1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Thế giới nghệ thuật trong sáng tác của Tô Hoài về đề tài miền núi (LV thạc sĩ)

108 341 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thế giới nghệ thuật trong sáng tác của Tô Hoài về đề tài miền núi (LV thạc sĩ)Thế giới nghệ thuật trong sáng tác của Tô Hoài về đề tài miền núi (LV thạc sĩ)Thế giới nghệ thuật trong sáng tác của Tô Hoài về đề tài miền núi (LV thạc sĩ)Thế giới nghệ thuật trong sáng tác của Tô Hoài về đề tài miền núi (LV thạc sĩ)Thế giới nghệ thuật trong sáng tác của Tô Hoài về đề tài miền núi (LV thạc sĩ)Thế giới nghệ thuật trong sáng tác của Tô Hoài về đề tài miền núi (LV thạc sĩ)Thế giới nghệ thuật trong sáng tác của Tô Hoài về đề tài miền núi (LV thạc sĩ)Thế giới nghệ thuật trong sáng tác của Tô Hoài về đề tài miền núi (LV thạc sĩ)Thế giới nghệ thuật trong sáng tác của Tô Hoài về đề tài miền núi (LV thạc sĩ)Thế giới nghệ thuật trong sáng tác của Tô Hoài về đề tài miền núi (LV thạc sĩ)Thế giới nghệ thuật trong sáng tác của Tô Hoài về đề tài miền núi (LV thạc sĩ)Thế giới nghệ thuật trong sáng tác của Tô Hoài về đề tài miền núi (LV thạc sĩ)

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

PHẠM MỸ NHẬT ANH

THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG SÁNG TÁC

CỦA TÔ HOÀI VỀ ĐỀ TÀI MIỀN NÚI

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

PHẠM MỸ NHẬT ANH

THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG SÁNG TÁC

CỦA TÔ HOÀI VỀ ĐỀ TÀI MIỀN NÚI

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 60 22 01 21

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Đào Thủy Nguyên

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố trong bất

kì công trình nào Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này

Thái Nguyên, ngày 20 tháng 04 năm 2016

Tác giả

Phạm Mỹ Nhật Anh

Xác nhận của giáo viên hướng dẫn Xác nhận của khoa chuyên môn

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, các phòng ban chức năng, Phòng Đào tạo (bộ phận Sau đại học), Khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, cùng toàn thể các thầy cô giáo đã tham gia giảng dạy và hướng dẫn nghiên cứu khoa học cho tập thể lớp Cao học K22 - Văn học Việt Nam đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu khoa học

Xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới PGS.TS Đào Thủy Nguyên - người thầy, người mẹ tận tình trong công việc đã truyền thụ cho tôi nhiều kiến thức quý báu cũng như kinh nghiệm nghiên cứu khoa học trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài

Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè, các học viên lớp Cao học K22 - Văn học Việt Nam đã động viên, khích lệ, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua

Xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 20 tháng 04 năm 2016

Tác giả

Phạm Mỹ Nhật Anh

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Trang bìa phụ

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

4 Giới thuyết khái niệm Thế giới nghệ thuật 8

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 10

6 Phương pháp nghiên cứu 10

7 Đóng góp của đề tài 10

8 Cấu trúc của đề tài 11

NỘI DUNG 12

Chương 1 THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG SÁNG TÁC CỦA TÔ HOÀI VỀ ĐỀ TÀI MIỀN NÚI 12

1.1 Tô Hoài và những sáng tác về đề tài miền núi 12

1.1.1 Vài nét về tiểu sử và con người nhà văn Tô Hoài 12

1.1.2 Đề tài miền núi trong sáng tác của Tô Hoài 14

1.2 Quan niệm nghệ thuật về con người của Tô Hoài trong những sáng tác về miền núi 16

1.3 Các kiểu loại nhân vật trong sáng tác của Tô Hoài về đề tài miền núi 17

1.3.1 Khái niệm và phân loại nhân vật 17

1.3.2 Phân loại thế giới nhân vật trong sáng tác của Tô Hoài về đề tài miền núi 18

1.3.2.1 Những con người nghèo khổ, bất hạnh, nạn nhân của thần quyền và cường quyền 19

Trang 6

1.3.2.2 Những con người dũng cảm đấu tranh cho hạnh phúc cá nhân và độc

lập tự do của dân tộc 28

1.2.4 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 35

1.2.4.1 Khắc họa nhân vật qua ngoại hình 35

1.2.4.2 Khắc họa nhân vật qua hành động 38

1.2.4.3 Khắc họa nhân vật qua tâm lí 40

1.2.4.4 Khắc họa nhân vật qua ngôn ngữ 44

Tiểu kết: 48

Chương 2 THỜI GIAN NGHỆ THUẬT TRONG SÁNG TÁC CỦA TÔ HOÀI VỀ ĐỀ TÀI MIỀN NÚI 49

2.1 Khái niệm và phân loại Thời gian nghệ thuật 49

2.1.1 Khái niệm Thời gian nghệ thuật 49

2.1.2 Phân loại thời gian nghệ thuật 50

2.2 Các kiểu loại thời gian nghệ thuật trong sáng tác của Tô Hoài về đề tài miền núi 51

2.2.1 Thời gian sự kiện 51

2.2.1.1 Thời gian sự kiện lịch sử 51

2.2.1.2 Thời gian sự kiện đời tư 56

2.2.2 Thời gian tâm lí 59

2.2.2.1 Thời gian hiện tại 59

2.2.2.2 Thời gian quá khứ 62

2.2.2.3 Thời gian tương lai 65

2.2.2.4 Thời gian đồng hiện 68

Tiểu kết: 71

Chương 3 KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT TRONG SÁNG TÁC CỦA TÔ HOÀI VỀ ĐỀ TÀI MIỀN NÚI 72

3.1 Không gian và phân loại Không gian nghệ thuật 72

3.1.1 Khái niệm Không gian nghệ thuật 72

3.1.2 Phân loại không gian nghệ thuật 73

Trang 7

3.2 Các kiểu loại không gian nghệ thuật trong sáng tác của Tô Hoài về đề

tài miền núi 74

3.2.1 Không gian thiên nhiên 74

3.2.1.1 Không gian thiên nhiên u ám, đen tối, dữ dội 75

3.2.1.2 Không gian thiên nhiên tươi đẹp, trong sáng, nên thơ 78

3.2.2 Không gian xã hội 83

3.2.2.1 Không gian xã hội ngột ngạt, tăm tối 84

3.2.2.2 Không gian tươi sáng, nhộn nhịp, căng tràn sức sống 91

Tiểu kết: 94

KẾT LUẬN 96

TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Văn học viết về đề tài miền núi là một bộ phận quan trọng của văn học

Việt Nam hiện đại Trong đó văn xuôi viết về đề tài miền núi là mảng sáng tác thành công, đạt được nhiều thành tựu đáng kể, góp phần hoàn thiện văn học viết về miền núi Địa bàn miền núi rộng lớn, con người miền núi hiền lành, giàu lòng yêu thương đất nước, giàu ý chí cách mạng đã được khám phá, miêu tả qua nhiều tác phẩm có giá trị Lực lượng sáng tác mảng đề tài này ngày một đông, có tác giả là người miền núi,

có người từ miền xuôi vốn “để thương để nhớ” đồng bào vùng dân tộc mà viết Cùng

với chính sách dân tộc đúng đắn của Đảng, văn học viết về miền núi dần dần có vị trí

và được khẳng định Tuy còn non trẻ nhưng văn học viết về miền núi đã góp phần không nhỏ làm cho vườn hoa văn học Việt Nam thêm nhiều hương sắc Trong rất nhiều cây bút viết về đề tài miền núi, Tô Hoài thuộc trong số tác giả có nhiều thành công nhất

1.2 Tô Hoài là cây bút văn xuôi sắc sảo, đa dạng, có vị trí đặc biệt quan trọng

trong nền văn học Việt Nam, là một trong số những nhà văn có nhiều đóng góp to lớn cho sự phát triển của nền văn học Việt Nam hiện đại Ông được coi là cây đại thụ của nền văn học Việt Nam Sáng tác của ông được độc giả nhiều thế hệ say mê Tính từ thuở trình làng chú Dế Mèn hào hiệp thích ngao du, cho đến nay nhà văn đã cho ra đời gần 200 đầu sách Có thể thấy, hiếm có một nhà văn nào lại có tuổi đời và tuổi nghề gắn bó với công việc sáng tạo nghệ thuật chung thủy như Tô Hoài Điều đáng ghi nhận ở nhà văn này là sức viết dẻo dai, bền bỉ Sáng tác của Tô Hoài rất phong phú, nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại: truyện ngắn, bút kí, tiểu thuyết, lí luận, kinh nghiệm sáng tác và văn học thiếu nhi… Tô Hoài là người hiểu nhiều biết rộng, sự nghiệp sáng tác của ông bao trùm nhiều mặt của đời sống, mỗi chặng đường sáng tác của Tô Hoài đều gắn với các chặng đường của lịch sử xã hội Việt Nam

1.3 Tô Hoài sáng tác cả ở hai thời kì trước và sau Cách mạng tháng Tám

Sáng tác của ông đã phản ánh được nhiều sự kiện quan trọng của đất nước và đạt được nhiều giá trị thẩm mĩ phong phú Một trong những mảng đề tài thành công nhất trong sự nghiệp sáng tạo của Tô Hoài là những tác phẩm viết về đề tài miền

Trang 9

núi Đặc biệt “Tô Hoài còn là người đầu tiên đặt viên gạch xây nền cho văn học viết

về các dân tộc ít người” [34, tr 151] Nếu như trước Cách mạng tháng Tám, người

đọc biết đến Tô Hoài qua Dế Mèn phiêu lưu kí, O chuột, Giăng thề, Cỏ dại… thì

sau Cách mạng tháng Tám, tên tuổi Tô Hoài càng được bạn đọc quan tâm hơn với

những sáng tác dồi dào, phong phú đậm chất miền núi như: Núi cứu quốc, Truyện

Tây Bắc, Miền Tây, Họ Giàng ở Phìn Sa, Nhớ Mai Châu… Trong số những sáng

tác này có những tác phẩm đã được dịch ra nhiều thứ tiếng, được nhận những giải thưởng cao quý và được chuyển thành phim truyền hình

Hiện nay, Tô Hoài là một trong những tác gia lớn được giảng dạy ở các trường đại học, trường phổ thông Tuy đã có nhiều công trình nghiên cứu về Tô Hoài nhưng sáng tác của ông về đề tài miền núi vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ,

hệ thống, toàn diện Từ thực tế đó tôi quyết định thực hiện đề tài: “Thế giới nghệ

thuật trong sáng tác của Tô Hoài về đề tài miền núi” với mong muốn đóng góp

một phần nhỏ giúp cho độc giả yêu thích văn chương Tô Hoài có cái nhìn toàn diện, đầy đủ và sâu sắc hơn về tác phẩm của ông Từ đó góp phần thiết thực vào việc dạy

và học tác giả và tác phẩm Tô Hoài ở các cấp học

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Những công trình nghiên cứu tổng quan về sáng tác của Tô Hoài

Trên hành trình hơn 70 năm sáng tạo nghệ thuật, Tô Hoài và những sáng tác của ông được rất nhiều nhà nghiên cứu phê bình quan tâm Cho đến nay đã có hàng trăm công trình nghiên cứu về nhiều phương diện trong sáng tác của Tô Hoài Chúng tôi xin được viện dẫn một số bài viết tiêu biểu sau:

Nhận định về sự nghiệp của nhà văn Tô Hoài, Phạm Xuân Nguyên - Chủ tịch

Hội Nhà văn Hà Nội khẳng định: “Tô Hoài là một nhà văn lớn của văn học Việt Nam

hiện đại, người có 95 tuổi đời nhưng đã dành hơn 70 năm đóng góp cho văn học Ông là nhà văn chuyên nghiệp ( ) Văn chương của ông hướng về những con người,

số phận, cuộc đời lấm láp, đời thường Ông ra đi vì tuổi trời nhưng văn chương của ông vẫn còn nguyên giá trị” [2]

Trang 10

Nhà văn Nga Marian Tkachov đánh giá Tô Hoài là “một trong những người

viết văn xuôi hay nhất Việt Nam” [47]

Nhà thơ Trần Đăng Khoa đã nhận xét: “Tô Hoài là một pho từ điển sống, một

pho sách sống Ông như cuốn Bách khoa Toàn thư mà không Viện sĩ nào, không Học giả nào có thể sánh được” [12]

Tưởng niệm về nhà văn Tô Hoài, nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Thanh Xuân

bày tỏ: “Văn chương Tô Hoài sẽ còn mãi, xanh biếc theo thời gian vì nó lưu giữ cho

chúng ta đời sống, vì nó phả lại nhịp đập của lịch sử, vì nó nói lên câu chuyện muôn đời của kiếp nhân sinh” [66]

Ngoài các công trình nghiên cứu tiêu biểu vừa kể trên còn có rất nhiều công trình nghiên cứu đặc sắc khác về Tô Hoài và các sáng tác của ông như:

Tô Hoài và câu chuyện nghề văn (Vĩnh Quang Lê)

Tô Hoài, ra đi từ làng Nghĩa Đô (Phạm Hương)

Cảm nhận thời gian của Tô Hoài (Nguyễn Long)

Tô Hoài Từ điển văn học (Nguyễn Văn Long)

Tô Hoài, văn và đời (Vũ Quần Phương)

