Ảnh hưởng của tannin chiết xuất từ thân và lá chè kết hợp với biochar bổ sung vào khẩu phần cơ sở đến tiêu hóa dạ cỏ trong điều kiện in vitro (LV thạc sĩ)Ảnh hưởng của tannin chiết xuất từ thân và lá chè kết hợp với biochar bổ sung vào khẩu phần cơ sở đến tiêu hóa dạ cỏ trong điều kiện in vitro (LV thạc sĩ)Ảnh hưởng của tannin chiết xuất từ thân và lá chè kết hợp với biochar bổ sung vào khẩu phần cơ sở đến tiêu hóa dạ cỏ trong điều kiện in vitro (LV thạc sĩ)Ảnh hưởng của tannin chiết xuất từ thân và lá chè kết hợp với biochar bổ sung vào khẩu phần cơ sở đến tiêu hóa dạ cỏ trong điều kiện in vitro (LV thạc sĩ)Ảnh hưởng của tannin chiết xuất từ thân và lá chè kết hợp với biochar bổ sung vào khẩu phần cơ sở đến tiêu hóa dạ cỏ trong điều kiện in vitro (LV thạc sĩ)Ảnh hưởng của tannin chiết xuất từ thân và lá chè kết hợp với biochar bổ sung vào khẩu phần cơ sở đến tiêu hóa dạ cỏ trong điều kiện in vitro (LV thạc sĩ)Ảnh hưởng của tannin chiết xuất từ thân và lá chè kết hợp với biochar bổ sung vào khẩu phần cơ sở đến tiêu hóa dạ cỏ trong điều kiện in vitro (LV thạc sĩ)Ảnh hưởng của tannin chiết xuất từ thân và lá chè kết hợp với biochar bổ sung vào khẩu phần cơ sở đến tiêu hóa dạ cỏ trong điều kiện in vitro (LV thạc sĩ)Ảnh hưởng của tannin chiết xuất từ thân và lá chè kết hợp với biochar bổ sung vào khẩu phần cơ sở đến tiêu hóa dạ cỏ trong điều kiện in vitro (LV thạc sĩ)Ảnh hưởng của tannin chiết xuất từ thân và lá chè kết hợp với biochar bổ sung vào khẩu phần cơ sở đến tiêu hóa dạ cỏ trong điều kiện in vitro (LV thạc sĩ)
Trang 1HOÀNG ĐÌNH THÂN
ẢNH HƯỞNG CỦA TANNIN CHIẾT XUẤT
TỪ THÂN VÀ LÁ CHÈ KẾT HỢP VỚI BIOCHAR
BỔ SUNG VÀO KHẨU PHẦN CƠ SỞ ĐẾN
TIÊU HÓA DẠ CỎ TRONG ĐIỀU KIỆN IN VITRO
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHĂN NUÔI
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 2HOÀNG ĐÌNH THÂN
ẢNH HƯỞNG CỦA TANNIN CHIẾT XUẤT
TỪ THÂN VÀ LÁ CHÈ KẾT HỢP VỚI BIOCHAR
BỔ SUNG VÀO KHẨU PHẦN CƠ SỞ ĐẾN TIÊU HÓA DẠ CỎ TRONG ĐIỀU KIỆN IN VITRO
Chuyên ngành: Chăn nuôi
Mã số: 60.62.01.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHĂN NUÔI
Người hướng dẫn khoa học: 1 TS Mai Anh Khoa
2 PGS TS Từ Trung Kiên
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa công
bố dưới bất kỳ hình thức nào
Tác giả luận văn
Hoàng Đình Thân
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt 2 năm học tập, với nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự
giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của nhiều cá nhân và tập thể, đến nay luận văn
của tôi đã được hoàn thành Nhân dịp này, cho phép tôi được tỏ lòng biết ơn
và cảm ơn chân thành tới:
TS.Mai Anh Khoa và PGS.TS Từ Trung Kiên - Thầy đã tận tình, chu
đáo,đã luôn cổ vũ tinh thần, động viên, hướng dẫn và chỉ bảo cho tôi trong
suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên,
Phòng Đào tạo, khoa Chăn nuôi - Thú y, các thầy cô giáo trong phòng thí
nghiệm đã giúp đỡ, tạo điều kiện để tôi học tập, tiếp thu kiến thức của trương
trình học
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc, tập thể cán bộ công nhân
viên chức Trung tâm nghiên cứu và phát triển chăn nuôi miền núi - Viện
chăn nuôi giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực
hiện đề tài
Ban Lãnh đạo và toàn thể cán bộ nơi tôi công tác
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được gửi lời cảm ơn sâu
sắc tới gia đình, người thân cùng bạn bè đã động viên giúp đỡ tôi vượt qua
mọi khó khăn trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu, thực hiện đề tài
Một lần nữa tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn, cảm ơn chân thành tới những
tập thể, cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học tập
Tác giả luận văn
Hoàng Đình Thân
Trang 5MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH vii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
2.1 Mục tiêu chung của đề tài 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Hệ sinh thái dạ cỏ 3
1.1.1 Đặc điểm tiêu hóa dạ cỏ của gia súc nhai lại 3
1.2 Đặc điểm của các loại thức ăn thí nghiệm 7
1.2.1 Một số đặc điểm và tính chất của chè xanh 7
1.2.2 Ure 9
1.2.3 Biochar 10
1.3 Ảnh hưởng của tannin đến thu nhận thức ăn, tiêu hóa và sự lên men 10
1.3.1 Kỹ thuật sinh khí in vitro 12
1.3.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả sinh khí trong các thí nghiệm in vitro gas production 13
1.4 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 15
1.4.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 15
1.4.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 17
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20 2.1 Đối tượng nghiên cứu 20
Trang 62.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 20
2.3 Phạm vi nghiên cứu 20
2.4 Nội dung nghiên cứu 20
2.5 Phương pháp 20
2.6 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 28
Chương 3: KẾT QUẢ THẢO LUẬN 29
3.1 Nội dung 1: Xác định ảnh hưởng của các mức tannin chiết xuất từ thân, lá chè và biochar khác nhau với ure bổ sung vào làm chất nền đến tổng lượng khí sản sinh và tỷ lệ tiêu hóa trong điều kiện in vitro 29
3.1.1 Thành phần hóa học của các loại thức ăn thí nghiệm 29
3.1.2 Tốc độ và động thái sinh khí in vitro của các loại thức ăn 33
3.1.3 Ảnh hưởng của hàm lượng tannin đến năng lượng trao đổi (ME), các axit béo mạch ngắn (SCFA), tỷ lệ tiêu hóa của các khẩu phần trong điều kiện in vitro 40
3.1.4 Ảnh hưởng của tannin và biochar đến tỷ lệ tiêu hóa vật chất khô 48
3.2 Nội dung 2: Xác định ảnh hưởng của các mức tannin chiết xuất từ thân, lá chè và biochar khác nhau với ure bổ sung vào làm chất nền đến một số chỉ tiêu của dung dịch dạ cỏ 50
3.2.1 Ảnh hưởng của các mức tannin và biochar khác nhau đến chỉ tiêu pH của dung dịch dạ cỏ 50
3.2.2 Ảnh hưởng của các mức tannin và biochar khác nhau đến vi sinh vật của dung dịch dạ cỏ 53
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO 57 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ABBH : Axit béo bay hơi ADF : Xơ tan trong môi trường axit Ash : Khoáng tổng số
ATP : Chất mang năng lượng cần thiết
C : Cacbon CHC : Chất hữu cơ
HT : Tannin dễ hòa tan
ME : Năng lượng trao đổi
N : Nitơ NDF : Xơ tan trong môi trường trung tính SEM : Sai số tiêu chuẩn của các số trung
TN : Tannin tinh khiết V1, V2 : Thể tích
VCK : Vật chất khô
VCKI : Chất khô ăn vào
VK : Vi khuẩn
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Bảng pha chế các dung dịch đệm 1, dung dịch khoáng đa lượng,
dung dịch khoáng vi lượng cần thiết và dung dịch resazurin 23
Bảng 2.2: Bảng pha chế dung dịch đệm 2 23
Bảng 2.3 Sơ đồ bố trí thí nghiệm in vitro 24
Bảng 3.1: Thành phần hóa học của các khẩu phần thí nghiệm 31
