Đánh giá hiệu quả sử dụng đất của các tổ chức kinh tế được Nhà nước giao đất, cho thuê đất tại huyện Hải Hà tỉnh Quảng Ninh, giai đoạn 2012 2015 (LV thạc sĩ)Đánh giá hiệu quả sử dụng đất của các tổ chức kinh tế được Nhà nước giao đất, cho thuê đất tại huyện Hải Hà tỉnh Quảng Ninh, giai đoạn 2012 2015 (LV thạc sĩ)Đánh giá hiệu quả sử dụng đất của các tổ chức kinh tế được Nhà nước giao đất, cho thuê đất tại huyện Hải Hà tỉnh Quảng Ninh, giai đoạn 2012 2015 (LV thạc sĩ)Đánh giá hiệu quả sử dụng đất của các tổ chức kinh tế được Nhà nước giao đất, cho thuê đất tại huyện Hải Hà tỉnh Quảng Ninh, giai đoạn 2012 2015 (LV thạc sĩ)Đánh giá hiệu quả sử dụng đất của các tổ chức kinh tế được Nhà nước giao đất, cho thuê đất tại huyện Hải Hà tỉnh Quảng Ninh, giai đoạn 2012 2015 (LV thạc sĩ)Đánh giá hiệu quả sử dụng đất của các tổ chức kinh tế được Nhà nước giao đất, cho thuê đất tại huyện Hải Hà tỉnh Quảng Ninh, giai đoạn 2012 2015 (LV thạc sĩ)Đánh giá hiệu quả sử dụng đất của các tổ chức kinh tế được Nhà nước giao đất, cho thuê đất tại huyện Hải Hà tỉnh Quảng Ninh, giai đoạn 2012 2015 (LV thạc sĩ)Đánh giá hiệu quả sử dụng đất của các tổ chức kinh tế được Nhà nước giao đất, cho thuê đất tại huyện Hải Hà tỉnh Quảng Ninh, giai đoạn 2012 2015 (LV thạc sĩ)Đánh giá hiệu quả sử dụng đất của các tổ chức kinh tế được Nhà nước giao đất, cho thuê đất tại huyện Hải Hà tỉnh Quảng Ninh, giai đoạn 2012 2015 (LV thạc sĩ)
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HOÀNG MINH THUÂN
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT CỦA CÁC
TỔ CHỨC KINH TẾ ĐƯỢC NHÀ NƯỚC GIAO ĐẤT,
CHO THUÊ ĐẤT TẠI HUYỆN HẢI HÀ
TỈNH QUẢNG NINH GIAI ĐOẠN 2012 - 2015
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Thái Nguyên, năm 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HOÀNG MINH THUÂN
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT CỦA CÁC
TỔ CHỨC KINH TẾ ĐƯỢC NHÀ NƯỚC GIAO ĐẤT,
CHO THUÊ ĐẤT TẠI HUYỆN HẢI HÀ
TỈNH QUẢNG NINH GIAI ĐOẠN 2012 - 2015
Chuyên ngành: Quản lý đất đai
Mã số: 60.85.01.03
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Đỗ Thị Lan
Thái Nguyên, năm 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc./
Tác giả luận văn
Hoàng Minh Thuân
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình, những ý kiến đóng góp và những lời chỉ bảo quý báu của tập thể và cá nhân trong và ngoài trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Trước tiên, tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc PGS.TS Đỗ Thị Lan, là người trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian nghiên cứu đề tài và viết luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn sự đóng góp ý kiến của các Thầy giáo, Cô giáo Khoa Quản lý Tài nguyên trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Tôi trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Hải Hà, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Hải Hà, Phòng Quản lý đào tạo sau đại học - trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong thời gian nghiên cứu thực hiện đề tài
Tôi xin cảm ơn tới gia đình, những người thân, đồng nghiệp và bạn bè
đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Hoàng Minh Thuân
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
2.1 Mục tiêu tổng quát 3
2.2 Mục tiêu cụ thể 3
3 Ý nghĩa khoa học của đề tài 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài 4
1.1.1 Các khái niệm liên quan đến quản lý, sử dụng đất của các tổ chức 4
1.1.2 Tầm quan trọng của công tác giao và cho thuê đất 5
1.2 Cơ sở pháp lý của đề tài 6
1.3 Tình hình quản lý, sử dụng đất của các tổ chức trên thế giới và Việt Nam 8
1.3.1 Tình hình quản lý, sử dụng đất của một số nước trên thế giới 8
1.3.2 Tình hình quản lý, sử dụng đất của các tổ chức ở Việt Nam 10
1.3.3 Tình hình quản lý, sử dụng đất của các tổ chức trên địa bàn tỉnh
Quảng Ninh 17
1.4 Một số nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực của đề tài 21
Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 23
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 23
Trang 62.1.2 Phạm vi nghiên cứu 23
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 23
2.2.1 Thời gian nghiên cứu 23
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu 23
2.3 Nội dung nghiên cứu 23
2.4 Phương pháp nghiên cứu 24
2.4.1 Phương pháp điều tra, khảo sát thu thập số liệu 24
2.4.2 Phương pháp điều tra, phỏng vấn bán cấu trúc 24
2.4.3 Phương pháp tổng hợp, phân tích xử lý số liệu 25
2.4.4 Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo 25
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 26
3.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và hiện trạng quản lý, sử dụng đất trên địa bàn huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh 26
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 26
3.1.1.1 Vị trí địa lý 26
3.1.1.2 Địa hình, địa mạo 27
3.1.1.3 Khí hậu 27
3.1.1.4 Thủy văn 28
3.1.1.5 Tài nguyên đất 30
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 31
3.1.2.1 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội huyện Hải Hà 31
3.1.2.2 Dân số, lao động, việc làm và thu nhập 32
3.1.2.3 Thực trạng phát triển đô thị và các khu dân cư nông thôn 34
3.1.3 Hiện trạng quản lý, sử dụng đất đai trên địa bàn huyện Hải Hà 35
3.1.3.1 Tình hình quản lý Nhà nước về đất đai 35
3.1.3.2 Hiện trạng sử dụng đất đai năm 2015 của huyện Hải Hà,
tỉnh Quảng Ninh 37
Trang 73.1.3.3 Đánh giá chung về tình hình quản lý, sử dụng đất đai trên địa bàn
huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh 41
3.2 Đánh giá công tác giao đất, cho thuê cho các tổ chức kinh tế trên địa bàn huyện Hải Hà giai đoạn 2012 - 2015 43
3.2.1 Tình hình quản lý, sử dụng đất của các tổ chức kinh tế 43
3.2.2 Tình hình sử dụng đất của các tổ chức so với mục tiêu của dự án khi nhà nước giao đất, cho thuê đất 45
3.2.3 Kết quả giao đất cho các tổ chức kinh tế giai đoạn 2012 - 2015 46
3.2.4 Kết quả cho các tổ chức kinh tế thuê đất trong giai đoạn 2012 - 2015 51 3.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất và giải pháp nâng cao hiệu quả của việc giao đất, cho thuê đất 54
3.3.1 Đánh giá hiệu quả kinh tế 54
3.3.2 Đánh giá hiệu quả xã hội 56
3.3.3 Đánh giá hiệu quả môi trường 58
3.3.4 Giải pháp nâng cao hiệu quả của việc giao đất, cho thuê đất 60
3.4 Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đất của các tổ chức kinh tế trên địa bàn huyện Hải Hà 61
3.4.1 Giải pháp về kinh tế 61
3.4.2 Giải pháp về khoa học công nghệ 62
3.4.3 Giải pháp về tăng cường quản lý, sử dụng đất của các tổ chức kinh tế trong thời gian tới 63
3.4.4 Các giải pháp khác 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
I Tài liệu tiếng Việt 67
II Nguồn internet 70
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CHXHCN : Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
CNH - HĐH : Công nghiệp hóa - hiện đại hóa
CN - XD : Công nghiệp - xây dựng
TT-BTNMT : Thông tư-Bộ Tài nguyên Môi trường
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Cơ cấu các nhóm đất chính huyện Hải Hà năm 2015 30
Bảng 3.2: Tốc độ tăng trưởng kinh tế theo ngành thời kỳ 2012 - 2015 31
Bảng 3.3: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế thời kỳ 2012 - 2015 32
Bảng 3.4: Chuyển dịch cơ cấu lao động thời kỳ 2012 - 2015 33
Bảng 3.5: Diện tích các loại đất của huyện Hải Hà năm 2015 38
Bảng 3.6: Diện tích tự nhiên phân theo đơn vị hành chính 41
Bảng 3.7: Diện tích đất của các tổ chức kinh tế phân theo đơn vị hành chính 44
Bảng 3.8: Tình hình quản lý, sử dụng đất của các tổ chức kinh tế 45
Bảng 3.9: Kết quả giao đất cho các tổ chức kinh tế trên địa bàn 47
Bảng 3.10: Kết quả giao đất cho các tổ chức kinh tế trên địa bàn huyện Hải Hà năm 2013 48