2.2 Những công trình nghiên cứu về thế giới nghệ thuật trong sáng tác về miền núi của Tô Hoài

Có nhiều công trình nghiên cứu về đề tài miền núi của Tô Hoài Ở đây, tôi xin được đề cập đến những bài viết có liên quan đến thế giới nghệ thuật trong những sáng tác của Tô Hoài về đề tài miền núi

* Về thế giới nhân vật

Thế giới nhân vật của Tô Hoài khá đông đúc, đa dạng, bình dị, đời thường Trước Cách mạng tháng Tám, Tô Hoài được người đọc biết sớm qua những truyện ngắn, truyện dài viết về người dân quê và về loài vật Cách mạng tháng Tám là cột mốc đánh dấu một bước chuyển biến quan trọng trong tư tưởng và sáng tác của Tô Hoài Tô Hoài bám sát kịp thời các vấn đề mới của đời sống Hòa mình vào dòng chảy chung của sự nghiệp cách mạng, những sáng tác của Tô Hoài có sự đổi mới về chủ đề và đề tài, dẫn đến sự thay đổi căn bản về thế giới nhân vật

Trang 11

Trong bài viết Sáng tác của Tô Hoài, nhà nghiên cứu Vân Thanh đã cung cấp

cho người đọc cái nhìn khách quan, tổng thể, bao quát nhất về chặng đường sáng tác của Tô Hoài từ trước đến sau Cách mạng tháng Tám Nhà nghiên cứu đã chỉ ra sự

chuyển mình trong thế giới nhân vật của Tô Hoài Đó là “Từ cuộc sống quẩn quanh,

chật hẹp của một vùng dân nghèo thợ thủ công, đã chuyển sang cảnh sống rộng lớn tưng bừng của nhiều lớp người ở nhiều địa phương, hào hứng đi theo cách mạng và tham gia kháng chiến, trong đó nổi bật là cuộc sống với những thay đổi, cách mạng của đồng bào dân tộc thiểu số” [34, tr 66] Ở bài viết này người nghiên cứu nhấn

mạnh đến đóng góp nổi bật nhất trong sự nghiệp sáng tác của Tô Hoài là những tác phẩm viết về đề tài miền núi Đi vào từng tác phẩm tiêu biểu nhà nghiên cứu Vân Thanh mang đến cho người đọc sự hiểu biết nhất định về thế giới nhân vật trong sáng tác của Tô Hoài ở mảng đề tài miền núi

Trong công trình nghiên cứu của Mai Thị Nhung Phong cách nghệ thuật Tô

Hoài cũng đã khái quát thế giới nhân vật trong sáng tác của Tô Hoài về đề tài miền

núi Họ là những con người sống có: “ý thức và trách nhiệm công dân của mình Khi

đất nước có giặc ngoại xâm, là những người công dân bình thường, họ đã đặt lợi ích của dân tộc, của cộng đồng lên trên lợi ích của gia đình, của bản thân và sẵn sàng chiến đấu hi sinh vì nền độc lập tự do của dân tộc” [48, tr 67]

Đến với tập truyện Núi Cứu quốc - sáng tác miền núi đầu tiên của Tô Hoài,

nhà nghiên cứu Vân Thanh đã nhận xét rất kĩ Điều đặc biệt là khi nghiên cứu tác phẩm này, Vân Thanh đã phát hiện và chỉ ra cho chúng ta thấy hình ảnh nhân vật

người nông dân miền núi Nhà nghiên cứu khẳng định: “Tác phẩm cho ta hiểu con

người miền núi đúng với bản chất của họ là những con người thật thà, chất phác, chung thủy, có một lòng tin đặc biệt ở cách mạng (…) Đồng bào ở đây sốt rét quanh năm, “mỗi năm thường thiếu ăn đến ba bốn tháng”, nhưng họ không tiếc sức tiếc công để ủng hộ cách mạng, ủng hộ cán bộ và Bộ đội Cụ Hồ” [34, tr 71] Họ là những

con người yêu quê hương, đất nước, yêu cách mạng, có sự giác ngộ trong tư tưởng chính trị sâu sắc

Đánh giá Truyện Tây Bắc nhà nghiên cứu Vân Thanh nhận xét: “Tập truyện

nhằm phản ánh chung cuộc đấu tranh giai cấp của nhân dân các dân tộc miền núi

Trang 12

chống chế độ áp bức của phong kiến, thực dân, đồng thời ca ngợi cách mạng đã giải phóng cho nhân dân Tây Bắc thoát khỏi cuộc đời tối tăm, ca ngợi những con người miền núi, nhất là lớp thanh niên đã vùng dậy làm chủ cuộc sống của mình, ca ngợi tinh thần đoàn kết giữa các dân tộc” [34, tr 71-72]

Nghiên cứu về Tô Hoài, trong bài viết Tô Hoài, nhà nghiên cứu Trần Hữu Tá

có đưa ra một số cách phân loại nhân vật trong mảng đề tài viết về miền núi Nhà

nghiên cứu đã đưa ra nhận định xác đáng khi cho rằng: “Nếu xét về nhân vật thì hình

tượng nghệ thuật chủ yếu trong sáng tác của Tô Hoài là người nông dân Họ có thể khác nhau về hình tượng tập quán, thói quen sinh hoạt do đặc điểm địa phương và dân tộc quy định, nhưng về bản chất giai cấp giống nhau: cần cù, chất phác, tình

nghĩa quật cường” [34, tr 158] Đặc biệt khi đi sâu nghiên cứu Truyện Tây Bắc,

nhà nghiên cứu Trần Hữu Tá đã nhận định: Thành công quan trọng nhất của tập truyện

này là “làm rõ lên được, bằng sức mạnh của hình tượng nghệ thuật, con đường đến

với cách mạng của người dân miền núi, thể hiện sự gắn bó tất yếu giữa chủ đề giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp nông dân” [34, tr 155]

Tập truyện Truyện Tây Bắc được nhà nghiên cứu Hoàng Trung Thông đánh giá rất kĩ qua bài viết Tô Hoài và Truyện Tây Bắc Đặc biệt khi nghiên cứu tập

truyện này, Hoàng Trung Thông đã phát hiện và chỉ ra cho chúng ta thấy tính cách và

tâm hồn con người miền núi qua nhân vật ông Mờng trong truyện Mường Giơn:

“Ông Mờng tiêu biểu cho người nông dân nghèo miền núi: lầm lì ít nói nhưng gan

góc bướng bỉnh, đối với giặc bề ngoài có vẻ sợ sệt nhưng bên trong thì thật cháy căm thù và chứa đựng một tinh thần bất khuất Tâm hồn ông chất phác chân thật nhưng không bao giờ ông tin lũ giặc (…) Trải qua bao nhiêu đau khổ, thử thách rèn luyện, ông Mờng càng bộc lộ tất cả những đức tính trung kiên của người nông dân nghèo miền núi” [34, tr 225]

Đồng quan điểm với nhà nghiên cứu Hoàng Trung Thông, qua bài viết Truyện

Tây Bắc của Tô Hoài, nhà nghiên cứu Huỳnh Lý chứng minh rằng: “Nhân dân các

dân tộc Tây Bắc tuy sinh hoạt, phong tục, tính cách, có những khác biệt này nọ nhưng vẫn giống nhau về căn bản ở lòng căm thù đế quốc và phong kiến, ở sự tin cậy đối với Đảng, ở khả năng vùng dậy, ở lòng tin tưởng vào tương lai” [34, tr 233]

Trang 13

Bài viết Quan niệm nghệ thuật về con người trong truyện ngắn Tô Hoài

về miền núi của nhà nghiên cứu Nguyễn Long là bài viết rất thiết thực Nhà nghiên

cứu đã phân tích làm rõ quan niệm nghệ thuật về con người trong sáng tác của Tô

Hoài về đề tài miền núi “có điểm đáng chú ý là nhà văn thể hiện họ với phẩm chất

ngoan cường và tràn đầy niềm tin tưởng ở một ngày tốt đẹp hơn” [34, tr 440], dù

trong hoàn cảnh nào họ cũng không buông xuôi

Trong bài viết Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài, tác giả Nguyễn Văn Long khẳng

định tài năng của Tô Hoài trong việc khắc họa đời sống nội tâm nhân vật: “Tác giả

đã diễn tả được những chuyển biến tinh tế trong nội tâm nhân vật, nhưng vẫn giữ được tính chất tự nhiên, phác thực của con người miền núi trong các nhân vật của mình, tránh được cái nhìn giản đơn cũng như cách tô vẽ giả tạo khi viết về những con người miền núi” [34, tr 255]

Nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ đánh giá cao giá trị sử dụng ngôn từ của Tô Hoài

trong việc thể hiện tâm hồn, suy nghĩ, tính cách con người miền núi qua bài viết Tô

Hoài với Miền Tây: “Tô Hoài đã cố gắng tạo cho các nhân vật của mình có một

ngôn ngữ riêng, những ngôn ngữ phản ánh tính cách Tác giả đã tìm tòi, sáng tạo và

sử dụng một thứ ngôn ngữ có thể diễn tả được tâm hồn và nếp nghĩ của đồng bào miền núi hơn là chạy theo bắt chước, nhại lại tiếng nói địa phương” [34, tr 344]

* Về thời gian nghệ thuật, không gian nghệ thuật

Cuốn Tô Hoài về tác gia và tác phẩm là cuốn sách tập hợp các ý kiến đánh giá,

nhận xét của các nhà nghiên cứu về tất cả các phương diện trong sáng tác của Tô Hoài, trong đó có phương diện thời gian nghệ thuật, không gian nghệ thuật

Bài viết Tô Hoài - phác họa nhà văn Bùi Hiển khi phác họa chân dung Tô

Hoài rất tâm đắc với sự sáng tạo của Tô Hoài khi miêu tả không gian, thời gian trong

Vợ chồng A Phủ Nhà văn gọi đó là “không gian giàu chất thơ, chất nhạc”, và “thời

gian tâm lý ngưng bế, thảm thê” của nhân vật Mỵ Nhà văn còn nhận ra đặc sắc trong

nghệ thuật kể chuyện của Tô Hoài “…thiên về thị giác, một thứ thị giác tinh nhạy,

đầy màu sắc và ấn tượng, cảm xúc, nói rộng ra hơn nữa là thiên về cảm giác, về cảm nhận trực quan cụ thể, về biểu hiện của các sắc thái tình cảm gần gũi thầm kín” [34,

tr 104]

Trang 14

Vân Thanh là người nghiên cứu rất nhiều về văn chương Tô Hoài cũng đã đưa

ra những nhận xét rất chính xác: “Tác phẩm của Tô Hoài có những trang viết rất hay

khi miêu tả sinh hoạt Anh có tài dựng khung cảnh gắn bó với con người Cảnh vật luôn gợi cho ta hình dung được những sắc thái riêng của miền núi, nhất là miền núi trong sự đổi thay của hai chế độ, hai cuộc đời mới, cũ” [34, tr 76] Đánh giá bút pháp

miêu tả không gian trong sáng tác của Tô Hoài, nhà nghiên cứu viết: “Thiên nhiên

đóng vai trò quan trọng trong sáng tác của Tô Hoài Thiên nhiên mang đầy hương sắc, mùi vị” [34, tr 76]

Nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ cũng đưa ra những nhận xét tương tự về bút pháp

của Tô Hoài, ông nhận định: “Trong tác phẩm của Tô Hoài, ngoài những bức tranh

nói về đời sống xã hội, về đấu tranh giai cấp, người đọc còn bị thu hút bởi những trang miêu tả phong tục, sinh hoạt với nhiều màu sắc dân tộc đậm đà, những chi tiết độc đáo, sinh động của một cây bút có óc quan sát thông minh, tinh tế ” [34, tr 97]

Khi đánh giá thành công của Tô Hoài trong tiểu thuyết Miền Tây, nhà nghiên cứu

Phan Cự Đệ cũng có những nhận xét xác đáng: “Thành công chủ yếu của Miền Tây

là những bức tranh so sánh hai cảnh đối trái ngược, những bức tranh phản ánh sâu sắc phong tục, sinh hoạt, đời sống xã hội của nông dân miền núi với nhiều màu sắc

và chi tiết sinh động, thay thế nhau qua từng chương sách như những chuyển cảnh trong điện ảnh ” [34, tr 85]

Nhà nghiên cứu Huỳnh Lý đánh giá cao khả năng tả cảnh của Tô Hoài: “Tô

Hoài đã đạt đến kết quả mà ông mong muốn: Cảnh và người Tây Bắc hiện ra hài hòa đường nét, ấm màu sắc và êm ái âm thanh Cảnh Tây Bắc đẹp như một bức tranh, đẹp như ta thấy trong những bức tranh của Hoàng Kiệt ” [34, tr 239] Đồng tình

với nhận xét của Huỳnh Lý, nhà nghiên cứu Hà Minh Đức khẳng định thêm: “Tô

Hoài giỏi miêu tả thiên nhiên Thiên nhiên trong tác phẩm của ông gồm nhiều màu

vẻ từ những cảnh thơ mộng gợi cảm đến một thiên nhiên khắc nghiệt, hung dữ Tô Hoài miêu tả thiên nhiên theo một cách nhìn ngắm tự nhiên, nhẹ nhàng Không có dấu vết ngăn cách giữa khung cảnh thiên nhiên và bức tranh xã hội Từ tả người đến

tả cảnh, từ xã hội đến thiên nhiên, mạch văn của ông vận động tự nhiên và biện chứng Trong tác phẩm của ông, thiên nhiên luôn có mặt và dường như là một nhân vật có cuộc sống, có tâm hồn” [34, tr 137-138]

