1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật đối với cây na ở huyện Chi Lăng tỉnh Lạng Sơn (LV thạc sĩ)

92 424 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 2,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật đối với cây na ở huyện Chi Lăng tỉnh Lạng Sơn (LV thạc sĩ)Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật đối với cây na ở huyện Chi Lăng tỉnh Lạng Sơn (LV thạc sĩ)Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật đối với cây na ở huyện Chi Lăng tỉnh Lạng Sơn (LV thạc sĩ)Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật đối với cây na ở huyện Chi Lăng tỉnh Lạng Sơn (LV thạc sĩ)Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật đối với cây na ở huyện Chi Lăng tỉnh Lạng Sơn (LV thạc sĩ)Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật đối với cây na ở huyện Chi Lăng tỉnh Lạng Sơn (LV thạc sĩ)Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật đối với cây na ở huyện Chi Lăng tỉnh Lạng Sơn (LV thạc sĩ)Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật đối với cây na ở huyện Chi Lăng tỉnh Lạng Sơn (LV thạc sĩ)Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật đối với cây na ở huyện Chi Lăng tỉnh Lạng Sơn (LV thạc sĩ)Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật đối với cây na ở huyện Chi Lăng tỉnh Lạng Sơn (LV thạc sĩ)Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật đối với cây na ở huyện Chi Lăng tỉnh Lạng Sơn (LV thạc sĩ)Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật đối với cây na ở huyện Chi Lăng tỉnh Lạng Sơn (LV thạc sĩ)Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật đối với cây na ở huyện Chi Lăng tỉnh Lạng Sơn (LV thạc sĩ)

Trang 1

THÁI NGUYÊN - 2016

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THẾ HUẤN

THÁI NGUYÊN - 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố

Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này

đã được cảm ơn và thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được chỉ rõ

nguồn gốc

Thái Nguyên, ngày 10 tháng 10 năm 2016

Tác giả luận văn

Dương Thế Anh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian thực tập và thực hiện đề tài này, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Phòng Đào tạo, các thầy giáo, cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp, cơ quan

và gia đình

Trước tiên tôi xin chân thành tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo hướng dẫn khoa học TS Nguyễn Thế Huấn người đã trực tiếp hướng dẫn và đóng góp nhiều ý kiến quan trọng từ những bước nghiên cứu ban đầu và trong quá trình thực hiện viết luận văn

Tôi xin cảm ơn tập thể thầy cô giáo Khoa Nông học, đặc biệt là thầy cô trong bộ môn Rau-Hoa-Quả, khoa Nông học, Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã trực tiếp đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn bà con nông dân, các phòng ban, địa phương huyện Chi Lăng tỉnh Lạng Sơn đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi thực hiện luận văn

Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã cỗ vũ, động viên giúp đỡ tôi trong quá trình học tập

và nghiên cứu

Lạng Sơn, ngày 14 tháng 10 năm 2016

Tác giả luận văn

Dương Thế Anh

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC CÁC BẢNG viii

DANH MỤC CÁC HÌNH x

MỞ ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề 1

2 Mục tiêu, yêu cầu của đề tài 2

2.1 Mục tiêu 2

2.2 Yêu cầu 2

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 2

3.1 Ý nghĩa khoa học 2

3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3

1.2 Nguồn gốc và phân bố của cây na 8

1.3 Phân loại và các giống na hiện nay đang trồng 9

1.4 Tình hình sản xuất na trên thế giới và tại Việt Nam 12

1.4.1 Tình hình sản xuất na trên thế giới 12

1.4.2 Tình hình sản xuất na tại Việt Nam 13

1.5 Đặc điểm thực vật học và yêu cầu điều kiện ngoại cảnh 14

1.5.1 Đặc tính thực vật học 14

1.5.2 Yêu cầu về sinh thái của cây na 15

1.5.2.1 Khí hậu 15

1.5.2.2 Đất trồng 15

1.5.2.3 Điều kiện khí hậu thời tiết huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn 16

Trang 6

1.6 Những công trình nghiên cứu về cây na 17

1.6.1 Nghiên cứu về chọn tạo giống 17

1.6.1.1 Gieo hạt 17

1.6.1.2 Chiết cành 18

1.6.1.3 Ghép cành 19

1.6.2 Chọn tạo giống 21

1.6.3 Các nghiên cứu về kỹ thuật đốn tỉa 21

1.7 Những nghiên cứu nhằm thúc đẩy sinh trưởng, phát triển, ra hoa, đậu quả và tăng năng suất na 23

1.7.1 Nghiên cứu về phân bón 23

1.7.2 Nghiên cứu về các biện pháp điều khiển sinh trưởng phát triển, ra hoa, đậu quả và tăng năng suất na 24

1.7.2.1 Điều khiển ra hoa trái vụ cho na 24

1.7.2.2 Thu hoạch 26

1.7.3 Kĩ thuật thụ phấn nhân tạo cho na 27

1.8 Nghiên cứu về phòng trừ sâu bệnh 28

1.8.1 Các loại sâu hại 28

1.8.1.1 Sâu hại hoa còn gọi là sâu vòi voi 28

1.8.1.2 Rệp bông, rệp sáp 29

1.8.1.3 Sâu đục quả (Anonaepestis bengalella) 29

1.8.1.4 Mối hại gốc 30

1.8.1.5 Nhện đỏ 30

1.8.2 Các loại bệnh hại 30

1.8.2.1 Bệnh thán thư 30

1.8.2.2 Bệnh thối rễ 31

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 32

2.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 32

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 32

Trang 7

2.1.2 Vật liệu nghiên cứu 32

2.1.3 Địa điểm nghiên cứu 32

2.2 Nội dung nghiên cứu 32

2.2.1 Hiện trạng sản xuất na Chi Lăng trong những năm qua 32

2.2.2 Ảnh hưởng của đốn tỉa sau thu hoạch đến cây na 32

2.2.2.1 Ảnh hưởng của thời gian đốn tỉa đến động thái sinh trưởng cành, ra hoa, đậu quả của na 32

2.2.2.2 Ảnh hưởng của phương pháp đốn tỉa đến khả năng sinh trưởng cành và thời gian ra hoa đậu quả na 33

2.2.3 Ảnh hưởng của phân bón qua lá Đầu Trâu đến cây na 33

2.2.4 Ảnh hưởng của chất điều tiết sinh trưởng GA3 đến cây na 34

2.3 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 34

2.4 Xử lý số liệu 35

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 36

3.1 Hiện trạng và một số kỹ thuật trồng và chăm sóc na tại huyện Chi Lăng 36

3.1.1 Hiện trạng sản xuất na tại huyện Chi Lăng 36

3.1.2 Kỹ thuật trồng và chăm sóc na ta ̣i huyê ̣n Chi Lăng 38

3.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của đốn tỉa đến cây na Chi Lăng 43

3.2.1 Ảnh hưởng của thời gian đốn tỉa sau thu hoạch đối với cây na 43

3.2.2 Ảnh hưởng của đốn tỉa sau thu hoạch đến năng suất và một số yếu tố cấu thành năng suất 45

3.2.3 Ảnh hưởng của phương pháp đốn tỉa tới sinh trưởng cành, năng suất, chất lượng na 47

3.2.3.1 Ảnh hưởng của phương pháp đốn tỉa tới sinh trưởng cành 47

3.2.3.2 Ảnh hưởng của kỹ thuật đốn tỉa tới đường kính cành lộc, tỷ lệ đậu quả và số mắt na 49

3.3 Ảnh hưởng của một số loại phân bón qua lá đến sinh trưởng cành, năng suất, chất lượng quả na 52

3.3.1 Ảnh hưởng của phân bón qua lá Đầu Trâu đến sinh trưởng cành 52

Trang 8

3.3.2 Ảnh hưởng của phân bón qua lá Đầu Trâu đến một số yếu tố cấu thành

năng suất na 53

3.3.3 Ảnh hưởng của phân bón Đầu Trâu đến năng suất na Chi Lăng 58

3.4 Ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng GA3 đến năng suất, chất lượng quả na 59

3.4.1 Ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng GA3 đến động thái đậu quả của na 59

3.4.2 Ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng GA3 đến năng suất và yếu tố cấu thành năng suất 60

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 63

1 Kết luận 63

2 Đề nghị 63

TÀI LIỆU THAM KHẢO 64

I Tài liệu trong nước 64

II Tài liệu nước ngoài 64

III Tài liệu mạng 65

Trang 9

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ĐHST : Điều hòa sinh trưởng

FAO : Tổ chức Nông nghiệp và lương thực Thế giớiPTNT : Phát triển nông thôn

UBND : Uỷ ban nhân dân

TNHH : Trách nhiệm hữu hạn

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Chất lượng na so với hai loại trái xoài và chuối 11

Bảng 1.2: Lượng phân bón cho na theo tuổi cây 23

Bảng 1.3: Thời vụ bón phân cho na 24

Bảng 3.1: Diện tích, sản lượng một số cây ăn quả của tỉnh Lạng Sơn 36

Bảng 3.2: Diện tích, sản lượng một số cây ăn quả của huyện Chi Lăng 37

Bảng 3.3: Biện pháp kỹ thuật đang áp dụng trong trồng na ở các hộ dân thuô ̣c huyện Chi Lăng, tỉnh La ̣ng Sơn 39

Bảng 3.4: Thống kê về thành phần sâu, bệnh hại na và mức độ gây hại 41

Bảng 3.5: Ha ̣ch toán hiê ̣u quả trồng na tại huyện Chi Lăng, tỉnh La ̣ng Sơn 42

Bảng 3.6: Ảnh hưởng của thời gian đốn tỉa sau thu hoạch đến thời gian ra lộc, ra hoa na 44

Bảng 3.7: Ảnh hưởng của đốn tỉa sau thu hoạch đến một số yếu tố cấu thành năng suất và năng suất na 45

Bảng 3.8: Ảnh hưởng của phương pháp đốn tỉa đến thời gian ra lộc, ra hoa sau đốn của cây na Chi Lăng 47

Bảng 3.9: Ảnh hưởng của các phương pháp đốn tỉa đến tăng trưởng số lá, chiều dài, đường kính cành lộc na 48

Bảng 3.10: Ảnh hưởng của kỹ thuật đốn tỉa tới đường kính cành lộc, tỷ lệ đậu quả, số mắt và kích thước quả na 49

Bảng 3.11: Ảnh hưởng của kỹ thuật đốn tỉa tới năng suất, các yếu tố cấu thành năng suất na 51

Bảng 3.12: Ảnh hưởng của phân bón qua lá đến số lá, chiều dài cành lộc na 52

Bảng 3.13: Ảnh hưởng của phân bón lá đến động thái ra hoa trên cành lộc 54

Bảng 3.14: Ảnh hưởng của phân bón qua lá đến tỷ lệ đậu quả, số quả trên cây và khối lượng quả 55

