1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh (LV thạc sĩ)

129 582 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 1,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh (LV thạc sĩ)Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh (LV thạc sĩ)Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh (LV thạc sĩ)Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh (LV thạc sĩ)Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh (LV thạc sĩ)Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh (LV thạc sĩ)Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh (LV thạc sĩ)Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh (LV thạc sĩ)Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh (LV thạc sĩ)Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh (LV thạc sĩ)Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh (LV thạc sĩ)

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

NGUYỄN VĂN TOÀN

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN QUẾ VÕ,

TỈNH BẮC NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ

THÁI NGUYÊN - 2016

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

NGUYỄN VĂN TOÀN

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN QUẾ VÕ,

TỈNH BẮC NINH Chuyên ngành: Quản lý kinh tế

Mã số: 60 34 04 10

LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN HỮU TRI

THÁI NGUYÊN - 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan nội dung nghiên cứu do bản thân tôi thực hiện, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Hữu Tri, các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa sử dụng để bảo vệ công trình khoa học khác, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc

Tôi xin chịu trách nhiệm về các kết quả nghiên cứu trong luận văn

Bắc Ninh, ngày tháng năm 2016

Tác giả

Nguyễn Văn Toàn

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện đề tài: "Nâng cao chất lượng đội ngũ cán

bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh" tôi đã

nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều cơ quan, tổ chức và cá nhân

Trước hết tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và cảm ơn sâu sắc đến

PGS.TS Nguyễn Hữu Tri, người đã hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành

luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, phòng Quản lý đào tạo sau đại học trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh - Đại học Thái nguyên

đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành khóa học

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban lãnh đạo, các anh chị đang công tác tại UBND huyện Quế Võ và Đảng ủy, UBND các xã trên địa bàn huyện đã tạo điều kiện cho tôi trong việc thu thập số liệu phục vụ đề tài

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên để tôi có thể hoàn thành luận văn trong thời gian quy định

Bắc Ninh, tháng năm 2016

Tác giả

Nguyễn Văn Toàn

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC HÌNH viii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu ngiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Ý nghĩa khoa học của luận văn 3

5 Kết cấu luận văn 4

6 Các nghiên cứu liên quan đến đề tài 4

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ 6

1.1 Một số vấn đề cơ bản về cán bộ, công chức cấp xã 6

1.1.1 Khái niệm và vai trò của cán bộ, công chức cấp xã 6

1.1.2 Tiêu chuẩn cán bộ, công chức cấp xã 16

1.1.3 Chất lượng cán bộ, công chức cấp xã 21

1.2 Cơ sở thực tiễn, kinh nghiệm nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cấp xã 32

1.2.1 Kinh nghiệm nâng cao chất lượng cán bộ công chức xã tại một số địa phương ở nước ta 32

1.2.2 Một số kinh nghiệm từ thực tiễn của các địa phương tham khảo trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã 36

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37

2.1 Câu hỏi nghiên cứu 37

2.2 Phương pháp nghiên cứu 37

Trang 6

2.2.1 Địa bàn nghiên cứu 37

2.2.2 Đối tượng nghiên cứu 37

2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu 38

2.2.4 Phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu 41

2.2.5 Phương pháp phân tích số liệu 41

2.3 Các chỉ tiêu nghiên cứu 42

2.3.1 Nhóm chỉ tiêu thể hiện số lượng và cơ cấu cán bộ, công chức cấp xã 42

2.3.2 Nhóm chỉ tiêu thể hiện chất lượng cán bộ, công chức cấp xã 42

Chương 3 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ CÔNG CHỨC CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH 46

3.1 Một số đặc điểm tự nhiên và kinh tế - xã hội của huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh 46

3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 46

3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 47

3.1.3 Cơ cấu tổ chức hành chính của huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh 53

3.2 Thực trạng chất lượng cán bộ công chức cấp xã trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh 53

3.2.1 Đặc điểm đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Quế Võ 53

3.2.2 Đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh 58

3.2.3 Thực trạng về chính sách đối với cán bộ, công chức huyện Quế Võ về công việc, chế độ tiền lương, phụ cấp và các chính sách đãi ngộ 69

3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cán bộ, công chức huyện Quế Võ 76

3.3.1 Công tác đào tạo, bồi dưỡng 76

3.3.2 Công tác quy hoạch cán bộ, công chức cấp xã 78

3.3.3 Công tác đánh giá CBCC 78

3.3.4 Bổ nhiệm CBCC 79

3.3.5 Điều động, luân chuyển CBCC 79

Trang 7

3.4 Đánh giá thực trạng chất lượng cán bộ, công chức cấp xã trên địa

bàn huyện Quế Võ 80

3.4.1 Những ưu điểm 80

3.4.2 Những hạn chế 82

3.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế 84

Chương 4 GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CÔNG CHỨC CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH 88

4.1 Bối cảnh, phương hướng, mục tiêu nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2015 - 2020 88

4.1.1 Bối cảnh 88

4.1.2 Phương hướng 89

4.1.3 Mục tiêu 90

4.2 Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh 91

4.2.1 Xác định cơ cấu và tiêu chuẩn cán bộ, công chức để xây dựng quy hoạch và cơ cấu nhân sự 91

4.2.2 Quy hoạch nguồn cán bộ, công chức 92

4.2.3 Cải cách quy trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức 95

4.2.4 Nâng cao ý thức tự học đối với cán bộ, công chức cấp xã 102

4.2.5 Kiện toàn, bố trí, sắp xếp lại CBCC, thực hiện chính sách thôi việc; điều động, luân chuyển cán bộ, công chức về cơ sở 105

4.2.6 Đổi mới công tác đánh giá cán bộ, công chức cấp xã 106

4.2.7 Nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách đối với cán bộ, công chức cấp xã 108

4.3 Kiến nghị 110

KẾT LUẬN 112

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 113

PHỤ LỤC 115

Trang 8

HĐND : Hội đồng nhân dân

KCN : Khu công nghiệp

KTXH : Kinh tế xã hội

THCS : Trung học cơ sở

THPT : Trung học phổ thông

UBMTTQ : Ủy ban Mặt trận Tổ quốc

UBND : Ủy ban nhân dân

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Số lượng cán bộ, công chức của các xã được chọn khảo sát 40 Bảng 3.1: Sự biến động của cán bộ, công chức cấp xã huyện Quế Võ

(2013 - 2015) 55 Bảng 3.2: Trình độ học vấn của cán bộ, công chức 59 Bảng 3.3: Trình độ chuyên môn của cán bộ, công chức đang công tác

tại xã trên địa bàn huyện Quế Võ năm 2015 60 Bảng 3.4: Trình độ lý luận chính trị của cán bộ, công chức đang công

tác tại xã trên địa bàn huyện Quế Võ năm 2015 61 Bảng 3.5: Trình độ ngoại ngữ, tin học của cán bộ, công chức xã trên

địa bàn huyện Quế Võ năm 2015 62 Bảng 3.6: Trình độ quản lý hành chính của cán bộ, công chức đang

công tác tại xã trên địa bàn huyện Quế Võ năm 2015 63 Bảng 3.7: Chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã thông qua

kỹ năng giải quyết các công việc năm 2015 64 Bảng 3.8: Phẩm chất đạo đức, lối sống của đội ngũ cán bộ công chức

cấp xã tại địa bàn huyện Quế Võ năm 2015 66 Bảng 3.9: Thái độ trách nhiệm với công việc của đội ngũ cán bộ công

chức cấp xã năm 2015 68 Bảng 3.10: Kết quả điều tra sự hài lòng về công việc đối với CBCC

năm 2015 69 Bảng 3.11: Bảng lương đối với cán bộ cấp xã chưa qua đào tạo chuyên môn 70 Bảng 3.12: Kết quả điều tra sự hài lòng về chế độ tiền lương và chế độ

phụ cấp đối với CBCC 72 Bảng 3.13: Kết quả điều tra sự hài lòng về chính sách đãi ngộ đối với CBCC 72

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Biểu đồ 3.1: Cơ cấu cán bộ, công chức cấp xã của huyện Quế Võ phân

theo độ tuổi 56 Biểu đồ 3.2: Cơ cấu cán bộ, công chức cấp xã của huyện Quế Võ được

phân theo thâm niên công tác 57

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong hệ thống chính quyền bốn cấp ở nước ta, xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là đơn vị chính quyền cấp cơ sở, trực tiếp quản

lý hoạt động của đại bộ phận nhân dân cư trú tại địa phương

Chính quyền cấp xã có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức, vận động nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đi vào cuộc sống Đội ngũ cán bộ, công chức (CBCC) cấp

xã có vai trò hết sức quan trọng trong xây dựng và hoàn thiện bộ máy chính quyền cơ sở, trong hoạt động thi hành công vụ Hiệu lực, hiệu quả của bộ máy chính quyền cấp xã nói riêng và hệ thống chính trị nói chung, xét đến cùng được quyết định bởi phẩm chất, năng lực và hiệu quả công tác của đội ngũ CBCC cấp xã Trong nhiều văn kiện của Đảng đều khẳng định vai trò của cán

bộ nói chung và cán bộ cấp xã nói riêng đối với sự nghiệp cách mạng CBCC cấp xã là những người gần dân nhất, sát dân nhất Chủ trương, chính sách, pháp luật dù có đúng đắn đến mấy nhưng sẽ khó có được hiệu lực, hiệu quả cao nếu như không được triển khai thực hiện bởi một đội ngũ CBCC cấp xã

có năng lực pháp luật tốt Vì vậy việc xây dựng đội ngũ CBCC cấp xã vững vàng về chính trị, có đạo đức trong sạch, lối sống lành mạnh, có trí tuệ, kiến thức và trình độ năng lực để thực hiện các nhiệm vụ được giao luôn là mối quan tâm hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta Công tác xây dựng hệ thống chính trị được quan tâm và đạt kết quả tích cực, trong đó đã tập trung tiến hành đợt kiểm điểm tập thể và cá nhân cấp ủy các cấp, lãnh đạo các cơ quan, đơn vị trong toàn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI

“Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX “ về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở

xã, phường, thị trấn” bảo đảm nghiêm túc, đúng quy trình và kế hoạch đề ra

Hệ thống chính trị tiếp tục được kiện toàn, bộ máy quản lý Nhà nước ngày càng phát huy hiệu lực và hiệu quả An ninh chính trị được giữ vững, trật tự

an toàn xã hội được ổn định.

