Vai trò kênh phân phối trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Kênh phân phối là công cụ chính của doanh nghiệp trong lĩnh vực phân phối, trao đổi hàng hoá làm thoả mãn những nhu cầ
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của chính bản thân tôi Các số liệu sử dụng phân tích trong luận văn theo đúng quy định và trung thực, nếu có gì sai trái tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm
HỌC VIÊN
Nguyễn Ngọc Quý
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành gửi lời cảm ơn toàn thể quý thầy cô trong khoa Kinh
tế quản lý và Phòng Đào tạo Sau đại học - Trường Đại học Thăng Long đã tận
tình truyền đạt những kiến thức quý báu cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi
nhất cho em trong quá trình học tập nghiên cứu, quá trình hoàn thành luận
văn
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo TS.Trần
Đình Toàn- người đã hết lòng giúp đỡ, tạo điều kiện để em học tập, nghiên
cứu hoàn thành luận văn này
Cuối cùng, tôi cũng xin gửi lời cám ơn đến gia đình và bạn bè đã luôn
động viên, ủng hộ và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành
luận văn
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Học viên
Nguyễn Ngọc Quý
Trang 3MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC HÌNH VẼ
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KÊNH PHÂN PHỐI VÀ QUẢN LÝ KÊNH PHÂN PHỐI 5
1.1 KÊNH PHÂN PHỐI 5
1.1.1 Khái niệm 5
1.1.2 Vai trò và chức năng của kênh phân phối 6
1.1.3 Phân loại kênh phân phối 8
1.1.4 Cấu trúc kênh phân phối 10
1.1.5 Thành viên của kênh phân phối 15
1.1.6 Các hoạt động trong kênh phân phối 19
1.2 QUẢN LÝ KÊNH PHÂN PHỐI 21
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm quản lý kênh phân phối 21
1.2.2 Vai trò quản lý kênh phân phối 23
1.2.3 Nội dung quản lý kênh phân phối 24
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KÊNH PHÂN PHỐI 37
1.3.1 Nhóm nhân tố bên trong 37
1.3.2 Nhóm nhân tố bên ngoài 39
1.4 CÁC YẾU TỐ BIỂU HIỆN HIỆU QUẢ CỦA KÊNH PHÂN PHỐI 40
1.4.1 Bao phủ thị trường 40
1.4.2 Có đội ngũ bán hàng tiếp cận khách hàng 40
1.4.3 Lưu trữ hàng hóa 41
1.4.4 Tiếp nhận và giải quyết đơn hàng 41
1.4.5 Tầm quan trọng của các thành viên kênh 41
1.4.6 Số lượng các thành viên kênh 41
Trang 41.5 KINH NGHIỆM QUẢN LÝ KÊNH PHÂN PHỐI TẠI CÁC CÔNG
TY VIỄN THÔNG 41
1.5.1 Kênh phân phối MobiFone 41
1.5.2 Kênh phân phối Viettel 42
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 45
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KÊNH PHÂN PHỐI CÁC SẢN PHẨM, DỊCH VỤ CỦA VINAPHONE TẠI TRUNG TÂM DỊCH VỤ VIỄN THÔNG KHU VỰC I 46 2.1 TỔNG QUAN VỀ TRUNG TÂM DỊCH VỤ VIỄN THÔNG KHU VỰC 1 46
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển doanh nghiệp 46
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của Trung tâm 47
2.1.3 Kết quả kinh doanh của Trung tâm Dịch vụ Viễn thông khu vực I giai đoạn 2011-2014 50
2.2 THỰC TRẠNG KÊNH PHÂN PHỐI SẢN PHẨM CỦA TRUNG TÂM DỊCH VỤ VIỄN THÔNG KHU VỰC I 57
2.2.1 Cấu trúc kênh phân phối dịch vụ di động VinaPhone 57
2.2.2 Các thành viên trong kênh phân phối của Trung tâm 59
2.2.3 Đóng góp của các thành viên kênh phân phối 62
2.2.4 Đánh giá chung về các kênh phân phối 63