Bảng 3.15: Ảnh hưởng của phân bón qua lá đến kích thước quả

và năng suất na 56

Trang 11

Bảng 3.16: Ảnh hưởng của phân bón qua lá đến hình dạng, chất lượng và màu

sắc quả na 58 Bảng 3.17: Ảnh hưởng của phun chất kích thích sinh trưởng GA3 đến tỷ lệ đậu

quả ở giai đoạn sau phun 30 ngày (10 hoa/cây, 3 cây /công thức) 60 Bảng 3.18: Ảnh hưởng của phun chất kích thích sinh trưởng GA3 đến các yếu

tố cấu thành năng suất và năng suất na tại Chi Lăng 61

Trang 12

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1: Ảnh hưởng của đốn tỉa sau thu hoạch đến tỷ lệ đậu quả 46

Hình 3.2: Ảnh hưởng của đốn tỉa sau thu hoạch đến năng suất na 47

Hình 3.3: Ảnh hưởng của các phương pháp đốn tỉa đến tăng trưởng số lá, chiều dài, cành lộc na 49

Hình 3.4: Ảnh hưởng đốn tỉa tới kích thước quả na 50

Hình 3.5: Ảnh hưởng đốn tỉa đến năng suất na 52

Hình 3.6: Ảnh hưởng của phân bón qua lá đến số lá, chiều dài

cành lộc na 53

Hình 3.7: Ảnh hưởng của phân bón lá đến động thái ra hoa trên cành lộc 54

Hình 3.8: Ảnh hưởng của phân bón đến kích thước quả 55

Hình 3.9: Ảnh hưởng của phân bón lá đến tỷ lệ đậu quả 57

Hình 3.10: Ảnh hưởng của phân bón lá đến khối lượng quả na 57

Hình 3.11: Ảnh hưởng của phân bón lá đến năng suất na 58

Hình 3.12: Ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng GA3 đến năng suất na 62

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Chi Lăng là một huyện miền núi nằm về phía Nam tỉnh Lạng Sơn Do đặc điểm khí hậu thời tiết, nông hóa, thổ nhưỡng, Chi Lăng có điều kiện thuận lợi cho phát triển một số loại cây trồng nông nghiệp Hiện nay, huyện Chi Lăng có diện tích trồng Na rộng lớn đem lại hiệu quả kinh tế khá cao, tạo nguồn thu nhập lớn cho các hộ nông dân trồng Na

Na (Annona squamosa) là cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao và

được trồng khá phổ biến ở các vùng kinh tế của đất nước Trong những năm gần đây, cây na đã trở thành một loại cây xoá đói giảm nghèo cho bà con vùng cao, vùng núi đá vôi Cũng theo hướng đi này, huyện Chi Lăng - Lạng Sơn đã mở rộng diện tích trồng na năng suất, chất lượng cao và coi đây là hướng phát triển cây ăn quả chủ đạo của huyện

Cây na đã góp phần đáng kể vào việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, làm tăng giá trị sử dụng ruộng đất giúp tăng thêm thu nhập góp phần xoá đói giảm nghèo cho người dân trong huyện, phủ xanh đất trống đồi núi trọc, cải thiện môi sinh Tuy nhiên sản xuất na theo hướng hàng hóa tập trung đang gặp phải một số vấn đề như: Quả na chín tập trung, quả bé vẹo vọ, không đồng đều, người trồng chưa áp dụng quy trình kỹ thuật tốt vào thâm canh na Do đó hiệu quả sản xuất chưa tương xứng với tiềm năng của loại cây ăn quả này

Nhằm góp phần tháo gỡ các khó khăn trong sản xuất na hiện nay ở Chi

Lăng - Lạng Sơn, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu một

số biện pháp kỹ thuật đối với cây na ở huyện Chi Lăng tỉnh Lạng Sơn” góp

phần hoàn thiện quy trình sản xuất na theo hướng hàng hóa manh lại hiệu quả cao trong sản xuất na

Trang 14

2 Mục tiêu, yêu cầu của đề tài

Kết quả nghiên cứu của đề tài này sẽ góp phần xây dựng hoàn thiện quy trình thâm canh na tại Lạng Sơn nói riêng và các vùng trồng na trong cả nước nói chung

Trang 15

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

- Đốn tỉa cành, ngọn cho cây na có vai trò rất quan trọng, vì có ảnh hưởng đến năng suất của cây Mục đích của việc đốn tỉa cành là tạo cho cây

có hình dáng đều đặn, chắc chắn, thông thoáng, hưởng được nhiều ánh sáng, loại bỏ được các cành bị sâu bệnh, cành bị khô chết và các cành vô hiệu; đồng thời đốn tỉa ngọn cũng giúp cho quá trình chăm sóc, thu hoạch thuận lợi hơn Nếu không đốn tỉa ngọn thì cây na sẽ mọc cao, dẫn đến khó khăn trong việc chăm sóc như: phải leo trèo lên cây để thụ phấn bổ sung, vặt bớt quả vẹo, thu hoạch na ; nếu không đốn tỉa cành thì các cành, các tược sẽ mọc dầy, làm cho lòng tán cây bị thiếu ánh sáng, các chồi non không phát triển được, sau vài năm cây na chỉ cho quả ở phía trên và phía ngoài tán nơi có ánh sáng, còn trong lòng tán thì không Như vậy, việc đốn tỉa các cành, ngọn là rất cần thiết

để lòng, tán cây được thông thoáng, có đầy đủ ánh sáng, kích thích các chồi cho trái phát triển nên sẽ cho năng suất cao hơn Tuy nhiên, chúng ta chưa biết đốn tỉa vào thời điểm nào thì phù hợp và phương pháp đốn tỉa như thế nào thì cho năng suất, chất lượng cao nhất Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu về thời gian đốn tỉa và phương pháp ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng, năng suất và chất lượng na tại huyện Chi Lăng

- Cây ăn trái cần nhiều loại dinh dưỡng để sinh trưởng, phát triển, cho năng suất, chất lượng, nhưng trong đó đạm, lân, kali là 3 yếu tố mà cây trồng cần nhiều nhất và ảnh hưởng lớn nhất đến năng suất, chất lượng trái cây

- Phân đạm: Là một nguyên tố quan trọng bậ c nhất trong các nguyên tố cấu tạo nên sự sống Đạm có trong thành phần tất cả các protein đơn giản và phức tạp, mà nó là thành phần chính của màng tế bào thực vật, tham gia vào thành phần của axit Nucleic (tức ADN và ARN), có vai trò cực kỳ quan trọng

Trang 16

trong trao đổi vật chất của các cơ quan thực vật Đạm còn có trong thành phần của diệp lục tố, mà thiếu nó cây xanh không có khả năng quang hợp, có trong các hợp chất Alcaloid, các phecmen và trong nhiều vật chất quan trong khác của tế bào thực vật

Biểu hiện Thiếu đạm (N) cây sinh trưởng còi cọc, lá toàn thân biến vàng Thiếu đạm có nghĩa là thiếu vật chất cơ bản để hình thành tế bào nên khả năng sinh trưởng bị đình trệ, hàng loạt các quá trình sinh lý - sinh hóa trong cây cũng

bị ngưng trệ, diệp lục ít được hình thành nên làm lá chuyển vàng

Tuy nhiên nếu bón thừa đạm cũng không tốt Thừa đạm sẽ làm cho cây không chuyển hóa hết được sang dạng hữu cơ, làm tích lũy nhiều dạng đạm

vô cơ gây độc cho cây Thừa đạm sẽ làm cho cây sinh trưởng thái quá, gây vóng Các hợp chất các bon phải huy động nhiều cho việc giải độc đạm nên không hình thành được các chất “xơ” vì vậy làm cây yếu, các quá trình hình thành hoa quả bị đình trệ làm giảm hoặc không cho thu hoạch v.v

- Phân lân: Lân cũng quan trọng không kém so với đạm Thiếu lân không một tế bào sống nào có thể tồn tại Nucleoproteid là vật chất di truyền tối quan trọng trong nhân tế bào không thể thiếu thành phần Phospho (lân) Nucleoproteid là hợp chất của protein và axit nucleic , mà axit nucleic có chứa Phospho Axit nucleic là một hợp chất cao phân tử có tính chất như một chất keo AND và ARN là 2 dạng tồn tại của axit nucleic Cấu trúc của 2 chất này cực kỳ phức tạp và đóng vai trò “sao chép lại các đặc điểm sinh học” cho đời sau Trong thành phần của axit nucleic Phospho chiếm khoảng 20% (Quy

về P2O5) và axit nucleic tồn tại trong mọi tế bào và trong tất cả các mô và bộ phận của cây Phospho còn có trong thành phần của rất nhiều vật chất khác của cây như phitin , lexitin, saccarophosphat v.v các chất này đều có vai trò quan trọng trong thực vật nói chung

Biểu hiện thiếu lân là những lá già có những mảng mầu huyết dụ Cây thiếu lân thì quá trình tổng hợp protein bị ngưng trệ và sự tích lũy đường

Trang 17

saccaro xảy ra đồng thời Cây thiếu lân lá bị nhỏ lại và bản lá bị hẹp và có xu hướng dựng đứng Khi lá chưa biến sang mầu tía thì mầu lá bị tối lại so với cây có đủ lân Thiếu lân cây sinh trưởng chậm lại và quá trình chín cũng bị kéo dài Tuy nhiên thừa lân lại làm cho cây sử dụng lân tồi hơn, vì trong trường hợp này rất nhiều lân nằm ở dạng vô cơ, nhất là ở các bộ phận sinh trưởng Thừa lân làm cho cây chín quá sớm, không kịp tích lũy được một vụ mùa năng suất cao

- Phân kali: Là một nguyên tố rất linh động và tồn tại trong cây dưới dạng ion Đặc biệt kali không có trong thành phần các chất hữu cơ trong cây Kali tồn tại chủ yếu ở huyết tương tế bào và không bào và hoàn toàn không có mặt trong nhân tế bào Hầu hết kali trong tế bào thực vật (80%) tồn tại trong dịch tế bào, chỉ khoảng 20% là tồn tại ở dạng hấp phụ trao đổi với thể keo trong huyết tương và không bào Mặc dù không trực tiếp tham gia vào cấu trúc vật chất cấu tạo nên tế bào nhưng kali lại có vai trò quan trọng trong việc