Trang 12

Quế Võ là huyện thành lập năm 1961 nằm ở phía Đông tỉnh Bắc Ninh Diện tích tự nhiên 62,06 km2 Dân số hiện nay trên 15 vạn người, đa số là người Kinh Đơn vị hành chính có 20 xã và 01thị trấn với 189 thôn, tổ dân phố, 117 khu dân cư Mặc dù trong những năm gần đây, tình hình chính trị, an ninh, trật tự, xã hội tương đối ổn định, kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao, song nhìn chung nền kinh tế của huyện chủ yếu vẫn là nông nghiệp, nguồn thu ngân sách ở mức trung bình, GDP bình quân đầu người còn thấp hơn so với bình quân chung của tỉnh Bắc Ninh Nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của huyện đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với đội ngũ CBCC nói chung, đặc biệt đối với CBCC cấp xã nói riêng Bên cạnh đó một bộ phận đội ngũ CBCC cấp xã của huyện hiện nay chưa tương xứng với vai trò, vị trí cũng như chức trách của các chức danh do Nhà nước quy định Điều này đã gây ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Chính quyền cơ sở nói riêng, của Đảng và Nhà nước nói chung Để có một đội ngũ CBCC cấp xã trên địa bàn huyện có chất lượng, đảm bảo "vừa hồng, vừa chuyên" hết lòng phụng sự nhân dân, giữ gìn đoàn kết ở cơ sở, tăng uy tín của Đảng và Nhà nước với nhân dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân,

do dân, vì dân đã đặt ra nhiều vấn đề cần phải giải đáp thấu đáo, có căn cứ khoa học và thực tiễn Tại mỗi vị trí công tác phải có một "bản mô tả công việc" trong đó nêu rõ vị trí công việc là gì, nhiệm vụ chính là gì, chịu trách

nhiệm như thế nào Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài: "Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh"

là yêu cầu tất yếu khách quan, cấp thiết cả về lí luận và thực tiễn

2 Mục tiêu ngiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Nghiên cứu đánh giá thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã tại huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh, chỉ rõ những ưu điểm và những hạn chế bất cập về chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức này, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã

của huyện Quế Võ trong thời gian tới

Trang 13

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Quế võ, tỉnh Bắc Ninh

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về thời gian:

Đề tài nghiên cứu, thu thập dữ liệu, phân tích trong các năm 2014-2015, dự báo, phân tích và đề xuất định hướng, giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức xã trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh đến năm 2020

4 Ý nghĩa khoa học của luận văn

- Luận văn góp phần làm rõ hơn cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã Đặc biệt làm

rõ đặc điểm của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở huyện Quế võ

Trang 14

- Trên cơ sở đánh giá thực trạng về chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã của huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh, luận văn đề xuất các phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao năng lực, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh

- Luận văn có thể làm tư liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến vấn

đề này

5 Kết cấu luận văn

Với đối tượng, phạm vi và mục tiêu nghiên cứu như vậy, ngoài phần

mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục các tài liệu tham khảo, luận văn gồm 4 chương

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cấp xã

Chương 2 Phương pháp nghiên cứu

Chương 3 Thực trạng chất lượng cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh

Chương 4 Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh

6 Các nghiên cứu liên quan đến đề tài

Vấn đề nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã từ năm 1991 đến nay đã được các nhà nghiên cứu khoa học xã hội và các nhà hoạt động chính trị quan tâm dưới nhiều góc độ khác nhau như: Học viện Hành chính Quốc gia năm 1991, đã công bố một cuốn sách về: "Cải cách bộ máy quản lý hành chính nhà nước và xây dựng đội ngũ công chức nhà nước"

Có nhiều công trình khoa học, các luận văn thạc sĩ, cử nhân nghiên cứu

về bộ máy chính quyền cấp xã trong đó có bàn về đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã Đáng chú ý là các công trình sau đây: Giáo sư Hồ Văn Thông: "Tình hình các tổ chức chính trị ở nông thôn nước ta"được in trong cuốn sách "Kinh

tế xã hội nông thôn Việt Nam ngày nay", tập 2, Nxb Tư tưởng văn hóa, Hà Nội 1991; Lê Đình Chếch: "Về nhà nước xã hội chủ nghĩa và công tác cán bộ chính quyền cấp xã ở Hải Hưng", Luận văn thạc sĩ triết học, Hà Nội, 1994;

Trang 15

Nguyễn Thị Hải: "Về đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp xã ở Thái Bình trong điều kiện cải cách nền hành chính nhà nước", Hà Nội, 2001

Trong điều kiện cải cách hành chính nhà nước, vấn đề đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã được đặc biệt quan tâm Một số đề tài khoa học, công trình nghiên cứu đề cập trực tiếp đến vấn đề này và hoàn chỉnh hơn Chẳng hạn: Phó giáo sư, tiến sĩ Bùi Tiến Quý "Một số vấn đề về tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trong giai đoạn hiện nay ở nước ta", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2000; Tiến sĩ Thang Văn Phúc và tiến sĩ Chu Văn Thành đồng chủ biên: "Chính quyền cấp xã và quản lý nhà nước cấp xã"của Viện Khoa học Tổ chức Nhà nước, Ban Tổ chức Cán bộ chính phủ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000; Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Hiến chủ biên "Các giải pháp thúc đẩy cải cách hành chính ở Việt Nam"của Học viện Hành chính Quốc gia, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2001; Tiến sĩ Nguyễn Văn Sáu và giáo sư Hồ Văn Thông chủ biên: "Cộng đồng làng xã Việt Nam hiện nay"của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2001; Thạc sĩ Phạm Đức Thăng: "Mấy suy nghĩ về việc củng cố tổ chức Đảng

và chính quyền cấp xã hiện nay", Thông tin Chính trị học, số 1(8)/2001; Phó giáo sư, tiến sĩ Hoàng Chí Bảo: "Một số vấn đề xử lý nạn quan liêu, tham nhũng như một tình huống chính trị", Thông tin Chính trị học, số 2 (9)/2001; Tiến sĩ Nguyễn Văn Sáu và Giáo sư Hồ Văn Thông chủ biên: "Thực hiện quy chế dân chủ và xây dựng chính quyền cấp xã ở nước ta hiện nay", Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003; Phó giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Đăng Dung: "Tổ chức chính quyền nhà nước ở địa phương" Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nêu trên đều đề cập vấn đề đội ngũ cán bộ của chính quyền cấp xã, hoặc là ở dạng chung nhất hoặc đặt

nó nằm trong phạm vi nghiên cứu tổ chức hoạt động của bộ máy chính quyền cấp xã nói chung Song chưa có đề tài nghiên cứu cụ thể về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh Vì vậy, nghiên cứu của đề tài luận văn này không bị trùng lặp với các công trình nghiên cứu trước

Trang 16

và gắn liền trong một cụm từ "cán bộ, công nhân viên chức nhà nước"; không phân biệt công chức, viên chức với công nhân

Trải qua diễn biến phát triển của đất nước, các khái niệm trên cũng có nhiều cách gọi, được thể hiện dưới nhiều thể loại văn bản khác nhau Với xu hướng mở rộng, giao lưu về kinh tế, tăng cường sự hợp tác nhiều mặt với các nước trên thế giới, công cuộc cải cách hành chính hiện nay đang đặt ra nhu cầu chuyên biệt hóa cùng với sự điều chỉnh pháp luật rõ nét, đòi hỏi phải có

sự thống nhất về nhận thức trong sự phân định các khái niệm có liên quan Luật cán bộ, công chức được Quốc hội ban hành tháng 11 năm 2008 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2010 đã quy định cụ thể:

Cán bộ ở cấp xã, phường, thị trấn sau đây gọi chung là cán bộ cấp xã:

Là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội

Cụ thể cán bộ cấp xã có các chức vụ sau đây:

+ Bí thư, Phó Bí thư Đảng uỷ;

+ Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân;

Trang 17

+ Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân;

+ Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;

+ Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh;

+ Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam;

+ Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị trấn có hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam);

+ Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam

1.1.1.2 Khái niệm công chức cấp xã

Công chức là một bộ phận quan trọng trong bộ máy hành chính của Nhà Nước, là lực lượng lao động chủ yếu thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của bộ máy quản lý Nhà Nước Khái niệm công chức đã và đang tồn tại cùng với sự ra đời và phát triển của Nhà nước Ở Nước ta, khái niệm công chức cũng đã được quan tâm xây dựng và ngày càng hoàn thiện Ngày 20/5/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh 76/SL về "Quy chế công chức", đây được xem là văn bản pháp luật đầu tiên có liên quan trực tiếp đến khái niệm này Quy chế xác định rõ nghĩa vụ, quyền lợi của công chức, cùng các thể lệ về việc tổ chức, quản trị và sử dụng các ngạch công chức trong toàn quốc, theo đó "những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển

để giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ở ngoài nước, đều là công chức"

Trong thời gian này không tồn tại khái niệm công chức cấp xã, công chức cấp xã khi đó chỉ là cán bộ chuyên trách cấp xã

Sau suốt một thời gian dài, khái niệm công chức ít được sử dụng, thay vào đó là khái niệm cán bộ, công nhân viên chức nhà nước Trong công cuộc đổi mới, trước đòi hỏi của thực tiễn khách quan, ngày 13/11/2008, kỳ họp thứ

4 Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật cán bộ, công chức Theo quy định này, "Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ

Trang 18

quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật

- Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã (gọi chung là công chức cấp xã), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà Nước

- Công chức cấp xã gồm các chức danh: Trưởng công an (nơi chưa bố trí lực lượng công an chính quy); Chỉ huy trưởng quân sự; Văn phòng - Thống kê; Địa chính - Xây dựng; Tài chính - Kế toán; Tư pháp - Hộ tịch; Văn hóa -

Xã hội

1.1.1.3 Vai trò, chức năng và nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã

*Vai trò

Tục ngữ có câu: “Một người biết lo, bằng một kho người biết làm”

- Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã có vai trò quyết định trong việc triển khai tổ chức thực hiện thắng lợi các chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước tại cơ sở Là những người giữ vai trò trụ cột, có tác dụng chi phối mọi hoạt động tại cơ sở, cán bộ, công chức cấp xã không những phải nắm vững đường lối, chủ trương, chính sách của tổ chức Đảng, Nhà nước, đoàn thể cấp trên để tuyên truyền, phổ biến, dẫn dắt, tổ chức cho quần chúng thực hiện mà còn phải am hiểu sâu sắc đặc điểm, tình hình kinh tế xã hội, những yếu tố văn hóa của đi ̣a phương để đề ra những nhiệm vụ, biện pháp cụ thể hóa đường lối, chủ trương chính sách ấy cho phù hợp với điều kiện đặc thù của địa phương

Trang 19

- Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã có vai trò quyết định trong việc xây dựng, củng cố tổ chức bộ máy chính quyền cơ sở, phát triển phong trào cách mạng của quần chúng ở cơ sở Họ là trụ cột, tổ chức sắp xếp, tập hợp lực lượng, là linh hồn của các tổ chức trong hệ thống chính trị cấp xã, là trung tâm đoàn kết, tập hợp mọi tiềm năng, nguồn lực ở địa phương, động viên mọi tầng lớp nhân dân ra sức thi đua hoàn thành thắng lợi các mục tiêu về kinh tế

xã hội, thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của cơ sở Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã có vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của đảng bộ cơ sở, nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý, điều hành của chính quyền cơ sở Thúc đẩy mọi hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể quần chúng ở cơ sở Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã là người dẫn dắt, định hướng các phong trào quần chúng ở cơ sở, tổng kết rút kinh nghiệm, biểu dương và nhân rộng các điển hình tiên tiến trong các hoạt động sản xuất kinh doanh, xây dựng đời sống văn hóa, phòng chống các tệ nạn xã hội tại cơ sở Qua đó, họ đóng góp tích cực vào việc xây dựng, hoàn thiện chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước

- Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã là những người trực tiếp gần gũi, gắn bó với nhân dân, sống, làm việc và hàng ngày có mối quan hệ chặt chẽ với nhân dân Họ thường xuyên lắng nghe, tham khảo ý kiến của nhân dân Trong quá trình triển khai, vận động, dẫn dắt nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, họ tạo ra cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân Thông qua họ mà ý Đảng, lòng dân tạo thành một khối thống nhất, làm cho Đảng, Nhà nước "ăn sâu, bám rễ" trong quần chúng nhân dân, tạo nên quan hệ máu thịt giữa Đảng - Nhà nước với nhân dân, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước Như vậy, chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước có đi vào cuộc sống, trở thành hiện thực sinh động hay không, tùy thuộc phần lớn vào sự tuyên truyền và tổ chức vận động nhân dân của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã

Trang 20

- Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã còn là một trong những nguồn quan trọng cung cấp nguồn cán bộ cho cấp huyê ̣n, cấp tỉnh và cấp Trung ương Qua thực tế, có thể khẳng định rằng, cơ sở là môi trường rèn luyện, giáo dục, tạo điều kiện cho cán bộ phấn đấu, tu dưỡng và trưởng thành Thông qua hoạt động ở cơ sở, cán bộ tích lũy được nhiều kinh nghiệm thực tiễn, không ngừng

bổ sung kiến thức, năng lực lãnh đạo, năng lực quản lý, phương pháp điều

hành, phong cách làm viê ̣c được nâng lên rõ rệt

Thực tế cho thấy những cán bộ đã kinh qua công tác ở cơ sở khi được luân chuyển về cấp huyê ̣n, cấp tỉnh hoặc cấp Trung ương, được phân công đảm nhiệm các vị trí công tác cao hơn thường vững vàng, có bản lĩnh, thích ứng nhanh với nhiệm vụ mới và có khả năng hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Với ý nghĩa đó, có thể nói xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên cả nước là một mắt xích quan trọng thúc đẩy quá trình đổi mới, đẩy ma ̣nh công nghiệp hóa, hiện đa ̣i hóa đất nước ở mo ̣i lúc, mo ̣i nơi Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã có tầm quan trọng đặc biệt về nhiều mặt, góp phần hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ chính trị ở các đi ̣a phương và đóng góp cơ bản vào việc hoàn thành các chỉ tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng ở đi ̣a phương và trên cả nước

* Chức năng, nhiệm vụ của cán bộ chuyên trách cấp xã

Cán bộ chuyên trách cấp xã gồm: Bí thư, Phó Bí thư, Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND, Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND, Chủ tịch UBMTTQ Việt Nam, Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ, Chủ tịch Hội Nông dân, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh

- Bí thư, Phó Bí thư cấp xã là cán bộ chuyên trách công tác Đảng ở Đảng bộ cấp xã, có trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Đảng bộ, cùng tập thể Đảng bộ lãnh đạo toàn diện đối với

hệ thống chính trị ở cơ sở trong việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của đảng và Nhà nước trên địa bàn cấp xã

Trang 21

+ Nhiệm vụ của Bí thư là nắm vững Cương lĩnh, Điều lệ Đảng và đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, nghị quyết, chỉ thị của cấp trên và chức năng, nhiệm vụ của đảng bộ cấp mình; nắm vững nhiệm vụ trọng tâm, giải quyết có hiệu quả công việc đột xuất; nắm chắc và sát tình hình đảng bộ, tổ chức đảng trực thuộc và của nhân dân trên địa bàn; chịu trách nhiệm chủ yếu về các mặt công tác của đảng bộ

+ Nhiệm vụ của Phó Bí thư là giúp Bí thư Đảng bộ về các mặt công tác của Đảng bộ Tổ chức việc thông tin tình hình và chủ trương của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ cho các ủy viên Ban Chấp hành và tổ chức đảng trực thuộc Tổ chức kiểm tra việc thực hiện nghị quyết, chỉ thị của cấp ủy cấp trên, của Ban Chấp hành và Ban Thường vụ

- Chủ tịch UBMTTQ Việt Nam, Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ, Chủ tịch Hội Nông dân, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh là cán bộ chuyên trách đứng đầu UBMTTQ Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội ở cấp xã; chịu trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của điều lệ của tổ chức đoàn thể, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước Phối hợp với chính quyền, các đoàn thể cùng cấp vận động, hướng dẫn cán bộ, đoàn viên, hội viên tổ chức mình, các tầng lớp nhân dân tham gia thực hiện các chương trình kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh, thực hiện quy chế dân chủ tại xã, phường, thị trấn và các phong trào thi đua của tổ chức mình theo chương trình, nghị quyết của tổ chức chính trị - xã hội cấp trên tương ứng đề

ra Tổ chức, chỉ đạo việc học tập chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng

và pháp luật Nhà nước; các chủ trương, nghị quyết đối với đoàn viên, hội viên của tổ chức mình Tham mưu đối với cấp uỷ Đảng ở xã, phường, thị trấn trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ của tổ chức mình Bám sát hoạt động các phong trào, định kỳ tổ chức kiểm tra, đánh giá và báo cáo với cấp uỷ cùng cấp

và các tổ chức đoàn thể cấp trên về hoạt động của tổ chức mình

- Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND là cán bộ chuyên trách của HĐND xã, phường, thị trấn, chịu trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện chức

Trang 22

năng, nhiệm vụ của HĐND cấp xã, bảo đảm phát triển kinh tế - xã hội, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn xã, phường, thị trấn

Nhiệm vụ của Chủ tịch HĐND là chủ trì trong việc tham gia xây dựng nghị quyết của HĐND Giám sát, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện các nghị quyết của HĐND Tổ chức kiểm tra việc giải quyết các kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của nhân dân Chủ trì và phối hợp với UBND trong việc quyết định đưa ra bãi nhiệm đại biểu HĐND theo đề nghị của UBMTTQ Việt Nam cùng cấp

Nhiệm vụ của Phó Chủ tịch HĐND là căn cứ vào nhiệm vụ của Chủ tịch HĐND, Phó Chủ tịch HĐND tổ chức thực hiện các nhiệm vụ do Chủ tịch HĐND phân công cụ thể

- Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND là cán bộ chuyên trách lãnh đạo UBND cấp xã, chịu trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành hoạt động của UBND

và hoạt động quản lý Nhà nước đối với các lĩnh vực kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, đã được phân công trên địa bàn xã, phường, thị trấn

Nhiệm vụ của Chủ tịch UBND là lãnh đạo, tổ chức chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra đối với công tác chuyên môn thuộc UBND Quyết định các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch UBND cấp xã; quản lý và điều hành

bộ máy hành chính ở xã, phường, thị trấn hoạt động có hiệu quả Ngăn ngừa, đấu tranh chống biểu hiện tiêu cực trong cán bộ công chức Nhà nước và trong

bộ máy chính quyền địa phương cấp xã; tiếp dân, xét và giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân theo quy định của pháp luật; giải quyết và trả lời các kiến nghị của UBMTTQ Việt Nam và các đoàn thể nhân dân ở xã, phường, thị trấn Trực tiếp quản lý, chỉ đạo thực hiện một số nhiệm vụ theo quy định của pháp luật

Nhiệm vụ của Phó Chủ tịch UBND là tổ chức quản lý, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ theo khối công việc (khối kinh tế - tài chính, khối văn hoá - xã hội ) của UBND do Chủ tịch UBND phân công và những công việc do Chủ tịch UBND ủy nhiệm khi Chủ tịch UBND đi vắng

Trang 23

* Chức trách, nhiệm vụ đối với công chức cấp xã

Công chức cấp xã là công chức làm công tác chuyên môn thuộc UBND cấp xã; có trách nhiệm giúp UBND cấp xã quản lý Nhà nước về lĩnh vực công tác (Tài chính, Tư pháp, Địa chính, Văn phòng, Văn hoá - Xã hội, Công an, Quân sự) và thực hiện các nhiệm vụ khác do Chủ tịch UBND cấp xã giao

- Nhiệm vụ của công chức Tài chính - Kế toán là xây dựng dự toán thu chi ngân sách trình cấp có thẩm quyền phê duyệt, giúp UBND trong việc tổ chức thực hiện dự toán thu, chi ngân sách, quyết toán ngân sách, kiểm tra hoạt động tài chính khác của xã Thực hiện quản lý các dự án đầu tư xây dựng cơ bản, tài sản công tại xã, phường, thị trấn theo quy định Kiểm tra các hoạt động tài chính, ngân sách theo đúng quy định, tổ chức thực hiện theo hướng dẫn của cơ quan tài chính cấp trên Thực hiện chi tiền theo lệnh chuẩn chi; thực hiện theo quy định về quản lý quỹ tiền mặt và giao dịch đối với Kho bạc Nhà nước về xuất nhập quỹ

- Nhiệm vụ của công chức Tư pháp - Hộ tịch là giúp UBND cấp xã soạn thảo, ban hành các văn bản quản lý theo quy định của pháp luật; giúp UBND cấp xã tổ chức lấy ý kiến nhân dân đối với dự án luật, pháp lệnh theo

kế hoạch của UBND cấp xã và hướng dẫn của cơ quan chuyên môn cấp trên; giúp UBND cấp xã phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhân dân xã, phường, thị trấn Thực hiện trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách theo quy định của pháp luật; tổ chức phục vụ nhân dân nghiên cứu pháp luật; phối hợp hướng dẫn hoạt động đối với tổ hoà giải Thực hiện việc đăng

ký và quản lý hộ tịch theo các nhiệm vụ cụ thể được phân cấp quản lý và đúng thẩm quyền được giao Thực hiện việc chứng thực theo thẩm quyền đối với các công việc thuộc nhiệm vụ được pháp luật quy định Quản lý lý lịch

tư pháp, thống kê tư pháp ở xã, phường, thị trấn Giúp UBND cấp xã về công tác thi hành ánh theo nhiệm vụ cụ thể được phân cấp Giúp UBND cấp

xã trong việc phối hợp với các cơ quan, tổ chức liên quan quyết định việc giáo dục tại xã, phường,thị trấn Thực hiện các nhiệm vụ Tư pháp khác theo quy định của pháp luật

Trang 24

- Nhiệm vụ của công chức Địa chính - Xây dựng là lập sổ địa chính đối với chủ sử dụng đất hợp pháp, lập sổ mục kê toàn bộ đất của xã, phường, thị trấn Giúp UBND cấp xã hướng dẫn thủ tục, thẩm tra để xác nhận việc tổ chức, hộ gia đình đăng ký đất ban đầu, thực hiện các quyền công dân liên quan tới đất trên địa bàn xã, phường, thị trấn theo quy định của pháp luật; chỉnh lý sự biến động đất đai trên sổ và bản đồ địa chính đã được phê duyệt Thẩm tra, lập văn bản để UBND cấp xã và UBND cấp trên quyết định về giao đất, thu hồi đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với hộ gia đình và cá nhân và tổ chức thực hiện quyết định đó Kiểm tra việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai

đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt Bảo quản hồ sơ địa giới hành chính, bản đồ địa giới địa chính, bản đồ chuyên ngành, sổ địa chính, sổ mục kê, sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sổ theo dõi biến động đất đai, số liệu thống kê, kiểm kê, quy hoạch - kế hoạch sử dụng đất Tham mưu cho UBND cấp xã quản lý công tác xây dựng, giám sát về kỹ thuật trong việc xây dựng các công trình phúc lợi ở địa phương Phối hợp với cơ quan chuyên môn cấp trên trong việc đo đạc, lập bản đồ địa chính, bản đồ địa giới hành chính, giải phóng mặt bằng và thường xuyên kiểm tra nhằm phát hiện các trường hợp vi phạm đất đai tại địa bàn

- Nhiệm vụ của công chức Văn phòng - Thống kê là giúp UBND cấp xã xây dựng chương trình công tác, lịch làm việc và theo dõi thực hiện chương trình, lịch làm việc đó; tổng hợp báo cáo tình hình kinh tế - xã hội, tham mưu giúp UBND trong việc chỉ đạo thực hiện Quản lý công văn, sổ sách, giấy tờ, quản lý việc lập hồ sơ lưu trữ, biểu báo cáo thống kê; theo dõi biến động số lượng, chất lượng cán bộ, công chức cấp xã Giúp UBND về công tác thi đua khen thưởng ở xã, phường, thị trấn Giúp HĐND và UBND thực hiện nghiệp vụ công tác bầu cử đại biểu HĐND và UBND Nhận và trả kết quả trong giao dịch công việc giữa UBND với cơ quan, tổ chức và công dân theo cơ chế “một cửa”

- Nhiệm vụ của công chức Văn hoá - Xã hội là giúp UBND cấp xã trong việc thông tin tuyên truyền giáo dục về đường lối, chính sách của Đảng

Trang 25

và pháp luật của Nhà nước, tình hình kinh tế - chính trị ở địa phương; báo cáo thông tin về dư luận quần chúng về tình hình môi trường văn hoá ở địa phương Giúp UBND trong việc tổ chức các hoạt động thể dục, thể thao, văn hoá văn nghệ quần chúng, các câu lạc bộ, lễ hội truyền thống, bảo vệ các di tích lịch sử văn hoá, danh lam thắng cảnh ở địa phương, điểm vui chơi giải trí

và xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá, ngăn chặn việc truyền bá

tư tưởng phản động, đồi trụy dưới hình thức văn hoá, nghệ thuật và các tệ nạn

xã hội khác ở địa phương Lập chương trình, kế hoạch, nắm số lượng và tình hình các đối tượng chính sách lao động - thương binh và xã hội Thống kê dân

số, lao động, tình hình việc làm, ngành nghề trên địa bàn; Hướng dẫn và nhận

hồ sơ của người xin học nghề, tìm việc làm, người được hưởng chính sách ưu đãi, chính sách xã hội trình UBND xã giải quyết theo thẩm quyền Theo dõi

và đôn đốc việc thực hiện chi trả trợ cấp cho người hưởng chính sách lao động, thương binh và xã hội Phối hợp với các đoàn thể trong việc chăm sóc, giúp đỡ các đối tượng chính sách, bảo trợ xã hội và chăm sóc các đối tượng

xã hội ở cộng đồng Theo dõi thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo

- Nhiệm vụ của Trưởng Công an xã là tổ chức lực lượng công an xã, nắm chắc tình hình an ninh trật tự trên địa bàn; tham mưu đề xuất với cấp uỷ Đảng, UBND xã và cơ quan công an cấp trên về chủ trương, kế hoạch, biện pháp bảo đảm an ninh trật tự trên địa bàn và tổ chức thực hiện Tổ chức phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm, các tệ nạn xã hội và các vi phạm pháp luật khác trên địa bàn theo quy định của pháp luật Tổ chức thực hiện nhiệm

vụ phòng cháy, chữa cháy, giữ trật tự công cộng và an toàn giao thông, quản

lý vũ khí, chất nổ dễ cháy; quản lý hộ khẩu, kiểm tra các quy định về an ninh trật tự trên địa bàn theo thẩm quyền Xử lý người có hành vi vi phạm pháp luật theo quy định; tổ chức việc quản lý, giáo dục đối tượng trên địa bàn theo quy định của pháp luật

- Nhiệm vụ của Công chức Chỉ huy trưởng Quân sự là tham mưu đề xuất với cấp ủy Đảng, chính quyền cấp xã về chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo và trực tiếp tổ chức thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, quân sự, xây

