Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ gieo mạ và phương pháp làm cỏ đến sinh trưởng và phát triển giống lúa BC15 ở vụ mùa tại Tuyên Quang (LV thạc sĩ)Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ gieo mạ và phương pháp làm cỏ đến sinh trưởng và phát triển giống lúa BC15 ở vụ mùa tại Tuyên Quang (LV thạc sĩ)Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ gieo mạ và phương pháp làm cỏ đến sinh trưởng và phát triển giống lúa BC15 ở vụ mùa tại Tuyên Quang (LV thạc sĩ)Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ gieo mạ và phương pháp làm cỏ đến sinh trưởng và phát triển giống lúa BC15 ở vụ mùa tại Tuyên Quang (LV thạc sĩ)Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ gieo mạ và phương pháp làm cỏ đến sinh trưởng và phát triển giống lúa BC15 ở vụ mùa tại Tuyên Quang (LV thạc sĩ)Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ gieo mạ và phương pháp làm cỏ đến sinh trưởng và phát triển giống lúa BC15 ở vụ mùa tại Tuyên Quang (LV thạc sĩ)Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ gieo mạ và phương pháp làm cỏ đến sinh trưởng và phát triển giống lúa BC15 ở vụ mùa tại Tuyên Quang (LV thạc sĩ)Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ gieo mạ và phương pháp làm cỏ đến sinh trưởng và phát triển giống lúa BC15 ở vụ mùa tại Tuyên Quang (LV thạc sĩ)Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ gieo mạ và phương pháp làm cỏ đến sinh trưởng và phát triển giống lúa BC15 ở vụ mùa tại Tuyên Quang (LV thạc sĩ)
Trang 1- -HOÀNG TUẤN ANH
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ
GIEO MẠ VÀ PHƯƠNG PHÁP LÀM CỎ ĐẾN
SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN GIỐNG LÚA
BC15 Ở VỤ MÙA TẠI TUYÊN QUANG
NGÀNH: KHOA HỌC CÂY TRỒNG
MÃ SỐ: 60.62.01.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hoàng Văn Phụ
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Hoàng Tuấn Anh
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực tập và thực hiện đề tài này, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của các thầy giáo, cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp, cơ quan
và gia đình
Nhân dịp này tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
1 PGS.TS Hoàng Văn Phụ - người t h ầ y hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn này
2 Ban giám hiệu, Khoa Nông học, Phòng Quản lý sau đại học và các thầy, cô giáo trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Trung tâm Học liệu Thái Nguyên đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập
3 Ban giám hiệu, Khoa Nông Lâm Ngư nghiệp, cán bộ Trung tâm Thực nghiệm Thực hành và Chuyển giao Khoa học Công nghệ trường Đại học Tân Trào cùng bạn bè, đồng nghiệp, cơ quan, gia đình và người thân đã quan tâm động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Hoàng Tuấn Anh
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
Tác giả luận văn i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 2
3 YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI 2
4 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 2
4.1 Ý nghĩa khoa học 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3
1.1.1 Cơ sở khoa học để đảm bảo mạ tốt 3
1.1.2 Cơ sở khoa học làm cỏ, sục bùn 7
1.2 Tình hình gieo mạ hiện nay và các phương pháp gieo mạ 9
1.2.1 Tình hình gieo mạ hiện nay 9
1.2.2 Các phương pháp gieo mạ 10
1.3 Tác hại của cỏ dại và các nghiên cứu về phương pháp làm cỏ 14
1.3.1 Tác hại của cỏ dại 14
1.3.2 Các nghiên cứu về phương pháp làm cỏ 15
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1 Đối tượng nghiên cứu 20
Trang 52.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 20
2.3 Nội dung nghiên cứu 20
2.4 Phương pháp nghiên cứu 20
2.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 21
2.4.2 Sơ đồ thí nghiệm 22
2.4.3 Điều kiện thí nghiệm 22
2.5 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp lấy mẫu 23
2.5.1 Đánh giá sinh trưởng của mạ ở hai mật độ gieo mạ khác nhau 23
2.5.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ gieo mạ và phương pháp làm cỏ đến sinh trưởng, phát triển lúa BC15 23
2.5.3 Hiệu quả kinh tế 27
2.6 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 28
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 28
3.1 Tình hình sinh trưởng của mạ gieo ở hai mật độ khác nhau 28
3.2 Ảnh hưởng của mật độ gieo mạ và phương pháp làm cỏ đến thời gian sinh trưởng và phát triển của lúa BC15 29
3.3 Ảnh hưởng của mật độ gieo mạ và phương pháp làm cỏ đến động thái tăng trưởng chiều cao của giống lúa BC15 30
3.4 Ảnh hưởng của mật độ gieo mạ và phương pháp làm cỏ đến khả năng đẻ nhánh của giống lúa BC15 32
3.5 Ảnh hưởng của mật độ gieo mạ và phương pháp làm cỏ đến chỉ số diện tích lá 34
3.6 Ảnh hưởng của mật độ gieo mạ và phương pháp làm cỏ đến đường kính lóng gốc và độ dày thành lóng số 2 36
3.7 Ảnh hưởng của mật độ gieo mạ và phương pháp làm cỏ đường kính rễ và chiều dài của bộ rễ giống lúa BC15 39
Trang 63.8 Ảnh hưởng của mật độ gieo mạ và phương pháp làm cỏ đến trọng lượng
khô của bộ rễ lúa BC15 41
3.9 Ảnh hưởng của mật độ gieo mạ và phương pháp làm cỏ đến khả năng tích lũy vật chất khô toàn khóm lúa BC15 43
3.10 Ảnh hưởng của mật độ gieo mạ và phương pháp làm cỏ đến khả năng chống chịu của lúa BC15 47
3.11 Ảnh hưởng của mật độ gieo mạ và phương pháp làm cỏ đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất thực thu của lúa BC15 47
3.12 Ảnh hưởng của mật độ gieo mạ và phương pháp làm cỏ đến hiệu quả kinh tế giống lúa BC15 55
3.13 Bảng tổng hợp ảnh hưởng của mật độ gieo mạ và phương pháp làm cỏ đến xác suất các chỉ tiêu nghiên cứu 57
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 59
1 Kết luận 59
2 Đề nghị 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
TGST : Thời gian sinh trưởng
LSD : Sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Ảnh hưởng của mật độ gieo mạ đến sinh trưởng của cây mạ 29 Bảng 3.2: Ảnh hưởng của mật độ gieo mạ và phương pháp làm cỏ đến thời gian sinh trưởng và phát triển của lúa BC15 29 Bảng 3.3: Ảnh hưởng của mật độ gieo mạ và phương pháp làm cỏ đến động thái tăng trưởng chiều cao của lúa BC15 30 Bảng 3.4: Ảnh hưởng của mật độ gieo mạ và phương pháp làm cỏ đến khả năng đẻ nhánh của giống lúa BC15 33 Bảng 3.5: Ảnh hưởng của mật độ gieo mạ và phương pháp làm cỏ đến chỉ số diện tích lá giống lúa BC15 35 Bảng 3.6: Ảnh hưởng của mật độ gieo mạ và phương pháp làm cỏ đến đường kính lóng gốc giống và độ dày thành lóng số 2 của lúa BC15 37 Bảng 3.7: Ảnh hưởng của mật độ gieo mạ và phương pháp làm cỏ đến đường kính và chiều dài của bộ rễ lúa BC15 40 Bảng 3.8 Ảnh hưởng của mật độ gieo mạ và phương pháp làm cỏ đến trọng lượng khô rễ ở 3 thời kỳ làm đòng, trỗ và chín 42 Bảng 3.9: Ảnh hưởng của mật độ gieo mạ và phương pháp làm cỏ đến khả năng tích lũy vật chất khô lúa BC15 46 Bảng 3.10: Ảnh hưởng của chất lượng mạ và phương pháp làm cỏ đến khả năng chống chịu của lúa BC15 48 Bảng 3.11: Ảnh hưởng của mật độ mạ và phương pháp làm cỏ đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống lúa BC15 52 Bảng 3.12 Ảnh hưởng của mật độ gieo mạ và phương pháp làm cỏ đến hiệu quả kinh tế của các công thức thử nghiệm 56 Bảng 3.13 Bảng tổng hợp xác suất các chỉ tiêu nghiên cứu 57