ổn định các cấu trúc này và hỗ trợ cho việc hình thành các cấu trúc giầu năng lượng như ATP trong quá trình quang hợp và phosphoril hóa Kali ảnh hưởng trước tiên đến việc tăng cường hydrat hóa các cấu trúc keo của huyết tương, nâng cao khả năng phân tán của chúng mà nhờ đó giúp cây giữ nước tốt, tăng khả năng chống hạn Kali giúp cây tăng cường tích lũy tinh bột trong củ khoai tây và đường saccaro trong cây củ cải đường và đường đơn trong rất nhiều loại cây rau quả khác nhau Kali tăng cường tính chống rét và sự chống chịu qua mùa đông của cây nhờ nó làm tăng lực thẩm thấu của dịch tế bào Kali cũng giúp cây tăng cường khả năng kháng các bệnh nấm và vi khuẩn Kali giúp cây tăng cường khả năng tổng hợp các hợp chất hydrat các bon cao phân

tử như cellulo, hemicellulo, các hợp chất peptit v.v nhờ đó làm cho các loại cây hòa thảo cứng cáp, chống đổ tốt Kali giúp cho cây tăng cường tổng hợp

và tích lũy hàng loạt các vitamin, có vai trò quan trọng trong đời sống thực vật Thiếu kali gây ảnh hưởng xấu đến sự trao đổi chất trong cây Thiếu vắng

Trang 18

kali sẽ làm suy yếu hoạt động của hàng loạt các men, làm phá hủy quá trình trao đổi các hợp chất cacbon và protein trong cây, làm tăng chi phí đường cho quá trình hô hấp, gây lép hạt, làm giảm tỷ lệ nảy mầm và sức sống hạt giống dẫn đến ảnh hưởng xấu đến số lượng và chất lượng mùa màng

Biểu hiện thiếu kali có thể thấy là: Các lá già trở nên vàng sớm và bắt đầu từ bìa lá sau đó bìa lá và đầu lá có thể trở nên đốm vàng hoặc bạc, bìa lá chết và bị hủy hoại và lá có biểu hiện như bị rách Thiếu kali làm chậm lại hàng loạt các quá trình hóa sinh ,làm xấu đi hầu như tất cả các mặt của quá trình trao đổi chất Thiếu kali sẽ làm chậm quá trình trình phân bào, sự tăng trưởng và sự dài ra của tế bào Thiếu kali còn làm giảm năng suất quang hợp và trực tiếp dẫn đến giảm sản lượng mùa màng Ngược lại,

sự dư thừa kali cũng không tốt cho cây Dư thừa ở mức thấp gây đối kháng ion, làm cây không hút được đầy đủ các chất dinh dưỡng khác như magie, natri v.v , Dư thừa ở mức cao có thể làm tăng áp suất thẩm thấu của môi trường đất, ngăn cản sự hút nước và dinh dưỡng nói chung, ảnh hưởng xấu đến năng suất mùa màng

Ngoài ra, các yếu tố trung lượng, vi lượng cũng đóng vai trò quan trọng trong việc làm tăng chất lượng trái cây Trung, vi lượng thường có mặt khá đầy đủ trong các loại phân bón lá Bên cạnh đó, phân hữu cơ cũng đóng vai trò rất quan trọng, giúp cung cấp một phần dinh dưỡng cho cây, nhưng cơ bản nhất là làm cho đất tơi xốp, giữ ẩm cho đất, giảm thất thoát phân bón

Để sử dụng phân bón đạt hiệu quả, có nhiều điều cần phải lưu ý như điều kiện đất đai, giai đoạn sinh trưởng, tình trạng sinh trưởng của cây, giống trồng Trong đó, quan trọng nhất là chủng loại, liều lượng phân bón theo từng giai đoạn sinh trưởng để đáp ứng tốt nhất yêu cầu của cây và cách bón thích hợp để cây sử dụng được nhiều nhất

Cây hút chất dinh dưỡng chủ yếu qua rễ, đồng thời cũng có thể hấp thu một lượng ít qua lá Vì vậy, để góp phần cung cấp thêm chất dinh dưỡng cho

Trang 19

cây, nhất là các chất vi lượng cần thiết, người ta thường dùng dưới dạng phân bón qua lá Nói cách khác, phân bón qua lá chủ yếu là các chất vi lượng, do cây cần với số lượng rất ít nên bón qua lá sẽ có hiệu quả cao hơn và đỡ lãng phí hơn nhiều so với bón qua đất Cây cũng có thể hấp thu chất đa lượng qua

lá, nên trong nhiều loại phân bón qua lá, ngoài các chất vi lượng, người ta cũng cho thêm các chất đa lượng để cung cấp thêm cho cây

Trong trồng trọt, việc sử dụng phân bón qua lá đã trở thành phổ biến và

có tác dụng rất lớn đối với sự sinh trưởng - phát triển của cây Trong trường hợp cây có biểu hiện sinh trưởng kém do thiếu chất vi lượng hoặc ở những giai đoạn phát triển mà nhu cầu các chất vi lượng nhiều thì việc phun phân bón qua lá có tác dụng như một chất kích thích sinh trưởng Tuy vậy, về cơ chế thì tác dụng kích thích của phân bón lá khác với các chất ĐHST Tác dụng của phân bón lá là cung cấp chất dinh dưỡng cho các quá trình sống tiến hành tốt hơn, còn chất ĐHST giữ vai trò điều khiển sự tiến triển và chuyển hóa các quá trình đó Hai mặt tác động này đều rất cần thiết và có quan hệ chặt chẽ với nhau trong quá trình sinh trưởng - phát triển của cây, nhưng không thể thay thế cho nhau mà cần phối hợp với nhau

Theo các nhà khoa học, bón phân qua lá thậm chí còn tốt cho cây hơn là bón qua rễ, bởi đây là cách nhanh nhất mà chất dinh dưỡng được cây hấp thụ Khi bón phân qua lá, các chất dinh dưỡng được dẫn đến các tế bào, mô cây qua hệ thống khí khổng ở bề mặt lá Trong thành phần chất dinh dưỡng của phân bón qua lá ngoài các nguyên tố đa lượng như đạm, lân, kali còn có các nguyên tố trung lượng và vi lượng như Fe, Zn, Cu, Mg,… các nguyên tố này tuy có hàm lượng rất nhỏ nhưng lại giữ vai trò quan trọng vì trong môi trường đất thường thiếu hoặc không có Do đó, khi bổ sung các chất dinh dưỡng trực tiếp qua lá sẽ giúp đáp ứng đủ nhu cầu và cân đối dinh dưỡng nên tạo điều kiện cho cây phát triển đầy đủ trong từng giai đoạn sinh trưởng Phân bón qua lá có tác dụng đặc biệt trong những trường hợp cần bổ sung khẩn cấp

Trang 20

chất dinh dưỡng đạm, lân, kali hay các nguyên tố trung, vi lượng Trong thành phần của phân bón qua lá còn tăng cường điều hòa sinh trưởng, tăng khả năng hấp thụ dưỡng chất, kích thích đâm chồi, đẻ nhánh, ra hoa, đậu quả, giảm hiện tượng rụng trái non, quả to đẹp, phẩm chất ngon và tăng cường khả năng đề kháng chống chịu sâu bệnh Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón lá Đầu Trâu đến khả năng sinh trưởng, năng suất và chất lượng

na tại huyện Chi Lăng

- GA3 là thuốc kích thích sinh trưởng (Gibberellic acid) Gibberellin có tác dụng kích thích sự phát triển của tế bào theo chiều dọc, kích thích sự sinh trưởng và phát triển của cây theo chiều cao, làm thân vươn dài, giúp hình thành các chồi nách nhiều hơn, GA3 giúp cho trái sáng đẹp mã, trái xoa thê to đều đẹp giúp nâng cao hiệu quả kinh tế Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của GA3 đến năng suất và chất lượng na ở huyện Chi Lăng

1.2 Nguồn gốc và phân bố của cây na

Cây na được coi là có nguồn gốc phát sinh từ vùng nhiệt đới châu Mỹ

Từ thế kỷ 16, các cây họ Na đã được nhập vào nhiều nước nhiệt đới khác và

do tính thích nghi rộng hiện nay na được trồng phổ biến ở các vùng nhiệt đới

và á nhiệt đới

Nguồn gốc bản địa chính xác của loại cây này chưa rõ do hiện nay nó được trồng khắp nơi nhưng các nhà thực vật học cho rằng nó là cây bản địa của các nước thuộc Trung và Nam Mĩ Song trồng với quy mô lớn tập trung ở châu Á và chỉ phổ biến ở các nước nằm trong vĩ độ 20o Bắc - 30o Nam có khí hậu tương đối ẩm và khô nóng như: Thái Lan, Campuchia, Malaysia… và rất

ít ở Nam Trung Quốc Ở Việt Nam, na dai được trồng rộng rãi cả ngoài Bắc

và trong Nam, còn na xiêm chỉ trồng trong Nam, ở miền Bắc chỉ mới trồng thí nghiệm Ở nước ta nay có một số vùng trồng na khá tập trung có tiếng trong nước như: Na Chi Lăng ở Lạng Sơn, mãng cầu ta Bà Đen ở Tây Ninh, Ninh Thuận, Bà Rịa, Vũng Tàu, Na dai Huyền Sơn ở Lục Nam - Bắc Giang… Nê

Trang 21

thì cả trên thế giới và trong nước chỉ trồng vài cây trong vườn, ăn quả không phải là mục đích chính; còn bình bát là cây mọc bán hoang dại[10]

1.3 Phân loại và các giống na hiện nay đang trồng

Cây na thuộc chi Na (Annona), họ na (Annonaceae) Chi na có nhiều loài,

ở Việt Nam có bốn loài là Na dai (Annona Squamosa), Na xiêm (Annona

Muricata), Nê (Annona reticulata), Bình bát (Annona glabra) Trong đó chỉ có

na dai, na xiêm được trồng tập trung với mục đích kinh doanh, còn nê thì trồng

lẻ tẻ vài cây trong vườn, vì quả ăn được nhưng chất lượng kém Bình bát cũng ăn được quả nhưng chất lượng còn kém hơn nữa, chủ yếu là cây mọc dại[10]

Phân loại theo yêu cầu sinh thái:

Cây na thuộc chi Na (Annona), họ na (Annonaceae) Chi na có nhiều loài,

ở Việt Nam có bốn loài là Na dai (Annona Squamosa), Na xiêm (Annona

Muricata), Nê (Annona reticulata), Bình bát (Annona glabra) Trong đó chỉ có

na dai, na xiêm được trồng tập trung với mục đích kinh doanh, còn nê thì trồng

lẻ tẻ vài cây trong vườn, vì quả ăn được nhưng chất lượng kém Bình bát cũng ăn được quả nhưng chất lượng còn kém hơn nữa, chủ yếu là cây mọc dại[9][10]

