Đánh giá hiệu quả của hoạt động tự đánh giá ở các trường Trung học phổ thông huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương (LV thạc sĩ)Đánh giá hiệu quả của hoạt động tự đánh giá ở các trường Trung học phổ thông huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương (LV thạc sĩ)Đánh giá hiệu quả của hoạt động tự đánh giá ở các trường Trung học phổ thông huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương (LV thạc sĩ)Đánh giá hiệu quả của hoạt động tự đánh giá ở các trường Trung học phổ thông huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương (LV thạc sĩ)Đánh giá hiệu quả của hoạt động tự đánh giá ở các trường Trung học phổ thông huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương (LV thạc sĩ)Đánh giá hiệu quả của hoạt động tự đánh giá ở các trường Trung học phổ thông huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương (LV thạc sĩ)Đánh giá hiệu quả của hoạt động tự đánh giá ở các trường Trung học phổ thông huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương (LV thạc sĩ)Đánh giá hiệu quả của hoạt động tự đánh giá ở các trường Trung học phổ thông huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương (LV thạc sĩ)Đánh giá hiệu quả của hoạt động tự đánh giá ở các trường Trung học phổ thông huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương (LV thạc sĩ)Đánh giá hiệu quả của hoạt động tự đánh giá ở các trường Trung học phổ thông huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương (LV thạc sĩ)Đánh giá hiệu quả của hoạt động tự đánh giá ở các trường Trung học phổ thông huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương (LV thạc sĩ)
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
BÙI QUANG VINH
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA HOẠT ĐỘNG TỰ ĐÁNH GIÁ
Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
HUYỆN NAM SÁCH TỈNH HẢI DƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Thái nguyên - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
BÙI QUANG VINH
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA HOẠT ĐỘNG TỰ ĐÁNH GIÁ
Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
HUYỆN NAM SÁCH TỈNH HẢI DƯƠNG
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số : 60 14 01 14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH NGUYỄN VĂN HỘ
Thái nguyên - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của GS.TSKH Nguyễn Văn Hộ Các kết quả và số liệu nêu trong luận văn đảm bảo tính khách quan, trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
Tác giả luận văn
Bùi Quang Vinh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài ”Đánh giá hiệu quả của hoạt động tự
đánh giá ở các trường trung học phổ thông huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương” , tôi đã nhận được sự động viên, khuyến khích và tạo điều kiện giúp
đỡ của các thầy giáo, cô giáo, anh chị em, bạn bè đồng nghiệp và gia đình
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Trường Đại học sư phạm- Đại học Thái Nguyên cùng các thầy cô giáo đã giảng dạy và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Nhà giáo nhân dân, GS.TSKH Nguyễn Văn Hộ, người đã tận tâm chỉ dẫn cho tôi về kiến thức và phương pháp trong suốt thời gian thực hiện đề tài này
Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo Sở GD&ĐT tỉnh Hải Dương, Phòng Khảo thí và Kiểm định chất lượng , Ban Giám hiệu và giáo viên các trường THPT huyện Nam Sách đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi học tập, nghiên cứu khoa học, cung cấp số liệu tham gia giúp đỡ để tôi hoàn thành luận văn này
Dù đã có nhiều cố gắng, song luận văn chắc chắn không thể tránh khỏi thiếu sót, kính mong nhận được các ý kiến chỉ dẫn của các thầy cô giáo, các bạn bè đồng nghiệp
Xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, Tháng 4 năm 2016
Tác giả luận văn
Bùi Quang Vinh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ……… i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3
3.1 Khách thể nghiên cứu 3
3.2 Đối tượng nghiên cứu 3
4 Phạm vi nghiên cứu 3
5 Giả thuyết khoa học 3
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
7 Phương pháp nghiên cứu 4
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận 4
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 4
7.3 Các phương pháp khác 4
8 Cấu trúc luận văn 4
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA HOẠT ĐỘNG TỰ ĐÁNH GIÁ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 6
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 6
1.1.1 Ở Việt Nam 6
1.1.2 Trên thế giới 8
1.2 Các khái niệm cơ bản 11
1.2.1 Đánh giá 11
1.2.2 Đánh giá trong giáo dục 13
1.2.3 Kiểm định chất lượng giáo dục 16
1.2.3.1 Chất lượng 16
1.2.3.2 Chất lượng giáo dục 17
1.2.3.3 Kiểm định chất lượng giáo dục 17
1.2.4 Tự đánh giá 19
1.2.5 Quản lý hoạt động tự đánh giá 20
1.2.5.1 Lập kế hoạch tự đánh giá của trường THPT 20
1.2.5.2 Tổ chức thực hiện kế hoạch tự đánh giá của trường THPT 21
1.2.5.3 Chỉ đạo thực hiện kế hoạch tự đánh giá của trường THPT 21
Trang 61.2.5.4 Kiểm tra hoạt động tự đánh giá của trường THPT 22
1.2.6 Biện pháp quản lý hoạt động tự đánh giá 22
1.2.7 Đánh giá hiệu quả của hoạt động tự đánh giá 23
1.3 Những vấn đề cơ bản về đánh giá hiệu quả của hoạt động tự đánh giá ở trường THPT 23
1.3.1 Hoạt động tự đánh giá ở trường THPT 23
1.3.1.1 Mục đích, ý nghĩa của hoạt động tự đánh giá ở trường THPT 23
1.3.1.2 Nội dung tự đánh giá ở trường THPT 24
1.3.1.3 Quy trình tự đánh giá ở trường THPT 25
1.3.1.4 Hội đồng tự đánh giá, chức năng nhiệm vụ của Hội đồng tự đánh giá 25 1.3.1.5 Những yêu cầu cơ bản của hoạt động tự đánh giá 26
1.3.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tự đánh giá ở trường THPT 27
1.3.2 Đánh giá hiệu quả của hoạt động tự đánh giá 28
1.3.2.1 Mức độ khắc phục tồn tại sau tự đánh giá 28
1.3.2.2 Các hình thức khắc phục tồn tại 29
1.3.2.3 Các kế hoạch hoạt động đã được triển khai, nội dung đã được cải tiến, đổi mới 29
1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc đánh giá hiệu quả của hoạt động tự đánh giá 31
1.3.3.1 Yếu tố chủ quan 31
1.3.3.2 Yếu tố khách quan 31
Kết luận chương 1 32
Chương 2 THỰC TRẠNG ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA HOẠT ĐỘNG TỰ ĐÁNH GIÁ Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN NAM SÁCH TỈNH HẢI DƯƠNG 34
2.1 Vài nét về khách thể khảo sát và tổ chức khảo sát 34
2.1.1 Khách thể khảo sát 34
2.1.1.1 Trường THPT Nam Sách 34
2.1.1.2 Trường THPT Mạc Đĩnh Chi 35
2.1.1.3 Trường THPT Nam Sách II 37
2.1.2 Tổ chức khảo sát 39
2.1.2.1 Phương pháp khảo sát 39
2.1.2.2 Nội dung khảo sát 40
2.1.2.3 Đối tượng khảo sát 40
2.1.2.4 Tiến hành khảo sát 40
2.2 Thực trạng hoạt động tự đánh giá ở các trường THPT huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương 40
Trang 72.2.1 Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên về hoạt động tự
đánh giá và quản lý hoạt động tự đánh giá 40
2.2.2 Thực trạng hoạt động tự đánh giá ở các trường THPT huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương 47
2.2.2.1 Trường THPT Nam Sách 47
2.2.2.2 Trường THPT Mạc Đĩnh Chi 55
2.2.2.3 Trường THPT Nam Sách II 55
2.2.3 Thực trạng quản lý hoạt động tự đánh giá ở các trường THPT huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương 55
2.2.3.1 Thực trạng quản lý kế hoạch, nội dung, chương trình tự đánh giá ở trường THPT Nam Sách tỉnh Hải Dương. 55
2.2.3.2 Thực trạng quản lý hồ sơ, minh chứng tự đánh giá ở trường THPT Nam Sách tỉnh Hải Dương 57
2.2.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tự đánh giá ở các trường THPT huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương 59
2.2.3.4 Đánh giá khái quát hiệu quả hoạt động tự đánh giá ở các trường THPT huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương. 60
2.3 Thực trạng khắc phục những tồn tại sau khi tự đánh giá ở trường THPT Nam Sách tỉnh Hải Dương 61
2.3.1 Thực trạng xây dựng kế hoạch khắc phục những tồn tại sau khi tự đánh giá ở trường THPT Nam Sách tỉnh Hải Dương 61
