Nghiên cứu giải pháp phát triển rau an toàn tại thành phố Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Nghiên cứu giải pháp phát triển rau an toàn tại thành phố Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Nghiên cứu giải pháp phát triển rau an toàn tại thành phố Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Nghiên cứu giải pháp phát triển rau an toàn tại thành phố Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Nghiên cứu giải pháp phát triển rau an toàn tại thành phố Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Nghiên cứu giải pháp phát triển rau an toàn tại thành phố Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Nghiên cứu giải pháp phát triển rau an toàn tại thành phố Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Nghiên cứu giải pháp phát triển rau an toàn tại thành phố Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Nghiên cứu giải pháp phát triển rau an toàn tại thành phố Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Nghiên cứu giải pháp phát triển rau an toàn tại thành phố Thái Nguyên (LV thạc sĩ)
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-
DƯƠNG QUANG HUY
NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
RAU AN TOÀN TẠI THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SỸ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Thái Nguyên - 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-
DƯƠNG QUANG HUY
NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
RAU AN TOÀN TẠI THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành : Phát triển nông thôn
Mã số ngành : 60.62.01.16
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Người hướng dẫn khoa học: TS Hà Quang Trung
Thái Nguyên - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
- Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
- Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2016
Học viên
Dương Quang Huy
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu, rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Xin chân thành cám ơn Thầy giáo hướng dẫn TS Hà Quang Trung đã tận tình, chu đáo hướng dẫn tôi thực hiện khoá luận này
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất Xong do mới làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, tiếp cận với thực tế cũng như hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm nên không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định mà bản thân chưa thấy được Tôi rất mong nhận được sự góp ý của quý Thầy, Cô và các bạn để luận văn được hoàn chỉnh hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2016
Học viên
Dương Quang Huy
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
2.1 Mục tiêu chung 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
3.1 Ý nghĩa khoa học 2
3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3
4 Bố cục của luận văn 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
1.1.1 Định nghĩa rau an toàn 4
1.1.2 Tiêu chuẩn rau an toàn 5
1.1.3 Các biện pháp kỹ thuật sản xuất rau an toàn 10
1.1.3.1 Kỹ thuật thuỷ canh (kỹ thuật trồng rau trong dung dịch - Hydroponics) 10
1.1.3.2 Kỹ thuật trồng rau trong điều kiện có che chắn (nhà lưới, nhà nilon, nhà màn, polyetylen phủ đất) 11
1.1.3.3 Trồng rau an toàn ngoài đồng ruộng 11
1.1.4 Một số lý luận về thị trường 12
1.1.4.1 Khái niệm về thị trường 12
1.1.4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến tiêu thụ sản phẩm Rau an toàn 12
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 15
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 15
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 16
Trang 61.2.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau an toàn trên thế giới 17
1.2.4 Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau an toàn ở Việt Nam 18
1.2.4.1 Tình hình sản xuất 18
1.2.4.2 Tình hình tiêu thụ 20
1.3 Những bất cập và tồn tại của sản xuất RAT ở nước ta 22
1.3.1 Những bất cập trong sản xuất rau an toàn 22
1.3.2 Những tồn tại chính của sản xuất rau an toàn 23
Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1 Câu hỏi nghiên cứu 24
2.2 Đối tượng, thời gian và phạm vi nghiên cứu 24
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 24
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu 24
2.2.2.1 Phạm vi về không gian 24
2.2.2.2 Phạm vi về thời gian 24
2.3 Nội dung nghiên cứu 24
2.4 Phương pháp nghiên cứu 25
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 25
2.4.2 Phương pháp điều tra 25
2.4.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 26
2.4.3.1 Phương pháp phân tích 26
2.4.3.2 Xử lý số liệu 27
2.4.3.3 Quy trình phân tích các bên liên quan đến sản xuất rau an toàn 27
2.5 Hệ thống chỉ tiêu phân tích 27
2.5.1 Các chỉ tiêu định tính 27
2.5.2 Các chỉ tiêu định lượng 28
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội thành phố Thái Nguyên 29
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 29
3.1.1.1 Vị trí địa lý 29
3.1.1.2 Khí hậu, thuỷ văn 29
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 30
3.1.3 Thực trạng phát triển kinh tế xã hội tỉnh Thái Nguyên 33
Trang 73.1.4 Nhận xét chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 36
3.2 Thực trạng sản xuất và tiêu thụ rau an toàn thành phố Thái Nguyên 37
3.2.1 Diện tích, năng suất, sản lượng rau của thành phố Thái Nguyên 37
3.2.2 Cơ cấu mùa vụ trong sản xuất rau 41
3.2.3 Hiệu quả kinh tế trong việc sản xuất và tiêu thụ rau an toàn trên địa bàn TP Thái Nguyên 42
3.2.4 Thực trạng về phát triển RAT tại thành phố Thái Nguyên 48
3.2.4.1 Người sản xuất 48
3.2.4.2 Vai trò và nhận thức của người tiêu dùng về rau an toàn 50
3.2.4.3 Các nguồn cung cấp Rau an toàn trên địa bàn Thành phố Thái Nguyên 53
3.2.4.4 Cơ sở hạ tầng phục vụ cho phát triển sản xuất rau an toàn 54
3.2.5 Đánh giá thuận lợi khó khăn trong sản xuất và tiêu thụ rau an toàn TP Thái Nguyên 55
3.3 Một số giải pháp phát triển sản xuất và tiêu thụ rau tại Thành phố Thái Nguyên 57
3.3.1 Phương hướng phát triển sản xuất và tiêu thụ RAT 57
3.3.2 Những giải pháp chủ yếu để phát triển sản xuất và tiêu thụ RAT 58
3.3.2.1 Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất và tiêu thụ RAT 58
3.3.2.2 Hỗ trợ kỹ thuật cho sản xuất và tiêu thụ RAT 59
3.3.2.3 Tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ và công tác khuyến nông phục vụ ngành hàng rau an toàn 61
3.3.2.4 Tăng cường đào tạo, tập huấn cho cán bộ và hộ nông dân vùng sản xuất RAT trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 62
3.3.2.5 Thúc đẩy tiêu thụ rau an toàn 63
3.3.2.6 Hoàn thiện chính sách của Nhà nước về sản xuất và tiêu thụ rau an toàn 65
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 68
1 Kết luận 68
2 Kiến nghị 70
2.1 Đối với tỉnh Thái Nguyên 70
2.2 Đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh RAT 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71 PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Ngưỡng giới hạn các vi sinh vật trong sản phẩm rau tươi 9
Bảng 2.1: Thống kê mô tả mẫu khảo sát 25
Bảng 2.2: Thống kê mô tả mẫu khảo sát người tiêu dùng 26
Bảng 3.1: Các chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu tỉnh Thái Nguyên 34
Bảng 3.2: Diện tích và năng suất trồng rau tại Thái Nguyên 38
Bảng 3.3: Diện tích trồng rau tại các hộ điều tra 39
Bảng 3.4: Một số mô hình sản xuất rau an toàn tại tỉnh Thái Nguyên 41
Bảng 3.5: Kết quả và hiệu quả kinh tế của một số loại rau tính bình quân trên
một sào rau 42
Bảng 3.6: Kết quả và hiệu quả của rau an toàn và rau thường 44
Bảng 3.7: Hiệu quả kinh tế của một số loại rau trên địa bàn thành phố Thái Nguyên 44
Bảng 3.8: Chi phí sản xuất bình quân trên một sào rau an toàn trên năm 45
Bảng 3.9: Kết quả khảo sát về sử dụng thuốc BVTV 45
Bảng 3.10: Sự phân biệt của người tiêu dùng về rau thường và RAT 51
Bảng 3.11: Đánh giá giá cả giữa RAT và rau thường 51
Bảng 3.12: Kết quả khảo sát về nơi người tiêu dùng thường mua RAT 52
Bảng 3.13: Kết quả khảo sát lý do người tiêu dùng không mua RAT 52
Bảng 3.14: Kết quả khảo sát yếu tố lựa chọn khi cung cấp rau 53
Bảng 3.15: Tên các cơ sở đủ điều kiện cung cấp rau an toàn 53