Bảng 3.11: Kết quả giao đất cho các tổ chức kinh tế trên địa bàn huyện
Hải Hà năm 2014 49
Bảng 3.12: Kết quả giao đất cho các tổ chức kinh tế trên địa bàn huyện
Hải Hà năm 2015 49
Bảng 3.13: Tổng hợp tình hình giao đất cho các tổ chức kinh tế giai đoạn 2012 - 2015 50
Bảng 3.14: Kết quả cho các tổ chức kinh tế thuê đất trong năm 2012 51
Bảng 3.15: Kết quả cho các tổ chức kinh tế thuê đất trong năm 2013 51
Bảng 3.16: Kết quả cho các tổ chức kinh tế thuê đất trong năm 2014 52
Bảng 3.17: Kết quả cho các tổ chức kinh tế thuê đất trong năm 2015 53
Bảng 3.18: Tổng hợp kết quả cho các tổ chức kinh tế thuê đất giai đoạn
2012 - 2015 54
Bảng 3.19: Tiền nộp thuế của các tổ chức kinh tế giai đoạn 2012 -2015 55
Bảng 3.20: Hiệu quả xã hội của một số tổ chức trên địa bàn huyện Hải Hà 57
Bảng 3.21: Hiệu quả sử dụng đất của các tổ chức trên địa bàn huyện Hải Hà 59
Bảng 3.22: Tổng hợp giải pháp nâng cao hiệu quả của công tác giao đất, cho thuê đất trên địa bàn huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh 60
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1: Bản đồ địa giới hành chính huyện Hải Hà 27 Hình 3.2: Cơ cấu sử dụng đất theo loại hình sử dụng đất 39 Hình 3.3: Sản xuất sợi tại Phân xưởng kéo sợi số 1 Công ty TNHH Khoa học
kỹ thuật Texhong Ngân Hà tại KCN cảng biển Hải Hà 56
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quá trình phát triển xã hội loài người gắn với tiến trình sử dụng đất của con người Đất đai luôn là yếu tố duy nhất của sự sống vì nếu không có đất sẽ không có sản xuất và cũng không có sự tồn tại của con người Sự phát triển xã hội, quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã từng bước được hình thành, các thành phần kinh tế phát triển mạnh mẽ với xu hướng tất yếu là mọi yếu tố nguồn lực đầu vào của sản xuất kinh doanh và sản phẩm đầu ra đều phải trở thành hàng hoá, trong đó đất đai là một trong những yếu tố quan trọng [31]
Theo kết quả thống kê diện tích đất đai của cả nước năm 2010 do Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố, diện tích mà các tổ chức đang quản lý, sử dụng trên cả nước là 17.232.636 ha, chiếm 52,07% tổng diện tích tự nhiên của
cả nước Trong đó, diện tích đất các tổ chức sử dụng là 10.233.568 ha, chiếm 30,92% tổng diện tích tự nhiên của cả nước; diện tích đất các tổ chức quản lý
là 6.996.069 ha chiếm 21,14% tổng diện tích tự nhiên của cả nước [5]
Tuy nhiên quỹ đất của các tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất là rất lớn nhưng việc quản lý và sử dụng nhìn chung còn chưa chặt chẽ, hiệu quả thấp, còn để xảy ra nhiều tiêu cực như: sử dụng không đúng diện tích, không đúng mục đích, bị lấn chiếm, chuyển nhượng, cho thuê trái phép… Để từng bước khắc phục những tồn tại trên, đồng thời thực hiện Nghị quyết số 16/2007/NQ-CP ngày 27/02/2007 của Chính phủ về chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 21/2014/CT-TTg ngày
01 tháng 8 năm 2014 về việc kiểm kê đất đai, thành lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2014 Đây là việc làm có ý nghĩa thiết thực trong việc tăng
Trang 12cường vai trò quản lý Nhà nước đối với nguồn tài nguyên đặc biệt quan trọng
về đất đai nói chung và diện tích đất đang giao cho các tổ chức quản lý sử dụng nói riêng
Hải Hà là một huyện miền núi nằm ở phía Đông của tỉnh Quảng Ninh, với diện tích tự nhiên rộng 69.013 ha, có đường biên giới giáp với nước Trung Quốc, có vị trí thuận lợi, góp phần trong chiến lược phát triển kinh tế
xã hội của tỉnh Quảng Ninh Huyện Hải Hà nằm trên đường quốc lộ 18A, là tuyến đường giao thông liên hệ giữa các vùng miền giao lưu buôn bán hàng hóa qua Cửa khẩu quốc tế Móng Cái với nước bạn Trung Quốc Trong những năm gần đây, tại các xã thuộc huyện Hải Hà có tốc độ đô thị hóa vẫn còn chậm; vấn đề quản lý nhà nước về đất đai còn nhiều bất cập, giá đất là một trong những nguyên nhân gây ra những khó khăn vướng mắc trong công tác bồi thường thiệt hại khi nhà nước thu hồi đất để thực hiện các dự án đầu tư, khi người sử dụng đất thực hiện nghĩa vụ tài chính khi được giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,… Với phương châm từng mét vuông đất phải hữu ích và khai thác đất đai phải trở thành động lực lớn để thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương thì việc tìm ra các giải pháp quản lý chặt chẽ, khai thác có hiệu quả cao nhất quỹ đất của các tổ chức kinh tế được nhà nước giao đất, cho thuê đất đã trở thành vấn đề hết sức quan tâm của huyện Hải Hà nói riêng và tỉnh Quảng Ninh nói chung
Do vậy, việc thực hiện đề tài “Đánh giá hiệu quả sử dụng đất của các tổ chức kinh tế được Nhà nước giao đất, cho thuê đất tại huyện Hải Hà - tỉnh Quảng Ninh, giai đoạn 2012 - 2015” được đặt ra nhằm đánh giá thực trạng, tìm
ra các giải pháp thiết thực, tích cực để tham mưu cho các ngành và chính quyền các cấp nhằm phát huy hiệu quả công tác quản lý quỹ đất của Nhà nước nói chung
và diện tích đất đang giao cho các tổ chức quản lý sử dụng nói riêng; đặc biệt là diện tích đang giao, cho thuê đối với các tổ chức kinh tế quản lý sử dụng trên địa bàn huyện Hải Hà, để góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
Trang 132 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Đánh giá hiệu quả sử dụng đất của các tổ chức kinh tế được Nhà nước giao đất, cho thuê đất trên địa bàn huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn từ năm 2012 - 2015 và đề xuất giải pháp nâng cao quản lý đất đai
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Điều tra thực trạng tình hình quản lý, sử dụng đất của các tổ chức kinh
tế trên địa bàn huyện Hải Hà nói chung và tổ chức kinh tế nói riêng
- Đánh giá hiệu quả sử dụng đất của các tổ chức kinh tế qua các mặt: kinh tế, xã hội, môi trường
- Đề xuất các giải pháp nâng cao công tác quản lý nhà nước và hiệu quả khai thác sử dụng đất của các tổ chức kinh tế thông qua các cơ chế, chính sách của nhà nước
3 Ý nghĩa khoa học của đề tài
- Nghiên cứu lý luận về công tác giao đất, cho thuê đất đối với các tổ chức kinh tế trên địa bàn tỉnh, nghiên cứu quy trình thực hiện, thủ tục hành chính; cơ chế vận hành việc quản lý đất đai của các tổ chức kinh tế bảo đảm nâng cao hiệu quả sử dụng đất, tăng nguồn thu cho ngân sách; từng bước góp phần phát triển kinh tế - xã hội của địa phương nhanh, bền vững
- Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng làm hạn chế hiệu quả sử dụng đất Các yếu tố khiến người sử dụng đất phải sử dụng đất có hiệu quả thông qua các chính sách ưu đãi đầu tư, chính sách tạo quỹ đất sạch để đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án, chính sách thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất… để điều tiết có hiệu quả nhiệm vụ quản lý quản lý nhà nước trong lĩnh vực này
- Thông qua kết quả nghiên cứu đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất của các tổ chức kinh tế, như: cải cách thủ tục hành chính, cơ chế tài chính hóa trong quản lý đất của các tổ chức kinh tế, xây dựng kế hoạch
cụ thể để chủ động điều hành trong quản lý đất đai (chủ động GPMB, thu hút đầu tư, hạn chế đầu tư ở những khu vực không khuyến khích, xác định những ngành nghề, khu vực cần trải thảm đỏ…)
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
1.1.1 Các khái niệm liên quan đến quản lý, sử dụng đất của các tổ chức
Hiến pháp Nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 tại Chương III, Điều 53 quy định: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý” [27]
Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước, được quản lý theo pháp luật “Tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất Người sử dụng đất được chuyển quyền sử dụng đất, thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của luật Quyền sử dụng đất được pháp luật bảo hộ” [21]