Bảng 3.2: Tốc độ sinh khí của các khẩu phần thí nghiệm (ml) 34
Bảng 3.3: Động thái sinh khí của mẫu thức ăn 39
Bảng 3.4: Giá trị năng lượng trao đổi (ME) của các khẩu phần 40
Bảng 3.5: Các axit béo mạch ngắn (SCFA) của các khẩu phần 42
Bảng 3.6: Tỷ lệ phân giải protein của các mẫu thức ăn 44
Bảng 3.7: Ước tính tỷ lệ tiêu hóa chất hữu cơ của các khẩu phần (%) 46
Bảng 3.8: Tỷ lê ̣ tiêu hóa vâ ̣t chất khô của các khẩu phần 49
Bảng 3.9: Ảnh hưởng của các mức tannin và biochar khác nhau đến chỉ tiêu pH của dung dịch dạ cỏ ở thời điểm 0, 3 và 6 giờ 51
Bảng 3.10: Ảnh hưởng của các mức tannin và biochar khác nhau đến vi sinh vật của dung dịch dạ cỏ 54
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Trang
Hình 3.1: Lượng khí sinh ra trong 96 giờ 35
Hình 3.2: Đồ thị giá trị năng lượng trao đổi (ME) của các khẩu phần 41
Hình 3.3: Đồ thị các axit béo mạch ngắn (SCFA) của các khẩu phần 43
Hình 3.4: Đồ thị ước tính tỷ lệ tiêu hóa chất hữu cơ của các khẩu phần (%) 47
Hình 3.5: Đồ thị ảnh hưởng của các mức tannin và biochar khác nhau đến chỉ tiêu pH của dung dịch dạ cỏ ở thời điểm 0, 3 và 6 giờ 52
Hình 3.6: Đồ thị ảnh hưởng của các mức tannin và biochar khác nhau đến vi sinh vật của dung dịch dạ cỏ 55
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam có một khối lượng lớn phụ phẩm có thể làm thức ăn cho gia súc nhai lại Tuy nhiên, muốn sử dụng nguồn phụ phẩm một cách có hiệu quả cần có những biện pháp tác động phù hợp như xử lý bằng hóa chất, bổ sung các loại dưỡng chất thoát qua, thêm chất béo vào khẩu phần để làm tăng tỷ
trọng năng lượng hoặc cải thiện tỉ số protein/năng lượng của dưỡng chất hấp thu bằng cách giảm bớt protozoa trong dạ cỏ
Hiện nay tỉnh Thái Nguyên có diện tích chè lớn thứ 2 trong cả nước (17.660 ha), cả 9 huyện, thành thị đều có sản xuất chè Do thiên nhiên ưu đãi
về thổ nhưỡng đất đai, nguồn nước, thời tiết khí hậu, rất phù hợp với cây chè
Vì vậy nguyên liệu chè búp tươi ở Thái Nguyên có phẩm cấp, chất lượng rất cao Trong quá trình sản xuất, hàng năm, có một lượng lớn thân và lá chè già được đốn chặt để tạo búp mầm mới, đây là nguồn nguyên liệu quan trọng để
có thể chiết xuất tannin bằng phương pháp thủ công, đơn giản và rẻ tiền Nguồn tannin này kết hợp với biochar được phối trộn vào khẩu phần ăn của gia súc như là nguồn thức ăn bổ sung sẽ cải thiện khả năng thu nhận thức ăn và tỷ
lệ tiêu hóa cũng như năng suất vật nuôi Tannin có thể ảnh hưởng gián tiếp
thông qua việc giảm số lượng động vật nguyên sinh và vi khuẩn phân giải xơ
trong dạ cỏ Có rất ít thông tin về việc sử dụng tannin kết hợp với biochar (than sinh học) trong khẩu phần của bò ở Việt Nam, vì vậy, chúng tôi tiến
hành thực hiện đề tài:“Ảnh hưởng của tannin chiết xuất từ thân và lá chè
kết hợp với biochar bổ sung vào khẩu phần cơ sở đến tiêu hóa dạ cỏ trong điều kiện in vitro”
Trang 112 Mục tiêu của đề tài
2.1 Mục tiêu chung của đề tài
Xác định được ảnh hưởng của việc bổ sung tannin chiết xuất từ thân, lá chè và biochar vào khẩu phần ăn đến khả năng tiêu hóa VCK và chất hữu cơ
của bò trong điều kiện in vitro
hiệu quả sử dụng protein ở bò
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Hệ sinh thái dạ cỏ
1.1.1 Đặc điểm tiêu hóa dạ cỏ của gia súc nhai lại
1.1.1.1 Đặc điểm của dạ dày kép
Hệ tiêu hóa của gia súc nhai lại được đặc trưng bởi hệ dạ dày kép gồm 4 túi: 3 túi trước (dạ cỏ, dạ tổ ong, dạ lá sách) còn túi thứ 4 gọi là dạ múi khế
- Dạ cỏ là túi lớn nhất, chiếm hầu hết nửa trái xoang bụng, từ cơ hoành đến xoang chậu Dạ cỏ chiếm tới 85 - 92% dung tích dạ dày, 75% dung tích đường tiêu hóa, có tác dụng tích trữ, nhào lộn và lên men phân giải thức ăn Thức ăn sau khi được nuốt xuống dạ cỏ, phần lớn được lên men bởi hệ vi sinh vật cộng sinh nơi đây Chất chứa trung bình trong dạ cỏ có khoảng 850 - 930g nước/kg nhưng tồn tại ở hai tầng: tầng lỏng ở phía dưới chứa nhiều tiểu phần thức ăn mịn, lơ lửng trong đó và tầng trên khô hơn chứa nhiều thức ăn kích thước lớn Ngoài chức năng lên men dạ cỏ còn có vai trò hấp thu Các axit béo bay hơi (AXBBH) sinh ra từ quá trình lên men vi sinh vật được hấp thu qua vách dạ cỏ (cũng như dạ tổ ong và dạ lá sách) vào máu và trở thành nguồn năng lượng cho vật chủ Sinh khối vi sinh vật cùng với những tiểu phần thức ăn có kích thước bé (<1mm) sẽ đi xuống dạ múi khế và ruột để được tiêu hóa tiếp bởi men của đường tiêu hóa
- Dạ tổ ong là phần kéo dài của dạ cỏ có niêm mạc được cấu tạo trông giống như tổ ong và có chức năng chính là đẩy các thức ăn rắn và các thức ăn chưa được nghiền nhỏ trở lại dạ cỏ, đồng thời đẩy các thức ăn dạng nước vào
dạ lá sách Dạ tổ ong cũng giúp cho việc đẩy các miếng thức ăn ợ qua thực quản lên miệng để nhai lại
- Dạ lá sách có niêm mạc gấp nếp nhiều lần (tăng diện tích tiếp xúc),
Trang 13có nhiệm vụ chính là nghiền nát các tiểu phần thức ăn, hấp thu nước cùng các ion Na+, K+…, hấp thu các axit béo bay hơi trong dưỡng chất đi qua
- Dạ múi khế có hệ thống tuyến phát triển mạnh và có chức năng tương tự như dạ dày của gia súc dạ dày đơn, tức là tiêu hóa thức ăn bằng dịch
vị (chứa HCl và men pepsin)
1.1.1.2 Hệ sinh thái dạ cỏ
a Môi trường sinh thái dạ cỏ
Chất chứa dạ cỏ là một hỗn hợp gồm thức ăn ăn vào, vi sinh vật dạ cỏ,
các sản phẩm trao đổi trung gian, nước bọt và các chất chế tiết vào qua vách
dạ cỏ Đây là một hệ sinh thái rất phức hợp trong đó liên tục có sự tương tác
giữa thức ăn, hệ vi sinh vật và vật chủ Dạ cỏ có môi trường thuận lợi cho
vi sinh vật (VSV) yếm khí sống và phát triển Đáp lại, VSV dạ cỏ đóng góp vai trò rất quan trọng vào quá trình tiêu hoá thức ăn của vật chủ, đặc biệt là nhờ chúng có các enzyme phân giải liên kết β-glucosid của xơ trong vách
tế bào thực vật của thức ăn và có khả năng tổng hợp đại phân tử protein từ ammonia (NH3)
Ngoài dinh dưỡng môi trường dạ cỏ có những đặc điểm thiết yếu cho
sự lên men của vi sinh vật cộng sinh như sau: độ ẩm cao (85-90%), pH trong khoảng 6,4-7,0; nhiệt độ khá ổn định (38 - 42oC), áp suất thẩm thẩu ổn định
và là môi trường yếm khí (nồng độ oxy <1%)
b Hệ vi sinh vật dạ cỏ
Hệ vi sinh vật cộng sinh trong dạ cỏ và dạ tổ ong rất phức tạp và được gọi
chung là vi sinh vật dạ cỏ Hệ vi sinh vật dạ cỏ gồm có ba nhóm chính là vi
khuẩn (Bacteria), động vật nguyên sinh (protozoa) và nấm (Fungi); ngoài ra còn
có mycoplasma, các loại virus và các thể thực khuẩn Mycoplasma, virus và thể thực khuẩn không đóng vai trò quan trọng trong tiêu hóa thức ăn Quần thể vi
sinh vật dạ cỏ có sự biến đổi theo thời gian và phụ thuộc và tính chất của khẩu
Trang 14phần thức ăn Hệ vi sinh vật dạ cỏ đều là sinh vật yếm khí và sống chủ yếu bằng
năng lượng sinh ra từ quá trình lên men các chất dinh dưỡng
- Vi khuẩn (bacteria)