2.3.2 Thực trạng tổ chức chỉ đạo thực hiện kế hoạch khắc phục những tồn tại sau khi tự đánh giá ở trường THPT Nam Sách tỉnh Hải Dương 62
2.3.3 Kết quả khắc phục những tồn tại sau khi tự đánh giá ở trường THPT Nam Sách tỉnh Hải Dương 62
2.4 Những khó khăn trong khắc phục những tồn tại sau khi tự đánh giá. 65
Kết luận chương 2 66
Chương 3 67
Chương 3 CÁC BIỆN PHÁP ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TỰ ĐÁNH GIÁ Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN NAM SÁCH TỈNH HẢI DƯƠNG 67
3.1 Định hướng đề xuất các biện pháp 67
3.2 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp 67
3.2.1 Đảm bảo tính khách quan, trung thực 67
3.2.2 Đảm bảo tính đồ ng bô ̣ của các biê ̣n pháp 67
3.2.3 Đảm bảo tính thực tiễn của các biê ̣n pháp 68
3.2.4 Đảm bảo tính khả thi của các biện pháp 68
3.2.5 Đảm bảo tính hiệu quả của các biện pháp 68
Trang 83.2.6 Đảm bảo tính toàn diện 69
3.3 Các biện pháp đánh giá hiệu quả hoạt động tự đánh giá ở các trường THPT huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương. 69
3.3.1 Nâng cao nhận thức cho CBQL và giáo viên về vai trò, tác dụng của hoạt động tự đánh giá 69
3.3.2 Xây dựng hệ thống công cụ, hồ sơ minh chứng đánh giá hiệu quả của hoạt động tự đánh giá ở trường THPT 71
3.3.3 Bồi dưỡng nâng cao năng lực tự đánh giá cho đội ngũ CBQL và giáo viên 72
3.3.4 Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch cải tiến chất lượng giáo dục đề ra trong báo cáo tự đánh giá 73
3.3.5 Tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động cải tiến, đổi mới, khắc phục tồn tại của nhà trường trong hoạt động đảm bảo chất lượng. 76
3.4 Mối quan hệ giữa các biện pháp 77
3.5 Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp 78
3.5.1 Mục đích khảo nghiệm 78
3.5.2 Đối tượng khảo nghiệm 78
3.5.3 Kết quả khảo nghiệm 78
Kết luận chương 3 80
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 81
1 Kết luận 81
1.1 Về lý luận 81
1.2 Về thực tiễn 81
1.3 Về đề xuất biện pháp đánh giá hiệu quả hoạt động tự đánh giá 81
2 Khuyến nghị 82
2.1 Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo 82
2.2 Đối với Sở GD&ĐT Hải Dương 83
2.3 Đối với các trường THPT huyện Nam Sách 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
PHỤ LỤC 87
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Nhận thức của cán bộ quản lý về hoạt động tự đánh giá cơ sở giáo dục
phổ thông 41 Bảng 2.2 Nhận thức của giáo viên về hoạt động tự đánh giá cơ sở giáo dục phổ
thông 42 Bảng 2.3 Đánh giá của cán bộ quản lý về mục đích, ý nghĩa, vai trò của hoạt
động tự đánh giá cơ sở giáo dục phổ thông 43 Bảng 2.4 Đánh giá của giáo viên về mục đích, ý nghĩa, vai trò của hoạt động tự
đánh giá cơ sở giáo dục phổ thông 44 Bảng 2.5 Đánh giá của cán bộ quản lý về tầm quan trọng của quản lý hoạt
động tự đánh giá cơ sở giáo dục phổ thông 45 Bảng 2.6 Đánh giá của giáo viên về tầm quan trọng của quản lý hoạt động tự
đánh giá cơ sở giáo dục phổ thông 46 Bảng 2.7 Đánh giá của cán bộ quản lý và giáo viên về thực hiện quy trình tự
đánh giá nhà trường 48 Bảng 2.8 Tổng hợp kết quả tự đánh giá nhà trường 54 Bảng 2.9 Đánh giá của cán bộ quản lý và giáo viên về quản lý kế hoạch, nội
dung, chương trình tự đánh giá nhà trường 56 Bảng 2.10 Đánh giá của cán bộ quản lý và giáo viên về quản lý hồ sơ, minh
chứng tự đánh giá nhà trường 577
Bảng 2.11 Đánh giá của cán bộ quản lý và giáo viên về việc đánh giá các tiêu
chí trong báo cáo tự đánh giá 58 Bảng 2.12 Đánh giá của cán bộ quản lý và giáo viên về khắc phục tồn tại, cải
tiến nâng cao chất lượng giáo dục sau khi tự đánh giá 63 Bảng 3.1 Kết quả khảo sát nhận thức về tính cần thiết và đánh giá về tính khả
thi của các biện pháp đánh giá hiệu quả hoạt động tự đánh giá ở các trường THPT huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương 79
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, giáo dục giữ một vị trí quan trọng trong việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần vào việc xây dựng một nền kinh tế tri thức Tuy nhiên, giáo dục ở các cấp học và trình độ đào tạo đang phải đối mặt với những khó khăn và thách thức mới, nhất là tình trạng chất lượng giáo dục chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn hiện nay Thực hiện Luật Giáo dục
2005 và Nghị định số 75/2006/NĐ-CP ngày 02 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục, Bộ Giáo dục và Đào tạo, đang triển khai đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục, tiếp tục đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, giảng viên, tăng cường cơ sở vật chất, và đẩy mạnh công tác đánh giá và kiểm định chất lượng giáo dục ở các cấp học và trình độ đào tạo nhằm nhanh chóng tạo bước chuyển biến lớn về chất lượng giáo dục
Chất lượng giáo dục là một vấn đề luôn được xã hội quan tâm vì tầm quan trọng hàng đầu của nó đối với sự nghiệp phát triển đất nước nói chung, sự nghiệp phát triển giáo dục nói riêng Mọi hoạt động giáo dục được thực hiện đều hướng tới mục đích góp phần đảm bảo, nâng cao chất lượng giáo dục; và một nền giáo dục ở bất kì quốc gia nào bao giờ cũng phải phấn đấu để trở thành một nền giáo dục chất lượng cao Mặc dù vậy, do tính chất phức tạp, đa dạng, nhiều chiều của vấn đề, hiểu đầy đủ về chất lượng giáo dục cũng như xác định quy trình, phương pháp, kĩ thuật đánh giá chất lượng giáo dục một cách khoa học, phù hợp với thực tiễn phát triển của xã hội, của giáo dục trong một hoàn cảnh cụ thể không phải là điều đơn giản
Để đảm bảo và không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục, mỗi nhà trường THPT phải xác định được điểm mạnh, điểm yếu, thời cơ, thách thức của
Trang 12mình để xây dựng kế hoạch chất lượng, hay nói khác đi là nhà trường phải tiến hành hoạt động tự đánh giá
Kiểm định chất lượng được hiểu là quá trình đánh giá từ bên ngoài để công nhận các cơ sở giáo dục và chương trình giáo dục đạt được sứ mạng và các chuẩn mực đã được tuyên bố Như vậy KĐCLGD là một khâu then chốt trong giáo dục và đào tạo Thông qua kết quả kiểm định chất lượng, các tổ chức
và cơ sở giáo dục điều chỉnh quá trình giáo dục và đào tạo để đáp ứng yêu cầu thực tiễn Kiểm định chất lượng giáo dục là những vấn đề còn khá mới ở Việt Nam nhưng sẽ là xu thế tất yếu của giáo dục hiện đại
Để thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục (KĐCLGD), các cơ sở giáo dục phải tự đánh giá so sánh với bộ tiêu chuẩn được Bộ Giáo dục Đào tạo ban hành cho từng loại hình giáo dục, viết báo cáo tự đánh giá rồi mới đề nghị cơ quan kiểm định thực hiện đánh giá ngoài
Trên thực tế, một số nhà trường THPT thực sự nghiêm túc trong hoạt động tự đánh giá (đặc biệt trong viết báo cáo tự đánh giá), bên cạnh đó, hoạt động tự đánh giá ở một số trường THPT còn mang tính hình thức, chưa có kế hoạch cải tiến chất lượng khả thi Do đó hoạt động tự đánh giá cùng với việc quản lý hoạt động tự đánh giá theo quy trình kiểm định chất lượng giáo dục vẫn chưa được chú trọng và quan tâm nghiên cứu để có được những biện pháp cụ
thể Vì vậy tác giả đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiệu quả của hoạt
động tự đánh giá ở các trường trung học phổ thông huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương”
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về đánh giá hiệu quả của hoạt động tự đánh giá và thực trạng đánh giá hiệu quả của hoạt động tự đánh giá ở trường THPT huyện Nam Sách – Hải Dượng, để đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả đánh giá hoạt động tự đánh giá theo quy trình kiểm định chất lượng giáo dục nhằm nâng cao chất lượng giáo dục THPT ở địa phương
Trang 133 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình đánh giá hoạt động tự đánh giá theo quy trình kiểm định chất lượng giáo dục ở các trường THPT
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp đánh giá hiệu quả của hoạt động tự đánh giá ở các trường THPT huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương
4 Phạm vi nghiên cứu