Trang 26

dựng lực lượng dân quân, lực lượng dự bị động viên Xây dựng kế hoạch tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ; huy động lực lượng dự bị động viên; phối hợp với các đoàn thể triển khai thực hiện các nhiệm vụ liên quan tới công tác quốc phòng, quân sự trên địa bàn Tổ chức thực hiện đăng ký, quản

lý công dân trong độ tuổi làm nghĩa vụ quân sự, quân nhân dự bị và dân quân theo quy định của pháp luật; thực hiện công tác động viên, gọi thanh niên nhập ngũ Chỉ đạo dân quân phối hợp với công an và lực lượng khác thường xuyên hoạt động bảo vệ an ninh trật tự, sẵn sàng chiến đấu, phục vụ chiến đấu

và tổ chức khắc phục thiên tai, sơ tán, cứu hộ, cứu nạn Thực hiện chính sách hậu phương quân đội; tổ chức thực hiện nghiêm chế độ quản lý sử dụng, bảo quản vũ khí trang bị, sẵn sàng chiến đấu; quản lý công trình quốc phòng theo phân cấp; thực hiện chế độ kiểm tra, báo cáo, sơ kết, tổng kết công tác quốc phòng, quân sự ở xã, phường, thị trấn

1.1.2 Tiêu chuẩn cán bộ, công chức cấp xã

Xác định tiêu chuẩn cán bộ, công chức là vấn đề rất quan trọng trong công tác cán bộ Đó là cơ sở để tiến hành tổ chức, xem xét, đánh giá, lựa chọn, bố trí sắp xếp và sử dụng cán bộ; đó cũng là cơ sở để bản thân mỗi người cán bộ phấn đấu, tự rèn luyện, hoàn thiện mình Chủ nghĩa Mác - Lênin đòi hỏi cán bộ phải là người "Có nhiều trí tuệ hơn một chút, nhiều sự phân minh trong tư tưởng hơn một chút… và kiến thức rộng" [6, tr.389], và yêu cầu người cán bộ "Không nấp sau một chế độ quan liêu giấy tờ, không ngại thừa nhận những sai lầm của mình bằng cách sửa chữa những sai lầm ấy"[6, tr.35]

Trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đánh giá rất cao vị trí, vai trò của người cán bộ, đồng thời cũng đòi hỏi ở người cán bộ phải có những tiêu chuẩn nhất định, phải tự giác rèn luyện mình về mọi mặt, không ngừng nâng cao phẩm chất, năng lực để xứng đáng với vị trí, vai trò của mình Đưa ra những tiêu chuẩn đó đối với cán bộ là Hồ Chí Minh xuất phát từ những yêu cầu khách quan của cách mạng chứ không phải xuất phát từ ý chí chủ quan của mình Tư tưởng Hồ Chí Minh về những tiêu chuẩn ấy mang tính toàn diện và đầy đủ, gồm các tiêu chuẩn về đạo đức, phẩm chất năng lực, về trình độ lý luận, về phong cách và phương pháp của người cán bộ

Trang 27

Trong bất kỳ một hệ thống công chức nào, tiêu chuẩn công chức theo ngạch hay theo vị trí việc làm đều có vai trò rất quan trọng Đó là cơ sở để tuyển dụng, bố trí sử dụng, đào tạo bồi dưỡng Tiêu chuẩn cũng là căn cứ để mỗi công chức yên tâm làm việc theo chức trách được giao, xác định hướng phấn đấu, nâng cao trình độ và khả năng làm việc, các cấp quản lý cũng căn

cứ vào đó để tạo điều kiện cho cán bộ, công chức có cơ hội được học tập, bồi dưỡng Thực hiện việc chuẩn hóa cán bộ, công chức cấp xã, Bộ Nội vụ đã ban hành Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV ngày 16 tháng 01 năm 2004 về việc ban hành quy định tiêu chuẩn cụ thể đối với cán bộ, công chức cấp xã Quy định đã xác định rõ chức trách, nhiệm vụ của từng chức vụ, chức danh trong cán bộ, công chức cấp xã Để thực hiện được chức trách, nhiệm vụ được giao đòi hỏi cán bộ, công chức cấp xã phải đáp ứng những tiêu chuẩn chung và tiêu chuẩn cụ thể

a.Tiêu chuẩn chung:

Có tinh thần yêu nước sâu sắc, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; có năng lực tổ chức vận động nhân dân thực hiện có kết quả đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước ở địa phương

Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, công tâm thạo việc, tận tuỵ với dân Không tham nhũng và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng Có ý thức kỷ luật trong công tác Trung thực, không cơ hội, gắn bó mật thiết với nhân dân, được nhân dân tín nhiệm

Có trình độ hiểu biết về lý luận chính trị, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; có trình độ học vấn, chuyên môn, đủ năng lực và sức khoẻ để làm việc có hiệu quả đáp ứng yêu cầu nhiệm

vụ được giao

b Tiêu chuẩn cụ thể:

Tiêu chuẩn cụ thể của cán bộ, công chức cấp xã là căn cứ để các địa phương thực hiện các quy hoạch, kế hoạch bầu cử, tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, xếp lương, nâng bậc lương và các chế độ, chính sách khác

Trang 28

Tiêu chuẩn cụ thể của cán bộ, công chức cấp xã được xác định theo từng chức

vụ, chức danh như sau:

- Bí thư, Phó Bí thư, Thường trực Đảng uỷ

+ Tuổi đời: Không quá 45 tuổi khi tham gia giữ chức vụ lần đầu

+ Học vấn: Có trình độ tốt nghiệp trung học phổ thông

+ Lý luận chính trị: Có trình độ trung cấp chính trị trở lên

+ Chuyên môn, nghiệp vụ: Ở khu vực đồng bằng và đô thị có trình độ trung cấp chuyên môn trở lên Ở khu vực miền núi phải được bồi dưỡng kiến thức chuyên môn (tương đương trình độ sơ cấp trở lên), nếu tham gia giữ chức vụ lần đầu phải có trình độ trung cấp chuyên môn trở lên Đã qua bồi dưỡng nghiệp vụ công tác xây dựng Đảng, nghiệp vụ quản lý hành chính Nhà nước, nghiệp vụ quản lý kinh tế

- Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ, Chủ tịch Hội Nông dân, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh:

+ Tuổi đời: Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: Không quá

60 tuổi đối với nam, không quá 55 tuổi đối với nữ khi tham gia giữ chức vụ lần đầu Bí thư Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh: Không quá 30 tuổi khi tham gia giữ chức vụ công tác Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ, Chủ tịch Hội Nông dân: Không quá 55 tuổi đối với nam, không quá 50 tuổi đối với nữ khi tham gia giữ chức vụ lần đầu Chủ tịch Hội Cựu chiến binh: Không quá

65 tuổi khi tham gia giữ chức vụ

+ Học vấn: Có trình độ tốt nghiệp trung học cơ sở trở lên ở khu vực đồng bằng, tốt nghiệp tiểu học trở lên ở khu vực miền núi

+ Lý luận chính trị: Có trình độ sơ cấp và tương đương trở lên

+ Chuyên môn, nghiệp vụ: Đã được đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ lĩnh vực công tác mà cán bộ đang đảm nhiệm tương đương trình độ

sơ cấp trở lên

Trang 29

- Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân

+ Tuổi đời: Tuổi của Chủ tịch Hội đồng nhân dân và Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định phù hợp với tình hình đặc điểm của địa phương, nhưng tuổi tham gia lần đầu phải đảm bảo làm việc ít nhất hai nhiệm kỳ

+ Học vấn: Có trình độ tốt nghiệp trung học phổ thông

+ Lý luận chính trị: Có trình độ trung cấp lý luận chính trị đối với khu vực đồng bằng; khu vực miền núi phải được bồi dưỡng lý luận chính trị tương đương trình độ sơ cấp trở lên

+ Chuyên môn, nghiệp vụ: Có trình độ trung cấp chuyên môn trở lên đối với khu vực đồng bằng Với khu vực miền núi phải được bồi dưỡng kiến thức chuyên môn tương đương trình độ sơ cấp trở lên Ngành chuyên môn phù hợp với đặc điểm kinh tế - xã hội của từng loại hình đơn vị hành chính

xã, phường, thị trấn Đã qua lớp bồi dưỡng quản lý hành chính Nhà nước, nghiệp vụ quản lý kinh tế, kiến thức và kỹ năng hoạt động đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã

- Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân

+ Tuổi đời: Tuổi đời của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân và Phó chủ tịch Uỷ ban nhân dân do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định phù hợp với tình hình đặc điểm của địa phương nhưng tuổi tham gia lần đầu phải đảm bảo làm việc ít nhất hai nhiệm kỳ

+ Học vấn: Có trình độ tốt nghiệp trung học phổ thông

+ Chính trị: Có trình độ trung cấp lý luận chính trị trở lên đối với khu vực đồng bằng; khu vực miền núi phải được bồi dưỡng lý luận chính trị tương đương trình độ sơ cấp trở lên

+ Chuyên môn, nghiệp vụ: Ở khu vực đồng bằng, có trình độ trung cấp chuyên môn trở lên Với miền núi phải được bồi dưỡng kiến thức chuyên môn (tương đương trình độ sơ cấp trở lên), nếu giữ chức vụ lần đầu phải có trình

Trang 30

độ trung cấp chuyên môn trở lên Ngành chuyên môn phải phù hợp với đặc điểm kinh tế - xã hội của từng loại hình đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn Đã được bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý hành chính Nhà nước, quản lý kinh tế

- Đối với các chức danh công chức phải có tiêu chuẩn sau:

+ Độ tuổi: Đủ 18 tuổi trở lên;