2.3 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ KÊNH PHÂN PHỐI TẠI TRUNG TÂM DỊCH VỤ VIỄN THÔNG KHU VỰC I 64
2.3.1 Lựa chọn thành viên kênh phân phối 64
2.3.2 Khuyến khích các thành viên trong kênh hoạt động 66
2.3.3 Đánh giá các thành viên kênh 69
2.4 NGUYÊN NHÂN TỒN TẠI TRONG CÔNG TÁC TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ KÊNH PHÂN PHỐI TẠI TRUNG TÂM DỊCH VỤ VIỄN THÔNG KHU VỰC I 70
2.4.1 Ưu điểm 70
2.4.2 Nhược điểm 71
2.4.3 Nguyên nhân tồn tại trong công tác quản lý kênh phân phối. 72
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 75
Trang 5CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN KÊNH PHÂN PHỐI CÁC SẢN PHẨM, DỊCH
VỤ CỦA VINAPHONE TẠI TRUNG TÂM DỊCH VỤ VIỄN THÔNG
KHU VỰC I 76
3.1 ĐỊNH HƯỚNG TRONG KINH DOANH CỦA TRUNG TÂM DỊCH VỤ VIỄN THÔNG KHU VỰC I 76
3.1.1 Dự báo các nhân tố ảnh hưởng 76
3.1.2 Mục tiêu và định hướng kinh doanh của Trung tâm 81
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN KÊNH PHÂN PHỐI TẠI TRUNG TÂM DỊCH VỤ VIỄN THÔNG KHU VỰC I 82
3.2.1 Hoàn thiện mô hình để cung cấp dịch vụ 82
3.2.2 Tạo mối quan hệ chặt chẽ với các thành viên trong kênh phân phối 83
3.2.3 Điều chỉnh các chính sách khuyến khích 85
3.2.4 Đẩy mạnh các chính sách xúc tiến hỗn hợp 88
3.2.5 Một số giải pháp hỗ trợ khác 90
KẾT LUẬN 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
PHỤ LỤC 98
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCVT : Bưu chính Viễn thông
ĐBL : Điểm bán lẻ
DVGT : Dịch vụ giá trị
DVGTGT : Dịch vụ giá trị gia tăng
VNPOST : Bưu điện Tỉnh, Thành phố
VNPTTT : Viễn thông Tỉnh, Thành phố
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Số liệu thực hiện các chỉ tiêu qua các năm của Trung tâm 52
Bảng 2.2: Doanh thu của Công ty VinaPhone 55
Bảng 2.3: Bảng thống kê số lượng điểm phân phối Trung tâm 61
Bảng 2.4: Đóng góp doanh thu từ các kênh 62
Bảng 2.5: Bảng lương nhân viên giao dịch 67
Bảng 2.6: Tỷ lệ chiết khấu thương mại cho các kênh 67
Bảng 2.7: Tỷ lệ chiết khấu cho đại lý cấp 1 68
Bảng 3.1: Kế hoạch tăng trưởng thuê bao, doanh thu và thị phần 78
Trang 8DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1: Các loại kênh phân phối 8
Hình 1.2: Các loại kênh phân phối trực tiếp 9
Hình 1.3: Cấu trúc kênh phân phối 11
Hình 1.4: Dạng kênh phân phối trực tiếp 14
Hình 1.5: Dạng kênh phân phối gián tiếp 14
Hình 1.6: Dạng kênh phân phối hỗn hợp 15
Hình 1.7: Các thành viên của kênh phân phối 15
Hình 1.8 Quản Trị kênh phân phối 24
Hình 1.9: Quản lý kênh phân phối 25
Hình 1.10 Lựa chọn các thành viên kênh 25
Hình 1.11 Mô hình kênh phân phối của Viettel 43
Hình 2.1: Cơ cấu tổ chức của Trung tâm Dịch vụ Viễn thông khu vực I 49
Hình 2.2: Thị phần của Trung tâm so với mạng khác 51
Hình 2.3: Thuê bao trên mạng Vinaphone giai đoạn 2011-2014 53
Hình 2.4: Doanh thu Trung tâm giai đoạn 2011-2014 54
Hình 2.5: Thị phần của Trung tâm so với toàn Công ty 55
Hình 2.6: Sơ đồ hệ thống kênh phân phối tại Trung tâm 57
Commented [L1]: Phần này cũng phải làm danh mục hình
tự động => Như nhận xét ở trên