Theo Luật Đất đai năm 2013 [31], một số khái niệm liên quan đến các
tổ chức kinh tế quản lý, sử dụng đất được hiểu như sau:
- Nhà nước giao quyền sử dụng đất (sau đây gọi là Nhà nước giao đất)
là việc Nhà nước ban hành quyết định giao đất để trao quyền sử dụng đất cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất
- Nhà nước cho thuê quyền sử dụng đất (sau đây gọi là Nhà nước cho
thuê đất) là việc Nhà nước quyết định trao quyền sử dụng đất cho đối tượng
có nhu cầu sử dụng đất thông qua hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất
- Tổ chức kinh tế bao gồm doanh nghiệp, hợp tác xã và tổ chức kinh tế
khác theo quy định của pháp luật về dân sự, trừ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Theo Nghị định 102/2014/NĐ-CP, của Chính Phủ ngày 10/11/2014 về
xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, một số khái niệm liên quan đến các tổ chức quản lý, sử dụng đất được hiểu như sau:
Trang 15- Lấn đất là việc người đang sử dụng đất tự chuyển dịch mốc giới hoặc
ranh giới thửa đất để mở rộng diện tích đất
- Chiếm đất là việc sử dụng đất mà không được cơ quan nhà nước có
thẩm quyền cho phép hoặc việc sử dụng đất do được Nhà nước giao, cho thuê nhưng hết thời hạn giao, cho thuê đất không được Nhà nước gia hạn sử dụng
mà không trả lại đất hoặc sử dụng đất khi chưa thực hiện thủ tục giao đất, cho thuê đất theo quy định của pháp luật về đất đai
1.1.2 Tầm quan trọng của công tác giao và cho thuê đất
a) Đối với nhà nước
Nhà nước với tư cách là đại diện cho toàn dân thống nhất quản lý đất đai nhằm bảo đảm cho đất đai được sử dụng đầy đủ, hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả cao nhất Thông qua giao đất và cho thuê đất là Nhà nước đã thực hiện việc quản lý này Khi quyết định giao đất và cho thuê đất, Nhà nước đã tạo ra ràng buộc pháp lý giữa người sử dụng đất và Nhà nước bằng Giấy chứng nhận QSD đất, buộc người sử dụng phải tuân thủ theo Người sử dụng đất có nghĩa vụ sử dụng đất theo các quy định của pháp luật
Thông qua giao đất và cho thuê đất, Nhà nước bảo đảm lợi ích của mình và lợi ích chung của toàn xã hội vì giao đất và cho thuê đất là một hình thức phân phối đất đai cho những người có nhu cầu sử dụng chính đáng Do
đó, giao đất và cho thuê đất cũng góp phần tạo ra công bằng cho toàn xã hội
Công tác giao đất và cho thuê đất đối với các dự án đầu tư sẽ hạn chế được tình trạng sử dụng đất manh mún, quản lý sử dụng đất theo quy hoạch Đất đai được giao hoặc cho thuê đối với các dự án đầu tư thường là đất chưa được đầu tư cơ sở hạ tầng, quá trình thực hiện dự án góp phần tạo ra cơ sở hạ tầng cho xã hội Các dự án đi vào hoạt động sẽ tạo việc làm, giải quyết lao động, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế
b) Đối với người sử dụng đất
Giao và cho thuê đất không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với Nhà nước
Trang 16mà còn có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với người sử dụng đất Nó là cơ sở
về quyền sử dụng cho người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để từ đó người sử dụng có thể khai thác các công năng, tính dụng và khai thác các lợi ích từ đất đai Được Nhà nước giao đất, cho thuê đất cũng đồng nghĩa với việc trao quyền cho người sử dụng đất theo quy định trong pháp luật như quyền được bảo vệ khi bị xâm phạm, quyền được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, quyền được chuyển nhượng, thế chấp,…
c) Đối với các dự án đầu tư
Đất đai là cơ sở đầu tiên để thực hiện dự án đầu tư Bất kỳ dự án đầu
tư của tổ chức kinh tế nào cũng cần có đất để xây dựng, không có đất thì các dự án này không thể thực hiện được Khi thẩm định dự án để ra quyết định đầu tư, dù khả năng tài chính có thuyết phục đến mấy mà đất đai không có thì dự án đó không thể khả thi Một trong các bước của quá trình thực hiện dự án đầu tư chính là lựa chọn địa điểm thực hiện dự án Giao đất
và cho thuê đất chính là bước tạo lập cơ sở cho việc thực hiện dự án Để thực hiện một dự án đầu tư thì cần phải có vốn Bất kì một dự án đầu tư nào cũng đòi hỏi một số vốn lớn mà bản thân các chủ đầu tư bằng nguồn vốn tự có của mình có thể không đủ để đầu tư mà phải huy động từ các nguồn khác Một trong các nguồn huy động vốn là ngân hàng Cơ sở pháp
lý của giao và cho thuê đất là GCNQSD đất tạo điều kiện cho các chủ đầu
tư có thể tiếp cận nguồn vốn ngân hàng bằng cách thế chấp quyền sử dụng đất, thể chấp tài sản hình thành trong tương lai gắn liền với đất Nguồn vốn này cùng với các nguồn vốn từ kênh huy động khác là điều kiện để chủ đầu
tư có thể tiến hành thực hiện dự án
1.2 Cơ sở pháp lý của đề tài
Nhằm mục đích quản lý, bảo vệ nguồn tài nguyên đất đai một cách hợp
lý và bền vững, trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã nghiên cứu và bàn hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực quản lý đất đai;
Trang 17mà bước đột phá đầu tiên là Luật Đất đai năm 1993, sửa đổi năm 1998, năm
2001 tiếp đến là Luật Đất đai năm 2003 và Luật Đất đai năm 2013 hiện hành Bên cạnh đó nhiều bộ luật liên quan khác cũng đã được ban hành như Luật bảo về và phát triển rừng, Luật Bảo vệ môi trường và các nghị định, thông
tư và văn bản hướng dẫn thi hành Luật
Sau đây là những cơ sở pháp lý được nghiên cứu để thực hiện đề tài:
- Luật Đất đai năm 2003
- Luật Đất đai năm 2013
- Luật bảo vệ môi trường ngày 29/11/2005
- Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 về thi hành Luật Đất đai năm 2003 ;
- Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định bổ sung về cấp GCNQSD đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai;
- Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất;
- Thông tư số 06/2007/TT-BTNMT ngày 15/6/2007 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số
84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định bổ sung về cấp GCNQSD đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai;…
- Nghị định số 43/2014/NĐ - CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai
- Nghị định 102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014 của Chính Phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
- Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ quy định
bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
Trang 18- Nghị định số 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 của Chính phủ về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
- Nghị định số 35/2015/NĐ-CP ngày 13/4/2015 của Chính phủ về quản
lý, sử dụng đất lúa
1.3 Tình hình quản lý, sử dụng đất của các tổ chức trên thế giới và Việt Nam
1.3.1 Tình hình quản lý, sử dụng đất của một số nước trên thế giới
Hiện nay trên thế giới ngoài ý thức và tính pháp chế thực thi pháp luật của chính quyền nhà nước và mọi công dân, chính sách pháp luật về lĩnh vực đất đai của các quốc gia đang ngày càng được hoàn thiện Trên cơ sở chế độ
sở hữu về đất đai, ở quốc gia nào cũng vậy, nhà nước đều có những chính sách, nguyên tắc nhất định trong việc thống nhất chế độ quản lý, sử dụng đất đai Một trong những chính sách lớn được thực hiện tại nhiều quốc gia là chính sách giao đất cho người sử dụng đất nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bình ổn chính trị, tạo sự công bằng trong xã hội
a Nước Thụy Điển
Ở Thụy Điển phần lớn đất đai thuộc sở hữu tư nhân nhưng việc quản lý
và sử dụng đất đai là mối quan tâm chung của toàn xã hội Vì vậy, toàn bộ pháp luật và chính sách đất đai luôn đặt ra vấn đề hang đầu là có sự cân bằng giữa lợi ích riêng của chủ sử dụng đất và lợi ích chung của Nhà nước