+ Trình độ văn hóa: Tốt nghiệp trung học phổ thông;

+ Trình độ chuyên môn: Tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp trở lên của ngành đào tạo phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của chức danh công chức được đảm nhiệm;

+ Trình độ tin học: Có chứng chỉ tin học văn phòng trình độ A trở lên; + Tiếng dân tộc thiểu số: Ở địa bàn công tác phải sử dụng tiếng dân tộc thiểu số trong hoạt động công vụ thì phải biết thành thạo tiếng dân tộc thiểu

số phù hợp với địa bàn công tác đó; nếu khi tuyển dụng mà chưa biết tiếng dân tộc thiểu số thì sau khi tuyển dụng phải hoàn thành lớp học tiếng dân tộc thiểu số phù hợp với địa bàn công tác được phân công;

+ Sau khi được tuyển dụng phải hoàn thành lớp đào tạo, bồi dưỡng quản lý hành chính nhà nước và lớp đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị theo chương trình đối với chức danh công chức cấp xã hiện đảm nhiệm

- Ngoài ra còn phải đáp ứng các tiêu chuẩn riêng sau:

+ Đối với các công chức Văn phòng - thống kê, Địa chính - xây dựng -

đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc Địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã), Tài chính - kế toán, Tư pháp - hộ tịch, Văn hóa - xã hội: Hiểu biết về lý luận chính trị, nắm vững quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; Có năng lực tổ chức vận động nhân dân ở địa phương thực hiện có hiệu quả chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; Có trình

độ văn hóa và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp yêu cầu nhiệm vụ, vị

Trang 31

trí việc làm, có đủ năng lực và sức khỏe để hoàn thành nhiệm vụ được giao;

Am hiểu và tôn trọng phong tục, tập quán của cộng đồng dân cư trên địa bàn công tác

+ Đối với công chức Chỉ huy trưởng Quân sự cấp xã và Trưởng Công

an xã: ngoài những tiêu chuẩn quy định trên còn phải có khả năng phối hợp với các đơn vị Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và lực lượng khác trên địa bàn tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân và thực hiện một số nhiệm vụ phòng thủ dân sự; giữ gìn an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ Đảng, chính quyền, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, tài sản của Nhà nước

1.1.3.Chất lượng cán bộ, công chức cấp xã

1.1.3.1 Khái niệm chất lượng cán bộ, công chức cấp xã

Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học do nhà xuất bản Đà Nẵng xuất bản năm 2000 nêu rõ: "Chất lượng: Cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người, một sự vật, sự việc" Khi đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức một vấn đề đặt ra là hiểu cho đúng thế nào là chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức Phạm trù chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức được nghiên cứu, tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau:

+ Chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức được thể hiện thông qua hoạt động của toàn bộ bộ máy tổ chức các cơ quan Nhà nước, ở việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan đó

+ Chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức được đánh giá dưới góc độ phẩm chất đạo đức, trình độ năng lực và khả năng hoàn thành nhiệm vụ được giao cũng như hiệu quả công tác của họ

+ Chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức là chỉ tiêu tổng hợp chất lượng của từng cán bộ, công chức Đối với đội ngũ cán bộ, công chức, muốn xác định chất lượng cao hay thấp ngoài việc đánh giá phẩm chất đạo đức phải

có hàng loạt chỉ tiêu đánh giá trình độ năng lực và sự tín nhiệm của các cá

Trang 32

nhân, tổ chức, doanh nghiệp trên địa bàn Các lớp đào tạo huấn luyện đã qua; bằng cấp (kể cả ngoại ngữ, tin học) về chuyên môn, kỹ thuật, quản lý Nhà nước, pháp luật v.v ; độ tuổi, thâm niên công tác

+ Chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức còn được đánh giá dưới góc độ khả năng thích ứng, xử lý các tình huống phát sinh của người cán bộ, công chức đối với nhiệm vụ được giao

Bên cạnh đó, nhiệm vụ của cán bộ, công chức và hoạt động công vụ gắn liền với cán bộ, công chức là một loại lao động đặc thù để thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng, chính quyền, đoàn thể, quản lý Nhà nước; thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, nhằm đưa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước vào đời sống, phục vụ nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị

Từ những góc độ khác nhau nêu trên, có thể đưa ra khái niệm về chất

lượng đội ngũ cán bộ, công chức: Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức là

chỉ tiêu tổng hợp đánh giá phẩm chất đạo đức, trình độ, năng lực và khả năng thích ứng, thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ được giao của họ

1.1.3.2 Các tiêu chí phản ánh chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã

* Nhóm tiêu chí phản ánh năng lực, trình độ của cán bộ, công chức

- Tiêu chí về sức khỏe

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói:"Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần sức khỏe mới thành công" Người nói: "mỗi một người dân yếu ớt là cả nước yếu ớt, dân cường thì nước mạnh Điều này nói lên rằng Bác Hồ của chúng ta đã đánh giá rất cao vai trò của sức khỏe

Quan niệm về sức khỏe của Chủ tịch Hồ Chí Minh bao gồm sự lành mạnh cả về thể xác lẫn tinh thần Người định nghĩa: “ngày nào cũng tập thể dục thì khí huyết lưu thông, tinh thần đầy đủ, như vậy là sức khỏe” Nội dung của định nghĩa này hoàn toàn thống nhất với định nghĩa về sức khỏe của Tổ chức Y tế Thế giới trong Tuyên ngôn Alma Ata năm 1978 “Sức khỏe là trạng thái hoàn toàn thoải mái về tâm hồn, về thể xác, về xã hội”

Trang 33

Dân cường thì nước thịnh, rèn luyện sức khỏe là bổn phận của mỗi người dân yêu nước Do vậy, người cán bộ, công chức càng cần phải khỏe mạnh cả về thể chất lẫn tinh thần mới hoàn thành tốt được công việc, nhiệm

vụ được giao góp phần phục vụ tất cả các hoạt động phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, giáo dục… tức là phục vụ sự nghiệp phấn đấu cho mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh”

- Trình độ học vấn

Đây không phải là yếu tố duy nhất quyết định chất lượng và hiệu quả hoạt động của cán bộ, công chức cấp xã nhưng nó là tiêu chí quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả hoạt động quản lý của đội ngũ này Nó là tiền

đề, nền tảng cho việc nhận thức tiếp thu và đưa đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống Cán bộ, công chức phải có trình

độ học vấn cơ bản để có khả năng tiếp thu và áp dụng kiến thức mới trong thực thi công vụ; góp phần giúp cán bộ, công chức nâng cao khả năng làm việc chủ động và sáng tạo

- Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ

Để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, đòi người cán bộ, công chức cần phải có chuyên môn, nghiệp vụ vững vàng Cán bộ, công chức phải luôn phấn đấu học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, nhất là trong các ngành khoa học kỹ thuật, khoa học quản lý và thực hành Phải thường xuyên tiếp cận và cập nhật kiến thức mới về lĩnh vực kinh tế, quản lý nhà nước, đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn cách mạng hiện nay

- Trình độ lý luận chính trị

Người cán bộ, công chức trong thời kỳ nào cũng cần phải có bản lĩnh chính trị vững vàng thì tư tưởng, lập trường mới kiên định với mục tiêu và con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng và nhân dân đã lụa chọn; nhiệt tình cách mạng, gương mẫu, tận tụy có tinh thần và ý thức trách nhiệm cao với công việc, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân

Trang 34

- Trình độ quản lý nhà nước

Quản lý nhà nước, hiểu theo nghĩa rộng, được thực hiện bởi tất cả các

cơ quan nhà nước Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước là hoạt động chấp hành

và điều hành xã hội của cơ quan Nhà Nước được đặc trưng bởi các yếu tố có tính tổ chức; được thực hiện trên cơ sở và để thi hành pháp luật; Quản lý nhà nước cũng là sản phẩm của việc phân công lao động nhằm liên kết và phối hợp các đối tượng bị quản lý Quản lý hành chính nhà nước là sự tác động mang tính tổ chức lên các quan hệ xã hội Đó là những thủ pháp mà nhà quản

lý sử dụng trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình để giải quyết các vụ việc cụ thể đặt ra Để thực hiện được hoạt động này, đòi hỏi đội ngũ cán bộ công chức cần phải được đào tạo, bồi dưỡng những kiến thức cơ bản về quản

lý nhà nước thì mới có được kỹ năng, phương pháp quản lý Thực tế cho thấy,

có những cán bộ có nhiệt tình, có sức khỏe, có hiểu biết nhưng thiếu kiến thức quản lý hành chính thì hiệu quả hoạt động của họ cũng sẽ bị hạn chế Vì thế, những kiến thức của khoa học quản lý cũng là yếu tố quan trọng trong năng lực của cán bộ công chức cấp xã

* Tiêu chí về phẩm chất đạo đức và lối sống

Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, đạo đức là nền tảng, là sức mạnh, là tiêu chuẩn hàng đầu của người cán bộ cũng như gốc của cây, ngọn nguồn của sông, suối

Sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn Cây phải

có gốc, không có gốc thì cây héo Người cán bộ cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân

Người cán bộ có đạo đức, có lối sống lành mạnh, không tham ô, lãng phí, có trách nhiệm trong công việc, ứng sử đúng đắn với mọi người sẽ có uy tín trước nhân dân, tạo điều kiện thuận lợi cho họ hoàn thành tốt nhiệm vụ