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Kênh phân phối là một vấn đề rất quan trọng của các doanh nghiệp, phải mất nhiều năm để xây dựng được và không dễ gì có thể thay đổi được nó Kênh phân phối chính là chiếc “cầu nối” giữa người tiêu dùng và nhà sản xuất hoặc cung ứng dịch vụ, đưa sản phẩm, dịch vụ đến người tiêu dùng cuối cùng Cũng chính vì thế, kênh phân phối tạo nên lợi thế cạnh tranh phân biệt giữa các doanh nghiệp
Công ty Dịch vụ Viễn thông là 1 trong 3 nhà cung cấp dịch vụ di động chiếm thị phần lớn nhất tại Việt Nam trong đó Trung tâm Dịch vụ Viễn thông khu vực I quản lý 28 tỉnh thành khu vực miền Bắc (từ Hà Tĩnh trở ra) Nhận thức được vai trò của kênh phân phối trong kinh doanh hiện đại nên trong thời gian vừa qua Công ty Dịch vụ viễn thông đã rất chú trọng đến vấn đề này để đảm bảo hoàn thành nhiệm chính trị và kinh doanh hệ thống kênh phân phối các sản phẩm, dịch vụ của Vinaphone được bao phủ rộng khắp, đáp ứng được nhu cầu sử dụng dịch vụ của xã hội
Tuy nhiên, việc vận dụng những lý thuyết về kênh phân phối vào thực tế chưa đầy đủ theo quan điểm Marketing, hệ thống kênh phân phối còn nhiều bất cập, tổ chức kênh phân phối còn chồng chéo, việc tận dụng kênh phân phối cũ của VNPOST còn nhiều bất cập, chưa theo kịp với tình hình hiện tại sau khi đã chia tách Bưu chính và Viễn thông Hơn nữa, đối thủ cạnh tranh trực tiếp là Công ty Viễn thông Viettel thuộc Tập đoàn Viễn thông Quân đội tham gia thị trường từ cuối năm 2007 và đến nay đã chiếm hơn 50% thị phần dịch vụ di động tại Việt Nam Điều đó cho thấy rằng, đơn vị nào tổ chức tốt kênh phân phối sẽ đạt được kết quả kinh doanh cao Chính vì vậy, việc nghiên cứu hoàn thiện hệ thống kênh phân phối các sản phẩm, dịch vụ của VinaPhone là một đòi hỏi cấp thiết hiện nay
Trang 10Với lý do này, tôi chọn đề tài “Hoàn thiện kênh phân phối các sản
phẩm, dịch vụ của Vinaphone tại Trung tâm Dịch vụ Viễn thông khu vực I”
làm đề tài nghiên cứu
2 Tổng quan nghiên cứu
Kênh phân phối và lý thuyết quản trị kênh phân phối trong kinh doanh
của các doanh nghiệp cung ứng sản phẩm và dịch vụ đã được đề cập nhiều ở
các tài liệu, công trình nghiên cứu tại nhiều nước trên thế giới cũng như tại
Việt Nam
Trong các giáo trình về quản trị marketing đều có đề cập đến kênh phân
phối: Kênh phân phối sản phẩm là một trong bốn biến số của marketing hỗn
hợp mà doanh nghiệp cần phải xây dựng để triển khai những nỗ lực marketing
tới thị trường mục tiêu Việc phát triển và tổ chức tốt kênh phân phối giúp
doanh nghiệp xây dựng và duy trì được lợi thế cạnh tranh trong dài hạn
Tại Việt Nam, trong thời gian qua cũng đã có một số công trình nghiên
cứu về kênh phân phối của một số sản phẩm, dịch vụ như:
- Đề tài: “Phát triển kinh doanh của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ
di động tại Việt Nam”, luận án tiến sĩ trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà
Nội năm 2008 của tác giả Lê Ngọc Minh Luận án đã tập trung nghiên cứu
đặc điểm, các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh dịch vụ thông tin
di động của các doanh nghiệp viễn thông nói chung tuy nhiên không đề cập
cụ thể đến đặc tính riêng về phân phối của sản phẩm di động
- Đề tài: “Giá trị thương hiệu của mạng di động VinaPhone trên thị
trường Việt Nam”, luận văn Thạc sỹ Học viện Bưu chính Viễn thông năm
2010 của tác giả Lục Bùi Anh Dũng Luận văn đã trình bày một cách hệ thống