Vi khuẩn xuất hiện trong dạ cỏ loài nhai lại trong lứa tuổi còn non, mặc dù
chúng được nuôi tách biệt hoặc cùng với mẹ chúng Thông thường vi khuẩn
chiếm số lượng lớn nhất trong VSV dạ cỏ và là tác nhân chính trong quá trình tiêu hóa xơ Năm 1941 Hungate công bố những công trình nghiên cứu đầu
tiên về VSV dạ cỏ, đến nay đã có hơn 200 loài vi khuẩn dạ cỏ đã được mô tả (Theodorou và France, 1993) [66] Tổng số vi khuẩn dạ cỏ thường vào khoảng
109 - 1010 tế bào/g chất chứa dạ cỏ Trong dạ cỏ vi khuẩn ở thể tự do chiếm khoảng 25- 30%, còn lại bám vào thức ăn, biểu mô và protozoa
Protozoa xuất hiện trong dạ cỏ khi gia súc bắt đầu ăn thức ăn thực vật
thô Sau khi đẻ và trong thời gian bú sữa dạ dày trước không có protozoa
Protozoa không thích ứng với môi trường bên ngoài và bị chết rất nhanh
Trong dạ cỏ protozoa có số lượng vào khoảng 105 - 106 tế bào/g chất chứa dạ
cỏ, ít hơn vi khuẩn nhưng kích thước lớn hơn nên có thể tương đương về sinh
khối Có hơn 100 loài protozoa đã được xác định Mỗi loài gia súc có số loài
+ Bảo tồn mạch nối đôi các axit béo không no
Tuy nhiên có vài ý kiến cho rằng protozoa trong dạ cỏ có một số tác hại
nhất định:
Trang 15+ Protozoa không có khả năng sử dụng NH3 như vi khuẩn Nguồn nitơ đáp ứng nhu cầu của chúng là những mảnh protein thức ăn và vi khuẩn Nhiều nghiên cứu cho thấy protozoa không thể xây dựng protein bản thân từ các axit
amin được Khi mật độ protozoa trong dạ cỏ cao thì một lượng lớn vi khuẩn bị
thực bào bởi protozoa Mỗi protozoa có thể thực bào 600 - 700 vi khuẩn trong một giờ ở mật độ vi khuẩn 109/ml dịch dạ cỏ Protozoa cũng góp phần làm
tăng nồng độ NH3 trong dạ cỏ do sự phân giải protein của chúng
+ Protozoa không tổng hợp được vitamin mà sử dụng vitamin từ thức
ăn hay do vi khuẩn tạo nên nên làm giảm rất nhiều vitamin của vật chủ
- Nấm (Fungi)
Chức năng của nấm trong dạ cỏ là :
+ Mọc chồi phá vỡ cấu trúc thành tế bào thực vật, làm giảm độ bền chặt của cấu trúc này, góp phần phá vỡ các mảnh thức ăn trong quá trình nhai lại,
sự phá vỡ này tạo điều kiện cho Bacteria bám vào cấu trúc tế bào và tiếp tục
phân giải xơ
+ Mặt khác, bản thân nấm cũng tiết ra các loại men phân giải gluxit Phức hợp men tiêu hóa xơ của nấm dễ dàng hòa tan hơn của men vi khuẩn Chính vì thế nấm có khả năng tấn công các tiểu phần thức ăn cứng hơn và lên men chúng với tốc độ nhanh hơn so với vi khuẩn
Như vậy, sự có mặt của nấm làm tăng tốc độ tiêu hóa xơ Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với việc tiêu hóa thức ăn thô xơ bị lignin hóa
1.1.1.3 Quá trình tiêu hóa thức ăn
- Phân giải gluxit
Quá trình phân giải các gluxit phức tạp tạo ra các đường đơn Những phân tử này là sản phẩm trung gian và được lên men tiếp theo bởi vi sinh vật
dạ cỏ Quá trình này sinh ra năng lượng dưới dạng ATP và các AXBBH cho
vật chủ Đó là các axit acetic, propionic và butyric theo một tỷ lệ tương đối khoảng 70:20:8 cùng với một lượng nhỏ izobutyric, izovaleric và valeric
Trang 16- Phân giải protein
Khoảng 40%-60% protein thức ăn đầu tiên được lên men phân giải trong dạ cỏ thành các peptit, sau đó thành các axit amin và được giải phóng vào môi trường dạ cỏ Trong môi trường dạ cỏ hầu hết các axit amin được khử trong các tế bào vi sinh vật thành các α - xetoaxit, amoniac, axit béo bay
hơi mạch ngắn, CO2 Một sản phẩm của quá trình này sau đó được vi sinh vật
sử dụng để tổng hợp thành các phần hữu cơ khác, gồm protein và các axit
nucleic Đây chính là nguồn nguyên liệu chính cho quá trình tổng hợp lên đại
phân tử protein của sinh khối vi sinh vật, lượng sinh khối vi sinh vật này lại cung cấp protein cho vật chủ.
- Phân giải lipit
Lipit trong thức ăn khi vào môi trường dạ cỏ thường có dạng trixylglyxerol và glactolipit, chúng bị thủy phân bởi lipaza của vi sinh vật Glyxerol và galactoza được lên men ngay thành các AXBBH Các AXBBH
giải phóng ra được trung hòa ở pH dạ cỏ chủ yếu dưới dạng muối canxi có độ hòa tan thấp và bám vào bề mặt vi khuẩn và các tiểu phần thức ăn Chính vì
thế tỷ lệ mỡ quá cao trong khẩu phần thường làm giảm khả năng tiêu hóa xơ ở
dạ cỏ Tuy nhiên khả năng tiêu hóa mỡ của vi sinh vật dạ cỏ rất hạn chế, cho nên khẩu phần nhiều mỡ sẽ làm giảm tiêu hóa xơ và thu nhận thức ăn Đối với các thức ăn phụ phẩm xơ hàm lượng mỡ trong đó rất thấp nên dinh dưỡng của gia súc nhai lại ít chịu ảnh hưởng của tiêu hóa mỡ trong dạ cỏ (Nguyễn Xuân Trạch, 2003) [13]
1.2 Đặc điểm của các loại thức ăn thí nghiệm
1.2.1 Một số đặc điểm và tính chất của chè xanh
Cây chè tên khoa học là Camellia sinensis thuộc họ Theaceae Sinh
trưởng và phát triển trong điều kiện tự nhiên có đặc tính sinh học tiêu biểu là
Trang 17chống oxy hóa và khả năng kháng khuẩn Trong quá trình sản xuất, hàng năm, có một lượng lớn thân và lá chè già được đốn chặt để tạo búp mầm mới, đây là nguồn nguyên liệu quan trọng để có thể chiết xuất tannin bằng phương pháp thủ công, đơn giản và rẻ tiền nhất
Thành phần sinh hóa của chè biến động rất phức tạp nó phụ thuộc vào giống, tuổi chè, điều kiện đất đai, địa hình, kỹ thuật canh tác, mùa thu hoạch
Những thành phần sinh hóa chủ yếu trong búp chè gồm có:
a.Tannin:
Tannin là một trong những thành phần chủ yếu quyết định đến phẩm
chất chè Tannin còn gọi chung là hợp chất phenol, trong đó 90% là các dạng
catechin Tỷ lệ các chất trong thành phần hỗn hợp của tannin chè không giống
nhau và tùy theo từng giống chè mà thay đổi Những hợp chất này dựa vào tính chất của chúng có thể phân thành:
- Dạng tan được trong este: phân tử lượng 320 - 360
- Dạng tan trong nước hoặc xeton: phân tử lượng 420 - 450
- Dạng kết hợp với protein (chỉ sau khi dùng dung dịch NaOH 0,5% để
xử lý, mới có thể hòa tan trong dung dịch)
Tannin giữ vai trò quan trọng trong quá trình sinh lý của cây, nó tham
gia vào quá trình oxy hóa khử trong cây Các dạng catechin như epicatechin
galat, epigalocatechin galat tham gia vào quá trình sinh trưởng của cây
Về mặt phẩm chất chè, tannin giữ vai trò chủ yếu trong việc tạo thành màu sắc, hương vị của chè (nhất là đối với việc chế biến chè đen),
vì vậy trong quá trình trồng trọt cần chú ý nâng cao hàm lượng tannin trong nguyên liệu
Trang 18Ngoài ra cây chè còn có các thành phần khác như ancaloit, protein và
axit amin, gluxit và pectin Lá chè xanh còn có chất diệp lục, carotin và
1.2.2 Ure
Ure là một hợp chất hữu cơ của cacbon, nitơ, oxy và hydro, với công
thức CON2H hay (NH2)2CO
Trong một số động vật, các phân tử ure được tạo ra từ cacbon dioxit, nước, muối aspartat và amoniac trong quá trình trao đổi chất được biết đến như là chu trình ure, một chu trình đồng hồ Sự tiêu hao năng lượng này là cần thiết do amoniac, một chất thải phổ biến trong quá trình trao đổi chất, là