Bảng 3.16: Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất rau an toàn của các hộ dân 54
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1: Sơ đồ cung cấp rau 14 Hình 2.1: Phân tích các bên liên quan trong sản xuất và tiêu thụ RAT tại
Thái Nguyên 27
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nền kinh tế Việt Nam ngày càng phát triển, thu nhập người dân được gia tăng, chất lượng cuộc sống ngày càng tốt hơn Ngày nay, nhu cầu của người dân không dừng lại ở việc “ăn no mặc ấm”, “ăn ngon mặc đẹp”, mà cao hơn là nhu cầu về sức khỏe ngày càng được chú trọng Người tiêu dùng ngày càng có ý thức đối với chất lượng hàng hóa đặc biệt là nông sản thực phẩm nhưng họ ít có cơ hội chọn lựa những những sản phẩm thỏa mãn nhu cầu, bởi vì họ bị hạn chế thông tin về sản phẩm và nguồn gốc sản phẩm
Rau là loại thực phẩm rất cần thiết và không thể thay thế được trong đời sống hàng ngày của con người trên khắp hành tinh, cây rau cung cấp rất nhiều chất dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển của cơ thể con người như các loại vitamin, chất khoáng
Khi đời sống của người dân được nâng cao, nhu cầu lương thực và các thức ăn giàu đạm được bảo đảm thì yêu cầu về sản phẩm rau xanh không chỉ đơn thuần là đủ
đề vệ sinh an toàn thực phẩm với mặt hàng nông sản nhất là sản phẩm rau đang được
xã hội đặc biệt quan tâm [16]
Trang 12Trước tình hình trên, các địa phương sản xuất rau an toàn cũng khá phổ biến,
đã có rất nhiều vùng sản xuất rau an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP, nhưng có khá nhiều nguyên nhân ảnh hưởng tới khả năng tiêu dùng sản phẩm này của người dân, điều đó ảnh hưởng trực tiếp tới tính an toàn trong sản phẩm tiêu dùng của họ và quá trình bán hàng của các cơ sở sản xuất rau an toàn
Tuy nhu cầu tiêu dùng rau an toàn ngày càng tăng nhưng có đến 74% lượng rau an toàn sản xuất theo quy trình an toàn phải bán trên thị trường, chỉ 24% bán trong các của hàng siêu thị rau an toàn [16]
Thị trường rau an toàn ở Thành phố Thái Nguyên hiện nay như thế nào? Người tiêu dùng nhận thức như thế nào về rau an toàn? Những yếu tố nào tác động đến hành vi mua rau của người tiêu dùng? Tại sao việc phát triển thị trường rau an toàn hiện nay ở TPTN còn gặp nhiều khó khăn? Để tìm lời giải đáp cho vấn đề này,
tôi tiến hành thực hiện luận văn: “Nghiên cứu giải pháp phát triển rau an toàn tại
Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển rau an toàn tại thành phố Thái Nguyên
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
Góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận về rau an toàn, tổng hợp các kết quả nghiên cứu trở thành tài liệu tham khảo cho những người quan tâm đến việc nghiên cứu về sản xuất rau an toàn trên cả nước nói chung và thành phố Thái Nguyên nói riêng
Trang 133.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Đánh giá khách quan các tác nhân tham gia san xuất rau an toàn, phân tích lợi ích tài chính đối với các tác nhân
Giúp các nhà sản xuất, các doanh nghiệp, các cá nhân trong sản xuất rau an toàn tăng khả năng liên kết thực hiện mục tiêu cung cấp cho thị trường, cho người tiêu dùng các sản phẩm rau an toàn
Khép kín quy trình sản xuất rau nhằm nâng cao chất lượng rau sạch cũng như chất lương của các mặt hàng nông sản trong nước, hướng tới xuất khẩu sang thị trường trong nước và quốc tế
4 Bố cục của luận văn
Luận văn ngoài hai phần mở đầu và kết luận, nội dung được kết cấu thành
3 chương:
Chương 1: Tổng quan tài liệu
Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và một số giải pháp phát triển Rau an toàn trên địa bàn thành phố Thái Nguyên
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1 Định nghĩa rau an toàn
Rau an toàn: là những sản phẩm rau tươi (bao gồm tất cả các loại rau ăn: lá, thân, củ, hoa, quả, hạt, các loại nấm thực phẩm ) được sản xuất, thu hoạch, sơ chế, bao gói, bảo quản theo quy định kỹ thuật bảo đảm tồn dư về vi sinh vật, hóa chất độc hại dưới mức giới hạn tối đa cho phép theo quy định
Theo thông tư 59 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn ban hành ngày
9 tháng 11 năm 2012: Rau, quả an toàn là sản phẩm rau, quả tươi được sản xuất, sơ chế, chế biến phù hợp quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm hoặc phù hợp với quy trình kỹ thuật sản xuất, sơ chế rau, quả an toàn được Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt hoặc phù hợp với các quy định liên quan đến đảm bảo an toàn thực phẩm có trong quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt cho rau, quả tươi an toàn VietGAP, các tiêu chuẩn GAP khác và mẫu điển hình đạt các chỉ tiêu an toàn thực phẩm theo quy định [2]
Rau an toàn là rau khi sản xuất vẫn sử dụng phân hoá học và các hoá chất BVTV, song có giới hạn Chất lượng rau sản xuất ra có các tiêu chuẩn về: dư lượng thuốc BVTV; gốc nitrat và các yếu tố độc hại gây bệnh khác trong rau nằm trong giới hạn tiêu chuẩn cho phép, đảm bảo vệ sinh và an toàn sức khoẻ cho người tiêu dùng
Rau an toàn là rau không có đất, cát, rác hoặc các chất bám vào thân, lá, cành của rau
Rau an toàn là rau được thu hái, sử dụng đúng lúc rau có khả năng cho năng suất, chất lượng cao nhất của từng đợt và từng lứa thu hái
Rau an toàn là rau tươi không chứa các tạp chất khác, có bao bì vệ sinh sạch, bảo đảm đến người sử dụng ăn ngon, tươi và an toàn
Rau an toàn không chứa các dư lượng độc hại vượt quá ngưỡng cho phép theo tiêu chuẩn vệ sinh y tế không bị nhiễm các hoá chất, thuốc BVTV, hàm lượng nitrat, kim loại nặng và vi sinh vật gây bệnh khác
Tóm lại: Rau an toàn phải đảm bảo các yêu cầu sau:
Trang 15Không chứa dư lượng thuốc sâu quá mức cho phép
Không chứa lượng nitrat quá mức cho phép
Không chứa các vi khuẩn và kí sinh trùng gây bệnh cho người và gia súc, gia cầm (kể cả ăn sống và nấu chín ngay khi ăn và cả một thời gian sau khi ăn)
Không tồn dư một số kim loại nặng như: Thuỷ ngân (Hg), chì (Pb) quá
ngưỡng cho phép theo “Quy định tạm thời về sản xuất rau an toàn”
1.1.2 Tiêu chuẩn rau an toàn
Theo thông tư 59 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn năm 2012, điều kiện sản xuất rau an toàn phải đảm bảo:
Điều kiện sản xuất rau, quả: Thực hiện theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm đối với rau, quả trong sản xuất do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành hoặc theo quy trình kỹ thuật sản xuất rau, quả
an toàn được Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt hoặc theo các quy định liên quan đến đảm bảo an toàn thực phẩm trong VietGAP hoặc các GAP khác
Điều kiện sơ chế rau: Thực hiện theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm đối với rau, quả trong sản xuất, sơ chế do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành
Điều kiện chế biến rau, quả: Thực hiện theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 01-09:2009/BNNPTNT về cơ sở chế biến rau, quả - điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm
Tiêu chuẩn vùng sản xuất rau an toàn
Đất canh tác có tính lý hoá phù hợp với sự phát triển của cây rau, thường xuyên được bón phân, duy trì độ phì của đất, có nguồn nước tưới sạch không ô nhiễm do sản xuất trước đây Riêng các loại rau trồng ruộng nước: rau muống, rau nhút, sen thì không bị ô nhiễm bởi nguồn nước
Trang 16Nước tưới: Nguồn nước tưới cho vùng rau không bị ô nhiễm các loại hoá chất
và vi sinh vật gây hại, không dùng nước thải của sản xuất công nghiệp, nước thải sinh hoạt, nước ao tù tồn đọng chưa qua xử lý v.v
* Điều kiện kỹ thuật
Tối thiểu 90% số hộ trồng rau đồng thuận sản xuất RAT phải được tập huấn
kỹ thuật về sản xuất RAT do Chi cục BVTV, Trung tâm Khuyến nông tổ chức và cấp giấy chứng nhận, hộ hoặc các nhóm hộ phải cơ bản đồng thuận sản xuất theo quy trình kỹ thuật RAT [3]
Đảm bảo 95% diện tích trồng rau trong vùng thực hiện đúng quy trình sản xuất RAT của Bộ NN & PTNN
Phải áp dụng phương pháp phòng trừ dịch hại tổng hợp nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao, ít độc hại cho con người và môi trường
Giống: Chọn giống tốt sạch mầm bệnh, khuyến khích sử dụng các giống mới