về thương hiệu, giá trị thương hiệu và các thành phần của giá trị thương hiệu
Qua phân tích và đánh giá thực trạng giá trị thương hiệu của mạng di động
VinaPhone, giúp cho VinaPhone có những chiến lược phát triển thương hiệu
Trang 11cụ thể Đề xuất được một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao giá trị thương hiệu mạng di động VinaPhone trên thị trường Việt Nam
Cùng nhiều đề tài khác có đề cập đến quản trị kênh phân phối, tuy nhiên
tổ chức kênh phân phối đối với sản phẩm đặc thù là dịch vụ di động VinaPhone thì chưa có đề tài nào Với mong muốn có nghiên cứu tổ chức và hoàn thiện kênh phân phối của sản phẩm đặc thù tôi đã chọn đề tài nghiên cứu này
3 Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về kênh phân phối và quản lý kênh phân phối
- Phân tích thực trạng kênh phân phối và quản lý kênh phân phối tại Trung tâm Dịch vụ Viễn thông khu vực I
- Đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện kênh phân phối các sản phẩm, dịch
vụ của Vinaphone tại Trung tâm Dịch vụ Viễn thông khu vực I
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Kênh phân phối, quản lý kênh phân phối và các giải pháp hoàn thiện kênh phân phối các sản phẩm, dịch vụ của VinaPhone tại Trung tâm Dịch vụ Viễn thông khu vực I trong mô hình mới của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu:
- Thời gian: Giai đoạn 2011-2014
- Không gian: Phạm vi 28 tỉnh thành phía Bắc do Trung tâm Dịch vụ Viễn thông khu vực I quản lý
- Nội dung: Kênh phân phối và quản lý kênh phân phối các sản phẩm, dịch vụ của Vinaphone tại Trung tâm Dịch vụ Viễn thông khu vực I
Trang 125 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây: Phương
pháp phân tích đánh giá và thống kê so sánh để chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng
đến kênh phân phối và việc quản lý kênh phân phối Bên cạnh đó sử dụng
phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp tổng hợp
6 Những đóng góp của Luận văn
Đánh giá thực trạng về tổ chức và quản lý kênh phân phối tại đơn vị từ
đó đưa ra một vài giải pháp để hoàn thiện hệ thống kênh phân phối các sản
phẩm dịch vụ của Vinaphone tại Trung tâm Dịch vụ Viễn thông khu vực I
7 Nội dung của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận luận văn được chia làm 03 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận chung về kênh phân phối và quản lý
kênh phân phối
Chương 2: Thực trạng kênh phân phối các sản phẩm, dịch vụ của
Vinaphonetại Trung tâm Dịch vụ Viễn thông khu vực I
Chương 3: Hoàn thiện kênh phân phối các sản phẩm, dịch vụ của
Vinaphone tại Trung tâm Dịch vụ Viễn thông khu vực I
Trang 13CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KÊNH PHÂN PHỐI
VÀ QUẢN LÝ KÊNH PHÂN PHỐI 1.1 KÊNH PHÂN PHỐI
1.1.1 Khái niệm
Theo quan điểm marketing, kênh phân phối là một tập hợp các doanh
nghiệp, cá nhân độc lập và phụ thuộc lẫn nhau tham gia vào quá trình đưa hàng hóa từ người sản xuất đến người tiêu dùng 1 Nói cách khác, kênh phân phối là một nhóm các tổ chức, cá nhân tham gia vào quá trình đưa sản phẩm
từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng Các kênh phân phối tạo nên dòng chảy sản phẩm từ người sản xuất đến người mua cuối cùng Tất cả những tổ chức,