Bộ Luật đất đai của Thụy Điển là một văn bản pháp luật được xếp vào loại hoàn chỉnh nhất, nó tập hợp và giải quyết các mối quan hệ đất đai và hoạt động của toàn xã hội với 36 đạo luật khác nhau
Các hoạt động cụ thể về quản lý sử dụng đất như quy hoạch sử dụng đất, đăng ký đất đai, bất động sản và thong tin địa chính đều được quản lý bởi ngân hàng dữ liệu đất đai và đều được luật hóa Pháp luật và chính sách đất đai ở Thụy Điển về cơ bản dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về đất đai và kinh
tế thị trường, có sự giám sát chung của xã hội
Trang 19Pháp luật và chính sách đất đai ở Thụy Điển từ năm 1970 trở lại đây gắn liền với việc giải quyết các vấn đề liên quan đến pháp luật bất động sản tư nhân Quy định các vật cố định gắn liền với bất động sản, quy định việc mua bán đất đai, việc thế chấp, quy định về hoa lợi và các hoạt động khác như vấn
đề bồi thường, quy hoạch sử dụng đất, thu hồi đất, đăng ký quyền sở hữu đất đai và hệ thống đăng ký [40]
b Nước Trung Quốc
Trung Quốc thực thi chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa về đất đai, đó là chế độ sở hữu toàn dân và chế độ sở hữu tập thể của quần chúng lao động Mọi đơn vị, cá nhân không được xâm chiếm, mua bán hoặc chuyển nhượng phi pháp đất đai Vì lợi ích công cộng, nhà nước có thể tiến hành trưng dụng theo pháp luật đối với đất đai thuộc sở hữu tập thể và thực hiện chế độ quản chế mục đích sử đụng đất
Tiết kiệm đất, sử dụng đất đai hợp lý, bảo vệ thiết thực đất canh tác
là quốc sách cơ bản của Trung Quốc Đất đai ở Trung Quốc được phân thành 3 loại:
- Đất dùng cho nông nghiệp
- Đất xây dựng
- Đất chưa sử dụng
Nhà nước thực hiện chế độ bồi thường đối với đất bị trưng dụng theo mục đích sử dụng đất trưng dụng Tiền bồi thường đối với đất canh tác bằng 6 đến 10 lần sản lượng bình quân hàng năm của 3 năm liên tiếp trước đó khi bị trưng dụng Tiêu chuẩn hỗ trợ tái định cư cho mỗi nhân khẩu nông nghiệp bằng từ 4 đến 6 lần giá trị sản lượng bình quân của đất canh tác/ đầu người thuộc đất bị trưng dụng, cao nhất không vượt quá 15 lần sản lượng bình quân của đất bị trưng dụng 3 năm trước đó Đồng thời nghiêm cấm tuyệt đối việc xâm phạm, lạm dụng tiền để bù đất trưng dụng và các loại tiền khác liên quan đến đất bị trưng dụng để sử dụng vào mục đích khác [39]
Trang 201.3.2 Tình hình quản lý, sử dụng đất của các tổ chức ở Việt Nam
a Hiện trạng sử dụng đất của các tổ chức ở Việt Nam
Theo kết quả Kiểm kê quỹ đất năm 2008 của các tổ chức đang quản lý,
sử dụng được nhà nước giao đất, cho thuê đất theo Chỉ thị số TTg ngày 14/12/2007 của Thủ tướng Chính phủ, tổng diện tích đất theo mục đích sử dụng của các tổ chức là 7.883.142,70 ha, trong đó chiếm chủ yếu là diện tích đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp 6.687.695,59 ha (chiếm 85,38%); diện tích còn lại được sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp (diện tích 845.727,62 ha chiếm 10,80%), thuộc nhóm đất chưa sử dụng (299.719,49
31/2007/CT-ha chiếm 3,83%) và đất mặt nước ven biển được giao, cho thuê là 0,23% [3]
Trong tổng số 7.883.142,70 ha đất do các tổ chức sử dụng quản lý chiếm chủ yếu là đất của các nông - lâm trường quốc doanh (chiếm 77,88% tổng diện tích của các tổ chức), tổ chức sự nghiệp công chiếm 6,63% và tổ chức kinh tế chiếm 92,16% Diện tích đất của các tổ chức được phân bổ ở các vùng, trong đó diện tích lớn nhất là ở vùng Tây Nguyên với 2.515.166,38 ha, chiếm 32,11% tổng diện tích sử dụng (trong đó tập trung chủ yếu diện tích sử dụng của các nông - lâm trường với 2.311.993,26 ha) và thấp nhất là tại vùng Tây Bắc với diện tích 176.381,38 ha chiếm 2,25% tổng diện tích sử dụng [3]
Diện tích đất do các tổ chức quản lý, sử dụng được phân theo các hình thức sử dụng là giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tiền trả có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước Trong đó, diện tích giao cho các tổ chức sử dụng là 5.149.562,27 ha chiếm 65,74% tổng diện tích quản lý, sử dụng đất của các tổ chức, chiếm 15,55% tổng diện tích tự nhiên cả nước, do vậy diện tích các tổ chức quản lý,
sử dụng chủ yếu được Nhà nước giao đất (giao đất có thu tiền 52.443,36 ha và giao đất không thu tiền sử dụng đất 5.097.118,91 ha) Diện tích đất do các tổ chức thuê sử dụng trên cả nước là 1.307.606,14 ha, chiếm 16,69% tổng diện tích đất quản lý, sử dụng của các tổ chức và chiếm 3,95% tổng diện tích tự
Trang 21nhiên toàn quốc; diện tích đất thuê trả tiền một lần cho cả thời gian thuê là 8.457,01 ha và thuê đất trả tiền hàng năm 1.299.149,10 ha
Ngoài ra, cả nước có 684.476,66 ha diện tích đất do các tổ chức quản
lý, sử dụng được công nhận quyền sử dụng đất, chiếm 8,74% tổng diện tích đất do tổ chức sử dụng, quản lý Trong đó, diện tích được công nhận quyền sử dụng đất không thu tiền sử dụng đất là 626.231,49 ha và diện tích được công nhận quyền sử dụng đất có thu tiền sử dụng đất là 58.245,17 ha
Các tổ chức có hình thức sử dụng đất là chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tiền đã trả có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước có 779,02 ha, chỉ chiếm 0,04% tổng diện tích các tổ chức quản lý, sử dụng [3]
b Tình hình quản lý, sử dụng đất của các tổ chức ở Việt Nam
* Tình hình sử dụng đất đúng mục đích:
Năm 2008, cả nước có 141.812 tổ chức sử dụng đúng mục đích với diện tích 7.148.536,47 ha, chiếm 91,26% tổng diện tích được giao sử dụng của các tổ chức Trong đó, các tổ chức có diện tích sử dụng đất đúng mục đích đạt tỷ lệ cao chủ yếu là các cơ quan, đơn vị Nhà nước như: Cơ quan nhà nước đạt 95,63%, Tổ chức xã hội đạt 96,47%, Tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp đạt 96,78%, Quốc phòng, an ninh đạt 95,78% [3] Cụ thể:
- Cơ quan nhà nước có 15.189 tổ chức với diện tích sử dụng đúng mục đích là 33.838,42 ha, đạt 95,63% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng;
- Tổ chức chính trị có 1.439 tổ chức với diện tích sử dụng đúng mục đích 2.390,00 ha, đạt 75,30% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng;
- Tổ chức xã hội có 952 tổ chức, diện tích sử dụng đúng mục đích 1.373,87 ha, đạt 96,47% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng;
- Tổ chức chính trị - xã hội có 1.131 tổ chức, diện tích sử dụng đúng mục đích 3.687,04 ha, đạt 75,40% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng;
- Tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp có 610 tổ chức, diện tích sử dụng đúng mục đích là 697,99 ha, đạt 96,78% so với tổng diện tích đang quản
lý, sử dụng;
Trang 22- Tổ chức sự nghiệp công có 55.456 tổ chức, diện tích sử dụng đúng mục đích là 394.201,53 ha, đạt 75,94% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng;
- Tổ chức ngoại giao có 41 tổ chức, diện tích sử dụng đúng mục đích là 16,74 ha đạt 78,41% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng;
- Tổ chức kinh tế có 49.723 tổ chức, diện tích sử dụng đúng mục đích
là 458.179,32 ha, đạt 90,42% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng;
- Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý, sử dụng có 10.970 tổ chức, diện tích
sử dụng đúng mục đích là 319.042,97 ha, đạt 97,40% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng;
- Nông, lâm trường có 653 tổ chức với diện tích sử dụng đúng mục đích là 5.615.419,13 ha, đạt 92,05% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng;
- Quốc phòng, an ninh có 8.118 tổ chức với diện tích sử dụng đúng mục đích là 319.689,47 ha, đạt 95,78% so với tổng diện tích đang quản lý,
sử dụng [3]
Bên cạnh diện tích sử dụng đúng mục đích vẫn còn tồn tại diện tích cho thuê trái pháp luật, cho mượn, chuyển nhượng trái phép và những diện tích này xuất hiện hầu hết ở các loại hình tổ chức trong cả nước, cụ thể:
- Cơ quan nhà nước tồn tại 235 tổ chức cho thuê trái pháp luật, cho mượn, chuyển nhượng trái phép với diện tích là 190,42 ha
- Tổ chức chính trị tuy chỉ có 42/1.439 tổ chức có diện tích đất cho thuê trái pháp luật, cho mượn, chuyển nhượng trái phép nhưng diện tích vi phạm tương đối nhiều (306,40 ha), chiếm đến 9,65% tổng số diện tích đang quản lý,
Trang 23pháp luật, cho mượn, chuyển nhượng trái phép với diện tích là 0,42 ha
- Tổ chức sự nghiệp công có 810 tổ chức cho thuê trái pháp luật, cho mượn, chuyển nhượng trái phép với diện tích 242,27 ha, trong đó chủ yếu là diện tích đất cho mượn (chiếm 88,36%)
- Tổ chức ngoại giao chỉ có 01 tổ chức cho thuê trái pháp luật với diện tích 0,07 ha
- Tổ chức kinh tế có 992 tổ chức cho thuê trái pháp luật, cho mượn, chuyển nhượng trái phép với diện tích 1.608,56 ha, trong đó chủ yếu là diện tích cho thuê và cho mượn trái pháp luật (diện tích đất cho thuê trái pháp luật chiếm 21,60% tổng diện tích cho thuê trái pháp luật của cả nước, diện tích đất cho mượn chiếm 12,31% tổng số diện tích đất cho mượn của cả nước)
- Ủy ban nhân dân cấp xã của nhiều địa phương cũng vẫn để xảy ra tình trạng cho thuê, cho mượn thậm chí chuyển nhượng trái pháp luật, đặc biệt là tình trạng cho thuê trái pháp luật của khối tổ chức UBND cấp xã chiếm đến 50,72% tổng số diện tích cho thuê trái pháp luật của cả nước và chiếm 15,49% diện tích đất cho mượn trái pháp luật của cả nước Đối với những tổ chức cho thuê đất trái phép ở các tổ chức là UBND xã, phường, thị trấn thường xảy ra tình trạng lấy đất nông nghiệp (sử dụng vào mục đích công ích), đất phi nông nghiệp (đã giao cho UBND xã, phường, thị trấn sử dụng vào mục đích công cộng của địa phương) cho hộ gia đình, cá nhân thuê nhưng không làm các thủ tục thuê đất theo đúng quy định pháp luật đất đai Hoặc cho hộ gia đình, cá nhân thuê phần diện tích đất của đơn vị không có nhu cầu
sử dụng, hay chưa sử dụng để sản xuất kinh doanh
- Nông, lâm trường có 42 tổ chức cho thuê trái pháp luật, cho mượn, chuyển nhượng trái phép với diện tích 5.006,21 ha, trong đó chủ yếu là diện tích đất cho mượn chiếm 66,26% tổng số diện tích đất cho mượn của cả nước (tập trung chủ yếu ở các nông - lâm trường của các tỉnh Tuyên Quang, Tây Ninh, Bắc Giang, Lai Châu, ), diện tích đất cho thuê trái pháp luật chiếm 13,49% tổng diện tích cho thuê trái pháp luật của cả nước (phần lớn tập trung ở các nông - lâm
Trang 24trường thuộc tỉnh Phú Thọ, Hải Phòng, Đồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh, )
- Quốc phòng, an ninh có 13 tổ chức cho mượn trái phép với diện tích
là 8,68 ha [3]
* Sử dụng vào mục đích khác
Tình trạng sử dụng đất sai mục đích được giao, được thuê xảy ra ở hầu hết các loại hình tổ chức, cả nước có 3.311 tổ chức sử dụng không đúng mục đích được giao, được thuê với diện tích là 25.587,82 ha, trong đó chủ yếu là các tổ chức sử dụng vào mục đích sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp (1.527 tổ chức với diện tích 21.499,68 ha, chiếm 84,02%), số tổ chức sử dụng vào mục đích làm nhà ở là 1.828 tổ chức với diện tích 4.088,24 ha Trong số diện tích sử dụng vào mục đích làm nhà ở chủ yếu xây dựng nhà ở cho cán bộ công nhân viên của các tổ chức kinh tế (chiếm 57,98%), các nông - lâm trường (chiếm 32,67%), tổ chức sự nghiệp công (chiếm 5,34%), riêng đối với UBND cấp xã (chiếm 2,73%) phần lớn là diện tích đất của một số địa phương chia cho dân xây dựng nhà ở không đúng thẩm quyền; diện tích đất sử dụng vào mục đích sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp chủ yếu của các nông - lâm trường (90,82%), tổ chức kinh tế (6,06%), UBND cấp xã (2,03%) [3]
* Tình hình tranh chấp, lấn chiếm
Tổng diện tích đất của các tổ chức đang có tranh chấp, lấn chiếm là 313.969,03 ha, trong đó đất có tranh chấp xuất hiện ở 1.184 tổ chức với diện tích 34.232,63 ha, đất lấn chiếm có ở 4.077 tổ chức với 25.703,21 ha và đất bị lấn, bị chiếm có ở 3.915 tổ chức với diện tích 254.033,19 ha [3]
- Diện tích đất đang tranh chấp, lấn chiếm chủ yếu xảy ra trong các loại hình tổ chức như tổ chức kinh tế, quốc phòng an ninh, nông lâm trường, UBND cấp xã, tổ chức sự nghiệp công Như vậy qua kiểm kê đã cho thấy, số
tổ chức có diện tích đất đang tranh chấp có số lượng không nhỏ Nguyên nhân chủ yếu do khi thực hiện giao đất cho các tổ chức, hồ sơ lập chưa đầy đủ, không chặt chẽ, mô tả ranh giới, mốc giới không rõ ràng, cụ thể; một số khu
Trang 25đất đã có mốc giới nhưng qua quá trình xây dựng các công trình làm thất lạc mốc hoặc có sự dịch chuyển vị trí ngoài ý muốn Do vậy khi phát sinh tranh chấp, việc giải quyết gặp rất nhiều khó khăn
- Diện tích đất bị lấn, bị chiếm: tình trạng sử dụng không hiệu quả, sử dụng chưa hết diện tích được giao ở hầu hết các loại hình tổ chức đã dẫn đến một phần diện tích bị lấn, bị chiếm diện tích trong đó tập trung chủ yếu các loại hình tổ chức như: tổ chức sự nghiệp công, UBND cấp xã, tổ chức kinh tế, quốc phòng an ninh, nông lâm trường Nguyên nhân của tình trạng này là do việc sử dụng đất của các tổ chức không được kiểm tra thường xuyên; việc lập
hồ sơ và lưu giữ các giấy tờ để theo dõi, quản lý không được quan tâm đúng mức Mặt khác các mốc ranh giới khu đất đã được giao không được quản lý chặt chẽ, chưa xây dựng tường rào hoặc căm mốc giới để phân định với đất của người dân Mặt khác thời gian giao đất trước đây đã quá lâu, thủ tục không đầy đủ; thay đổi thủ trưởng đơn vị nhiều lần và không bàn giao cho người sau để tiếp tục quản lý, Xuất phát từ nhiều nguyên nhân cho nên trong suốt quá trình sử dụng, các tổ chức đã để cho người dân lấn, chiếm, cá biệt có tổ chức không biết ranh giới đất của đơn vị mình sử dụng đến đâu, nên khi kiểm kê hiện trạng rất khó khăn, phải mất rất nhiều thời gian mới xác định được diện tích đất được giao
Một số tổ chức do quản lý đất không chặt chẽ, diện tích đất sử dụng không hết, Bên cạnh đó, ở các địa phương nhiều tổ chức sử dụng đất đầu tư xây dựng hoàn thành đã đưa vào sử dụng (một số điểm trường học) nhưng sau một thời gian vì nhiều lý do phải dời đi nơi khác, nhưng tổ chức và chính quyền địa phương không báo cáo để cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thu hồi
và quản lý, mà bỏ hoang không sử dụng, từ đó người dân đã lấn, chiếm để sản xuất hoặc làm nhà ở Ngoài ra, còn có nguyên nhân do thiếu kiên quyết trong
xử lý các trường hợp lấn chiếm, giải quyết tranh chấp kéo dài hoặc tái chiếm đất đã bồi thường
Trang 26* Tình hình đất chưa đưa vào sử dụng của các tổ chức:
Tổng diện tích đất của các tổ chức được giao, được thuê của các tổ chức nhưng chưa sử dụng là 299.719,46 ha do 4.120 tổ chức quản lý, trong đó diện tích đã đưa vào sử dụng nhưng còn để hoang hoá là 250.862,79 ha do 2.455 tổ chức quản lý và diện tích đất đầu tư, xây dựng chậm là 48.888,90 ha
do 1.681 tổ chức quản lý (tập trung chủ yếu là các trường học và những dự án phát triển khu đô thị mới, dự án xây dựng các khu công nghiệp, các dự án này đã được cơ quan có thẩm quyền quyết định đầu tư nhưng không triển khai được hoặc triển khai chậm do có nhiều khó khăn, vướng mắc trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư,… Một số dự án tiến độ thực hiện chậm do các chủ đầu tư thiếu vốn để thực hiện) Diện tích đất chưa sử dụng của các tổ chức theo loại hình tổ chức cụ thể như sau [3]:
- Cơ quan nhà nước có 293 tổ chức với diện tích là 863,42 ha;
- Tổ chức chính trị có 32 tổ chức với diện tích là 21,64 ha;
- Tổ chức xã hội có 12 tổ chức với diện tích là 12,46 ha;
- Tổ chức chính trị - xã hội có 24 tổ chức với diện tích là 1.081,05 ha;
- Tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp có 17 tổ chức với diện tích là 12,95 ha;
- Tổ chức sự nghiệp công có 856 tổ chức với diện tích là 120.345,44 ha;
- Tổ chức ngoại giao có 05 tổ chức với diện tích là 4,42 ha;
- Tổ chức kinh tế có 1.922 tổ chức với diện tích là 20.619,90 ha;
- UBND cấp xã có 812 tổ chức với diện tích là 2.603,57 ha;
- Quốc phòng, an ninh có 18 tổ chức với diện tích là 228,47 ha;
- Nông - lâm trường có 129 tổ chức với diện tích là 153.926,13 ha
* Tình hình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho tổ chức [3] Tính đến ngày 01 tháng 4 năm 2008, cả nước đã có 52.004 tổ chức được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đạt 35,99% số tổ chức cần cấp giấy, số lượng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp là 83.299 giấy và
Trang 27diện tích đã cấp là 3.100.040,38 ha, đạt 39,58% diện tích cần cấp giấy [37]
Phần lớn diện tích đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
là của các tổ chức nông - lâm trường, tổ chức kinh tế, quốc phòng an ninh, tổ chức sự nghiệp công và đất của UBND cấp xã
Tuy nhiên nếu so sánh tỷ lệ diện tích đã được cấp giấy chứng nhận với tổng diện tích cần cấp của từng loại hình sử dụng đất thì tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp đạt tỷ lệ diện tích đã cấp cao nhất (395,48 ha, chiếm 54,83% diện tích đang quản lý, sử dụng); sau đó là các tổ chức: tổ chức kinh
tế (237.868,55 ha, chiếm 46,94%), nông - lâm trường (2.736.185,70 ha chiếm 44,85%), tổ chức xã hội (520,38 ha, chiếm 36,54%), cơ quan nhà nước (11.331,93 ha, chiếm 32,03%), quốc phòng, an ninh (92.708,11 ha, chiếm 27,78%), tổ chức xã hội (740,83 ha, chiếm 23,34%), tổ chức ngoại giao (3,01
ha, chiếm 14,10%), tổ chức chính trị xã hội (367,65 ha, chiếm 7,52%) và thấp nhất là diện tích đất đã được cấp giấy chứng nhận do UBND cấp xã quản lý (2.397,91 ha, chiếm 0,73%) [37]
Kết quả nghiên cứu tình hình quản lý, sử dụng đất đai của các tố chức trong thời gian qua cho thấy: nhiều trường hợp các tổ chức được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng hiện đang có sự chênh lệch diện tích giữa quyết định giao, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hiện trạng đang sử dụng đất Đây cũng là một trong những khó khăn cần phải có biện pháp xử lý nhằm hoàn thiện hồ sơ của các tổ chức để quản lý đất đai ngày một tốt hơn
1.3.3 Tình hình quản lý, sử dụng đất của các tổ chức trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
Theo kết quả Kiểm kê quỹ đất năm 2008 của các tổ chức đang quản lý,
sử dụng được nhà nước giao đất, cho thuê đất theo Chỉ thị số TTg ngày 14/12/2007 của Thủ tướng Chính phủ [3]:
31/2007/CT-* Tình hình sử dụng theo mục đích được giao, được thuê
Tỉnh Quảng Ninh có 2.663 tổ chức sử dụng đúng mục đích được giao, được thuê với diện tích 149.793,8 ha, chiếm 94,8% tổng diện tích đất của các
Trang 28tổ chức quản lý, sử dụng, chiếm 2,1% diện tích sử dụng đúng mục đích của cả nước Trường hợp tổ chức sử dụng đất để cho thuê trái phép, cho mượn hoặc chuyển nhượng trái pháp luật chiếm tỷ lệ 2,9%
Trong đó, cơ quan nhà nước dẫn đầu trong các tổ chức có diện tích đất quản lý, sử dụng đúng mục đích đạt tỷ lệ cao nhất (đạt 99,99% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng ở 327 tổ chức), diện tích sử dụng đúng mục đích là 11.280,9 ha; tuy nhiên, diện tích đất cho thuê trái pháp luật, cho mượn, chuyển nhượng trái phép đối với tổ chức này mặc dù rất ít nhưng vẫn tồn tại ở huyện Ba Chẽ và huyện Cô Tô với 02 cơ quan nhà nước, diện tích 0,07 ha
Bên cạnh đó, điển hình là tổ chức chính trị (có 28 tổ chức, diện tích sử dụng đúng mục đích 19,68 ha, đạt 97,8% so với tổng diện tích đang quản lý,
sử dụng), tổ chức xã hội (có 17 tổ chức, diện tích sử dụng đúng mục đích 5,86
ha, đạt 98,79% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng), tổ chức chính trị
- xã hội (có 17 tổ chức, diện tích sử dụng đúng mục đích 2.128,5 ha, đạt 68,03% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng), tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp (có 6 tổ chức, diện tích sử dụng đúng mục đích là 1,59 ha, đạt 97,26% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng), nông, lâm trường (có 11
tổ chức với diện tích sử dụng đúng mục đích là 85.903,95 ha, đạt 96,7% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng) và lực lượng Quốc phòng, an ninh (có 15 tổ chức với diện tích sử dụng đúng mục đích là 18.515,55 ha, đạt 86,99% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng) không có diện tích cho thuê trái phép, cho mượn và chuyển nhượng trái phép
Với tổ chức sự nghiệp công có 689 tổ chức, diện tích sử dụng đúng mục đích là 1.625,45 ha, đạt 99,02% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng; diện tích cho thuê trái phép là 0,024 ha của 01 tổ chức tại phường Cẩm Thành, thị xã Cẩm Phả; diện tích cho mượn là 0,1 ha của 06 tổ chức tập trung
ở thị xã Cẩm Phả
Tổ chức kinh tế có số lượng tổ chức sử dụng đất lớn nhất (1.435 tổ chức) nhưng với 27.436,89 ha sử dụng đúng mục đích cũng giúp cho tổ chức
Trang 29đạt tỷ lệ cao 95,11% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng; tuy nhiên, vẫn còn diện tích cho thuê trái phép là 0,9 ha ở 09 tổ chức tại các địa phương
là Hạ Long, Cẩm Phả, Uông Bí, Yên Hưng, Hoành Bồ; diện tích cho mượn là 0,54 ha của 04 tổ chức, trong đó Cẩm Phả có 03 tổ chức, Hạ Long 01 tổ chức; diện tích chuyển nhượng trái phép có 01 tổ chức ở phường Cẩm Đông, thị xã Cẩm Phả với diện tích 0,003 ha
Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý, sử dụng có 186 tổ chức, diện tích sử dụng đúng mục đích là 2.875,35 ha, đạt 99,4% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng; diện tích cho mượn là 2,94 ha của 06 tổ chức tập trung ở huyện Yên Hưng, Bình Liêu, Cô Tô
* Sử dụng vào mục đích khác
Toàn tỉnh có 48 tổ chức sử dụng vào mục đích khác với diện tích 26,92
ha chiếm 0,02% tổng diện tích tổ chức được giao quản lý, sử dụng, trong đó
số tổ chức sử dụng vào mục đích làm nhà ở là 31 tổ chức với diện tích 10,62
ha, số tổ chức sử dụng vào mục đích kinh doanh phi nông nghiệp là 17 tổ chức với diện tích 16,3 ha; phần lớn diện tích sử dụng vào mục đích khác tập trung ở các tổ chức kinh tế với 15 tổ chức sử dụng làm nhà ở và 13 tổ chức sử dụng làm đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp và Uỷ ban nhân dân cấp xã với 8 tổ chức có diện tích sử dụng vào làm nhà ở (diện tích 5,45 ha) ở Hoành
Bồ, Uông Bí, Cẩm Phả, Tiên Yên, Đầm Hà, Hải Hà
* Tình hình tranh chấp, lấn chiếm
Tổng diện tích đất của các tổ chức đang có tranh chấp, lấn chiếm là 6185,26 ha chiếm 3,92% tổng diện tích tổ chức được giao quản lý, sử dụng, trong đó đất có tranh chấp xuất hiện ở 20 tổ chức với diện tích 3.196,98 ha, đất lấn chiếm có 283 tổ chức với 459,77 ha và đất bị lấn, bị chiếm có 83 tổ chức với diện tích 2.528,51 ha
Diện tích đất đang tranh chấp, bị lấn, bị chiếm chủ yếu xảy ra trong các loại hình tổ chức như tổ chức kinh tế, quốc phòng an ninh, nông lâm trường Nguyên nhân chủ yếu do một số tổ chức được Nhà nước giao đất, cho
Trang 30thuê đất sau khi bàn giao đất ngoài thực địa không tổ chức ngay việc xây dựng hàng rào dẫn đến quản lý ranh giới đất gặp khó khăn do đó để ra tình trạng bị lấn, bị chiếm
Mặt khác đối với các tổ chức là các Công ty lâm nghiệp được giao, thuê đất lâm nghiệp, các đơn vị quốc phòng được giao đất làm thao trường, bãi tập
có diện tích lớn và địa hình phức tạp, nhiều diện tích chưa được sử dụng còn để hoang hoá dẫn đến tình trạng bị lấn, chiếm Một số tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất nhưng đã lấn, chiếm đất của các lâm trường bên cạnh, có
tổ chức diện tích khi kiểm kê tăng gấp 2 đến 3 lần diện tích được giao, thuê
* Tình hình đất chưa đưa vào sử dụng của các tổ chức
Tổng diện tích đất của các tổ chức được giao, được thuê của các tổ chức nhưng chưa sử dụng ở 136 tổ chức là 1.929,78 ha chiếm tỷ lệ 1,22% tổng diện tích đất do tổ chức quản lý, sử dụng, trong đó diện tích đã đưa vào
sử dụng nhưng còn để hoang hoá là 1.057,52 ha do 48 tổ chức quản lý và diện tích đất đầu tư, xây dựng chậm là 872,26 ha do 88 tổ chức quản lý Nguyên nhân là do một số tổ chức thiếu năng lực về tài chính nên khi được giao đất, thuê đất đã không thực hiện đúng tiến độ của dự án hoặc không thực hiện, một số dự án gặp khó khăn trong công tác thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng
* Tình hình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho tổ chức
Tính đến ngày 01 tháng 4 năm 2008, tỉnh Quảng Ninh đã có 1151 tổ chức được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đạt 42,1% số tổ chức cần cấp giấy, số lượng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp là 1699 giấy và diện tích đã cấp là 91.313,25 ha, đạt 58,55% diện tích cần cấp giấy
Số lượng các tổ chức được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn thấp do quá trình hoàn thiện hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng còn gặp nhiều khó khăn như thiếu, mất Quyết định giao đất, cho thuê đất, tranh chấp quyền sử dụng đất,… Trong thời gian tới cần có biện pháp để đẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các tổ chức [3]
Trang 311.4 Một số nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực của đề tài
Theo Hà Tuấn Anh (2010), toàn tỉnh Thái Bình có 144.485 tổ chức sử dụng đất với 7.057 khu đất đang sử dụng Trong tổng số các tổ chức được giao, cho thuê đất tại tỉnh Thái Bình có rất nhiều tổ chức mặc dù đã được sử dụng đất đúng mục đích nhưng tuy nhiên vẫn còn một phần diện tích sử dụng đất sai mục đích như cho thuê trái phép (20 tổ chức), cho mượn đất trái phép (10 tổ chức), chuyển nhượng đất trái phép (6 tổ chức) và sử dụng đất vào các mục đích khác (14 tổ chức) với tổng diện tích sử dụng sai mục đích là 402,58
ha Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng quản lý và sử dụng đất của các tổ chức,
đề tài đã đưa ra được một số giải pháp như giải pháp chính sách pháp luật, kinh tế, khoa học công nghệ,…giúp cho công tác quản lý sử dụng đất của các
tổ chức ngày càng hiệu quả hơn [22]
Theo Phạm Đình Tứ (2012) đánh giá hiệu quả sử dụng đất của các tổ chức kinh tế được nhà nước giao đất, cho thuê đất tại tỉnh Tuyên Quang cho thấy tỉnh Tuyên Quang giao được 125 công trình cho 111 nhà đầu tư, có nhiều dự án đã phát huy hiệu quả sử dụng đất trên cả 3 mặt (kinh tế, xã hội, môi trường…) đóng góp rất lớn vào phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Tuy nhiên còn nhiều dự án chưa phát huy được hiệu quả sử dụng đất như: Không sử dụng hoặc sử dụng đất sai mục đích, thực hiện dự án chậm tiến độ, không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính, không thực hiện các đúng các quy định về bảo vệ môi trường…gây lãng phí đất và bức xúc trong nhân dân [25]
Theo Phạm Minh Giáp (2013), kết quả nghiên cứu của đề tài cho thấy việc sử dụng đất của các tổ chức trên địa bàn huyện Mê Linh vẫn còn tồn tại một số tổ chức sử dụng đất không đúng mục đích được giao Đặc biệt vẫn còn tới 13/217 tổ chức chưa đưa hết diện tích đất được giao vào sử dụng (tương đương 84,5 ha) Điều này thể hiện sự lãng phí tài nguyên đất đai trong quản lý
Trang 32sử dụng và tính hiệu quả của sử dụng đất chưa cao Để khác phục tình trạng này thì cần phải thực hiện đồng bộ các biện pháp được đưa ra như xây dựng khung giá đất làm căn cứ thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất sát với giá thị trường bất động sản đang diễn ra, chuẩn hóa quy trình giao cấp đất từ khâu xét duyệt dự án nên đánh giá thẩm định về khả năng tài chính đủ điều kiện tiên quyết cho việc thực hiện dự án đúng tiến độ và quy hoạch được duyệt, song song với việc đào tạo đội ngũ cán bộ đủ năng lực chuyên môn nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về đất đai [26]
Theo Hoàng Thị Phương Thảo (2015) cho thấy trong tổng số 18 tổ chức quản lý sử dụng đất chỉ có 0,01711 ha sử dụng không đúng mục đích, chủ yếu rơi vào hai hình thức là lấn, chiếm đất và bị lấn, chiếm… Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng và đánh giá công tác quản lý sử dụng đất của các tổ chức sử dụng đất trên địa bàn huyện Đầm Hà, đề tài đưa ra 5 nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý sử dụng đất của các tổ chức trên địa bàn là giải pháp về chính sách pháp luật, giải pháp về kinh tế, giải pháp về khoa học công nghệ, giải pháp về tăng cường quản lý sử dụng đất của các tổ chức trong thời gian tới và các giải pháp khác Trong đó một số giải pháp thuộc nhóm giải pháp về tăng cường quản lý sử dụng đất của tổ chức đã được áp dụng tại địa phương và có hiệu quả tích cực [23]
Trang 33Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Công tác quản lý và việc sử dụng đất của các tổ chức trên địa bàn huyện Hải Hà
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.2.1 Thời gian nghiên cứu
- Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 9 năm 2015 - tháng 6 năm 2016
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu
- Nghiên cứu được tiến hành tại huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh và được hoàn thiện tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
2.3 Nội dung nghiên cứu
Nội dung 1: Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và hiện trạng quản lý, sử dụng đất trên địa bàn huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh
* Điều kiện tự nhiên
* Điều kiện kinh tế - xã hội
*Hiện trạng quản lý, sử dụng đất đai trên địa bàn huyện Hải Hà Nội dung 2: Đánh giá công tác giao đất, cho thuê cho các tổ chức kinh tế trên địa bàn huyện Hải Hà giai đoạn 2012 - 2015
* Tình hình quản lý, sử dụng đất của các tổ chức kinh tế
* Tình hình sử dụng đất của các tổ chức so với mục tiêu của dự án khi nhà nước giao đất, cho thuê đất
* Kết quả giao đất cho các tổ chức kinh tế giai đoạn 2012 - 2015
Trang 34* Kết quả cho các tổ chức kinh tế thuê đất giai đoạn 2012 - 2015
Nội dung 3: Đánh giá hiệu quả sử dụng đất và giải pháp nâng cao hiệu
quả của việc giao đất, cho thuê đất
* Đánh giá hiệu quả kinh tế
* Đánh giá hiệu quả xã hội
* Đánh giá hiệu quả môi trường
* Giải pháp nâng cao hiệu quả của việc giao đất, cho thuê đất
Nội dung 4: Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đất của các tổ chức kinh tế trên địa bàn huyện Hải Hà
* Giải pháp về kinh tế
* Giải pháp về khoa học công nghệ
* Giải pháp về tăng cường quản lý, sử dụng đất của các tổ chức kinh
tế trong thời gian tới
* Các giải pháp khác
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp điều tra, khảo sát thu thập số liệu
Điều tra thu thập tài liệu, số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội thực trạng sử dụng đất canh tác các loại hình sử dụng đất và hiệu quả của các loại hình sử dụng đất trên địa bàn huyện Hải Hà
Số liệu được thu thập ở các cơ quan quản lý nhà nước: Sở Tài nguyên
và Môi trường tỉnh Quảng Ninh và các cơ quan liên quan của tỉnh; Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Nông nghiệp, Phòng Thống kê, Phòng Tài chính, Phòng Kế hoạch đầu tư và các cơ quan liên quan trên địa bàn huyện Hải Hà
2.4.2 Phương pháp điều tra, phỏng vấn bán cấu trúc
Đề tài tiến hành điều tra sơ bộ để phân nhóm điều tra theo tính chất, loại hình của các tổ chức được giao đất, cho thuê đất địa bàn huyện Hải Hà
Dự kiến điều tra các tổ chức kinh tế chia thành các loại hình sau:
- Công ty Cổ phần: 15 phiếu điều tra
Trang 35- Doanh nghiệp tư nhân: 15 phiếu điều tra
- Công ty trách nhiệm hữu hạn: 15 phiếu điều tra