có chất lượng và năng suất cao
Biện pháp canh tác: Thực hiện theo quy trình của Bộ NN & PTNN ban hành chú ý chế độ luân canh lúa - rau màu hoặc xen canh, luân canh giữa các loại rau khác nhau để giảm lây lan sâu bệnh
Thuốc BVTV: Sử dụng khi thật sự cần thiết và luân phiên các loại thuốc BVTV Tuyệt đối không dùng các thuốc cấm và hạn chế sử dụng ở Việt Nam đã được Bộ NN & PTNN ban hành Khuyến khích sử dụng thuốc sinh học, thuốc thảo mộc, thuốc có độ độc thấp (nhóm III, IV), thuộc nhóm nhanh chóng phân huỷ ít ảnh hưởng đến các loài sinh vật có ích trên đồng ruộng
Phân bón: Không sử dụng phân tươi, phân hữu cơ chưa ủ hoai Tuỳ từng loại rau mà số lượng, chủng loại phân cân đối, hợp lý và có thời gian cách ly an toàn khi thu hoạch Việc sử dụng phân đạm và các loại phân khác đảm bảo không tạo ra dư lượng vượt quá ngưỡng cho phép theo quyết định số 67/1998/QĐ-BNN-KHKT ngày
28/4/1998 của Bộ NN & PTNN về "Quy định tạm thời về sản xuất rau an toàn"
* Điều kiện sản xuất
Vận động các hộ trồng rau trong vùng thành lập tổ sản xuất, có ban điều hành
do tập thể bầu ra để thuận lợi cho việc tổ chức sản xuất, tiếp thu chuyển giao các tiến
bộ kỹ thuật và tiêu thụ sản phẩm
Trang 17Trong thời gian 3 tháng sau khi tập huấn, Chi cục BVTV sẽ tiến hành kiểm tra ngẫu nhiên các mẫu trên đồng ruộng và sau thu hoạch khi tất cả các mẫu đạt tiêu chuẩn RAT sẽ đề nghị sở NN & PTNN ra quyết định công nhận vùng RAT
* Tiêu chuẩn về hình thái
Sản phẩm được thu hoạch đúng lúc, đúng yêu cầu từng loại rau (đúng độ già
kỹ thuật hay thương phẩm), không dập nát, hư thối, không lẫn tạp chất, sâu bệnh và
có bao gói thích hợp
* Tiêu chuẩn về các chỉ tiêu nội chất trong rau
Tất cả các chỉ tiêu trong sản phẩm của từng loại rau an toàn đều phải nằm dưới mức cho phép theo tiêu chuẩn của tổ chức nông lương Liên Hợp Quốc (FAO),
Tổ chức Y Tế Thế giới (WHO) hoặc của một số nước tiên tiến như: Nga, Mỹ Chỉ tiêu nội chất được quy định cho rau tươi bao gồm:
* Dư lượng thuốc bảo vệ thực vật
Thuốc BVTV hay nông dược là những chất độc có nguồn gốc từ tự nhiên hay hoá chất tổng hợp được dùng để bảo vệ cây trồng và nông sản, chống lại sự phá hoại của những sinh vật gây hại đến tài nguyên thực vật Khi phun thuốc BVTV, có một phần lượng thuốc bám lại trên bề mặt cây rau gọi là dư lượng thuốc Lượng thuốc tồn
dư này ở một mức độ nhất định sẽ gây ngộ độc cho người ăn Người bị ngộ độc có thể sẽ gánh chịu những hậu quả nặng nề trước mắt hoặc lâu dài tuỳ thuộc vào nồng
độ và loại độc tố tích luỹ trong cơ thể
Khi phun thuốc trừ sâu, trừ bệnh, trừ cỏ dại… thuốc sẽ tạo thành lớp mỏng trên bề mặt của lá, quả, thân cây, mặt đất, mặt nước Hiện nay, Việt Nam sử dụng khoảng 270 loại thuốc trừ sâu, 216 loại thuốc trừ bệnh, 160 loại thuốc trừ cỏ, 12 loại thuốc diệt chuột và 22 loại thuốc kích thích sinh trưởng với khối lượng ngày càng tăng (Trần Khắc Thi và cộng sự, 2008) [14]
Rau có nhiều chủng loại, do vậy sâu hại cũng đa dạng, thông thường sâu bệnh làm giảm năng suất từ 10 - 40% đôi khi còn tới 100% nếu có dịch hại Do thói quen
sợ rủi ro, ít hiểu biết về mức độ độc hại của các loại hoá chất BVTV nên nông dân sử dụng quá nhiều (0,4 - 0,5 kg a.i - a.i là lượng hữu cơ hữu hiệu) trong khi đó liều
lượng cho phép không quá 0.2 - 0.25 kg a.i (Bùi Bảo Hoàn và cộng sự, 2000)
Trang 18Một số nguyên nhân quan trọng khác nữa là khoảng cách thời gian cách ly giữa lần phun thuốc cuối cùng tới lúc thu hoạch không tuân thủ nghiêm ngặt, đặc biệt
là các loại rau thu hoạch liên tục như cà chua, đậu cô ve, dưa chuột…
Ngoài ra nông dân còn sử dụng nhiều loại thuốc trừ sâu có độc tố cao (nhóm
I, II) để bảo quản hạt giống các loại rau hay bị sâu mọt như hạt mùi, tía tô, rau dền, rau muống
Biện pháp hữu hiệu và đơn giản nhất để làm cho hàm lượng thuốc BVTV trong rau thấp hơn mức cho phép là áp dụng các biện pháp phòng trừ tổng hợp và sử dụng thuốc hoá học một cách hợp lý nhất
* Hàm lượng nitrat tồn dư trong rau (NO 3 - )
Đạm là thành phần hữu cơ quan trọng cho rau Khi đất trồng có quá nhiều đạm thì lượng đạm dư thừa sẽ tích luỹ trong rau dưới dạng Nitrat (NO3-) Khi đi vào
cơ thể con người NO3- sẽ bị khử thành NO2, NO2 làm chuyển hoá chất Oxyhemoglobin (chất vận chuyển oxy trong máu) thành một chất không hoạt động được gọi là methahemoglobin, làm cho máu thiếu oxy Trong cơ thể, lượng nitrat ở mức cao sẽ gây phản ứng với anmin thành chất gây ung thư gọi là nitrosamin Có thể nói hàm lượng nitrat vượt ngưỡng là triệu chứng nguy hiểm cho sức khoẻ con người
(Bùi Bảo Hoàn và cộng sự, 2000)
Tổ chức Y Tế Thế Giới WHO và cộng đồng Y Tế Châu Âu (EC) giới hạn lượng nitrat trong nước uống là 50mg/lít Trẻ em thường xuyên uống nước có hàm lượng nitrat cao hơn 45 mg/lít sẽ bị rối loạn trao đổi chất, giảm khả năng kháng bệnh
Tổ chức Y Tế Thế Giới khuyến cáo hàm lượng nitrat trong rau không vượt qúa 300 mg/kg rau tươi
Theo tác giả (Trần Khắc Thi và cộng sự, 2005), rau bán trên thị trường hiện
- Nhóm III: Là loại rau tồn dư N03 ≤ 600 mg/kg rau tươi gồm: hành, rau
muống, cải xoong, bí đỏ, dưa chuột, cà rốt…
Trang 19* Hàm lượng một số kim loại nặng chủ yếu
Đặc tính của kim loại nặng là không thể tự phân huỷ được nên có sự tích luỹ trong dây truyền thức ăn của hệ sinh thái Các kim loại nặng như asen, chì, thuỷ ngân nếu vượt quá cho phép cũng là những chất có hại cho cơ thể, hạn chế sự phát triển của các tế bào và hoạt động của máu, gây thiếu máu, biến động thân nhiệt, rối loạn tiêu hoá
Nguyên nhân chính làm hàm lượng kim loại nặng trong rau tăng chủ yếu do trong thuốc BVTV và phân bón NPK có chứa một số kim loại nặng Trong quá trình tưới tiêu, các kim loại nặng này bị rửa trôi xuống ao hồ, sông rạch, thâm nhập vào mạch nước ngầm và gây ô nhiễm nguồn nước tưới rau Mặt khác, nguồn nước thải của các thành phố và các khu công nghiệp chứa nhiều kim loại nặng cũng được chuyển trực tiếp vào rau tươi
Biện pháp khắc phục hiệu quả nhất là khuyến cáo tuyệt đối không sản xuất rau ở khu vực có chất thải của các nhà máy, khu công nghiệp, các khu vực đất đã bị ô nhiễm do quá trình sản xuất trước đó gây ra Tuyệt đối không sử dụng nước gần khu công nghiệp, các nhà máy để tưới
* Mức độ ô nhiễm do sử dụng nước tưới không sạch
Các sản phẩm rau đều chứa một lượng nước rất lớn song nếu sử dụng nguồn nước không sạch thì sẽ gây góp phần gây ô nhiễm Nước có thể gây ô nhiễm cho sản phẩm bằng hai cách:
Bảng 1.1: Ngưỡng giới hạn các vi sinh vật trong sản phẩm rau tươi
Sản phẩm Loại vi sinh vật Giới hạn vi sinh vật
(trong 1g hay 1ml thực phẩm) (*)
Rau quả tươi, rau quả
(*)Tính trên 25g hoặc 25ml đối với Salmonella
(Nguồn: Theo QĐ 46/ BYT ngày 19/12/2007) [4]
Trang 20Các kim loại nặng có sẵn trong đất hay nguồn nước thải từ thành phố khu công nghiệp được cây hấp thụ và tích luỹ dần vào sản phẩm trong quá trình dinh dưỡng, hàm lượng chì (Pb), kẽm (Zn), thuỷ ngân (Hg), cadimi (Cd)… được phép với hàm lượng thấp từ 0,03 - 10 mg/kg rau tươi song nhiều loại nhất là rau ăn lá được tưới nước
có nhiễm chất thải công nghiệp có hàm lượng kim loại nặng cao nhất là Cd Ngoài ra việc bón lân nhiều cũng làm tăng hàm lượng Cd Những sản phẩm không chỉ gây hại lúc sản phẩm tươi mà còn ảnh hưởng lớn trong công nghiệp đồ hộp
Các vùng trồng rau dùng phân tươi để tưới trực tiếp đó cũng là một hình thức truyền tải mầm bệnh trứng giun và các vi sinh vật gây bệnh khác
Các vi sinh vật gây bệnh nguy hiểm cho con người có thể kể đến vi khuẩn
E.coli gây bệnh đường ruột hay vi khuẩn samonella gây bệnh thương hàn
1.1.3 Các biện pháp kỹ thuật sản xuất rau an toàn
Trên thế giới cũng như ở Việt Nam hiện nay, các biện pháp kỹ thuật canh tác
và sản xuất rau an toàn phổ biến được áp dụng là kỹ thuật thuỷ canh, kỹ thuật trồng rau trong điều kiện có che chắn và kỹ thuật trồng rau ngoài đồng ruộng
1.1.3.1 Kỹ thuật thuỷ canh (kỹ thuật trồng rau trong dung dịch - Hydroponics)
Hệ thống thuỷ canh tĩnh:
Hệ thống này đã được áp dụng ở nhiều nơi trên cả nước với quy mô khác nhau Tại một số trường Đại học và viện nghiên cứu như: trường Đại học Nông Nghiệp I, Đại học Tự Nhiên (Đại học Quốc gia Hà Nội), Viện nghiên cứu rau quả Vật chứa dung dịch là hộp xốp có kích thước khác nhau, có tác dụng cách nhiệt, tránh ánh sáng cho bộ rễ Giá thể để cây là một trấu hun Hộp trồng cây được để trong nhà cách ly với côn trùng gây hại Hệ thống này có ưu điểm là không phải đầu
tư chi phí thiết bị làm chuyển động dung dịch nên giá thành thấp Nhược điểm chính thường thiếu ôxi trong dung dịch và giảm độ pH gây độc cho cây (Trần Khắc Thi và
cs, 2005)[13]
Hệ thống thuỷ canh động:
Là hệ thống mà quá trình cây trồng trong dung dịch dinh dưỡng có chuyển động, chi phí cao hơn nhưng dung dịch không thiếu ôxi Các mô hình trồng rau thuỷ canh được thực hiện các khu nông nghiệp cao của Hà Nội, Hải Phòng, Viện nghiên cứu rau quả tại Mộc Châu theo hướng thuỷ canh mở (Rtw) cho năng suất cà chua trên 100 tấn/ha/vụ, ớt ngọt, dưa chuột đạt 60 - 80 tấn/ha/vụ Mô hình thuỷ canh kín
Trang 21của hệ thống thuỷ canh động, trong đó có sự tuần hoàn trở lại nhờ một hệ thống bám hút dung dịch từ bể chứa, được thực hiện tại Viện nghiên cứu rau quả, trường Đại học Nông Nghiệp I năng suất 3 - 5 kg/m2/vụ mỗi vụ 15 - 30 ngày đặc biệt có thể trồng rau trong điều kiện mùa hè (Nguyễn Quang Thạch và cộng sự, 2005)
Sản xuất rau bằng kỹ thuật thuỷ canh là mộ dạng ứng dụng công nghệ cao, phù hợp với sản xuất nông nghiệp đô thị nơi đất canh tác giảm dần, môi trường canh tác ô nhiễm và thị trường yêu cầu sản phẩm chất lượng cao Đây là loại hình canh tác đang được nghiên cứu hoàn thiện trong điều kiện Việt Nam và rất có triển vọng trong tương lai
1.1.3.2 Kỹ thuật trồng rau trong điều kiện có che chắn (nhà lưới, nhà nilon, nhà màn, polyetylen phủ đất)
Cách trồng này sẽ hạn chế được sâu bệnh hại, cỏ dại, sương muối nên ít phải
sử dụng thuốc BVTV, đồng thời rút ngắn thời gian sinh trưởng, năng suất cũng được nâng cao Tuy nhiên các vật liệu xây dựng vật liệu che chắn và nilon phủ đất hiện nay giá thành cao người nông dân vẫn chưa đủ vốn đầu tư để sản xuất lớn Phương pháp này trên thế giới sử dụng khá phổ biến Ở nước ta vùng rau Đà Lạt có diện tích
500 ha, Hà Nội 42,7 ha hầu hết các vùng rau của tỉnh, thành phố và khu công nghiệp
lớn đều có dạng hình canh tác này
1.1.3.3 Trồng rau an toàn ngoài đồng ruộng
Đây là phương thức canh tác chủ yếu của ngành sản xuất rau nước ta Mục tiêu lớn nhất là hơn 600 ngàn ha trồng rau được canh tác theo quy trình an toàn Cho đến nay việc đầu tư cho nghiên cứu và phát triển RAT chủ yếu tập trung theo hướng này Ngoài quy trình chung do Bộ NN &PTNT ban hành, các địa phương đều có xây dựng quy trình cụ thể cho từng cây hàng vạn hộ nông dân được tập huấn kỹ thuật được áp dụng tại khu vực này là:
Sử dụng các sản phẩm sinh học (bón phân, BVTV) trong canh tác hạn chế các sản phẩm hoá học
Thả thiên địch (bọ xít ăn mồi) phòng trừ rệp, bọ trĩ
Sử dụng màn phủ nông nghiệp trừ cỏ dại, phòng rệp và giữ ẩm cho đất Tóm lại, dù áp dụng phương thức canh tác nào thì quy trình kỹ năng phải đáp ứng được yêu cầu là đạt năng suất cao, phẩm chất rau tốt dư lượng hoá chất đảm bảo dưới ngưỡng cho phép và dễ áp dụng với người nông dân
Trang 221.1.4 Một số lý luận về thị trường
1.1.4.1 Khái niệm về thị trường
Thị trường là nơi diễn ra các hoạt động mua bán và trao đổi hàng hóa
Thị trường là nhu cầu về sản phẩm hoặc dịch vụ, hay nói cách khác, thị trường là một nhóm người có nhu cầu cụ thể và sẵn sàng trả tiền nhằm thỏa mãn các nhu cầu đó
Thị trường là một biểu hiện của sự phân công lao động, hễ khi nào và ở đâu
có sự phân công lao động xã hội và sản xuất thì khi ấy sẽ có thị trường
Thị trường là cầu nối giữa người sản xuất với người tiêu dùng, nó là mục tiêu của quá trình sản xuất hàng hóa
Thị trường là khâu quan trọng nhất trong quá trình tái sản xuất hàng hóa, là thước đo khách quan của phát triển và căn cứ lập kế hoạch, của mọi doanh nghiệp, là môi trường kinh doanh cạnh tranh tốt nhất để thúc đẩy sản xuất
Nhưng cho dù định nghĩa nào đi nữa cũng không thể tách rời khỏi quan điểm cốt lõi là: thị trường bao gồm toàn bộ sự trao đổi hàng hóa, được diễn ra trong một thời điểm và một không gian nhất định
1.1.4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến tiêu thụ sản phẩm Rau an toàn
a, Nhóm nhân tố thị trường: có ảnh hưởng rất lớn, chi phối quá trình sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp, có thể xem xét 3 yếu tố sau:
- Nhu cầu thị trường: chính là sự thay đổi thị hiếu của người tiêu dùng Nhu cầu này của người tiêu dùng có liên quan đến thu nhập, quá trình đô thị hoá, thông tin và giáo dục Những thông tin và giáo dục về vấn đề sức khoẻ đã ảnh hưởng tới ưu tiên trong tiêu dùng đối với rau an toàn của người dân Rất nhiều chiến dịch khác nhau đã cung cấp cho người tiêu dùng những thông tin về lợi ích đối với sức khoẻ từ việc ăn rau an toàn Các nghiên cứu khoa học, các chiến dịch thông tin cộng đồng đều khẳng định vai trò của rau, khuyến khích tiêu thụ các sản phẩm rau an toàn
Một thay đổi nữa trong xu hướng tiêu dùng đó là xu hướng gia tăng nhu cầu với các sản phẩm trái vụ Người tiêu dùng có thu nhập cao sẵn sàng trả mức giá cao hơn cho các sản phẩm rau an toàn trái vụ Xu hướng tăng cường chế độ ăn kiêng của người dân cũng khuyến khích ăn nhiều rau an toàn vì rất có lợi cho sức khoẻ
- Cung sản phẩm rau an toàn: có tính đa dạng cả về chủng loại, số lượng, chất lượng, vệ sinh an toàn và về đối tượng tiêu dùng Vì vậy tính không hoàn hảo của thị
Trang 23trường rau thể hiện đặc trưng của sản phẩm nông nghiệp Khi số lượng cung của một sản phẩm tăng lên sẽ làm cho cầu sản phẩm đó giảm xuống và ngược lại Để tổ chức tốt tiêu thụ sản phẩm rau an toàn, các nhà sản xuất kinh doanh phải hiểu rõ được các đối thủ cạnh tranh của mình về số lượng, chất lượng và về đối tượng khách hàng
- Giá là yếu tố quan trọng, là thước đo sự điều hoà cung cầu trong nền kinh tế thị trường Giá cả tăng cho thấy sản phẩm đó đang khan hiếm, cầu lớn hơn cung và ngược lại Tuy nhiên khi xem xét yếu tố giá cả cần chú ý đến:
+ Chất lượng rau an toàn: rau đã được qua kiểm nghiệm hay chưa? Vì điều đó
có lợi cho cả người sản xuất và người tiêu dùng Đối với người sản xuất chất lượng rau tốt tạo được lòng tin đối với người tiêu dùng, nếu là rau an toàn thực sự thì người tiêu dùng sẵn sàng trả mức giá cao hơn gấp 1,5-2 lần so với rau thường, mặt khác còn tạo được lòng tin đối với khách hàng cả trong hiện tại và tương lai đặc biệt là làm tăng lợi nhuận Đối với người tiêu dùng tạo cho họ một sự an tâm khi sử dụng sản phẩm, và đảm bảo có sức khoẻ tốt
+ Loại sản phẩm thay thế rau an toàn: khi giá cả rau an toàn tăng lên làm nhu cầu sản phẩm thay thế có thể tăng lên như hoa tươi, rau thường
+ Loại sản phẩm bổ sung: là những sản phẩm mà khi sử dụng một loại sản phẩm nay phải sử dụng kèm theo loại sản phẩm khác như: trái cây…
Ngoài ra cần phải chú ý tới một số chỉ tiêu: hệ số co giãn của cầu rau an toàn
so với giá, thu nhập, hệ số co giãn chéo… từ đó người sản xuất có thể có chiến lược kinh doanh phù hợp trong từng hoàn cảnh cụ thể
b Nhóm nhân tố về cơ sở vật chất kỹ thuật và công nghệ sản xuất và tiêu thụ rau an toàn:
- Nhân tố về cơ sở vật chất kỹ thuật: bao gồm hệ thống cơ sở hạ tầng, đường
sá giao thông, các phương tiện thiết bị vận tải, hệ thống bến cảng kho bãi, hệ thống thông tin liên lạc… Hệ thống này đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm lưu thông nhanh chóng, kịp thời, an toàn cho việc tiêu thụ sản phẩm
- Các nhân tố về kỹ thuật và công nghệ sản xuất và tiêu thụ đặc biệt quan trọng trong việc tăng khả năng tiếp cận và mở rộng thị trường tiêu thụ rau an toàn, hệ thống chế biến với những dây chuyền công nghệ tiên tiến sẽ làm tăng thêm giá trị của rau Công nghệ chế biến, công nghệ sau thu hoạch của sản phẩm rau an toàn càng hiện đại càng tránh được sự hao hụt mất mát trong quá trình thu hoạch, làm
Trang 24tăng thêm giá trị chất lượng sản phẩm và vẫn không làm mất đi các chất dinh dưỡng Đổi mới công nghệ chế biến còn tạo nên sản phẩm rau an toàn và đổi mới tập quán tiêu dùng truyền thống, kích thích và mở rộng tính đa dạng trong tiêu dùng sản phẩm rau an toàn
