệp, đang đẩy nhanh phát triển mạnh dịch vụ, thương mại và công nghiệp Năm 2015 thu ngân sách trên địa bàn huyện đạt 140 tỷ 391 triệu đồng (đạt 158,1% so với KH tỉnh giao), bằng 150,6% kế hoạch huyện phấn đấu Tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng 9,7%
so với năm 2014 Trong đó sản xuất nông nghiệp tăng 0,2% Giá trị sản xuất