Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật ảnh hưởng tới năng suất và chất lượng quýt tại xã Quang Thuận, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn (LV thạc sĩ)Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật ảnh hưởng tới năng suất và chất lượng quýt tại xã Quang Thuận, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn (LV thạc sĩ)Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật ảnh hưởng tới năng suất và chất lượng quýt tại xã Quang Thuận, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn (LV thạc sĩ)Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật ảnh hưởng tới năng suất và chất lượng quýt tại xã Quang Thuận, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn (LV thạc sĩ)Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật ảnh hưởng tới năng suất và chất lượng quýt tại xã Quang Thuận, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn (LV thạc sĩ)Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật ảnh hưởng tới năng suất và chất lượng quýt tại xã Quang Thuận, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn (LV thạc sĩ)Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật ảnh hưởng tới năng suất và chất lượng quýt tại xã Quang Thuận, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn (LV thạc sĩ)Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật ảnh hưởng tới năng suất và chất lượng quýt tại xã Quang Thuận, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn (LV thạc sĩ)Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật ảnh hưởng tới năng suất và chất lượng quýt tại xã Quang Thuận, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn (LV thạc sĩ)
Trang 1ĐẶNG THỊ HUYỀN
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT ẢNH HƯỞNG TỚI NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG QUÝT TẠI XÃ QUANG THUẬN
HUYỆN BẠCH THÔNG, TỈNH BẮC KẠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Thái Nguyên – 2016
Trang 2ĐẶNG THỊ HUYỀN
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT ẢNH HƯỞNG TỚI NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG QUÝT TẠI XÃ QUANG THUẬN
HUYỆN BẠCH THÔNG, TỈNH BẮC KẠN
Trang 3Tôi xin cam đoan, số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả
Đặng Thị Huyền
Trang 4Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Đào Thanh Vân đã tận
tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài cũng như trong quá trình hoàn chỉnh luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên; Huyện ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, phòng nông nghiệp, Trạm khí tượng- thủy văn, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn Các hộ gia đình mà tôi thực hiện nghiên cứu đề tài tại xã Quang Thuận, huyện Bạch Thông, đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong thời gian thực hiện đề tài và hoàn chỉnh luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn toàn thể gia đình và bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, hỗ trợ tôi trong thời gian học tập và hoàn thành luận văn này
Tác giả
Đặng Thị Huyền
Trang 5LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3
3 Yêu cầu của đề tài 3
4 Ý nghĩa của đề tài 3
4.1 Ý nghĩa khoa học 3
4.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4
1.1 Cơ sở khoa học và lý luận của đề tài 4
1.2 Tổng quan kết quả nghiên cứu 5
1.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam quýt trên thế giới 5
1.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam quýt tại Việt Nam 12
1.2.3 Những nghiên cứu cải tiến, nâng cao năng suất, chất lượng cam quýt trên thế giới 8
1.2.4 Những nghiên cứu cải tiến, nâng cao năng suất, chất lượng cam quýt tại Việt Nam 16
1.5 Kết luận phân tích tổng quan 23
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU24 2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 24
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 24
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 24
2.1.3 Vật liệu nghiên cứu 24
Trang 62.3 Phương pháp nghiên cứu 25
2.3.1 Thí nghiê ̣m 1 - Nghiên cứu ảnh hưởng của phun phân bón lá đến năng suất và chất lươ ̣ng quýt tại xã Quang Thuận, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn 25
2.3.2 Thí nghiệm 2 - Nghiên cứu ảnh hưởng của các biện pháp bọc quả đến năng suất và chất lượng quả quýt Bắc Kạn 26
2.4 Các chỉ tiêu theo dõi 28
2.4.1 Chỉ tiêu theo dõi thí nghiệm 1 (phun phân bón lá) 28
2.4.2 Chỉ tiêu theo dõi thí nghiệm 2 (Bọc quả) 30
2.5 Phương pháp xử lý số liệu 32
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 33
3.1 Đánh giá hiện trạng sản xuất Quýt tại tỉnh Bắc Kạn 33
3.1.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ quýt tại Bắc Kạn 33
3.1.2 Các vấn đề nghiên cứu cây cam, quýt tại Bắc Kạn 34
3.1.3 Điều kiện trồng trọt cây quýt tại tỉnh Bắc Kạn 35
3.1.4 Tình hình sử dụng phân bón và bọc quả cho cây quýt tại tỉnh Bắc Kạn37 3.2 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của các loại phân bón qua lá đến năng suất, chất lượng giống quýt Quang Thuận, Bạch Thông, Bắc Kạn 38
3.2.1 Ảnh hưởng của các loại phân bón qua lá đến động thái tăng trưởng đường kính quả, một số chỉ tiêu về thành phần cơ giới quả 38
3.2.2 Ảnh hưởng của các loại phân bón lá đến động thái rụng quả của cây quýt Quang Thuận 41
3.2.3 Ảnh hưởng của việc phun phân bón lá đến tình hình sâu, bệnh hại chính trên cây quýt Quang Thuận, Bạch Thông, Bắc Kạn 43
3.2.4 Ảnh hưởng của việc phun phân bón lá đến các yếu tố cấu thành năng suất của cây quýt Bắc Kạn 44
Trang 7Quang Thuận, Bạch Thông, Bắc Kạn 46
3.2.5 Ảnh hưởng của việc phun phân bón lá đến chất lượng quả quýt Bắc Kạn 47
3.3 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của túi bọc quả đến năng suất, chất lượng quýt Quang Thuận, Bạch Thông, Bắc Kạn 50
3.3.1 Ảnh hưởng của các loại túi bọc quả đến động thái tăng trưởng đường kính quả, một số chỉ tiêu về thành phần cơ giới quả 50
3.2.2 Ảnh hưởng của các loại túi bọc quả đến động thái rụng quả của cây quýt Quang Thuận 51
3.3.3 Ảnh hưởng của việc bọc quả đến tình hình sâu, bệnh hại chính trên quả quýt Bắc Kạn 53
3.3.4 Ảnh hưởng của việc bọc quả đến các yếu tố cấu thành năng suất của cây quýt Quang Thuận, Bạch Thông, Bắc Kạn 54
3.3.6 Ảnh hưởng của bọc quả đến tình trạng vỏ quả, mẫu mã quả quýt Quang Thuận, Bạch Thông, Bắc Kạn 56
3.3.7 Đánh giá hiệu quả kinh tế của việc sử dụng túi bọc quả trên cây quýt Bắc Kạn 57
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 59
1 Kết luận 59
2 Đề nghị 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
Trang 8Bảng 1.1 Tình hình sản xuất cam quýt trên thế giới 5
Bảng 1.2 Tình hình sản xuất cây có múi ở một số nước vùng châu Á 8
Bảng 1.3 Tình hình sản xuất cam quýt ở Việt Nam 14
Bảng1.4 Tình hình sản xuất cam quýt ở các vùng năm 2013 15
Bảng 1.5 : Lượng phân bón cho bưởi 17
Bảng 3.1: Ảnh hưởng của việc phun phân bón lá đến đường kính, chiều cao và khối lượng quả quýt Quang Thuận, Bạch Thông, Bắc Kạn 39
Bảng 3.2: Ảnh hưởng của việc phun phân bón lá đến một số chỉ tiêu về tỷ lệ phần ăn được, số hạt/quả, số quả bị nứt/cây của Quýt Quang Thuận, Bạch Thông, Bắc Kạn 40
Bảng 3.3: Ảnh hưởng của việc phun phân bón lá đến động thái rụng quả qua các tháng của cây quýt Quang Thuận 42