- Nhóm nhân tố về trình độ tổ chức tiêu thụ: trong nền kinh tế thị trường khả năng tiêu thụ rau an toàn của người tiêu dùng phụ thuộc vào trình độ và năng lực tổ chức sản xuất của người sản xuất, kinh doanh, nghệ thuật và khả năng tiếp thị, marketing, tổ chức hệ thống tiêu thụ rau an toàn đến người tiêu dùng Vì vậy việc đào tạo bồi dưỡng trình độ kiến thức kinh tế quản lý cho các nhà sản xuất kinh doanh
là rất cần thiết và hết sức quan trọng
c, Kênh tiêu thụ
Thực chất là một tập hợp các tổ chức, cá nhân độc lập và phụ thuộc lẫn nhau
mà qua đó doanh nghiệp, người sản xuất thực hiện bán sản phẩm cho người tiêu dùng cuối cùng Nói cách khác, kênh tiêu thụ là hệ thống các quan hệ của một nhóm các tổ chức và cá nhân tham gia vào quá trình phân phối hàng hóa từ người sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng Kênh tiêu thụ là hệ thống mối quan hệ tồn tại giữa các tổ chức liên quan trong quá trình mua và bán Kênh tiêu thụ là đối tượng tổ chức, quản lý như một đối tượng nghiên cứu để hoạch định các chính sách quản lý kinh tế
vĩ mô Các kênh tiêu thụ tạo nên hệ thống thương mại phức tạp trên thị trường
Hình 1.1: Sơ đồ cung cấp rau
Kênh tiêu thụ (hoặc kênh phân phối) là tập hợp những cá nhân hay những cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập và phụ thuộc lẫn nhau, tham gia vào quá trình tạo ra dòng
Sản xuất
Bán tại chợ
Bán qua người thu gom
Bán tại các cửa hàng, siêu thị
Tiêu dùng
Trang 25vận chuyển hàng hóa, dịch vụ từ người sản xuất đến người tiêu dùng Có thể nói đây là một nhóm các tổ chức và cá nhân thực hiện các hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu của người mua và tiêu dùng hàng hóa của người sản xuất Tất cả những người tham gia vào kênh phân phối được gọi là các thành viên của kênh, các thành viên nằm giữa người sản xuất và người tiêu dùng là những trung gian thương mại, các thành viên này tham gia nhiều kênh phân phối và thực hiện các chức năng khác nhau
Người sản xuất có thể tiêu thụ sản phẩm của mình qua các kênh khác nhau như: bán tại chợ, bán qua đầu mối thu gom hoặc bán cho các đại lý các siêu thị, qua những kênh này sản phẩm sẽ đến tay người tiêu dùng
Phần lớn lượng rau được cung ứng vào TP Thái Nguyên do chính TP Thái Nguyên và các huyện lân cận cung cấp, một số lượng rất nhỏ rau an toàn được cung cấp bởi các tỉnh/thành phố lân cận
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Nghiên cứu về RAT đã được nhiều cơ quan, tổ chức phối hợp thực hiện Bộ
NN & PTNT là cơ quan quản lý điều hành mọi hoạt động liên quan đến hoạt động sản xuất trồng trọt của cả nước, trong đó việc ban hành quy định tạm thời về sản xuất RAT là một bước đi thể hiện sự quan tâm của các cấp các ngành đối với việc canh tác và sản xuất rau an toàn Bên cạnh đó, không thể không kể đến sự phối hợp hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu của các Viện, trường Đại học, các tổ chức quốc tế, các dự án phát triển nông thôn được tiến hành trong suốt những năm vừa qua Những nghiên cứu về phát triển rau an toàn đã được bắt đầu triển khai từ những năm 1990 với sự góp mặt của Bộ NN & PTNN, Viện nghiên cứu rau quả, Viện BVTV và Đại học Nông nghiệp I Hà Nội [7]
Từ những năm 1993, Lê Đình Lương (Đại học Quốc gia Hà Nội), Nguyễn
Quang Thạch (Đại học Nông nghiệp I Hà Nội) đã phối hợp với Tổ chức Nghiên cứu
và Phát triển Hồng Kông tiến hành nghiên cứu toàn diện các yếu tố kinh tế - kỹ thuật
để áp dụng vào điều kiện Việt Nam Địa bàn được chọn tiến hành các nghiên cứu là các vùng chuyên canh sản xuất ra với số lượng lớn của cả nước như Đà Lạt (Lâm Đồng), Củ Chi (thành phố Hồ Chí Minh), Đông Anh (Hà Nội ) và một số địa
Trang 26phương có thế mạnh và diện tích trồng rau lớn khác như Bình Dương, Cần Thơ, An Giang, Hải Dương, Vĩnh Phúc, Bà Rịa - Vũng Tàu
Viện nghiên cứu rau quả Việt Nam là trung tâm tiến hành nghiên cứu nhiều đề tài, dự án về rau quả nói chung và RAT nói riêng trên địa bàn cả nước Các công trình nghiên cứu của Viện tập trung vào các đối tượng rau quả truyền thống như cà chua, khoai tây, thanh long bên cạnh việc nghiên cứu và thí điểm tính thích ứng với các điều kiện của từng địa phương khác nhau của một số giống rau, quả nhập nội, lai tạo
Viện chiến lược và chính sách phát triển nông thôn Việt Nam năm 2008 tiến hành điều tra, đánh giá năng lực sản xuất kinh doanh rau an toàn tại Bảo Lộc, Lâm Đồng nhằm nghiên cứu và tìm ra thị trường xuất khẩu cho cây rau nơi đây Đây được coi sẽ là những tư liệu quý giá cho các nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách trong việc đưa sản xuất rau an toàn trở thành lĩnh vực sản xuất nông nghiệp có giá trị
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Trên thế giới hiện nay, hầu hết các nước có nền nông nghiệp tiên tiến và chuyên hoá cao đều đạt chuẩn mực về sản xuất rau an toàn Nhật Bản, Mỹ, các nước
EU là những thị trường rất khắt khe trong vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm Cũng chính bởi lẽ đó mà diện tích rau của các nước này tuy không quá lớn nhưng chất lượng luôn đảm bảo Phần lớn các quốc gia trên thế giới hiện nay đều thực hiện quy trình sản xuất rau an toàn theo tiêu chuẩn GAP, với trình độ kỹ thuật cao, các nước như Nhật Bản, Trung Quốc, Mỹ, Đức, Hà Lan trồng rau hoàn toàn trong nhà lưới, nhà kính, không bón phân hữu cơ và cơ khí hoá, tự động hoá từ khâu gieo mầm cho
đến khi thu hoạch
Châu Á là một trong những châu lục đi đầu trong công tác nghiên cứu và phát triển rau quả Viện nghiên cứu rau châu Á (AVRDC) đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ và sứ mệnh của mình trong việc nghiên cứu, phát triển và mở rộng về diện tích, chất lượng các chủng loại rau cho các quốc gia trong châu lục Hàng nghìn công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trên khắp châu Á đã làm phong phú thêm kho tàng tri thức về nghiên cứu rau quả trên thế giới Đặc biệt, với các quốc gia đang phát triển, AVRDC chú trọng nghiên cứu nhằm tìm ra các giải pháp về thị trường, về sản xuất gắn với bảo vệ môi trường và phát triển nông nghiệp bền vững Đa số các báo cáo về tình hình sản xuất, tiêu thụ rau an toàn ở các nước đang phát triển đều có
Trang 27chung một nhận định cho rằng vấn đề mà các nước này đang gặp phải đó là thay đổi tập quán canh tác của nông dân, tiếp cận và làm chủ các quy trình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm
Nhắc đến các công trình nghiên cứu về rau an toàn ở các nước đang phát triển, không thể không nói đến dự án VEGSYS do Uỷ ban châu Âu tài trợ kéo dài 4 năm và kết thúc vào tháng 12 năm 2005 Với các đối tác có kinh nghiệm như Viện dinh dưỡng đất Tứ Xuyên - Trung Quốc, Viện BVTV Tứ Xuyên - Trung Quốc, Đại học Hanover Đức, Đại học Wageningen của Hà Lan tiến hành trên lãnh thổ Việt Nam Mục đích chung của dự án là góp phần vào việc phát triển các hệ thống sản xuất rau quy mô nông hộ tại Đồng bằng sông Hồng Việt Nam trên cơ sở không làm tổn hại nguồn tài nguyên thiên nhiên
Nhìn chung, nói đến tình hình nghiên cứu về RAT trên thế giới hiện nay, người
ta có thể chia ra làm hai lĩnh vực nghiên cứu tương ứng với trình độ phát triển của các quốc gia Nghiên cứu về công nghệ, cải tiến kỹ thuật, các công việc liên quan đến marketting, tiếp thị sản phẩm đối với các quốc gia có trình độ phát triển cao về khoa học kỹ thuật Mặt khác, với các quốc gia còn kém phát triển về khoa học kỹ thuật (các nước châu Á, châu Phi, châu Mỹ Latinh…) tập trung nghiên cứu về khả năng áp dụng
và xác định các khó khăn trở ngại trong việc sản xuất rau an toàn có tính đến sự phát triển bền vững và đáp ứng nhu cầu rau xanh của người dân quốc gia đó
1.2.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau an toàn trên thế giới
Trong vòng hai thập kỷ qua thương mại rau quả trên thế giới có bước phát triển mạnh mẽ Theo Tổ chức Nông nghiệp quốc tế (FAO), giá trị sản lượng của sản xuất RAT thế giới tăng trưởng mạnh mẽ, bình quân hàng năm tăng 11,7% Theo Bộ Nông Nghiệp Hoa Kỳ, do tác động của sự thay đổi yếu tố như: cơ cấu dân số, thị hiếu tiêu dùng và thu nhập dân cư… tiêu thụ nhiều loại rau sẽ tăng mạnh trong giai đoạn 2000- 2010, đặc biệt là các loại rau ăn lá Theo USDA nếu như nhu cầu các loại rau diếp, rau xanh khác tăng khoảng 22-23% thì tiêu thụ khoai tây và các loại rau củ khác tăng sẽ chỉ tăng khoảng 7-8%, giá rau tươi các loại sẽ tiếp tục tăng cùng với tốc