4.1 Về nội dung: Hoạt động tự đánh giá của trường THPT là một nội dung hoạt động rộng và được tiếp cận ở nhiều góc độ, đề tài đi sâu vào nghiên cứu đánh giá hiệu quả của hoạt động tự đánh giá theo quy trình kiểm định chất lượng giáo dục quy định trong Thông tư số 42/2012/TT-BGDĐT ngày 23-11-
2012 của Bộ Giáo dục và Đào tạo
4.2 Về thời gian, khách thể khảo sát: Đề tài đánh giá hiệu quả của hoạt động tự đánh giá ở các trường THPT huyện Nam Sách, Hải Dương đã công bố báo cáo tự đánh giá là trường THPT Nam Sách trong thời gian từ năm 2009 đến năm 2014
5 Giả thuyết khoa học
Hoạt động tự đánh giá được thực hiện nghiêm túc, khách quan, khoa học sẽ có hiệu quả cao trong đảm bảo và nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường Nếu nghiên cứu đề xuất được hê thống các biện pháp đánh giá hiệu quả của hoạt động tự đánh giá phù hợp với đặc điểm các trường THPT
ở huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương sẽ nâng cao chất lượng tự đánh giá, góp
phần nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lý luận về đánh giá hiệu quả của hoạt động tự đánh giá
ở trường THPT theo quy trình kiểm định chất lượng
Trang 14- Khảo sát thực trạng đánh giá hiệu quả của hoạt động tự đánh giá ở các trường THPT huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương
- Đề xuất các biện pháp đánh giá hiệu quả của hoạt động tự đánh giá ở trường THPT huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương
7 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Chúng tôi sử dụng kết hợp các phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu, phân loại và hệ thống hóa, khái quát hóa tài liệu để xây dựng cơ sở lý luận của
đề tài
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Chúng tôi sử dụng kết hợp các phương pháp khảo sát, điều tra thực tiễn; phương pháp phỏng vấn, phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động đó là các báo cáo tự đánh giá của các nhà trường và các minh chứng kèm theo, so sánh, đối chiếu với các tiêu chuẩn, tiêu chí tự đánh giá
Sử dụng phương pháp khảo nghiệm, lấy ý kiến chuyên gia để khẳng định tính cần thiết, khả thi của một số biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tự đánh giá ở các trường THPT huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương
7.3 Các phương pháp khác
Sử dụng phương pháp thống kê toán học, phân tích số liệu điều tra để
xử lý kết quả khảo sát nhằm mô tả thực trạng hiệu quả hoạt động tự đánh giá theo quy trình kiểm định chất lượng giáo dục ở các trường THPT huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, cấu trúc luận văn gồm ba chương sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về đánh giá hiệu quả của hoạt động tự đánh giá
ở các trường THPT
Trang 15Chương 2: Thực trạng đánh giá hiệu quả hoạt động tự đánh giá các
trường THPT huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương
Chương 3: Biện pháp đánh giá hiệu quả của hoạt động tự đánh giá ở các
trường THPT huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA HOẠT ĐỘNG
TỰ ĐÁNH GIÁ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Ở Việt Nam
Kiểm định chất lượng giáo dục là một lĩnh vực còn khá mới ở Việt Nam
Từ tháng 1 năm 2002 Bộ giáo dục và Đào tạo thành lập Phòng kiểm định chất lượng Đào tạo trong vụ Đại học Đến năm 2003 sau khi Cục Khảo thí và kiểm định chất lượng giáo dục được thành lập, việc kiểm định chất lượng giáo dục mới được mở rộng cho các cấp học và trình độ đào tạo khác Từ tháng 12 năm
2004, Kiểm định chất lượng được đẩy mạnh khi quy định tạm thời về kiểm định chất lượng trường Đại học được ban hành Từ đó đến nay nhiều văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản hướng dẫn triển khai công tác KĐCLGD đã được ban hành, trong đó có các quy định và hướng dẫn về hoạt động tự đánh giá ở trường THPT:
Quốc hội phê duyệt các văn bản
[1] Luật Giáo dục 2005 (Điều 17, 58, 99)
[2] Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục ngày 25 tháng
11 năm 2009 (Mục 3a)
Chính phủ ban hành các văn bản
[1] Nghị định số 75/2006/NĐ-CP ngày 02 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục (Chương II, Điều 38-40);
[2] Nghị định số 31/2011/NĐ-CP ngày 11 tháng 5 năm 2011 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 75/2006/NĐ-CP ngày 02 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục (Điều 1, khoản 14, 15)
Bộ GD&ĐT ban hành các văn bản về kiểm định trường phổ thông
Trang 17[1] Thông tư số 13/2012/TT-BGDĐT ngày 06 tháng 4 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy định về Tiêu chuẩn đánh giá trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học
[2] Thông tư số 42/2012/TT-BGDĐT ngày 23 tháng 11 năm 2012 của
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục và quy trình, chu kỳ KĐCLGD cơ sở giáo dục phổ thông, cơ
sở GDTX (Thông tư này thay thế Quyết định 04/2008/QĐ-BGDĐT, Thông tư 12/2009/TT-BGDĐT, Quyết định 80/2008/QĐ-BGDĐT và Quyết định 83/2008/QĐ-BGDĐT)
Cục Khảo thí và KĐCLGD, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành các văn bản hướng dẫn
[1] Công văn số 141/KTKĐCLGD-KĐPT ngày 21 tháng 12 năm 2011 của Cục Khảo thí và KĐCLGD về việc Hướng dẫn xác định nội hàm, tìm thông
tin và minh chứng để đánh giá chất lượng giáo dục trường THPT
[2] Công văn số 8987/BGDĐT-KTKĐCLGD ngày 28 tháng 12 năm 2012 của Cục Khảo thí và KĐCLGD hướng dẫn tự đánh giá và đánh giá ngoài cơ sở giáo dục phổ thông, cơ sở GDTX
Các văn bản trên là công cụ pháp lý quan trọng để triển khai kiểm định CLGD, trong đó có hoạt động tự đánh giá ở các trường THPT tại Việt Nam
Ngoài các văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản hướng dẫn như trên
về hoạt động TĐG và KĐCL , hiện nay cũng đã có nhiều hội thảo, công trình nghiên cứu khoa học về vấn đề này như:
" Xu hướng đánh giá chất lượng, chương trình đào tạo trên thế giới và ở Việt Nam" của PGS.TS Nguyễn Thị Kim Anh và TS Lê Văn Hảo trường Đại học Nha Trang trong Hội thảo tập huấn KĐCLGD tại Nha Trang tháng 12 năm 2013 "Tổng quan về đảm bảo và kiểm định chất lượng giáo dục ở Việt Nam" của TS Phạm Xuân Thanh, Phó Cục trưởng Cục Khảo thí và kiểm định CLGD “Hướng dẫn tự
Trang 18đánh giá chất lượng chương trình đào tạo giáo viên THPT trình độ đại học” của
Dự án phát triển giáo viên THPT và TCCN "Hướng dẫn tự đánh giá cơ sở giáo dục và chương trình đào tạo" của TS Lê Mỹ Phong, Cục Khảo thí và kiểm định CLGD
Như vậy Kiểm định chất lượng giáo dục là một trong những giải pháp căn bản để nâng cao chất lượng giáo dục hiện nay trong đó khâu tự đánh giá cần được trú trọng để trở thành công cụ để cải tiến chất lượng và hiệu quả giáo dục tại các nhà trường
1.1.2 Trên thế giới
Kiểm định chất lượng giáo dục (KĐCLGD) là một trong những hoạt động của hệ thống đảm bảo chất lượng, là biện pháp hữu hiệu được sử dụng để nâng cao chất lượng giáo dục Trên thế giới có hơn 150 nước có hệ thống quốc gia đảm bảo và KĐCLGD Những nước có hệ thống đảm bảo và KĐCLGD lâu đời như Mỹ, Anh Những nước trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (ví dụ: Thái Lan, Malaysia, Campuchia…) cũng đã có các tổ chức đảm bảo chất lượng quốc gia và có hệ thống chân rết đến từng cơ sở giáo dục Các tổ chức này rất khác nhau Một xu thế chung là các quốc gia ngày một quan tâm nhiều hơn đến hệ thống đảm bảo chất lượng giáo dục và đứng ra thành lập các tổ chức đảm bảo chất lượng quốc gia
KĐCLGD có nguồn gốc từ Hoa Kỳ và Bắc Mỹ từ hơn 100 năm nay, và hiện nay đang được nhiều nước sử dụng Nguyên tắc của KĐCLGD là phải được độc lập đưa ra quyết định, không bị chi phối bới các cơ quan khác Đối tượng KĐCLGD là các cơ sở giáo dục (nói chung), các chương trình giáo dục đại học và trung cấp chuyên nghiệp
KĐCLGD nhằm góp phần đảm bảo và nâng cao chất lượng giáo dục; xác nhận mức độ cơ sở giáo dục đáp ứng mục tiêu đề ra trong từng giai đoạn nhất định; làm căn cứ để cơ sở giáo dục giải trình với các cơ quan quản lý nhà nước
có thẩm quyền và xã hội về thực trạng chất lượng đào tạo; làm cơ sở cho người
Trang 19học lựa chọn cơ sở giáo dục và nhà tuyển dụng lao động tuyển chọn nhân lực Sau đây là xu hướng KĐCLGD, trong đó có hoạt động tự đánh giá ở một số nước trên thế giới:
Hoa Kỳ:
- Kiểm định chất lượng chương trình đào tạo (program accreditation)
cũng phổ biến như kiểm định chất lượng trường đại học (institutional accreditation)
- Người ta còn gọi “kiểm định chất lượng chương trình đào tạo” là “kiểm định chất lượng đào tạo nghề nghiệp” (professional accreditation) hoặc “kiểm
định chuyên môn” (specialized accreditation)
- Có khoảng 52 tổ chức kiểm định chất lượng đào tạo nghề nghiệp
Indonesia:
- Hội đồng Quốc gia Kiểm định Giáo dục Đại học (National Board for Accreditation in Higher Education) có trách nhiệm kiểm định cả trường đại học lẫn các chương trình đào tạo
- Hội đồng này đưa ra những khuyến cáo trực tiếp về việc cải tiến chương trình Những khuyến cáo này dựa trên cơ sở phân tích các điểm mạnh, yếu, những cơ hội và thách thức được nêu trong kết quả kiểm định
- Các khuyến cáo cũng được gửi tới Cục trưởng Cục đại học (Director General of Higher Education) để Cục này có những hành động có tính chính sách liên quan tới các chương trình đào tạo
Malaysia:
- Chất lượng các trường đại học tư thục và các chương trình đào tạo trong các trường này do Lembaga Akkreditasi Negara (LAN) tức là Hội đồng Kiểm định Quốc gia kiểm định
- Việc đánh giá chương trình đào tạo trong các trường đại học công lập
do Cục văn bằng Malaysia thực hiện
- Tiêu chuẩn đánh giá do Chính phủ đề ra, có tham vấn ý kiến của các cá
Trang 20nhân/tổ chức liên quan
- Malaysia cũng đã có một số tổ chức đánh giá nghề nghiệp như Hội đồng Y học Malaysia (Malaysian Medical Coucil), Hội đồng Kỹ sư (Board of Engineers) và Hội đồng ngành Pháp luật (Legal Profession Qualifications Board)
- Hiệp hội kiểm định chất lượng trường phổ thông và trường đại học Philippines (PAASCU) Hoạt động của Hiệp hội được thực hiện ở cấp chương trình đào tạo, bao gồm cả việc đánh giá các hoạt động giáo dục lẫn công tác nghiên cứu khoa học
- Hội đồng kiểm định chất lượng các trường đại học Philippines (PACUCOA), tập trung đánh giá các chương trình đào tạo liên quan chủ yếu đến việc mở rộng trí tuệ, không đơn thuần đào tạo về kỹ thuật hoặc nghề nghiệp (liberal arts), các chương trình đào tạo về giáo dục, thương mại, biển
- Thailand cũng tiến hành kiểm định chất lượng cả ở cấp trường đại học
và cấp chương trình đào tạo
Trên đây là những xu hướng kiểm định chất lượng giáo dục ở một số nước trên thế giới và khu vực Trong kiểm định chất lượng giáo dục thì tự đánh
Trang 21giá là một khâu bắt buộc và là cơ sở để tiến hành kiểm định Như vậy tự đánh giá cũng chính là một bộ phận của quá trình đánh giá
Trong tạp chí giáo dục học Xô viết tháng 6/1973, V.P.Levcôvich đã nhấn mạnh vai trò của tự đánh giá qua bài viết "Tự đánh giá và vai trò của nó trong quá trình hình thành và giáo dục nhân cách" Tác giả vạch rõ con đường tự đánh giá và khẳng định vai trò điều khiển, điều chỉnh hành vi con người của tự đánh giá
Mats Oscarsson (1898) một học giả nổi tiếng trong lĩnh vực tự đánh giá
đã đưa ra một số kỹ thuật để tự đánh giá như: thang đo, bảng kiểm tra, bản câu hỏi, nhật ký và băng video [15]
Ngoài ra còn nhiều tác giả quan tâm đến tự đánh giá trong giáo dục như: Boud (19910, Hannien (1994) Sutton (1995), Sloan (1996) [16]
1.2 Các khái niệm cơ bản
1.2.1 Đánh giá
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: Đánh giá có nghĩa nhận định
giá trị Những từ có nghĩa gần với đánh giá là phê bình, nhận xét, nhận định, bình luận, xem xét Đánh giá một đối tượng nào đó, chẳng hạn một con người, một tác phẩm nghệ thuật, một sản phẩm hàng hoá hay dịch vụ, đội ngũ giáo viên hay đánh giá tác động môi trường có ý nghĩa quan trọng trong nhiều lĩnh vực như chính trị, nghệ thuật, thương mại, giáo dục hay môi trường
Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng: Đánh giá là một quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả của công việc, dựa vào sự phân tích những thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đề ra, nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc[14] Như vậy đánh giá nhằm vào các vấn đề sau:
- Ghi nhận thực trạng
- Phát hiện nguyên nhân
Trang 22- Đề xuất những giải pháp để cải thiện thực trạng
Các khâu của quá trình đánh giá bao gồm:
- Kiểm tra: Kiểm tra là quá trình sử dụng các phương pháp khác nhau để thu thập thông tin về hiệu quả hoạt động Kiểm tra sẽ cung cấp thông tin, những dữ liệu làm cơ sở cho việc đánh giá
- Đánh giá: Bao gồm các khâu
+ Đo: Kết quả kiểm tra được ghi nhận bằng một số đo dựa vào những quy tắc đã được tính toán trước Thông thường kết quả kiểm tra được ghi nhận bằng điểm số theo thang điểm dựa trên các tiêu chí, biểu điểm đã được xác định trước đó Như vậy điểm số là kí hiệu gián tiếp phản ánh trình độ, năng lực của từng đối tượng Điểm số chỉ có ý nghĩa về mặt định tính (Tốt, Khá, Trung bình, ) và mặt định dạng (thứ tự cao thấp của đối tượng trong tập hợp) Điểm
số không có ý nghĩa về mặt định lượng
+ Lượng giá: Dựa vào số đo, nhà quản lý đưa ra những thông tin ước lượng về trình độ của đối tượng Lượng giá là bước trung gian giữa đo và đánh giá Mặc dù nó làm sáng tỏ hơn nữa trình độ của đối tượng nhưng chưa phản ánh được thực chất năng lực của đối tượng đó Lượng giá bao gồm: Lượng giá theo chuẩn (là sự so sánh tương đối với chuẩn trung bình trung của tập hợp) và lượng giá theo tiêu chí (là sự đối chiếu kết quả đạt được với những tiêu chí đã
đề ra)
+ Đánh giá: Khâu đánh giá đòi hỏi chủ thể hoạt động đánh giá phải đưa
ra những nhận định, những phán đoán về thực chất trình độ của đối tượng trước vấn đề kiểm tra, đề xuất được những quyết định thích hợp để cải thiện trình độ của đối tượng
- Ra quyết định: Là khâu cuối cùng của quá trình đánh giá Dựa vào định hướng đã nêu trong phần đánh giá, chủ thể hoạt động đánh giá phải đưa ra được những quyết định cụ thể để giúp đỡ đối tượng hoặc tập thể cải thiện thực trạng
- Tự đánh giá: Dựa trên kết quả đánh giá của chủ thể hoạt động đánh giá, đối
Trang 23tượng tự đánh giá trình độ và năng lực của mình để từ đó có sự điều chỉnh cho phù hợp
Như vậy việc đánh giá có ý nghĩa của sự phán xét giá trị để đi đến quyết định Quyết định để thay đổi, quyết định để cải tiến, để điều khiển quá trình thực hiện công việc
Tóm lại: Đánh giá là quá trình so sánh kết quả đạt được với mục tiêu để xác định những thành công, những lệch lạc để đưa ra những tác động điều chỉnh uốn nắn phù hợp
Đánh giá là quá trình thu thập, xử lí thông tin để lượng định tình hình
và kết quả công việc giúp quá trình lập kế hoạch, quyết định và hành động
có kết quả
Đánh giá là quá trình mà qua đó ta quy cho đối tượng một giá trị nào đó Đánh giá là một hoạt động nhằm nhận định, xác nhận giá trị thực trạng về: mức độ hoàn thành nhiệm vụ, chất lượng, hiệu quả công việc, trình độ, sự phát triển, kinh nghiệm được hình thành ở thời điểm hiện tại đang xét sơ với mục tiêu hay các chuẩn mực đã được xác định
1.2.2 Đánh giá trong giáo dục
Khái niệm đánh giá sử dụng trong lĩnh vực giáo dục được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau Theo C.E Beeby (1997) "Đánh giá là sự thu thập và lý giải một cách có hệ thống những bằng chứng dẫn tới sự phán xét về giá trị theo quan điểm hành động" Khái niệm này nhấn mạnh vào khía cạnh giá trị, coi đánh giá là sự thu thập và lý giải một cách có hệ thống những bằng chứng dẫn tới sự phán xét về mặt giá trị Theo R.Tyler đánh giá thể hiện ở sự xem xét mức
độ thích đáng giữa toàn bộ các thông tin với toàn bộ các tiêu chuẩn tương ứng với mục tiêu xác định nhằm đưa ra một quyết định " Quá trình đánh giá chủ yếu là quá trình xác định mức độ thực hiện các mục tiêu của chương trình giáo dục" (1984) Owen & Rogers (1999) "Đánh giá là việc thu thập thông tin một cách có hệ thống và đưa ra những nhận định dựa trên cơ sở các thông tin thu được" Như vậy quan niệm về đánh giá được xem xét phù hợp với mục đích,
Trang 24đối tượng cụ thể cần đánh giá Có thể hiểu đánh giá là sự thu thập thông tin một cách có hệ thống về thực trạng của đối tượng được đánh giá, từ đó đưa ra những nhận định xác thực dựa trên cơ sở các thông tin thu được, làm cơ sở cho việc đề xuất những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục
Đánh giá là một quá trình bao gồm việc chuẩn bị cho đánh giá, thu thập, phân tích, xử lý các thông tin thu được, chuyển giao kết quả đến những người
có liên quan để có được những quyết định thích hợp sản phẩm của đánh giá là các thông tin và bằng chứng thu được trong quá trình đánh giá, các nhận định rút ra trên cơ sở các thông tin và bằng chứng thu được, các kết luận Đánh giá trong giáo dục bao gồm việc trả lời các câu hỏi như: mục đích của đánh giá; những gì cần được đánh giá; ai đánh giá; những thủ tục của đánh giá; phương pháp nào được sử dụng; đánh giá bằng những tiêu chuẩn nào
Như vậy đánh giá trong giáo dục là một quá trình hoạt động được tiến hành có hệ thống nhằm xác định mức độ đạt được của đối tượng quản lý về mục tiêu đã định; nó bao gồm sự mô tả định tính và định lượng kết quả đạt được thông qua những nhận xét, so sánh với mục tiêu đề ra [13]
Các loại hình đánh giá cơ bản thông dụng gồm:
- Đánh giá quá trình (sự diễn biến)
- Đánh giá đầu vào, đầu ra
- Đánh giá kết quả (sản phẩm)
Các loại hình đánh giá theo cấp độ từ vĩ mô đến vi mô gồm:
- Đánh giá ngành giáo dục theo các chỉ số đo:
+ Thực hiện mục tiêu xã hội
+ Thực hiện mục tiêu đào tạo
+ Khả năng hòa nhập và cạnh tranh trong phạm vi vùng và thế giới
- Đánh giá giáo dục địa phương theo các chỉ số đo:
+ Thực hiện mục tiêu xã hội
+ Thực hiện mục tiêu đào tạo
+ Khả năng hòa nhập và cạnh tranh trong phạm vi địa phương và cả nước
Trang 25- Đánh giá nhà trường theo các chỉ số đo:
+ Quá trình sư phạm tối ưu, tạo cơ sở cho sự phát triển nhân cách người học (thể chất, trí tuệ, lối sống tự lập, có văn hóa, có đạo đức) Theo yêu cầu của bậc học, độ tuổi, thời đại, trong mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra (theo nghĩa rộng trên cơ sở huy động và tận dụng mọi khả năng có thể có
+ Hiệu quả ngoài:
Đối với cộng đồng (dân trí, nhân lực, nhân tài, góp phần phát triển cộng đồng) Đối với địa phương (vai trò hạt nhân, kinh nghiệm tiên tiến, trung tâm khoa học kỹ thuật )
Đối với ngành (chứng minh quan điểm, định hướng giáo dục đảm bảo phát triển)
- Đánh giá cán bộ quản lý theo các chỉ số đo:
+ Nắm vững nội dung, mục đích, phạm vi mức độ tài năng, nhiệm vụ
+ Sẵn sàng và hết lòng vì sự nghiệp chung, vì lợi ích của người học và lợi ích của tập thể
+ Tư duy tuyến tính
+ Đánh giá quá cao động cơ thực tại
+ Chỉ chú ý đến hiện tượng, triệu chứng
+ Không triệt để
+ Phản ứng bừa, liều lĩnh
Trang 26+ Chỉ sử dụng quyền lực
+ Thiếu quan tâm và không công bằng với mọi người
- Đánh giá giáo viên theo các chỉ số đo:
+ Khả năng hiểu biết và thông cảm với học sinh ( đặc biệt tâm sinh lý, niềm vui, nỗi lo âu )
+ Góp phần xóa bỏ sự không đồng nhất ở học sinh, hậu quả của sự bất bình đẳng vốn có và của sự phát triển cá nhân cho đến lúc theo học, được đào tạo + Khả năng đảm bảo sự tạo lập tích cực, đúng hướng của học sinh
+ Khả năng tự bồi dưỡng nâng cao trình độ suốt đời
Đối với các trường THPT hiện nay việc đánh giá cán bộ quản lý theo chuẩn được thực hiện theo Thông tư 29/2009/TT-BGDĐT ngày 22/10/2009 của
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Đánh giá giáo viên theo chuẩn thực hiện theo Thông tư 30/2009/TT-BGDĐT ngày 22/10/2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Đánh giá học sinh theo Thông tư 58/2011/TT-BGDĐT ngày 12/12/2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Đánh giá nhà trường trong mối quan hệ với kiểm định chất lượng giáo dục gồm Tự đánh giá và Đánh giá ngoài được thực hiện theo Thông tư 42/TT-BGDĐT ngày 23/11/2012 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
1.2.3 Kiểm định chất lượng giáo dục
1.2.3.1 Chất lượng
Chất lượng là một khái niệm trừu tượng và khó định nghĩa, thậm chí khó nắm bắt Trong một nghiên cứu khá nổi tiếng của Harvey và Green (1993) nhằm tổng kết những quan niệm chung của các nhà GD, chất lượng được định nghĩa như tập hợp các thuộc tính khác nhau:
1) Chất lượng là sự xuất sắc (quality as excellence)
2) Chất lượng là sự hoàn hảo (quality as perfection)
3) Chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu (quality as fitness for purpose)
4) Chất lượng là sự đáng giá với đồng tiền [bỏ ra] (quality as value for money)
Trang 275) Chất lượng là sự chuyển đổi về chất (quality as transformation)
Như vậy có thể hiểu chất lượng là sự phản ánh giá trị của sản phẩm để phân biệt, so sánh sản phẩm này với sản phẩm khác
1.2.3.2 Chất lượng giáo dục
Chất lượng giáo dục là sự phù hợp về sản phẩm giáo dục và đào tạo đối với mục tiêu giáo dục đề ra Sản phẩm giáo dục hay nhân cách đối tượng giáo dục đào tạo phải thỏa mãn nhu cầu xã hội về phẩm chất, năng lực người được giáo dục đào tạo
Như vậy CLGD được đánh giá theo hai góc độ: Thứ nhất là sự phù hợp và đáp ứng yêu cầu với mục tiêu giáo dục đề ra (chất lượng bên trong); thứ hai là đáp ứng và thỏa mãn yêu cầu xã hội về sản phẩm giáo dục (chất lượng bên ngoài)
Chất lượng giáo dục của nhà trường THPT là sự phù hợp về sản phẩm giáo dục của nhà trường so với mục tiêu cấp học đề ra và sự đáp ứng yêu cầu của xã hội về nhân cách người học
1.2.3.3 Kiểm định chất lượng giáo dục
Kiểm định chất lượng giáo dục là một trong những hoạt động đảm bảo chất lượng bên ngoài cơ sở đào tạo Quá trình kiểm định chất lượng giáo dục nhằm mục tiêu đưa ra các quyết định công nhận về mức độ tiến bộ và đảm bảo chất lượng giáo dục tại các cơ sở giáo dục
Đặc trưng của Kiểm định chất lượng giáo dục là:
- Kiểm định chất lượng giáo dục có thể được tiến hành ở phạm vi cơ sở đào tạo (trường) hoặc chương trình đào tạo
- Kiểm định chất lượng giáo dục là hoạt động hoàn toàn tự nguyện
- Kiểm định chất lượng giáo dục không thể tách rời công tác tự đánh giá
- Tất cả các quy trình kiểm định chất lượng giáo dục luôn gắn liền với đánh giá ngoài
- Các chuẩn mực đánh giá rất linh hoạt và được biến đổi cho phù hợp với
Trang 28mục tiêu hoạt động của từng trường
Mục đích chính của kiểm định chất lượng giáo dục là nhằm đảm bảo đạt được những chuẩn mực nhất định trong đào tạo và không ngừng cải tiến, nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng yêu cầu của người sử dụng nguồn nhân lực và đảm bảo quyền lợi cho người học Ở một số nơi, kiểm định chất lượng giáo dục còn nhằm mục đích giải trình với xã hội, với các cơ quan quyền lực hay với các cơ quan, tổ chức tài trợ, cấp kinh phí Hiện nay, không ít các tổ chức, cơ quan quan tâm đến việc cơ sở đào tạo/ chương trình đào tạo đã được kiểm định chất lượng giáo dục hay chưa trước khi đưa ra quyết định tài trợ hay không tài trợ cho cơ sở đào tạo/ chương trình đào tạo đó Học sinh và phụ huynh, trước khi lựa chọn trường để đăng ký dự tuyển cũng cân nhắc xem nhà trường hay chương trình đào tạo có được kiểm định chất lượng giáo dục hay không
Quy trình tiến hành kiểm định chất lượng giáo dục gồm 4 bước như sau: Bước 1: Xây dựng hoặc cập nhật các công cụ kiểm định chất lượng giáo dục Bước 2: Tự đánh giá của cơ sở đào tạo/ chương trình đào tạo
Bước 3: Đánh giá từ bên ngoài (đánh giá đồng nghiệp)
Bước 4: Công nhận cơ sở đào tạo/ chương trình đào tạo đạt tiêu chuẩn kiểm định chất lượng
Như vậy kiểm định chất lượng giáo dục đào tạo là hoạt động đánh giá chất lượng được tiến hành trên hai góc độ bao gồm đánh giá sản phẩm đầu ra của giáo dục và đánh giá hệ thống các điều kiện đảm bảo chất lượng giáo dục
Theo Thông tư 42/2012/TT-BGDĐT: "Kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục là hoạt động đánh giá và công nhận mức độ cơ sở giáo dục đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục về mục tiêu, nội dung, chương trình giáo dục" Kiểm định bao gồm cả tự đánh giá, đánh giá chéo giữa các trường/ chương trình, và quan trọng nhất là hoạt động đánh giá và công nhận (đạt chuẩn hay không đạt chuẩn) của một tổ chức kiểm định độc lập bên ngoài Do đó kiểm định chất lượng là
Trang 29giải pháp quản lý chất lượng hiệu quả cơ sở giáo dục nhằm các mục tiêu sau:
- Đánh giá hiện trạng của cơ sở giáo dục, đáp ứng các tiêu chuẩn đề ra như thế nào? Chất lượng và hiệu quả ra sao?
- Đánh giá hiện trạng những điểm nào là điểm mạnh so với các tiêu chuẩn đề ra của cơ sở giáo dục
- Đánh giá hiện trạng những điểm nào là điểm yếu so với các tiêu chuẩn đề ra của cơ sở giáo dục
- Trên cơ sở điểm mạnh và điểm yếu phát hiện được so với các tiêu chuẩn đề
ra, định ra kế hoạch cải tiến chất lượng: Phát huy điểm mạnh, khắc phục điểm yếu để phát triển
Như vậy kiểm định chất lượng mang lại cho cộng đồng, đặc biệt là cho người học sự đảm bảo chắc chắn một cơ sở giáo dục đã được chứng minh thỏa mãn các yêu cầu và tiêu chí đáng tin cậy và có đủ cơ sở để tin rằng cơ sở giáo dục này sẽ tiếp tục đạt các yêu cầu và tiêu chí đề ra
Tự đánh giá là một khâu trong hoạt động KĐCLGD của một nhà trường hay kiểm định chương trình đào tạo Đó là quá trình nhà trường căn cứ vào các tiêu chuẩn KĐCL để tiến hành xem xét, phân tích, đánh giá tình trạng chất lượng và hiệu quả các hoạt động dạy học và giáo dục của mình, từ đó có các biện pháp để điều chỉnh các nguồn lực và quá trình thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra và hoàn thành chức năng, nhiệm vụ của nhà trường đối với xã hội và cộng đồng
Các điều kiện để đảm bảo tự đánh giá có chất lượng là:
Trang 30- Được tiến hành với những động lực thực chất
- Được các cấp, các bộ phận quản lý nhà trường ủng hộ toàn diện
- Được thiết kế phù hợp với nhu cầu của nhà trường
- Chỉ ra được những tồn tại và tìm được những giải pháp khắc phục phù hợp
- Thu thập được đầy đủ các minh chứng xác thực, có ý nghĩa và có độ tin cậy cao
- Báo cáo tự đánh giá được trình bày tốt, phản ánh đầy đủ và trung thực quan điểm của các bên có liên quan đến chất lượng giáo dục của nhà trường
Như vậy, Tự đánh giá ở trường THPT là quá trình nhà trường tự xem xét, nghiên cứu trên cơ sở các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng quy định trong Thông tư số 42/2012/TT-BGDĐT để báo cáo về tình trạng chất lượng, hiệu quả hoạt động giáo dục, nhân lực, cơ sở vật chất và các vấn đề liên quan làm cơ sở
để trường tiến hành điều chỉnh các nguồn lực và quá trình thực hiện nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn đã quy định
1.2.5 Quản lý hoạt động tự đánh giá
Quản lý hoạt động tự đánh giá là quá trình tác động có mục đích của chủ thể quản lý (Ban giám hiệu mà đứng đầu là Hiệu trưởng) lên đối tượng quản lý (giáo viên) và khách thể quản lý (hoạt động tự đánh giá) nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức để đạt mục tiêu đề ra là: Xác định thực trạng chất lượng, hiệu quả giáo dục, nhân lực, cơ sở vật chất, từ đó có
kế hoạch cải tiến nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục Các nhiệm vụ quản lý hoạt động tự đánh giá bao gồm:
1.2.5.1 Lập kế hoạch tự đánh giá của trường THPT
Kế hoạch tự đánh giá của trường THPT phải được xây dựng dựa trên Kế hoạch nhiệm vụ năm học của nhà trường được thông qua tại hội nghị cán bộ viên chức
Kế hoạch phải thể hiện rõ:
- Mục đích và phạm vi tự đánh giá
Trang 31- Phân công chức trách nhiệm vụ trong hội đồng tự đánh giá, nhóm thư ký, nhóm công tác
- Thời gian, nội dung tập huấn công tác tự đánh giá
- Dự kiến các nguồn lực và thời điểm cần huy động các nguồn lực cho việc thu thập, xử lý, phân tích các thông tin, minh chứng Đề xuất cải tiến chất lượng và hoàn thành báo cáo đánh giá các tiêu chí
- Dự kiến được các thông tin, minh chứng cần thu thập cho từng tiêu chí đánh giá
1.2.5.2 Tổ chức thực hiện kế hoạch tự đánh giá của trường THPT
Căn cứ kế hoạch tự đánh giá, Hội đồng tự đánh giá tiến hành tổ chức các hoạt động tự đánh giá:
- Ra quyết định hoàn thiện tổ chức bộ máy thực hiện
- Tuyển chọn giáo viên, sắp xếp theo năng lực và công việc cụ thể
- Tổ chức mời các chuyên gia tư vấn tập huấn bồi dưỡng nghiệp vụ tự đánh giá
- Ban hành các hệ thống văn bản, các biểu mẫu hướng dẫn việc thu thập thông tin, minh chứng, sắp xếp mã hóa các minh chứng, viết phiếu đánh giá tiêu chí, đánh giá từng tiêu chuẩn và báo cáo tự đánh giá
- Phân công trách nhiệm và liên đới trách nhiệm
- Xác định các mối quan hệ chỉ đạo thực hiện, các mối quan hệ phối hợp
1.2.5.3 Chỉ đạo thực hiện kế hoạch tự đánh giá của trường THPT
Chỉ đạo thực hiện kế hoạch tự đánh giá của trường THPT về thực chất đó
là những hành động xác lập quyền chỉ huy và sự can thiệp của hội đồng tự đánh giá trong toàn bộ quá trình quản lý hoạt động tự đánh giá, là huy động mọi nguồn lực vào việc thực hiện kế hoạch và điều chỉnh nhằm đảm bảo cho mọi hoạt động tự đánh giá của nhà trường diễn ra trong kỷ cương, trật tự, đảm bảo tính trung thực, khách quan
Chỉ đạo các nhóm được phân công đánh giá thực hiện đánh giá các tiêu chí theo văn bản hướng dẫn bao gồm các nội dung cụ thể:
Trang 32- Mô tả thực trạng
- Điểm mạnh
- Điểm yếu
- Kế hoạch cải tiến chất lượng
- Đánh giá tiêu chí (đạt hay không đạt)
Chỉ đạo các nhóm tìm minh chứng, sắp xếp, mã hóa các minh chứng cho từng chỉ số trong tiêu chí
Chỉ đạo các nhóm thư ký tổng hợp viết báo cáo đánh giá các tiêu chuẩn
và tổng hợp viết báo cáo tự đánh giá của nhà trường
1.2.5.4 Kiểm tra hoạt động tự đánh giá của trường THPT
Kiểm tra hoạt động tự đánh giá được thực hiện nhằm:
- Xác định xem mục tiêu, dự kiến ban đầu và toàn bộ kế hoạch tự đánh giá được thực hiện ở mức độ nào
- Phát hiện những lệch lạc, sai sót trong quá trình thực hiện
- Những phát sinh trong thực hiện kế hoạch
- Điều chỉnh kế hoạch, tìm biện pháp uốn nắn lệch lạc
- Rà soát các nguyên tắc tự đánh giá, các phương pháp đo, các hồ sơ, minh chứng xem có đảm bảo tính khách quan, tính hệ thống, tính đồng bộ chưa
Kiểm tra hoạt động tự đánh giá gồm các bước
- Thông báo kế hoạch kiểm tra
- Tổ chức lực lượng kiểm tra
- Thiết lập tiêu chuẩn, mẫu biên bản kiểm tra
- Tiến hành kiểm tra
- Đánh giá, thiết lập biên bản
- Công khai kết quả kiểm tra
- Đưa ra các giải pháp điều chỉnh để hoàn thiện kế hoạch tự đánh giá
1.2.6 Biện pháp quản lý hoạt động tự đánh giá
Biện pháp quản lý hoạt động tự đánh giá là hệ thống, cách thức, phương
Trang 33pháp tác động cụ thể của nhà quản lý nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tự đánh giá của cơ sở giáo dục đó
1.2.7 Đánh giá hiệu quả của hoạt động tự đánh giá
Theo từ điển tiếng Việt thông dụng, thuật ngữ hiệu quả được định nghĩa như sau: “Hiệu quả là kết quả đích thực” của một hoạt động, công việc nào đó Hiệu quả là so sánh đầu vào với đầu ra của một quyết định nào đó
Hiệu quả của hoạt động tự đánh giá được thể hiện qua sự so sánh giữa tình trạng chất lượng và hiệu quả giáo dục trước khi tiến hành tự đánh giá với kết quả sau khi thực hiện cải tiến, đổi mới, điều chỉnh nhờ hoạt động tự đánh giá mang lại Hiệu quả của hoạt động tự đánh giá ở trường THPT phải thể hiện
ở cả năm tiêu chuẩn và các tiêu chí, chỉ số được đánh giá
Đánh giá hiệu quả của hoạt động tự đánh giá là nhằm đưa ra những nhận định về mức độ hiệu quả của mỗi kế hoạch cải tiến chất lượng, xem cải tiến, đổi mới theo hướng nào thì đạt hiệu quả như thế nào, từ đó có thể so sánh hiệu quả của những phương án cải tiến khác nhau, để cuối cùng đưa ra được những quyết định điều chỉnh có hiệu quả nhất nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo
1.3 Những vấn đề cơ bản về đánh giá hiệu quả của hoạt động tự đánh giá
ở trường THPT
1.3.1 Hoạt động tự đánh giá ở trường THPT
1.3.1.1 Mục đích, ý nghĩa của hoạt động tự đánh giá ở trường THPT
* Mục đích tự đánh giá ở trường THPT
- Hoạt động tự đánh giá nhằm làm rõ thực trạng, quy mô và chất lượng, hiệu quả của hoạt động tự đánh giá của nhà trường Qua đó giúp nhà quản lý có cái nhìn hoàn chỉnh về nhà trường
- Xác định và so sánh, tự đánh giá theo các tiêu chuẩn, chuẩn mực kiểm định đã công bố
- Thúc đẩy xây dựng và phát triển hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong
- Phân tích làm rõ điểm mạnh, điểm yếu, thời cơ và thách thức của nhà trường
Trang 34Trên cơ sở đó đề xuất những biện pháp kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng giáo dục
- Tự đánh giá cung cấp cho các bên liên quan thông tin phù hợp
- Tự đánh giá là bước chuẩn bị cho đánh giá ngoài
Như vậy: "Mục đích tự đánh giá là cơ sở giáo dục phổ thông tự xem xét, tự kiểm tra chỉ ra các điểm mạnh, điểm yếu của từng tiêu chí, xây dựng
kế hoạch cải tiến chất lượng và các biện pháp thực hiện để đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng giáo dục do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành nhằm không ngừng cải tiến, nâng cao chất lượng giáo dục và để đăng ký kiểm định chất lượng giáo dục"
* Ý nghĩa của hoạt động tự đánh giá ở trường THPT
- Tự đánh giá là sự thể hiện cụ thể tính tự chủ và tự chịu trách nhiệm của nhà trường trong toàn bộ các hoạt động quản lý
- Tự đánh giá giúp nhà quản lý và giáo viên tự điều chỉnh hoạt động của bản thân và nhà trường
- Tự đánh giá thúc đẩy các hoạt động đánh giá và tự phân tích về nhà trường
- Đẩy mạnh tinh thần hợp tác trong trường, thu hẹp khoảng cách mục tiêu cá nhân với mục tiêu tập thể và khuyến khích sự minh bạch
- Phát hiện các chính sách đã lỗi thời
- Đề ra được các kế hoạch hành động nhằm cải tiến và nâng cao chất lượng giáo dục
- Giúp phát triển đội ngũ
- Tự đánh giá làm rõ hơn vị thế của trường với các bên liên quan
1.3.1.2 Nội dung tự đánh giá ở trường THPT
Nội dung tự đánh giá trường THPT thực hiện đánh giá theo Thông tư số 42/2012/TT-BGDĐT ngày 23-11-2012 của Bộ Giáo dục và Đào tạo gồm 5 tiêu chuẩn với 36 tiêu chí và 108 chỉ số ( Phụ lục 3)
- Tiêu chuẩn 1: Tổ chức và quản lý nhà trường gồm 10 tiêu chí với 30 chỉ số
Trang 35- Tiêu chuẩn 2 : Cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và học sinh gồm 5 tiêu chí với 15 chỉ số
- Tiêu chuẩn 3: Cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học gồm 6 tiêu chí với 18 chỉ số
- Tiêu chuẩn 4: Quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội gồm 3 tiêu chí với
9 chỉ số
- Tiêu chuẩn 5: Hoạt động giáo dục và kết quả giáo dục gồm 12 tiêu chí với 36 chỉ số
1.3.1.3 Quy trình tự đánh giá ở trường THPT
Quy trình tự đánh giá trường THPT thực hiện đánh giá theo Thông tư
số 42/2012/TT-BGDĐT ngày 23-11-2012 của Bộ Giáo dục và Đào tạo gồm
6 bước:
[1] Thành lập hội đồng tự đánh giá
[2] Xây dựng kế hoạch tự đánh giá
[3] Thu thập, xử lý và phân tích các minh chứng
[4] Đánh giá mức độ đạt được theo từng tiêu chí
[5] Viết báo cáo tự đánh giá
[6] Công bố báo cáo tự đánh giá
1.3.1.4 Hội đồng tự đánh giá, chức năng nhiệm vụ của Hội đồng tự đánh giá
Hiệu trưởng (giám đốc) ra quyết định thành lập hội đồng tự đánh giá của
cơ sở giáo dục Hội đồng tự đánh giá có ít nhất 5 thành viên
Thành phần của hội đồng tự đánh giá:
- Chủ tịch hội đồng tự đánh giá là hiệu trưởng (giám đốc) cơ sở giáo dục;
- Phó chủ tịch hội đồng tự đánh giá là phó hiệu trưởng (phó giám đốc) cơ
sở giáo dục;
- Thư ký hội đồng tự đánh giá là thư ký hội đồng trường (trung tâm) hoặc
tổ trưởng tổ văn phòng hoặc tổ trưởng tổ chuyên môn hoặc trưởng các bộ phận khác (nếu có) của cơ sở giáo dục;
Trang 36- Các thành viên khác: Đại diện hội đồng trường đối với trường công lập hoặc hội đồng quản trị đối với trường tư thục; tổ trưởng tổ chuyên môn, tổ trưởng tổ văn phòng, trưởng các bộ phận khác (nếu có); đại diện cấp ủy Đảng
và các tổ chức đoàn thể
Hội đồng tự đánh giá có chức năng triển khai tự đánh giá và tư vấn cho hiệu trưởng (giám đốc) biện pháp nâng cao chất lượng các hoạt động của cơ sở giáo dục
Nhiệm vụ và quyền hạn của hội đồng tự đánh giá
- Hội đồng tự đánh giá có nhiệm vụ: Xây dựng kế hoạch tự đánh giá; thu thập, xử lý và phân tích các minh chứng; viết báo cáo tự đánh giá; bổ sung, hoàn thiện báo cáo tự đánh giá khi cơ quan quản lý trực tiếp cơ sở giáo dục yêu cầu; công bố báo cáo tự đánh giá; lưu trữ cơ sở dữ liệu về tự đánh giá của
cơ sở giáo dục;
- Chủ tịch hội đồng chịu trách nhiệm điều hành các hoạt động của hội đồng, phân công nhiệm vụ cho từng thành viên; phê duyệt kế hoạch tự đánh giá; thành lập nhóm thư ký và các nhóm công tác để triển khai hoạt động tự đánh giá; chỉ đạo quá trình thu thập, xử lý, phân tích minh chứng; hoàn thiện báo cáo tự đánh giá; giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình triển khai tự đánh giá;
- Phó chủ tịch hội đồng thực hiện các nhiệm vụ do chủ tịch hội đồng phân công, điều hành hội đồng khi được chủ tịch hội đồng uỷ quyền;
- Thư ký hội đồng, các uỷ viên hội đồng thực hiện công việc do chủ tịch hội đồng phân công và chịu trách nhiệm về công việc được giao
Hội đồng tự đánh giá được đề nghị hiệu trưởng (giám đốc) thuê chuyên gia tư vấn để giúp hội đồng triển khai tự đánh giá nếu cần thiết Chuyên gia tư vấn phải có hiểu biết sâu về kiểm định chất lượng giáo dục và các kỹ thuật tự đánh giá
1.3.1.5 Những yêu cầu cơ bản của hoạt động tự đánh giá
Trang 37- Hoạt động tự đánh giá phải cung cấp được những kết luận hoặc suy luận đáng tin cậy và có ý nghĩa toàn diện về nhà trường Để có được những kết luận có giá trị, các suy luận cần dựa trên các minh chứng đầy đủ và thích hợp được thu thập, phân tích và xử lý một cách khoa học
- Hoạt động tự đánh giá phải bám sát các tiêu chuẩn đánh giá đã được quy định
cụ thể trong Thông tư 42/TT-BGDĐT ngày 23/11/2012 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
- Hoạt động tự đánh giá phải tạo ra động lực để phát triển nhà trường
1.3.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tự đánh giá ở trường THPT
* Các yếu tố chủ quan:
- Tại một số nhà trường, cán bộ quản lý và giáo viên chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của hoạt động tự đánh giá do đó chưa có sự quan tâm đúng mức đến hoạt động này
- Tự đánh giá vừa là trách nhiệm vừa là nghĩa vụ của nhà trường, tuy nhiên lãnh đạo một số trường chưa ý thức rõ vấn đề này nên chưa có sự chủ động tích cực, tự giác trong hoạt động tự đánh giá
- Một bộ phận không nhỏ đội ngũ giáo viên xem nhẹ quá trình tự đánh giá hay chưa chuyên tâm thực hiện hoạt động này, vì vậy hoạt động tự đánh giá còn mang tính hình thức, chưa mang lại hiệu quả mong muốn
- Cơ quan phụ trách hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục và tự đánh giá các nhà trường là phòng khảo thí kiểm định chất lượng giáo dục của Sở Giáo dục và Đào tạo chưa có sự chỉ đạo sát sao và quyết liệt đối với hoạt động tự đánh giá ở các nhà trường
Trang 38động tự đánh giá
- Tại các Sở Giáo dục và Đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên trách, tư vấn cho hoạt động tự đánh giá phần lớn là cán bộ kiêm nhiệm chưa có nhiều kinh nghiệm trong hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục
- Công tác tự đánh giá theo quy trình kiểm định chất lượng giáo dục là công tác hoàn toàn mới, được triển khai và thực hiện với thời gian tương đối gấp rút nên
ít nhiều cũng dẫn đến thiếu sót trong hoạt động tự đánh giá
- Có nhiều thông tin minh chứng phục vụ cho công tác tự đánh giá đối với nhà trường mà trước đây ngành giáo dục không quy định nên hội đồng tự đánh giá vừa tự đánh giá vừa chỉ đạo bổ sung hoàn thiện các thông tin minh chứng đó
- Về kinh phí và hệ thống văn bản chỉ đạo, cơ chế chính sách khuyến khích hoạt động tự đánh giá còn hạn chế, do đó chưa thực sự khuyến khích được cán
bộ quản lý và giáo viên tích cực tham gia hoạt động này
1.3.2 Đánh giá hiệu quả của hoạt động tự đánh giá
1.3.2.1 Mức độ khắc phục tồn tại sau tự đánh giá
Sau khi tự đánh giá các nhà trường đã nhận thức đúng hơn về kiểm định chất lượng nói chung và tự đánh giá nói riêng Đối với các cấp quản lý thay đổi nhận thức và cách thức điều hành quản lý nhà trường là vấn đề rất quan trọng
Từ đó mới có quyết tâm khắc phục tồn tại sau tự đánh giá Đối với các thành viên trong trường hiểu rõ hơn về quyền hạn và trách nhiệm của mình đối với chất lượng đào tạo của trường Kết quả tự đánh giá đã làm thay đổi nếp nghĩ và cách làm của chính các nhà trường trong lĩnh vực giáo dục và quản lý Nhà trường đánh giá đúng hơn về thực trạng chất lượng giáo dục của mình Các trường tham gia tự đánh giá có dịp trao đổi học tập kinh nghiệm lẫn nhau Hiệu quả cuối cùng của hoạt động tự đánh giá là các trường tự đánh giá đúng chính mình, đề ra được kế hoạch khả thi để nâng cao chất lượng đào tạo
Mức độ khắc phục tồn tại sau khi thực hiện tự đánh giá thể hiện ở các nội dung sau:
Trang 39- Giải quyết được mối quan hệ giữa yêu cầu nâng cao chất lượng và điều chỉnh quy mô, sắp xếp lại cơ cấu tổ chức, cải cách hành chính
- Nâng cao chất lượng giáo dục tập chung vào yếu tố con người cụ thể là chất lượng giáo viên
- Quản lý đổi mới phương pháp dạy học đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện
- Quản lý thực hiện đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh theo định hướng phát triển năng lực
1.3.2.2 Các hình thức khắc phục tồn tại
- Các trường cần thành lập một bộ phận chuyên trách/bán chuyên trách chịu trách nhiệm làm đầu mối thu thập, lưu giữ dữ liệu, tổ chức hoạt động tự đánh giá nhằm mục đích cải tiến nâng cao chất lượng và KĐCL Bộ phận này phải gồm những người được đào tạo chuyên môn về đo lường, đánh giá, kiểm định chất lượng trong giáo dục hoặc đã tham gia các đợt tập huấn tự đánh giá/đánh giá ngoài do Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục tổ chức
- Tổ chức tập huấn kĩ hơn cho lãnh đạo trường, Hội đồng tự đánh giá về đảm bảo chất lượng/KĐCL và đặc biệt tập huấn cho các nhóm chuyên trách các kĩ thuật thu thập thông tin/minh chứng, mã hoá phân tích minh chứng, cách viết báo cáo tự đánh giá
- Nên thiết kế một số bộ câu hỏi điều tra chuẩn dựa trên những nội dung cần khảo sát phù hơp với nội hàm các tiêu chí, thích hợp cho việc thu thập thông tin phục vụ tự đánh giá, KĐCLGD
- Công tác tự đánh giá chất lượng, kiểm định chất lượng chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi các hoạt động này hướng đến nền văn hoá chất lượng Điều này cần có thời gian và công việc cần làm ngay là tuyên truyền rộng rãi để tất cả các trường và xã hội hiểu rõ vai trò và lợi ích của kiểm định chất lượng
1.3.2.3 Các kế hoạch hoạt động đã được triển khai, nội dung đã được cải tiến,
đổi mới
Trang 40Sau khi thực hiện hoạt động tự đánh giá các nhà trường cần phải xây dựng được hệ thống đảm bảo chất lượng cụ thể như sau:
- Xác định các nội dung cần quản lý của Nhà trường: Được xác định theo 5 tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường THPT
- Xác định cấu trúc của hệ thống: Xây dựng sơ đồ của các công việc cần quản
lý, trong đó xác định rõ các mối quan hệ và tác động qua lại của các nội dung quản lý
- Xây dựng quy trình cho từng nội dung quản lý: Xây dựng các bước thực hiện cho từng nội dung quản lý dựa trên quan điểm về đảm bảo chất lượng: đầu vào, quá trình, đầu ra
- Xây dựng tiêu chí đánh giá cho từng nội dung quản lý: Căn cứ vào nội dung quản lý và mục tiêu đánh giá để xây dựng các tiêu chí cụ thể Để những tiêu chí này có giá trị chuẩn xác trong quá trình đánh giá cần phải xây dựng và lựa chọn các loại điểm số phù hợp với từng mục tiêu đánh giá
- Vận hành hệ thống: Hệ thống phải được vận hành một cách đồng bộ, trong đó các phần tử có liên hệ với nhau, tác động qua lại với nhau một cách có qui luật
để tạo thành một thể thống nhất, thiếu một phần tử bất kỳ hệ thống sẽ bị phá vỡ
- Đánh giá, điều chỉnh hệ thống: Định kỳ tiến hành kiểm tra đánh giá hệ thống thông qua hình thức: đánh giá trong và đánh giá ngoài, với các tiêu chí: Có hay không có hệ thống? Nếu có, hệ thống có vận hành hay không? Nếu vận hành,
hệ thống có đem lại hiệu quả hay không? Trên cơ sở kết quả kiểm tra đánh giá
hệ thống, tiến hành điều chỉnh, hoàn thiện hệ thống
Các kế hoạch triển khai, các nội dung cải tiến, đổi mới sau khi tự đánh giá ở trường THPT có thể bao gồm các nội dung cụ thể sau:
- Điều chỉnh chiến lược phát triển giáo dục nhà trường cho phù hợp với giai đoạn mới sau khi đánh giá
- Cải cách hành chính, sắp xếp kiện toàn cơ cấu tổ chức, các hội đồng trong nhà trường cho phù hợp và hiệu quả hơn Rà soát, điều chỉnh, bổ sung các quy chế