Trang 15

Trong công trình nghiên cứu của Mai Thị Nhung Phong cách nghệ thuật Tô

Hoài đã phát hiện ra rằng: “Thiên nhiên trong cảm quan của Tô Hoài mang đậm hình

ảnh bình dị, khách quan như trong cuộc sống thực Có ánh sáng, có bóng tối, có mặt trời, có sương có nắng, có cây cỏ chim muông ( ) và thiên nhiên ấy luôn theo sát cuộc sống sinh hoạt của con người” [48, tr 53]

Trần Hữu Tá khi nghiên cứu tìm hiểu sáng tác của Tô Hoài thời kỳ sau Cách

mạng tháng Tám qua bài viết Tô Hoài đã nhấn mạnh mảng đề tài thu hút tâm lực của

Tô Hoài trong giai đoạn này là: “…cuộc sống và con người miền núi” [34, tr 151] Đặc biệt “Tô Hoài dành nhiều công sức mô tả cuộc đấu tranh của nhân dân Phiềng

Sa để giành và giữ thành quả tốt đẹp của cách mạng: Đấu tranh chống tư tưởng lạc hậu, tập tục mê tín dị đoan - tàn dư của chế độ cũ - xua tan đi lòng sợ hãi đủ mọi thứ

ma trời, ma đất, ma gió, ma rừng, ma núi, ma người… Đấu tranh giai cấp, đấu tranh chính trị để chống bọn phản động đang lén lút hoạt động dưới sự chỉ đạo chặt chẽ của đế quốc Mỹ” [34, tr 156]

Tựu trung, vấn đề thế giới nghệ thuật trong sáng tác của Tô Hoài về đề tài miền núi đã được một số nhà nghiên cứu quan tâm Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu vấn đề này một cách chuyên biệt, đầy đủ và có hệ thống Tiếp thu và phát triển những ý kiến quý báu của những người đi trước, chúng tôi đi sâu vào nghiên

cứu thực hiện đề tài: “Thế giới nghệ thuật trong sáng tác của Tô Hoài về đề tài

miền núi”

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu vấn đề: “Thế giới nghệ

thuật trong sáng tác của Tô Hoài về đề tài miền núi”

Phạm vi tài liệu nghiên cứu: Các sáng tác của Tô Hoài về đề tài miền núi, sáng tác của các nhà văn khác về miền núi để so sánh tìm ra nét riêng của Tô Hoài

4 Giới thuyết khái niệm Thế giới nghệ thuật

Thế giới nghệ thuật là một vấn đề có ý nghĩa lí luận, có vai trò thực tiễn quan trọng trong sáng tạo và nghiên cứu văn học Bởi thế giới nghệ thuật là tập hợp tất cả các phương thức, hình thức nghệ thuật biểu hiện mà nhà văn sử dụng để phản ánh và sáng tạo hiện thực, đồng thời thế giới nghệ thuật còn thể hiện quan niệm riêng, có

Trang 16

tính riêng của mỗi chủ thể sáng tạo Do đó việc nghiên cứu thế giới nghệ thuật là cần thiết, nó vừa cho ta hiểu hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm, quan niệm của tác giả

về thế giới, vừa có thể khám phá thế giới bên trong ẩn kín của nhà văn, cái thế giới chi phối sự hình thành phong cách nghệ thuật Thế giới nghệ thuật là thế giới hình tượng được sáng tạo, xây dựng lên trong tác phẩm theo nguyên tắc tư tưởng thẩm mỹ nhất định của người nghệ sĩ Gắn với một thế giới nghệ thuật là một quan niệm riêng,

cá tính sáng tạo riêng của mỗi chủ thể sáng tạo Do đó việc xác định thế giới nghệ thuật sẽ có rất nhiều quan điểm khác nhau và chưa có ý kiến thống nhất

Trong công trình nghiên cứu Sự hình thành và những vấn đề chủ nghĩa hiện

thực xã hội trong văn học Việt Nam hiện đại, tác giả Nguyễn Nghĩa Trọng đã xác

định: “Thế giới nghệ thuật là một phạm trù mỹ học bao gồm tất cả các yếu tố của quá

trình sáng tạo nghệ thuật và tất cả kết quả của quá trình hoạt động nghệ thuật của nhà văn Nó là một chỉnh thể nghệ thuật và một giá trị thẩm mỹ Thế giới nghệ thuật bao gồm hiện thực - đối tượng khách quan của nhận thức nghệ thuật, cá tính sáng tạo của nhà văn hay chủ thể nhận thức nghệ thuật, ngôn ngữ hay chất liệu nghệ thuật ( ) Thế giới nghệ thuật là thiên nhiên thứ hai được người nghệ sĩ tạo dựng trong đó chứa đựng hiện thực và quan niệm về hiện thực, tự nhiên và con người là thế giới sinh động và

đa dạng vô cùng, mỗi nhà văn, mỗi trào lưu văn học, mỗi dân tộc, mỗi thời kì lịch sử đều có thế giới nghệ thuật riêng của mình” [64, tr 86]

Nhóm tác giả Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi định nghĩa: “Thế

giới nghệ thuật là khái niệm chỉ tính chỉnh thể của sáng tạo nghệ thuật (một tác phẩm, một loại hình tác phẩm, một tác giả, một trào lưu) Thế giới nghệ thuật nhấn mạnh rằng sáng tác nghệ thuật là một thế giới riêng được tạo ra theo các nguyên tắc riêng tư tưởng, nghệ thuật Thế giới nghệ thuật có thời gian, không gian riêng, có quy luật tâm lí riêng,

có quan hệ xã hội riêng, quan niệm đạo đức, thang bậc giá trị ” [14, tr 303]

Tác giả Hoàng Thị Thanh Nhàn trong luận văn thạc sĩ Thế giới nghệ thuật trong

thơ Mai Văn Phấn đưa ra cách định nghĩa: “Thế giới nghệ thuật là hình tượng được

sáng tạo, xây dựng lên trong tác phẩm nghệ thuật theo những nguyên tắc – tư tưởng thẩm mỹ nhất định của người nghệ sĩ Đó là một chỉnh thể nghệ thuật sống động, cảm tính, được xây cất bằng vật liệu ngôn từ và các phương thức, phương tiện nghệ thuật đặc

Trang 17

thù Là đứa con tinh thần của nghệ sĩ, thế giới nghệ thuật luôn hàm chứa và thể hiện quan niệm riêng của người nghệ sĩ về thế giới, con người và bản thân sự sáng tạo Đó không phải là một thế giới tĩnh mà là một thế giới động, phản ánh những biến chuyển tinh vi và phức tạp trong tư tưởng người nghệ sĩ” [45, tr 9]

Như vậy “Thế giới nghệ thuật của nhà văn hiểu đúng nghĩa của nó là một chỉnh

thể, đã là chỉnh thể tất phải có cấu trúc nội tại theo những nguyên tắc thống nhất, cũng

có nghĩa là quan hệ nội tại giữa các yếu tố phải có tính quy luật” [42, tr 34] Thế giới

nghệ thuật bao gồm tất cả các yếu tố, cấp độ sáng tạo nghệ thuật như nhân vật, ngôn ngữ, giọng điệu, không gian, thời gian, quan niệm nghệ thuật Mỗi cấp độ yếu tố này lại có một chỉnh thể nhỏ hơn đặt trong mối quan hệ biện chứng nhất định, xâu chuỗi với các yếu tố khác Tuy nhiên, trong khuôn khổ của luận văn và qua thực tiễn khảo sát tác phẩm, chúng tôi chỉ đi sâu khai thác một số biểu hiện rõ nhất của thế giới nghệ thuật trong sáng tác của Tô Hoài về miền núi, đó là: Thế giới nhân vật, thời gian nghệ thuật, không gian nghệ thuật

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm rõ những nét đặc sắc của “Thế giới nghệ thuật trong sáng tác của Tô

Hoài về đề tài miền núi” ở các phương diện cơ bản như: thế giới nhân vật, không

gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật Từ đó có cái nhìn đầy đủ hơn về các sáng tác của nhà văn

- Góp phần khẳng định sự đóng góp của Tô Hoài trong mảng đề tài miền núi nói riêng và nền văn xuôi Việt Nam hiện đại nói chung

6 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp khảo sát, thống kê

Trang 18

Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện thế giới nghệ thuật của Tô Hoài trong những sáng tác về đề tài miền núi Kết quả của công trình nghiên cứu góp phần khẳng định nét riêng trong phong cách nghệ thuật của Tô Hoài và khẳng định vị trí của ông trong nền văn học Việt Nam hiện đại Kết quả của luận văn ít nhiều sẽ góp phần gợi mở một hướng tiếp cận mới cho các sáng tác của Tô Hoài khi viết về đề tài miền núi Luận văn có thể sẽ là những gợi ý tích cực cho học sinh, sinh viên và giáo viên trong quá trình học tập, nghiên cứu và giảng dạy Tô Hoài ở các cấp học

8 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận và Tài liệu tham khảo, phần Nội dung gồm

3 chương:

Chương 1: Thế giới nhân vật trong sáng tác của Tô Hoài về đề tài miền núi Chương 2: Thời gian nghệ thuật trong sáng tác của Tô Hoài về đề tài miền núi Chương 3: Không gian nghệ thuật trong sáng tác của Tô Hoài về đề tài miền núi

Trang 19

NỘI DUNG Chương 1 THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG SÁNG TÁC CỦA TÔ HOÀI

VỀ ĐỀ TÀI MIỀN NÚI 1.1 Tô Hoài và những sáng tác về đề tài miền núi

1.1.1 Vài nét về tiểu sử và con người nhà văn Tô Hoài

* Về tiểu sử

Tô Hoài tên thật là Nguyễn Sen, sinh ngày 27/9/1920 (tức 16/8 Canh Thân) Quê nội ở thị trấn Kim Bài, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây Ông sinh ra và lớn lên ở quê ngoại: làng Nghĩa Đô, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông cũ - nay là phường Nghĩa

Đô, quận Cầu Giấy, Hà Nội Bút danh Tô Hoài gắn với hai địa danh: sông Tô Lịch

và phủ Hoài Đức Trong hoạt động nghề nghiệp Tô Hoài còn sử dụng nhiều bút danh khác như: Mắt Biển, Mai Trang, Duy Phương, Hồng Hoa (dùng cho viết báo)

Sinh trưởng trong một gia đình nghèo làm nghề dệt lụa thủ công ở Nghĩa Đô, hồi nhỏ Tô Hoài đã theo mẹ, theo chị vào Hà Nội, đến các cửa hiệu tơ lụa ở Hàng Đào, Hàng Ngang để giao hàng Tô Hoài chỉ được học hết bậc tiểu học, sau đó phải

đi làm nhiều nghề để kiếm sống: dạy trẻ, làm kế toán, bán giầy, thư kí hiệu buôn Chính hoàn cảnh xuất thân và những trải nghiệm sâu sắc về cuộc sống đã trở thành nguồn tư liệu quý giá và khơi dậy cảm hứng cho Tô Hoài tạo nên những tác phẩm có giá trị nhân văn cao đẹp về sau này

Lớn lên trong hoàn cảnh đất nước đang phải gồng mình chống lại ách áp chế của chế độ phong kiến thực dân, hơn ai hết Tô Hoài là người tận mắt chứng kiến, thấu hiểu và đồng cảm với nỗi khổ của người dân, thực tế đó đã hướng ngòi bút của Tô Hoài vào con đường tố cáo hiện thực xã hội đen tối lúc bấy giờ Những sáng tác đầu tiên của ông được đăng trên “Hà Nội tân văn” và “Tiểu thuyết thứ Bảy” vào cuối những năm 30

Tô Hoài sớm ý thức về thời cuộc và quyết định đi theo lí tưởng cách mạng Năm 1938, trong thời kì Mặt trân Dân chủ, Tô Hoài tham gia phong trào ái hữu thợ dệt, làm thư kí ban trị sự Hội ái hữu thợ dệt Hà Đông Rồi tham gia phong trào thanh niên phản đế Năm 1943, ông gia nhập Hội văn hóa Cứu quốc tuyên truyền Việt Minh,

Trang 20

viết báo bí mật Đây là một bước ngoặt quyết định trong cuộc đời cầm bút của Tô Hoài

Sau Cách mạng tháng Tám, Tô Hoài tham gia phong trào Nam Tiến, rồi lên Việt Bắc làm báo Cứu quốc Từ 1951 ông về công tác ở Hội Văn nghệ Việt Nam

Sau ngày hòa bình lập lại, trong Đại hội Nhà văn lần thứ nhất, 1957, ông được bầu làm Tổng thư kí của Hội Từ 1958 đến 1980 ông tiếp tục tham gia Ban chấp hành, rồi Phó tổng thư kí Hội Nhà văn Việt Nam Từ 1966 đến 1996 ông đảm nhiệm chức Chủ tịch Hội Văn nghệ Hà Nội và nhiều chức trách xã hội khác Với những đóng góp lớn lao cho nền văn học nước nhà, Tô Hoài đã vinh dự được Nhà nước tặng thưởng nhiều huân chương trong hoạt động Cách mạng và giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 1 năm 1996 về văn học nghệ thuật

Ngày 6/7/2014 nhà văn Tô Hoài đã trút hơi thở cuối cùng, trở về với vòng tay của đất mẹ yêu thương, sự ra đi của nhà văn để lại mất mát lớn trong lòng độc giả và trong làng văn học