Bảng 3.4: Kết quả theo dõi ảnh hưởng của phun phân bón lá đến động thái rụng quả của cây quýt Quang Thuận 42
Bảng 3.5 Ảnh hưởng của việc phun phân bón lá Mức độ nhiễm sâu bệnh hại trên cây quýt Bắc Kạn khi sử dụng phân bón lá 43
Bảng 3.6: Ảnh hưởng của việc phun phân bón lá đến các yếu tố 44
cấu thành năng suất của quýt Bắc Kạn 44
Bảng 3.7 Ảnh hưởng của việc phun phân bón lá đến 47
chất lượng quả quýt Bắc Kạn 47
Bảng 3.8: Ảnh hưởng của việc phun phân bón lá đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất quýt Quang Thuận, Bạch Thông, Bắc Kạn 49
Bảng 3.9: Ảnh hưởng của các biện pháp bọc quả đến một số chỉ tiêu của cây quýt Quang Thuận, Bạch Thông, Bắc Kạn 50
Bảng 3.10: Ảnh hưởng của biện pháp bọc quả đến động thái rụng quả qua các tháng của cây quýt Bắc Kạn 52
Trang 9rụng quả của cây quýt Bắc Kạn 52
Bảng 3.12 Mức độ nhiễm sâu bệnh hại trên cây quýt khi 53
sử dụng túi bọc quả 53
Bảng 3.13: Ảnh hưởng của việc bọc quả đến các yếu tố cấu 54
thành năng suất của quýt Bắc Kạn 54
Bảng 3.14 Ảnh hưởng của biện pháp bọc quả đến chất lượng 56
quả quýt Bắc Kạn 56
Bảng 3.15: Ảnh hưởng của việc bọc quả đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất quýt Bắc Kạn 57
Trang 10Hình 3.1 Biểu đồ số quả trên cây của các công thức sử dụng phân bón lá
Hình 3.2 Biểu đồ năng suất của các công thức sử dụng phân bón lá
Hình 3.3 Biểu đồ hạch toán kinh tế của các công thức sử dụng phân bón lá
Hình 3.4 Biểu đồ số quả trên cây của các công thức bọc quả
Hình 3.5 Biểu đồ khối lượng quả trên cây của các công thức bọc quả
Hình 3.6 Biểu đồ năng suất của các công thức bọc quả
Hình 3.7 Biểu đồ lãi thuần của các công thức bọc quả
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cam quýt (Citrus reticulata) là một trong những loại cây ăn quả quan
trọng chiếm sản lượng lớn trên thị trường thế giới, phân bố rộng từ 350 Bắc -
400 Nam, nhiệt độ cây có thể sinh trưởng là 12-390C, dễ trồng, đầu tư ban đầu ít, tiện lợi trong việc cất giữ, vận chuyển có thể đem lại hiệu quả kinh tế cao nên ngày nay cam quýt nói riêng và sản lượng cây ăn quả có múi núi chung đang tiếp tục phát triển và dẫn đầu các loại quả [18] Theo số liệu thống kê của FAO (Food and Agricultural organization, tổ chức lương thực và nông nghiệp Liên Hiệp Quốc), năm 2010, tổng sản lượng quả của thế giới đạt trên 645 triệu tấn trong đó quả mọng chiếm 98% và quả vỏ cứng chiếm 2%, trong đó có 5 nước có sản lượng quả đứng đầu thế giới là: Trung Quốc, Ấn
Độ, Mỹ, Baraxin, Italia trong các loại quả thì quả có múi bao gồm: cam, chanh, quýt, bưởi … chiếm sản lượng tới 22,5% tổng sản lượng các loại quả trên thế giới
Ở nước ta hiện nay cam quýt cũng có thể trồng được khắp nơi trong cả nước, với những ưu thế riêng biệt về tiểu vùng khí hậu, đất đai, kỹ thuật chăm sóc nhiều vùng có thể trồng được các giống cam quýt thơm ngon mang nét riêng biệt và tên của sản phẩm còn được gắn theo tên địa phương như cam Vinh (Nghệ An), cam sành Bắc Quang (Hà giang), cam sành Bố Hạ (Bắc Giang), cam sành Hàm Yên (Tuyên Quang), cam sành đồng bằng sông Cửu Long, Cam Quýt Bắc Kạn…các loại quả này không chỉ được tiêu thụ mạnh trong nước mà còn là hàng hoá xuất khẩu giúp nhiều bà con nông dân vươn lên xoá đói giảm nghèo[18]
Cây quýt có tên khoa học là Citrus reticulata thuộc họ Cam, Quýt (Rutaceae) có nguồn gốc ở vùng Nam Á, Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam Quýt Bắc Kạn là tên gọi một giống quýt quý gắn liền với ba huyện Bạch Thông, Chợ Đồn và Ba Bể Theo tiếng dân tộc Tày quả quýt còn được gọi là Mác nghè, còn theo tiếng dân tộc Mán quả quýt được gọi là Mác pẻn
Trang 12Là một cây trồng bản địa quen thuộc đã được trồng trên 150 năm, trước đây chỉ được trồng trong vườn tạp, với diện tích nhỏ lẻ manh mún dùng để ăn (theo thống kê năm 1998 diện tích quýt mới chỉ có khoảng 7ha), song với đặc điểm quả tròn dẹt, khi chín quả có màu vàng tươi, múi to đều, mọng nước, có
vị ngọt chua dịu và mùi thơm đặc trưng lên cam quýt Bắc Kạn ngày càng thuyết phục được thị hiếu của người tiêu dùng, sản phẩm thu hoạch có đến đâu bán hết đến đấy, diện tích trồng quýt ngày càng được người dân mở rộng phát triển; nhận thấy triển vọng và lợi ích từ việc trồng cam quýt đem lại cho
bà con nông dân trên địa bàn tỉnh, ngày 11/11/2009 UBND tỉnh Bắc Kạn ra quyết định số 3483/QĐ -UBND phê duyệt dự án quy hoạch cây trồng chính trong sản xuất nông nghiệp tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2008 - 2015, tầm nhìn
2020 trong đó đề cặp về quýt Bắc Kạn thực hiện việc phục tráng, nhân giống
và hướng dẫn kỹ thuật từ mô hình đến trồng đại trà, tập trung tại 3 huyện Bạch Thông, Chợ Đồn và Ba Bể Diện tích cả tỉnh từ 7ha năm 1998 đến năm
2012 đã đạt 1200 ha, năm 2013 diện tích trồng đạt 1.841ha, năm 2014 tăng lên là 2.159 ha và đến năm 2015 là 2.439 ha [6] trong đó tập trung nhiều nhất trồng tại huyện Bạch Thông; và đã được công nhận chỉ dẫn địa lý với văn bằng 0003 cấp ngày 14 tháng 11 năm 2012 [1] Hiện nay cam quýt đang được coi là cây trồng thế mạnh từng bước giúp bà con nông dân vươn lên xoá đói giảm nghèo, nhiều hộ đã thoát nghèo và làm giàu lên từ trồng cam quýt….Tuy nhiên sản xuất cam quýt hiện nay trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn chủ yếu theo kinh nghiệm truyền lại với hình thức bán thâm canh, việc cung cấp dinh dưỡng còn hạn chế, chỉ bón phân tổng hợp NPK , số hộ dùng phân bón
lá cho cây trong cả giai đoạn phát triển quả còn ít, việc bọc quả trong quá trình chăm sóc cam quýt chưa được bà con áp dụng là nguyên nhân làm cây yếu, quả bị rụng nhiều, tạo điều kiện thuận lợi cho sâu bệnh gây hại phát sinh, phát triển, dẫn đến năng suất quả thấp, chất lượng chưa đồng đều, nhiều diện tích thoái hoá già cỗi phải chặt bỏ không trồng lại được gây hạn chế việc
mở rộng diện tích trồng cây đặc sản cho bà con nông dân; xuất phát từ thực
Trang 13tiễn sản xuất cam quýt tại địa phương đề tài: “Nghiên cứu một số biện pháp
kỹ thuật ảnh hưởng tới năng suất và chất lượng Quýt tại xã Quang Thuận, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn ” có cơ sở khoa học và ý nghĩa thực tiễn
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Xác định được vật liệu túi bọc quả và thời điểm bọc quả đến khả năng phòng chống sâu bệnh hại quả và nâng cao mẫu mã, chất lượng quả
- Xác định được loại phân bón lá thích hợp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, quýt Bắc Kạn
3 Yêu cầu của đề tài
- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón qua lá và bọc quả đến năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất giống quýt đặc sản của Bắc Kạn
4 Ý nghĩa của đề tài
4.1 Ý nghĩa khoa học
- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp các dẫn liệu khoa học về ảnh hưởng của phân bón qua lá và bọc quả đến sự sinh trưởng phát triển, tỷ lệ rụng, mẫu mã, chất lượng quả đối với quýt Bắc Kạn
- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần bổ sung thêm những tài liệu khoa học phục vụ cho công tác giảng dạy cũng như nghiên cứu trên cây cam ở nước ta
Là cơ sở khuyến cáo các biện pháp kỹ thuật hiệu quả áp dụng trong thực tế sản xuất
cho người dân
4.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học giúp cho công tác xây dựng định hướng, quy hoạch, quản lý, chỉ đạo sản xuất quýt đạt hiệu quả hơn trong điều kiện đặc thù của địa phương cũng như các vùng có có điều kiện tương tự
- Kết quả nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật được áp dụng trong sản xuất quýt ở Bắc Kạn sẽ góp phần nâng cao năng suất chất lượng và hiệu quả kinh tế cao cho người sản xuất, từ đó nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở khoa học và lý luận của đề tài
1.1.1 Đặc điểm nông sinh học
Cam quýt là loại cây ăn quả lâu năm, quá trình sinh trưởng, ra hoa kết quả chịu ảnh hưởng nhiều của các yếu tố nội tại (di truyền), kỹ thuật canh tác và các yếu
tố ngoại cảnh như nhiệt độ, ánh sáng, đất đai, khí hậu,
Tùy vào tuổi cây và điều kiện sinh thái nơi trồng trọt, trong chu kỳ sống một năm, cây quýt thường ra 3 - 4 đợt lộc (lộc Xuân, Hè, Thu và Đông) Quá trình ra lộc
ở cây quýt có liên quan khá nhiều đến hiện tượng ra quả cách năm và khả năng điều chỉnh cân đối giữa bộ phận dưới mặt đất và bộ phận trên mặt đất, quá trình ra lộc năm nay sẽ là tiền đề cho sự ra hoa kết quả của năm sau Nếu có các biện pháp kỹ thuật hợp lý để điều khiển quá trình ra lộc sẽ hạn chế hoặc loại bỏ hoàn toàn hiện tượng ra quả cách năm, bồi dưỡng cành mẹ của cành quả năm sau, điều chỉnh cân đối giữa các bộ phận dưới và trên mặt đất, hạn chế sâu bệnh hại, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng của cam quýt Từ cơ sở khoa học này, việc nghiên cứu quá trình ra lộc, mối liên hệ của các đợt lộc trong năm nhằm có thêm các thông tin cơ bản tạo tiền đề của các biện pháp kỹ thuật là cần thiết
1.1.2 Sử dụng phân bón lá cho cây cam quýt
Đối với việc sử dụng phân bón lá cho cây cam quýt: Cây trồng hấp thu dinh dưỡng nuôi cây phần lớn qua bộ rễ, tuy nhiên hàm lượng dinh dưỡng trong đất là không đủ, đặc biệt là các yếu tố vi lượng Chính vì thế, việc phun phân bón lá nhằm
bổ sung dinh dưỡng cho cây là rất cần thiết
Nghiên cứu cải tiến các phương pháp phun bón phân cho cây trồng đã được thực hiện nhiều năm trên nhiều loại cây trồng Phân bón qua lá cung cấp nhanh, kịp thời các chất dinh dưỡng đa lượng, vi lượng cần thiết cho quá trình sinh trưởng sinh
Trang 15dưỡng và sinh trưởng sinh thực của cây, đặc biệt là thời kỳ cây sinh trưởng mạnh, cần tập trung dinh dưỡng để tạo hoa, nuôi quả hạn chế hiện tượng rụng quả non và nứt quả
1.1.3 Sử dụng túi bọc quả
Bọc quả là biện pháp kỹ thuật hiện đại tiên tiến được nhiều nước trên thế giới
ứng dụng từ rất lâu Tại Việt Nam bọc quả ngày càng đước sử dụng nhiều, được nhiều nông dân có kinh nghiệm đánh giá hiệu quả phòng ngừa sâu rầy đục quả rất hiệu quả, mẫu mã quả thu hoạch màu sắc bắt mắt đồng đều, bảo vệ quả trước sự tấn công của nhiều loại sâu bệnh trên nhiều loại cây trồng khác nhau Ngoài ra, còn có tác dụng làm cho quả có màu sắc đẹp hơn, dễ xuất khẩu Hơn nữa việc dùng túi bọc quả giúp hạn chế đến mức tối đa sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, quả sạch nhằm đáp
ứng hầu hết các tiêu chuẩn xuất khẩu khắt khe nhiều nước trên thế giới
1.2 Tổng quan kết quả nghiên cứu
1.2.1 Tình hình sản xuất và nghiên cứu cam quýt trên thế giới
* Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam quýt trên thế giới
Cam quýt là cây trồng có giá trị dinh dưỡng cao, dễ trồng chăm sóc, có khả năng phân bố rộng nên hiện nay loại cây trồng này đã được phân bố phát triển rộng khắp trên toàn thế giới
Theo thống kê của FAO, năm 2000 tổng sản lượng cam quýt trên thế giới là 85 triệu tấn và phần tiêu thụ khoảng 79,3 triệu tấn, tăng trưởng hàng năm 2,85% Tiêu thụ sẽ tăng lên ở các nước đang phát triển và giảm ở các nước phát triển Cam là thứ quả tiêu thụ nhiều nhất chiếm 73% quả có múi, tập trung ở các nước có khí hậu á nhiệt đới ở các vĩ độ cao hơn 20-220 nam và bắc bán cầu, giới hạn phân bố từ 35 vĩ độnam và bắc bán cầu, có khi lên tới
40 vĩ độ nam và bắc bán cầu Dự báo trong những năm của thập kỷ 2000 mức tiêu thụ quả có múi của thị trường thế giới tăng khoảng 20 triệu tấn
Trang 16Bảng 1.1 Tình hình sản xuất cam quýt trên thế giới
Chỉ
tiêu Năm
Các châu lục trên thế giới
Thế giới Châu Phi Châu Mỹ Châu Á Châu Âu Châu Đại
Trang 17Năm 2009 diện tích cam quýt của toàn thế giới là 4.003.436,5 ha, năng suất trung bình đạt 169,8 tạ/ha, sản lượng đạt 67.995.342,4 tấn Đến năm
2013, các chỉ tiêu đều tăng và đạt: diện tích là 4.079.981,8 ha, năng suất tăng đạt 175,1 tạ/ha và sản lượng là 71.445.352,8 tấn
So sánh về diện tích của 5 châu lục năm 2013 có thể sếp theo thứ tự từ lớn đến nhỏ như sau: Châu Á (1.712.865,3 ha) > châu Mỹ (1.608.333,5 ha) > châu Phi (440.254,0 ha) > châu Âu (294.317,0 ha) > châu Đại Dương 24.212 ha
So sánh về năng suất của 5 châu lục năm 2013 có thể sếp theo thứ tự từ lớn đến nhỏ như sau: Châu Mỹ (205,5 tạ/ha) > châu Âu (204,2 tạ/ha) > châu Phi (184,8 tạ/ha) > châu Đại Dương (166,8 tạ/ha) >châu Á (130 tạ/ ha)
- Vùng châu Mỹ: các nước sản xuất nhiều như Mỹ, Mêxico, CuBa, Costarica, Braxin, Achentina tuy vùng cam, quýt châu Mỹ được hình thành muộn hơn so với vùng khác, song do điều kiện thiên nhiên thuận lợi, do nhu cầu đòi hỏi của nền công nghiệp Hoa Kỳ đã thúc đẩy ngành cam quýt ở đây phát triển rất mạnh Về năng suất được ổn định từ năm 2009 đến năm 2013 năng suất trung bình đạt trong khoảng 199,2 tạ/ha đến 212 tạ/ha Nhìn chung năng suất cam quýt tại châu mỹ có chiều hướng biến động theo chiều hướng phát triển tăng dần qua các năm
Vùng lãnh thổ châu Á sản xuất cam, quýt gồm các nước (Trung Quốc,
Ấn Độ, Inđônêia, Philippin, Thái Lan…) đây là vùng có diện tích lớn nhất so với các châu lục khác trên thế giới (năm 2013 có tổng diện tích là 1.712.865,3ha), tuy nhiên năng suất bình quân qua các năm lại thấp nhất so với các châu lục khác trên thế giới, năng suất bình quân từ năm 2009 đến năm
2013 chỉ đạt khoảng từ 127 tạ/ha đến 130,8tạ/ha
- Vùng châu Á được khẳng định là quê hương của cam quýt, hầu hết các nước châu Á đều sản xuất cam quýt Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ của FAO về tình hình sản xuất cam quýt ở một số nước châu Á năm 2013 như sau:
Trang 18Bảng 1.2 Tình hình sản xuất cây có múi ở một số nước vùng châu Á
Diện tích (ha)
sản lượng
Năng suất (tạ/ha)
Diện tích (ha) sản lượng
Năng suất (tạ/ha)
Trung
Quốc 398 368 4.864.956 122 545.904 6.867.029 126 576.000 7.469.840 130
Ấn Độ 634.400 5.201.350 82 481.000 4.571.000 95 563.330 6.426.200 114 Pakistan 139.958 1.492.400 107 136.150 1.387.540 102 136.800 1.505.000 110 Iran 120.000 2.000.000 167 61.228 1.412.270 231 69.243 1.192.266 172 Thổ Nhĩ
Kỳ 44.650 1.689.921 378 43.160 1.730.146 401 54.759 1.781.258 325 Thái Lan 21.550 395.880 184 22.000 425.000 193 22.000 460.000 209 Việt Nam 64.500 693.500 108 43.701 531.334,20 122 43.383,30 531.958 123 Nhật Bản 4.250 62.000 146 4.124 54.063 131 3.818 47.637 125 Indonesia 60.190 2.131.768 354 51.688 1.818.949 352 45.000 1.411.215 314
Nguồn: FAO STAT/FAO Statistics 2013.[23]
Như vậy theo số liệu thống kê mới nhất của FAO năm 2013 cho thấy nước trồng cây có múi có diện tích lớn nhất là Trung Quốc có 576.000ha, sản lượng 7.469.840 tấn, đạt bình quân 130tạ/ha => Đứng thứ 2 là Ấn Độ chiếm 563.330ha, sản lượng 6.426.200 tấn, đạt bình quân 114tạ/ha; trong đó năng suất bình quân cao nhất hiện nay là Thổ Nhĩ Kỳ đạt 352tạ/ha
* Những nghiên cứu cải tiến, nâng cao năng suất, chất lượng cam quýt trên thế giới
- Về dinh dưỡng khoáng và sử dụng phân bón lá cho cây cam quýt
Cây trồng hấp thu dinh dưỡng nuôi cây phần lớn qua bộ rễ, tuy nhiên hàm lượng dinh dưỡng trong đất là không đủ, đặc biệt là các yếu tố vi lượng Chính vì thế, việc phun phân bón lá nhằm bổ sung dinh dưỡng cho cây là rất cần thiết
Trang 19Nghiên cứu cải tiến các phương pháp phun phân bón cho cây trồng đã được thực hiện nhiều năm trên nhiều loại cây trồng Phân bón qua lá cung cấp nhanh, kịp thời các chất dinh dưỡng đa lượng, vi lượng cần thiết cho quá trình sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực của cây, nhất là thời kỳ cây sinh trưởng mạnh, cần tập trung dinh dưỡng để tạo hoa, nuôi quả
Phân bón lá thực chất là các chế phẩm mà trong đó chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng dạng đa lượng, trung lượng và vi lượng Mỗi chất có vai trò khác nhau đối với cây nhưng nếu thiếu cây trồng sẽ sinh trưởng và phát triển kém, năng suất, chất lượng nông sản giảm rõ rệt
Bón phân theo chuẩn đoán dinh dưỡng lá dựa trên 4 nguyên tắc: Chức năng của lá, quy luật bù hoãn giảm dần, chức năng của các nguyên tố dinh dưỡng và sự đối kháng ion Từ 4 nguyên tắc này Emblenton and Reuther (1973) [21] đã xây dựng được tiêu chuẩn về thành phần dinh dưỡng lá gồm 5 cấp: Thiếu, thấp, tối thích, cao và thừa Dựa vào thang tiêu chuẩn này người ta thường xuyên phân tích lá để biết được có cần hay không cần phải bón phân Căn cứ vào tình trạng dinh dưỡng đất, thông qua phân tích và đối chiếu với nhu cầu dinh dưỡng của cây theo từng độ tuổi, từng giai đoạn sinh trưởng người ta có thể định ra được chế độ bón phân phù hợp Từ kết quả nghiên cứu, Trạm thí nghiệm cam quýt Gainsville, Florida đề nghị tỷ lệ bón phân N:P2O5:K2O; MgO:MnO:CuO là 1:1:1; 0,5:0,125:0,063 Tỷ lệ này tương đương với công thức 8:8:8:4:1:0,5 Tuỳ tuổi cây, từ năm thứ nhất đến năm thứ
6 bón mỗi cây số lượng phân bón hỗn hợp theo công thức trên từ 0,5 - 5,0 kg/năm (Turcker et al.,1995) [28] Theo Trung tâm kỹ thuật thực phẩm và phân bón (FFTC), Đài Loan (2005) [15], từ năm thứ nhất đến năm thứ 5 lượng phân bón tính theo tuổi cây là như nhau đối với 3 nguyên tố N, P2O5 và
K2O từ 50 g/cây năm thứ nhất tăng dần đến 140 g/cây năm thứ 5 Khi cây đã cho thu hoạch, lượng phân bón theo năng suất thu được Đó cũng là một căn
Trang 20cứ tương đối chính xác Người ta tính được rằng nếu năng suất 50 tấn/ha sẽ lấy đi một khoảng dinh dưỡng 74,5 kg N/ha, 27,5 kg P2O5/ha và 123,5 kg
K2O/ha, do vậy khi bón phân cần bón đủ lượng dinh dưỡng trên cộng với số lượng cần để tạo chồi mới, lá mới và số lượng mất đi do rửa trôi Một nghiên cứu khác cho biết cứ thu 40 kg quả thì phải bón trả lại cho đất 180 kgN, 135
kg P2O5, 160 kg K2O và 90 kg MgO Theo Sam son (1986) [26], bón phân cho cây non, cây chưa ra quả khác với bón phân cho cây trưởng thành, cây cho quả Công thức chung hợp lý để bón phân là N:P2O5:K2O = 8:2:8 với lượng bình quân là 0,75 kg/cây trong năm đầu tiên và tăng dần cho đến 3,15 kg/cây khi cây được 10 năm tuổi
- Về bao quả
Bao quả là một biện pháp kỹ thuật được áp dụng phổ biến đối với tất cả các loại cây ăn quả, là một giải pháp kỹ thuật trong hệ thống phòng trừ sâu, bệnh tổng hợp IPM, ngăn ngừa sâu bệnh tấn công, hạn chế được việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và làm đẹp mã quả
Người ta khuyến cáo rằng: Trước khi bao quả phải tỉa bỏ quả nhỏ, kém phát triển bên cạnh, những cành lá cản trở quanh cuống quả, phun thuốc trừ sâu, nấm bệnh trên quả sau một ngày mới tiến hành bao quả Khi bao quả phải buộc chặt miệng bao Thường bao quả vào thời điển sau khi quả rụng sinh lý, khoảng 45- 50 ngày sau khi đậu quả và nên tháo túi trước khi thu khoảng 15 -
20 ngày để cho quả lên mã trở lại trạng thái tự nhiên Tuy nhiên, hiệu quả của việc bao quả phụ thuộc vào từng loại quả, thời điểm bao và vật liệu bao, đặc biệt là thời điểm bao vì liên quan đến sự phát sinh phát triển của sâu, bệnh hại, sự sinh trưởng và phát triển của quả Bao sớm quả còn non có thể làm rụng quả và ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển của quả, ngược lại bao muộn thì sâu bệnh đã đẻ trứng hoặc nhiễm vào quả sẽ không có tác dụng, do vậy việc bao quả phải căn cứ vào điều kiện sinh thái khí hậu cụ thể của từng địa phương để xác định thời điểm bao quả thích hợp Qua các kết quả nghiên
Trang 21cứu và thực nghiệm ở một số nước trên thế giới về bao quả bằng các vật liệu giấy báo và bao xi măng đều cho kết quả tốt, tỷ lệ sâu bệnh trên quả giảm rõ rệt Đối với cây có múi nói chung bao quả có những lợi ích trực tiếp như sau: + Bao quả chống được sâu, ruồi đục quả, ngài chích hút và bệnh hại quả, nhờ đó hạn chế dùng thuốc sâu, bệnh
+ Phòng ngừa sự phá ha ̣i của sâu bê ̣nh, chim thú (như:vi khuẩn, bê ̣nh nhiệt thán, bồ hong, dơi,v.v )
+ Bao quả giúp hình thức bên ngoài bóng đẹp, đồng đều, ít bị rám bởi nắng, không bị trầy xước do gió bão hay một số nguyên nhân khác
+ Do bao quả hạn chế sâu bệnh, ít dùng thuốc bảo vệ thực vật nên đây là một trong nhưng kỹ thuật để sản xuất quả có múi an toàn theo GAP Đồng thời có thể áp dụng tốt cho những vườn du lịch sinh thái, nuôi trồng thuỷ sản dưới mương
+ Phò ng ngừa tia cực tím, ánh nắng quá gắt làm trái cây bi ̣ nứt và bi ̣ đốt
+ Thờ i gian chín sớm, kéo dài thời kỳ ra quả, nâng cao hiệu quả kinh tế, gia tăng thu nhâ ̣p
+ Túi bọc trái cây cất giữ được lâu, có thể kéo dài thời gian bảo quản + Giảm bớt lượng sử du ̣ng thuốc trừ sâu, ha ̣ thấp lượng thuốc trừ sâu
bám trên trái, sản xuất không gây ha ̣i môi trường cây ăn trái, tăng đươ ̣c thu nhập, đẩy ma ̣nh xuất khẩu
- Về phòng trừ sâu bệnh hại
Cây ăn quả có múi nói chung và cây cam quýt nói riêng có khá nhiều sâu
Trang 22bệnh hại, đặc biệt có những bệnh rất nguy hiểm gây huỷ diệt hàng loạt như bệnh tristeza, greening ở Brasil, Tây Ban Nha và Venezuela (Whiteside at al., 1988;) [29]
Ở Nhật Bản đã ghi nhận 240 loài côn trùng và nhện hại; tại 14 tỉnh miền nam Trung Quốc ghi nhận 489 loài chân khớp gây hại trên cam quýt; Đài Loan có 167 loài, Malaysia có 174 loài, ở Ấn Độ có 250 loài [25]
Kết hợp các biện pháp hoá học và sinh học tạo ra một hình thức gọi là quản lý phòng trừ tổng hợp (IPM) đang là xu hướng chung các nước hướng tới Ở Cu Ba áp dụng IPM trên cam quýt đã giảm được 50% lượng thuốc hoá học và làm tăng 20% lượng quả xuất khẩu Một số nước có kỹ thuật sản xuất cây ăn quả có múi tiên tiến như: Úc, Hàn Quốc đã áp dụng IPM trên cây ăn quả có múi trên cơ sở sử dụng dầu khoáng PSO để phòng trừ tập đoàn chích hút, sâu vẽ bùa kết hợp với phòng trừ các loại bệnh hại khác, bảo vệ tập đoàn thiên địch trên các vườn quả, hạn chế ô nhiễm môi trường
Tiến bộ đáng ghi nhận nhất trong phòng chống bệnh đó là kỹ thuật xét nghiệm chuẩn đoán các bệnh virus, siêu vi khuẩn bằng PCR và ELISA Hiện nay những kỹ thuật này đã được sử dụng như là 1 phương tiện chủ yếu để xét nghiệm chuẩn đoán bệnh cũng như sàng lọc bệnh trong sản xuất cây sạch bệnh, đồng thời việc kết hợp các phương pháp vi ghép đỉnh sinh trưởng, nuôi cấy mô phân sinh với xét nghiệm sàng lọc bệnh bằng PCR và ELISA đã trở thành một khâu bắt buộc trong sản xuất cây sạch bệnh ở các nước trồng cam quýt trên thế giới (Timmer and Duncan, 1999) [27]
1.2.2 Tình hình sản xuất và nghiên cứu cam quýt tại Việt Nam
1.2.2.1 Tình hình sản xuất cam quýt trong nước
Cam quýt được trồng phổ biến nhiều nơi trên khắp mọi miền của đất nước Cho đến nay người ta vẫn chưa xác định được cam quýt trồng ở Việt Nam từ lúc nào, nhưng chắc chắn cam, quýt, bưởi là những cây ăn trái trồng lâu đời nhất và phổ biến nhất Có thể do đây là những cây bản địa, được tổ
Trang 23tiên ta thuần dưỡng, và bản thân chúng ta cũng rất dễ thích nghi với điều kiện trồng trọt dùng làm thuốc, làm thực phẩm, làm cây cảnh [9]
Theo Trần Như Ý (2000) [19], quá trình trồng và phát triển cam quýt tại Việt Nam có thể chia ra các giai đoạn sau đây:
- Thời kỳ trước hoà bình lập lại 1954: Cam quýt còn rất hiếm, nhân dân
ta còn ít biết đến thứ quả hiếm này, chỉ tập chung ở một số vùng chuyên canh
và làm món hàng chỉ được biết đến ở tầng lớp giàu sang, quyền quý
- Thời kỳ 1954 - 1960: Mặc dù đất nước đã hoà bình ở Miền Bắc, song cam quýt chỉ xuất hiện ở các vùng hẹp quanh xã Đoài ( Nghệ An) và Bố Hạ (Bắc Giang), đây là 2 vùng chuyên canh có kinh nghiệm, một số gia đình cũng biết làm giàu từ cây cam, trên thị trường cam quýt vẫn là thứ hiếm
- Thời kỳ 1960 - 1975: Vào những năm 1960 ở Miền Bắc thành lập hàng loạt các nông trường quốc doanh, trong đó có rất nhiều nông trường trồng cam quýt như: Sông Lô, Cao Phong, Sông Bôi, Thanh Hà, Vân Du, Sông Gâm, Thống Nhất, Thắng Lợi, Cờ Đỏ, Đông Hiếu, Sông Con Như vậy tập trung thành một số vùng cam quýt chính ở nước ta:
Lớn nhất là vùng tây Nghệ An: Khoảng 1000 ha
Vùng tây Thanh Hóa: 500 ha
Vùng Xuân Mai Hòa Bình: 500 ha
Vùng Việt Bắc: 500 ha
Các vùng khác còn lại khoảng 500 ha
Ở thời kỳ này ta đã có khoảng 3.000 ha cam quýt, thời kỳ này cam quýt
đã phát triển khá mạnh, sản lượng hàng năm đã đạt vài trục ngàn tấn phân bố hầu khắp các vùng
Trên thị trường đã thấy cam quýt có giá cả phải chăng, mọi người dân
đã biết đến hương vị của nó
Về năng suất, ở ta bình quân vào những năm 1970 vào khoảng 135 -
140 tạ/ha Thời kỳ này có những nông trường cam ở vùng đất Bazan Phủ Quỳ (Nghệ An) đạt bình quân toàn nông trường là 220 tạ/ha (Nông trường
Trang 24Tây Hiếu), các nông trường Sông Con, Cờ Đỏ cũng đạt bình quân 200 tạ/ha (trên diện tích 500 ha) Đã có những năng suất điển hình khá cao như: Đội Tân Xuân đạt bình quân trên 24ha là 340 tạ/ha, đội Đức Thịnh đạt 420 tạ/ha
Thời kỳ sau 1975 trở lại đây:
Ở Miền Bắc diện tích và sản lượng cam quýt có xu thế giảm đi, những diện tích được trồng vào thời kỳ 1960 – 1965 thì nay hầu như đã già cỗi, sâu bệnh rất nặng vậy đã chuyển sang trồng cây khác hoặc trồng lại, nhìn chung
cả miền Bắc diện tích, năng suất đều giảm, ở Miền Nam diện tích và sản lượng cam quýt tăng, nhất là khu vực tư nhân Các tỉnh có diện tích khá như: Vĩnh Long, Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp có nhiều điển hình năng suất cao
Theo điều tra của trường Đại Học Cần Thơ tháng 10/1993 thì diện tích trồng cam quýt của 9 tỉnh ở Đồng Bằng sông Cửu Long đã lên đến 20.000ha Năng suất đã đạt 39 – 40 tấn/ha, sản lượng vùng này hàng năm khá hơn
Theo B Aubert sản lượng cam quýt 1995 riêng đồng bằng Sông Cửu Long đạt 800.000 tấn, ước tính cả nước đat ±1000 tấn [19]
Những năm gần đây, nghề trồng cây ăn quả có múi ở nước ta đã và đang ngày càng phát triển cả về diện tích cũng như trình độ thâm canh cây có múi thực sự là những cây trồng chủ lực góp phần chuyển đổi cơ cấu cây trồng
ở nhiều địa phương trong cả nước [2]
Bảng 1.3 Tình hình sản xuất cam quýt ở Việt Nam
Nguồn: Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn [24]
Với số liệu thống kê ở bảng 1.4 tình hình duy trì phát triển diện tích trồng cam quýt có sự phát triển tương đối ổn định, diện tích cho thu hoạch qua các năm
2011 đến 2013 có giảm hơn so với năm 2009 và 2010 song sản lượng và năng
Trang 25suất đã được tăng hơn hẳn, điều đó chứng tỏ chúng ta đã ứng dụng và quản lý ngày càng hiệu quả các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất đang đạt những hiệu quả nhất định
Bảng1.4 Tình hình sản xuất cam quýt ở các vùng năm 2013
Tình hình sản xuất Tổng
diện tích (ha)
Diện tích cho thu hoạch (ha)
Năng suất trung bình (tạ/ha)
Tổng sản lượng (tấn)
Nguồn: Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn [24]
Ở nước ta hiện nay, có nhiều vùng trồng cam quýt song những địa phương trồng được loại cam quýt cho năng suất cao, phẩm chất tốt có tiếng trong nước phải kể đến vùng cam đồng bằng sông Cửu Long, vùng cam Trung du miền núi phía Bắc với nhiều giống cam đặc sản, chất lượng như: cam Yên Bái, cam Bắc Quang, quýt Bắc Sơn, cam Sành Hàm Yên với tổng diện tích của cả nước năm 2013 là 70.300 ha Phân bố ở 8 vùng sản xuất bao gồm Đồng bằng sông Hồng, vùng Trung du và miền núi phía Bắc, Bắc Trung
bộ và duyên hải miền Trung, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Đồng Bằng Sông Cửu Long; Trong đó khu vực có chữ lượng cam lớn nhất là Đồng Bằng Sông Cửu Long 36.800 ha (2013), ít nhất là Tây Nguyên 700 ha (2013)
Trong những năm gần đây nhìn chung diện tích cam quýt trồng mới có tăng, song diện tích cho thu hoạch có phần giảm đi nhất là miền Bắc Nguyên nhân chính là do những cây trồng cam quýt đã qua canh tác nhiều năm bị già
Trang 26cỗi, sâu, bệnh nhiều Một số nơi đất bị thoái hoá do xói mòn rửa trôi dinh dưỡng, đầu tư phân bón chăm sóc ít chưa có biện pháp phòng trừ hiệu quả, còn hạn chế trong việc chọn tạo những giống tốt có khả năng chống chịu sâu bệnh, để cung cấp cho nhu cầu tiêu thụ nội địa và xuất khẩu
1.2.2.2 Những nghiên cứu cải tiến, nâng cao năng suất, chất lượng cam quýt tại Việt Nam
* Các nghiên cứu về tác động của phân bón cho cây có múi
Theo Phạm Văn Côn (2004)[4] cho biết: cây ăn quả cũng như cây trồng nói chung cần hút chất dinh dưỡng từ đất và từ phân bón để tạo ra sản phẩm thông qua quá trình quang hợp Nếu thiếu dinh dưỡng hoặc các chất dinh dưỡng không cân đối làm cho cây sinh trưởng kém dẫn tới giảm năng suất và phẩm chất sản phẩm Nếu thừa dinh dưỡng làm cho cây sinh trưởng quá mạnh cũng làm giảm năng suất và phẩm chất sản phẩm đồng thời còn gây ô nhiễm môi trường đất nước và không khí Vì vậy, trước tiên cần phải nắm vững nhu
cầu dinh dưỡng của từng loại cây
Theo các tác giả Võ Văn Chi, 1997 [7] phẩm chất quả bao gồm hình dạng, kích thức quả, cấu chúc vỏ, độ nhẵn và mầu sắc vỏ hoặc phẩm chất bên trong đặc chưng bằng nhiều yếu tố như lượng dịch quả, tổng số chất hoà tan và độ chua v.v được quyết định bởi việc bón phân Nhận xét một cách tổng quát là bón nhiều N sẽ làm cấu trúc vỏ ngoài xấu, quả nhỏ, chất lượng quả giảm Ảnh hưởng của N còn tuỳ thuộc vào từng nền đất trồng, ở những chân đất mầu mỡ ảnh hưởng của việc bón N không được thể hiện rõ Trong điều kiện P dễ tiêu thấp, việc thừa N càng tỏ ra có ảnh hưởng xấu đến chất lượng quả Mức bón K cao làm tăng độ lớn trung bình của quả và độ dày vỏ quả Bón K không làm ảnh hưởng đến năng suất của cây nhưng lại ảnh hưởng rõ rệt đến tỷ lệ các loại trái (theo độ lớn) Bón nhiều K thì quả to, vỏ dày, chín muộn, mầu sắc quả xấu, các
Trang 27hợp chất tan trong dịch quả thấp Ngược lại nếu bón K thấp tạo ra quả nhỏ, chín sớm, mầu sắc đẹp, các chất tan trong dịch quả cao, axit thấp
* Về lượng phân bón
Tuỳ theo từng loại đất đai, giống, tình hình sinh trưởng của cây mà quyết định số lượng phân bón cho thích hợp Về cơ bản các loại phân N, P và K cần được cung cấp cho cây đầy đủ, bên cạnh đó phân hữu cơ và các loại vi lượng cũng cần được bổ sung để đạt được năng suất cao Tác giả Đường Hồng Dật (2003) [8] đề nghị lượng bón cho mỗi cây/một năm như sau:
Bảng 1.5 : Lượng phân bón cho bưởi Năm
tuổi
Đạm sunfát
(kg) Lân surpe (kg)
Kaliclorua (kg)
Phân hữu cơ (kg)
Trang 28Lần 2: Sau đậu quả 6 - 8 tuần bón 1/3 N + 1/2 K2O
Lần 3: Trước khi thu hoạch 1 - 2 tháng bón 1/2 K2O còn lại
Lần 4: Sau khi thu hoạch bón toàn bộ lượng P2O5 + 1/3 phần N còn lại + toàn bộ lượng phân hữu cơ
Các nghiên cứu cũng cho thấy việc bón phân hữu cơ, nhất là phân chuồng rất quan trọng trong canh tác cây có múi, vì góp phần làm tơi xốp đất, giữ được dinh dưỡng lâu hơn và hạn chế những bệnh ở rễ
Nguyễn Hữu Thoại, Nguyễn Minh Châu (2005) [5]nghiên cứu hiệu quả của một số loại phân bón cho bưởi Năm Roi cho thấy: Bón phân hữu cơ đã cải thiện độ chua, làm tăng dinh dưỡng của đất, làm tăng phẩm chất trái sau tồn trữ 30 ngày
Huỳnh Ngọc Tư và cs, (2005) [14] nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng đạm, lân và kali đến năng suất và phẩm chất bưởi Đường lá cam tại Vĩnh Cửu
- Đồng Nai cho thấy: khi bón 800N: 500 P2O5: 700 K2O (g/cây/năm) cho năng suất cao và chất lượng tốt nhất
Đỗ Đình Ca (1996)[3] nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón, tưới nước đến khả năng ra hoa, đậu quả của bưởi Phúc Trạch từ 2003 - 2004 cho thấy bón 800g N: 400g P2O5 : 600g K2O + phun phân bón lá Grown ba lá xanh cho năng suất cao nhất, song về hiệu quả kinh tế thì công thức bón 500g N + 250g P205 + 375g K20 + phun phân bón lá cho hiệu quả cao hơn
Phạm Thanh Minh, 2005 [12] nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật điều khiển bưởi Da xanh ra hoa theo ý muốn kết luận: có thể bón cho mỗi cây 200g phân NPK, tưới nước đẫm, sau 1 tuần dùng kéo cắt khoảng 70% lá trên cành chỉ chừa lại phần ngọn, khoảng 25 ngày sau trên vết cắt sẽ xuất hiện chồi non, chính những chồi này mang những mầm hoa và cho quả
Đỗ Đình Ca và CS, năm 2009 [4] nghiên cứu bón phân cho bưởi Thanh Trà ở Thừa Thiên Huế kết luâ ̣n:
Trang 29+ Với nền phân bón cao: 50kg phân hữu cơ + 800g N + 400g P205 + 600g K2O/cây nếu phun thêm phân bón lá Yogen, Grown hoă ̣c Komix thì hiệu quả phân bón lá không rõ
+ Với nền phân thấp: 50 kg phân HC + 500g N + 250g P205 + 375g K20, phun phân bón lá chỉ hiệu quả khi gặp điều kiện thời tiết bất lợi
+ Lượng phân bón 50kg phân hữu cơ + 5kg phân hỗn hợp Con Cò hoặc Đầu Ngựa 16:16:8 trong điều kiện thuận lợi hay bất lợi đều cho năng suất cao hơn đối chứng rõ rệt
+ Chế độ phân bón ảnh hưởng đến năng suất và trọng lượng bình quân quả, ít ảnh hưởng đến các đặc điểm của quả như kích thước, hình dáng, màu sắc vỏ, màu sắc thịt quả, số múi, số hạt, tỉ lệ phần ăn được và kể cả độ Brix Nguyễn Thi ̣ Ngo ̣c Ánh, Trung tâm Nghiên cứu và phát triển cây có múi Xuân mai, năm 2010 nghiên cứ u kỹ thuâ ̣t bón phân cho bưởi Diễn trồng trên đất gò đồ i bán sơn đi ̣a, huyê ̣n Chương Mỹ, Hà Nô ̣i kết luâ ̣n: Sử du ̣ng các loa ̣i phân bón gốc kết hợp vớ i phân bón lá đã làm tăng tỷ lê ̣ đâ ̣u quả, nâng cao năng suất, phẩm chất quả bưởi hơn so với đối chứng Trong đó bón phân tổng hợp đầu trâu 5 kg/cây kết hợp bổ sung phân bón lá đầu Trâu 502 cho kết quả tốt nhất, cho tỷ lệ đậu quả và năng suất tăng gần gấp 2 lần so với đối chứng (công thức bón phân Đầu Trâu kết hợp với phân bón lá cho tỷ lệ đậu quả đa ̣t 1,84%, năng suất 85,71kg/cây; công thức đối chứng tỷ lê ̣ đâ ̣u quả là 1,03%
và năng suất chỉ đạt 49,2 kg/cây)
Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuâ ̣t thâm canh tăng năng suất bưởi phúc Trạch, Vũ Việt Hưng kết luận: Áp du ̣ng tổng hơ ̣p các biê ̣n pháp kỹ thuâ ̣t (bón phân, tưới nước, cắt tỉa, thu ̣ phấn bổ sung ) có tác du ̣ng cải thiê ̣n khả năng sinh trưởng, nâng cao tỷ lê ̣ đậu quả Năng suất những năm mất mùa (2007 - 2009) vẫn đạt từ 50,68 - 61,26 kg/cây, cao hơn đối chứng từ 21,57 – 25,7 lần
Trang 30Những năm gần đây phân bón lá như Pomior, Kivica sản xuất ở trong nước cũng đã được sử dụng khá phổ biến trên cam, quýt đưa lại hiệu quả tăng năng suất, chất lượng rõ rệt (Vũ Mạnh Khải năm 1995)
Nhìn chung hướng nghiên cứu là tìm ra loại phân, công thức bón và thời gian bón thích hợp cho năng suất, chất lượng cao nhất, không gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng tới vệ sinh an toàn sản phẩm
Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Duy Lam (2011) cho biết: Các biện pháp kỹ thuật tổng hợp như: bón vôi, bón phân vi lượng, tưới nước, tỉa cành, tỉa lộc, tỉa quả đã tác động rõ rệt đến hiệu quả sản xuất cam sành Khi kết hợp giữa các biện pháp kỹ thuật tổng hợp với mức bón phân: 40kg P/C + 1,5 kg đạm Urê + (2-2,5) kg phân lân Suppe + 1,0 kg Kali cho cam sành ở thời kỳ sản xuất kinh doanh (từ 5 tuổi trở lên) làm cho cây sinh trưởng, phát triển tốt
và đạt hiệu quả sản xuất cao nhất
Tất cả các nghiên cứu trên là những cơ sở cho việc bón phân và sử dụng phân bón một cách hợp lý đối với cây có múi Tuy nhiên trên thực tế việc ứng dụng các nghiên cứu có kết quả còn phụ thuộc rất nhiều vào các yêú tố khác nhau, trong đó giống và điều kiện thời tiết, khí hậu từng vùng có vai trò rất quan trọng và do vậy việc thí nghiệm để tìm ra các công thức bón thích hợp với từng đối tượng, từng vùng sinh thái trồng trọt vẫn cần phải được tiến hành thường xuyên
* Các nghiên cứu về tác dụng của việc bọc quả
Ở Việt Nam, những nghiên cứu và ứng dụng về Kỹ thuật bọc quả bằng các loại bao giấy thô sơ, thông thường được nghiên cứu bởi Trường Đại Học Cần Thơ, Viện Cây ăn quả miền Nam từ năm 1997 Tuy nhiên, vấn đề tìm loại bao trái có chất liệu thích hợp với điều kiện thời tiết, tập quán canh tác, giá cả hợp lý đối với người sản xuất là vấn đề bức xúc đối với sản xuất và tiêu thụ xoài trong thời gian qua Kĩ thuật bao quả đã được áp dụng tại huyện Cao
Trang 31Lãnh, tỉnh Đồng Tháp trên xoài, bưởi từ năm 1997 với sự hỗ trợ kĩ thuật của Trung tâm Ứng dụng chuyển giao Khoa học kĩ thuật (Viện khoa học Kĩ thuật miền Nam) Từ đó kĩ thuật bao quả đã được ứng dụng rộng rãi trên cả nước cho nhiều loại quả có chất lượng như bưởi, xoài, ổi, cam…
Tác dụng của bao quả: Kỹ thuật bao quả với chất liệu đặc biệt, có khả năng cho ánh sáng xuyên qua và duy trì màu sắc trái như trong điều kiện sản xuất bình thường Có thể tái sử dụng qua 2 mùa vụ, dễ phân hủy trong môi trường ở điều kiện bình thường; dễ áp dụng và kết hợp với tỉa trái và xử lý thuốc Bảo vệ thực vật trước khi bao trái góp phần tăng năng suất trái từ 40-55%, đặt nền tảng cho sản xuất cây ăn quả theo hướng GAP Việc bảo quả còn có tác dụng như giảm được ít nhất từ 8-10 lần phun thuốc trừ sâu, bệnh/vụ, tỷ lệ quả loại 1 tăng lên do kết hợp bao quả, tỉa quả và phun thuốc trừ sâu, bệnh trước khi bao; đạt các tiêu chuẩn đánh giá về cảm quan cũng như chất lượng quả sau thu hoạch