- A squamosa (na, mãng cầu ta): Khá chịu lạnh, cần khô và được trồng khá phổ biến ở các nước nhiệt đới ở độ cao 300 – 500m so với mặt nước biển

- A muricata (mãng cầu xiêm): Ưa nhiệt, ẩm nên chỉ trồng được ở các vùng nhiệt đới có nhiệt độ, độ ẩm cao

- A glabra (bình bát): Chịu mặn, ánh sáng nên được trồng ở vùng duyên hải nhiệt đới để làm cây chắn sóng, giữ đất hoặc làm gốc ghép, chọn tạo giống

- A reticulata (nê): Được trồng ở vùng nhiệt đới có nhiệt độ không cao nhưng ẩm được trồng để làm vật liệu tạo giống Nhiều vùng còn gọi nê là na núi vì nó trồng ở vùng nhiệt đới cao

Tên gọi Mãng cầu hay Annona ở nước ta có sự khác nhau Ở miền Bắc

gọi Annona Squamosa là na, gồm 2 loại là na dai và na bở, gọi Annona

Trang 22

Muricata là mãng cầu, Annona glabra là bình bát, Annona reticulata là nê Ở

miền Nam chỉ khác là gọi Annona Squamosa là mãng cầu dai và gọi Annona

Muricata là mãng cầu xiêm [1]

Vị trí của cây na trong hệ thống phân loại thực vật:

Tên khoa học: Anona squamosa [9], [10]

Hiện nay có khoảng 900 loài ở Trung và Nam Mỹ, 450 loài ở châu Phi,

và các loài khác ở châu Á [9]

Cho đến nay, chưa có một công trình nào nghiên cứu thật đầy đủ về giống na ở Việt Nam Việc phân định các giống na thường dựa vào màu vỏ và

độ chắc của cùi quả

Với mãng cầu xiêm (A muricata) ở miền Nam thường phân ra các

Ở các tỉnh miền Bắc người ta phân biệt na (A squamosa) thành hai

loại: Na dai và na bở dựa vào độ bở của cùi quả

+ Na dai: Dễ tách bóc khỏi thịt quả, ít hạt nhiều thịt, thịt chắc, ngọt đậm

và thơm ngon Hạt nhỏ và hạt dễ tách khỏi thịt quả Xu hướng hiện nay của người làm vườn là thích trồng loại na dai vì bán được giá cao, quả sau hái cất giữ được lâu hơn so với na bở

Trang 23

+ Na bở: Thịt bở, khó bóc vỏ hơn so với na dai, quả thường hay nứt, ăn

ngọt song thịt quả không chắc

Na là cây nhiệt đới có giá trị dinh dưỡng cao, riêng Annona cherimosa

là loại na thích hợp ở vùng cao và hiện không được trồng nhiều, chủ yếu dùng làm vật liệu nghiên cứu trong chọn tạo giống Nó là cây được đánh giá cao nhất về mặt chất lượng - ngang tầm với cây dứa Tuy là cây nhỏ nhất nhưng

na dai lại là cây quan trọng và trồng nhiều nhất trong các loại na và được đánh

giá cao về mặt chất lượng chỉ sau cherimosa, có hương thơm, vị đâ ̣m được

nhiều người ưa thích vì độ ngọt cao, hơi có vị chua nên không lạt, lại có hương thơm Giàu sinh tố, giàu chất khoáng [4]

Bảng 1.1: Chất lượng na so với hai loại trái xoài và chuối

(Hàm lượng chất dinh dưỡng trong 100g phần ăn được, không tính vỏ, hạt, lõi)

Hàm lượng chất dinh dưỡng Mãng

cầu dai

Mãng cầu xiêm Xoài Chuối sứ

Trang 24

Hiện nay, ở một số nước châu Á (Đài Loan, Thái lan, Philippin…) đã

và đang phổ biến trồng giống lai giữa A squamosa với A muricata với tên gọi là Cherimosa có quả to, chất lượng quả tốt, ít hạt Việt Nam đã du nhập và

đang trong quá trình khảo nghiệm để đưa ra sản xuất

Na là cây nhiệt đới có giá trị dinh dưỡng cao, riêng Annona cherimosa

là loại na thích hợp ở vùng cao và hiện không được trồng nhiều, chủ yếu dùng làm vật liệu nghiên cứu trong chọn tạo giống Nó là cây được đánh giá cao nhất về mặt chất lượng- ngang tầm với cây dứa Tuy là cây nhỏ nhất nhưng na dai lại là cây quan trọng và trồng nhiều nhất trong các loại na và được đánh

giá cao về mặt chất lượng chỉ sau Cherimosa, có hương vị được nhiều người

ưa thích vì độ ngọt cao, hơi có vị chua nên không lạt, lại có hương thơm, giàu sinh tố, giàu chất khoáng

Hiện nay, ở một số nước châu Á (Đài Loan, Thái Lan, Philippin …) đã

và đang phổ biến trồng giống lai giữa A squamosa với A muricata với tên gọi là Cherimosa có quả to, chất lượng quả tốt, ít hạt Việt Nam đã du nhập và

đang trong quá trình khảo nghiệm để đưa ra sản xuất

Ngoài tác dụng trên, na chủ yếu dùng để ăn tươi, làm nước giải khát, làm rượu Rễ, lá, hoa, quả dùng làm thuốc cho người Quả na có vị ngọt, chua, tính ấm giúp hạ khí tiêu đờm, lá tác dụng thanh nhiệt, tiêu độc, sát trùng Rễ cầm ỉa chảy Hạt na chứa 45% tinh dầu dùng làm thuốc trừ sâu, trừ côn trùng, chấy rận… và chế mỹ phẩm [4]

1.4 Tình hình sản xuất na trên thế giới và tại Việt Nam

1.4.1 Tình hình sản xuất na trên thế giới

Na là cây nhiệt đới, thích nghi rộng nên chúng được trồng trên toàn thế giới nhưng chỉ trồng lẻ tẻ trong các vườn, ít trồng tập trung để sản xuất hàng hoá Trước đây, na được coi là loại quả thứ yếu, chưa trở thành một loại quả chính trên thị trường hoa quả thế giới Hiện nay, nhu cầu thị trường ngày càng cao nên cây na đã được quan tâm và chú trọng hơn Tuy nhiên trên thế giới

Trang 25

hiện nay vẫn không có số liệu thống kê cụ thể về na Những nước đánh giá na dai rất cao là Ấn Độ, CuBa, Brazil Năm 1986 - 1987, chỉ riêng ở Thái Lan đã trồng được 51.500ha, sản lượng 188.900 tấn Ở Ấn Độ diện tích trồng na cũng đạt tới 44.613 ha [1], [9] Na xiêm trồng ít hơn do khẩu vị con người và do chúng yêu cầu khí hậu nóng hơn na dai, không trồng được ở các vĩ tuyến hơi cao một chút.

1.4.2 Tình hình sản xuất na tại Việt Nam

Những năm gần đây na được coi là CĂQ đặc sản có giá trị kinh tế cao Vùng phân bố của cây na ở nước ta khá rộng, trừ những nơi có mùa đông lạnh hay sương muối là không trồng được còn hầu hết các tỉnh đều có thể trồng na

Ở nước ta na được trồng từ lâu nhưng mới được chú trọng, phát triển mạnh từ năm 1990 trở lại đây [10]

Na có tính thích nghi rộng, sớm cho quả, năng suất cao, ít sâu bệnh, trồng trong vườn nhà cho năng suất cao Hiện nay na dai được coi là cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao, rất được ưa chuộng trên thị trường, nhiều

hộ gia đình đã giàu có nhờ trồng na Ở Tây Ninh 1ha na cho thu hoạch 7 - 8 tấn quả trong 1 năm, cá biệt có hộ thu được 12 tấn/năm nhờ làm thêm vụ quả trái vụ Với 7 - 8 tấn quả/năm/ha có giá bán xô 10.000 - 12.000 đồng/kg thì 1ha na cho thu nhập khoảng 70 - 100 triệu đồng/năm Chi phí đầu tư trung bình 20 triệu/ha, lợi nhuận trung bình từ 50 - 80 triệu đồng/ha Ở vùng đồi gò

Hà Tây, 1ha na giá trị sản phẩm đạt được 33 triệu đồng/1năm, thu nhập thuần đạt 23 triệu Vùng núi đá vôi ở Đồng Mỏ (tỉnh Lạng Sơn) nói riêng và các vùng trồng na khác nói chung, nhiều gia đình làm giàu nhờ trồng na [10]

Vùng phân bố cây na ở nước ta khá rộng, trừ những nơi có mùa đông lạnh và sương muối không trồng được na, còn hầu hết các tỉnh đều có na Phần lớn cây na được trồng lẻ tẻ trong các vườn gia đình với mục đích thu quả để ăn tươi, cải thiện khẩu phần ăn, còn một ít đem ra chợ địa phương bán, không trở thành hàng hoá lớn [4]

Trang 26

Các vùng trồng na tập trung ở miền Bắc: xã Thái Đào, Lạng Giang, Bắc Giang; xã Cương Sơn, Trường Sơn, Lục Sơn, Vô Tranh huyện Lục Nam, Bắc Giang; thị trấn Đồng Mỏ, Chi Lăng, Lạng Sơn; các xã Hoà Lạc, Cai Kinh, Đồng Tân huyện Hữu Lũng, Lạng Sơn Miền Nam: huyện Tân Thành, Châu Đức thành phố Vũng Tàu tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; tỉnh Tây Ninh, ngoài ra còn ở Ninh Thuận và Đồng Nai.