Hiện nay, tham nhũng và các biểu hiện tiêu cực khác trong xã hội là một trong những bức xúc lớn trong nhân dân, trong đó có cán bộ cấp xã Do vậy, phẩm chất đạo đức của người cán bộ cấp xã trước hết là kiên quyết

Trang 35

chống tham nhũng và tiêu cực xã hội Đồng thời, phải chú trọng đến các phẩm chất khác như: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; không học đòi thói xa hoa, lãng phí, lợi dụng chức quyền để vun vén cá nhân

* Tiêu chí phản ánh kỹ năng nghề nghiệp

Đây là tiêu chí quan trọng đánh giá chất lượng của cán bộ, công chức, phản ánh tính chuyên nghiệp trong khi thực thi nhiệm vụ của cán bộ, công chức

Đối với mỗi cán bộ, công chức cần phải có những kỹ năng khác nhau Tuy nhiên đối với cán bộ chủ chốt thì những kỹ năng cần phải có là:

- Kỹ năng lãnh đạo

- Kỹ năng quản lý, điều hành công việc

- Kỹ năng giải quyết vấn đề

- Kỹ năng tổ chức

- Kỹ Năng thuyết trình

- Kỹ năng giao tiếp

- Kỹ năng làm việc nhóm

Với công chức chuyên môn thì cần những kỹ năng:

- Kỹ năng soạn thảo văn bản

- Kỹ năng sử dụng máy tính

- Kỹ năng ngoại ngữ

- Kỹ năng tiếp dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo của dân

* Tiêu chí phản ánh về kinh nghiệm công tác

Kinh nghiệm công tác được đánh giá, xem xét thông qua thâm niên của cán bộ, công chức Tuy nhiên, giữa kinh nghiệm và thâm niên công tác không phải hoàn toàn theo tỷ lệ thuận Để có được kinh nghiệm trong công tác ngoài điều kiện về thời gian công tác thì người cán bộ, công chức phải có khả năng nhận thức, phân tích, tổng hợp tích lũy và ghi nhớ

* Tiêu chí về tin học, ngoại ngữ

- Tin học: Hiện nay, công nghệ thông tin được ứng dụng rộng rãi trong các cơ quan, người dân và doanh nghiệp Việc sử dụng máy tính, các thiết bị công nghệ thông tin để soan thảo văn bản, truy cập internet, phục vụ công tác

Trang 36

chuyên môn, nghiệp vụ trở thành nhu cầu thiết yếu hàng ngày của hầu hết cán

bộ, công chức Việc nâng cao trình độ tin học cho cán bộ, công chức cấp xã xuất phát từ mục tiêu nhằm đáp ứng yêu cầu nâng cao năng lực của cán bộ, công chức trong chương trình cải cách hành chính, thực hiện Tin học hóa các quy trình phục vụ nhân dân trong các lĩnh vực dịch vụ công cộng

- Ngoại ngữ: Trong giai đoạn mở của hội nhập hiện nay

1.1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cán bộ, công chức cấp xã

Yếu tố đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp cơ sở

Chất lượng cán bộ, công chức cấp cơ sở hình thành và chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, trong đó chủ yếu và quan trọng là thông qua đào tạo với mục đích "làm cho trở thành người có năng lực theo tiêu chuẩn nhất định"

Đào tạo cán bộ, công chức cấp cơ sở là làm cho đội ngũ này có được những năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định Năng lực ở đây bao gồm trình độ về kiến thức, năng lực về hiểu biết, nhận thức sự việc, năng lực điều hành, tổ chức thực hiện, sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm và đề xuất giải

pháp để thực hiện đạt mục tiêu

Hiện nay, đất nước ta đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trong bối cảnh có những thời cơ, thuận lợi mới nhưng cũng có nhiều khó khăn, thách thức mới Nhiệm vụ chính trị rất nặng nề phức tạp, đặt ra nhiều vấn đề cho công tác cán bộ và đào tạo cán bộ Đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân phải xây dựng được đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở ngang tầm, có bản lĩnh chính trị, phẩm chất cách mạng, có năng lực thực tiễn góp phần thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa

Phải nhận thức sâu sắc rằng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức là một khoa học, hơn nữa là một khoa học về con người Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ sẽ tạo tiền đề cho quá trình tiếp tục đổi mới, sáng tạo trong vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng vào thực tiễn cách mạng Việt Nam Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã đánh dấu sự đổi mới toàn diện trên các lĩnh vực của đất nước Đại hội IX, X đã tiếp tục khẳng định: Phải chăm lo xây dựng

Trang 37

thật tốt đội ngũ cán bộ các cấp, các ngành và đổi mới quan niệm, phương pháp đánh giá, sử dụng cán bộ trong tình hình mới Trước hết, phải coi trọng việc xây dựng đội ngũ cán bộ cấp xã, phường, thị trấn tại chỗ - đây là chiến lược mục tiêu lâu dài

Nghị quyết Trung Ương 5 khóa IX cũng khẳng định:

Nâng cao mặt bằng dân trí; mở rộng mạng lưới trường dạy nghề, trung cấp, cao đẳng ở các tỉnh, huyện, các trường, lớp nội trú cho con em đồng bào các dân tộc để tạo nguồn cán bộ cho cơ sở Có chính sách thu hút những người được đào tạo chuyên môn, nhất là sinh viên tốt nghiệp đại học và cao đẳng về làm cán bộ, công chức ở cơ sở Ở những nơi còn thiếu cán bộ tại chỗ, nhất là các xã vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, cần kết hợp đào tạo cán bộ thông qua việc thực hiện nghĩa vụ quân sự, luân chuyển cán bộ ở huyện, tỉnh về công tác

ở cơ sở với nhiệm vụ chính là dìu dắt, bồi dưỡng cán bộ tại chỗ

Đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ hiểu biết về mọi mặt cho cán bộ, công chức cấp xã là cần thiết và cấp bách Họ là những người trực tiếp gần gũi nhân dân, vì vậy, trước hết phải hiểu sâu sắc đường lối, chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để giải thích cho dân hiểu và trả lời những thắc mắc của dân; đi sâu đi sát, tìm hiểu thực tế, gương mẫu, đi đầu trong việc thực hiện những chủ trương như xóa đói giảm nghèo, chống quan liêu, tham nhũng, phòng chống tệ nạn xã hội và coi đó là nhiệm

vụ của chính mình mà Đảng, tổ chức đã giao cho

Tuy nhiên do chưa nhận thức đúng vai trò, vị trí, công tác bồi dưỡng, đào tạo cán bộ, công chức ở cơ sở nên nhìn chung cán bộ, công chức chưa thực sự đảm đương được nhiệm vụ trong tình hình mới, đặc biệt là cán bộ, công chức cấp xã thuộc khu vực miền núi Những bất cập trong đào tạo, bồi dưỡng ảnh hưởng đến chất lượng cán bộ, công chức cấp cơ sở thuộc khu vực miền núi được thể hiện:

- Đối tượng đưa đi đào tạo chủ yếu là xét cử chứ chưa xét tuyển, kết quả đào tạo vì thế còn nhiều bất cập, nội dung chương trình đào tạo còn chưa phù

Trang 38

hợp, chưa gắn công tác quy hoạch và công tác đào tạo, các cơ quan quản lý cán bộ chưa có quy hoạch và kế hoạch tạo nguồn cán bộ cơ sở một cách cơ bản do nguồn ở những địa phương này quá mỏng

- Phương pháp chưa linh hoạt, cứng nhắc, không phù hợp, đặc biệt là đối với học viên là người dân tộc thiểu số, không đạt được mục tiêu đào tạo

đề ra, không nâng cao được kỹ năng thực hành; chưa nâng cao được tư duy kinh tế, năng lực quản lý kinh tế cho cán bộ, công chức để có thể tổ chức, điều hành nhằm đưa đời sống của nhân dân ở cơ sở thoát khỏi tình trạng nghèo nàn và lạc hậu

- Nội dung chương trình đào tạo chưa phù hợp với đối tượng học viên, chưa có sự đầu tư thỏa đáng trong xây dựng chương trình Một số bài giảng khô khan, nặng về truyền đạt lý luận một cách bài bản với những thuật ngữ trừu tượng, phức tạp trong khi trình độ tiếp thu của học viên khá hạn chế

- Công tác quản lý đào tạo, bồi dưỡng không khoa học, việc quản

lý mang nặng về phương pháp hành chính đơn thuần, chưa kết hợp chặt chẽ giữa quản lý bằng nội quy, quy chế với quản lý bằng nội dung kiến thức

- Chưa huy động được nhiều nguồn lực tham gia đào tạo đối với cán

bộ, công chức thuộc khu vực đặc biệt khó khăn

- Sau khi đào tạo nhiều người không được sử dụng vào công việc chuyên môn của mình; chính sách về đào tạo chưa hợp lý

Từ những phân tích trên đây cho thấy công tác đào tạo, bồi dưỡng ảnh hưởng rất lớn đến việc hình thành và nâng cao chất lượng của cán bộ, công chức cấp cơ sở Tuy nhiên, những bất cập trong công tác đào tạo, bồi dưỡng nhất là đối với các xã miền núi làm cho chất lượng cán bộ, công chức cấp xã chưa đáp ứng được yêu cầu nâng cao chất lượng của đội ngũ này

Cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm, sử dụng cán bộ, công chức cấp cơ sở

Nói đến cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm tức là nói đến cách thức, phương pháp để lựa chọn và bố trí cán bộ cho đúng người, đúng việc nhằm phát huy năng lực và sở trường của họ để đạt kết quả cao trong công tác Như vậy tuyển dụng, bổ nhiệm là hai khâu công việc của quá trình sử dụng cán bộ