độ tăng nhu cầu tiêu thụ [16]
Nhu cầu nhập khẩu dự báo sẽ tăng 1,8%/năm Các nước phát triển như Đức, Pháp, Canada… vẫn là những nước nhập khẩu rau an toàn Các nước đang phát triển
Trang 28đặc biệt Trung Quốc, Thái Lan và các nước Nam bán cầu vẫn là các nước cung cấp rau tươi trái vụ chính Do nhu cầu thị trường thế giới những năm tới sẽ rất lớn vì vậy
sẽ tạo động lực cho các nước phát triển sản xuất rau an toàn đồng thời phải tăng cao việc đảm bảo chất lượng VSATTP
1.2.4 Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau an toàn ở Việt Nam
1.2.4.1 Tình hình sản xuất
Sản xuất RAT là một ngành đem lại hiệu quả kinh tế cao cho nông dân Theo
(Trần Khắc Thi và cộng sự, 2008), bình quân 1 ha rau tại đồng bằng sông Hồng cho
thu nhập 22,5 triệu đồng/vụ, gấp 4 lần so với trồng lúa Nghề trồng, sơ chế và chế biến rau cũng thu hút lớn lực lượng lao động vốn đang dư thừa ở nông thôn hiện nay
Vì vậy diện tích trồng rau ở nước ta hàng năm tăng lên đáng kể[14]
Trong báo cáo về thực trạng an toàn rau, củ, quả trên thị trường Việt Nam năm 2014, Trung tâm nghiên cứu và tư vấn tiêu dùng đã chỉ ra: Sản xuất rau ở Việt Nam, tạo nhiều việc làm và thu nhập cao cho người sản xuất so với một số cây trồng hàng năm khác Cùng với nhu cầu tiêu dùng về các sản phẩm rau ngày càng cao đă kéo theo sản xuất rau trong những năm vừa qua tăng lên cả vệ số lượng, chất lượng
và vệ sinh an toàn thực phẩm Việt Nam có khả năng sản xuất rau quanh năm với số lượng, chủng loại rau rất phong phú đa dạng 60-80 loại rau trong vụ đông xuân, 20-
30 loại rau trong vụ hè thu.đáp ứng nhu cầu tiêu dùng nội địa và xuất khẩu
Theo số liệu Tổng cục Thống kê bình quân sản lượng rau trên đầu người thu ở đất nông nghiệp ở Việt Nam khá cao so với các nước trong khu vực, đạt 141,49 kg/người/năm, tuy nhiên, phân bố không đều có những tỉnh như Lâm Đồng bình quân sản lượng rau trên đầu người đạt từ (800-1.100) kg/người trên năm Đây là vùng sản xuất rau hàng hoá lớn nhất cả nước cung cấp rau cho cả nội tiêu và xuất khẩu, tỉnh Hưng Yên là tỉnh có bình quân cao hơn bình quân cả nước có khả năng cung cấp rau tiêu dùng nội địa và 1 phần cung cấp rau cho chế biến xuất khẩu Sơn
La bình quân rau trên đầu người thấp chỉ khoảng (40-55 ) kg/người/năm đáp ứng nhu cầu nội tỉnh và 1 phần cung cấp rau trái vụ cho thị trường Hà Nội [16]
Cũng theo trung tâm nghiên cứu và tiêu dùng: Bình quân lượng rau tiêu thụ của các nhóm, hộ điều tra dao động từ (1,791-1,817) kg/hộ/ngày Như vậy bình quân rau tiêu thụ người/ngày của các nhóm giao động từ (450-620) gram
Trang 29Nhiều vùng RAT đã được hình thành đem lại thu nhập cao và an toàn cho người sử dụng đang được nhiều địa phương chú trọng đầu tư xây dựng mới và mở rộng: Hà Nội, Hải Phòng (An Lão), thành phố Hồ Chí Minh, Lâm Đồng (Đà Lạt)
Theo đánh giá của Viện nghiên cứu rau quả, trong những năm gần đây những loại rau được xác định có khả năng phát triển để cung cấp sản phẩm cho xuất khẩu là
cà chua, dưa chuột, đậu rau, ngô rau phát triển mạnh cả về quy mô và sản lượng, trong đó sản phẩm hàng hoá chiếm tỷ trọng cao
Hiện nay, rau được sản xuất theo hai phương thức: tự cung tự cấp và sản xuất hàng hoá, trong đó rau hàng hoá tập trung chính ở hai khu vực:
Vùng rau chuyên canh: tập trung ven thành phố, khu tập trung đông dân cư Sản phẩm chủ yếu cung cấp cho dân phi nông nghiệp với nhiều chủng loại rau phong phú (gần 80 loài với 15 loài chủ lực), hệ số sử dụng đất cao (4,3 vụ/năm), trình độ thâm canh của nông dân khá, song mức độ không an toàn của sản phẩm rau xanh và
ô nhiễm môi trường canh tác rất cao
Vùng rau luân canh: đây là vùng có diện tích, sản lượng lớn, cây rau được trồng luân canh với cây lúa hoặc một số cây màu Tiêu thụ sản phẩm rất đa dạng: phục vụ ăn tươi cho cư dân trong vùng, ngoài vùng, cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu
Sản xuất rau theo hướng nông nghiệp công nghệ cao đã bước đầu được hình thành như: sản xuất trong nhà màn, nhà lưới chống côn trùng, sản xuất trong nhà plastic không cố định để hạn chế tác hại của các yếu tố môi trường bất lợi, trồng rau bằng kỹ thuật thuỷ canh, màng dinh dưỡng, nhân giống sản xuất các loại cây quý hiếm, năng suất cao bằng công nghệ của Israel có điều khiển kiểm soát các yếu tố môi trường
Hai khu vực là Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng Sông Cửu Long dẫn đầu cả nước về diện tích và sản lượng sản xuất rau Do những điều kiện thuận lợi
về thổ nhưỡng, khí hậu, trình độ tập quán canh tác nông nghiệp ở hai vùng này cao hơn hẳn các vùng khác trong cả nước Cục BVTV thuộc Bộ NN & PTNN cho biết: trong tổng số trên 186.000 ha của 6 tỉnh, thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Hưng Yên,
Hà Tây, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc hiện có khoảng 16.000 ha sản xuất rau an toàn, chiếm khoảng 8,4% [16]
Trang 301.2.4.2 Tình hình tiêu thụ
Trong báo cáo về thực trạng an toàn rau, củ, quả trên thị trường Việt Nam năm 2014, Trung tâm nghiên cứu và tư vấn tiêu dùng đã chỉ ra: 93% hộ tiêu thụ quả, các loại rau quả được tiêu thụ rộng rãi nhất là rau muống (95% số hộ tiêu thụ), cà chua (88%) và chuối (87%) Mức tiêu thụ rau quả bình quân của Việt Nam là 71 kg / người/ năm Rau chiếm 3/4 (54 kg), trong khi quả chỉ chiếm phần còn lại (17 kg) Các sản phẩm quan trọng nhất là rau muống - chiếm 31% tổng số lượng rau tiêu thụ,
và chuối - chiếm 50% lượng quả tiêu thụ Giá trị tiêu thụ rau quả hàng năm (bao gồm
cả tiêu thụ rau quả nhà tự trồng) là 126.000 đồng/người hoặc 529.000 đồng/hộ, mặc
dù quả chỉ chiếm 1/4 khối lượng rau quả tiêu thụ, nhưng thường có giá cao hơn, nên chiếm gần 40% tổng giá trị, tiêu thụ rau quả chiếm khoảng 4% tổng giá trị chi phí tiêu dùng Các sản phẩm quan trọng nhất là rau muống (chiếm 31% tổng số) và chuối (chiếm 17%), giá trị tiêu thụ rau quả hàng năm (bao gồm cả tiêu thụ rau quả nhà tự trồng) là 126.000 đồng/người (hay 529.000 đồng/hộ), mặc dù quả chỉ chiếm 1/4 khối lượng rau quả tiêu thụ, nhưng thường có giá cao hơn, nên chiếm gần 40% tổng giá trị, tiêu thụ rau quả chiếm khoảng 4% tổng giá trị chi phí tiêu dùng [16]
Rau là một loại thực phẩm không thể thiếu trong bữa ăn hàng ngày của con người Vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm để đảm bảo sức khỏe người dân đang được đặt ra ngày càng nóng bỏng, trong đó nhu cầu về rau xanh đạt tiêu chuẩn an toàn ngày càng tăng, nhất là tại các thành phố lớn, đặc biệt là các thành phố lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh Thực tế các thành phố lớn trong cà nước mới chỉ tự cung cấp khoảng 50 %- 60% nguồn rau sạch cho thị trường, phần còn lại phụ thuộc vào các tỉnh lân cận và rau từ Trung Quốc Song, do lượng rau đó gần như không kiểm soát được nguồn gốc, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật… nên rau xanh từ lâu đã trở thành vấn đề bức xúc của hầu hết người tiêu dùng tại các thành phố lớn nói riêng và cả nước nói chung
Một trong những vấn đề quan trọng trong sản xuất RAT là việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) trên cây thực phẩm, đặc biệt là rau quả còn tùy tiện không đúng kỹ thuật, xem thường sức khỏe người tiêu dùng, nhiều khi mang tính vụ lợi nhiều loại rau quả khi bán và sử dụng còn dư lượng thuốc trừ sâu vượt mức cho
Trang 31phép.Việc kiểm soát chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm đối với rau xanh c òn rất hạn chế, TP.HCM chỉ kiểm soát được 20 % -30% nhu cầu rau xanh của TP
Trong những năm gần đây Nhà nước và các tổ chức quốc tế như JiCA, CIDA
đã triển khai nhiều Chương trình, dự án sản xuất rau, củ, quả an toàn và đã xây dựng nhiều mô hình sản xuất rau an toàn tại các địa phương trong cả nước Các dự án sản xuất rau an toàn được triển khai trong thời gian qua đã làm thay đổi tư duy sản xuất nông nghiệp theo tập quán cũ, người dân dần thay đổi những thói quen cũ trong sản xuất, vệ sinh đồng ruộng thường xuyên, bón phân, phun thuốc BVTV đúng quy trình, đúng nguyên tắc, hướng đến nền nông nghiệp hiện đại, an toàn và bền vững