một chất độc và cần được trung hòa Việc sản xuất ure diễn ra trong gan và
dưới sự điều chỉnh của N-axetylglutamat Cơ thể người sản xuất ra ít axit uric
do kết quả của sự phân hủy purin, do việc sản xuất axit uric dư thừa có thể
dẫn đến một loại chứng viêm khớp gọi là bệnh gút
Trong công nghiệp ure được sử dụng như là một thành phần của phân hóa học và chất bổ sung vào thức ăn cho động vật, nó cung cấp một nguồn đạm cố định tương đối rẻ tiền để giúp cho sự tăng trưởng
Cũng như các loại gia súc nhai lại, bò có khả năng sử dụng nguồn nitơ phi protein có trong khẩu phần để đáp ứng nhu cầu về protein của chúng Trong dạ
cỏ, nitơ phi protein này được phân giải thành amoniac Các vi sinh vật khu trú trong dạ cỏ sẽ dùng amoniac để tạo nên cơ thể chúng sẽ tổng hợp ra protein của
vi sinh vật Những vi sinh vật này đi từ dạ cỏ vào phần dưới hệ thống tiêu hoá dạ
dày, ruột và được tiêu hoá tại đây, chúng sẽ giải phóng ra các axit amin Các axit
amin này sau đó sẽ được hấp thụ vào máu gia súc
Nhưng dùng ure làm thức ăn cho gia súc rất dễ gặp rủi ro, nếu người dùng không có hiểu biết đầy đủ về cách sử dụng và những hạn chế
Trang 191.2.3 Biochar
Biocarbon hay Biochar là than sinh học, có hạt mịn được sản xuất bằng
phương pháp nhiệt phân từ nguyên liệu có nguồn gốc sinh khối thực vật (rơm,
rạ, cây cối, bã mía, xơ dừa) và rác thải Nhiệt phân là sự phân hủy hóa học của
vật liệu hữu cơ bằng cách đun nóng không có oxy
Phương pháp nhiệt phân có thể sản xuất bằng lò thủ công hoặc sản xuất
trong các nhà máy lớn, cũng có thể bằng Biochar Reactor kéo đi lưu động
Chẳng hạn ở Indonesia có công ty sản xuất ở quy mô công nghiệp với công
suất tới 200 tấn biocarbon/ngày
Biocarbon được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau như để hấp
thụ CO2 góp phần làm giảm khí nhà kính, làm chậm sự biến đổi khí hậu hoặc
để sản xuất biofilter dùng lọc nước uống trong các gia đình, hoặc dùng xử lý
nước thải công nghiệp, nước thải sinh hoạt
1.3 Ảnh hưởng của tannin đến thu nhận thức ăn, tiêu hóa và sự lên men
Tannin là một hợp chất ester giữa đường glucose và một nhóm chất khác, thường là một phức hợp của axit phenolic hoặc axit oxyphenolic Nếu đem thủy phân ra ta thu được đường glucose và các axit gallic và m - digallic, gọi là "gallotannins" Ngoài ra, người ta còn biết có một loại tannin khác gọi
là "ellagitannins" nếu cắt liên kết ra ta thu được chất axit ellagic Tannin
trong thực vật được chia làm 2 loại: một loại tannin có khả năng thủy phân gọi là tannin dễ hòa tan (HTs) và một loại không có khả năng thủy phân gọi là tannin ngưng tụ (CTs)
Tannin đóng vai trò quan trọng trong dinh dưỡng động vật nói chung và trong dinh dưỡng gia súc nhai lại nói riêng Khi gia súc nhai thức ăn có chứa
tannin, phức hợp tannin-protein sẽ tạo thành phức hợp này ổn định trong môi
trường dạ cỏ nhưng chúng sẽ bị phân tách trong dạ múi khế và phần trước của
Trang 20tá tràng nơi có pH thấp Quá trình này bảo vệ chất đạm chống lại sự phân giải
của vi khuẩn và làm tăng tỷ lệ các axit amin có trong thức ăn thoát qua khỏi
dạ cỏ (Waghorn, 2002)[69] Tuy nhiên, tannin làm giảm tính ngon miệng của thức ăn và có thể trở thành chất kháng dinh dưỡng trong dạ cỏ Tannin có ảnh hưởng bất lợi trong quá trình lên men dạ cỏ và tiêu hóa thức ăn Một số nghiên cứu cho rằng tannin tách chiết và các cây chứa tannin làm giảm tỷ lệ
tiêu hóa trong cả in vitro (Bhatta và cs., 2009]; Patra và cs, 2006) [16] và in
vivo (Animut và cs, 2008 [14]; Grainger và cs, 2009)[29] Khi trong khẩu
phần ăn có hàm lượng tannin trên 5% DM thì sẽ làm giảm lượng thu nhận
thức ăn, tỷ lệ tiêu hoá xơ trong dạ cỏ, thậm chí giảm tiêu hoá cả protein, làm bất hoạt các enzyme tiêu hóa (McNaughton, 1987) [41]
Đối với các thức ăn chứa tannin, việc ức chế quá trình sinh methan
chủ yếu là do tannin đậm đặc (Martin và cs, 2008) [37] Có hai cơ chế về hoạt động của tannin (Tavendale và cs., 2005) [65] đó là tannin ảnh hưởng
trực tiếp đến hình thành methan và ảnh hưởng gián tiếp đến giảm tạo ra
hydro do tỷ lệ phân giải thức ăn ở dạ cỏ thấp hơn Tannin trong khẩu phần
ăn của gia súc nhai lại làm giảm methan thông qua việc ức chế trực tiếp hoạt động của các vi khuẩn sản sinh methan, đồng thời tác động gián tiếp đến việc hình thành methan trong dạ cỏ bằng cách ngăn cản sự phát triển của protozoa và các vi sinh vật khác sản sinh khí hydro (Patra, 2010[53];
Tavendale và cs, 2005) [65]
Tannin ở tỷ lệ cao hơn 5% trong khẩu phần có thể gây ảnh hưởng xấu đến thu nhận thức ăn trong khi tỷ lệ tannin thấp hơn không ảnh hưởng đến thu nhận thức ăn của động vật nhai lại Ở tỷ lệ tannin cao sẽ làm giảm tính ngon miệng của khẩu phần, giảm tỷ lệ tiêu hóa trong dạ cỏ và phát triển các cảm giác có điều kiện (Mueller Harvey, 2006) [45] Tannin ức chế hoạt động của
vi sinh vật trong dạ cỏ, từ đó có thể gây ảnh hưởng xấu đến sự lên men trong
dạ cỏ và sự tiêu hóa thức ăn Một số lượng lớn các nghiên cứu đă chỉ ra rằng chiết suất của tannin hoặc các thực vật có chứa tannin làm giảm khả năng tiêu
Trang 21hóa thức ăn trong cả môi trường in vitro (Patra và cs, 2006 [54]; Bhatta và cs, 2009) [16] và in vivo (Grainger và cs, 2009) [29] Thường các kết quả cho
rằng tỷ lệ tannin cao hơn 5% trong khẩu phần có ảnh hưởng xấu đến khả năng
sử dụng dinh dưỡng và sức sản xuất của động vật, nhưng ảnh hưởng này còn phụ thuộc vào loại tannin (Waghorn, 2008) [68] Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra
rằng khả năng tiêu hóa không bị ảnh hưởng bởi tannin ví dụ như ethanol chiết xuất từ Terminalia belerica (Patra và cs, 2006) [54], nhưng khí methan sinh ra
bị giảm đi Việc giảm khả năng phân giải protein trong dạ cỏ gây ra là do phức hợp tannin- protein ngăn cản protein được phân giải bởi vi sinh vật dạ
cỏ Một ảnh hưởng có lợi khác của tannin được báo cáo đó là do sự bảo vệ
protein khỏi sự phân giải trong dạ cỏ nên đã làm tăng nguồn protein metaboliza đưa đến tá tràng, ngăn chặn hiện tượng chướng hơi dạ cỏ và làm
tăng nồng độ axit linoleic liên hợp trong sản phẩm của động vật nhai lại (Waghorn, 2008[68]; Mueller Harver, 2006) [45]
Tannin ở nồng độ cao có thể ảnh hưởng đến thu nhận thức ăn và sự lên men ở dạ cỏ Do đó, xem xét để đưa ra một tỷ lệ tannin thích hợp là rất quan trọng, để có thể không ảnh hưởng xấu đến quá trình trao đổi chất của dạ cỏ
Nghiên cứu của Makkar và cs, (1995) [36] cho thấy khi gia súc ăn khẩu
phần có chứa tannin của cây mẻ rìu thì tổng số protozoa trong dạ cỏ giảm đi đáng kể Các loài cây nhiệt đới chứa nhiều tannin như Lotus pedunculatus khi
sử dụng trong khẩu phần đã làm giảm tới 30% lượng methan thải ra
(Waghorn và cs, 2002 [69]; Woodward và cs, 2004) [73] và có thể thay thế các loại thức ăn thô khác trong khẩu phần