*Về con người

Con người Tô Hoài hội tụ được nhiều tính cách tưởng như trái ngược: sắc sảo,

dí dỏm, dễ tính nhưng lại điềm tĩnh, ít nói, thích giấu mình đi nhưng luôn có mặt khi cần thiết Ông nói năng có duyên lại nhạy cảm, ông mực thước mà vẫn đào hoa, và đào hoa một cách mực thước Đặc biệt Tô Hoài là người biết đối nhân xử thế, sống

độ lượng và bản lĩnh Tô Hoài còn là người có khả năng quan sát tinh tế, nhạy bén

như nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn nhận xét: “Tô Hoài lõi đời, sành sỏi, con ruồi

bay qua không lọt khỏi mắt” [34, tr 205]

Bản thân Tô Hoài cũng tự nhận thấy: “Tôi là người chịu khó học hỏi” [24, tr

196], đúng như vậy những kiến thức Tô Hoài có được do ông chăm chỉ đọc sách và trải nghiệm thực tế trong cuộc sống Tô Hoài là pho từ điển sống về nhà văn, về đời

sống muôn mặt, về kinh nghiệm viết văn “có lẽ trước ông và sau ông ít ai có sức viết

và tài viết như thế” [34, tr 23] Tô Hoài là tấm gương của một người lao động có tài

năng, có bản sắc và tự tin vào công việc bình dị mà cao đẹp của mình Những thành tựu đặc sắc cùng với những kinh nghiệm quý báu của ông trong sáng tạo nghệ thuật

là những đóng góp quan trọng đối với nền văn học mới

Trang 21

1.1.2 Đề tài miền núi trong sáng tác của Tô Hoài

Tô Hoài là người nghệ sĩ có ý thức lao động nghệ thuật nghiêm túc Hơn nửa thế kỉ sáng tạo nghệ thuật, Tô Hoài đã để lại cho nền văn học nước nhà một khối lượng tác phẩm đồ sộ với gần 200 đầu sách bao gồm nhiều thể tài khác nhau như tiểu thuyết, truyện ngắn, bút kí, phóng sự, lí luận, kinh nghiệm sáng tác Sáng tác của Tô Hoài không chỉ dồi dào về số lượng mà còn có chất lượng nghệ thuật cao Nhiều tác

phẩm của ông đã dược tặng các giải thưởng cao quý như: Truyện Tây Bắc (Giải nhất tiểu thuyết của Hội Văn nghệ Việt Nam, năm 1956), Miền Tây (Giải thưởng Hội Nhà văn Á - Phi, năm 1970), Quê nhà (Giải A, giải thưởng Hội Văn nghệ Việt Nam, năm

1980)

Sáng tác của Tô Hoài có những đóng góp quan trọng cho nền văn học nước nhà trước và sau cách mạng chủ yếu trên các mảng đề tài chính: Truyện về làng quê, truyện viết cho thiếu nhi, truyện về miền núi, truyện hồi ức kỉ niệm

Trước Cách mạng tháng Tám hầu hết các tác phẩm của Tô Hoài đều viết về

làng quê Đó là làng quê nghèo vùng “kẻ bưởi”, nơi ông đã sinh ra và lớn lên Dưới

ngòi bút tài năng, tinh tế của Tô Hoài cuộc sống và con người nơi đây hiện lên một

cách chân thực, sinh động qua các tác phẩm: Nhà nghèo, Giăng thề, Quê người,

Xóm giếng, Cỏ dại, Mười năm, Quê nhà Với những sáng tác này Tô Hoài đem

đến cho người đọc hình dung đầy đủ, rõ nét về cuộc sống nghèo đói, bị áp bức bóc lột nặng nề của những con người thôn quê Việt Nam những năm trước cách mạng

Bên cạnh các sáng tác về làng quê, Tô Hoài còn có các sáng tác dành cho

thiếu nhi Tiêu biểu là các tác phẩm: Dế Mèn phiêu lưu kí, Trê và Cóc, Ông Trạng

Chuối, Đám cưới Chuột, Chuột thành phố, Chuyện nỏ thần, Nhà Chử, Kim Đồng, Vừ A Dính Mỗi một truyện viết cho thiếu nhi của Tô Hoài đều mang ý

nghĩa giáo dục rất sâu sắc Ông là cây bút hàng đầu của nền văn học thiếu nhi Việt Nam

Truyện hồi ức, kỉ niệm cũng là một mảng sáng tác nổi bật của Tô Hoài Nhiều

tập hồi kí đặc sắc gắn với tên tuổi Tô Hoài như: Cỏ dại, Tự truyện, Cát bụi chân

ai, Chiều chiều Đọc hồi kí của Tô Hoài người đọc không chỉ hiểu hơn về con người

và tài năng Tô Hoài, hiểu hơn về thời đại ông sống mà người đọc còn hiểu thêm về cuộc sống quanh mình

Trang 22

Sau Cách mạng tháng Tám, Tô Hoài có sự chuyển biến mạnh mẽ về tư tưởng, sáng tác đa dạng nhiều thể loại, nhịp độ sáng tạo nghệ thuật của ông cũng tăng tiến

cả về số lượng và phẩm chất nghệ thuật Tô Hoài không bó hẹp nội dung và đối tượng phản ánh trong phạm vi của một vùng dân nghèo ngoại thành Hà Nội nơi ông từng gắn bó mà ông còn hướng đến một không gian rộng lớn, đến với cuộc sống của nhiều lớp người, nhiều vùng đất khác nhau, nổi bật nhất là miền núi Tây Bắc, Việt Bắc Tô

Hoài “là người đầu tiên đặt viên gạch xây nền cho văn học viết về các dân tộc ít

người” [34, tr 151]

Sáng tác đầu tiên về đề tài miền núi là tập truyện ngắn Núi Cứu quốc (1948)

Ở tác phẩm này ông đã thể hiện được cuộc sống vất vả, túng thiếu nhưng giàu tình nghĩa với cách mạng, cũng như ý chí quyết tâm chiến đấu của đồng bào miền núi Tuy nhiên, đây đó trong tác phẩm người đọc dường như vẫn thấy Tô Hoài còn thể hiện cái nhìn xa lạ với miền núi

Trong quá trình thâm nhập thực tế, Tô Hoài ngày càng có ý thức gắn bó, tìm hiểu đời sống của quần chúng nên những nhược điểm trong sáng tác về miền núi

trước đó đã dần được khắc phục Đặc biệt tập Truyện Tây Bắc (1953) đã đánh dấu

bước chuyển quan trọng của nhà văn cả về nội dung tư tưởng và nghệ thuật Qua tác phẩm này, Tô Hoài đã miêu tả thành công quá trình vận động cách mạng của đồng

bào Việt Bắc trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ Hơn mười năm sau tập Truyện

Tây Bắc, Miền Tây ra đời là một cố gắng đáng ghi nhận của ngòi bút Tô Hoài khi

viết về đề tài miền núi Miền Tây là sự tiếp nối và quy tụ mọi thành tựu của Truyện

Tây Bắc Miền Tây đã mở rộng phạm vi phản ánh hiện thực trên một xu hướng khái

quát hóa nghệ thuật cao hơn Tô Hoài đã dựng lên bức tranh chân thực về cuộc sống

và con người miền Tây trong những năm đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội

Tiếp tục đi sâu vào đề tài miền núi, tài năng nghệ thuật của Tô Hoài càng về

sau càng được phát huy và khẳng định qua nhiều tác phẩm có giá trị khác như: Xuống

làng (1951), Tào Lường (1955), Nhật kí vùng cao (1969), Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ (1971), Họ Giàng ở Phìn Sa (1984), Nhớ Mai Châu (1988)

Tóm lại, Tô Hoài là nhà văn luôn có những cố gắng tìm tòi, khám phá trong sáng tạo nghệ thuật Đó là yếu tố góp phần làm nên sức hấp dẫn, sức sống và ý nghĩa

Trang 23

lâu bền ở tác phẩm của ông đối với đời sống tinh thần bạn đọc nhiều thế hệ Những sáng tác của Tô Hoài về đề tài miền núi góp phần khẳng định vị trí của ông trong làng văn học Việt Nam với một phong cách nghệ thuật vừa mang nét riêng vừa đậm đà bản sắc dân tộc

1.2 Quan niệm nghệ thuật về con người của Tô Hoài trong những sáng tác về miền núi

Quan niệm nghệ thuật về con người là khái niệm cơ bản nhằm thể hiện khả năng khám phá, sáng tạo trong lĩnh vực miêu tả, thể hiện con người Nhà nghiên cứu

Trần Đình Sử cho rằng: “Quan niệm nghệ thuật về con người là một cách cắt nghĩa,

lí giải tầm hiểu biết, tầm đánh giá, tầm trí tuệ, tầm nhìn, tầm cảm của nhà văn về con người được thể hiện trong tác phẩm của mình” [55, tr 15]

Việc tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người cho phép ta tìm hiểu bản chất

xã hội của nhân vật và những lý tưởng thẩm mỹ mà nhà văn gửi gắm qua nhân vật, từ

đó thấy được giá trị của tác phẩm và thành tựu của người nghệ sĩ Ở mỗi thời kì lịch

sử, mỗi tác giả cụ thể trong một phạm vi nào đó lại có những kiến giải khác nhau về con người Với Tô Hoài, quan niệm nghệ thuật về con người thay đổi một cách biện chứng thể hiện sự đổi mới trong tư tưởng và sáng tác của ông trước và sau cách mạng

Trước cách mạng, Tô Hoài chủ yếu hướng ngòi bút của mình vào những con

người ở vùng kẻ chợ quê ông Tô Hoài quan niệm “con người là con người”, những người bình dị theo đúng nghĩa của nó, như nó vốn có, đó là “người dân thường, trong

sinh hoạt đời thường” (Nguyễn Đăng Mạnh)

Sau cách mạng, tạm biệt làng quê ven đô yên bình Tô Hoài tham gia cách

mạng, đặc biệt là sau khi gia nhập Hội văn hóa cứu quốc được tiếp xúc với nhiều trí

thức, văn nghệ sĩ tiến bộ đương thời, ngòi bút của Tô Hoài đã bắt đầu có sự thay đổi Đối tượng quan tâm của nhà văn lúc này là cuộc sống và con người vùng cao Tây Bắc, Việt Bắc Trong những sáng tác về miền núi, quan niệm về con người của Tô Hoài có sự đổi mới Những con người mà ông miêu tả không phải là những con người đời thường trong cuộc sống đời thường như trước cách mạng mà con người giờ đây được đặt trong hoàn cảnh chính trị, xã hội của những năm đầu sau cách mạng Tuy rằng vào thời kì đầu sau cách mạng khi chuyển hướng viết về đề tài miền núi ông còn

Trang 24

ảnh hưởng của lối viết cũ, do chưa kịp bắt nhịp với hiện thực cuộc sống vùng cao, chưa am hiểu tâm tư tình cảm của người lao động miền núi nên còn nhiều hạn chế trong cách nhìn thế giới và con người miền núi Nhưng ngay sau đó quan niệm nghệ

thuật về con người của Tô Hoài đã có sự biến đổi về chất Bắt đầu từ tập Truyện Tây

Bắc ông đã khắc phục được những hạn chế của thời kì trước Lúc này ông viết về

người miền núi như máu thịt của chính mình Quan niệm nghệ thuật về con người

trong sáng tác về miền núi của Tô Hoài là quan niệm “rũ bùn đứng dậy sáng lòa” (Nguyễn Đình Thi), là “từ thung lũng đau thương ra cánh đồng vui” và “từ chân trời

một người đến chân trời của mọi người” (Chế Lan Viên) Ông đã dành những trang

văn đẹp nhất, chân thực và cảm động nhất viết về quá trình vươn lên mạnh mẽ của những con người vùng cao Họ tựa như những loài cỏ dại nhỏ bé nhưng có sức sống bền bỉ và luôn khao khát ánh sáng mặt trời Từ những con người nô lệ, phụ thuộc, cuộc sống chìm trong bóng tối đau thương họ đã dần dần thức tỉnh, biết đến cách mạng và làm cách mạng hăng say

Như vậy, quan niệm nghệ thuật về con người trong sáng tác về miền núi của

Tô Hoài đã thể hiện cách nhìn con người tiến bộ của nhà văn Với quan niệm nghệ thuật này, Tô Hoài đã đánh dấu sự trưởng thành trong cách viết, sự chuyển biến về

đề tài và quan trọng hơn là sự đổi mới tư tưởng sáng tác Chính vì những điều này mà giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo trong sáng tác của Tô Hoài về miền núi ngày càng sâu sắc và có giá trị

1.3 Các kiểu loại nhân vật trong sáng tác của Tô Hoài về đề tài miền núi

1.3.1 Khái niệm và phân loại nhân vật

* Khái niệm nhân vật:

Văn học không thể thiếu nhân vật, vì đó chính là phương tiện cơ bản để nhà

văn khái quát hiện thực một cách hình tượng Nhân vật văn học là “con người được

miêu tả, thể hiện trong tác phẩm bằng phương tiện văn học” [40, tr 277]

Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Nhân vật là yếu tố cơ bản nhất trong tác

phẩm văn học, nó là tiêu điểm để bộc lộ chủ đề và tư tưởng và đến lượt mình nó lại được các yếu tố có tính chất hình thức của tác phẩm tập trung khắc họa Nhân vật đó

Trang 25

là nơi tập trung giá trị tư tưởng nghệ thuật của tác phẩm văn học… Nhân vật văn học được miêu tả qua các biến cố, xung đột, mâu thuẫn và mọi chi tiết các loại” [14, tr

235]