cá nhân tham gia vào kênh phân phối được gọi là các thành viên của kênh Những thành viên nằm giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng cuối cùng được gọi là các trung gian phân phối
Theo quan điểm nhà quản trị ở các doanh nghiệp kênh phân phối là một
tổ chức hệ thống các quan hệ với các tổ chức và cá nhân bên ngoài để quản lý hoạt động phân phối tiêu thụ sản phẩm nhằm thực hiện các mục tiêu trên thị trường của doanh nghiệp Như vậy họ quan niệm kênh phân phối tồn tại bên ngoài doanh nghiệp không phải là một cấu trúc tổ chức nội bộ của doanh nghiệp Đối với họ quản trị kênh phân phối liên quan tới khả năng và phương pháp quản lý giữa tổ chức hơn là quản lý nội bộ một tổ chức doanh nghiệp Tuy nhiên, mọi quyết định liên quan đến phân phối không chỉ liên quan tới doanh nghiệp, nhà quản trị kênh mà chủ yếu liên quan tới các thành viên trong kênh bởi nó sẽ chi phối mọi hoạt động của các thành viên kênh
1 Trần Minh Đạo (2006), Giáo trình Marketing căn bản, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội
Trang 141.1.2 Vai trò và chức năng của kênh phân phối
1.1.2.1 Vai trò kênh phân phối trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Kênh phân phối là công cụ chính của doanh nghiệp trong lĩnh vực phân
phối, trao đổi hàng hoá làm thoả mãn những nhu cầu cụ thể của nhóm khách
hàng mục tiêu, khắc phục những ngăn cách về thời gian, không gian và quyền
sở hữu hàng hoá và dịch vụ với những người muốn sử dụng chúng
Kênh phân phối thực hiện quá trình chuyên môn hoá và phân công lao
động để nâng cao hiệu quả quá trình sử dụng các yếu tố trong sản xuất kinh
doanh, đáp ứng được sự phát triển của thị trường cũng như sự phong phú đa
dạng của nhu cầu
Kênh phân phối tăng cường khả năng liên kết, hợp tác giữa các cá nhân
và tổ chức hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất, phân phối tiêu thụ trong một
mục đích chung Cung cấp các sản phẩm và dịch vụ cho người tiêu dùng cuối
cùng đồng thời thỏa mãn những mục tiêu riêng của mỗi bên
1.1.2.2 Chức năng của kênh phân phối
Kênh phân phối là con đường mà hàng hoá được lưu thông từ người sản
xuất đến tay người tiêu dùng Nhờ có mạng lưới kênh phân phối mà khắc
phục được những khác biệt về thời gian, địa điểm và quyền sở hữu giữa người
sản xuất với những người sử dụng các hàng hoá và dịch vụ Tất cả các thành
viên của kênh phải thực hiện những chức năng chủ yếu sau:
Chức năng trao đổi, mua bán: Đây là chức năng phổ biến nhất của kênh
phân phối và thực chất của chức năng này là việc tiến hành các hoạt động
mua bán Chức năng mua bao hàm việc tìm kiếm, đánh giá giá trị của hàng
hóa và dịch vụ còn chức năng bán liên quan đến việc tiêu thụ sản phẩm Nó
bao gồm việc sử dụng bán hàng cá nhân, quảng cáo và phương pháp
Marketing khác
Chức năng phân loại, sắp xếp hàng hóa: Chức năng này liên quan đến
Trang 15việc sắp xếp hàng hóa theo chủng loại và số lượng Điều này làm cho việc mua bán được dễ dàng hơn vì giảm được nhu cầu kiểm tra và lựa chọn
Chức năng vận tải: Hàng hóa được chuyển từ điểm này đến điểm khác,
nhờ đó giải quyết được mâu thuẫn về không gian giữa sản xuất và tiêu dùng
Chức năng lưu kho và dự trữ hàng hóa: Có liên quan đến việc lưu trữ