1.3.1 Kỹ thuật sinh khí in vitro
Kỹ thuật sinh khí in vitro được sử dụng để mô phỏng quá trình lên men
dạ cỏ trong phòng thí nghiệm từ lâu Trong kỹ thuật sinh khí in vitro, thức ăn
được ủ với hỗn hợp dịch dạ cỏ, dung dịch đệm và các khoáng chất ở 390C trong một khoảng thời gian nhất định, cụ thể là 3, 6, 9, 12, 24, 36, 48, 72 và
Trang 2296 giờ với ba lần lặp lai Tổng lượng khí sinh ra được ghi chép đầy đủ, kỹ
thuật này cũng xác định được tỷ lệ phân giải in vitro của thức ăn Kết quả của các thí nghiệm này được thể hiện bằng gam vật chất khô, vật chất khô tiêu
hóa hay mỗi gam NDF tiêu hóa
Ưu điểm của phương pháp này là phương pháp được sử dụng phổ biến, đơn giản, chi phí thấp Một lúc ta có thể chạy hàng trăm nghiệm thức Chúng
ta cũng có thể tăng số lần lặp lại của mỗi nghiệm thức để đảm bảo được độ tin cậy cao của các số liệu thu được Phương pháp này rất phù hợp với các nước đang phát triển, nơi mà nguồn kinh phí phục vụ cho nghiên cứu chưa nhiều Một nhược điểm lớn của phương pháp này là chỉ mô phỏng sự lên men dạ cỏ của thức ăn mà không phải là quá trình tiêu hóa thức ăn của con vật Hơn nữa,
hệ vi sinh vật không có thời gian thích nghi chuẩn
1.3.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả sinh khí trong các thí nghiệm
in vitro gas production
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến kết quả của phương pháp in vitro
gas production đã được Wilkins (1974) [71] và Rymer và cs (2005) [59] tổng
kết: Các yếu tố này gồm: Khối lượng, kích thước mẫu và chuẩn bị mẫu, dịch
dạ cỏ, thành phần dung dịch đệm, sử dụng mẫu trắng (Blank), thiết bị, dụng
cụ sử dụng trong thí nghiệm Theo Theodorou và cs (1994) [66] tăng khối lượng mẫu (chất nền) sẽ làm thể tích khí tăng lên, nhưng tốc độ sinh khí không bị ảnh hưởng Khối lượng phù hợp với các thức ăn dễ lên men nên là 200mg, với các thức ăn lên men chậm khối lượng nên là 300mg để đảm bảo rằng lượng khí sinh ra khi ủ mẫu không lớn hơn 100ml (Menke và Steingass, 1988) [42] Kích thước mẫu có ảnh hưởng đến tốc độ sinh khí trong thời gian
ủ Các mẫu được nghiền nhỏ có khả năng lên men nhanh hơn các mẫu không được nghiền (Menke và Steingass, 1988) [42] giải thích rằng: Nghiền nhỏ
mẫu đã làm tăng diện tích tiếp xúc bề mặt của các mảnh thức ăn với vi sinh
vật trong môi trường ủ Dehority và Johnson (1961) [26] chỉ ra rằng độ nghiền
Trang 23nhỏ của hạt thức ăn thí nghiệm tốt nhất là không lớn hơn 1mm Menke và Steingass (1988) [42] thấy lượng khí sinh ra trong cả hai trường hợp mẫu được làm lạnh - khô và sấy khô bằng tủ sấy ở 600 C trong 48 giờ là như nhau Cone và Van Gender (1998) [24] cũng chỉ ra rằng làm lạnh - khô mẫu và sấy mẫu bằng lò sấy không làm thay đổi lượng khí sinh ra trong quá trình ủ Tuy nhiên, khi ủ mẫu cỏ tươi thì lượng khí sinh ra khác so với các mẫu đã được làm khô (Cone và Van 12 Gender, 1998) [24] Theo Sanderson và cs (1997) [61],
tốc độ lên men của mẫu ủ trong điều kiện in vitro chính xác hơn so với các
mẫu chưa qua xử lý Lowman và cs (2002) giải thích rằng ở các mẫu được sấy
khô, vi sinh vật có thể tấn công sớm và mãnh liệt hơn so với các mẫu tươi, vì
vậy, quá trình lên men phân giải diễn ra nhanh hơn Nồng độ của dịch ủ cao làm tăng thể tích khí sinh ra khi ủ cùng một khối lượng mẫu với thời gian ủ
như nhau Theo Rymer và cs (2005) [59], tốc độ sinh khí trong thí nghiệm in
vitro có mối quan hệ với nồng độ dịch dạ cỏ trong dung dịch ủ Pell và
Schofield (1993) [55] đề nghị nên dùng dung dịch ủ với thức ăn thí nghiệm có nồng độ dịch dạ cỏ/dung dịch ủ tối thiểu là 20ml/100ml (tỷ lệ 1/5) Thời gian lấy dịch dạ cỏ cũng có ảnh hưởng đến kết quả sinh khí trong các thí nghiệm
sinh khí in vitro Nên lấy dịch dạ cỏ trước khi cho gia súc ăn sáng (Menke và
Steingass, 1988) [42] Cone và cs (1996) [23] chỉ ra rằng, tốc độ lên men của thức ăn tăng dần khi dịch dạ cỏ được lấy sau khi cho gia súc ăn sáng mặc dù tổng lượng khí sinh ra không thay đổi Nagadi và cs (2000) [46] không thấy
có sự khác nhau về hoạt động của vi sinh vật trong dịch dạ cỏ khi lấy dịch
cách nhau 72 giờ Thức ăn cũng có ảnh hưởng đáng kể đến thành phần và thể tích khí sinh ra Theo Trei và cs (1970) [67], khi mẫu ủ là rơm non thì lượng khí sinh ra cao hơn so với mẫu ủ là hạt ngũ cốc Menke và Steingass (1988) [42]; Nagadi và cs (2000) [46] thấy rằng khẩu phần ăn của bò lấy dịch dạ cỏ ảnh hưởng đáng kể đến thành phần và thể tích khí sinh ra Calabro và cs (2005)
Trang 24[20] thấy có ảnh hưởng của loài lấy dịch đến thành phần và thể tích khí sinh
ra Dịch dạ cỏ được làm lạnh với dung dịch đệm làm giảm thời gian phân huỷ chất hữu cơ tức là tăng tốc độ sinh khí Menke và Steingass (1988) [42] đưa ra các yêu cầu trong chuẩn bị mẫu dịch ủ như sau: Dịch ủ phải luôn được giữ trong bình nước ấm 390C và được sục khí CO2 để đảm bảo yếm khí, dung dịch ủ được pha chế theo tỷ lệ giữa dung dịch đệm 2 và dung dịch dạ cỏ là 2/1 Việc sử dụng mẫu trắng - mẫu chỉ có dịch dạ cỏ trong quá trình thí
nghiệm sinh khí in vitro (thường là 3 mẫu) chỉ chứa 30 ml dung dịch ủ trong
xylanh không chứa mẫu là rất quan trọng Đo đạc, tính toán lượng khí sinh ra
từ các xylanh này để có thể hiệu chỉnh lượng khí sinh ra từ các mẫu thức ăn đem ủ một cách chính xác hơn Cone và Van Gender (1998) [24] chỉ ra rằng tốc độ khí sinh ra từ các mẫu trắng không giống như các mẫu ủ thức ăn thí nghiệm Rymer và cs (2005) [59] so sánh ba loại thiết bị được sử dụng trong
các thí nghiệm sinh khí in vitro và thấy rằng có sự sai khác về lượng khí sinh
ra khi dùng các thiết bị khác nhau Davies và cs (2000) [25] khi so sánh thiết
bị của Theodorou và cs (1994) [66] với thiết bị của Cone và cs (1996) [23] cũng có kết luận tương tự Như vậy, khi sử dụng các dụng cụ khác nhau phải lưu ý để hiệu chỉnh cho phù hợp trong việc tính toán kết quả sinh khí của các mẫu thức ăn thí nghiệm
1.4 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
1.4.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Từ trước đến nay, trong lĩnh vực thức ăn chăn nuôi chúng ta có hai quan điểm trái chiều nhau về vai trò cũng như tác dụng của tannin Một số nhà khoa học cho rằng tannin là một hợp chất kháng dinh dưỡng vì tannin kết
hợp với protein của thức ăn và với cả enzyme đường tiêu hoá làm giảm tỷ lệ
tiêu hoá protein thức ăn, giảm thu nhận thức ăn, giảm sinh trưởng, giảm sản lượng của vật nuôi và cần phải khắc phục ảnh hưởng có hại của tannin bằng
Trang 25cách xử lý kiềm (bổ sung ure) hoặc phối hợp thức ăn chứa tannin với sunphat
sắt hoặc polyethilene glycol - 4000 (PEG-4000) (Vũ Duy Giảng, 2001) [5]
Ngược lại, theo Nguyễn Xuân Trạch (2003) [13] lại cho rằng bổ sung tannin vào khẩu phần ăn của gia súc nhai lại ở mức thấp (20-40 g/kg vật chất khô