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Ảnh hưởng của mật độ gieo mạ và phương pháp làm cỏ đến
chỉ số diện tích lá 36 Hình 3.2: Ảnh hưởng của mật độ gieo mạ và phương pháp làm cỏ đến
NSLTT và NSTT 54 Hình 3.3: Ảnh hưởng của mật độ gieo mạ và phương pháp làm cỏ đến
hiệu quả kinh tế 57
Trang 10MỞ ĐẦU
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Tuyên Quang là tỉnh miền núi phía Đông Bắc, với tổng diện tích tự nhiên 586.800 ha, trong đó diện tích đất nông, lâm nghiệp 519.007 ha, diện tích đất phi nông nghiệp 40.918 ha, diện tích đất chưa sử dụng: 26.765 ha Diện tích đất nông lâm nghiệp chiếm 88,46% tổng diện tích tự nhiên Chính
vì vậy sản xuất nông nghiệp vẫn đóng vai trò chính trong phát triển kinh tế của tỉnh Tổng diện tích sản xuất lúa vụ mùa năm 2013 là 25.563,5 trong đó diện tích sản xuất lúa BC15 là 4170,4 ha chiếm 16,31 % , đến năm 2014 tổng diện tích sản xuất lúa mùa là 25399,6 ha trong đó diện tích sản xuất lúa BC15
là 5547,0 ha chiếm 21,84% (Trung tâm Khuyến nông tỉnh Tuyên Quang,
2014)[1] Giống lúa BC15 là giống lúa thuần có năng suất và chất lượng tốt
nên đã và đang được khuyến cáo mở rộng sản xuất trong tỉnh Tuy nhiên, phương thức canh tác được phổ biên cho người dân là chung cho các giống lúa Ngoài ra do người dân vẫn canh tác theo phương pháp truyền thống chính
vì vậy năng suất và chất lượng của giống lúa BC15 vẫn chưa tương xứng với tiềm năng vốn có của giống
Trong sản xuất lúa tại địa phương dân vẫn gieo mạ dày (mật độ gieo 1kg giống /3- 4m2) điều này đã ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cây mạ Do gieo dày nên cây mạ có bẹ lá, bản lá dài, cây mạ gầy hơn và yếu Cây mạ yếu khi cấy khả năng phục hồi chậm, sinh trưởng kém dễ bị sâu bệnh tấn công, gây hại làm ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế Ngoài
ra, tình hình lạm dụng thuốc trừ cỏ trong sản xuất lúa phổ biến tại địa phương
đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe người sản xuất, ô nhiễm môi trường sinh thái Trong nền nông nghiệp sinh thái ứng phó với biến đổi khí hậu hiện nay, việc hạn chế và dần đi đến loại bỏ việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật nói chung và thuốc trừ cỏ nói riêng là một trong những hướng đi
Trang 11đúng để tạo ra các sản phẩm an toàn và thân thiện với môi trường Từ thực
trạng trên chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ gieo mạ và phương pháp làm cỏ đến sinh trưởng và phát triển giống lúa BC15 ở vụ mùa tại Tuyên Quang”
2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
Xác định được mật độ gieo mạ và phương pháp làm cỏ thích hợp cho giống lúa BC15 nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế, qua đó hoàn thiện quy trình kỹ thuật sản xuất BC15
3 YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI
Đánh giá được ảnh hưởng của mật độ gieo mạ và phương pháp làm cỏ đến sinh trưởng, phát triển và năng của giống lúa BC15
4 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
4.1 Ý nghĩa khoa học
- Chứng minh được sự ảnh hưởng của mật độ gieo mạ và phương pháp làm cỏ đến sinh trưởng, phát triển của giống lúa BC15 và các yếu tố cấu thành năng suất lúa
- Kết quả thu được từ thực nghiệm là căn cứ khoa học để bổ sung, hoàn thiện quy trình kỹ thuật thâm canh giống lúa BC15 tại Tuyên Quang
4.2 Ý nghĩa thực tiễn
Xác định được mật độ gieo mạ và phương pháp làm cỏ hợp lý cho giống lúa BC15 góp phần tăng năng suất và hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích canh tác tại Tuyên Quang
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1 Cơ sở khoa học để đảm bảo mạ tốt
* Sự phát triển của cây mạ
Hạt nảy mầm sễ phát triển thành cây mạ hay cây lúa non Đầu tiên từ bao mầm đâm ra lá nguyên thủy chưa có phiến lá, tiếp đến xuất hiện lá thật đầu tiên với phiến lá hoàn chỉnh đồng thời một số rễ mới cũng hình thành Với sự xuất hiện của lá thật đầu tiên và các rễ mới mộng mạ đã phát triển thành cây mạ Cây mạ hoàn chỉnh gồm ba bộ phận: lá, thân và rễ (Nguyễn Văn Hoan, 2006) [8]
Phần thức ăn dự trữ trong nội nhũ có thể nuôi cây mạ đến 3 lá, tuy nhiên để có cây mạ tốt cần thỏa mãn một số yêu cầu sau (Nguyễn Văn Hoan, 2006) [8]
- Đủ nước: nước giúp cây mạ sinh trưởng khỏe và đều, thiếu nước cây
mạ sinh trưởng kém, yếu, lớp nước sâu làm cây mạ lướt
- Nhiệt độ thích hợp: nhiệt độ 23 – 250C thích hợp nhất cho cây mạ Nhiệt độ thấp (dưới <160C) cây mạ sinh trưởng kém Nhiệt độ thấp dưới 130C kéo dài trên 7 ngày thì cây mạ sẽ chết
- Đủ ánh sáng: trời nắng nhẹ, mộng mạ ở nơi đủ ánh sáng thuận lợi cho cây mạ và sẽ có cây mạ tốt Trời âm u, ruộng mạ dưới bóng cây làm cho cây
mạ yếu, lá dài, nhỏ, chất lượng cây mạ kém
- Đủ dinh dưỡng: khi cây mạ có 1 lá thật nó đã hút được dinh dưỡng từ đất Cần bón đủ phân và cân đối cả đạm, lân, kali để có cây mạ khỏe
* Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của cây mạ:
Trang 13- Nguồn chất dinh dưỡng cung cấp cho cây mạ: Ở thời kỳ mạ non hay
còn gọi là thời kỳ mạ yếu (trong điều kiện thuận lợi sau gieo 7 - 10 ngày là kết thúc thời kỳ này) cây mạ phát triển nhờ sử dụng chất dinh dưỡng lấy từ phôi
nhũ (Nguyễn Văn Tuất, 2013)[13]
Sau khi có 4 lá thật, cây mạ phát triển nhờ chất dinh dưỡng lấy qua bộ
rễ và được chế biến ở lá Khi cây mạ lớn hơn nữa thì nó lại càng phụ thuộc vào môi trường cung cấp chất dinh dưỡng Người ta gọi đây là thời kỳ mạ khoẻ Thời kỳ này kéo dài hơn thời kỳ mạ non, nó kéo dài đến khi cây mạ có 5-6 lá đối với những giống có thời gian sinh trưởng trung bình và 6-7 lá đối với những giống có thời gian sinh trưởng dài hơn (Nguyễn Văn Tuất,
2013)[13]
- Độ sâu của nước: Điều khiển lượng nước cho ruộng mạ là kỹ thuật rất
quan trọng trong khâu làm mạ Mực nước trong ruộng mạ không chỉ ảnh hưởng đến độ cao, thấp của dược mạ mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển của
bộ rễ mạ (Nguyễn Văn Tuất, 2013)[13]
Nếu để ruộng quá quá khô, thiếu nước thì cây mạ phát triển chậm, cây còi cọc Nếu quá nhiều nước, để cây mạ ngập sâu trong nước thì sẽ dẫn đến
bộ rễ phát triển kém, cây mạ gày do thiếu không khí trong đất, khi cấy, cây
Ở chân đất thấp, lượng nước phân bố đều thì cây mạ phát triển đồng đều, bộ rễ mạ phát triển kém Ngược lại, dược mạ ở chân vàn cao, lượng nước
Trang 14phân bổ không đều nên cây mạ phát triển cũng không đều, nhưng ngược lại
bộ rễ lại thường phát triển mạnh (Nguyễn Văn Tuất, 2013)[14]
- Nhiệt độ: Cùng với các nhân tố khác, yếu tố nhiệt độ cũng ảnh hưởng
lớn đến sự phát triển của cây mạ và hơn thế nữa đối với sức sống của cây mạ
Ở nhiệt độ ấm áp, cây mạ phát triển cao khoẻ hơn và phát triển nhanh hơn trong điều kiện nhiệt độ thấp lạnh Nhiệt độ thấp lạnh có thể làm cho cây
mạ bị vàng lá và nhiệt độ thấp lạnh kéo dài sẽ làm cho cây mạ bị vàng lá và
dẫn tới chết mạ (Nguyễn Văn Tuất, 2013)[13]
Trong điều kiện nhiệt độ cao kéo dài, cây mạ sẽ phát triển nhanh, thời gian của thời kỳ mạ sẽ rút ngắn, mạ bị già và khi cấy ra ruộng thì cây mạ phát triển chậm, kém
Việc làm mạ trong vụ mùa ở các tỉnh phía Bắc nói chung có điều kiện thuận lợi Trong vụ xuân thì ngược lại, không được thuận lợi Hiện nay người
ta có nhiều biện pháp kỹ thuật để điều chỉnh nhiệt độ ruộng mạ cũng như điều chỉnh thời gian, thời điểm gieo mạ sao cho cây mạ xuân phát triển trong điều kiện nhiệt độ thuận lợi nhất mà vẫn thích ứng với lịch thời vụ (Nguyễn Văn Tuất, 2013)[13]
- Cường độ ánh sáng: Cây mạ cần ánh sáng mạnh Trời nhiều mây, âm
u, ánh sáng kém không đủ điều kiện cho cây mạ quang hợp và cây mạ yếu vì không thể tạo đủ chất dinh dưỡng nuôi cây
Ánh sáng ít còn có thể làm cho bẹ lá và bản lá của cây mạ dài ra, cây
mạ gầy hơn và yếu hơn Vì vậy dược mạ cần tránh xa bón cây lớn và nhà cao tầng, đồng thời cũng không nên gieo mạ quá dầy, cây mạ cũng không có đủ
ánh sáng để quang hợp (Nguyễn Văn Tuất, 2013)[13]
Cường độ ánh sáng thấp cũng làm cho cây mạ có hàm lượng chất khô thấp, sức đề kháng của cây mạ thấp, cây mạ dễ bị nhiều loại sâu, bệnh hại
Trang 15- Những chất dinh dưỡng dễ sử dụng: Cây mạ cần nguồn dinh dưỡng
bổ sung để sinh trưởng phát triển trong thời kỳ mạ, hơn thế nữa còn tích luỹ một phần dinh dưỡng để có nguồn dự trữ trong thời gian chuyển tiếp: nhổ
cấy, cây mạ bén rễ, hồi xanh (Nguyễn Văn Tuất, 2013)[13]
Phân bón rất cần nếu cây mạ phải ở lại dược mạ lâu hoặc trên chân dược vàn cao, ở vùng đất kém màu mỡ và ở những vùng, vụ có khí hậu lạnh Nếu nghèo chất dinh dưỡng, cây mạ còi cọc; nếu giàu chất dinh dưỡng dễ sử dụng, cây mạ phát triển mạnh Ngược lại nếu quá nhiều phân bón trong dược
mạ thì cây mạ cao và yếu, cây mạ dễ nhiễm bệnh (Nguyễn Văn Tuất, 2013)[13]
* Tiêu chuẩn của cây mạ tốt
Nhóm giống lúa cải tiến là nhóm lúa thấp cây: chiều cao cây 85 – 110
cm, lá thẳng, bông to, chống đổ tốt Về phản ứng với ánh sáng chúng gồm 2 nhóm là nhóm trung tính và nhóm phản ứng chặt với chu kỳ chiếu sáng trong ngày Phần lớn các giống trung tính đều là các giống có thời gian sinh trưởng ngắn cả ở vụ mùa và vụ xuân Về phương pháp tạo giống và bản chất di truyền, nhóm giống lúa cải tiến bao gồm 2 nhóm là nhóm lúa thuần và lúa lại Như vậy, không thể có một tiêu chuẩn chung về mạ tốt cho tất cả các giống hoặc nhóm giống Xác định một lô mạ tốt trước hết phụ thuộc vào vụ gieo cấy
và phụ thuộc vào chân đất sẽ cấy lúa Việc xác định được tiêu chuẩn mạ tốt là khâu đột phá quyết định nhằm phát huy có hiệu quả các biện pháp kỹ thuật thâm canh cây lúa (Nguyễn Văn Hoan, 2006)[8]
Tiêu chuẩn mạ tốt ở nhóm giống lúa ngắn ngày và trung ngày cấy vụ mùa
- Cây mạ to gan, đanh dảnh
- Chiều cao cần đạt được trên 35cm và đã đẻ nhánh
- Số lượng lá mạ nhổ khi cấy không vượt quá 40% tổng số lá thật trên thân chính
- Bộ rễ được bảo toàn, cây mạ không bị giập nát
Trang 16Tiêu chuẩn mạ tốt ở nhóm giống lúa cấy chân sâu và trũng
Đặc điểm chung của chân đất trũng vụ mùa là nước khá sâu (thông thường ở mức 30 - 40cm) Mức nước sâu đã hạn chế sự đẻ nhánh của cây lúa Đây là yếu tố cơ bản hạn chế năng suất trên chân đất này Ở chân đất sau trũng nên sử dụng các giống dài ngày, gieo mạ sớm, áp dụng biện pháp giâm khi cần thiết để lúa vẫn trỗ vào thời điểm thích hợp Nhóm mạ này cần đạt được các tiêu chuẩn như sau:
- Cây mạ to gan, đanh dảnh
- Chiều cao cần đạt ít nhất là 45 cm
- Cây mạ đã đẻ được 4 - 5 nhánh để khi cấy ra ruộng không cần đẻ thêm nữa
- Bộ rễ được bảo toàn, cây mạ không giập nát
Theo quan điểm canh tác lúa cải tiến (SRI) hiện nay thì những tiêu chí
về cây mạ tốt như Nguyễn Văn Hoan đưa ra là không còn phù hợp nữa Một trong năm nguyên tắc hàng đầu của canh tác lúa cải tiến đó là gieo mạ thưa 0,5 – 1kg giống/10 m2, cấy mạ non 2,5 -3 lá Cây mạ non sau khi cấy phục hồi nhanh, đẻ nhánh khỏe và đẻ nhánh tập trung điều này có ý nghĩa rất lớn trong điều kiện vụ mùa
Tuy nhiên vẫn chưa có nghiên cứu cụ thể nào về mật độ gieo mạ cho cây lúa, hiện chủ yếu là gieo mạ theo canh tác truyền thống gieo mạ dày 1kg giống/3 - 4 m2
1.1.2 Cơ sở khoa học của làm cỏ, sục bùn
Rễ lúa là cơ quan hút chất dinh dưỡng và vận chuyển chất dinh dưỡng
để nuôi cây Rễ lúa thuộc loại rễ chùm, có cấu tạo sơ cấp, sau khi lúa nảy mầm, rễ mầm xuất hiện, tồn tại 5 - 7 ngày rồi rụng đi Từ các đốt trên thân mọc ra các rễ phụ, phát triển nhanh tạo thành rễ chùm, ăn nông Trong thời gian sinh trưởng số lượng và trọng lượng rễ tăng dần từ cấy, đẻ nhánh, làm
Trang 17đòng và đạt cao nhất lúc trỗ bông, và giảm dần đến khi lúa chín Rễ lúa hút nước nhiều nhất là thời kỳ làm đòng và trỗ bông
Giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng rễ lúa ăn nông chủ yếu tập trung ở tầng đất 0-10cm Khi cây lúa bước sang giai đoạn sinh trưởng sinh thực, rễ lúa phát triển mạnh về số lượng, trọng lượng và có thể ăn sâu xuống tầng đất
30 - 50cm để hấp thu dinh dưỡng ở tầng đất sâu và giữ cho cây bám chắc vào đất, tránh đổ ngã khi mang đòng và mang hạt nặng (Togari-matsuo, 1977) [12]
Rễ lúa chịu ảnh hưởng của nhiệt độ (rễ phát triển tốt nhất ở nhiệt độ 28
- 320C), để điều hòa nhiệt độ cho đất, giúp rễ phát triển tốt cần bón đủ phân hữu cơ và điều tiết nước hợp lý
Oxy cần cho rễ lúa hô hấp và hấp thu dinh dưỡng, rễ lúa có khả năng điều tiết oxy Rễ non, vùng đầu rễ có khả năng điều tiết oxy tốt hơn rễ già và vùng gốc rễ Vì vậy trong kỹ thuật canh tác đối với cây lúa khi thấy có hiện tượng nghẹt rễ cần phải tiến hành làm cỏ, sục bùn, tháo cạn nước để tăng oxy, phơi ruộng 3 - 4 ngày, khi thấy có rễ mới xuất hiện thì bổ sung chất dinh dưỡng dễ tiêu cho lúa (Togari-matsuo, 1977) [12]
Ở ruộng không bị ngập nước, không khí trong đất đầy đủ nên rễ hô hấp thuận lợi, sinh trưởng mạnh và cây lúa phân nhánh nhiều Ở ruộng nước đất thiếu không khí cây phải hút oxy từ trên không nhờ các bộ phận trên mặt đất
để vận chuyển đến rễ làm cho rễ lúa hô hấp được thuận lợi Ruộng nước nếu thiếu oxy rễ sinh trưởng kém, ăn nông, phát triển theo chiều ngang
Do đó cây hút kali và silic kém (Togari-matsuo, 1977) [12]
Một đặc điểm của hệ rễ cây lúa là luôn luôn tìm đến môi trường có thế hiệu oxy hóa khử thích hợp Trong ruộng lúa nước nói chung tầng đất mặt nhiều nước, dinh dưỡng và oxy, nên ở thời kỳ đầu (từ lúc bắt đầu sinh trưởng đến giai đoạn giữa), rễ lúa thường phân bố ở tầng đất trên Hệ rễ lúa lúc đó có
Trang 18hình bầu dục nằm ngang Sau đó cùng với quá trình sinh trưởng, hệ rễ ăn sâu hơn, vì nước tưới đưa dinh dưỡng và oxy xuống sâu hơn, làm cho lớp đất cũng tốt lên, rễ lại phát triển sâu xuống tầng đất dưới nên lúc này hệ rễ có hình quả trứng để lộn ngược Hình dạng của hệ rễ ngoài ảnh hưởng của tính di truyền còn phụ thuộc nhiều vào nhiệt độ đất, chiều sâu của lớp đất cày và tình hình bón phân, sự phân bố của phân bón (Togari-matsuo, 1977) [12]
Rễ cây lúa chủ yếu phát triển ở nơi có ẩm và nhiều chất dinh dưỡng Chúng ta có thể làm cho rễ ăn sâu và đều khi rải phân ở những lớp đất khác nhau, mục đích là làm cho rễ sử dụng được một khối lượng dinh dưỡng lớn nhất Ngược lại rễ cây có khuynh hướng chỉ tập trung nhiều ở trên mặt khi có các nguyên tố dinh dưỡng ở đó, và như vậy sẽ làm cho cây trồng dễ bị hạn hơn (Togari-matsuo, 1977) [12]
Chính vì vậy cần phải có biện pháp kỹ thuật quản lý cỏ dại và tạo điều kiện cho cây lúa sinh trưởng và phát triển Ngoài tác dụng diệt cỏ dại giúp giảm canh tranh với cây lúa thì khi làm cỏ sục bùn sẽ cung cấp oxy, gải phóng khí độc trong đất do các quá trình phân giải yếm khí gây ra Đồng thời loại bỏ những rễ cây đã hết khả năng hoạt động, giúp rễ mới phát triển mạnh hơn ăn rộng và sâu hơn vào tầng đất Điều này có vai trò trong việc huy động dinh dưỡng ở các tầng đất sâu và tăng khả năng chống đổ cho cây lúa
1.2 Tình hình gieo mạ hiện nay và các phương pháp gieo mạ
1.2.1 Tình hình gieo mạ hiện nay
Qua tìm hiểu tình hình sản xuất lúa tại địa phương, chúng tôi đã tìm ra một số hạn chế trong khâu làm mạ của người dân Người dân vẫn gieo mạ ở mật độ cao 1kg giống/3 – 4m2, điều này đã gây cản trở cho sự sinh trưởng của cây mạ Cây mạ bị giới hạn trong không gian dinh dưỡng, ánh sáng chật hẹp,
Trang 19khiến cho cây mạ còi cọc, mềm yếu và dễ bị sâu bệnh hại tấn công đặc biệt trong điều kiện nóng ẩm của vụ mùa
1.2.2 Các phương pháp gieo mạ
Phương pháp làm mạ khá phong phú Một số phương pháp phổ biến thường được nông dân áp dụng như làm mạ ướt, mạ khô, mạ tỉa, mạ sân (mạ dapog, mạ bùn) Ngoài ra, trong quá trình canh tác một số phương pháp làm
mạ khác như làm mạ bùn, mạ khay…được sáng tạo từ các phương pháp trên
và cũng được áp dụng trong thâm canh, chọn giống
* Mạ ướt: Làm mạ ướt (còn gọi là mạ mộng) là phương pháp làm mạ phổ biến ở nhiều nơi Ruộng mạ thường được chọn cẩn thận, thường là những lọai đất tốt, cấu tạo trung bình không sét quá để việc nhổ mạ đỡ khó khăn và cũng không cát quá để ruộng mạ đỡ mất nước (Bùi Huy Đáp, 1978) [2] Theo Võ Tòng Xuân (1984)[16], đất được đánh bùn nhuyễn, sạch cỏ, đánh rãnh thoát nước, chia ruộng mạ thành những luống rộng khoảng 1,5m San bằng mặt ruộng, rút cạn nước chỉ chừa lại dưới rãnh Tuy nhiên theo Nguyễn Ngọc Đệ (1998)[3], có thể chia ruộng mạ ra thành những luống nhỏ rộng khoảng 3m Khi làm đất xong thì trên lớp mặt ruộng thường có một lớp bùn nhuyễn, không còn gốc rạ và rễ cỏ, dày khoảng 5 - 7cm (Bùi Huy Đáp, 1978)[2] Đất xấu cần bón nhiều phân hữu cơ và phân lân để cây lúa cứng cáp, khỏe mạnh
Võ Tòng Xuân (1984)[15]
Mạ thường được gieo vãi đều trên mặt ruộng Mật độ gieo cũng thay đổi khá nhiều Gieo thưa, mạ sẽ phát triển tốt, to cây, một số cây mạ sẽ đẻ nhánh ngay trong ruộng mạ Gieo dày, mạ sẽ nhỏ cây hơn và cũng thường chóng già hơn Thường ở những chân đất xấu hoặc đất phèn, mặn thì mạ được gieo dày hơn Gieo với mật độ thích hợp sẽ sản xuất được mạ khỏe mạnh, cây lúa sẽ bén rễ nhanh và đẻ nhánh nhanh (Bùi Huy Đáp, 1978)[2] Theo Nguyễn Ngọc
Đệ (1998)[3], mật độ gieo 40 - 50 kg/1000 m2 là vừa Gieo cho 2/3 hạt lúa
Trang 20lún trong bùn là tốt nhất Khoảng 3 - 4 ngày sau khi gieo cho nước vào từ từ theo chiều cao cây mạ và giữ cố định 5 - 10cm Từ 10 - 12 ngày sau khi gieo bón 5 kg urea/công cho mạ tốt, sớm có chồi ngạnh trê Nhưng theo Võ Tòng Xuân (1984)[15], thì nên cho nước vào từ từ và giữ ổn định khoảng 3 - 5 cm
Ưu điểm của phương pháp này là làm mạ, ngâm và ủ mộng rồi mới gieo
sẽ làm cho mạ sau khi gieo chóng ngồi, phát triển nhanh đỡ bị chim chuột phá hại và có thể sớm đưa nước vào ruộng để hạn chế cỏ dại, thúc đẩy cho mạ sinh trưởng tốt Vì vậy, kỹ thuật này đã được dùng khá phổ biến ở nhiều nơi Tuy nhiên, ở những vùng chưa chủ động được nước, làm mạ ướt có thể gặp khó khăn sau: sau khi gieo nếu bị hạn nặng, thiếu nước tưới hay bị ngập nước sâu Nếu bị ngập quá 10cm và trong nước nhiều bùn có thể làm hạt bị thói khoảng 75%, nếu nước trong thì chỉ mất khoảng 10% (Bùi Huy Đáp, 1978) [2]
* Mạ Khô gieo mạ khô là một kỹ thuật sản xuất mạ thường được áp dụng
ở những nơi thiếu nước để làm mạ nước và cấy khi có mưa nhiều tùy theo tình hình đất đai và vụ sản xuất mà kỹ thuật gieo mạ khô sử dụng hạt đã ủ nảy mộng hay không ngâm và không ủ Loại đất làm mạ khô là những loại đất nhẹ hay tương đối nhẹ (Bùi Huy Đáp, 1978)[2] Đất được chuẩn bị trong điều kiện khô, cày cuốc cho tơi xốp Đánh rãnh và lên liếp rộng khoảng 1 - 1,5m Băm đất nhỏ rồi gạch hàng ngang, mỗi hàng cách nhau 10cm, sâu 3 cm Gieo những hạt khô vào những hàng này (6g hạt/hàng) Gieo xong dùng đất bột, cát hay tro trấu đậy lại để giữ ẩm và tưới nước đủ ẩm hàng ngày Khoảng 13 - 15 ngày sau khi gieo nên tưới phân urea cho mạ tốt (20 - 30g/10m2) (Nguyễn Ngọc Đệ, 1998)[4] Mạ khô thường được áp dụng trong vụ Đông Xuân tranh thủ gieo trên bờ, liếp trong khi làm mạ ướt phải gieo dưới ruộng gặp khó khăn khi không có hệ thống thủy nông tốt để kiểm soát nước lũ (Nguyễn Ngọc Đệ, 1998)[3] Ngoài ra theo Bùi Huy Đáp (1978)[3] mật độ gieo từ 200 - 300
Trang 21kg/ha so với mạ ướt thì mạ khô gieo thưa hơn Vì vậy cây mạ khô thường phát triển tốt và có nhiều cây đã đẻ tốt ở ruộng gieo mạ Nói chung, mạ khô
có tính chất tốt hơn mạ ướt Mạ khô cấy xuống ruộng nước thường phát triển mạnh hơn Dùng mạ khô đỡ bị động hơn vì mạ lâu già và có thể chịu được nhiều ngày tuổi trên ruộng mạ Tuy nhiên, việc theo dõi và chăm sóc ruộng
mạ gieo khô vất vả hơn so với mạ ướt vì trên đất khô lúa mọc chậm, cỏ dễ phát triển
* Các phương pháp làm mạ đặc biệt khác
Mạ tỉa là phương pháp này có cách làm giống như làm mạ khô, thường được áp dụng trong vụ đông xuân Tuy nhiên, làm mạ tỉa ít tốn đất và dễ nhổ hơn mạ khô, nhưng cây mạ ốm yếu hơn và không thể để lâu quá 1 tháng Sau khi đất được cày cuốc lên, phơi khô, băm nhuyễn, tưới nước cho mềm rồi dùng cây tròn hoặc chày tỉa bằng gỗ làm thành những lổ sâu 2 - 3 cm, cách nhau 5 - 10 cm; sau đó rải hạt giống đã ngâm ủ nảy mầm vào đáy lổ, lấp hạt bằng tro trấu, xong lại phủ lên một lớp cỏ khô để giữ ẩm và tưới hàng ngày Khoảng 5 ngày sau khi gieo thì cào lớp cỏ khô đi Đến 10 - 12 ngày sau khi gieo, tưới phân Urea và chăm sóc như mạ khô (Nguyễn Ngọc Đệ, 1998)[3]
Mạ nổi: Mạ nổi (còn gọi là mạ bè) là phương pháp làm mạ đặc biệt phổ biến ở một số vùng ở Malaysia Cách làm mạ này gồm một nương mạ nổi và nhiều lần cấy tiếp sau để nhân thêm mạ (Bùi Huy Đáp, 1978)[3] Theo Nguyễn Đình Giao và cs (1997) [5], phương pháp này áp dụng ở những vùng trũng không làm được mạ ướt Lấy rơm, cỏ kết thành bè rộng 1 - 1,2 m, nổi lên 3 - 5 cm, dùng đất sét, bùn loãng rải lên rồi gieo mầm
Mạ sân :Mạ sân là phương pháp làm mạ mới, được xây dựng trong điều kiện khó khăn về giống Phương pháp này có nhiều cách làm khác nhau (mạ Dapog, mạ bùn) tùy theo kinh nghiệm và điều kiện ở từng vùng sản xuất
Trang 22Mạ Dapog Phương pháp làm mạ Dapog xuất phát từ kinh nghiệm làm
mạ của Philippin Theo Nguyễn Đình Giao và cs (1997)[6], mạ được làm trên đất khô, lót giấy PE hoặc lá chuối, rải một lớp đất bột mỏng rồi gieo hạt tưới
ẩm Mạ gieo dày từ 2 - 2,5 kg/ m2, tuổi mạ từ 10 - 14 ngày Nhưng theo Bùi Huy Đáp (1978) [2], mạ Dapog có thể làm ngay trên ruộng chuẩn bị cấy Ruộng được san bằng và làm luống cao 5 - 10 cm, xung quanh có rãnh để rút nước và tưới nước Trên luống phủ một lớp lá chuối rồi gieo hạt đã ngâm ủ nảy mộng lên luống Gieo tương đối dày với mật độ 1 - 2,5 kg/ m2 Có thể gieo trên một lớp trấu dày khoảng 0,5 cm Sau khoảng 10 ngày có thể nhổ mạ đi cấy
Mạ sân (còn gọi là mạ bùn) là phương pháp làm mạ cải tiến từ phương pháp mạ Dapog của Philippin Theo Bùi Huy Đáp (1978)[2], nông dân ở Cà Mau đã áp dụng phương pháp này trong sản xuất Trước khi gieo hạt, phủ một lớp bùn nhão trên sân hoặc trên ruộng khô cứng, gieo khoảng 1 - 1,5 kg hạt/ m2 Sau gieo khoảng 10 - 12 ngày thì đem ra cấy Mạ có thể phát triển tốt đến 20 ngày và lâu hơn trong mùa xuân Mùa hè tuổi mạ thích hợp là 10 - 18 ngày, mạ xuân có thể kéo dài 20 - 40 ngày (Nguyễn Văn Luật, 2001)[10] Theo Nguyễn Đình Giao và cs (1997)[5], trong khâu làm nền có thể trộn thêm phân chuồng mục ủ với lân nếu đất xấu Trong những ngày đầu có thể che nylon để chống rét và giữ ẩm Nói chung, các phương pháp làm mạ sân đều giống nhau chỉ khác ở khâu làm nền để gieo hạt Nếu áp dụng phương pháp này thì có thể thu hẹp được diện tích mạ đến mức tối thiểu, có thể chăm sóc
mạ đầy đủ, chóng rét cho vụ Xuân, chóng mưa, chóng nóng trong vụ mưa, an toàn cho mạ và giành chủ động trong khâu làm mạ - khâu quan trọng đối với
hệ thống canh tác lúa cấy Mạ sân bén rễ nhanh vì bộ rễ không bị tổn thương, lúa sinh trưởng không kém so với mạ ướt; mạ sân còn khắc phục được tình trạng thiếu mạ cấy trong năm rét có nhiều mạ chết (Nguyễn Đình Giao và cs, 1997) [5] Mặt khác, mạ sân không mất công nhổ mạ, mạ không bị đứt chồi
Trang 23hay đứt ngang thân mà vẫn bảo đảm mạ có mật độ cao nhất định, dễ cấy, mật
độ gieo dày và nuôi nhiều bằng nước, kìm hãm sự phát triển của mạ Ngoài
ra, mạ sân còn thích hợp với việc dùng máy cấy vì cây nhỏ lại không phải nhổ
mạ, không cần vỗ đất nên góp phần tăng năng suất trong việc dùng cơ khí trong kỹ thuật cấy lúa Với những phương pháp làm mạ ngày một cải tiến, đó
là những kinh nghiệm rất quý để làm sao có mạ chủ động cấy đúng thời vụ Tuy nhiên, do mật độ gieo dày, trong điều kiện không được cơ giới hóa, chủ yếu cấy bằng thủ công dễ dẫn tới mạ bị dập, đứt ngang thân gây hao hụt và khi cấy xuống ruộng nước mạ chống chịu kém Đồng thời, khi áp dụng phương pháp này phải làm ruộng kỹ và san bằng để điều tiết mực nước ruộng sau khi cấy Ở những nơi chưa chủ động được nước thì vẫn chưa thể áp dụng theo phương pháp này (Bùi Huy Đáp, 1978) [2] Đồng thời, những phương pháp này khó làm, tốn công, nên chỉ là những giải pháp tình thế, không thể áp dụng trong phạm vi rộng, thường chỉ áp dụng ở nơi và khi không có điều kiện làm mạ bình thường (Nguyễn Văn Luật, 2001) [10]
1.3 Tác hại của cỏ dại và các nghiên cứu về phương pháp làm cỏ
1.3.1 Tác hại của cỏ dại
Hàng năm cỏ dại làm giảm năng suất lúa khá lớn, lúa cấy mà không làm cỏ thì năng suất giảm 20 – 40%, lúa gieo thẳng mà không làm
cỏ thì năng suất lúa giảm càng nhiều (70 – 90%) Ở Nam Mỹ, cứ 1 m2 có
1 cây cỏ lồng vực thì năng suất lúa giảm 25% Ở Malaisia, tùy theo vụ lúa và tình hình sinh trưởng của cỏ mà cỏ làm năng suất lúa giảm từ 10 - 30% Ở nước ta, cỏ làm cho nhiều nơi không thu hoạch được và phải gieo cấy lại, đặc biệt ở ruộng lúa gieo vãi vụ xuân, trời lạnh, âm u kéo dài làm cho lúa nảy mầm chậm, tưới nước thì ít và hiếm, đất ẩm trong thời gian dài, do đó cỏ dại mọc nhiều và sinh trưởng nhanh hơn lúa (Nguyễn Thị Yến và cs, 2010) [14]
Trang 24Sự xuất hiện của cỏ dại đã trở thành một vấn đề nghiêm trọng và chúng hạn chế năng suất và chất lượng cây trồng Người ta thường nói rằng một số
cỏ dại gây mất mùa và trừ cỏ là hoàn toàn cần thiết (De Datta và Haque, 1982) [18] Không được kiểm soát cỏ dại cạnh tranh với cây lúa đối với ánh sáng, chất dinh dưỡng làm giảm năng suất lên đến 80% (Sinha Babu và cộngsự 1992; Behera và Jha, 1992) Ước tính thiệt hại năng suất do sự cạnh tranh của cỏ dại gây ra dao động từ 30-100% (Dobermann và Fairhurst, 2000) [16]
1.3.2 Các nghiên cứu về phương pháp làm cỏ
Tác hại của cỏ dại đối với lúa đã được chứng minh ở nhiều công trình nghiên cứu Chính vì vậy mà việc tiêu diệt cỏ dại cho lúa là vô cùng quan trọng Trên thực tế sản xuất có rất nhiều phương pháp làm cỏ
đã và đang được áp dụng Hiểu quả trừ cỏ của mỗi phương pháp là khác nhau Nên việc lựa chọn phương pháp làm cỏ nào là tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và nhận thức của mỗi người sản xuất
1.3.2.1 Hiệu quả của việc làm cỏ bằng tay
Khi sử dụng các công cụ thô sơ như cuốc, xẻng hẹp, dao nạo, liềm… thông thường nông dân phải áp dụng 2 lần trong một vụ lúa: lần thứ 1 vào khoảng 15-20 ngày và lần thứ 2 vào khoảng 40-45 ngày sau cấy Chi phí cho mỗi lần làm cỏ tới
115 giờ/ha, còn sử dụng các động cơ nhỏ cũng phải mất 50-60giờ/ha/lần Mặt khác, khi sử dụng công cụ nạo cỏ chỉ nhổ được cỏ dưới 2 hàng lúa, còn giữa các khóm lúa hoặc các cây cỏ gần gốc lúa thì không thể trừ được (Nguyễn Văn Luật, 2009) [11]
Là một nước nông nghiệp, nước ta có nguồn nhân lực lao động khá dồi dào, đây là điều kiện thuận lợi để áp dụng các biện pháp thủ công, cơ giới Chính vì vậy, biện pháp này đã được duy trì từ xa xưa cho đến đầu thập kỷ
70, khi có sự xâm nhập của các thuốc trừ cỏ đầu tiên vào nước ta để sử dụng trên lúa
Trang 25Để tiến hành các biện pháp phòng trừ thủ công, nông dân phải chi phí một lượng nhân công lao động khá lớn Trong vụ xuân, nông dân các tỉnh miền Bắc phải tiến hành làm cỏ từ 2-3 lần/vụ, trung bình là 2,3 lần Trong vụ mùa nông dân có thể làm từ 1-2 lần, bình quân là 1,6 lần Chi phí cho một lần làm cỏ trong
vụ xuân khoảng 46,3 công/ha/lần, còn trong vụ mùa là 37,6 công/ha (Nguyễn Văn Luật, 2009) [11]
So với các nước khác thì chi phi lao động cho làm cỏ bằng tay ở nước
ta là cao hơn Các thí nghiệm ở IRRI cho thấy chi phí lao động cho hai lần làm cỏ bằng tay là 150 giờ/ha trên cây lúa cấy và 450 giờ/ha trên lúa gieo thẳng (De Datta, 1988) Tuy chi phí công lao động thực tế có sự biến động giữa các vùng trồng lúa nhưng ở các nước châu Á, nông dân thường hay phải
sử dụng 200-500 giờ lao động cho 2 lần làm cỏ/1ha, còn ở các nước cận Đông như Iran là 15 công/ha/lần tương đương với 120 giờ, ở Ai Cập là 20-25 công nhân/ha/lần trên cây lúa (Nguyễn Thị Kiều, 2011) [9] Tuy biện pháp thủ công, cơ giới đòi hỏi một lượng lớn nhân công lao động nhưng hiện vẫn đang được 80,2% nông dân miền Bắc ứng dụng Nguyên nhân chính là do:
- Diện tích canh tác bị chia nhỏ thành nhiều mảnh không tiện cho sử dụng thuốc Đôi khi chỉ có một mảnh ruộng nhỏ, nông dân vẫn phải chi phí một công phun thuốc và chuẩn bi dụng cụ, trong một vụ họ phải mất rất nhiều lần chuẩn bị như vậy trong khi thực tế họ chỉ cần 1-1,5 công phun là xong cả diện tích
- Nhiều nông dân cho rằng làm cỏ bằng tay là triệt để và ổn định hơn nhất là ở những ruộng cao nhiều cỏ, vì trên những ruộng này nông dân thường phải làm cỏ bổ sung 1-2 lần sau khi đã dùng thuốc trừ cỏ
- Đa số nông dân cho rằng, việc áp dụng các biện pháp thủ công, cơ giới có thể kết hợp để sục bùn, tạo điều kiện cho bộ rễ lúa phát triển tốt hơn nhất là trong điều kiện vụ xuân khi có những đợt rét kéo dài
Trang 26- Thu nhập từ sản xuất lúa còn quá thấp, do vậy nhiều nông dân vẫn muốn tận dụng nhân công lao động nhàn rỗi để tiết kiệm tiền mua thuốc nhất
là nông dân ở các vùng xa đô thị, không có các ngành nghề phụ
Qua các thí nghiệm cho thấy, trong vụ xuân nếu tiến hành làm cỏ 2 lần bằng tay thì năng suất có thể đạt tương đương với áp dụng 3 lần trừ cỏ mà hiệu quả kinh tế cao hơn nhiều Nếu chỉ hoàn toàn áp dụng biện pháp thủ công (làm cỏ 2 lần bằng tay) thì năng suất có tăng hơn phun thuốc trừ cỏ (47,8 tạ/ha so với 43,5 tạ/ha) song mức thu nhập từ việc tăng năng suất không cao hơn so với chi phí công lao động, do vậy hiệu quả kinh tế thấp hơn Nếu tiến hành phun thuốc trừ cỏ sớm sau đó bổ sung thêm 1 lần làm cỏ bằng tay sẽ vừa cho năng suất cao, vừa tăng hiệu quả kinh tế
Việc làm cỏ bằng tay hạn chế cỏ dại tốt nhất và giúp cây trồng phát triển tốt hơn tần suất làm cỏ bằng tay 1 -2 lần thì năng suất tăng lên gấp đôi Khoảng thời gian làm cỏ từ khi cấy đến 49 ngày sau dẫn đến năng suất cao nhất cho lúa Làm cỏ bằng tay là phương pháp phổ biến nhất và hiệu quả kiểm soát cỏ dại trong ruộng lúa nhưng nó đang gặp vấn đề Do tiền lương cao và không có lao động thời kỳ cao điểm của hoạt động nông nghiệp (Singh và cs, 1999) [21] Làm cỏ bằng tay cần lượng lao động lớn, tuy nhiên làm cỏ bằng tay là phổ biến trong các lĩnh vực lao động là do dễ dàng có sẵn và chi phí thấp
1.3.2.2 Ảnh hương của việc ứng dụng thuốc trừ cỏ trên năng suất lúa
Hóa chất làm cỏ dễ dàng hơn, tiết kiệm thời gian và kinh tế so với làm
cỏ bằng tay Thuốc diệt cỏ phương pháp kiểm soát cỏ dại cung cấp một lợi thế
để tiết kiệm lao động và tiền bạc, kết quả là, coi là phương pháp hiệu quả về chi phí kiểm soát cỏ dại (Moody, 1992) [21]
Tuy nhiên, sử dụng thuốc diệt cỏ cũng gây ra rất nhiều ảnh hưởng xấu như: dễ gây độc cho người trực tiếp áp dụng thuốc (pha chế, phun thuốc ), cho gia súc, sinh vật có ích ở chung quanh khu vực áp dụng thuốc Nếu sử
Trang 27dụng không đúng cách, đôi khi thuốc còn gây độc cho thực vật Nhiều trường hợp thuốc ảnh hưởng sâu sắc đến quần thể sinh vật và cân bằng sinh thái, nhất
là ở những vùng mà biện pháp hóa BVTV được sử dụng trên qui mô lớn Gây
ô nhiễm trên môi trường sống, nhất là đối với các loại thuốc có độ bền lớn, dễ lưu tồn trong đất với một thời gian khá dài (Trần Văn Hai, 2012) [7].
Nếu tăng cường sử dụng thuốc trừ cỏ thì vô hình chúng ta đang chuyển
biện pháp phòng trừ cỏ dại từ đa dạng về một biện pháp đơn lẻ Mặt khác
cho đến nay có rất nhiều loại cỏ, nhất là cỏ lồng vực là một khó khăn cho hầu hết các vùng sản xuất lúa mà thuốc trừ cỏ không phải lúc nào cũng đạt hiệu quả phòng trừ cao Thêm vào đó, nông dân còn thiếu kiến thức về thuốc trừ cỏ như thời gian sử dụng, lượng dùng, bảo hộ lao động…Họ cũng thiếu máy móc, thiết bị hợp lý để phun Những khó khăn này đã làm giảm năng suất lúa, gây ô nhiễm nguồn nước, đất và các sinh vật sống xung quanh (Nguyễn Văn Luật, 2009) [11]
1.3.2.3 Ảnh hưởng của kiểm soát cỏ dại bằng cào cỏ cải tiến
Với SRI làm cỏ được thực hiện bằng tay bằng cách sử dụng cào cỏ cải tiến (Cono-weeder) với không sử dụng thuốc diệt cỏ Từ bỏ thuốc diệt cỏ có một lợi ích sức khỏe cho tất cả những người liên quan, như người nông dân và người tiêu dùng và không gây ô nhiễm môi trường và nguồn nước ngầm Hiệu quả rõ rệt về số lượng tăng lên làm cỏ bằng cào cỏ cải tiến cho thấy rằng kiểm soát cỏ dại là yếu tố quan trọng và nó cũng làm cho đất thoáng khí (Fernandes
và Uphoff, 2002) [18]
Các dụng cụ như conoweeder đó giúp tiết kiệm lao động, thời gian và
số lượng người/ngày cần thiết cho làm cỏ từ 30 người xuống 10 người khi họ trở nên có kinh nghiệm hơn làm cỏ cho phép cây lúa duy trì khối lượng gốc cao hơn so với làm cỏ bằng tay Điều này là do sự thông khí của trời hàng đầu của đất và tái sinh rễ mới hơn do hiệu ứng cắt tỉa bởi weeder cơ khí Nhật
Trang 28weeder Rotary và RRI Cono weeder thường được sử dụng weeders lúa ngập nước và đang ngày càng trở nên phổ biến trong nông dân ở Ấn Độ Sự gia tăng năng suất lúa do weeder sử dụng 22 đến 24 phần trăm Hiệu quả làm cỏlà 79% và 72,5%, tương ứng cho weeder quay và Cono weeder Sự gia tăng xúc đất và đất khả năng đảo ngược của weeder quay thêm giá trị lớn đến hiệu quả làm cỏ cao hơn Các weeder quay cho hiệu suất tốt hơn ngay cả trong giai đoạn sau của cỏ Conoweeder cho hiệu suất tốt hơn trên các giai đoạn ban đầu của cỏ dại phát triển Nếu cỏ dại đang trưởng thành các conoweeder chỉ lăn trên cỏ dại với nhổ tối thiểu và đảo ngược (G Satyanarayana Reddy* and K Indudhar Reddy, 2013) [19]
Các hoạt động làm cỏ có thể được thực hiện mà không nhàm chán Theo những nghiên cứu của Vijayakumar cũng cho thấy sự gia tăng đáng kể năng suất 9,7% (tương ứng khoảng cách cấy 20 x 20 cm) và 11,1% (khoảng cách cấy 25 x 25 cm) khi sử dụng cào cỏ cải tiến so với cỏ thông thường (thuốc diệt cỏ + tay làm cỏ) Một số phân tích đã chỉ ra rằng làm cỏ bổ sung ngoài hai lần đầu có thể tăng thêm 0,5 đến 2,5 tấn/ha Trong một cộng đồng Madagascar, những người nông dân đã không làm
cỏ cào cải tiến năng suất đạt 6,0 tấn/ ha, những người nông dân đã làm một hoặc hai bằng cào cải tiến đạt năng suất 7,5 tấn/ha (Vijayakumar và
cs, 2006) [24]
Quản lý cỏ dại là một vấn đề được tranh luận bởi hầu hết các nước Trong điều kiện đất không ngập nuớc và cấy với khoảng cách rộng hơn, hai thành phần của nguyên tắc SRI, khuyến khích cỏ dại phát triển, nhất là trong giai đoạn đầu tăng trưởng của cây trồng Theo Ngin Chhay, Giám đốc MAFF, Campuchia:
“Campuchia đang xúc tiến sản xuất lúa theo SRI là thực hành mà không có đầu vào hóa chất bằng cách sử dụng lao động giá rẻ để sản xuất phân hữu cơ tại chỗ và làm cỏ bằng tay (sử dụng công cụ làm cỏ) Kết quả, các ruộng áp
Trang 29dụng biện pháp này năng suất tăng 10-20% Tuy nhiên, không có dữ liệu có sẵn để so sánh kết quả này với làm cỏ bằng thuốc hóa học (Moddy, 1998) [22]
Tích hợp quản lý cỏ dại trong đó bao gồm sự kết hợp của hai hay nhiều thực hành kiểm soát cỏ dại đã được xác định là một thay thế cho các phương pháp hiện hành của kiểm soát cỏ dại Tích hợp đa dạng hóa quản lý cỏ dại những áp lực chọn lọc trên các ruộng lúa có cỏ, sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn và mang lại năng suất cao hơn trên một đơn vị diện tích (G
Satyanarayana Reddy* and K Indudhar Reddy, 2013) [19]
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: giống lúa BC15
Giống lúa BC15: là giống lúa thuần bản quyền của Tổng Công ty giống cây trồng Thái Bình, thời gian sinh trưởng vụ mùa 110 – 115 ngày, đẻ nhánh khỏe, tái sinh mạnh sau thiên tai và dịch bệnh, bông to dài, số hạt trên bông cao
- Vật liệu nghiên cứu: cào cỏ cải tiến, nạo, phân bón, thuốc BVTV
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Thí nghiệm được thực hiện tại Trung tâm Thực nghiệm Thực hành và Chuyển giao khoa học công nghệ trường Đại học Tân Trào
- Thời gian nghiên cứu: Vụ mùa năm 2015, từ tháng 6 – 11 năm 2015
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ gieo mạ đến một số chỉ tiêu sinh trưởng của cây mạ
- Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ gieo mạ và phương pháp làm cỏ đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống lúa BC15
- Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ gieo mạ và phương pháp làm cỏ đến khả năng chống đổ và một số sâu bệnh hại chính của giống lúa BC15
Trang 30- Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ gieo mạ và phương pháp làm cỏ đến hiệu quả kinh tế của giống lúa BC15
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm
- Công thức thí nghiệm: Thí nghiệm 2 nhân tố
+ Nhân tố A (chính): Phương pháp làm cỏ
A1: Trừ cỏ bẳng thuốc Venus 300EC, sau cấy 3 ngày
A2: Làm cỏ bằng tay (dùng tay vơ cỏ) tiến hành 2 lần Lần 1 sau khi cấy
- Tổ hợp 2 nhân tố trên được các công thức thí nghiệm sau:
1 A1: Phun thuốc trừ cỏ (Đ/c) B1: Mật độ gieo mạ 1kg/ 3m2 A1B1
Trang 31- Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm được bố trí theo kiểu ô chính ô phụ Split- plot có 8 công thức và 3 lần nhắc lại (Nhân tố biện pháp trừ cỏ được bố trí vào ô chính, nhân tố mật độ mạ được bố trí vào ô phụ) Kích thước ô phụ 10m2 (2m x 5m), ô chính 20m2 (4m x 5m) xung quanh ô chính đắp bờ
2.4.2 Sơ đồ thí nghiệm
Mương nước
Dải bảo vệ
2.4.3 Điều kiện thí nghiệm
Thí nghiệm được thực hiện tại Trung tâm Thực nghiệm Thực hành và chuyển giao khoa học công nghệ trường Đại học Tân Trào
- Tuổi mạ 12 ngày, cấy một dảnh, khoảng cách cấy 25cm x 25cm
- Điều tiết nước: Từ khi cấy đến khi kết thúc đẻ lần 1, luôn duy trì có nước láng bề mặt ruộng Sau khi bón phân thúc đẻ khoảng 5 ngày tiến hành tháo cạn chỉ cần giữ cho ruộng đủ ẩm, khi lúa đứng cái phơi ruộng 10 ngày khi mặt ruộng khô (rạn chân chim) tưới theo phương pháp tưới tràn Khi cây lúa phân hoá đòng đến khi chín sáp nên giữ mực nước trên ruộng khoảng 3 - 4cm Trước khi thu hoạch 15 ngày lại tháo cạn nước để tiện thu hoạch
- Lượng phân bón tính cho 1 ha: 10 tấn phân chuồng+ 80 kg N+ 80 kg P2O5+ 60kg K2O
- Cách bón:
Trang 32+ Bón lót toàn bộ phân chuồng + toàn bộ phân lân + 40% đạm + 30% kali
+ Bón thúc đợt 1: 30 % đạm + 30% kali khi cây lúa hồi xanh
+ Bón thúc đợt 2: 30% đạm + 40% kaly còn lại khi lúa bắt đầu làm đòng
- Phòng trừ sâu bệnh: Phun thuốc khi sâu bệnh vượt ngưỡng phòng trừ
2.5 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp lấy mẫu
Theo dõi đánh giá các chỉ tiêu theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khảo nghiệm giá trị canh tác và sử dụng của giống lúa QCVN 01 - 55: 2011/ BNN&PTNT
2.5.1 Đánh giá sinh trưởng của mạ ở hai mật độ gieo mạ khác nhau
Định cây theo dõi: Trước khi đem cấy chọn ngẫu nhiên 10 cây phân bố đều trong ô và đo đếm các chỉ tiêu sau:
- Chiều cao cây mạ: Đo từ cổ rễ đến chóp lá dài nhất của cây mạ
- Bề rộng gan cây mạ: Dùng thước kẹp kính đo bề dày gan cây mạ ở vị trí cách gốc 1cm của cây mạ
- Số rễ cây mạ: Đếm trực tiếp số rễ trên cây mạ
- Chiều dài rễ cây mạ: Cắt tất cả các rễ của cây mạ ra đo chiều dài rồi tính giá trị trung bình
2.5.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ gieo mạ và phương pháp làm cỏ đến sinh trưởng, phát triển lúa BC15
Thời gian gieo mạ
Thời gian cấy
Định cây theo dõi: theo dõi 5 điểm theo đường chéo, mỗi điểm 1 khóm, 7 ngày theo dõi một lần các chỉ tiêu sau:
Thời gian từ cấy đến đẻ nhánh: Tính từ cấy đến khi có 50% số khóm xuất hiện nhánh mới
Thời gian trỗ: Từ cấy đến khi có 50% số bông trỗ
Thời gian sinh trưởng: Tính số ngày từ khi gieo đến khi khoảng 85 - 90% số hạt trên bông chín
Trang 33Chiều cao cây: Dùng thước đo từ mặt đất tới lá dài nhất đối với giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng (từ mạ đến làm đòng) Đo từ mặt đất đến chóp bông đối với giai đoạn chín
- Chỉ tiêu về sự phát triển của bộ rễ
Các chỉ tiêu về sự phát triển của bộ rễ được nghiên cứu vào 3 thời kỳ: làm đòng, bắt đầu trỗ và chín sáp Mỗi ô thí nghiệm lấy ngẫu nhiên 3 khóm phân bố đều và đo đếm các chỉ tiêu sau:
+ Chiều dài rễ: Xếp chiều dài rễ trên thước dài 50cm, cân được khối lượng a (gam), sau đó đem cân toàn bộ khối lượng rễ được b (gam)
Chiều dài rễ/khóm =(b/a) x 2 (m)
+ Đường kính rễ: Lấy ngẫu nhiên 10 cái rễ, xếp xít nhau rồi đem đo được kết quả là a (mm)
Đường kính rễ = a/10 (mm)
+ Trọng lượng khô của rễ: lấy mẫu cùng thời điểm nghiên cứu chiều dài và đường kính rễ, sau đó đào các phẫu diện đất ở độ sâu 0 - 20cm Cắt đất theo tầng đất 0 - 5cm, 5 - 10cm, 10 - 20cm, đem rửa sạch bùn đất, cho riêng
rễ vào từng túi vải sau đó đem sấy khô đến khối lượng không đổi và đem cân
- Chỉ số diện tích lá (LAI)
Lấy mẫu cùng thời điểm đo các chỉ tiêu phát triển của bộ rễ
Trang 34Tính diện tích lá/khóm bằng phương pháp cân nhanh: cắt tất cả các lá/khóm, cắt lá xếp sát liền nhau trong một ô rộng 1 dm2 rồi cân khối lượng được P1; sau đó cân toàn bộ khối lượng lá trên 3 khóm được P2
LAI = P2 x số khóm/m2 đất
P1 x 100 Trong đó: P1 là khối lượng 1 dm2 lá
P2 là khối lượng toàn bộ khóm
100 là hệ số quy đổi từ đơn vị 1 dm2 sang đơn vị m2
- Đường kính lóng gốc (DBI): áp dụng theo Hệ thống tiêu chuẩn đánh giá nguồn gen cây lúa của IRRI, 1996
Chỉ tiêu về đường kính lóng gốc được nghiên cứu vào thời kỳ lúa chín hoàn toàn, cách làm cụ thể như sau:
Lấy ngẫu nhiên 3 khóm phân bố đều trong ô thí nghiệm, sau đó dùng thước kẹp kính đo đường kính ngoài lóng gốc của thân chính, sau đó lấy giá trị trung bình
- Khả năng tích lũy chất khô toàn khóm
Lấy mẫu đồng thời khi nghiên cứu chỉ tiêu về rễ, sau khi đo đếm các chỉ tiêu chiều dài, đường kính rễ và chỉ số diện tích lá thì để riêng từng mẫu rồi đem sấy ở nhiệt độ 80 0 C đến khối lượng không đổi
- Khả năng chống đổ
Theo dõi bằng phương pháp trực quan ở giai đoạn sinh trưởng cây lúa vào chắc và chín sau đó đánh giá thang điểm
Trang 35Điểm 1: Cây không bị nghiêng
Điểm 3: Cây cứng trung bình, hầu hết không bị nghiêng
Điểm 5: Trung bình, hầu hết cây bị nghiêng
Điểm 7: Yếu: hầu hết cây bị đổ rạp
Điểm 9: Rất yếu, cây bị đổ rạp hết
- Sâu cuốn lá (Cnaphalocrosis medinalis G)
Phương pháp điều tra: Mỗi ô thí nghiệm đếm tất dảnh lúa bị sâu ăn phần xanh của lá hoặc lá bị cuốn thành ống và các dảnh của 10 khóm
+ Điểm 0: Không bị hại
+ Điểm 1: 1-10% cây bị hại
+ Điểm 3: 11-20% cây bị hại
+ Điểm 5: 21-35% cây bị hại
+ Điểm 7: 36-51% cây bị hại
+ Điểm 9: >51% cây bị hại
- Sâu đục thân ( Scirpophaga incertulas Walker ) Theo dõi tỷ lệ dảnh bị chết ở giai đoạn đẻ nhánh, làm đòng trỗ bông, chín
Phương pháp điều tra: Lấy ngẫu nhiên 10 khóm, sau đó đếm tất cả số dảnh của 10 khóm, số dảnh có nõn héo (giai đoạn trước trỗ) và bông bạc (giai đoạn sau trỗ)
+ Điểm 0: Không bi hại
+ Điểm 1: 1-10% số dảnh chết hoặc bông bạc
+ Điểm 3: 11-20% số dảnh chết hoặc bông bạc
+ Điểm 5: 21-30% số dảnh chết hoặc bông bạc
+ Điểm 7: 31-50% số dảnh chết hoặc bông bạc
+ Điểm 9: >51% số dảnh chết hoặc bông bạc
Trang 36- Bệnh bạc lá: Tác nhân Xanthomonas oryzae pv.oryzae; vết bệnh
thường xuất hiện gần đỉnh lá, từ mép lá và lan xuống theo mép lá Quan sát diện tích vết bệnh trên lá
+ Điểm 1: 1-5% diện tích vết bệnh trên lá
+ Điểm 3: 6-12% diện tích vết bệnh trên lá
+ Điểm 5: 13-25% diện tích vết bệnh trên lá
+ Điểm 7: 26-50% diện tích vết bệnh trên lá
+ Điểm 9: 51-100% diện tích vết bệnh trên lá
Chỉ tiêu năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất
- Số bông/khóm: Đếm toàn bộ số bông có từ 10 hạt trở lên của các cây theo dõi ở mỗi ô, từ đó lấy giá trị trung bình rồi suy ra số bông/m2
- Số hạt trên bông: Đếm tổng số hạt trên bông của 5 khóm theo dõi ở một ô, tính trung bình
- Số hạt chắc/bông: Đếm toàn bộ số hạt chắc/bông của 5 khóm theo dõi ở mỗi ô rồi từ đó lấy giá trị trung bình
- Khối lượng P1000 hạt: Cân 8 mẫu 100 hạt ở độ ẩm 14%, đơn vị tính gam, lấy một chữ số sau dấu phẩy
Từ các yếu tố: Số bông/ m2, số hạt chắc/bông,P1000 hạt ta tính năng suất lý thuyết (NSLT) theo công thức sau:
NSLT (tạ/ha) =
Số bông/ m2x số hạt chắc/bông x P1000 hạt
10.000 Năng suất thực thu: Gặt toàn bộ ô thí nghiệm, tuốt phơi tới độ ẩm 14% quạt sạch, cân khối lượng rồi cộng với những khóm đã nhổ về làm thí nghiệm, sau đó quy ra tạ/ha
2.5.3 Hiệu quả kinh tế
+ Tổng thu (triệu đồng/ha) = Năng suất x giá bán (tại thời điểm thí nghiệm)
Trang 37+ Tổng chi (triệu đồng/ha): bao gồm tiền mua giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và công lao động
+ Lãi thuần = Tổng thu – tổng chi
2.6 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Số liệu được xử lý trên phần mềm IRRISTAT 4.0 và EXCEL
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Tình hình sinh trưởng của mạ gieo ở hai mật độ khác nhau
Tổng kết các khâu kỹ thuật thâm canh cây lúa, nông dân nước ta đã có câu: “Tốt giống tốt má, tốt mạ tốt lúa” Trong hệ thống các biện pháp kỹ thuật thâm canh cây lúa thì giai đoạn mạ có vị trí đặc biệt quan trọng Làm tốt giai đoạn mạ tức là tạo ra một cơ thể trẻ, khỏe, đó là cơ sở để phát huy hiệu quả của tất cả các biện pháp thâm canh ở giai đoạn tiếp theo (Nguyễn Văn Hoan, 2004)[11]
Để đánh tình hình sinh trưởng của cây mạ chúng tôi theo dõi các chỉ tiêu: chiều cao cây mạ, bề rộng gan mạ, số rễ cây mạ, chiều dài rễ mạ Kết quả thí nghiệm được thể hiện qua bảng 3.1
Trang 38Bảng 3.1: Ảnh hưởng của mật độ gieo mạ đến sinh trưởng của cây mạ
BC15
Công thức Chiều cao cây
mạ (cm)
Bề rộng gan cây mạ (cm)
Số rễ cây
mạ (cái)
Chiều dài
rễ mạ (cm)
Bảng 3.1 cho ta thấy: Mật độ gieo mạ ảnh hưởng đến cây mạ cả ở 4 chỉ tiêu theo dõi, gieo mạ ở mật độ 1kg/10 m2 có các chỉ tiêu: chiều cao cây, bề rộng gan mạ, số rễ mạ, chiều dài rễ mạ lớn hơn gieo mạ ở mật độ 1kg/3 m2 Như vậy khi gieo mạ thưa cây mạ sinh trưởng tốt hơn, khi đem cấy sẽ nhanh bén rễ hồi xanh và đẻ nhánh
3.2 Ảnh hưởng của mật độ gieo mạ và phương pháp làm cỏ đến thời gian sinh trưởng và phát triển của lúa BC15
Thời gian sinh trưởng của cây lúa có ảnh hưởng lớn đến năng suất của cây lúa Để đánh giá ảnh hưởng của mật độ gieo mạ và phương pháp làm cỏ đến thời gian sinh trưởng của giống lúa BC 15 chúng tôi theo dõi và thu được kết quả ở bảng 3.2:
Bảng 3.2: Ảnh hưởng của mật độ gieo mạ và phương pháp làm cỏ đến
thời gian sinh trưởng và phát triển của lúa BC15
Trang 39Chiều cao cây lúa không chỉ có ý nghĩa trong thâm canh, liên quan đến tính chống đổ mà còn phản ánh độ thuần của một giống Kết quả theo dõi tốc
độ tăng trưởng chiều cao được thể hiện qua bảng 3.3:
Bảng 3.3: Ảnh hưởng của mật độ gieo mạ và phương pháp làm cỏ đến
động thái tăng trưởng chiều cao của lúa BC15
Trang 40Ghi chú: CCCC là chiều cao cuối cùng
Bảng 3.3 ta thấy các phương pháp làm cỏ khác nhau chỉ ảnh hưởng đến chiều cao trong thời gian từ 2 tuần đến 6 tuần sau cấy (p(A) <0,05) Các mật độ gieo mạ khác nhau chỉ ảnh hưởng đến chiều cao cây 2 tuần sau cấy (p(B)
<0,05) Chiều cao cuối cùng của cây lúa không chịu sự ảnh hưởng của mật độ gieo mạ và phương pháp làm cỏ (pA, pB <0,05)
Tương tác giữa mật độ gieo mạ và phương pháp làm cỏ đến chiều cao
cuối cùng không có sự sai khác (p (A*B) >0,05)
Kết quả nghiên cứu cho thấy phương pháp làm cỏ và mật độ gieo mạ ở các công thức thí nghiệm chỉ ảnh hưởng đến chiều cao cây lúa trong thời gian
2 tuần đến 6 tuần sau cấy (p(CT) <0,05)