1.5 Đặc điểm thực vật học và yêu cầu điều kiện ngoại cảnh

1.5.1 Đặc tính thực vật học

Na thuộc nhóm CĂQ rụng lá một phần trong mùa đông, thân gỗ hoặc thân bụi cao từ 3 - 5m, có nhiều cành Cành na nhỏ, mềm kiểu cành la Lá mỏng hình thuẫn dài hoặc hình trứng, mặt lá màu xanh lục, lá non có lông thưa, lá già thì nhẵn, khi vò lá có mùi thơm Cuống lá ngắn có lông ngắn, chiều dài từ 1,5 - 1,8cm, lá rụng xong trơ cuống và lúc đó mới mọc mầm mới

Hoa mọc đơn hoặc mọc thành chùm từ 1 - 4 hoa trên nách lá hoặc ở đỉnh của các cành năm trước, hoặc mọc trên đoạn cành dưới của các cành già Chiều dài hoa từ 2 - 4cm màu xanh vàng mọc chúc ngược, cuống hoa ngắn 1,4 - 2,0cm Cánh hoa xếp hai vòng, mỗi vòng có 3 cánh, đài hoa bé màu xanh Nhị đực bé nhưng tạo thành một lớp bọc ở ngoài vòng của các nhị cái Nhị cái rất nhiều xếp thành hình chóp tròn và nhọn

Quả thuộc quả kép, do kết hợp nhiều quả nhỏ lại với nhau mà thành Quả hình tim có cuống hơi lõm, có đường kính từ 80 - 90 mm, chiều cao từ

60 - 75mm, trọng lượng quả từ 100 - 250g, vỏ quả xù xì (mắt na), thịt quả mềm màu trắng sữa, khi chín ăn rất ngọt, có mùi thơm đặc biệt, bên trong có nhiều hạt cứng màu đen hoặc màu nâu đen

Na thụ phấn chéo bởi hoa cái có khả năng tiếp nhận hạt phấn trước 1 -

2 ngày lúc hoa đực nở (tung phấn) Thời gian thụ phấn ngắn, cây thụ phấn tốt nhất vào khoảng 9 - 12 giờ hoặc 14 giờ 30 - 17 giờ 30 trong ngày

Kinh nghiệm trồng na của nhân dân cho biết nếu hoa nở gặp khô hạn,

Trang 27

gió mùa đông bắc hay gặp mưa thì việc thụ phấn sẽ gặp khó khăn, đậu quả ít Nếu gặp ngày nắng, không mưa, gió đông nam thì việc thụ phấn, thụ tinh thuận lợi, đậu quả sẽ tốt Từ lúc có nụ đến lúc hoa nở khoảng 31 - 45 ngày phụ thuộc vào trạng thái sinh trưởng của cây và độ ẩm không khí, nếu có độ

Nhiệt độ thích hợp cho na sinh trưởng phát triển là 17 - 250C

Na rất sợ rét, chịu rét kém vải, nhãn và chanh Cây trưởng thành có thể chịu được nhiệt độ 0oC trong thời gian ngắn, xong rụng hết lá

Ở 40C cây đã bị thiệt hại do nhiệt độ thấp, vì vậy thấy ít na mọc ở các điểm vùng cao các tỉnh phía Bắc, nơi hàng năm có sương muối

Nhưng nếu ở các vùng có nhiệt độ mùa hè quá cao >40oC, lại bị hạn hoặc khô nóng cũng không thích hợp cho việc thụ phấn, thụ tinh của na và sự phát triển của quả Dễ gây nên hiện tượng thụ quả sau khi thụ tinh xong hoặc nếu quả phát triển được cũng rất kém về năng suất và phẩm chất

Loài Mãng cầu Xiêm có thể trồng ở độ cao tới 1.200m so với mực nước biển theo Zayas,1996; Pinto và Silva,1994

Mãng cầu ta thường được trồng ở vùng đất thấp, nhưng ở Cuba chúng được trồng ở độ cao tới 900m so với mực nước biển theo Zayas, 1996 và được trồng ở giữa vĩ độ 22,50 Bắc - Nam Ở những vùng ẩm Mãng cầu ta cho năng suất cao hơn ở những vùng bán khô hạn

Trang 28

đồi ven sông suối, đất chân núi đá vôi thoát nước nhiều mùn giàu dinh dưỡng

là thích hợp hơn cả Độ pH: 5,5 - 7,4

Tính chất của đất cực kỳ quan trọng đối với trồng na, quan trọng nhất là yếu tố thoát nước, không có loài na nào sinh trưởng tốt trong điều kiện kém thoát nước, lượng nước cao trong đất là nguyên nhân dẫn tới bệnh thối rễ theo Nakasone và Paull, 1998, nhìn chung na cũng không đòi hỏi về loại đất trồng, nhưng đất tốt cho trồng na là những đất giàu dinh dưỡng, thoát khí, thoát nước tốt, tầng đất dày và giàu chất hữu cơ theo Zayas, 1966

Độ pH tốt nhất đối với sinh trưởng của Cherimoya là xung quanh pH =

6,0-6,5.Ở Mêxicô đất trồng Cherimoya có pH = 6,5 Cherimoya trồng trên đất

nghèo lân và canxi hoặc quá giầu nhôm sẽ cho năng suất thấp

Mãng cầu Xiêm ưa trồng trên đất có tầng canh tác dày, thoát khí và có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau Pinto và Silva,1994 cho rằng pH thích hợp với soursop từ 6,0-6,5, trong khi đó Zayas,1996 lại cho rằng pH thích hợp

từ 6,0-7,5 và Belotto và Manica, 1994 cho là 5,5-6,5 (theo Melo và cs, 1983; Ledo, 1992).[12]

Mãng cầu ta có thể trồng trên nhiều loại đất từ đất cát đến các loại đất thịt nặng, điều này có liên quan đến bộ rễ ăn nông và khả năng mức độ chịu mặn của giống Điển hình là những dải đất đá dọc bờ sông hoặc những đất hoang hóa dọc bờ biển cũng như trên đất đồi dốc

1.5.2.3 Điều kiện khí hậu thời tiết huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn

Đặc điểm khí hậu của huyện có bốn mùa rõ rệt và có gió mùa Đông Bắc thổi từ tháng 11 của năm trước đến tháng 4 năm sau, gió mùa Đông Nam thổi từ tháng 5 đến tháng 10 thì mỗi điểm nghiên cứu chịu tác động của tiểu vùng khí hậu

Chi Lăng nằm trọn trong vùng khí hậu nhiệt đới ẩm, gió mùa Mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10, khí hậu ẩm ướt, mưa nhiều Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 và kéo dài tới tháng 3 năm sau Theo niên giám thống kê của

Trang 29

UBND huyện, nhiệt độ trung bình năm là 22,7 – 23,5C Nhiệt độ cao nhất là vào tháng 6, 7, nhiệt độ trung bình trên 28C; Nhiệt độ trung bình vào mùa Đông là 16C, nhiệt độ thấp nhất vào giữa tháng 12 đến khoảng cuối tháng 1, nhiệt độ trung bình 11 - 13C Độ ẩm trung bình hàng năm là 83%

Lượng mưa trung bình năm khoảng 1.430 – 1.700 mm, số ngày mưa ở mức 132 ngày/năm Mưa nhiều nhất vào tháng 7, lượng mưa trung bình khoảng 270 – 350 mm Điều kiện khí hậu, thời tiết trên đã tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, song ảnh hưởng của gió, bão, lụt đặc biệt là các điều kiện bất thường của thời tiết như sương muối, mưa đá… dễ gây thiệt hại cho sản xuất

1.6 Những công trình nghiên cứu về cây na

1.6.1 Nghiên cứu về chọn tạo giống

1.6.1.1 Gieo hạt

Là phương pháp nhân giống hữu tính được người dân sử dụng rộng rãi

và phổ biến nhất hiện nay do cây mọc khoẻ, chống chịu tốt, dễ làm và hệ số nhân giống cao Trồng, chăm sóc tốt sau 2-3 năm cây có thể cho thu hoạch

- Cách làm:

+ Chọn quả ở cây na sai quả liên tục nhiều năm, quả ăn ngon, quả to, chọn quả ở ngoài tán, quả chính vụ đem ăn và lấy hạt làm giống Hạt được rửa sạch 2 - 3 lần, hong khô phun thuốc trừ nấm rồi cất giữ vào nơi lạnh (có thể cất giữ được từ 3 - 5 năm)

Trước khi gieo có thể đập nhẹ cho nứt vỏ hoặc trà lẫn cát khô cho thủng vỏ để hạt dễ thấm nước và nhanh nẩy mầm Tốt nhất là gieo hạt khi mới thu hoạch Sau khi gieo từ 10 - 20 ngày hạt mới nảy mầm, nếu hạt để lâu thì phải tới 120 ngày

Trước khi trồng na ra vườn người ta trồng na trong bầu Cách làm này rất phổ biến vì không làm thương tổn đến rễ như cách gieo hạt vào vườn ươm

và khi trồng phải đánh bầu

Trang 30

Ươm cây trong bầu nilon và có đục lỗ ở đáy Đường kính bầu khoảng 15cm chiều cao 18cm, trọng lượng đất và phân trong mỗi bầu từ 1,0 - 1,5kg, trên 1m2 vườn ươm có thể đặt được 30 - 35 bầu Trong mỗi bầu có thể gieo từ

1 - 2 hạt, khi cây mọc chọn cây sinh trưởng khoẻ giữ lại, chăm sóc cho đến đủ tuổi trồng Nói chung cây con từ 3 - 12 tháng tuổi là có thể đem trồng, nhưng cây 3 tháng tuổi còn bé cao khoảng 15 - 20cm trồng không tốt bằng cây từ 8 -

12 tháng tuổi Khi trồng chú ý thời vụ trồng

Đất độn bầu có thể dùng đất phù sa, đất bùn ao, cho thêm ít lân, trộn phân chuồng hoai và phân hữu cơ

Tuy nhiên nhân giống bằng hạt có một số nhược điểm: Có nhiều biến dị

về các chỉ tiêu kinh tế như chậm có quả, số quả trên cây không đồng đều, tỷ lệ đậu quả, tỷ lệ phần ăn được so với quả và hạt, phẩm chất quả vì vậy ngày nay ở nhiều nước người ta đã thay thế phương pháp gieo hạt bằng phương pháp nhân giống vô tính như chiết cành, ghép cành

1.6.1.2 Chiết cành

Chọn cành chiết: Đường kính gốc cành từ 1,0 - 1,5cm Chiều dài cành chiết từ 40 - 60cm, có hai nhánh, cành bánh tẻ, ngoài tán cây, không sâu bệnh Cây chiết phải chọn trên cây mẹ đã cho quả liên tục nhiều năm, phẩm chất tốt

- Đất bó bầu: Đất bùn ao phơi khô, đất vườn, đập nhỏ trộn mùn cưa, trấu, rơm rác mục Hỗn hợp 2/3 đất và 1/3 hỗn hợp kể trên Bầu chiết có đường kính 6 - 8cm, chiều dài bầu từ 10 - 12cm

- Cắt khoanh vỏ: Chiều dài khoanh vỏ bằng 1,5 - 2,0 lần đường kính gốc (2 - 3cm) Bóc lớp vỏ ngoài, cạo sạch lớp vỏ trắng đến lớp gỗ, dùng giẻ lau sạch vết cắt

- Phía ngoài bầu chiết bọc giấy PE sau đó buộc chặt 2 đầu túi bầu

- Sau chiết từ 30 - 60 ngày quan sát rễ mọc qua túi bầu Khi rễ đã chuyển từ màu trắng sữa sang vàng ngà hoặc hơi xanh thì cưa cành chiết giâm vào vườn ươm, hàng ngày tưới nước và che bớt 50% ánh sáng