Nhân vật trong văn học được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, có thể

là những con người có tên, có thể là những con vật, đồ vật thậm chí nó không phải là người cụ thể mà chỉ là một hiện tượng nổi bật trong tác phẩm Nhân vật văn học là đơn vị nghệ thuật đầy tính ước lệ cho nên ta không thể đồng nhất nó với con người

có thật trong đời sống mà chỉ nên coi nhân vật trong văn học như là một yếu tố hình thức mang tính nội dung Nhân vật văn học là phương tiện khái quát hiện thực nên chức năng cơ bản của nhân vật văn học là khái quát tính cách của con người Do tính cách là một hiện tượng xã hội lịch sử nên chức năng khái quát tính cách của nhân vật văn học cũng mang tính lịch sử

Như vậy, nhân vật văn học là hình thức khái quát đời sống cho nên khi đọc tác phẩm cần phải tìm hiểu chi tiết nội dung đời sống và nội dung tư tưởng thể hiện trong nhân vật hay nói cách khác, nhân vật là hình thức văn học để phản ánh hiện thực Hình thức ấy rất đa dạng và thể hiện các khía cạnh vô cùng phong phú của cuộc sống Qua nhân vật nhà văn thể hiện quan điểm thẩm mĩ, cái nhìn khách quan của mình về cuộc sống, về con người

* Phân loại nhân vật:

Nhân vật văn học là hiện tượng hết sức đa dạng Nhìn từ nhiều góc độ khác nhau

có thể chia nhân vật văn học thành nhiều kiểu loại khác nhau:

- Căn cứ vào kết cấu, ta có: nhân vật chính, nhân vật phụ, nhân vật trung tâm

- Căn cứ vào ý thức hệ, ta có: nhân vật chính diện, nhân vật phản diện

- Căn cứ vào kiểu cấu trúc, ta có: nhân vật chức năng, nhân vật loại hình, nhân vật tính cách, nhân vật tư tưởng

Tuy nhiên, bởi sự phong phú, đa dạng của hệ thống nhân vật nên việc phân loại thế giới nhân vật thường cũng rất linh hoạt, có thể dựa trên nội dung, thể loại, khả năng phản ánh hiện thực và ý đồ nghệ thuật của nhà văn

1.3.2 Phân loại thế giới nhân vật trong sáng tác của Tô Hoài về đề tài miền núi

Có nhiều cách phân loại nhân vật như đã nói ở trên, tuy nhiên căn cứ vào thực tiễn sáng tác của Tô Hoài về đề tài miền núi chúng tôi chia thành hai tiểu loại cơ bản,

Trang 26

đó là: Những con người nghèo khổ, bất hạnh, nạn nhân của thần quyền và cường quyền; Những con người dũng cảm đấu tranh cho hạnh phúc cá nhân và độc lập tự

cũ Dưới ngòi bút tả chân của Tô Hoài, hiện thực cuộc sống phơi bày ra trước mắt Trên đôi vai của những người lao động miền núi phải chịu hai thế lực áp chế, đó là thần quyền và cường quyền

Dường như ở đâu cũng có bóng ma vây quanh, từ ma trời, ma đất đến ma rừng,

ma núi và thậm chí ma người Ma trở thành thế lực thần quyền, một lực lượng siêu nhiên vô hình, có sức mạnh tuyệt đối, gắn với những gì xấu xa, tệ hại nhất Chưa ai nhìn thấy, chưa ai biết ma như thế nào nhưng nó trở thành nỗi ám ảnh khiếp sợ truyền kiếp ăn sâu vào tiềm thức của người dân vùng núi

Trong tiểu thuyết Miền Tây, qua cuộc đời bà Giàng Súa người đọc phần nào

thấu hiểu được số phận chung của người lao động miền núi trong xã hội cũ Sự bóc lột độc ác của quan bang, thống lí, thực dân cùng với nhận thức mê tín dị đoan của dân làng đã đẩy gia đình bà Giàng Súa rơi vào thảm cảnh cùng quẫn, điêu đứng Chồng bà Giàng Súa phải bỏ việc nhà để đi tải thuốc phiện cho quan thống lí và cuộc ra đi đó vĩnh viễn không có ngày trở về Chồng chết, bà Giàng Súa xót xa đau đớn, trụ cột gia đình không còn nữa, từ nay việc nương rẫy, nhà cửa, nuôi dạy ba đứa con thơ dại một tay bà cáng đáng Nỗi đau mất người thân còn gì tả xiết Thế nhưng còn một tai họa nữa khủng khiếp hơn lại đổ ập xuống gia đình bà Giàng Súa,

đó là: “cả làng bảo: nhà Giàng Súa có ma” [26, tr 20] Khởi nguồn của mọi bi kịch

đau khổ, bất hạnh, oan trái của cuộc đời bà Giàng Súa bắt đầu từ đây Cả làng, cả

Trang 27

bản xa lánh, ghê sợ, đòi giết mẹ con Giàng Súa Quá sợ hãi, để trốn chạy cái chết, bốn mẹ con bà Giàng Súa phải dắt díu nhau chúi vào rừng sâu heo hút, trốn chui

trốn lủi tách biệt hẳn với mọi người, bắt đầu một cuộc sống cô độc, đói khổ “ Mẹ

con cứ vật vờ như người hủi, người ốm lâu bị làng đem bỏ vào rừng cho đợi chết”

[26, tr 21] Bà Giàng Súa sống trong rừng cùng các con, không còn ý thức về không gian, thời gian và sự tồn tại của chính bản thân mình, chỉ thấy cay đắng, tủi nhục, khổ đau chất đầy Nỗi khổ chưa hết khi những chúa đất phong kiến, thực dân còn

hoành hành Năm nào cũng vậy “ông khách Sìn cũng lấy đi nhiều của cải người

Mèo, ngựa thồ không hết, phải bắt người khiêng của đi theo” [26, tr 45] Năm ấy

Thào Nhìa thật không may lọt vào danh sách đen, dù Thào Nhìa còn là đứa trẻ cũng

bị bắt đi làm phu đuổi ngựa tải hàng Từ đó, tiếng chân ngựa trở thành âm thanh, nỗi ám ảnh khủng khiếp suốt cuộc đời bà Giàng Súa Hoàn cảnh của gia đình bà Giàng Súa cũng là hoàn cảnh bất hạnh của mọi gia đình người dân mất nước lúc bấy giờ

Nếu ma chài là sự ám ảnh khủng khiếp của bà Giàng Súa (Miền Tây) thì ma

gà lại là nỗi kinh hoàng của cuộc đời Mảy (Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ) “Mảy đương

tuổi con gái, đẹp rờ rỡ, đẹp nhất hàng tổng” [26, tr 371] nhưng bị đồn nhà Mảy có

ma gà, bố mẹ truyền cho con, cả làng cả bản không ai dám đến cửa, đi đường gặp ai người ta cũng sợ Không ai dám lấy Mảy Ám ảnh ma trói buộc con người vào vòng oan nghiệt, đến cái hạnh phúc nhỏ bé là được yêu thương cũng không có Thương thay cho cuộc đời cô Mảy hạnh phúc không vẹn tròn, xinh đẹp mà cuộc đời lại nổi trôi, trắc ẩn Người yêu Mảy thật lòng - Thụ cũng chưa vượt qua được phong tục làng

xã với những luật lệ hà khắc Mảy định thoát li theo Thụ nhưng chưa kịp thì phải theo gia đình chạy hai tiếng ma gà Cuộc đời Mảy sẽ đi đâu về đâu khi cứ phải trốn chạy

hai tiếng ma gà? Có lẽ hạnh phúc sẽ không bao giờ mỉm cười với người con gái “hồng

nhan bạc phận” ấy

Ma trở thành một lực lượng bí hiểm và là nguyên nhân của ốm đau bệnh tật Nghe người ta nói Sạ - người yêu Mát chết, Mát đau khổ, thương nhớ, mỗi khi buồn Mát hay vào rừng gục mặt xuống tảng đá khóc một mình Thương con, xót con ông Mờng nghĩ:

“Thằng Sạ chết khổ hại như thế, cái ma nó còn về ám mày, bao nhiêu năm nữa cũng

Trang 28

chưa dứt được Ta phải gọi thầy về cúng cho hồn nó được mát mẻ thì mày mới ở yên được” [25, tr 350] nên sinh ốm “Túng bấn, khổ cực quá đỗi” [25, tr 350]

Ma luôn hiện hữu trong đời sống tinh thần người lao động miền núi những năm chưa có cách mạng Đi đâu, làm gì người ta cũng hỏi ma, bị ốm đau bệnh tật

cúng ma Con trai trưởng thôn Pàng (Miền Tây) bị ốm ròng rã nhiều ngày không

khỏi, phận làm cha mẹ không đành lòng nhìn đứa con ngày càng héo úa, Pàng lo lắng, thương con nhưng không biết làm thế nào chữa khỏi Đang lúc nước sôi lửa bỏng lại

có người đến tận nhà Pàng bảo: “Mày làm trưởng thôn nên ma bắt con mày” [26,133]

Những câu nói ấy cứ cắn rứt trong lòng càng làm Pàng thêm hoang mang, bối rối

Người già trong xóm còn nói: “Mày không được giết người Xá chúng tao Mày mất

giống Xá không cúng thì thôi, mày phải để tao cúng ma cho nó Mày phải để xóm cúng” [26, tr 133] Thế là Pàng chịu, Pàng đành để cho thầy đến cúng, cúng một lần,

cúng hai lần nhưng bé vẫn rườn rượt héo ngoẹo như cây thuốc phiện bị đứt rễ Nhiều lúc Pàng thấy chính mình cũng luẩn quẩn Những lo lắng, bứt rứt ấy mãi đến khi được

y sĩ Thào Khay đến chữa khỏi bệnh cho con Pàng mới nhẹ lòng Ma còn là “nhân

chứng” cho những sự kiện quan trọng Khi thống lí Pá Tra phạt vạ A Phủ, Pá Tra đốt

hương, lầm rầm khấn “gọi ma về nhận mặt người vay nợ” [25, tr 450] Khi kết nghĩa anh em với A Châu, A Phủ cũng khấn cúng ma “Tôi là Vừ A Phủ, tôi đã đem trình

ma em tôi là Vừ A Châu, tôi thề suốt đời làm anh làm em với nó, ăn ở với nhau tốt mãi” [25, tr 466]

Do chưa nhận thức đúng quy luật phát triển của xã hội mà những người dân vùng núi cao tin vào thần thánh một cách mù quáng Nắm được điểm yếu này mà bọn thống trị đã lợi dụng một cách triệt để, chúng gieo rắc cho người miền núi những suy nghĩ con người do thượng đế sinh ra vì thế cuộc sống của họ do đấng tối cao an bài, sắp đặt Chúng dựa vào ma, vào thần quyền tạo nên một sức mạnh vô hình để thực hiện

ý đồ đen tối, xấu xa, thống trị đàn áp tư tưởng tinh thần và biến người lao động miền núi thành nô lệ, tay sai của chúng Và thực tế, những con người đáng thương ấy đã phục tùng chúng vô điều kiện như phục tùng những thánh nhân, chúa trời, cha đạo Bà Ảng, ông Mờng, Mỵ, A Phủ, bà Giàng Súa tất cả bằng cách này hay cách khác đều trở thành những nạn nhân đáng thương của những tập tục mê tín dị đoan mà bọn chúa

Trang 29

đất, thực dân, lang đạo, phìa tạo tạo ra Sự cam phận nô lệ và cuối cùng là tê liệt tinh thần phản kháng là sự phát triển biện chứng của sự áp chế về mặt tinh thần Mỵ an phận

với tư tưởng “Ta là thân đàn bà, nó đã bắt ta về trình ma nhà nó rồi thì chỉ còn biết

đợi ngày rũ xương ở đây, chết thế nào cũng được ” [25, tr 454] Bà Giàng Súa bị làng

bản xua đuổi cũng chỉ biết chứa chan nước mắt, bất mãn nghĩ rằng: “dù sao thì ngày

hôm qua còn tươi tốt hơn ngày hôm nay và đời người thì ngày càng tàn, tàn lụi như cái củi nào rồi cũng cháy thành than” [26, tr 44] và tiếp tục cùng các con sống những

ngày tháng tủi hờn trong rừng heo hút Bà Ảng xinh đẹp một thời đã trải qua cuộc đời

làm hầu nhà quan cực nhục nhưng vẫn phải “trình ma” đứa con gái xinh đẹp của mình

cho bọn quan bang Mảy xinh đẹp bị tiếng ma gà chỉ biết chạy trốn tiếng ma, cuộc đời trôi dạt không biết đi đâu về đâu Thực tế họ đã trở thành nô lệ trong chính suy nghĩ của mình

Những năm trước cách mạng, người dân miền núi không chỉ khổ vì nghèo đói, khổ vì hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan mà còn khổ vì sự áp bức, bóc lột dã man tàn bạo của cường quyền Đó là chế độ phong kiến, thực dân Chúng hành hạ, nhục mạ, đè nén người dân lương thiện, vô tội biến họ thành những kẻ nô lệ phục vụ cho mục đích làm giàu hoặc thực hiện những thủ đoạn xấu xa, đồi bại nhất

Sống dưới ách thống trị của thực dân, của những chúa đất phong kiến người nông dân miền núi phải chịu nỗi khổ cực của nạn bắt phu, bắt lính, bắt đi phiên