- HTX dịch vụ: 15 phiếu
Tổng số phiếu điều tra là: 60 phiếu
Điều tra theo các câu hỏi của phiếu điều tra: Nội dung các câu hỏi phục
vụ cho đề tài nghiên cứu trong phiếu điều tra theo các thông tin sau:
- Thông tin chung về doanh nghiệp
- Thông tin về lĩnh vực, ngành nghề hoạt động
- Thông tin về tình hình sử dụng đất
- Thông tin về các khoản tài chính đã đóng góp
- Thông tin về tình hình sử dụng lao động và tiền lương
- Các thông tin về hoạt động và mối liên quan của tổ chức đối với xã hội và môi trường của địa phương
2.4.3 Phương pháp tổng hợp, phân tích xử lý số liệu
Các tư liệu, số liệu sơ cấp thông qua điều tra (phiếu điều tra) và được
tổng hợp, xử lý trên máy tính bằng phần mềm Excel 5.0
- Phương pháp xử lí số liệu: Trên cơ sở các số liệu, tài liệu thu thập được, dùng phần mềm thích hợp để tiến hành phân nhóm, thống kê diện tích, thống kê các trường hợp vi phạm, tổng hợp kết quả xử lý vi phạm…
- Phương pháp phân tích đánh giá kết quả nghiên cứu: Việc phân tích đánh giá các nguồn số liệu sơ cấp và thứ cấp trên cơ sở so sánh đối chiếu, số liệu được phân tích sát sao, đúng đắn khoa học đảm bảo minh bạch chính xác
2.4.4 Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo
Tổ chức các hội nghị xin ý kiến đánh giá của các chuyên gia, các nhà quản lý và kỹ thuật
Tranh thủ tham vấn ý kiến của những người có nhiều kinh nghiệm trong quản lý đất đai để trao đổi về cách nhìn nhận, đánh giá cũng như những gợi ý đề xuất về giải pháp xử lý vi phạm trong quản lý việc sử dụng đất của các tổ chức trên địa bàn huyện
Trang 36Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và hiện trạng quản lý, sử dụng đất trên địa bàn huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Hải Hà là huyện miền núi biên giới, nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Quảng Ninh, có tổng diện tích đất tự nhiên 69.013,10 ha, trong đó diện tích đất tự nhiên là 51.393,17 ha, nằm trong toạ độ địa lý từ 210
- Phía Bắc giáp Trung Quốc;
- Phía Đông giáp thành phố Móng Cái;
- Phía Tây giáp huyện Đầm Hà, huyện Bình Liêu;
- Phía Nam giáp biển Đông
Thị trấn Quảng Hà là trung tâm kinh tế - chính trị - xã hội của Huyện cách thành phố Hạ Long 150 km và cửa khẩu quốc tế Móng Cái 40 km tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu với bên ngoài, góp phần phát triển kinh
tế trên địa bàn Ngoài ra huyện còn có cửa khẩu Bắc Phong Sinh và bờ biển dài là tiềm năng thế mạnh phát triển công nghiệp đóng tàu; thương mại, du lịch, dịch vụ và nuôi trồng, chế biến thủy - hải sản
Trang 37Hình 3.1: Bản đồ địa giới hành chính huyện Hải Hà
3.1.1.2 Địa hình, địa mạo
Hải Hà là huyện miền núi ven biển, thấp dần từ Bắc xuống Nam, địa hình tương đối phức tạp, được chia thành 3 loại địa hình cơ bản sau:
- Địa hình vùng núi cao: Có độ cao từ 200 m đến 1.500 m so với mực nước biển, gồm các dãy núi cao ở Quảng Sơn, Quảng Đức, Quảng Thành
- Địa hình vùng trung du và ven biển: Là vùng núi thấp vừa có đồng bằng xen kẽ tập trung ở các xã ven biển như Quảng Thắng, Quảng Minh, Quảng Trung, Quảng Điền, Quảng Phong
- Vùng đảo: Hải Hà có một xã đảo Cái Chiên với diện tích là 2.556,78
ha, địa hình phức tạp, giao thông gặp nhiều khó khăn, việc giao lưu với bên ngoài chủ yếu là đường thủy
3.1.1.3 Khí hậu
Khí hậu của Huyện mang đặc điểm nhiệt đới gió mùa, chia thành 2 mùa
rõ rệt:
Trang 38- Mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều
- Mùa đông lạnh, khô hanh, có gió mùa Đông Bắc
Đặc trưng khí hậu của Huyện như sau:
- Nhiệt độ trung bình năm 23,10C, nhiệt độ trung bình cao nhất 28,40
C, nhiệt độ trung bình thấp nhất 3,20C, nơi có địa hình núi cao thường có nhiệt
độ thấp hơn đồng bằng ven biển
+ Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, gió thổi theo hướng Nam và Đông Nam mang nhiều hơi nước mưa nhiều và độ ẩm lớn
+ Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, gió thổi theo hướng Bắc
và Đông Bắc thường rất lạnh và hanh khô
- Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 3.120 mm, cao nhất từ 3830
mm và thấp nhất từ 2.015 mm
- Độ ẩm không khí trung bình hàng năm là 85%, cao nhất khoảng 90%
và thấp nhất khoảng 75% vào tháng 12 hàng năm
- Gió, bão:
+ Gió: Hải Hà có 2 loại hướng gió chính là gió Đông Bắc và gió Đông Nam Mùa hạ từ tháng 5 đến tháng 9 gió thổi theo hướng Nam và Đông Nam tốc độ trung bình từ 2 - 5 m/s, mang theo hơi nước biển gây ra mưa nhiều Mùa đông từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau gió thổi theo hướng Bắc và Đông Bắc, tốc độ trung bình từ 2 - 4 m/s
+ Bão: Là huyện miền núi ven biển nên chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão Bão thường xuất hiện từ tháng 6, tháng có nhiều bão nhất là tháng 7 và tháng 8 trung bình mỗi năm có từ 3 - 5 cơn bão đi qua, tốc độ gió trung bình từ 20 - 40m/s, bão kèm theo mưa lớn gây nên lũ lụt làm thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và đời sống sinh hoạt của nhân dân trên địa bàn huyện
3.1.1.4 Thủy văn
* Sông suối:
Trên địa bàn huyện có hệ thống sông, suối phân bố tương đối đều giữa
Trang 39các khu vực, mật độ sông suối dày đặc 2 - 4 km/km2 Các con sông được bắt nguồn từ dãy núi phía Nam cánh cung Đông Triều - Móng Cái ở độ cao trên
500 m, sông chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam và đổ ra biển, đoạn thượng lưu có độ dốc lớn gấp khúc và ngắn cửa sông mở rộng đột ngột Những đặc điểm này có ảnh hưởng lớn đến mực nước trên các con sông vì khi mưa nước dâng lên rất nhanh và sau khi mưa một thời gian ngắn nước sông
có thể bị rút kiệt Mùa khô nước sông xuống thấp chưa đáp ứng đủ nước cho sản xuất nông nghiệp Huyện có hai con sông lớn:
- Sông Hà Cối bắt nguồn từ vùng núi cao trên 500 m có diện tích lưu vực 118,4 km2
với chiều dài 28 km, lưu lượng dòng chảy lớn nhất 1.190 m3/s, lưu lượng nhỏ nhất 2,69 m3
/s
- Sông Tài Chi: bắt nguồn từ vùng núi phía Bắc, có chiều dài 24,4 km với diện tích lưu vực 82,4 km2, lưu lượng dòng chảy lớn nhất là 1.490m3
/s, lưu lượng nhỏ nhất là 2,72 m3
/s
* Hệ thống hồ: Hải Hà có 3 hồ chứa nước ngọt bao gồm:
+ Hồ Chúc Bài Sơn nằm trên địa bàn xã Quảng Sơn, có diện tích 110
ha, với dung tích thường xuyên đạt 15 triệu m3
nước
+ Hồ Khe Dầu thuộc xã đảo Cái Chiên, có diện tích 18 ha, đây là hồ chứa nước ngọt lớn trên đảo, những năm tới có thể nâng cao trình đập để tích nước ngọt được nhiều hơn
+ Hồ Khe Đình - Cái chiên có diện tích 5ha, độ sâu trung bình 4 - 6m,
có hệ thống mương bê tông dẫn nước Những năm tới có thể cải tạo khơi sâu
và đắp đập để nâng cao trình tưới, tích nước được nhiều hơn
* Thủy triều:
Hải Hà có chế độ thủy triều thuần nhất (trong một ngày có một lần nước lên và một lần nước xuống) Về mùa hạ nước thường lên vào buổi chiều, còn mùa đông nước thường lên vào buổi sáng Thủy triều ở khu vực này thường mạnh nhất vào tháng 1, 6, 7 và tháng 12 Trong những tháng này mực
Trang 40nước thực tế lên đến 3,5 - 4 m so với mặt nước biển Thủy triều thấp nhất vào tháng 3, 4, 8 và tháng 9, mực nước ở mức 0,3 - 0,5 m
3.1.1.5 Tài nguyên đất
Đất đai của Huyện rất phong phú và đa dạng, gồm đất đồi núi và đất bằng ven biển, thuận lợi cho phát triển sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp, đa dạng hóa cây trồng vật nuôi
- Theo nguồn gốc phát sinh đất đai của huyện Hải Hà gồm 2 loại đất chính là đất thủy thành và đất địa thành
- Theo tính chất nông hóa thổ nhưỡng đất đai của huyện được chia thành 9 nhóm đất chính là:
+ Nhóm đất phù sa không được bồi hàng năm
3 Đất vàng đỏ (FV): Được phân bố ở các xã Đường Hoa, Quảng Phong
4 Đất Glây (G): Được phân bố ở các xã: Tiến Tới, Quảng Thịnh
5 Đất xám (X): Được phân bố trên xã Quảng Đức, Quảng Thắng
(Nguồn: Báo cáo thống kê huyện Hải Hà 2015)