Rau xanh là thực phẩm không thể thiếu trong mỗi bữa ăn hàng ngày Việc ô nhiễm vi sinh vật, hoá chất độc hại, kim loại nặng và thuốc bảo vệ thực vật tồn dư trên rau, đặc biệt là rau ăn lá đã ảnh hưởng trước mắt cũng như lâu dài đối với sức khỏe cộng đồng Sản xuất và cung ứng rau an toàn đang là vấn đề được các cấp, ngành và cộng đồng quan tâm
Rau an toàn Việt Nam chủ yếu sản xuất để tiêu dùng nội địa Về mặt giá trị, tiêu thụ rau an toàn chiếm khoảng 0,56% tổng chi tiêu bình quân của các hộ gia đình
Mức tiêu thụ RAT theo đầu người cũng có sự khác biệt đáng kể giữa các vùng Nếu như mức tiêu thụ rau an toàn chỉ có 7,5kg/năm ở vùng núi phía Bắc thì tại hai thành phố lớn như: Hà Nội, Thành Phố Hồ Chí Minh mức tiêu thụ lên tới 32,4 kg/người Mức tiêu thụ bình quân ở các vùng đô thị nói chung cũng ở mức 31-38,58 kg/người/năm, trong khi đó người dân nông thôn chỉ tiêu thụ 3,1-5,6 kg/người/năm Qua điều tra này cho thấy các hộ gia đình có thu nhập cao hơn thì tiêu dùng số lượng sản phẩm sạch nhiều hơn Mức tiêu thụ rau an toàn của nhóm hộ giàu nhất gấp thường gấp 5 lần so với hộ gia đình ở nông thôn [16]
Gần đây một số siêu thị lớn tại Hà Nội, Thành Phố Hồ Chí Minh đã xuất hiện các loại rau qua chế biến được làm sạch đóng hộp và ngâm dấm: nấm, ngô, đậu, dưa chuột… mà người tiêu dùng có thể nhanh chóng sử dụng mà không phải mất nhiều thời gian chuẩn bị Với xu hướng đô thị hoá nhu cầu tiêu dùng những loại rau sơ chế sạch sẽ tăng nhanh tại các vùng đô thị với những người có thu nhập trung bình hoặc cao
Trang 32Hệ thống phân phối tiếp thị rau an toàn ở Việt Nam phát triển tương đối mạnh nhưng chủ yếu là về số lượng Hình thức mua bán hợp đồng trực tiếp giữa nông dân
và công ty chế biến- tiêu thụ đã xuất hiện nhưng còn hạn chế và chỉ đối với sản phẩm chế biến phục vụ cho xuất khẩu như: cà chua, rau cao cấp… Hình thức mua bán hợp đồng ở miền Bắc phổ biến hơn ở miền Nam chủ yếu thông qua hợp tác xã hoặc các nông hộ thuộc nông trường của Nhà nước
Hệ thống tiếp thị rau an toàn tại Việt Nam phụ thuộc nhiều vào loại sản phẩm được tiêu thụ, phần lớn rau an toàn được tiêu thụ ở những vùng gần nơi sản xuất (ví
dụ vùng sản xuất RAT lớn: ĐBSH, ĐBSCL) Mặc dù điều kiện, phương tiện vận chuyển hiện nay rất thuận lợi nhưng rất ít sử dụng xe lạnh do chi phí cao, vì vậy đã hạn chế phạm vi thị trường mà loại rau an toàn có thể tiếp cận được
Rau an toàn được thu hoạch và vận chuyển đến các vùng xung quanh bằng các phương tiện vận tải đơn giản và sau đó được bán tại các chợ bán buôn đầu mối ở các đô thị lớn hoặc ở các chợ nông sản có qui mô nhỏ hơn Nhìn chung mạng lưới phân phối và tiêu thụ rau thông thường là những người sản xuất trực tiếp mang sản phẩm tới các chợ nội ngoại thành giao dịch trực tiếp với người bán buôn, bán lẻ
Tại các tỉnh phía Bắc, rau an toàn được phân phối và tiêu thụ chủ yếu theo cách thức thông qua các chợ bán lẻ, chợ bán buôn hay giao theo hợp đồng Tại các tỉnh phía Nam cũng đều áp dụng các phương thức trên ngoài ra còn áp dụng thông qua những người bán buôn nhỏ lẻ trung gian
1.3 Những bất cập và tồn tại của sản xuất RAT ở nước ta
1.3.1 Những bất cập trong sản xuất rau an toàn
Theo quan điểm của Lê Thủy tại tạp chí Kinh tế và dự báo, Bộ Kế hoạch và đầu tư, những bất cập trong sản xuất rau an toàn đã được các địa phương, các bộ ban ngành quan tâm và đưa ra thảo luận, tuy nhiên, tóm lại những khó khăn bất cập phổ biến của sản xuất rau an toàn như sau:
- Kinh phí sản xuất rau an toàn còn dàn trải, có khi còn hạn chế bởi kiến thức
và cả lương tâm nghề nghiệp Việc triển khai sản xuất rau an toàn ngoài đồng ruộng với diện tích quá ít nên còn bị lẫn sản phẩm rau an toàn và không an toàn
- Chưa liên doanh, liên kết các hộ sản xuất rau an toàn với nhau ngay trong một vùng miền
Trang 33- Nhiều vùng sản xuất rau an toàn mặc dù thu được một số kết quả đáng khích
lệ nhưng vẫn chưa có thương hiệu hoặc có thì cũng chưa có thị trường để tiêu thụ
- Việc sản xuất rau an toàn còn mang tính hình thức chứ chưa mang tính thực tiễn sản xuất phục vụ nhân dân
- Một số nơi, cán bộ phụ trách hướng dẫn sản xuất rau an toàn còn thiếu trách nhiệm, nông dân sản xuất chưa vì lợi ích chung mà chủ yếu mang tính tự phát
- Quy trình sản xuất rau an toàn thực sự vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi của đời sống hiện nay là rau có chất lượng cao, đảm bảo an toàn Quy trình tạm thời do Bộ NN & PTNT ban hành mới chỉ là quy trình kỹ thuật chứ chưa phải là quy trình thống nhất trong kiểm tra, giám sát việc thực hiện để ra sản phẩm rau an toàn thực sự theo tiêu chuẩn thực hành nông nghiệp tốt của châu Âu (EurepGAP)
1.3.2 Những tồn tại chính của sản xuất rau an toàn
Chất lượng rau kém do nông dân vẫn sử dụng thuốc hóa học với mục đích kích thích ra hoa, ra quả trái vụ hoặc làm đẹp mẫu mã sản phẩm rau
Chưa có thương hiệu sản phẩm rau an toàn, thậm chí nhãn hiệu, mẫu mã bao
Trang 34Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Câu hỏi nghiên cứu
Một là, tình hình sản xuất và tiêu thụ Rau an toàn trên địa bàn thành phố Thái Nguyên như thế nào?
Hai là, những thuận lợi, khó khăn và các yếu tố ảnh hưởng đến việc sản xuất Rau an toàn trên địa bàn thành phố Thái Nguyên?
Ba là, để phát triển sản xuất Rau an toàn trên địa bàn thành phố Thái nguyên cần thực hiện những giải pháp nào?
2.2 Đối tượng, thời gian và phạm vi nghiên cứu
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu
Các tác nhân trong sản xuất và tiêu thụ Rau an toàn trên địa bàn thành phố Thái Nguyên Các hộ sản xuất rau an toàn trên địa bàn 2 phường Quang Vinh và phường Túc Duyên
Các loại rau mà tác giả nghiên cứu tập trung chủ yếu vào những loại rau sau: Rau ăn lá (bắp cải, cải ngọt…) Rau ăn củ (su hào, khoai tây…) Rau ăn quả (cà chua, dưa leo…)
- Số liệu thứ cấp được thu thập từ năm 2015 trở về trước
- Số liệu sơ cấp được thu thập trong năm 2016
2.3 Nội dung nghiên cứu
Đánh giá thực trạng việc sản xuất và tiêu thụ rau an toàn trên địa bàn thành phố Thái Nguyên;
Phân tích ảnh hưởng của các tác nhân tham gia sản xuất và tiêu thụ rau an toàn trên địa bàn thành phố Thái Nguyên;
Đề xuất một số biện pháp nhằm phát triển sản xuất và tiêu thụ Rau an toàn trên địa bàn thành phố Thái Nguyên
Trang 352.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Các dữ liệu thứ cấp được tác giả thu thập thông qua báo cáo tổng kết hàng năm của UBND Thành Phố Thái Nguyên về thực trạng sản xuất rau an toàn trên địa thành phố, dữ liệu tác giả thu thập bao gồm: diện tích trồng, năng suất,…
Bên cạnh đó, những dữ liệu được công bố tại các nguồn chính thức của các tạp chí khoa học, các cơ quan cũng sẽ được tác giả sử dụng cho nghiên cứu
2.4.2 Phương pháp điều tra
- Sử dụng phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (Rapid Rural Appraisal - RRA) và điều tra theo bộ câu hỏi trong điều tra thực địa, thu thập thông tin về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và tình hình sản xuất nông nghiệp dựa trên lý thuyết và thông tin đã có thể lựa chọn phương pháp thiết kế thí nghiệm thích hợp Nội dung phỏng vấn tập trung vào các vấn đề liên quan đến cơ cấu cây trồng, tình hình sản xuất rau xanh, sử dụng phân bón, năng suất cây trồng nông nghiệp
Tác giả lựa chọn phỏng vấn 60 hộ dân trong đó 30 hộ là những hộ trồng rau
an toàn và 30 hộ là những hộ trồng rau thường
Bên cạnh đó, tác giả chọn ngẫu nhiên 15 hộ/đơn vị kinh doanh rau an toàn trên địa bàn thành phố Thái Nguyên để có cái nhìn của nhóm đối tượng này về tình hình tiêu thụ rau an toàn trên địa bàn thành phố
Tiếp theo đó, tác giả phỏng vấn ngẫu nhiên 15 cá nhân tiêu dùng rau an toàn,
để có thể thu thập được những đối tượng này, tác giả khảo sát tại các cơ sở kinh doanh rau an toàn trên địa bàn thành phố, khi khách hàng vào mua rau tác giả sẽ thực hiện khảo sát để có cái nhìn của người tiêu dùng về rau an toàn
Sau khi thực hiện phỏng vấn, tổng thể mẫu được tác giả mô tả như sau:
Bảng 2.1: Thống kê mô tả mẫu khảo sát