Bân (Mường Giơn) có cuộc đời thật bất hạnh, bị bọn thực dân làm cho bao

phen điêu đứng Bân đi ở rể được mười năm chuẩn bị lấy được vợ thì Tây trở lại đóng đồn Viên đồn Tây xuống làng, thấy vợ Bân đẹp, nó cuỗm đi luôn Bân đành trở về tay không để hạnh phúc tuột khỏi tay mình Lần thứ hai, chuẩn bị cưới Mát nhưng Bang Kỳ chấm Mát về châu vào ban xòe, Mát lên châu, lên đồn Từ đấy không tin tức gì Mất vợ, cực chẳng đã Bân đi phu chở đạn cho Tây lên ngược, vừa ốm đau bệnh tật lại bị quan, lính đánh đập hành hạ không lúc nào kịp vuốt mồ hôi Bất mãn

với đời Bân nghĩ: “Quan trên thì cướp vợ Đi phu thì lính đánh chửi Đứa nào cũng

xem mình như con cá Phen này phải đi khố đỏ báo thù chúng nó” [25, tr 358] Thế

là Bân đi lính khố đỏ Vào lính khố đỏ nhưng cũng không thoát được thân phận khốn khổ Bân đi lính cướp bóc, làm điều ác với mọi người nhưng nhà vẫn bị lính cướp

Trang 30

Bân bị mất một cái gân tay không sử dụng được súng nữa thì chúng thải Bân về Dưới

sự nhào nặn của tầng lớp thống trị chúng làm cho con người tha hóa, biến chất hoàn toàn

Ông Mờng (Mường Giơn) già rồi mà vẫn bị bắt đi phu Đi phu công việc nặng

nhọc lại còn bị chúng đánh đập không thương tiếc bất luận là ai Ta hãy xem cảnh

chúng hành hạ ông Mờng để thấy được sự ác độc của bọn mất tính người: “Ông Mờng

phải đeo sáu quả đạn moóc - chi - ê Các làng Mèo chạy hết rồi Một lính cướp được hai thùng ngô, nó bắn luôn cả cả sáu quả lựu đạn xuống suối rồi bắt ông gánh hai thùng ngô ông đi không nổi Nó đánh gậy vào đầu gối ông, đẩy ông ngã giữa dốc núi” [25, tr 366]

Lão Mang (Nhớ Mai Châu) cả cuộc đời nghèo khổ, bố con lão nương náu

trong ngôi nhà tạm bợ treo lưng dốc Vậy mà mỗi khi có trống gọi đi phiên nhà lang

thì phải bỏ việc nhà mà đi Tiếng trống gọi đi phiên thành nỗi ám ảnh “Đương vui

hay đương buồn cũng phải bỏ cả đấy mà đi lo, đi làm, đi buộc cái khó nhọc việc nhà người vào mình” [23, tr 89]

Cuộc sống của đồng bào các dân tộc thiểu số ở miền núi những năm chưa có cách mạng thật u tối Bọn thống trị vùng cao đã lợi dụng sự nhẹ dạ cả tin, bản tính hồn nhiên ngây thơ của người miền núi chúng đã kết hợp với sức mạnh của thần quyền để đàn áp, bóc lột người dân miền núi rất dã man Có lẽ người phụ nữ miền núi là nạn nhân phải gánh chịu hậu quả đau đớn nhất, cay đắng nhất Bọn thực dân, quan lại phong kiến bắt người phụ nữ đi hầu chăn, hầu đệm, hầu ăn, hầu thuốc phiện

để thỏa mãn cái thú vui nhục dục tàn bạo, vô nhân tính của chúng Chúng “bắt con

gái trong làng phải lên đồn, chia nhau ra mà lấy lính Không đủ, nó bắt cả bé gái mười hai tuổi, cả bà già sáu mươi lên đồn Thằng lính nào thua bạc thì bán vợ cho thằng được bạc Thằng nào đổi đi đồn nơi khác thì bán vợ cho thằng ở lại” [25, tr

393-394] Chao ôi! Số phận người phụ nữ miền núi trong xã hội cũ sao mà rẻ mạt, đáng thương đến thế

Sắc đẹp là tài sản quý giá của người phụ nữ và được toàn nhân loại ở mọi thời đại tôn vinh, nhưng với những nhân vật nữ của Tô Hoài ở vùng cao thì nhan sắc không là niềm tự hào mà nó chỉ mang tới những bất hạnh, tai họa trong suốt cuộc đời người con gái trong xã hội cũ

Trang 31

Mát (Mường Giơn) là nạn nhân của lệ bắt đi hầu Mát là một người con gái

đẹp, Mát cũng đã có những tháng này được sống trong tình yêu và hạnh phúc nhưng hạnh phúc sụp đổ kể từ khi bị quan Bang Kỳ chấm Mát về châu vào ban xòe Ý quan

đã định không ai chống lại được Mát ngậm ngùi chịu số phận hẩm hiu, vào ban xòe

rồi hầu quan bang Sau này, cuộc đời Mát trôi dạt về đâu cũng chẳng ai hay “Đời

người đàn bà từ khi thằng Tây đến chiếm mường thôi thì khổ nhục chẳng thể lúc nào cạn” [25, tr 396] Chuyện đời Mát đầy khổ đau, bọn tri châu, quan bang trong xã hội

thực dân phong kiến ác độc đã cướp đi cuộc đời Mát, giày xéo con người Mát

Số phận bà Ảng (Cứu đất cứu mường) cũng bất hạnh như cuộc đời Mát vậy

Cô Ảng đã từng một thời đẹp nức tiếng Mường Cơi Trong xã hội cũ người ta quan

niệm “Con gái đẹp nhà quan thì càng làm đẹp cửa, đẹp nhà nhà quan, con gái nhà

dân mà đẹp thì chỉ sinh lo, sinh bệnh cho cha mẹ” [25, tr 317] Câu nói ấy nghiệm

vào đời Ảng chẳng sai chút nào Cái đẹp của Ảng là ngọn nguồn của mọi khổ đau, khổ đến cả đời các con Mới 17 tuổi Ảng bị bắt đi hầu tri châu Né Ngày đêm Ảng

phải “đem thân đi nâng giấc ông lão sáu mươi” [25, tr 318] Đúng mười năm bị đọa

đày trong nhà quan, tri châu Né chết, Ảng được về làng nhưng còn khổ, còn nhục hơn

trước vì Ảng “lại thành người chuyên tay của các quan châu, quan lang, những chúa

đất ở Mường Cơi, ở Mường Vạt, ở Mường La Ảng phải đi hầu khắp các quan hầu rượu, hầu thuốc phiện, hầu chăn đệm Tan cuộc chơi lại thả Ảng về” [25, tr 319]

Tuy Ảng vẫn còn trẻ đẹp nhưng không thanh niên trai tráng nào trong làng dám lấy phần vì sợ quan, phần thì người ta khinh, coi hạng đàn bà như Ảng là người thừa,

không biết làm ăn Ảng sinh được hai con, tuy “những đứa con cô Ảng là trứng nhà

quan” [25, tr 319] nhưng không quan nào chịu nhận nên Ảng phải chịu làng phạt vạ

tội chửa hoang Nghèo, không có tiền nộp phạt Ảng phải “dứt ruột” đem bán đứa con

trai lớn (Nhấn) lên núi đổi lấy mười đồng bạc trắng về nộp làng Tay trắng Ảng chỉ còn biết ôm con đi la liếm vét cối giã gạo ngoài suối cho dịu đi cơn đói Cuộc đời quăng quật, vùi dập chả bao lâu cô Ảng xinh đẹp ngày nào giờ thành bà lão Ảng ăn mày già nua, đói khát, rách rưới, ốm yếu Tưởng rằng tất cả đã dừng lại, bà Ảng sẽ bị

lu mờ không ai để ý đến, nhưng không số phận vẫn chưa tha cho bà Ảng, đứa con gái

bà ngày càng trở nên xinh đẹp, rực rỡ như một đóa hoa rừng, con gái bà cũng bị bắt

Trang 32

đi hầu ông triều bà nàng châu đoàn Cầm Vàng, bi kịch ngày xưa bà Ảng gánh chịu giờ lại đến lượt con bà Cuối đời hạnh phúc chưa được bao lâu bà Ảng đã bị giết chết

bởi bàn tay của châu đoàn Cầm Vàng Cái chết thảm thương Đọc Cứu đất cứu

mường người đọc ứa nước mắt xót thương cho số phận đầy bi kịch của bà Ảng, một

người con gái đẹp bị tàn mục dưới bàn tay bọn thống trị vùng cao

Cũng như Mát, Ảng Mỵ (Vợ chồng A Phủ) là một người con gái xinh đẹp

thêm phần thổi sáo giỏi, hay nhưng số phận bạc Mỵ bị bắt về làm dâu gạt nợ nhà thống lí Pá Tra vì món nợ truyền kiếp của cha mẹ để lại Cũng từ đây Mỵ bước vào cuộc đời tối tăm, mù mịt, cay đắng Kiếp làm dâu của Mỵ thực là kiếp nô lệ không hơn không kém Mỵ bị bóc lột sức lao động và đày đọa tinh thần một cách hết sức dã man và tàn bạo Ban đầu Mỵ còn phản kháng nhưng lâu dần dường như ý thức phản kháng của Mỵ bị tê liệt bởi sự đày đọa ác nghiệt của cha con thống lí và phần vì có một nỗi lo sợ luôn ám ảnh Mỵ khi Mỵ tin rằng mình đã bị A Sử đem về trình ma thì

không thoát khỏi cảnh “phận làm dâu như con ngựa trong tàu” Mỵ đành cam phận

làm ma nhà thống lí trong cay đắng, tủi nhục, sống mà như chết Suốt ngày Mỵ cúi mặt, không buồn nghĩ gì nữa, chỉ nhớ đến công việc phải làm, ngày nào, tháng nào,

năm nào cứ làm đi làm lại quay tròn như một quỹ đạo “Tết xong thì lên núi khứa nhựa

quả thuốc phiện, giữa năm thì giặt đay để tước sợi Bao giờ cũng thế, suốt năm suốt đời như thế” [25, tr 440] Trong cái “nhà tù” thống lý Mỵ bị tước đoạt cả tuổi xuân,

đờ đẫn như người không hồn, mất hết cả ý thức về không gian, thời gian Cuộc sống chỉ còn là một màn sương mờ đục không dĩ vãng, không hiện tại, không tương lai, cuộc sống cứ mòn đi, rỉ đi, mục rũa ra Mỵ khổ đủ đường, không chỉ khổ thể xác mà

Mỵ còn đau tâm hồn Mỵ bị ép phải lấy người Mỵ không có tình yêu, đã đành, A Sử

- cái người mà Mỵ gọi là chồng ấy vũ phu, hành hạ, đánh đập Mỵ tàn ác Khổ thế, đau thế nhưng Mỵ vẫn phải cam chịu sống chung với kẻ thù bao nhiêu năm trời đằng đẵng bởi thân phận Mỵ nhỏ bé, đáng thương không thoát khỏi cường quyền và thần quyền nhà thống lí

Trang 33

Còn biết bao số phận, mảnh đời phải chịu chung cảnh bọn thống trị, thực dân

sát phạt, vơ người vét của như cuộc đời Mát, Ảng, Mỵ đó là chị Yên (Mường Giơn), chị Lạn (Xuống làng)

Tô Hoài luôn dành những trang viết thấm đẫm nước mắt về số phận của những người phụ nữ miền núi trước cách mạng Phải là người tâm huyết với nghề, trái tim

“đập cùng nhịp với những yêu thương, vui buồn, căm giận” [34, tr 338], trân trọng,

thấu hiểu và cảm thông sâu sắc với từng mảnh đời Tô Hoài mới làm nên những sáng tác thành công như vậy để khi nhắc đến sáng tác về miền núi của ông người đọc nhớ ngay đến cuộc đời bất hạnh của bà Giàng Súa, Mát, Ảng, Mỵ những người, những việc, ám ảnh về một thời tăm tối, mịt mờ mà người phụ nữ vùng cao phải chịu đựng

in sâu vào tâm trí bạn đọc không bao giờ phai mờ Qua đó Tô Hoài khơi dậy ở người đọc tấm lòng rưng rưng xúc động, vừa xót xa thương cảm, vừa uất hận căm thù

Tội ác tột cùng man rợ của bọn thực dân, phong kiến thống trị vùng cao không bút nào tả xiết, chúng không chỉ vơ người vét của, đày đọa thể xác tinh thần con người

mà chúng còn là “nhà tù” chôn vùi tuổi thanh xuân, cướp đi quyền sống tất yếu của

con người, đó là quyền được yêu thương Hơn thế, chúng còn là những kẻ độc ác đáng khinh bỉ, phỉ nhổ khi phá hoại hạnh phúc lứa đôi của bao người

A Phủ (Vợ chồng A Phủ) cũng là nạn nhân của nhà tù thống trị A Phủ một

lần vì dám đánh lại A Sử con quan thống lí Pá Tra mà bị bắt, bị đánh đập không thương tiếc, sống dở chết dở Ở cảnh phạt vạ A Phủ người đọc mới nhìn thấy rõ sự nham hiểm độc ác không bằng loài cầm thú của bọn thống trị có quyền lực A Phủ bị

tra tấn dã man “Mặt A Phủ sưng lên, môi và đuôi mắt dập chảy máu Người thì đánh,

người thì quỳ xuống, kể lể, chửi bới Xong một lượt đánh, kể, chửi, lại hút ( ) Cứ như thế suốt chiều, suốt đêm, càng hút, càng tỉnh, càng chửi, lại đánh, lại hút” [25, tr