thức ăn) sẽ làm tăng hiệu quả sử dụng protein của gia súc Để đạt được hai mục tiêu giảm thiểu methan và duy trì được tỷ lệ tiêu hóa của khẩu phần,
chúng ta cần phải xác định được nguồn tannin cũng như tỷ lệ bổ sung thích hợp vào khẩu phần ăn của gia súc nhai lại
Trong cây, ở các bộ phận càng được tiếp xúc nhiều với ánh sáng mặt trời thì hàm lượng tannin càng cao Trong khi đó, Việt Nam là nước nằm trong khu vực nhiệt đới, thời gian chiếu sáng hằng năm lớn Hầu hết các loài thực vật đều chứa một hàm lượng tannin nhất định Đặc biệt các loài thực vật
có vị chát thì hàm lượng tannin khá cao Ví dụ như tannin của lá chè chiếm
12,68% vật chất khô (Lê Tự Hải, 2010) [9], trong cây keo lá tràm (Acacia
auriculiformis) và cây kim phượng (Bonducpina pulcierrina) có hàm lượng
tannin lần lượt là 16,63 và 7,69% vật chất khô (Hồ Thị Liễu, 2004) [8] Như vậy ta có thể sử dụng nguồn tannin sẵn có từ thực vật để bổ sung vào khẩu phần ăn của gia súc nhai lại
Tại miền Bắc, trong khuôn khổ chương trình hợp tác với Vương quốc
Bỉ, một hệ thống dinh dưỡng cho bò sữa cũng đã được nghiên cứu, xây dựng
dựa trên kết quả các thí nghiệm in vivo trên cừu, thí nghiệm in vitro với
enzyme pepcine-cellulose kết hợp với việc phân tích thành phần hóa học của
hàng trăm mẫu thức ăn
Năm 2005, sau khi Viện Chăn nuôi được trang bị hệ thống buồng trao đổi chất hiện đại, tiến hành triển khai đề tài “Nghiên cứu xác định giá trị năng lượng trao đổi (ME), năng lượng thuần cho duy trì (NEm), tỷ lệ tiêu hóa hồi tràng của một số loại thức ăn sẵn có ở địa phương cho gia súc, gia cầm” từ
Trang 262008 -2013
Nguyễn Thị Hồng Nhân (2008) [10] đã nghiên cứu ảnh hưởng của dầu đậu nành đến môi trường dạ cỏ, lượng thức ăn ăn vào và tỷ lệ tiêu hóa của các khẩu phần ăn khác nhau trên bò lai Sind Kết quả cho thấy bò uống dầu đậu nành một lần trước khi vỗ béo với liều 6ml/kg khối lượng cơ thể làm tăng tỷ
lệ tiêu hóa thức ăn đối với khẩu phần có chiếm đến 50% các phụ phẩm nông nghiệp nhiều xơ nghèo dinh dưỡng
Hồ Quang Đồ (2014) [3] nghiên cứu ảnh hưởng của bổ sung các mức tannin trong khẩu phần đến tỷ lệ tiêu hóa, lượng ăn vào và các thông số dịch
dạ cỏ của bò Kết quả thí nghiệm cho thấy khi bổ sung các mức tanin từ 4-6%,
hàm lượng khí methan sinh ra có khuynh hướng giảm có ý nghĩa so với
nghiệm thức đối chứng (p<0,05) Lượng DM ăn vào (kgDM/ngày), tỷ lệ tiêu hóa (%), khả năng tăng trọng (kg/ngày) của động vật thí nghiệm cao hơn so với nghiệm thức đối chứng và khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05) Bổ sung mức tannin 6% trong khẩu phần cho tỷ lệ tiêu hóa và tăng trưởng cao hơn so với các nghiệm thức thí nghiệm
Phạm Quang Ngọc (2014) [11], nguồn tannin đã có ảnh hưởng rất khác
nhau đến lượng methan sinh ra và lên men, tiêu hóa dạ cỏ trong điều kiện in
vitro Về tổng thể khi xem xét cả lượng methan sinh ra và lên men, tiêu hóa dạ
cỏ trong điều kiện in vitro thì tannin từ tannin tinh khiết, lá keo tai tượng, keo lá
tràm, lá sắn tốt hơn Tannin từ lá chè kém nhất về hiệu quả tổng hợp Lượng
tannin bổ sung đã có ảnh hưởng rất khác nhau đến lượng methan sinh ra và lên men, tiêu hóa dạ cỏ trong điều kiện in vitro Về tổng thể khi xem xét cả lượng
methan sinh ra và lên men, tiêu hóa dạ cỏ trong điều kiện in vitro thì mức tannin
3% từ lá keo tai tượng, keo lá tràm tốt nhất về hiệu quả Riêng tannin tinh khiết
có thể dùng hiệu quả nhất ở mức 4%
1.4.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Tannin đóng vai trò quan trọng trong dinh dưỡng động vật nói chung và
Trang 27trong dinh dưỡng gia súc nhai lại nói riêng Khi gia súc ăn thức ăn có chứa tannin, phức hợp tannin-protein sẽ được tạo ra, chúng ổn định trong môi trường
dạ cỏ, nhưng chúng sẽ bị phân tách trong dạ múi khế và phần trước của tá tràng nơi có pH thấp Quá trình này bảo vệ chất đạm chống lại sự phân giải của vi khuẩn và làm tăng tỷ lệ các axit amin có trong thức ăn thoát qua khỏi dạ cỏ (Waghorn, 2008) [68] Tuy nhiên, hàm lượng tannin quá cao sẽ làm giảm tính ngon miệng của thức ăn và có thể trở thành chất kháng dinh dưỡng trong dạ cỏ
Do tannin có ảnh hưởng bất lợi trong quá trình lên men dạ cỏ và tiêu hóa thức
ăn Một số lượng lớn các nghiên cứu đã chỉ ra rằng chiết suất của tannin hoặc các thực vật có chứa tannin làm giảm khả năng tiêu hóa thức ăn trong cả môi
trường in vitro (Patra và cs, 2006[54]) và in vivo (Grainger và cs, 2009) [29]
Tỷ lệ tannin thấp trong khẩu phẩn thì không ảnh hưởng đến thu nhận thức ăn của động vật nhai lại, nhưng khi trong khẩu phần ăn có hàm lượng tannin trên 5% trong vật chất khô thì sẽ làm giảm lượng thu nhận thức ăn, tỷ lệ tiêu hoá xơ trong dạ cỏ, thậm chí giảm tiêu hoá cả protein, làm vô hoạt các enzyme tiêu hóa (McNaughton, 1987) [41] Theo Mueller Harvey (2006) [45] thì ở tỷ lệ tannin cao sẽ làm giảm tính ngon miệng của khẩu phần, giảm
tỷ lệ tiêu hóa trong dạ cỏ Hơn thế nữa, tương tác giữa tannin và khẩu phần ăn cũng có thể ảnh hưởng đến sự thu nhận thức ăn tự nguyện Thường các kết quả cho rằng tỷ lệ tannin cao hơn 5% trong khẩu phần có ảnh hưởng xấu đến khả năng sử dụng dinh dưỡng và sức sản xuất của động vật, nhưng ảnh hưởng này còn phụ thuộc vào loại tannin (Waghorn, 2008) [68]
Makkar và cs (1995) [36] cho biết khi gia súc ăn khẩu phần có chứa
tannin của cây mẻ rìu thì tổng số protozoa trong dạ cỏ giảm đi đáng kể Các loài cây nhiệt đới chứa nhiều tannin như Lotus pedunculatus khi sử dụng trong khẩu phần đã làm giảm tới 30% lượng methan thải ra (Waghorn và cs.,
2002 [69]; Woodward và cs., 2004) [73] và có thể thay thế các loại thức ăn thô khác trong khẩu phần
Trang 28Trong cây chè, tannin là một trong những thành phần chủ yếu quyết định đến chất lượng chè Hàm lượng tanin trong lá chè chiếm từ 25% đến 32% chất khô Đây là một nguồn bổ sung tannin hiệu quả trong khẩu phần
ăn của gia súc nhai lại do nguồn cung cấp phong phú từ phụ phẩm công nghiệp chè
Có nhiều loại cây giàu tannin bổ sung và khẩu phần ăn của gia súc nhai
lại có thể làm giảm phát thải khí methan trong cả hai điều kiện in vitro và in
vivo Trong điều kiện in vitro, khi bổ sung 20% Biophytum petersianum (có
4,3% tannin) và Sesbania grandiflora (có 1,9% tannin) vào chất nền đã làm giảm lần lượt từ 17 - 25% và 9,2 -10,3% lượng methan thải ra mà không ảnh
hưởng đến tỷ lệ tiêu hóa chất khô (Hariadi và Santoso, 2010) [31] Trong điều
kiện in vivo, Grainger và cs (2009) [29] đã bổ sung hai mức tannin (8,6 và 14,6 g/kg DMI) được tách chiết từ Acacia mearnsii vào khẩu phần của bò sữa
chăn thả ăn 4,5 kg thức ăn tinh Kết quả cho thấy việc bổ sung này đã làm
giảm thiểu 11,5 và 28% methan thải ra, nhưng cũng làm giảm tỷ lệ tiêu hóa
của khẩu phần