Trang 31

1.6.1.3 Ghép cành

Nhiều loại cây trong họ na, do huyết thống gần có thể ghép loại nọ lên loại kia Ở châu Mỹ La tinh có tới 9, 10 loại na có thể kết hợp tốt với nhau thành từng cặp còn ở Việt Nam chỉ có 4 loại: Na dai, na xiêm, bình bát, nê

Từ các tài liệu và thực tế sản xuất cho biết:

Các loài thuộc chi na đều có thể ghép lên nhau dược nhưng nếu muốn

có hiệu quả kinh tế phải chọn cặp ghép tiếp hợp tốt với nhau

Na xiêm ghép lên nê hay na dai không tốt nhưng na xiêm ghép lên bình bát thì tiếp hợp tốt, sinh trưởng, kết trái bình thường và ở miền Nam đã sử dụng rộng rãi kinh nghiệm này để sản xuất cây na xiêm ghép

Na dai ghép lên bình bát hay na xiêm thì tuy có thể sống nhưng sau đó tiếp hợp không tốt do đường kính gốc ghép và cành ghép khác nhau nhiều, trao đổi nhựa giữa cành ghép và gốc ghép khó sau một thời gian thì cành ghép chết dần

Na dai ghép lên nê thì tiếp hợp, sinh trưởng phát dục rất tốt nhờ nê có tính thích ứng tốt nhưng chỉ có thể trồng ở đất cao, không úng nước

Với na dai, na xiêm, nê, bình bát, chắc chắn nhất là ghép cùng loài Hiện nay có 2 phương pháp nhân giống vô tính na được sử dụng phổ biến nhất là ghép cành và ghép mắt Ở Việt Nam, ghép mắt mới áp dụng cho ghép na

xiêm lên bình bát, các phương pháp ghép khác ít sử dụng trong sản xuất

- Các phương pháp ghép:

Ghép áp: Gốc ghép trồng trong bầu, được kê hay buộc lên cao gần

cành ghép Cắt hai lát để lộ tượng tầng rồi buộc áp vào nhau Khoảng 2 tháng sau khi ghép có thể cắt dời cành ghép đưa vào vườn ươm chăm sóc tới khi cây con đủ tiêu chuẩn xuất vườn thì đem trồng vườn ăn quả Ở miền Nam, người

ta cải tiến ghép áp bằng cách cắt cụt ngọn gốc ghép rồi cắt hai lát chéo nhau thành hình nêm, ở cành ghép chỉ cắt một lát, xiên từ dưới lên sau đó lùa gốc

ghép vào và buộc chặt

Trang 32

Ghép chẻ bên: Là phương pháp ghép tốt nhất hay còn gọi là "ghép bên

vào gốc ghép cắt ngọn"

Gốc ghép: Lát cắt vào gỗ dài khoảng 2,5cm, vát với độ nghiêng 45o Cành ghép: Cắt chéo dài khoảng 3 - 4cm, vát nghiêng góc 45o Điều quan trọng là làm sao khi đặt cành ghép vào thì phải khớp với gốc ghép Sau

đó dùng dây buộc chắc, che kín để nước mưa không thấm vào được, sau 3 tuần mới được mở dây Nếu cành ghép nhú chồi thì cắt ngọn gốc ghép và chờ

cho ra lá ổn định mới đem đi trồng

- Thời vụ ghép: Từ đầu mùa mưa tới cuối mùa mưa

Ở Cu Ba - nơi có nghề trồng na từ lâu đời và rất được coi trọng, các giống na đều được nhân bằng phương pháp ghép cành hay ghép mắt Dù ghép cành hay ghép mắt người ta đều chủ trương dùng gốc ghép đã cứng cáp, đường kính từ 12 - 15mm hoặc hơn, 12 - 24 tháng tuổi để có cây ghép to, khoẻ đánh đi trồng chóng phục hồi, ra hoa quả nhanh, vườn na đồng đều Chỉ ghép khi na đang trong thời gian nghỉ Thực tế cho thấy ghép cành được ưa chuộng hơn ghép mắt vì cây ghép khoẻ hơn Cành ghép là cành 12 tháng tuổi, đường kính

từ 5 - 10 mm, dài 15 cm, cắt ở chỗ lá đã rụng rồi ngâm 1- 2 phút để khử trùng trong dung dịch CuSO4 60g trong 20 lít nước Gốc ghép đường kính thường phải đạt 15 mm trở lên (gốc ghép 18 - 24 tháng tuổi) và cũng có thể ghép trên cây lớn đường kính gốc 15 cm và dài hơn, khi đốn đi để đổi giống [5]

Trang 33

Với nhân giống vô tính thì chỉ có phương pháp ghép, ghép cành và ghép mắt là 2 phương pháp ghép hay được sử dụng phổ biến vì cắm cành còn đang nghiên cứu; còn chiết cành, theo các tác giả Ấn Độ ít có triển vọng thực hiện rộng rãi trong sản xuất [5].

1.6.2 Chọn tạo giống

* Với na dai

Từ xưa tới nay, na được trồng chủ yếu bằng hạt, hơn nữa chúng khá dễ tính và ít được chú trọng nên chúng không giữ được những phẩm chất tốt ban đầu: quả nhỏ, nhiều hạt, chất lượng kém… Song các nhà nghiên cứu lại nhận định rằng việc cải tiến giống na dễ vì na dai là loại quả ngon lại dễ tính mặc

dù không những ở Việt Nam mà cả trên thế giới việc cải tiến giống na chưa làm được bao nhiêu [1] Dẫn chứng là trong một cuộc điều tra ở bang Maharashtra, Ấn Độ người ta thấy ở na dai trọng lượng quả từ 130 đến 370g,

số hạt trong một quả từ 14 đến 66, tỷ lệ cùi (phần ăn được) từ 34,4% đến 60,6%, chất hoà tan từ 18,0 - 28,2, độ chua từ 0,20% - 0,80% [16] Với những biến thiên lớn như vậy, chỉ cần chọn cây tốt nhân rộng ra Lai tạo ra giống mới cũng nhanh vì dù gieo bằng hạt, na dai cũng chỉ cần từ 2 - 3 năm là có quả Canizares cho biết, ở Cu Ba đã có những giống na không hạt nhưng quả

nhỏ, sản lượng thấp nên cần phải cải tiến thêm

* Với na xiêm

Cũng như na dai, ở trong nước công tác chọn giống na xiêm chưa làm được nhiều Chưa nói đến dòng vô tính ngay đến vùng chuyên canh cũng chưa có Phải bắt đầu bằng việc chọn những cây mẹ, có những đặc tính như: đậu trái nhiều, hình thù đều đặn (có khả năng thụ phấn tốt) ít xơ, tỷ lệ cơm (phần ăn được) cao, mùi thơm hấp dẫn rồi nhân vô tính, so sánh để tạo ra những dòng vô tính [8]

1.6.3 Các nghiên cứu về kỹ thuật đốn tỉa

Đốn tỉa: Đốn tạo hình được tiến hành từ năm thứ nhất đồng thời với việc

Trang 34

huấn luyện cây, phụ thuộc vào từng loài và tiếp tục tời năm thứ 5 (Agustin & Alviter, 1996) [11] Điều này rất cần thiết đối với cherimoya ngay từ khi còn trong vườn ươm (Nakasone & Paull, 1998) [13] Tuy nhiên đối với soursop và sugar apple chúng chỉ có những cành sát mặt đất và có một thân chính thì không cần thiết phải tiến hành sớm như vậy (Coronel, 1994; Pinto & Ramos, 1997) [14]

Mục đích của đốn tỉa để: Tạo ra một khung tán cho năng suất tốt nhất; Tiếp nhận không khí và ánh sáng tốt; Tạo điều kiện dễ dàng cho chăm sóc như: thụ phấn, phun thuốc và thu hoạch; Loại bỏ những cành quá thấp, đặc biệt là những cành chạm đất và những cành chen lấn cọ xát với các cành khác Pinto & Ramos, 1996 [14]; Nakasone & Paull, 1998 [13]

Anderson & Richardson (1992) mô tả kỹ thuật đốn tỉa trong 4 năm đầu bao gồm: Cắt ngọn chỉ để thân chính cao 80 cm để kích thích các cành cấp 1 phát triển Đến mùa xuân năm thứ 2, cắt những cành cấp 1 chỉ để lại độ dài 40

cm để kích thích cành cấp 2 phát triển Tương tự năm thứ 3 và thứ 4 cũng cắt tỉa như vậy, nhưng cành cấp 2 để lại 30 cm, cành cấp 3 để lại 20cm [12]

Agustin & Alviter (1996) mô tả phương pháp cắt tỉa đối với cherimoya

có khác một chút là giữ lại 2 hoặc 3 cành chính ngay từ tháng thứ 4 hoặc thứ

5 sau trồng Hai cành chính được chọn để lại phải là 2 cành khỏe, các cành khác đều phải loại bỏ để 2 cành phát triển theo hình chữ V [11] Nếu tạo bộ khung 3 cành như phương pháp của Nakasone & Paull (1998) thì thân chính cao 90 cm cắt bỏ ngọn để kích thích cành bên mọc tạo thành tam giác giữa các cành với nhau một góc bằng 1200, cành nọ cách cành kia 15 - 25 cm ở phía trên để tạo bộ khung chắc sau 5 năm trồng [13]

Đốn tỉa giai đoạn cây đã cho quả là việc làm bình thường đối với cherimoya và sugar apple (Agustin & Alviter, 1996) [11] song đối với soursop lại không được đề cập (Torres & Sanchez, 1992 [15]; Pinto và Ramos, 1997)[14] Lý do giải thích là do vị trí của mầm sinh trưởng của

Trang 35

soursop là ở nách lá còn của cherimoya và sugar apple lặn ở chân cuống lá (Nakasone & Paull, 1998) [13]

Đốn tỉa giai đoạn cây cho quả đối với sugar apple là cắt tất cả các cành 1 năm tuổi, mỗi cây chỉ để lại 120 -150 cành với chiều dài 10 cm (Nakasone & Paull, 1998) Hoa sẽ ra ngay ở cuối cành mới bật Ở Trung Quốc, Đài Loan tỉa quả thông thường vào tháng giêng hoặc tháng hai, thu hoạch từ tháng 7 đến tháng 9 Tuy nhiên nếu đốn tỉa quả vào mùa Hè (tháng 6 - 10) thì thu hoạch từ tháng 10 đến tháng 3 Sự ra quả mùa Đông cao nhất khi những mầm Hè được cắt tỉa so với những cành quả không cắt tỉa hoặc cắt tỉa cuối tháng 5 [13]