448] Hãy xem thống lí Pá Tra xử phạt A Phủ hết sức phi lí “Thằng A Phủ đánh người

thì làng xử mày phải nộp vạ cho người mày đánh là hai mươi đồng, nộp cho thống quán năm đồng, mỗi xéo phải hai đồng, mỗi người đi gọi các quan làng về hầu kiện năm hào Mày phải mất tiền mời các quan hút thuốc từ hôm qua tới nay Lại mất con lợn hai mươi cân, chốc nữa mổ làng ăn vạ mày ( ) mày phải chịu một trăm bạc trắng Mày không có một trăm bạc thì tao cho mày vay để mày ở nợ Bao giờ có tiền

Trang 34

trả thì tao cho mày về, chưa có tiền trả thì bắt mày ở làm con trâu, con ngựa cho nhà tao Đời mày, đời con, đời cháu mày tao cũng bắt thế, bao giờ hết nợ mới thôi” [25,

tr 449] Với cái lí nhà quan thì bao giờ cho hết nợ khi lãi mẹ đẻ lãi con, rõ ràng thống

lí cậy lớn bắt nạt bé A Phủ chỉ là một người dân thấp cổ bé họng nên đành ngậm đắng nuốt cay chịu sự đau đớn, tủi nhục đến tột cùng của kiếp nô lệ A Phủ thành

người làm không công cho nhà thống lí “Đốt rừng, cày nương, cuốc nương, săn bò

tót, bẫy hổ, chăn bò, chăn ngựa, quanh năm một thân một mình rong ruổi ngoài rừng”

[25, tr 450]

Mươi (Xuống làng) một cán bộ yêu người con gái ngoài làng Sau bao năm

kiếm tìm được hạnh phúc của đời mình, Mươi được chuyển công tác về địa phương Hạnh phúc, niềm vui như được nhân đôi Đôi bạn trẻ dự định đám cưới Tuy rằng trong thời buổi chiến tranh loạn lạc, lấy vợ vùng địch với bao khó khăn, hiểm nguy, vất vả nhưng đám cưới vẫn diễn ra thỏa lòng mong ước của người mẹ già và cũng là hạnh phúc của con trẻ Mọi người hân hoan, đón chờ, chúc mừng ngày chung đôi của Mươi và vợ Nhưng cũng chính vào cái đêm trước ngày hạnh phúc nhất của đời người thì một tai họa thình lình giáng xuống Tiếng súng của thực dân đã đập tan hạnh phúc,

cướp đi sinh mạng “ mất chú rể, đám cưới tan nát” [25, tr 275] Sống dưới chế độ

thực dân ác độc, bạo tàn hạnh phúc của con người thật mỏng manh dễ vỡ, những ước

mơ, những khát vọng hạnh phúc nhỏ nhoi, bình dị, đáng có con người sẽ không bao giờ thực hiện được

Mát, Sạ (Mường Giơn) cũng vậy Đôi uyên ương cũng từng có những tháng

này được sống hạnh phúc bên nhau Dù không được tự do vì tục lệ gò bó, vì người già nhưng họ vẫn có những phút giây được yêu thực, sống thực với tình yêu của mình Nhưng những ngày bình yên, hạnh phúc của họ cũng chẳng được là bao Khi lũ giặc tràn về giết người cướp của, cũng như bao người dân khác Mát phải cùng gia đình chạy trốn vào rừng sâu, Sạ ở lại đợi bắt trâu đi sau Và cũng từ giây phút chia tay đó

họ mất nhau mãi mãi

Còn biết bao những người con trai, con gái miền núi cũng không có được tình yêu trọn vẹn Họ yêu nhau nhưng không được sống đến cuối đời với người mình yêu Những mầm non yêu thương vừa nhú đã bị sức mạnh tàn bạo của chế độ thực dân,

Trang 35

phong kiến vùi dập, thiêu rụi, hủy diệt Dù có yêu nhau tha thiết nhưng những chàng trai, cô gái cũng không đủ sức để bảo vệ tình yêu của mình

Đó chỉ là một vài nỗi khổ trong muôn vàn nỗi khổ, một vài số phận, mảnh đời bất hạnh điển hình cho những con người miền núi trước và những ngày đầu cách mạng Họ là những con người khác nhau, mỗi người mang một dáng hình, một cá tính riêng, mỗi người có một cuộc sống riêng, một hoàn cảnh éo le riêng nhưng gặp nhau ở thân phận nô lệ khiến bức tranh miền núi đều mang một vẻ mờ mịt, tăm tối

Họ là người con của núi rừng, sống tự do, phóng khoáng giữa thiên nhiên nhưng lại không được làm chủ thiên nhiên, làm chủ cuộc đời Miêu tả những con người nghèo khổ, bất hạnh, nạn nhân của thần quyền và cường quyền, Tô Hoài một mặt tái hiện lại một cách chân thực và cảm động quãng đời đầy nước mắt, quá khứ đau thương đen tối, ảm đạm, mù mịt của bà con các dân tộc vùng cao dưới ách thống trị, áp chế của lang đạo, phìa tạo, thống lí và bọn thực dân Mặt khác ngòi bút sắc sảo của Tô Hoài còn tố cáo gay gắt chế độ cũ ở miền núi với những hủ tục lạc hậu chèn ép, bóp nghẹt con người trong địa ngục trần gian do chúng tạo ra

Với ngòi bút chân thực và giàu tình cảm Tô Hoài đã tái hiện toàn bộ cuộc sống tăm tối, mờ mịt, tủi nhục của người lao động miền núi những ngày chưa có cách mạng Từng số phận, từng mảnh đời đau khổ, nổi trôi, bất hạnh trong các tác phẩm là bản cáo trạng để Tô Hoài vạch trần tội ác của bọn thực dân, đế quốc, phát xít và bọn thống trị vùng cao áp chế người dân bằng cường quyền và thần quyền Đồng thời qua

đó thể hiện tình cảm sâu nặng mà Tô Hoài dành cho những người lao động miền núi, chỉ có thể là yêu, là thương, là đồng cảm Tô Hoài mới tạo ra những trang văn thực sống động mà đậm tình như vậy

1.3.2.2 Những con người dũng cảm đấu tranh cho hạnh phúc cá nhân và độc lập tự do của dân tộc

Hiếm có nhà văn nào có sức đi sung sức và sức viết bền bỉ như Tô Hoài Trong nhiều ngày tháng ở miền Tây, ông đã tỉ mỉ ghi lại những hình ảnh đau thương nhưng

cũng đẹp đẽ nhất của vùng rừng núi này Bằng tài năng và bản tính “ham nghe ham

biết, hóm hỉnh hiền lành” [34, tr 181] làm cho tất cả những sự kiện, nhân vật sống

động, xôn xao trên trang viết của ông Trên hành trình của những chuyến đi với Tô

Trang 36

Hoài không chỉ là nhìn ngắm, quan sát mà còn là sống và trải nghiệm những nỗi đau của đồng bào, là hướng tới lẽ sống của nhân dân Vì thế những gì đau thương nhất của con người cũng được Tô Hoài đưa lên trang viết với sự đồng cảm hiếm thấy cũng như những gì anh dũng nhất sẽ chói sáng trên trang viết của Tô Hoài

Những con người miền núi anh dũng, gan dạ, yêu cuộc sống, sẵn sàng đứng lên đấu tranh để bảo vệ tình yêu, hạnh phúc Trước hết là sự đấu tranh cho khát vọng hạnh

phúc, tình yêu lứa đôi trong bản thân mỗi cá nhân Mỵ (Vợ chồng A Phủ) bị bắt về

làm con dâu gạt nợ nhà thống lí Pá Tra, mấy tháng ròng đêm nào Mỵ cũng khóc Đây

là sự phản kháng chống lại “nhà tù” Pá Tra đày đọa thể xác và tâm hồn cô Mỵ cũng

đã tìm đến cái chết mong giải thoát nhưng thương cha, dù Mỵ có chết món nợ vẫn còn

đó, cha già vẫn còng lưng mà trả nợ, nghĩ thế Mỵ ngậm ngùi chấp nhận kiếp nô lệ Bị giam hãm, kìm kẹp về hình hài, thể xác nhưng tâm hồn Mỵ thì không bao giờ nguôi khát khao sống, khát vọng hạnh phúc Vào tại thời điểm đêm tình mùa xuân khi tiếng

sáo gọi bạn tình cất lên chính là lúc tâm hồn Mỵ được “mở cửa” òa ra khắp ngả để

kiếm tìm hạnh phúc, nhưng tâm hồn vừa được đánh thức lại bị A Sử dập tắt, vùi dập đến nỗi Mỵ dửng dưng, vô cảm khi chứng kiến A Phủ bị trói đứng Nhưng ngay sau

đó dòng nước mắt tuyệt vọng của A Phủ đã chạm đến trái tim Mỵ, vực tâm hồn Mỵ sống dậy, Mỵ cắt dây cởi trói cứu A Phủ và cứu chính mình

Sức sống mãnh liệt, khát vọng tự do mãnh liệt của người lao động miền núi

còn được biểu hiện qua nhân vật A Phủ (Vợ chồng A Phủ) Ở A Phủ tồn tại một ý

chí sắt đá, kiên cường không cam chịu bất công ngang trái A Phủ đã dám đánh lại con quan khi chúng đến phá cuộc chơi của trai làng Bị bắt về, bị phạt vạ, bị trói đứng

ở giữa nhà Pá Tra, A Phủ đã “nhay đứt hai vòng dây mây, nhích dãn dây trói một bên

tay” [25, tr 453] tìm cách thoát thân nhưng không thành A Phủ kiệt sức yếu dần

tưởng chừng sắp chết Khi được Mỵ cởi trói, A Phủ khuỵu xuống không bước nổi, nhưng nghĩ đến cái chết có thể đến bất cứ lúc nào, A Phủ quật sức vùng chạy, mặc cho thể xác có đau đớn chỉ cần có một tia hi vọng được sống cuối cùng cũng cố gắng chạy trốn, giành giật lại sự sống từ tay thống lí Chính sức sống tiềm tàng trong con người đã cứu A Phủ thoát khỏi cái chết của tử thần trong gang tấc Mỵ, A Phủ cùng cảnh ngộ đã gặp gỡ nhau, cưu mang nhau thoát khỏi miệng hùm nọc rắn nhà thống

Trang 37

lí Lòng khát khao cuộc sống tự do đã tiếp cho họ sức mạnh phi thường giải thoát cuộc đời mình

Thao Tuộc (Họ Giàng ở Phìn Sa) đem lòng yêu Pa Pao Họ yêu nhau nhưng

gặp trắc trở khi biết tin quan thống lí muốn bán Pa Pao cho ông già pụ pạng ở Xảm Thông, chỉ đợi một mùa thuốc nữa, nộp đủ pụ pạng sẽ đem người đi Thao Tuộc nghĩ:

“Yêu nhau thì phải lấy được nhau Không sợ gì cả Yêu nhau thì đem nhau về, cả đời

được ở cùng nhau” [22, tr 102], nghĩ thế Thao Tuộc tính kế cứu Pa Pao Nói là hành

động ngay, bất chấp hiểm nguy Thao Tuộc dũng cảm quyết định đến nhà quan cướp người yêu Bằng tình yêu mãnh liệt Thao Tuộc vượt qua mọi sợ hãi và đã tìm được hạnh phúc cho mình, trả lại tự do cho Pa Pao, hai người đưa nhau đến Phìn Sa, họ thành

vợ thành chồng sống hạnh phúc Sức mạnh của tình yêu, khát vọng hạnh phúc đã giúp Thao Tuộc vượt qua mọi rào cản của cường quyền và thần quyền để được sống hạnh phúc với người mình yêu

Không chỉ dừng lại ở tinh thần dũng cảm đấu tranh để bảo vệ tình yêu, hạnh phúc cho bản thân cá nhân mà những con người miền núi còn sẵn sàng đấu tranh,

hi sinh để bảo vệ tự do, hạnh phúc của cộng đồng Họ đặt lợi ích chung lên trên

lợi ích cá nhân Dù cuộc đời phải trải qua bao cay đắng, khổ cực “nhưng còn một

chút sống vẫn chờ đợi, vẫn mong, vẫn tin và giữa bao nhiêu đau khổ vẫn nhìn ra thấy trước một ngày bình yên, một ngày trở lại yên vui của tình yêu, của đất nước”

[34, tr 435]

Thực dân Pháp vể chiếm đóng Mường Giơn, cuộc sống gia đình ông Mờng

(Mường Giơn) tối sầm lại trong đau khổ nặng nề Tan tác, chia lìa, thiếu thốn đói

khổ, bị vùi dập, hành hạ, hạnh phúc gia đình đổ vỡ nhưng ông Mờng không chịu khuất phục Ông vẫn cùng các con vực dậy, khôi phục cuộc sống Hơn thế, ở ông Mờng xuất hiện tinh thần đấu tranh mãnh liệt Ông hô hào mọi người trong làng trốn phu, không nộp thóc lên đồn, không bao giờ tin, hợp tác với lũ giặc Bề ngoài tỏ ra

sợ giặc nhưng bên trong ngọn lửa căm thù, uất hận ngùn ngụt cháy Lúc nào ông cũng một lòng một dạ trung thành hướng về cán bộ, bộ đội Ông tìm cách liên lạc với cách mạng Tối tối không kể trời mưa gió rét ông Mờng cũng gọi vọng vào đầu núi vì tin

rằng “tiếng kêu và lòng thành thấu được tới trời” [25, tr 409] rồi cán bộ sẽ nghe thấy