Trang 39

nhằm đạt mục đích chung, nó vừa là những điều kiện cần thiết vừa là yêu cầu của khoa học quản lý con người Tính khoa học thể hiện ở chỗ nó phải dựa vào cơ sở lý luận và thực tiễn của quy luật phát triển xã hội, đường lối, nguyên tắc, phương pháp và những yếu tố tâm lý học để đánh giá, tuyển dụng,

bổ nhiệm Nếu làm tốt công tác tuyển dụng, bổ nhiệm chúng ta sẽ lựa chọn được những người có đủ phẩm chất chính trị, đạo đức, có trình độ năng lực và xếp họ vào đúng chỗ, đúng việc Việc sắp xếp đúng chỗ, đúng việc sẽ tạo điều kiện phát huy tinh thần hăng say làm việc, khuyến khích tinh thần học tập và rèn luyện nâng cao trình độ chuyên môn

Chính vì vậy, công tác tuyển chọn, bổ nhiệm có ảnh hưởng rất lớn đối với chất lượng của cán bộ, công chức cấp cơ sở

Đối với cán bộ, công chức cấp cơ sở vẫn thực hiện cơ chế Đảng cử dân bầu, tuyển chọn bổ nhiệm chưa gắn với thi tuyển, lựa chọn về trình độ chuyên môn nghiệp vụ cùng với việc một số cấp ủy đảng, một số ngành, địa phương, đơn vị chưa nhận thức đầy đủ về chính sách của Đảng đối với khu vực này Các cấp ủy đảng chưa quán triệt sâu sắc quan điểm về xây dựng cán

bộ, công chức cấp cơ sở ở vùng dân tộc và miền núi cho các ngành, các cấp, các đơn vị, cũng như cho cán bộ, công chức trong điều kiện lịch sử cụ thể cho nên việc tuyển chọn, bổ nhiệm cán bộ, công chức chính quyền cấp cơ

sở ở một số địa phương chưa được quan tâm đúng mức, cán bộ đi học về chưa bố trí, sử dụng đúng năng lực, sở trường Số học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số tốt nghiệp trung học phổ thông trở lên chưa được tuyển chọn, bổ nhiệm, bổ sung tăng cường về cấp cơ sở, việc tuyển chọn, bổ nhiệm nhiều khi mang tính hình thức sắp đặt không theo những yêu cầu cụ thể về phẩm chất và năng lực của mỗi chức danh Việc tuyển chọn, bổ nhiệm chưa gắn với công tác đào tạo và quy hoạch Như vậy khó tránh khỏi hiện tượng tuyển dụng những người kém về năng lực, phẩm chất làm ảnh hưởng đến chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở

Trang 40

Yếu tố pháp luật về chế độ, chính sách cán bộ, công chức cấp cơ sở

Chế độ, chính sách là công cụ điều tiết cực kỳ quan trọng trong quản lý

xã hội Chế độ, chính sách tác động mạnh mẽ đến hoạt động của con người Chế độ, chính sách có thể mở đường, là động lực thúc đẩy tính tích cực, tài năng, sáng tạo, nhiệt tình, trách nhiệm của mỗi con người, nhưng cũng có thể kìm hãm hoạt động của con người, làm thui chột tài năng, sáng tạo, nhiệt tình trách nhiệm của mỗi con người Vì vậy, chế độ chính sách là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cán bộ, công chức Có thể nói trong tình hình hiện nay việc đổi mới cơ chế sử dụng và chính sách đối với cán bộ, công chức

là khâu có tính đột phá

Trong thời gian vừa qua Đảng, Nhà nước đã có nhiều quyết sách hướng

về cán bộ, công chức cấp cơ sở nhằm khắc phục tình trạng thiếu hụt cán bộ, công chức và nâng cao chất lượng cán bộ, công chức ở cơ sở để có thể đảm đương được nhiệm vụ trong thời kỳ mới Tuy nhiên, hệ thống chính sách đối với cán bộ, công chức cấp cơ sở hiện nay vẫn còn một số bất cập

Chế độ tiền lương và phụ cấp đối với cán bộ, công chức cấp cơ sở khu vực miền núi nói riêng, cán bộ, công chức cấp xã trên phạm vi cả nước nói chung chưa trở thành đòn bẩy kích thích làm việc với sự nhiệt tình hăng say

Hệ thống chính sách vẫn mang tính chắp vá, không đồng bộ Chưa khuyến khích những người công tác ở vùng sâu, vùng xa, cơ chế quản lý, việc xây dựng ban hành và tổ chức thực hiện chính sách còn chồng chéo, thiếu nhất quán, không đồng bộ từ quy hoạch đến đào tạo bồi dưỡng, bố trí sử dụng đến

cơ chế kiểm tra, giám sát

Những bất hợp lý về chính sách cán bộ như nêu trên dẫn đến kết quả nhiều cán bộ, công chức có năng lực thực sự không muốn tham gia vào công tác địa phương hoặc nếu tham gia thì có quan điểm nay làm mai nghỉ, hoặc cán bộ, công chức đương chức cửa quyền chỉ bố trí người thân cận, người trong dòng họ, người địa phương Có nhiều xã, phường, thị trấn bố trí số lượng cán bộ, công chức nhiều hơn quy định, nhưng bên cạnh đó có nhiều xã, phường, thị trấn thì đang thiếu các các chức danh này, dẫn đến cán bộ, công chức thiếu

Ngày đăng: 20/03/2017, 11:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
10. Quốc Hội (2015), Luật tổ chức chính quyền địa phương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật tổ chức chính quyền địa phương
Tác giả: Quốc Hội
Năm: 2015
11. Quốc Hội (2015), Luật bầu cử đại biểu quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật bầu cử đại biểu quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân
Tác giả: Quốc Hội
Năm: 2015
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương khóa IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2003), Văn kiện Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương khoá IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
4. Chính phủ (2011), Nghị định số 112/2011/NĐ-CP về công chức xã, phường, thị trấn Khác
5. Chính phủ (2009), Nghị định số 92/2009/NĐ-CP về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã Khác
6. Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Khoá VII; Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Khoá VIII Khác
8. Luật tổ chức HĐND và UBND (Sửa đổi) (1994), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
9. Luật bầu cử đại biểu HĐND (Sửa đổi) (1994), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
12. Ban Tổ chức Cán bộ Chính phủ (12/2000), Khuyến nghị về chính sách đối với cán bộ xã, phường, thị trấn Khác
13. Ban Tổ chức Cán bộ Chính phủ (2001), Công văn số 151 ngày 8/5 Về việc góp ý đề án kiện toàn hệ thống chính trị cơ sở, Hà Nội Khác
14. Nguyễn Thị Mai Anh (2015), Yêu cầu và giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ thời kỳ hội nhập quốc tế, tạp chí Cộng Sản Khác
15. Trần Thị Hạnh (2015), Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã sau Hội nghị Trung ương 5 khóa IX và một số kiến nghị, tạp chí Cộng Sản Khác
16. Chi cục Thống kê huyện Quế Võ, Niên giám thống kê huyện Quế Võ các năm 2013-2014-2015 Khác
17. Văn phòng Ủy ban nhân dân huyện Quế Võ, báo cáo kinh tế - xã hội huyện Quế Võ các năm 2013-2014-2015.Sách tham khảo Khác
18. Bùi Tiến Quý (2000), Một số vấn đề tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trong giai đoạn hiện nay ở nước ta, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
19. Hà Quang Ngọc (2000), Góp phần xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
20. Hoàng Phê (chủ biên) (2000), Từ điển tiếng Việt, Viện ngôn ngữ học, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng Khác
21. Nguyễn Văn Sáu, Hồ Văn Thông (đồng chủ biên) (2003), Thực hiện quy chế dân chủ và xây dựng chính quyền cấp xã ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Số lượng cán bộ, công chức của các xã được chọn khảo sát - Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh (LV thạc sĩ)
Bảng 2.1 Số lượng cán bộ, công chức của các xã được chọn khảo sát (Trang 50)
Bảng 3.1: Sự biến động của cán bộ, công chức cấp xã - Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh (LV thạc sĩ)
Bảng 3.1 Sự biến động của cán bộ, công chức cấp xã (Trang 65)
Bảng 3.3: Trình độ chuyên môn của cán bộ, công chức đang công tác tại - Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh (LV thạc sĩ)
Bảng 3.3 Trình độ chuyên môn của cán bộ, công chức đang công tác tại (Trang 70)
Bảng 3.7: Chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã - Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh (LV thạc sĩ)
Bảng 3.7 Chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã (Trang 74)
Bảng 3.8: Phẩm chất đạo đức, lối sống của đội ngũ cán bộ công chức - Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh (LV thạc sĩ)
Bảng 3.8 Phẩm chất đạo đức, lối sống của đội ngũ cán bộ công chức (Trang 76)
Bảng 3.9: Thái độ trách nhiệm với công việc của đội ngũ - Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh (LV thạc sĩ)
Bảng 3.9 Thái độ trách nhiệm với công việc của đội ngũ (Trang 78)
Bảng 3.10: Kết quả điều tra sự hài lòng về công việc - Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh (LV thạc sĩ)
Bảng 3.10 Kết quả điều tra sự hài lòng về công việc (Trang 79)
Bảng 3.11: Bảng lương đối với cán bộ cấp xã chưa qua đào tạo chuyên môn - Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh (LV thạc sĩ)
Bảng 3.11 Bảng lương đối với cán bộ cấp xã chưa qua đào tạo chuyên môn (Trang 80)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm