1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

NHO GIÁO VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN VIỆT NAM

23 580 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 62,02 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau đây là một số công trình nghiên cứu cóliên quan về Nho giáo: Đề tài khoa học cấp Phân viện 2002: "Ảnh hưởng của Nho giáo đối với sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay" do Tiến sĩ Vũ T

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA TP HỒ CHÍ MINH

KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN

Tp Hồ Chí Minh, năm 2015

Trang 2

MỤC LỤC

Trang 3

MỞ ĐẦU

Văn minh Trung Hoa là một trong những nền văn minh xuất hiện sớm nhấtthế giới với hơn 4000 năm phát triển liên tục với nhiều phát minh vĩ đại trong nhiềulĩnh vực khoa học Có thể nói, văn minh Trung Hoa là một trong những cái nôi củanhân loại Bên cạnh những phát minh, phát kiến về khoa học văn minh Trung Hoacòn là nơi sản sinh ra nhiều học thuyết triết học lớn có ảnh hưởng đến nền văn minhchâu Á cũng như toàn thế giới Trong số các học thuyết triết học lớn ấy phải kể đếnhọc thuyết nho giáo

Nho giáo là một học thuyết chính trị - đạo đức ra đời và tồn tại đến nay đã hơn

2500 năm Cùng với sự tồn tại của nền văn hóa Trung Hoa, Nho giáo đã có ảnhhưởng ở nhiều nước phương Đông, trong đó có Việt Nam Tư tưởng Nho giáo ảnhhưởng một cách sâu sắc tới đời sống tinh thần của người Việt Sự ảnh hưởng này,được thể hiện trên nhiều phương diện, lỉnh vực khác nhau như chính trị, đạo đức,luân lý xã hội… trong đó có những mặt tích cực cũng có mặt tiêu cực đối với conngười Việt Nam Vì vậy em đã chọn đề tài tiểu luận: “ Nho giáo và ảnh hưởng củanho giáo đến Việt Nam” để thực hiện

Tình hình nghiên cứu có liên quan

Là một học thuyết triết học lớn và có ảnh hưởng sâu đến nền văn minh châu Átrong đó có Việt Nam học thuyết triết học Nho giáo đã thu hút nhiều sự tranh luận,quan tâm nghiên cứu của nhiều học giả Sau đây là một số công trình nghiên cứu cóliên quan về Nho giáo:

Đề tài khoa học cấp Phân viện (2002): "Ảnh hưởng của Nho giáo đối với sự nghiệp

đổi mới ở nước ta hiện nay" do Tiến sĩ Vũ Trọng Dung làm chủ nhiệm, trong đó tác

giả đã làm rõ những tư tưởng cơ bản của Nho giáo và sự tiếp biến tư tưởng Nhogiáo ở Việt Nam Tác giả cũng đã chứng minh những nhận định về ảnh hưởng củaNho giáo đối với nước ta trong quá khứ và hiện tại Từ đó đưa ra một hệ thống cácquan điểm có ý nghĩa phương pháp luận đối với việc xây dựng con người mới, vănhoá mới trong sự nghiệp đổi mới hiện nay

Luận án tiến sĩ "Học thuyết chính trị xã hội của Nho giáo và sự thể hiện của nó ở

Việt Nam (từ thế kỷ XI đến nửa đầu thế kỷ XIX)" của Nguyễn Thanh Bình, trong đó

tác giả đã phân tích Nho giáo với tính cách là học thuyết chính trị xã hội Các vấn

Trang 4

đề được tác giả bàn đến như: con người, vai trò của con người trong xã hội, xã hội

lý tưởng, chuẩn mực đạo đức dưới góc độ chính trị - xã hội

Đề tài khoa học cấp Cơ sở (2008): "Vấn đề con người trong các học thuyết Trung

Hoa cổ đại và một số ảnh hưởng của nó trong nền văn hoá Việt Nam" do Tiến sĩ

Cung Thị Ngọc làm chủ nhiệm, trong đó tác giả đã trình bày các tư tưởng về vấn đềcon người trong các học thuyết Trung Hoa cổ đại và đưa ra nhận định để chứngminh sự ảnh hưởng của tư tưởng đó trong nền văn hoá Việt Nam Từ đó, tác giả đưa

ra một số giải pháp để kế thừa, phát huy những giá trị truyền thống trong xã hộingày nay

Cuốn: Triết lý nhân sinh của tác giả Lê Kiến Cầu trình bày cụ thể các vấn đề nhân

sinh, ý nghĩa nhân sinh trên các bình diện khác nhau như ý nghĩa nhân sinh, vấn đềnhân sinh và nhân sinh quan, qua đó giúp cho độc giả có thể rút ra những suy nghĩ,cách giải quyết vấn đề của bản thân một cách hiệu quả

Cuốn: Nho giáo, ảnh hưởng của nó - vấn đề của ngày xưa và ngày nay ở nước ta

của cố Phó Giáo sư Trần Đình Hượu Trong đó tác giả đã hệ thống hoá quá trìnhhình thành và phát triển của Nho giáo một cách khái quát, phân tích những giá trịtruyền thống ảnh hưởng đến cuộc sống của nhân dân, chỉ ra những mặt tích cựccũng như hạn chế của Nho giáo

Cuốn: Vài ý kiến về ảnh hưởng của Nho giáo đối với xã hội Việt Nam của tác giả

Đào Duy Anh Đây là công trình nghiên cứu công phu, trong đó tác giả đã phân tíchnhững ảnh hưởng của Nho giáo trên bình diện chính trị, văn hoá, xã hội và từ đóđưa ra nhận định riêng về ảnh hưởng của những giá trị Nho giáo đối với văn hóanước ta

Cuốn Bàn về Nho giáo của Nguyễn Khắc Viện, trong đó tác giả đã nêu những mặt

tích cực cũng như hạn chế của Nho giáo; Bàn về những điều tâm đắc của mình khinghiên cứu, tìm hiểu Nho giáo, đánh giá cao đạo làm người và vấn đề đối nhân xửthế của Nho giáo

Ngoài ra còn phải kể đến: Nguyễn Đăng Duy với Nho giáo với văn hóa Việt Nam;

Vũ Khiêu với Nho giáo và đạo đức, Nho giáo và sự phát triển ở Việt Nam; Nguyễn Tài Thư với Nho học và Nho học ở Việt Nam và vấn đề con người trong Nho học sơ

kỳ; Nguyễn Hùng Hậu với triết lý trong văn hóa phương Đông; Vũ Khiêu với Nho giáo và gia đình; Quang Đạm với Nho giáo xưa và nay; Hà Thúc Minh với Đạo

Trang 5

Nho và văn hóa Phương Đông; Trần Thị Hồng Thúy với Ảnh hưởng của Nho giáo đối với chủ nghĩa yêu nước Việt nam truyền thống

Mục tiêu của tiểu luận

Tìm hiểu quá trình hình thành, những nội dung cơ bản của Nho giáo và các ảnhhưởng của Nho giáo đến Việt Nam

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.

Trải qua quá trình phát triển lâu đời, ở Trung Hoa cổ đại đã hình thành nên hệ thốngtriết học với nhiều trường phái khác nhau, hàm chứa những giá trị triết lý nhân sinhrất sâu sắc Với khuôn khổ của một tiểu luận triết học, tôi chỉ đi sâu vào tìm hiểunhững nội dung cơ bản về triết lý nhân sinh Nho giáo

Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu.

Cơ sở lý luận

Tiểu luận được xây dựng trên cơ sở những nguyên lý của chủ nghĩa Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam cho việc phân tích, đánh giá, chứngminh những triết lý nhân sinh Nho giáo nguyên thủy và mức độ ảnh hưởng của nó

Mác- Phương pháp nghiên cứu.

Phương pháp chính trong tiểu luận là tìm hiểu, tổng hợp tài liệu về triết họcnho giáo Sau đó dùng các phép đánh giá, so sánh đưa ra những ảnh hưởng của cácnội dung Nho giáo đến Việt Nam

Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Tiểu luận góp phần làm sâu sắc hơn nhận thức về triết lý Nho giáo một cách có hệthống, nắm được các nội dung cơ bản của Nho giáo cùng các tác động tích cực, tiêucực của nó

Tiểu luận có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc kế thừa, phát huy những giátrị nhân sinh Nho giáo vào xây dựng con người, gia đình văn hoá ngày nay

Tiểu luận có thể dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho việc nghiên cứu và giảngdạy về môn Lịch sử triết học - phần lịch sử phương Đông

Trang 6

Chương 1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

1.1 Điều kiện ra đời

Triết học Trung Hoa ra đời vào thời kỳ cuối nhà Chu – Đông Chu Liệt Quốc

Về mặt xã hội

Xuân Thu - Chiến Quốc là hai giai đoạn lịch sử của xã hội Đông Chu Sau khi ChuBình Vương lên ngôi do thế và lực không đủ sức chống cự lại sự xâm lược của giặcngoại tộc, nên đã dời đô từ Hạo Kinh về Lạc Ấp Lúc này, nhà Chu không thể giữđược chế độ cai trị như cũ Các nước chư hầu không phục tùng vương mệnh, cốngnạp mà còn lộng quyền xưng danh nhà Chu để thôn tính lẫn nhau Xuân Thu (770 -

403 tr.CN) có hơn một trăm nước, đến thời Chiến Quốc (403- 221 tr.CN) còn cóbảy nước, trong đó Tần là quốc gia hùng mạnh nhất

Về mặt kinh tế

Trong nông nghiệp việc sử dụng công cụ bằng sắt ngày càng rộng rãi; Quan hệ traođổi sản phẩm lao động xã hội được lưu thông; tiểu, thủ công nghiệp ngày càng mởrộng Sự phát triển của các ngành, nghề này không hoàn toàn phụ thuộc vào quyền

sở hữu đất đai của nhà nước Chế độ tư hữu ruộng đất được nhà nước thừa nhận vàbảo vệ

Về mặt chính trị

Một lực lượng kinh tế tư hữu mới ra đời là một thế lực đối chọi với chế độ công hữuđất đai nhà Chu Tương ứng với cơ sở kinh tế mới đó là lực lượng chính trị mới -Thế lực địa chủ ở các địa phương thuộc các nước chư hầu nhà Chu Xu hướng chínhtrị của các thế lực mới này là thâu tóm quyền lực, tập trung uy quyền và mở rộng sựbành trướng thống trị

Về mặt tư tưởng, văn hóa

Những tác phẩm có giá trị văn hóa lớn như: Kinh thi gồm 305 bài thơ mang tínhtập thể của nhiều thế hệ, của nhiều tầng lớp khác nhau, nó phản ánh các lĩnh vựckhác nhau trong đời sống xã hội Bên cạnh đó còn có bộ Sở từ Đó là tác phẩm củaKhuất Nguyên (343 – 227 tr.CN) – là tập dân ca của nước Sở, trong đó thể hiện tìnhcảm yêu nước thương dân, sự bình dị gần gũi với nhân dân lao động của KhuấtNguyên Chính những tác phẩm trên chứa đựng tri thức về văn hóa làm chất liệuxây dựng nên nền móng cho sự nảy nở tư tưởng triết lý nhân sinh Nho giáo

Trang 7

Xuân Thu - Chiến Quốc là thời kỳ của bách gia chư tử, bách gia tranh minh.

Chính trong quá trình trăm nhà cùng tranh luận, nó đã đẻ ra nhiều tư tưởng vĩ đại,trên các lập trường của các giai tầng khác nhau Đó là bối cảnh góp phần hình thànhnên hệ thống lý luận của các nhà tư tưởng Trung Hoa cổ đại

1.2 Quá trình hình thành và phát triển

Hệ tư tưởng của Nho giáo trải qua hơn 2000 năm phát triển và biến đổi Cơ

sở của Nho giáo được hình thành từ thời Tây Chu, đặc biệt với sự đóng góp củaChu Công Đán,còn gọi là Chu Công

Đến thời Xuân Thu, trong bối cảnh loạn lạc, sự sa đọa của các thế lực cầm quyền

khiến cho danh và thực không chính và thuận, kỷ cương, phép nước, trật tự xã hội

bị đảo lộn, nhất là nghi lễ truyền thống của nhà Chu Nhằm duy trì địa vị của giaicấp quý tộc thống trị và lễ nghĩa của nhà Chu trong xã hội, Nho giáo ra đời mà

Khổng Tử (551 – 479 tr.CN) là người khởi xướng Khổng Tử, tên thật là Khâu, hay

còn gọi là Trọng Ni, người nước Lỗ (551 479 trước Công nguyên, thời Xuân Thu Chiến quốc) phát triển tư tưởng của Chu Công, hệ thống hóa và tích cực truyền bá các tư tưởng đó Ông là nhà triết học, nhà chính trị và là nhà giáo dục nổi tiếng ở

-Trung quốc cổ đại Ông đã hệ thống những tri thức tư tưởng đời trước và quan điểmcủa ông thành học thuyết đạo đức chính trị riêng, gọi là Nho giáo Đó là một hệthống học thuyết, đạo lý bảo vệ và củng cố sự phục hồi chế độ chính trị, kinh tế, vănhóa của chế độ chiếm hữu nô lệ nhà Chu Học thuyết của ông được hai nhà tư tưởng

là Mạnh Tử và Tuân Tử hoàn thiện và phát triển Mạnh Tử theo hướng duy tâm,Tuân Tử theo hướng duy vật Trong lịch sử sau này dòng Khổng Mạnh có ảnhhưởng lâu dài nhất

Dưới thời nhà Hán năm 206 tr.CN Nho giáo được lựa chọn và sử dụng như

là vũ khí tinh thần và nó có vị trí, vai trò cao nhất so với Đạo giáo và Phật giáo Nho

giáo thời kỳ này được nhấn mạnh ở tư tưởng thiên mệnh, nghĩa, lễ ở tinh thần phục

tùng của bề dưới đối với bề trên Từ nhà Hán trở đi, Nho giáo được nhiều nhà tưtưởng phát triển và sử dụng theo môi trường xã hội của nó

Từ đời Hán đến đời Thanh, Khổng học chủ yếu dùng hình thức kinh truyện

để lưu truyền Đường Thái Tông sau khi hoàn thành toàn diện thống nhất quốc gia,liền cho kinh học gia Khổng Dĩnh Đạt chú giải, hiệu đính lại năm kinh Nho gia làDịch, Thi, Thư, Tà tuyên, Lễ ký thành bộ Ngũ kinh chính nghĩa gần như tổng kết

Trang 8

toàn diện kinh học từ đời Hán đến đó Ngũ kinh chính nghĩa trở thành sách giáokhoa dùng cho thi cử đời Đường Khổng học càng được giai cấp thống trị tín nhiệm.Khi lịch sử phức tạp của Trung Quốc tiến vào thời kỳ phát đạt - thời kỳ nhà Tống,

vị hoàng đế khai quốc là Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dẫn lập tức chủ trì nghi lễlong trọng tế tự Khổng Tử để biểu dương lòng thiếu đễ, vua còn thân chủ trì khoathi tiến sĩ mà nội dung hoàn toàn theo Nho học Đối với Nho học mới bột hưng ởthời Tống, chúng ta thường gọi đó là Lý học

Nội dung và kết cấu của Lý học hết sức rộng lớn, bắt đầu từ Hàn Dũ đời nhàĐường, trải qua nỗ lực của Tôn Phục, Thạch Giới, Hồ Viên, Chu Đôn Di, ThiệuUng, Thương Tái, Trình Di, Trình Hạo đời Bắc Tống cho đến Chu Hi đời NamTống là người tập đại thành hoàn chỉnh hệ thống tư tưởng Lý học Lý học trình Chunhấn mạnh Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín như lễ trời (thiên lý) dùng học thuyết KhổngMạnh làm nguồn gốc, hấp thu thêm các học thuyết tư tưởng của Phật giáo, Đại giáocung cấp sự nhu yếu cho xã hội quân chủ chuyên chế Chu Hi tập chú giải thích cáckinh điển Nho gia như Luận ngữ, Mạnh Tử trở thành những sách giáo khoa bắtbuộc của sĩ tử trong xã hội phong kiến và là tiêu chuẩn pháp định trong khoa cử củachính phủ Ngoài Lý học của Trình Chu có địa vị chi phối, phái Công học của TrầnLượng, Diệp Thích, phái Tâm học của Vương Dương Minh cũng đều tôn sùngKhổng Tử, hấp thu một phần tư tưởng cơ bản của ông Những học thuyết này đềuđược lưu truyền rộng rãi và tạo ảnh hưởng sâu sắc trong xã hội văn hoá TrungQuốc

Vì Nho học được các sĩ đại phu tôn sùng, được các vương triều đua nhau đềxướng nên Nho học thuận lợi thẩm thấu trong mọi lĩnh vực trong mọi giai tầng xãhội, từ rất sớm nó đã vượt qua biên giới dân tộc Hán, trở thành tâm lý của cộngđồng dân tộc Trung Quốc, là cơ sở văn hoá của tín ngưỡng và tập tính

Trang 9

Chương 2 NHỮNG QUAN ĐIỂM CƠ BẢN CỦA NHO GIÁO

Tựu trung lại tư tưởng trung tâm của Nho giáo là những giá trị tinh thần vềchính trị, đạo đức của con người và xã hội

2.1. Quan điểm về bản chất con người

Nho giáo đặt vấn đề đi tìm một bản tính có sẵn và bất biến của con người.Đức Khổng Tử và Mạnh Tử đều quan niệm bản tính con người ta sinh ra vốn thiện.Bản tính "Thiện" ở đây là tập hợp các giá trị chính trị, đạo đức của con người đượcbiểu hiện ở nhân - nghĩa - lễ - trí-tín Xuất phát từ quan niệm cho rằng bản tính củacon người là thiện, Khổng Tử đã xây dựng phạm trù "Nhân" với tư cách là phạm trùtrung tâm trong triết học của ông Theo ông, một triều đại muốn thái bình thịnh trịthì người cầm quyền phải có đức Nhân, một xã hội muốn hoà mục thì phải có nhiềungười theo về điều Nhân Chữ Nhân được coi là nguyên lý đạo đức cơ bản quy địnhbản tính con người và những quan hệ giữa người với người từ trong gia tộc đếnngoài xã hội Nếu Khổng Tử cho rằng chữ Nhân là cái gốc đạo đức của con người,thì theo ông, để trở thành một con người hoàn thiện, một điều kiện tất yếu khác làphải "hiểu biết mệnh trời" để sống "thuận mệnh" Ông viết: "Không biết mệnh trờithì không lấy gì làm quân tử", nhưng ông kêu gọi mọi người trước hết phải tìm sứcmạnh vươn lên ở trong chính bản thân mỗi người, đừng trông chờ vào trời đất quỷthần: "Đạo người chưa biết thì làm sao biết được đạo quỷ thần" Con người phải chútrọng vào sự nỗ lực học tập, làm việc tận tâm, tận lực, còn việc thành bại như thếnào, lúc đó mới tại ý trời

Trong triết học Nho giáo, nếu Khổng Tử và Mạnh Tử cho rằng con người vốn cóbản tính thiện thì Tuân Tử đưa ra lý luận bản tính con người là ác: "Tính người là

ác, thiện là do người làm ra"; nhưng trong quan điểm sai lầm đó cũng có nhân tốhợp lý như: hành vi đạo đức của con người là do thói quen mà thành, phẩm chất conngười là sản phẩm của hoàn cảnh xã hội và kết quả của sự học tập, giáo dục lâungày mà nên, từ đó ông cho rằng có thể giáo dục, cải hoá con người từ ác thànhthiện được Nếu ra sức tu dưỡng đạo đức thì bất cứ người nào cũng đều có thể đạtđược địa vị "người quân tử" Tuân Tử đề cao khả năng và vai trò của con người.Ông khẳng định trời không thể quyết định được vận mệnh của con người Ông chorằng con người không thể chờ đợi tự nhiên ban phát một cách bị động mà phải vận

Trang 10

dụng tài trí, khả năng của mình, dựa vào quy luật của tự nhiên mà sáng tạo ra nhữngcủa cải, sản vật để phục vụ cho đời sống con người.

Như vậy, Nho giáo thể hiện là một học thuyết có tính nhân văn rất cao, nhìn thấy nét đẹp của con người và rất tin tưởng vào con người, tin tưởng vào khả năng giáo dục con người Mặc dù có những quan niệm khác nhau nhưng nói chung, các nhà

nho đều cho rằng con người cần phải có những phẩm chất đạo đức cơ bản: nhân,nghĩa, lễ, trí, tín

2.2. Quan điểm về xã hội học

Khổng Tử và các học trò của ông đã thấy được sức mạnh và vai trò to lớncủa đạo đức đối với xã hội Theo Khổng Tử, đạo là năm mối quan hệ xã hội cơ bảncủa con người được gọi là nhân luân, Mạnh Tử gọi là ngũ luân: vua - tôi, cha - con,chồng - vợ, anh em, bạn bè Trong đó, ba mối quan hệ cơ bản nhất, Đổng TrọngThư gọi là Tam cương - ba sợi dây ràng buộc con người từ trong quan hệ gia đìnhđến ngoài xã hội Đức chính là các phẩm chất quan trọng nhất mà con người cầnphải có để thực hiện tốt các mối quan hệ cơ bản trên Khổng Tử nhấn mạnh “Tamđức” (nhân, trí, dũng); ở Mạnh Tử là “Tứ đức” (nhân, nghĩa, lễ, trí); Đổng TrọngThư là “ngũ thường” (nhân, nghĩa, lễ, trí, tín) Tam cương và ngũ thường được kếthợp và gọi tắt là đạo cương - thường

Cương - thường là nội dung cơ bản trong đạo làm người của Nho giáo, lànguyên tắc chi phối mọi suy nghĩ, hành động và là khuôn vàng thước ngọc để đánhgiá phẩm hạnh của con người Một mặt, đạo cương - thường góp phần điều chỉnhhành vi của con người, đưa con người vào khuôn phép theo chế độ lễ pháp của nhàChu trước đây và các triều đại phong kiến sau này đặt ra Cương - thường là nhân tốquan trọng làm cho xã hội ổn định theo thứ bậc, là cơ sở đảm bảo quyền thống trịcủa thiên tử Theo Khổng Tử, tình cảm giữa cha mẹ và con cái, giữa chồng và vợ,giữa anh em với nhau (quan hệ gia đình) là những tình cảm tự nhiên, vốn có thuộc

về bản tính con người Từ cách hiểu này, ông cho rằng, trong gia đình nếu ngườicha đứng đầu thì mở rộng ra trong nước có ông vua đứng đầu Khổng Tử hình dungquốc gia là một gia đình lớn, ông vua là người cha của gia đình ấy Nho giáo đặtvua đứng đầu trong tam cương và ngũ luân Vì vậy, đạo làm người phải tận hiếu vớicha mẹ, tận trung với vua Một người biết yêu thương kính trọng cha mẹ mình thìmới biết yêu thương người ngoài Khổng Tử bàn đến đạo đức từ xuất phát điểm đầu

Trang 11

tiên là gia đình, từ đó suy rộng ra đến quốc gia và thiên hạ Coi trọng vai trò giađình trong việc hình thành và tu dưỡng đạo đức của con người ở Nho giáo là mộtkhía cạnh hợp lý và vẫn còn có ý nghĩa nhất định đối với ngày nay, bỡi lẽ, gia đình

là một tế bào của xã hội, xã hội không thể ổn định, thịnh trị nếu các gia đình lục đục

và vô đạo Vì vậy, người cầm quyền nếu không “tề gia” (cai quản gia đình) củamình thì cũng không thể “trị quốc” (cai trị đất nước) được

Mặt khác, đạo cương - thường với nội dung “quân xử thần tử, thần bất tử bấttrung”, “phụ xử tử vong, tử bất vong bất hiếu” (vua xử bề tôi chết, bề tôi không chết

là không có lòng trung, cha xử con chết, con không chết là không có hiếu) là sợidây trói buộc con người, làm cho con người thụ động trong cả suy nghĩ và hànhđộng Tư tưởng này là lực cản sự phát triển của xã hội và là một trong nhữngnguyên nhân làm cho xã hội phương Đông trì trệ

Phạm trù đạo đức đầu tiên, cơ bản nhất trong đạo cương - thường là Nhân(đức nhân) Tất cả các phạm trù đạo đức khác đều xoay quanh phạm trù trung tâmnày Từ đức nhân mà phát ra các đức khác và các đức khác lại quy tụ về đức này

Cả cuộc đời mình, Khổng Tử đã dành nhiều tâm huyết để làm cho đức nhân trởthành hiện thực Ông mong muốn các học trò rèn luyện để đạt được đức nhân vàứng dụng nó trong thực tiễn Nhân có nghĩa là trung và thứ Bàn về chữ trung, ônggiải thích:“Người nhân là người mình muốn lập thân thì cũng giúp người lập thân,mình muốn thành đạt thì cũng giúp người thành đạt” (Phù nhân giả, kỉ dục lập nhilập nhân, kỉ dục đạt nhi đạt nhân) Về chữ thứ, ông viết: “Điều gì mình khôngmuốn, chớ thi hành cho người khác” (Kỉ sở bất dục vật thi ư nhân) Như vậy, trungthứ tức là từ lòng mình suy ra lòng người, phải giúp người Khổng Tử khuyên rằngnên làm cho người những cái mà mình muốn và đừng làm cho người những cáimình không muốn Đối với bản thân mình, người có đức nhân là phải thực hiệnđúng lễ: “Dẹp bỏ tư dục, trở về với lễ là phát huy điều nhân” (Khắc kỉ phục lễ vinhân) Lễ là hình thức thể hiện nhân và cũng là một chuẩn mực của Ngũ thường

Nhân còn gắn liền với Nghĩa (nghĩa vụ, thấy việc đúng cần phải làm để giúpngười) Khổng Tử cho rằng người quân tử cần chú ý đến nghĩa và coi thường lợi.Muốn thực hiện nhân, nghĩa thì cần có lòng dũng cảm (dũng) và có Trí (trí tuệ) Cótrí mới biết cách giúp người mà không làm hại đến người, đến mình, mới biết yêu

và ghét người, mới biết đề bạt người chính trực và gạt bỏ người không ngay thẳng

Ngày đăng: 20/03/2017, 10:15

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w