Tiêu chí Người trồng rau an
toàn
Người trồng rau thường
Người kinh doanh
rau
(Nguồn: Số liệu điều tra của tác giả)
Trang 36Điều tra chọn mẫu là không tiến hành điều tra hết toàn bộ các đơn vị của tổng thể, mà chỉ điều tra trên một số đơn vị nhằm để tiết kiệm thời gian, công sức và chi phí Từ những đặc điểm và tính chất của mẫu ta có thể suy ra được đặc điểm và tính chất của cả tổng thể đó Vấn đề quan trọng nhất là đảm bảo cho tổng thể mẫu phải có khả năng đại diện được cho tổng thể chung
Đối tượng tiêu dùng sản phẩm là một trong những nhân tố quan trọng trong tiêu thụ sản phẩm, kết quả khảo sát của tác giả cho thấy, thống kê mô tả đối tượng người tiêu dùng liên quan đến thu nhập, giới tính, tình trạng gia đình cụ thể như sau:
Bảng 2.2: Thống kê mô tả mẫu khảo sát người tiêu dùng
(Người)
Tỷ lệ (%)
(Nguồn: Số liệu điều tra của tác giả)
Kết quả khảo sát cho thấy, phần lớn người tiêu dùng sử dụng sản phẩm rau an toàn trên địa bàn TP Thái Nguyên là những người có mức thu nhập khá với khoảng hơn 50% cá nhân được phỏng vấn có thu nhập từ trên 4,5 triệu đồng/ tháng Điều này cho thấy với mức thu nhập hiện tại họ sẵn sàng chi trả cho sản phẩm an toàn cho sức khoẻ dù giá có cao hơn
2.4.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
2.4.3.1 Phương pháp phân tích
a) Phương pháp thống kê mô tả
Phương pháp được sử dụng để trình bày về thực trạng thị trường RAT trên địa bàn thành phố Thái Nguyên Tính toán tổng hợp các số liệu thu thập được để làm rõ một
số nội dung như: tình hình tiêu thụ RAT, đánh giá của người tiêu dùng về RAT v.v…
b) Phương pháp so sánh đối chiếu
Phương pháp so sánh: mỗi đối tượng khách hàng có những yếu tố thu nhập, gia đình, và các điều kiện về bản thân khác Vì vậy dùng phương pháp này nhằm
đánh giá các đối tượng khách hàng khác nhau tiêu dùng rau an toàn
Trang 372.4.3.2 Xử lý số liệu
Trong quá trình phân tích tác giả sử dụng phần mềm xử lý số liệu Excel để tính toán, xử lý và tổng hợp các số liệu cần thiết
2.4.3.3 Quy trình phân tích các bên liên quan đến sản xuất rau an toàn
Hình 2.1: Phân tích các bên liên quan trong sản xuất và tiêu thụ RAT tại
Thái Nguyên 2.5 Hệ thống chỉ tiêu phân tích
2.5.1 Các chỉ tiêu định tính
Tác giả sử dụng bảng câu hỏi đã được chuẩn hóa để có thể xem xét những nhận định của người sản xuất, tiêu dùng và kênh tiêu thụ (người kinh doanh, buôn bán rau an toàn) về sản phẩm rau an toàn, để xem xét nhận định của họ về sản phẩm rau này, chất lượng, giá thành so với những sản phẩm khác, nhu cầu của người tiêu dùng, người kinh doanh và mong muốn của người sản xuất về rau an toàn
Các dữ liệu được thu thập sẽ được tác giả tổng hợp và sử dụng cho phân tích trong nghiên cứu
Trung tâm Khuyến nông
NGƯỜI TRỒNG RAU
Viện nghiên cứu
Trung tâm kiểm
Cung cấp mẫu theo
dõi, giám sát, đánh
giá và cấp chứng
nhận VietGAP
Trang 38Qi là khối lượng sản phẩm thứ i
+ Chi phí trung gian: IC (Intermediate Cost) là toàn bộ chi phí vật chất thường
xuyên và dịch vụ được sử dụng trong quá trình sản xuất như: giống, phân bón, thuốc BVTV, dụng cụ rẻ tiền mau hỏng trong một vụ sản xuất
IC = CiTrong đó: Ci là khoản chi phí thứ i
+ Giá trị gia tăng: VA (Value Added) là phần giá trị tăng thêm của người tính
theo công thức:
VA = GO - TC Những trường hợp đi thuê lao động thì phải trừ khoản thuê mướn đó
+ Thu nhập hỗn hợp: MI (Mixed Income) là phần thu nhập thuần tuý của người sản xuất bao gồm thu nhập của công lao động và lợi nhuận khi sản xuất 1 đơn
vị diện tích trong một vụ rau
MI = VA - (A + T)
VA là giá trị tăng thêm (gia tăng); T là thuế nông nghiệp
A là phần giá trị khấu hao tài sản cố định và chi phí phân bổ + Lợi nhuận:
Lợi nhuận = GO - TC Trong đó: GO là giá trị sản xuất
TC là tổng chi phí trong sản xuất
Phân tích SWOT để thấy được điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức trong việc thực hiện mô hình sản xuất và tiêu thụ rau an toàn trên địa bàn thành phố Thái Nguyên
Trang 39Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội thành phố Thái Nguyên
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Thành phố Thái Nguyên là đô thị loại I trực thuộc tỉnh Thái Nguyên, trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học kỹ thuật, y tế, du lịch, dịch vụ của tỉnh Thái Nguyên; trung tâm vùng trung du, miền núi Bắc Bộ, cách thủ đô Hà Nội 80km Tổng diện tích tự nhiên 18.970,48 ha
- Phía Bắc giáp huyện Đồng Hỷ và huyện Phú Lương
- Phía Đông giáp thị xã Sông Công
- Phía Tây giáp huyện Đại Từ
- Phía Nam giáp huyện Phổ Yên và huyện Phú Bình
Với vị trí địa lý trên, thành phố Thái Nguyên có rất nhiều điều kiện thuận lợi
để phát triển kinh tế - xã hội không chỉ trong hiện tại mà cả tương lai, nhất là trong các lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ và trở thành một đô thị trung tâm của khu vực vùng trung du miền núi Bắc Bộ
3.1.1.2 Khí hậu, thuỷ văn
- Đặc điểm khí hậu
TP.Thái Nguyên mang những nét chung của khí hậu vùng Đông Bắc Việt Nam, thuộc miền nhiệt đới, gió mùa có mùa đông lạnh giá ít mưa, mùa hè nóng ẩm mưa nhiều Do đặc điểm địa hình của vùng đã tạo cho khí hậu của thành phố có những nét riêng biệt
Tổng số giờ nắng trung bình năm khoảng 1.617 giờ Nhiệt độ cao tuyệt đối là 39,50C, nhiệt độ trung bình cao nhất trong năm vào tháng 7 là 28,50C, thấp nhất là vào tháng 1 là 15,50C, lượng mưa trung bình hàng năm 2.025,3 mm lượng mưa phân bố không đều theo không gian và thời gian, có chênh lệch lớn giữa mùa mưa và mùa khô,
về mùa mưa cường độ lớn, lượng mưa chiếm 80% tổng lượng mưa trong năm Thành phố có độ ẩm không khí cao, độ ẩm trung bình năm là 82% Mùa hè từ tháng 4 đến tháng 10 gió Đông Nam chiếm ưu thế tuyệt đối, nống ẩm mưa nhiều Mùa đông từ tháng 11 đến tháng 3, gió Đông Bắc chiếm ưu thế, lượng mưa ít thời tiết khô hanh
Trang 40Giống như tỉnh Thái Nguyên, thành phố ít chịu ảnh hưởng lớn của gió mùa Đông Bắc nhờ được những dãy núi cao (Tam Đảo, Ngân Sơn, Bắc Sơn) che chắn
Như vậy, khí hậu thành phố Thái Nguyên tương đối thuận lợi cho việc phát triển một hệ sinh thái đa dạng và bền vững, thuận lợi cho phát triển ngành nông - lâm nghiệp,
là nguồn nguyên liệu phục vụ cho ngành công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm
- Thuỷ văn, nguồn nước
Trên địa bàn thành phố có sông Cầu chạy qua địa bàn, là ranh giới hành chính
tự nhiên với huyện Đồng Hỷ, con sông này bắt nguồn từ Bắc Kạn chảy qua thành phố ở đoạn hạ lưu dài khoảng 25 km, lòng sông mở rộng từ 70 - 100 m Về mùa lũ lưu lượng đạt 3.500 m3/giây, mùa kiệt 7,5 m3/giây Nước sông Cầu được dùng trong sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp, công nghiệp Sông Công chạy qua địa bàn thành phố là 15 km, nó được bắt nguồn từ vùng núi Ba Lá thuộc huyện Định Hoá Lưu vực sông này nằm trong vùng mưa lớn nhất của thành phố, vào mùa lũ lưu lượng đạt 1.880 m3/giây, mùa kiệt 0,32 m3/giây Đặc biệt trên địa bàn thành phố có Hồ Núi Cốc (nhân tạo) trên trung lưu sông Công, có khả năng trữ nước vào mùa mưa lũ và
điều tiết trong mùa khô hạn theo ý muốn của con người
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Các phường nội thành của Thành Phố Thái Nguyên bao gồm: Tân Long, Quan Triều, Quang Vinh, Hoàng Văn Thụ, Túc Duyên, Đồng Quang, Quang Trung, Phan Đình Phùng, Trưng Vương, Gia Sàng, Cam Giá, Hương Sơn, Tân Thành, Trung Thành, Tân Lập, Phú Xá, Tân Thịnh, Thịnh Đán Các xã ngoại thành bao gồm: Hương Sơn, Tích Lương, Thịnh Đức, Quyết Thắng, Tân Cương, Phúc Trìu, Phúc Xuân, Phúc Hà, Cao Ngạn, Đồng Bẩm
Thành phố Thái Nguyên có tài nguyên khoáng sản đa dạng, có điều kiện khí hậu thuận lợi cho phát triển tập đoàn cây rừng, cây công nghiệp, cây ăn quả và vật nuôi Có tiềm năng lớn để phát triển du lịch với Hồ Núi Cốc, di tích lịch sử, cách mạng, có khu Gang Thép Thái Nguyên- cái nôi của ngành thép Việt Nam
Đặc biệt, Thái Nguyên có nhiều khả năng phát triển nông - lâm nghiệp, có vùng chè nổi tiếng, đứng thứ hai trong cả nước về diện tích trồng chè Thái Nguyên cũng có nhiều loại khoáng sản như: than, sắt, đá, vôi, cát, sỏi Trong đó, than được đánh giá là có trữ lượng lớn thứ hai trong cả nước, sau Quảng Ninh