Trang 38

Và khi được cán bộ về giác ngộ, giáo dục đầy đủ thì ông đã trở thành nòng cốt cho phong trào chiến đấu của địa phương

Mẹ Mã Hợp (Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ) người mẹ nghèo khổ không đủ cơm

ăn áo mặc nhưng có niềm tin vào cách mạng, luôn rộng mở tấm lòng đón chờ cách mạng Đã bao lần mẹ đưa đường cho những người cách mạng đến Long Châu Mẹ

nhớ lại “con đường đi Long Châu, toàn đi đêm, mất ba bốn đêm liền” [26, tr 354],

con đường ấy hiểm nguy lắm, gian nan lắm, phải tránh hương trưởng, tránh kẻ cướp

“Thế mà mẹ đã đi lọt được cả” [26, tr 355] Mẹ đến với cách mạng bằng tình yêu tự

nhiên, chân thành, không toan tính, sẵn sàng hành động vì cách mạng Khi nghe tin giặc lên càn quét hang Áng Cúm nơi có cán bộ cách mạng ở, mẹ lật đật đi từ lúc sáng

sớm “Mẹ kiếm bó củi vác như người đi rừng Mẹ đã lên từ lâu Nếu lính không đi

sớm, có khi mẹ đã tới hang Bây giờ thấy chúng nó ồ lên, mẹ bước quay lại, tìm cách cản chậm lại Lưng mẹ còng rạp Bó củi trĩu lưng, như đội cái mai rùa” [26, tr 530]

Mẹ còn sẵn sàng lấy ngực mình chặn mũi súng quân thù để bảo vệ, chở che cho cách mạng Mẹ cũng tham gia cách mạng cộng sản, mẹ cho con trai - Mã Hợp được đi làm cách mạng Mẹ là người mẹ Việt Nam anh hùng

Ính (Mường Giơn) ngay từ nhỏ đã sống trong cảnh lầm than, chứng kiến làng

nước ăn cơn sầu, ở cơn buồn với nhau và đặc biệt sự bất hạnh trong chính gia đình của mình Ính càng ý thức hơn về sự sống, về tự do, hạnh phúc Ính xây đắp ước vọng bằng hành động cụ thể Mỗi khi giặc tràn vào làng Ính trốn lên gác bếp hoặc có khi

cùng làng chạy trốn lên núi cao Trốn vì sợ bị cướp mất hai từ “tự do”, phải trốn để

tìm cơ hội mà chống trả chứ một khi đã rơi vào tay giặc thì cuộc đời mù mịt, không lối thoát Bất chấp mọi thành kiến và hủ tục Ính đi cày ruộng, cuốc nương Ý thức

được kẻ thù gây ra đau khổ Ính cương quyết: “Biết được đứa nào thì bảo nhau kiềng

mặt nó, không cho ngồi với ai Còn quân ác làm cho ta khổ thì phải thù Không bao giờ bỏ thù được” [25, tr 389] Ính tham gia cách mạng Cuộc đời Ính đổi thay, tự do,

hạnh phúc hơn cuộc đời chị Mát

Thao Tuộc, Ính, Thào Khay, A Phủ là những nhân vật làm cho trang văn của

Tô Hoài bừng sáng Tô Hoài đã rất kì vọng, đặt niềm tin và xây dựng họ bằng tất cả

sự tin yêu, trân trọng: “ làm sao cho tôi thể hiện được lòng tin, lòng yêu cuộc đời

của những người trẻ tuổi và sức mạnh tình yêu mãnh liệt đó cuối cùng sẽ đem lại mọi

Trang 39

thắng lợi Tư tưởng yêu đời, khát vọng của cuộc sống gửi vào các nhân vật trẻ tuổi, tôi cố gắng thể hiện” [34, tr 592]

Có lẽ cuộc đời của những con người nô lệ sẽ chẳng bao giờ thoát ra khỏi bóng tối u mê của xã hội cũ bởi mê tín dị đoan, hủ tục lạc hậu và cả sự đè nén áp bức của cường quyền nếu như không có ánh sáng của cách mạng Nhờ cách mạng mà những

số phận, những mảnh đời bất hạnh “từ thung lũng đau thương ra cánh đồng vui”, họ

nhận ra được giá trị của bản thân, xác định được kẻ thù của mình từ đó dẫn đến sự thay đổi, chuyển biến trong ý thức từ tự phát đến giác ngộ và tham gia cách mạng Đối với người miền núi đến với cách mạng không phải là điều dễ dàng mà phải có thành phần trung gian tuyên truyền, giác ngộ, làm cầu nối gắn kết cách mạng với đồng bào miền núi Tô Hoài đã rất thành công khi xây dựng một kiểu nhân vật mới

đó là nhân vật người anh hùng, người cách mạng miền núi Họ là những người tiên phong, dũng cảm trong phong trào đấu tranh bảo vệ tự do và hạnh phúc cho dân tộc

Viết về những người anh hùng, người cách mạng miền núi Tô Hoài lấy nguyên mẫu từ nhân vật có thật ngoài đời thực như: Hoàng Văn Thụ, Mã Hợp, Kim Đồng

Qua tiểu thuyết Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ nhà văn Tô Hoài đã tái hiện sinh

động một thời kì hoạt động sôi nổi và đẹp đẽ của Hoàng Văn Thụ góp phần tạo nên một hình ảnh con người cách mạng miền núi với vẻ đẹp toàn diện, hoàn mỹ Lấy cảm hứng từ một nguyên mẫu có thật ngoài đời, một nhân vật lịch sử nổi tiếng nhà văn đã tiểu thuyết hóa ít nhiều, nhưng căn bản vẫn tôn trọng tính xác thực lịch sử của hiện thực cách mạng Tô Hoài đã khắc họa Hoàng Văn Thụ trong những ngày đầu đến với cách mạng, với tất cả nhiệt huyết say mê của tuổi trẻ hai mươi, quyết tâm xông vào con đường cách mạng cứu nước, không do dự, không toan tính, với tất cả lòng tin tưởng

Trong cảnh khổ cực chung của người dân mất nước, qua những câu chuyện mẹ

kể và sự chứng kiến trực tiếp những đói rách, đau thương của bản làng nơi anh sống Thụ đau xót nghĩ đến quê hương, nhiệt huyết cách mạng trỗi dậy, mối hận thù ngày càng sâu sắc, Thụ quyết tâm rời bỏ cuộc sống gia đình ra đi tìm đường đến với cách mạng Hành trình đi tìm lí tưởng của Hoàng Văn Thụ được Tô Hoài tái hiện ngay từ bước đầu đã gặp muôn vàn sóng gió, chia li, thiếu thốn không một đồng xu dính túi, cảnh tù đày Hoàng Văn Thụ phải bươn chải nhiều nghề để kiếm sống khi làm thợ máy, thợ sửa chữa súng,

Trang 40

khi cắt tóc, múa võ bán cao, đi lính, vác củi đói rét, chết chóc luôn rình rập, cuộc phiêu lưu trên con đường cách mạng nhiều khi gặp phải phỉ, giặc cướp, gặp quan, tính mệnh

có khi được đem bàn trong một bữa rượu, rồi nhiều khi phải mót dây khoai, bắt thỏ rừng,

ăn mày để qua cơn đói Nhưng khó khăn không cản được bước anh hùng Vì cách mạng,

vì cuộc sống Thụ đã vượt qua mọi thử thách bằng lòng quyết tâm và nghị lực lớn lao, ở đâu Thụ cũng tìm được tri kỉ, họ là những bầu bạn, đồng chí trong lớp người nghèo khổ

Hoàng Văn Thụ từ một quần chúng nhiệt tình trở thành một cán bộ lãnh đạo có tài tổ chức và biết nhìn xa trông rộng Cơ sơ cách mạng do Hoàng Văn Thụ và các đồng chí của mình gây dựng ngày càng phát triển mạnh mẽ từ rải, dán truyền đơn đã lớn lên thành nhiều cuộc vận động công khai Dưới ngòi bút của Tô Hoài, Hoàng Văn Thụ hiện lên không chỉ là một người cán bộ cách mạng tài giỏi mà còn là người giàu lòng nhân ái, yêu thương, quan tâm đến quần chúng lao khổ

Trong tiểu thuyết Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ, Tô Hoài có xây dựng một nhân

vật bạn đồng hành, anh em kết nghĩa cùng chí hướng với Hoàng Văn Thụ trên con đường đi tìm cách mạng đó là Mã Hợp Mã Hợp cũng là một nhân vật lịch sử có thật

Tô Hoài có lần đã tâm sự “Mình sống hàng tháng với ông Mã Hợp Ông Mã Hợp

rượu khỏe lắm Chiều nào cũng uống rượu, uống rượu là nhớ lại chuyện, kể ra, mình

ít phải hỏi han” [34, tr 361] Mã Hợp - một người nghèo khổ suốt đời gánh củi bán

mà vẫn không đủ ăn Khi được Hoàng Văn Thụ thức tỉnh thì ở anh bừng sáng lên tấm lòng chân thật, chất phác, tin yêu với lí tưởng cách mạng Tấm lòng ấy trước sau đinh ninh như một lời thề sắt son Trước anh em đồng chí thì bộc lộ hết lòng trung thành, trước thù địch thì trơ như sắt đá Mã Hợp là hình ảnh người cộng sản đầy khí phách đẹp đẽ, kiên cường Có lần đi rải truyền đơn bị bọn quan mật thám bắt và tra tấn dã man, chúng đánh đập, cho điện giật nhưng anh không mảy may lo sợ mà tỏ ra dửng dưng, bình tĩnh, dũng cảm đối chất với kẻ thù Mã Hợp là nhân vật chân thực, sinh động, vừa bộc lộ bản chất tốt đẹp tự nhiên vừa trưởng thành với những hoạt động cụ thể của phong trào cách mạng

Viết về người anh hùng, người cách mạng miền núi Tô Hoài không chỉ đi sâu khai thác, khắc họa thế hệ những thanh niên yêu nước như Hoàng Văn Thụ, Mã Hợp

mà ông còn giành trọn tình cảm cho lớp anh hùng nhỏ tuổi nhưng có cống hiến lớn lao cho cách mạng, trong số đó có Kim Đồng, Vừ A Dính

Ngày đăng: 20/03/2017, 11:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Nguyên Ân (1984), Văn học và phê bình, NXB Tác phẩm mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học và phê bình
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: NXB Tác phẩm mới
Năm: 1984
3. Phan Cự Đệ (1979), Tô Hoài, Sách Nhà văn Việt Nam 1945 - 1975, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tô Hoài, Sách Nhà văn Việt Nam 1945 - 1975
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1979
5. Phan Cự Đệ (1982), Tô Hoài với Miền Tây, Báo Văn nghệ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tô Hoài với Miền Tây
Tác giả: Phan Cự Đệ
Năm: 1982
6. Nguyễn Đăng Điệp (2004), Tô Hoài, sinh ra để viết, Tạp chí Văn học (số 9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tô Hoài, sinh ra để viết
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: Tạp chí Văn học
Năm: 2004
7. Hà Minh Đức (1987), Nhà Văn nói về tác phẩm, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà Văn nói về tác phẩm
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1987
8. Hà Minh Đức (1994), Lời giới thiệu tuyển tập Tô Hoài tập I, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lời giới thiệu tuyển tập Tô Hoài tập I
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1994
9. Hà Minh Đức (1997), Lí luận văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
10. Hà Minh Đức (1998), Văn học Việt Nam hiện đại - Bình giảng và phân tích, NXB Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam hiện đại - Bình giảng và phân tích
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB Thanh niên
Năm: 1998
11. Hà Minh Đức (1998), Chặng đường mới trong văn học Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chặng đường mới trong văn học Việt Nam
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1998
13. Xuân Nguyệt Hà (2001), Nghệ thuật tả cảnh trong các tiểu thuyết viết về đề tài miền núi của Tô Hoài, Tạp chí Ngôn ngữ (số 3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật tả cảnh trong các tiểu thuyết viết về đề tài miền núi của Tô Hoài
Tác giả: Xuân Nguyệt Hà
Năm: 2001
14. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (1992), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1992
15. Hoàng Ngọc Hiến (1997), Văn học và học văn, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học và học văn
Tác giả: Hoàng Ngọc Hiến
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1997
16. Nguyễn Thái Hòa (1997), Dẫn luận phong cách học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận phong cách học
Tác giả: Nguyễn Thái Hòa
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
17. Nguyễn Thái Hòa (2000), Những vấn đề thi pháp của truyện, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp của truyện
Tác giả: Nguyễn Thái Hòa
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
18. Tô Hoài (1948), Núi Cứu quốc, NXB Cứu quốc trung ương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Núi Cứu quốc
Tác giả: Tô Hoài
Nhà XB: NXB Cứu quốc trung ương
Năm: 1948
19. Tô Hoài (1954), Vừ A Dính, NXB Văn nghệ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vừ A Dính
Tác giả: Tô Hoài
Nhà XB: NXB Văn nghệ
Năm: 1954
2. Lê Tiến Dũng (2015), Nhà văn Tô Hoài, hạt ngọc của văn học, http://www.khoavanhoc-ngonngu.edu.vn, ngày 11/05/2015 Link
12. Giới thiệu Tô Hoài, http://www.tohoai.vn, ngày 21/07/2015 Link
47. Vũ Nho (2015), Tô Hoài - cây đại thụ của văn học thiếu nhi, http://www.tohoai.vn, 21/07/2015 Link
66. Nguyễn Thị Thanh Xuân (2015), Tưởng niệm Tô Hoài, http://www.tohoai.vn, 5/7/2015 Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w