Ngoài các tác dụng rõ rệt từ việc bao quả cây ăn quả, còn có tác dụng lớn về
lợi ích về kinh tế: Bao quả ngoài tránh được sự va chạm cơ học do gió gây ra, làm
giảm sự xâm nhập của nấm và vi khuẩn qua vết thương; do đó, hạn chế tối đa bệnh thán thư và xì mủ trên quả gây ra Tạo màu sắc quả đẹp, bệnh thối quả sau thu hoạch giảm giúp kéo dài thời gian bảo quản từ 3-5 ngày so với bình thường
Về lợi ích xã hội: Lượng thuốc trừ sâu bệnh giảm đi từ 5-10 kg/ha góp
phần hạn chế ô nhiễm môi trường do tồn dư thuốc bảo vệ thực vật an toàn đối với sức khỏe của cộng đồng Tạo tiền đề cho sản xuất xoài theo hướng Global GAP và xuất khẩu cho các thị trường có tiêu chuẩn khắt khe trong tương lai Hiện nay, trên cả nước nhiều vườn cây ăn quả đã ứng dụng kĩ thuật bao quả vào sản xuất, số lượng bao quả tăng nhanh theo năm và được ứng dụng chủ yếu cho bưởi, ổi, xoài và cam với hàng triệu lượt bao quả đã được cung cấp cho người sản xuất trên cả nước
Trang 32Tại tỉnh Bắc Kạn nhiều hộ nông dân đã ứng dụng kỹ thuật bao trái ổi vào trong sản xuất việc bao trái này được tiến hành như một thói quen trong quá trình canh tác trong 03 năm trở lại đây, hiện nay nhờ ứng dụng bao trái
mà cây ổi thu hoạch đạt được năng suất chất lượng giảm hẳn sâu bệnh hại được bà con quan tâm chú trọng thực hiện ở hầu hết các vườn trồng ổi kinh doanh tại địa phương Tuy nhiên việc ứng dụng kỹ thuật bao trái trên cây cam quýt vẫn còn mới mẻ chưa được ứng dụng do đó để góp phần nâng cao giá trị gia tăng trên một đơn vị diện tích trồng cam quýt, tạo ra những vườn quýt cho năng suất cao chất lượng tốt, việc ứng dụng kỹ thuật bao trái vào sản xuất cho
bà con nông dân là rất cần thiết
* Nghiên cứu phòng trừ sâu bệnh hại
Có khá nhiều công trình nghiên cứu ở Việt Nam về các đối tượng sâu bệnh hại trên cây có múi trong những năm qua Kết quả của đề tài điều tra, nghiên cứu một số sâu bệnh hại và xây dựng biện pháp phòng trừ trên cây ăn quả có múi cho thấy, có 13 loài sâu hại, các bệnh hại nguy hiểm là greening (vàng lá gân xanh), tristeza, phấn trắng, sẹo, thán thư Trên cơ sở đó đề tài đã đưa bộ thuốc đặc hiệu cho việc phòng trừ sâu bệnh hại chính để khuyến cáo cho người sử trồng? (Ngô Vĩnh Viễn, 2006) [16]
Với hàng loạt các dự án, đề tài được tài trợ bởi các cơ quan trong và ngoài nước, từ năm 1990 đến nay Viện Bảo vệ thực vật và Viện nghiên cứu cây ăn quả miền Nam đã xác định được nguyên nhân và mô tả triệu chứng bệnh greening trên cây cam, quýt, bưởi Gần đây Viện nghiên cứu cây ăn quả miền Nam đã nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn cây sạch bệnh và xây dựng mô hình thâm canh và IPM vườn sạch bệnh tại một số địa phương ở Đồng bằng Sông Cửu Long Ngoài ra, từ kết quả nghiên cứu các nhà khoa học cũng đã khuyến cáo, nên sử dụng một số giống gốc ghép chịu được một số bệnh nguy hiểm như: Chấp Thái Bình, chanh sần, cam ba lá, cam chua Hải Dương, quýt
Trang 33Cleopatre trong nhân giống cây ăn quả có múi Đây là những thành quả đáng khích lệ, góp phần thúc đẩy phát triển ổn định cây ăn quả có múi ở Việt Nam (Viện Bảo vệ thực vật, 1999) [17]
1.5 Kết luận phân tích tổng quan
Với nhu cầu tiêu thụ cam quýt ngày càng cao làm cho việc quan tâm chú trọng tới nâng cao năng suất, chất lượng, diện tích, sản lượng cây có múi trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng ngày càng được đầu tư phát triển Những năm qua ở nước ta đã có khá nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến phát triển cây ăn quả có múi, bao gồm các lĩnh vực thu thập bảo tồn, đánh giá và khai thác sử dụng nguồn gen, cải tiến giống (phục tráng và chọn tạo), nhân giống và các biện pháp kỹ thuật thâm canh, phòng trừ sâu bệnh hại cũng như xử lý và bảo quản sau thu hoạch Mặc dù đã có nhiều kết quả đáng kích lệ nhưng do đặc thù tiểu khí hậu, đất đai từng vùng trong cả nước có sự khác nhau nhất định do đó để nâng cao năng suất chất lượng cam quýt tại các địa phương trong cả nước cần tiến hành các nghiên cứu cụ thể để khuyến cáo người dân áp dụng vào trong sản xuất
Đối với tỉnh Bắc Kạn cam quýt đang được coi là cây trồng thế mạnh của tỉnh giúp bà con xóa đói giảm nghèo song việc áp dụng kỹ thuật cho cây cam quýt tại địa phương còn ít, đặc biệt việc áp dụng phân bón qua lá bổ sung dinh dưỡng vi lượng cho cây vào thời kỳ phát triển quả còn hạn chế, người dân còn lúng túng trong việc lựa chọn loại phân bón và liều lượng bón cho cây trong từng giai đoạn phát triển Do vậy tiến hành nghiên cứu một số biện pháp
kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất chất lượng quýt góp phần hoàn thiện quy trình thâm canh cây quýt Bắc Kạn là những vấn đề chính trong đề tài nghiên cứu của chúng tôi
Trang 34Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Các nghiên cứu tiến hành trên Giống quýt Bắc Kạn, cây trong thời kỳ kinh doanh cho quả ổn định trong 3 năm gần đây, cây sau trồng 7 năm, nhân giống bằng phương pháp ghép cành
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian và địa điểm: Đề tài tiến hành thực hiện nghiên cứu từ
tháng 5 năm 2015 đến tháng 12 năm 2015 Địa điểm tại thôn Phiêng An, xã Quang Thuận, huyện Bạch Thông , tỉnh Bắc Kạn
- Về vấn đề nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu tác động của phân
bón qua lá và túi bọc quả đến năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất giống quýt đặc sản của Bắc Kạn
2.1.3 Vật liệu nghiên cứu
2.1.3.1 Phân bón lá
- Phân bón lá sinh hoá Thiên Nông: Sản xuất tại công ty hoá phẩm
Thiên Nông; Lô 42 A, Khu Công Nghiệp Quang Minh, huyện Mê Linh; Thành phố Hà Nội Thành phần: 20% đạm(N); 10% lân(P205); 10% kali(K20)
- Phân bón lá Đầu Trâu 902: Sản xuất tại CÔNG TY CP BÌNH
ĐIỀN- MEKONG; Thành phần: 17% đạm(N); 21% lân(P205); 21% kali(K20), 0,03% Bo, 0,01% sắt, 0,01% Mangan; 0,001% Molipđen; 0,002%PENAC P; GA3; αNAA; βNOA
- Phân bón lá VS - 21: Nhập khẩu từ Isarel; sản phẩm của công ty cổ
phần giống nông nghiệp Hà Nội; Địa chỉ: Đại Lan - Duyên Hà - Thanh Trì -
Hà Nội; Thành phần: 11% đạm(N); 0% lân(P205); 40%(K20), 4% MgO
Trang 352.1.3.2 Túi bọc quả
- Túi bọc quả Trung Quốc: Viện Nghiên cứu Rau quả, TT Châu Quỳ,
Gia Lâm, Hà Nội nhập từ Trung Quốc về phân phối cho thị trường Túi giấy, màu trắng do Trung Quốc sản xuất, có kích thước 17 x 22cm, túi có 1 lỗ thủng phía dưới cạnh túi để thoát khí và nước, miệng túi có dây thép dài gắn trực tiếp vào phía trên miệng túi để buộc
- Túi bọc quả Việt Nam: Do cơ sở Nông An Phú, A62 BIS, ấp Bình
Đức, xã Bình Nhâm, thị xã Thuận An , tỉnh Bình Dương sản xuất Túi dệt sợi
tơ màu trắng, miệng túi có dây sợi để buộc kiểu thắt nút, túi có thể trao đổi khí và thoát nước; kích thước túi 20 x 24cm
2.1.3.3 Dụng cụ
Thước kẹp Panme, thước mét, cân, Brix kế, kéo cắt cành, đĩa petry v.v
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứ u ảnh hưởng của phân bón lá đến năng suất và chất lượng quýt tại xã Quang Thuận, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn
- Nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp bọc quả đến năng suất và chất lượng Quýt tại xã Quang Thuận, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Thi ́ nghiê ̣m 1 - Nghiên cứu ảnh hưởng của phun phân bón lá đến năng suất va ̀ chất lượng quýt tại xã Quang Thuận, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn
* Công thức thí nghiệm: Thí nghiệm gồm 4 công thức
Công thức Loại phân bón lá
1(đ/c) Không phun phân bón lá
2 Phun phân bón lá VS - 21
3 Phun phân bón lá Đầu Trâu 902
4 Phun phân bón lá sinh hoá Thiên nông
Trang 36* Phương pháp bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm được bố trí theo kiểu
khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh với 4 công thức, 3 lần nhắc lại (Randomized completed block design) Mỗi công thức bố trí trên 1 cây quýt trên nền đất vườn đồi của hộ dân (chọn cây khoảng 7 năm tuổi, nhân giống bằng phương pháp ghép cành đã ra quả ổn định trong 3 năm gần đây, đồng đều về tuổi, sinh trưởng, phát triển và đại diện cho khu thí nghiệm) Tổng số cây trong thí nghiệm là 12 cây
* Chăm sóc: Các chế phẩm phân bón qua lá pha và phun theo chỉ dẫn
của nhà sản xuất (15 ngày/ lần, phun 6 lần/vụ, từ tháng 20/5/2015 đến tháng 8/2015)
Yếu tố phi thí nghiệm: Bón mỗi cây 2kg NPK /cây trên năm, thực hiện
2 lần bón, bón lần một 1kg NPK 5.10.3 sau khi thu hoạch quả vào tháng 11, lần 2 bón 1kg phân NPK 12.5.10 cho cây thời kỳ phát triển quả non vào tháng
4 – tháng 6; mõi lần bón phân kết hợp làm cỏ và tưới nước Nguồn nước tưới chủ yếu là nước mưa hứng trong bể chứa trên đồi Cắt tỉa cành tăm, cành sâu bệnh và loại bỏ quả bé, sâu bệnh, định quả phân bố đều trên tán cây
2.3.2 Thí nghiệm 2 - Nghiên cứu ảnh hưởng của các biện pháp bọc quả đến
năng suất và chất lượng quả quýt Bắc Kạn
* Công thức thí nghiệm: Thí nghiệm gồm 3 công thức
1(đ/c) Không bọc quả
3 Túi bọc quả Trung Quốc
Trang 37* Phương pháp bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm được bố trí theo kiểu
khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh với 3 công thức, 3 lần nhắc lại (Randomized completed block design) Mỗi công thức bố trí trên 1 cây quýt trên nền đất vườn đồi của hộ dân (cây khoảng 7 năm tuổi đã ra quả ổn định trong 3 năm gần đây, đồng đều về tuổi, sinh trưởng, phát triển và đại diện cho khu thí nghiệm, nhân giống bằng phương pháp ghép cành) Mật độ trồng của vườn là
500 cây/ha, chủ yếu tưới bằng vòi nhựa dẫn từ bể chứa trên đồi Nền phân
bón sử dụng là phân NPK 5.10.3 bón 2 lần/ năm Tiến hành bọc quả sau khi
hình thành quả được khoảng 55 - 60 ngày, khi đường kính trung bình quả đạt 2,0 - 2,5cm; thời điểm 20/5/2015; trước khi bọc quả tiến hành tỉa lá, cành tăm giáp cuống quả, phun thuốc phòng trừ sâu, bệnh trước 1 ngày để quả khô ráo sau đó tiến hành bọc quả Trên mỗi cây tiến hành theo dõi 4 cành, phân đều 4
hướng, phân bố đều ở các tầng tán Tổng số cây trong thí nghiệm là 9 cây
Yếu tố phi thí nghiệm: Bón mỗi cây 2kg NPK /cây trên năm, thực hiện
2 lần bón, bón lần một 1kg NPK 5.10.3 sau khi thu hoạch quả vào tháng 11, lần 2 bón 1kg phân NPK 12.5.10 cho cây thời kỳ phát triển quả non vào tháng
4 – tháng 6; mõi lần bón phân kết hợp làm cỏ và tưới nước Nguồn nước tưới chủ yếu là nước mưa hứng trong bể chứa trên đồi Cắt tỉa cành tăm, cành sâu bệnh và loại bỏ quả bé, sâu bệnh, định quả phân bố đều trên tán cây Kiểm tra sâu bệnh hại thường xuyên để phát hiện và có biện pháp xử lý kịp thời
Trang 382.4 Các chỉ tiêu theo dõi
2.4.1 Chỉ tiêu theo dõi thí nghiệm 1 (phun phân bón lá)
2.4.1.2 Thời kỳ phát triển quả
- Động thái rụng quả: Theo dõi tổng số quả rụng trên cây, thời gian bắt
đầu xác định tổng số quả trên cây để theo dõi 20/5/2016 khi bắt đầu tác động phun phân bón qua lá lần 1, đường kính quả đạt trung bình 2cm - 2,5cm, 30 ngày theo dõi một lần xác định tỷ lệ quả rụng đến khi thu hoạch
- Động thái tăng trưởng đường kính quả:
Dùng thước Pamer đo đường kính quả và chiều cao quả, mỗi công thức đo
30 quả (mỗi cây 10 quả), được đánh dấu cố định trên cây phân bố đều ở các hướng và các tầng tán, định kỳ 30 ngày theo dõi 1 lần
+ Chiều cao quả (cm): Đo từ đáy đến đỉnh của quả
+ Đường kính quả (cm): Đo phần giữa quả
- Thời kỳ chín Được tính khi có >20% số quả chín
2.4.1.3.Các yếu tố cấu thành năng suất
+ Số lượng quả/cây: Đếm tổng số quả hoàn chỉnh của từng cây khi thu hoạch
+ Khối lượng trung bình quả (g/quả): Cân thứ tự 10 quả/công thức/ trên
mỗi lần nhắc lại Tính trung bình
+ Khối lượng vỏ quả (g): Cân khối lượng vỏ quả
+ Khối lượng thịt quả (g): Cân khối lượng thịt quả
+ Năng suất quả/cây (kg/cây) : Cân trực tiếp khối lượng quả/các cây của các công thức Tính trung bình
+ Năng suất lý thuyết (tấn/ha) = Số quả/cây x số cây / ha x Khối lượng
TB quả
+ Năng suất thực thu (kg/cây): cân toàn bộ số quả trên cây, tính ra năng
suất tấn/ha
Trang 392.4.1.4 Theo dõi thành phần cơ giới quả
+ Tỷ lệ phần ăn được (múi) : Cân phần ăn được của 10 quả, mỗi công thức 10 quả, tính trung bình, tính tỷ lệ %
- Công thức tính tỷ lệ ăn được (%) = KL phần ăn được
Khối lượng quả x 100 + Tỷ lệ phần không ăn được (vỏ + hạt) : Cân phần không ăn được của từng quả, mỗi công thức 10 quả, tính trung bình, tính tỷ lệ %
- Công thức tính tỷ lệ phần không ăn được (%) = KL PKAĐ x 100
Khối lượng quả + Số hạt/quả (quả): Đếm số hạt trên quả
+ Số quả bị nứt/quả theo dõi: Đếm số quả bị nứt
2.4.1.5 Theo dõi chỉ tiêu chất lượng quả
+ Độ Brix: Đo bằng Brix kế (%) mỗi công thức đo 3 quả, tính trung bình + Axit citric (%): Được xác định theo phương pháp chuẩn độ NaOH 0,1N Mỗi công thức chuẩn 3 mẫu, tính trung bình
+ Vitamin C (mg/100g): Được xác định theo phương pháp Tinman Mỗi công thức 3 mẫu, tính trung bình
+ Hàm lượng chất khô (%) được xác định theo phương pháp sấy khô Mỗi công thức 3 mẫu, tính trung bình
+ Đường tổng số (%) được xác định theo phương pháp Bertrand Mỗi công thức 3 mẫu, tính trung bình
2.4.1.6 Chỉ tiêu về đặc điểm hình thái quả:
+ Màu sắc, độ nhẵn
+ Đánh giá mã quả: Đánh giá màu sắc quả bằng cảm quan
2.4.1.7 Chỉ tiêu về sâu bệnh hại:
Theo dõi sâu bệnh hại chính ảnh hưởng tới năng suất, chất lượng quả gồm nhện đỏ, ruổi đục quả, bệnh loét, bệnh bồ hóng theo QCVN 01 - 119 :
Trang 402012/ BNNPTNT do Ban Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về bảo vệ thực vật biên soạn, Cục bảo vệ thực vật trình duyệt, Bộ Nông nghiệp & PTNT ban hành tại Thông tư số 63/2012/TT-BNNPTNT ngày 14 tháng 12 năm2012
Phương pháp điều tra các loại sâu bệnh hại chính (nhện đỏ
(Panonychus citri Mc Gregor), ruồi đục quả (Bactrocera dorsalis H.), bệnh loét (Xanthomonas campestri pv citri (Hance) Dowson), bệnh muội đen (Capnodium citri Berk et Desn) như sau:
Mỗi điểm điều tra 1 cây, trên mỗi cây chọn 4 hướng, mỗi hướng chọn 1
cành nằm ở tầng giữa của tán cây để điều tra, thời điểm điều tra 7 ngày/lần
Đánh giá cấp độ gây hại đối với các loại sâu bệnh trên như sau:
Cấp hại Tỷ lệ diện tích lá, lộc, hoa, quả bị hại (%)
2.4.1.8 Tính toán hiệu quả kinh tế
+ Tổng thu, tổng chi, lãi thuần (đ/ha)
2.4.2 Chỉ tiêu theo dõi thí nghiệm 2 (Bọc quả)
2.4.2.1 Thời kỳ phát triển quả
- Động thái rụng quả: Theo dõi 4 cành phân bố đều về các hướng, xác
định và đếm số quả đậu trên cành tiến hành bọc và đánh dấu tất cả các quảtheo dõi, thời gian bọc quả và bắt đầu theo dõi 20/5/2016 khi đường kính quả đạt trung bình 2cm - 2,5cm, 30 ngày theo dõi một lần xác định tỷ lệ quả rụng đến khi thu hoạch
- Động thái tăng trưởng đường kính quả:
Dùng thước Pamer đo đường kính quả và chiều cao quả, mỗi công thức đo