1.7 Những nghiên cứu nhằm thúc đẩy sinh trưởng, phát triển, ra hoa, đậu quả và tăng năng suất na

1.7.1 Nghiên cứu về phân bón

Để cây na sớm cho quả và năng suất cao cần bón kết hợp giữa phân hữu cơ và vô cơ đủ số lượng và đáp ứng nhu cầu của cây ở các thời kỳ sinh trưởng, ra hoa kết quả trong năm Có thể bón theo liều lượng sau:

Bảng 1.2: Lượng phân bón cho na theo tuổi cây Tuổi cây

Cách bón: Cuốc rãnh hoặc hố quanh tán Nếu bón thúc thì cuốc nông

10cm, bón lót cuối năm cuốc rộng 20cm, sâu 30cm, bón xong lấp đất [10]

Trang 36

Bảng 1.3: Thời vụ bón phân cho na Lần

bón Tháng Mục đích

Lượng bón mỗi lần (% so với cả năm)

Hữu cơ Supe

lân

Đạm Ure

Clorua kali

1.7.2 Nghiên cứu về các biện pháp điều khiển sinh trưởng phát triển, ra hoa, đậu quả và tăng năng suất na

1.7.2.1 Điều khiển ra hoa trái vụ cho na

Đây là một yêu cầu của thị trường làm sao để có thể kéo dài thời gian thu hoạch na hàng năm Điều khiển ra hoa trái vụ cũng là một khâu trong quy trình kỹ thuật thâm canh na

Đặc điểm của Na là sau khi rụng lá, cành sẽ nảy chồi lá mới, trên đó có mang theo hoa Tùy từng vùng mà có cách xử lý ra hoa rải vụ như sau:

Ở những vùng khô hạn cục bộ trong năm có thể thông qua việc điều tiết nước kết hợp với việc bón phân như kiểu "xiết nước" với vườn quýt ở Đồng bằng sông Cửu Long, làm cho cây ra hoa chậm lại

Để tự nhiên na rụng lá vào tháng 12 - 1, ra hoa, quả vào tháng 5 - 6, chín vào tháng 9 Muốn na ra hoa sớm, kết quả vào tháng 4, thu hoạch vào 5 - 15/8 thì cần thực hiên đồng thời một số biện pháp kỹ thuật sau:

Trang 37

Sau thu hoạch tỉa bỏ cành la, cành vóng, cành sâu bệnh để tán thông thoáng Vào tháng 11 vặt hết lá xanh trên tán cây Cũng có thể dùng thuốc dấm hoa quả Trung Quốc (Ethlen 45%), pha 1 lọ 5ml với 1lít nước, phun ướt tán Sau 10 - 15 ngày thì na sẽ rụng hết lá Vào đầu tháng 2, cần tưới ẩm, bón thúc phân sớm Bón mỗi cây 20 - 30 kg phân chuồng hoai mục và 3 - 10kg NPK (5:10:3) đồng thời giữ ẩm liên tục, cây sẽ ra hoa và kết quả vào tháng 4 như ý muốn

Kinh nghiệm trồng na ở Thái Lan, người ta còn kết hợp việc cắt tỉa với tuốt lá để làm cho hoa ra muộn hơn Thường cắt tỉa vào tháng 5 chọn cắt những cành non, chỉ để lại đoạn cành bánh tẻ có màu xanh nâu Sau đó tuốt hết lá, cành này sẽ mọc chồi mới có hoa và quả thu hoạch vào tháng 10 - 11 Các biện pháp làm cho na ra quả trái vụ đều có kết hợp với việc bón phân và tưới nước [9]

Theo kinh nghiệm thì phương pháp cụ thể có thể làm như sau:

1 Sau thu hoạch

- Bón 5 kg phân hữu cơ + 1-2 kg NPK 16.16.8 + 0,4 kg vôi/cây Cuốc xới đất để vùi lấp phân khi bón

- Muốn Na ra hoa rải vụ thì áp dụng kỹ thuật tuốt lá: pha 800g Urê với

8 lít nước, phun ướt đẫm cây làm rụng lá già, số lá còn lại thì tuốt bỏ luôn

- Sau khi lá rụng, cắt bỏ toàn bộ những cành nhỏ mọc trong tán, chừa lại những cành to bằng ngón tay út trở lên và trên những cành ấy, cắt bỏ tất cả ngọn Vết cắt ở nơi tiếp giáp giữa đoạn cành bánh tẻ và cành non Sau khi cắt,

ta có 1 bộ cành trụi lá toàn cành hữu hiệu, sẵn sàng ra cành mới và hoa đồng

thời, tưới nước đẫm lại cho Na

Trang 38

mới này 2 lần (5 ngày/lần) để kích ra hoa 20 - 30 ngày sau khi cắt tỉa, trên đỉnh và nách lá của những tược vừa mới ra sẽ xuất hiện hoa

- Bón phân: 1 kg NPK 16.16.8/cây khi nhú lá mới

3 Nuôi trái

- Khi trái to bằng hột sen bón 1 kg NPK 16.16.8 + 1 kg vôi cho 1 cây

- Khi trái to bằng trứng cút, phun định kỳ dưỡng trái (35 ml/8 lít) + F.Bo (15 g/8 lít) 10 ngày/lần giúp trái to, múi lớn, cơm dày, ngon ngọt

- Trước thu hoạch 15 ngày pha 15 ml NUTRIMIX/8 lít phun 1 lần giúp

trái bóng đẹp và bảo quản tốt

4 Tỉa và bao trái dành cho xuất khẩu

Mục đích là làm cho trái to, sáng đẹp đều, không bị tỳ vết đạt tiêu chuẩn xuất khẩu và còn hạn chế sâu bệnh, rệp phá trái nên bán được giá cao Cách làm: Khi trái to bằng trứng cút, tỉa bỏ trái nhỏ, cành lá vướng trái xong phun thuốc để diệt trứng, sâu hay nấm có sẵn trên trái Sau đó 1 ngày dùng túi bao loại 16 x 20 cm bao trái lại, nhớ xiết chặt miệng bao

Các vùng trồng na ở nước ta thuộc các vùng sinh thái khác nhau, có điều kiện khí hậu trong năm khác nhau Do vậy cần căn cứ vào điều kiện tự nhiên từng vùng mà áp dụng các biện pháp dải vụ thích hợp

1.7.2.2 Thu hoạch

Na dai khi đã mở mắt, vỏ quả chuyển màu vàng xanh là quả đã già, cần thu hoạch ngay, mùa thu hoạch bắt đầu vào tháng 6 cho đến tháng 9 - 10 âm lịch Từ khi bắt đầu nở hoa tới khi thu hoạch là 110 - 120 ngày Quả cho thu hoạch sớm hay muộn phụ thuộc nhiệt độ, điều kiện cung cấp nước tưới ở nơi trồng Nhiệt độ cao, nước đầy đủ thì quả to và sớm thu hoạch hơn

Quả hái lúc đã già: Na mở mắt, khe hở giữa các mắt nông và hạt có màu nâu hoặc nâu đen Dùng kéo cắt sao cho quả mang theo một đoạn cuống Quả na già hái về, bảo quản ở nhiệt độ 25 - 30oC sau 2 - 3 ngày là chín

Với na xiêm: thu hoạch khi vỏ quả từ màu xanh tối, bóng chuyển sang

Trang 39

vàng và kém bóng đi một chút, rõ hơn nữa là các gai trên lưng mỗi múi tách nhau ra và trương nước Khác na dai, na xiêm hầu như chín quanh năm

Thường dùng nhiệt độ thấp bảo quản để đảm bảo được cảm quan và chất lượng quả tốt nhất là bảo quản trong nhiệt độ 15 - 20oC, độ ẩm không khí

85 - 90% Trước khi bảo quản cần dùng 0,5 - 1,0 g/lít Benlate xử lí quả trong

5 giây hay 500mg/lít Carbendazin ngâm trong 1 phút để chống nấm bệnh làm thối quả [3], [16]

1.7.3 Kĩ thuật thụ phấn nhân tạo cho na

Hoa na là hoa lưỡng tính, thông thường hoa cái nở sớm hơn hoa đực hai ngày do đó khi nhị đực tung phấn thì khả năng tiếp nhận của đầu nhuỵ đã kém hơn rất nhiều nên việc thụ phấn và thụ tinh sẽ khó khăn Việc thụ phấn cho na nhờ vào một loài bọ cánh cứng rất nhỏ thuộc chi Carpaphilus thực hiện Xong nếu để hoa thụ phấn tự nhiên thì tỷ lệ đậu quả rất thấp Hiện nay người ta dùng phương pháp thụ phấn nhân tạo đã làm tăng tỷ lệ đậu quả lên rất nhiều

Theo Trần Thế Tục, chọn hoa để thụ phấn là những hoa to mọc ở thân chính, cành chính để lấy phấn Không lấy phấn ở những hoa nhỏ, cuống hoa nhỏ, hoa phát triển không cân đối, hoa ở chóp cành hoặc những cành nhỏ Theo Vũ Công Hậu thì: Hoa để lại, thụ phấn cho kết thành quả là những hoa

to ở trên cành to, phía gần thân Hoa ở gần ngọn các cành hoặc trên cành nhỏ thường không đậu được quả nên ngắt dùng làm hoa cho phấn Hiện trong thực

tế bà con đang áp dụng cách chọn hoa này Thường thì người ta lấy những hoa sắp nở vào chiều tối cho vào hộp pêtri, giữ trong phòng ở nhiệt độ bình thường để nở hoa, tung phấn Sáng hôm sau dùng chổi lông chấm nhẹ hạt phấn lên đầu nhụy để thụ phấn cho hoa cái [10]

Thao tác thụ như sau: dùng bàn tay trái ngửa lên trời, ngón trỏ và ngón giữa kẹp lấy cuống hoa định thụ phấn, ngón cái uốn cong 1 trong 3 cánh hoa, động tác phải nhẹ nhàng tránh làm gãy cuống hoa hoặc cánh hoa bị uốn cong

Trang 40

Tay phải dùng một cái bút lông chấm vào trong bình đựng phấn để cho phấn dính vào đầu bút, khe khẽ lùa vào khe giữa các cánh hoa đã được tách ra, xoay tròn đầu bút lông cho phấn quệt vào đầu nhuỵ và dính vào đó [5]

Kinh nghiệm và kết quả thụ phấn nhân tạo cho thấy lấy hạt phấn khi hoa vừa tung phấn để thụ phấn cho hoa cái hiệu quả sẽ tốt hơn Tỷ lệ nảy mầm của hạt phấn đạt 53,1%, tỷ lệ đậu quả đạt đến 90%; nếu lấy phấn từ hôm trước thì tỷ lệ nảy mầm chỉ còn 8,8%, tỷ lệ đậu quả chỉ đạt 64,5% [5]

Thời gian thụ phấn:

Có thể chia thời kì nở hoa của na thành 3 giai đoạn như sau:

+ Giai đoạn 1: Hoa mới nở, cánh hoa bắt đầu tách

+ Giai đoạn 2: Hoa nở, 3 cánh hoa đã rời nhau, nuốm nhuỵ đã chuyển sang màu trắng, đầu nuốm nhuỵ có nhiều chất nhầy, dính

+ Giai đoạn 3: Hoa nở rõ, 3 cánh hoa đã xoè hết cỡ

Ở giai đoạn 1 hoa vừa mới tách thao tác thụ khó khăn nên thụ phấn cho

na ở giai đoạn 2 thao tác sẽ dễ dàng hơn, tỷ lệ đậu quả đạt 87,9% Ở giai đoạn

3 tỷ lệ đậu chỉ đạt 5,3%, còn đối chứng không thụ phấn chỉ đạt 4,4% [5]

Ngoài thụ phấn nhân tạo cho na để tăng tỷ lệ đậu, nhiều nơi đã sử dụng các chất kích thích sinh trưởng để phun cho cây đều thấy kết quả:

1.8 Nghiên cứu về phòng trừ sâu bệnh

Na được coi là một loại cây ít sâu bệnh nguy hiểm xong nếu trồng tập chung thì vườn cây thường có rất nhiều sâu bệnh hại, ảnh hưởng đáng kể tới năng suất, phẩm chất quả Vì vậy cần thường xuyên theo dõi để kịp thời phát hiện sâu bệnh hại và có biện pháp phòng trừ kịp thời

1.8.1 Các loại sâu hại

1.8.1.1 Sâu hại hoa còn gọi là sâu vòi voi

Thuộc bộ cánh cứng Coleoptera Sâu trưởng thành hình bầu dục màu nâu xám Sâu non có màu trắng sữa, đầu màu nâu Sâu trưởng thành hoạt động chủ yếu vào ban ngày, thường tập trung phía trong cánh hoa và đẻ trứng

luôn trong đó Sâu non, sâu trưởng thành đều cắn phá cánh hoa

Ngày đăng: 20/03/2017, 08:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ nông Nghiệp và phát triển nông thôn (2004), Sổ tay trồng và chăm sóc một số loại cây ăn quả, Nhà xuất bản nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay trồng và chăm sóc một số loại cây ăn quả
Tác giả: Bộ nông Nghiệp và phát triển nông thôn
Nhà XB: Nhà xuất bản nông Nghiệp
Năm: 2004
2. Chi cục thống kê huyện Chi Lăng, Niên giám thống kê huyện Chi Lăng 2012 - 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê huyện Chi Lăng
3. Phạm Văn Côn, Phạm Thị Hương (2004), Thiết kế VAC cho mọi vùng, Nhà xuất bản nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế VAC cho mọi vùng
Tác giả: Phạm Văn Côn, Phạm Thị Hương
Nhà XB: Nhà xuất bản nông Nghiệp
Năm: 2004
4. Đường Hồng Dật (2000), Nghề làm vườn cây ăn quả ba miền, Nhà xuất bản văn hóa dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghề làm vườn cây ăn quả ba miền
Tác giả: Đường Hồng Dật
Nhà XB: Nhà xuất bản văn hóa dân tộc
Năm: 2000
5. Bùi Thanh Hà (2001), Phương pháp nhân giống cây ăn quả, nhà xuất bản Thanh hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nhân giống cây ăn quả
Tác giả: Bùi Thanh Hà
Nhà XB: nhà xuất bản Thanh hóa
Năm: 2001
9. Trần Thế Tục, Cao Anh Long; Phạm Văn Côn; Hoàng Ngọc Thuận; Đoàn Thế Lư (1998), Giáo trình cây ăn quả, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình cây ăn quả
Tác giả: Trần Thế Tục, Cao Anh Long; Phạm Văn Côn; Hoàng Ngọc Thuận; Đoàn Thế Lư
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1998
10. Trần Thế Tục (2008), Kỹ thuật trồng và chăm sóc Na - Thanh long, Nhà xuất bản nông Nghiệp - Hà Nội.II. Tài liệu nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật trồng và chăm sóc Na - Thanh long
Tác giả: Trần Thế Tục
Nhà XB: Nhà xuất bản nông Nghiệp - Hà Nội.II. Tài liệu nước ngoài
Năm: 2008
11. Agustin J. A and Alviter A. R (1996), Cherimoya cultivar (Annona cherimola Mill) in Estado Michoacan [Spanish], University of Chapingo, Mexico: 61 pp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Annona cherimola
Tác giả: Agustin J. A and Alviter A. R
Năm: 1996
13. Nakasone H. Y. And Paull R. E (1998), “Annonas” In: Tropical Fruits. CAB International, Lodon, UK; pp 45-75 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Annonas
Tác giả: Nakasone H. Y. And Paull R. E
Năm: 1998
6. Phòng nông nghiệp và PTNT huyện Chi Lăng, Tổng hợp các cây ăn quả trong huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn Khác
7. Trạm Bảo vệ thực vật Chi Lăng, Báo cáo tình hình sâu bệnh hại cây ăn quả năm 2015 Khác
8. Trạm khuyến nông huyện Chi Lăng, Biện pháp kỹ thuật áp dụng trồng na ở các hộ nông dân thuộc huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn Khác
12. Anderson P. and Richardson A. (1992), “Cherimoya Pruning Essential for Khác
14. Pinto A.C.de Q and Silva E. M (1996), Graviola para Exportacao Aspector Tecnicos da producao, Brasilia, Brasil Khác
15. Torres W.E. and Sanchez L.A (1992), Fruitcultura Colombiana, Guanabano [Spanish] Instituto Colombiano Agropecuario. ICA, Manual de Asistencia Tecnica 57, Bogota,III. Tài liệu mạng Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Chất lượng na so với hai loại trái xoài và chuối - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật đối với cây na ở huyện Chi Lăng tỉnh Lạng Sơn (LV thạc sĩ)
Bảng 1.1 Chất lượng na so với hai loại trái xoài và chuối (Trang 23)
Bảng 1.3: Thời vụ bón phân cho na - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật đối với cây na ở huyện Chi Lăng tỉnh Lạng Sơn (LV thạc sĩ)
Bảng 1.3 Thời vụ bón phân cho na (Trang 36)
Bảng 3.6: Ảnh hưởng của thời gian đốn tỉa sau thu hoạch đến thời gian - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật đối với cây na ở huyện Chi Lăng tỉnh Lạng Sơn (LV thạc sĩ)
Bảng 3.6 Ảnh hưởng của thời gian đốn tỉa sau thu hoạch đến thời gian (Trang 56)
Bảng 3.7: Ảnh hưởng của đốn tỉa sau thu hoạch đến một số yếu tố cấu - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật đối với cây na ở huyện Chi Lăng tỉnh Lạng Sơn (LV thạc sĩ)
Bảng 3.7 Ảnh hưởng của đốn tỉa sau thu hoạch đến một số yếu tố cấu (Trang 57)
Bảng 3.8: Ảnh hưởng của phương pháp đốn tỉa đến thời gian ra lộc, ra - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật đối với cây na ở huyện Chi Lăng tỉnh Lạng Sơn (LV thạc sĩ)
Bảng 3.8 Ảnh hưởng của phương pháp đốn tỉa đến thời gian ra lộc, ra (Trang 59)
Bảng 3.9: Ảnh hưởng của các phương pháp đốn tỉa đến tăng trưởng số lá, - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật đối với cây na ở huyện Chi Lăng tỉnh Lạng Sơn (LV thạc sĩ)
Bảng 3.9 Ảnh hưởng của các phương pháp đốn tỉa đến tăng trưởng số lá, (Trang 60)
Bảng 3.10: Ảnh hưởng của kỹ thuật đốn tỉa tới đường kính cành lộc, tỷ lệ - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật đối với cây na ở huyện Chi Lăng tỉnh Lạng Sơn (LV thạc sĩ)
Bảng 3.10 Ảnh hưởng của kỹ thuật đốn tỉa tới đường kính cành lộc, tỷ lệ (Trang 61)
Bảng 3.13: Ảnh hưởng của phân bón lá đến động thái ra hoa trên cành lộc - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật đối với cây na ở huyện Chi Lăng tỉnh Lạng Sơn (LV thạc sĩ)
Bảng 3.13 Ảnh hưởng của phân bón lá đến động thái ra hoa trên cành lộc (Trang 66)
Bảng 3.14: Ảnh hưởng của phân bón qua lá đến tỷ lệ đậu quả, số quả - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật đối với cây na ở huyện Chi Lăng tỉnh Lạng Sơn (LV thạc sĩ)
Bảng 3.14 Ảnh hưởng của phân bón qua lá đến tỷ lệ đậu quả, số quả (Trang 67)
Bảng 3.15: Ảnh hưởng của phân bón qua lá đến kích thước quả - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật đối với cây na ở huyện Chi Lăng tỉnh Lạng Sơn (LV thạc sĩ)
Bảng 3.15 Ảnh hưởng của phân bón qua lá đến kích thước quả (Trang 68)
Hình 3.9: Ảnh hưởng của phân bón lá đến tỷ lệ đậu quả - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật đối với cây na ở huyện Chi Lăng tỉnh Lạng Sơn (LV thạc sĩ)
Hình 3.9 Ảnh hưởng của phân bón lá đến tỷ lệ đậu quả (Trang 69)
Bảng 3.16: Ảnh hưởng của phân bón qua lá đến hình dạng, chất lượng và - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật đối với cây na ở huyện Chi Lăng tỉnh Lạng Sơn (LV thạc sĩ)
Bảng 3.16 Ảnh hưởng của phân bón qua lá đến hình dạng, chất lượng và (Trang 70)
Hình dạng quả  Tỷ lệ phần - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật đối với cây na ở huyện Chi Lăng tỉnh Lạng Sơn (LV thạc sĩ)
Hình d ạng quả Tỷ lệ phần (Trang 70)
Bảng 3.17: Ảnh hưởng của phun chất kích thích sinh trưởng GA3 đến tỷ - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật đối với cây na ở huyện Chi Lăng tỉnh Lạng Sơn (LV thạc sĩ)
Bảng 3.17 Ảnh hưởng của phun chất kích thích sinh trưởng GA3 đến tỷ (Trang 72)
Bảng 3.18: Ảnh hưởng của phun chất kích thích sinh trưởng GA3 đến  các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất na tại Chi Lăng - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật đối với cây na ở huyện Chi Lăng tỉnh Lạng Sơn (LV thạc sĩ)
Bảng 3.18 Ảnh hưởng của phun chất kích thích sinh trưởng GA3 đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất na tại Chi Lăng (Trang 73)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w