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng khả năng tiêu hóa không bị ảnh hưởng
bởi tannin ví dụ như ethanol chiết suất từ Terminalia belerica (Patra và cs., 2006) [54], Quebrachotannins (Bhatta và cs., 2009) [16], Biophytum
petersianum, Acacia magnum và Jatropa curcas nhưng khí methan sinh ra bị giảm đi Việc giảm khả năng phân giải protein trong dạ cỏ gây ra là do phức hợp tannin- protein ngăn cản protein được phân giải bởi vi sinh vật dạ cỏ, điều mà cần thiết để sử dụng được protein đó (Muelle Harvey, 2006) [45]
Tannin trong khẩu phần ăn của gia súc nhai lại làm giảm methan thông
qua việc ức chế trực tiếp hoạt động của các vi khuẩn sản sinh methan, đồng thời tác động gián tiếp đến việc hình thành methan trong dạ cỏ bằng cách ngăn cản sự phát triển của protozoa và các vi sinh vật khác sản sinh khí hydro
Trang 29(Patra, 2010[53]; Tavendale và cs, 2005) [65]
Như vậy, tannin có cả ảnh hưởng tích cực và tiêu cực tùy thuộc nguồn
và tỷ lệ bổ sung vào khẩu phần
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Phụ phẩm từ sản xuất chè (cành, lá chè già) để chiết xuất tannin
- Biochar
- Tiêu hóa dịch dạ cỏ trong điều kiện in vitro
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: từ tháng 1/2016 đến tháng 8/2016
Địa điểm nghiên cứu: Tại Trung tâm nghiên cứu và Phát triển chăn nuôi miền núi - Viện Chăn nuôi
2.3 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu khả năng sinh khí và tiêu hóa các chất hữu cơ được thực hiện trong phòng thí nghiệm tại Trung tâm nghiên cứu và Phát triển chăn nuôi miền núi - Viện Chăn nuôi
2.4 Nội dung nghiên cứu
Nội dung 1: Xác định ảnh hưởng của các mức tannin chiết xuất từ thân,
lá chè và biochar khác nhau với ure bổ sung vào làm chất nền đến tổng lượng khí sản sinh và tỷ lệ tiêu hóa trong điều kiện in vitro
Nội dung 2: Xác định ảnh hưởng của các mức tannin chiết xuất từ thân,
lá chè và biochar khác nhau với ure bổ sung vào làm chất nền đến một số chỉ
tiêu của dung dịch dạ cỏ
2.5 Phương pháp
Sau khi xác định được vật chất khô của mẫu (khẩu phần cơ sở), tannin
chiết suất từ thân, lá chè, ure, biochar sẽ được bổ sung vào khẩu phần cơ sở với
Trang 30các tỷ lệ khác nhau Mẫu phối trộn này được gọi là khẩu phần Như vậy sẽ có 15 khẩu phần (1 mẫu đối chứng và 15 mẫu thí nghiệm) Sau khi phối trộn, tất cả các mẫu này sẽ được chia làm hai phần, một phần đem phân tích thành phần hóa
học, phần còn lại đưa vào làm thí nghiệm in vitro gas production
Thí nghiệm in vitro gas production
Phương pháp thí nghiệm in vitro gas production được tiến hành
theo thủ tục của Menke và Steingass (1988) [42] gồm các bước: chuẩn bị mẫu thức ăn ủ, xylanh và dịch dạ cỏ, dung dịch đệm và pha chế dịch ủ; tiến hành thí nghiệm
Các mẫu thức ăn sau khi sấy khô, nghiền các nguyên liệu thức ăn, khẩu phần và thức ăn bổ sung được nghiền nhỏ đến kích thước ≤1mm
Mẫu thức ăn (khẩu phần ăn cơ sở) được xây dựng theo dạng hỗn hợp hoàn chỉnh, có mật độ dinh dưỡng đáp ứng nhu cầu cho bò sinh trưởng theo
tiêu chuẩn NRC (1996) (10-11 MJ/kgVCK và 12-14% protein thô) phối trộn
tại Trung tâm nghiên cứu và Phát triển chăn nuôi miền núi - Viện Chăn nuôi Nguyên liệu dùng để xây dựng khẩu phần cơ sở là các nguồn thức ăn sẵn có (cỏ voi, đậu tương, bột sắn, cám ngô, cám gạo ) thường dùng trong các cơ sở chăn nuôi
Mẫu thức ăn được cân vào xylanh (khối lượng 200 ± 5mg/mẫu), đặt vào
tủ ấm ở 390C trước khi được trộn với dịch dạ cỏ
Dịch dạ cỏ lấy từ 2 bò giống lai Sind có độ tuổi 23 - 24 tháng tuổi ăn khẩu phần thức ăn cơ sở ít nhất 14 ngày, tiến hành lấy dịch dạ cỏ vào buổi sáng bằng máy hút dịch dạ cỏ trước khi cho ăn và bảo quản trong phích bảo ôn Dịch
Trang 31dạ cỏ trước khi tiến hành đem pha chế thành dung dịch ủ phải được lọc (có thể lọc bằng vải gạc) để đảm bảo loại trừ các mảnh thức ăn lớn còn lẫn ở trong dịch dạ cỏ làm ảnh hưởng không tốt đến kết quả sinh khí trong thí nghiệm
Dung dịch đệm được chuẩn bị từ ngày trước để sáng hôm sau đặt vào bể nước ấm 390C trước khi pha chế với dịch dạ cỏ
Sau khi đã chuẩn bị xong hỗn hợp dung dịch ủ, cho dung dịch ủ vào xylanh mẫu (ở mức 30ml ± 0,5ml/xylanh) và nhẹ nhàng đặt xylanh vào giá gỗ Xylanh sẽ được đặt vào tủ ấm có quạt đối lưu đảm bảo nhiệt độ luôn là 390C ± 0,5C ủ liên tục 96 giờ Trong quá trình ủ cứ 3 giờ xylanh được lắc một lần để đảm bảo chất nền được trộn đều trong dịch dạ cỏ
- Đo pH: Hút 20 - 30ml dịch dạ cỏ cho vào bình tam giác, đo bằng pH kế Sibata
- Đếm protozoa: Lắc đều dịch dạ cỏ trong bình tam giác, hút dịch dạ cỏ cho vào vỏ lọ penicillin (mỗi lọ 1ml ), pha với 4ml dung dịch blue methylene Dùng buồng đếm Malassez có độ sâu 0,2mm và đếm protozoa qua vật kính x
10 (Dehority, 1984)
- Đếm vi khuẩn: Lắc đều dịch dạ cỏ trong bình tam giác, hút dịch dạ
cỏ cho vào 2 ống nghiệm, mỗi ống xử lý bằng 1ml formol 0,05% và 1ml
lugol Sau đó nhỏ lên buồng đếm Neubauer và đếm qua vật kính x 40
(Warner, 1962)
Chuẩn bị dung dịch đệm và pha chế dịch ủ:
Dung dịch đệm thường gồm các loại sau: dung dịch đệm 1, dung dịch
khoáng đa lượng, dung dịch khoáng vi lượng, dung dịch resazurin (dung dịch chỉ
Trang 32thị) Các dung dịch trên có thể được pha chế trước và bảo quản đến ngày trước khi
tiến hành thí nghiệm in vitro gas production thì pha chế thành dung dịch đệm 2
(dung dịch này chỉ được pha chế ngay trước khi tiến hành thí nghiệm, nên thường gọi là dung dịch tươi) Các dung dịch đệm 1, dung dịch khoáng đa lượng, dung dịch khoáng vi lượng, dung dịch đệm 2 được pha chế theo bảng 2.1 và 2.2
Bảng 2.1: Bảng pha chế các dung dịch đệm 1, dung dịch khoáng
đa lượng, dung dịch khoáng vi lượng cần thiết và dung dịch resazurin
Hoà với nước cất thành 1 lít dung dịch 1 g CoCl2.6H2O
5,7 g Na2HPO4 Hoà với nước cất thành 100 ml
Trang 333 Na2S.9H2O (g) 0,168 0,336 0,360 0,470 0,504 0,672
Dung dịch đệm 2 sau khi pha xong được đổ vào một bình tam giác và đặt trong một bể nước ấm 38 - 390C (trong nghiên cứu này đặt dung dịch đệm 2 trong máy khuấy từ có bể nước làm ấm) trong vòng 25 - 30 phút sau đó cho dung dịch khử vào và liên tục sục khí CO2 vào bình tam giác để tạo môi trường yếm khí cho đến khi mẫu dung dịch chuyển sang màu hồng nhạt sau đó chuyển màu sáng Bình tam giác vẫn được giữ ấm và liên tục được sục khí CO2 cho đến khi trộn lẫn dịch dạ cỏ vào Dung dịch ủ bao gồm dung dịch đệm 2 và dịch dạ cỏ
đã được lọc trộn lẫn theo tỷ lệ dung dịch đệm 2/ dung dịch dạ cỏ là 2/1 Sau khi
đã pha chế xong dung dịch đệm 2 và chuẩn bị xong dung dịch dạ cỏ tiến hành đổ dung dịch dạ cỏ vào bình tam giác nói trên theo tỷ lệ 1/2 và vẫn tiếp tục sục khí
CO2, dung dịch được tạo ra là dịch ủ Dung dịch này được giữ ấm ở 38 - 390C và liên tục sục khí CO2 cho đến khi bơm vào các xylanh chứa mẫu
Bảng 2.3 Sơ đồ bố trí thí nghiệm in vitro
Trang 34KP11 Tannin (4%) + Biochar (1,0%) + ure (2%) 3 KP12 Tannin (4%) + Biochar (1,5%) + ure (2%) 3 KP13 Tannin (6%) + Biochar (0,5%) + ure (2%) 3 KP14 Tannin (6%) + Biochar (1,0%) + ure (2%) 3 KP15 Tannin (6%) + Biochar (1,5%) + ure (2%) 3
Tiến hành thí nghiệm
Sau khi đã pha xong dung dịch ủ, chuẩn bị xong các xylanh chứa mẫu tiến hành cho dung dịch ủ vào xylanh Lấy 30ml dung dịch ủ cho vào xylanh giữ xylanh và đẩy hết không khí ra ngoài một cách nhẹ nhàng đến khi khí thoát ra hết, buộc (kẹp) đầu kia lại và nhẹ nhàng đặt xylanh vào tủ ấm có quạt đối lưu đảm bảo nhiệt độ luôn luôn là 390C ± 0,5C Các xylanh chứa mẫu ủ với dịch ủ và các Blank (xylanh không có mẫu chỉ có dung dịch ủ) được đặt trên cùng giá nhưng các vị trí ngẫu nhiên và đặt vào tủ ấm Sau 30 phút kể từ khi ủ lắc nhẹ xylanh và sau đó cứ một giờ lắc một lần trong suốt 10 giờ ủ đầu tiên Ghi chép chỉ số "ml" trên xylanh ở thời điểm 0; 3; 6; 9; 12; 24; 48; 72 và
96 giờ sau khi bắt đầu ủ Nhẹ nhàng cho thoát khí (xả khí) ra nếu pittong bị đẩy đến vạch 60ml và đưa pittong về vị trí ban đầu ở thời điểm 0 giờ Sự giải thoát khí này nhằm giải phóng lượng khí sinh ra trong xylanh có thể tích lại
gây áp lực làm ảnh hưởng không tốt đến hoạt động của vi sinh vật dạ cỏ trong dung dịch ủ Khi tiến hành thí nghiệm in vitro gas production cần thiết phải
sử dụng "mẫu trắng" hay còn gọi là các Blank thường chỉ chứa 30ml dung
dịch ủ trong các xylanh để tính lượng khí mà vi sinh vật sinh ra từ các chất
hữu cơ còn sót lại trong dịch dạ cỏ và khí sinh ra gián tiếp từ môi trường đệm Kết quả sinh khí từ các Blank được sử dụng để hiệu chỉnh khi tính toán kết quả sinh khí thực của các mẫu thức ăn thí nghiệm
Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp xác định:
Trang 35Động thái lên men: Tổng lượng khí sản sinh ở thời điểm 0; 3; 6; 12; 24;
48; 72 và 96 giờ sau khi bắt đầu ủ được ghi chép để xác định động thái lên men của từng loại thức ăn có hàm lượng tannin cao
Động thái lên men của các mẫu thức ăn:
Được xác định theo phương trình của Orskov và Mc Donald (1979)
Phương trình có dạng như sau:
Y = a + b(1 - e-ct) Trong đó:
Y: là thể tích khí sinh ra ở thời điểm t (ml)
a: là lượng khí sinh ra từ các chất dễ hoà tan thường ở ngay tại thời điểm ban đầu khi ủ mẫu (ml)
b: là lượng khí sinh ra từ các chất hữu cơ khó hoà tan trong suốt quá trình ủ (ml)
a+b: là tổng lượng khí sinh ra của mẫu thức ăn đem ủ hay tiềm năng sinh khí của thức ăn đó (ml)
Trang 36Sấy khô, nghiền các nguyên liệu thức ăn khẩu phần và thức ăn bổ sung được nghiền nhỏ đến kích thước ≤1mm
Mẫu thức ăn (khẩu phần ăn cơ sở) được xây dựng theo dạng hỗn hợp hoàn chỉnh, có mật độ dinh dưỡng đáp ứng nhu cầu cho bò sinh trưởng theo tiêu chuẩn NRC (1996) (10-11 MJ/kgVCK và 12-14% protein thô) phối trộn tại Trung tâm nghiên cứu và Phát triển chăn nuôi miền núi - Viện Chăn nuôi Nguyên liệu dùng để xây dựng khẩu phần cơ sở là các nguồn thức ăn sẵn có (cỏ voi, đậu tương, bột sắn, cám ngô, cám gạo) thường dùng trong các cơ sở chăn nuôi
Tannin tổng số được phân tích theo phương pháp của AOAC (1975) tại phòng phân tích hóa học - Viện khoa học sự sống thể hiện bằng (%VCK)
Xác định giá trị năng lượng trao đổi (ME) và axit béo mạch ngắn (SCFA)
Dựa vào lượng khí sinh ra tại thời điểm 24h sau khi ủ, kết hợp với thành phần hóa học của từng loại cây thức ăn để ước tính giá trị năng lượng trao đổi của chúng thông qua các phương trình của Menke và Steingass (1988)
ME (MJ/kg VCK) = 2,20 + 0,136*GP24 + 0,057*CP + 0,0029*CP2
Trong đó: GP24 (ml) là thể tích khí trong xylanh chứa mẫu tại thời điểm
24 giờ sau ủ, CP (%) là tỷ lệ protein thô
Hàm lượng axit béo mạch ngắn (SCFA) (mmol/200gVCK):
Dựa vào khí sinh ra tại thời điểm 24h sau khi ủ để ước tính hàm lượng axit béo mạch ngắn của từng loại cây thức ăn giàu tannin thông qua phương trình của Getachew và cs (1999):
SCFA (mmol/200gVCK) = 0,0239*GP24 - 0,0601
Trong đó: GP24(ml) là thể tích khí trong xylanh chứa mẫu tại thời điểm
24 giờ sau ủ
Trang 37Nguyên lý cơ bản giải thích cho việc có thể dùng tổng lượng khí sinh ra sau 24 giờ ủ và thành phần hóa học để xây dựng phương trình ước tính OMD của các loại thức ăn là: thành phần hóa học nói chung, đặc biệt là
CP, NDF, ADF là các yếu tố quan trọng làm tăng hoặc giảm lên men trong dạ
cỏ (Sommart và cs, 2000 [62]; Getachew và cs, 2004[28]; và do đó sử dụng chúng trong phương trình sẽ tăng độ chính xác của ước tính ME
2.6 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Số liệu được xử lý thô trên bảng tính Excel và phần mềm Neway của Cheng (1996), sau đó được tiến hành xử lý thống kê trên phần mềm SAS Số liệu được phân tích bằng cách sử dụng các mô hình tuyến tính đơn (General Linear Models-GLM) của phần mềm SAS(1998) (SAS Inst Inc, Cary, NC) Dữ liệu được phân tích bằng cách sử dụng phương trình Yij = µ + Ti + εij
Trong đó (ij) là quan sát từ công thức, (i) là sự lặp lại, (µ) là giá trị trung bình tổng thể, (Ti) là giá trị trung bình của từng công thức, (εij) là ảnh hưởng của các yếu tố còn lại So sánh đa chiều các giá trị trung bình của các công thức bằng Duncan’s New Multiple Range Test (DMRT) (Steel và Torrie, 1980)
Trang 38Chương 3 KẾT QUẢ THẢO LUẬN
3.1 Nội dung 1: Xác định ảnh hưởng của các mức tannin chiết xuất từ
thân, lá chè và biochar khác nhau với ure bổ sung vào làm chất nền đến tổng lượng khí sản sinh và tỷ lệ tiêu hóa trong điều kiện in vitro
3.1.1 Thành phần hóa học của các loại thức ăn thí nghiệm
Để nghiên cứu mức độ ảnh hưởng khi bổ sung các mức tannin trong khẩu phần nhằm giảm thiểu lượng khí methan trong dạ cỏ thì việc xác định thành phần vật chất khô và thành phần dinh dưỡng các loại thức ăn bổ sung là điều cần thiết Trong thí nghiệm các mẫu thức ăn được đem đi phân tích thành phần hóa học và đã thu được kết quả tại bảng 3.1
Kết quả bảng 3.1 cho thấy khi bổ sung tannin 2%, 4%, 6% và biochar 0,5%; 1,0%; 1,5%, khác nhau vào khẩu phần ăn cơ sở thì thành phần hóa học của khẩu phần thí nghiệm sẽ thay đổi hàm lượng VCK, hàm lượng protein thô và hàm lượng tannin, còn lại các thành phần khác như: lipit, xơ thô, NDF, ADF, KTS gần như không thay đổi
Hàm lượng VCK mẫu thức ăn thí nghiệm đều thấp hơn so với mẫu đối chứng Khi bổ sung tannin từ các thức ăn bổ sung thì hàm lượng VCK cao nhất là 90,82% và thấp nhất là 89,76% Các khẩu phần còn lại KP2, KP3, KP7, KP8, KP9, KP10, KP11, KP12, KP13, KP14 lần lượt là (90,34%; 89,87; 90,78%; 90,75%; 90,71%; 90,31%; 90,27%; 90,23%; 89,83%; 89,79%) Khi
bổ sung biochar theo tỷ lệ 0,5%, 1,0% và 1,5% ở KP4, KP5, KP6 thì hàm lượng vật chất khô của khẩu phần thí nghiệm cũng thấp hơn so với mẫu đối chứng tương ứng là 91,23%; 91,20% và 91,16%