hàng hóa, dịch vụ trong kho tàng bến bãi, cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho khách hàng một cách nhanh chóng và thuận tiện nhất Đồng thời, đây cũng là chức năng nhằm duy trì mức phân phối ổn định cho khách hàng trong điều kiện thị trường có nhiều biến động
Chức năng đảm bảo tài chính: Liên quan đến việc cung cấp tiền mặt và
tín dụng cần thiết đến việc vận tải, lưu kho, xúc tiến bán
Chức năng chia sẻ rủi ro, mạo hiểm: Giải quyết sự khống chắc chắn
trong quá trình phân phối sản phẩm trên thị trường Chấp nhận những rủi ro liên quan tới việc điều hành hoạt động của kênh phân phối sản phẩm trên thị trường
Chức năng thông tin: Là việc cung cấp thông tin từ tất cả các thành viên
kênh và ý kiến từ phía khách hàng ngoài thị trường
Như vậy kênh phân phối có nhiều chức năng, vấn đề là ai sẽ thực hiện các chức năng của kênh phân phối đó Thông thường nhà sản xuất có thể thực hiện những chức năng đó của kênh, tuy nhiên làm như vậy sẽ gây ra sự phân tán nguồn lực cho nhà sản xuất Chính vì vậy cần chuyển giao các chức năng này cho các trung gian, chuyên môn tốt hơn, chi phí thấp hơn…Mức độ chuyển giao sẽ khác nhau tùy thuộc vào chiến lược và năng lực của từng Công ty Vì vậy quản lý kênh phân phối là rất quan trọng
Trang 161.1.3 Phân loại kênh phân phối
Hình 1.1: Các loại kênh phân phối (Nguồn: Quản trị kênh phân phối – PGS.TS Trương Đình Chiến)
Có hai loại kênh phân phối là kênh phân phối trực tiếp và kênh phân
phối gián tiếp:
1.1.3.1 Kênh phân phối trực tiếp
Kênh phân phối trực tiếp là kênh phân phối mà các thành viên trong
kênh chỉ gồm có nhà sản xuất và người tiêu dùng cuối cùng (hình 1.1-Kênh
cấp 0) Trong kênh này, nhà sản xuất trực tiếp thực hiện chức năng phân phối
đến người tiêu dùng cuối cùng Nhà sản xuất cung ứng dịch vụ thông qua các
điểm bán hàng trực tiếp của mình hoặc thông qua lực lượng bán hàng trực
tiếp Với sự phát triển mạnh mẽ của CNTT đã hình thành phương thức thanh
toán không dùng tiền mặt, phát triển nhiều hình thức kênh trực tiếp như máy
bán hàng tự động, bán hàng qua điện thoại, đặt hàng bằng thư, bán hàng qua
mạng internet…đã cho phép nhà sản xuất, cung ứng giảm tối đa những tiếp
xúc với khách hàng mà vẫn bán hàng hiệu quả
Trang 17Hình 1.2: Các loại kênh phân phối trực tiếp (Nguồn: Quản trị kênh phân phối – PGS.TS Trương Đình Chiến)
1.1.3.2 Kênh phân phối gián tiếp
Kênh phân phối gián tiếp là dạng kênh phân phối mà trong đó nhà sản xuất hoặc cung ứng dịch vụ bán hàng cho người mua cuối cùng thông qua những nhà trung gian phân phối (kênh cấp 1, kênh cấp 2, kênh cấp 3, hình 1.1)
Các loại trung gian trong kênh phân phối gián tiếp
Trong kênh phân phối gián tiếp gồm có các loại trung gian sau: đại lý, người môi giới, người bán buôn, người bán lẻ, nhà phân phối…Việc lựa chọn đúng các loại trung gian trong kênh phân phối sẽ đem lại hiệu quả cao trong kinh doanh, giảm thiểu những rủi ro mà doanh nghiệp gặp phải Ngược lại, những sai lầm trong việc lựa chọn các trung gian phân phối thường đem lại hậu quả nặng nề trong hoạt động kinh doanh và cần thời gian dài để khắc phục Thực tế đã cho thấy rất nhiều sản phẩm “chết” là do sai lầm trong chiến lược phân phối, chọn sai trung gian phân phối Tùy từng lĩnh vực kinh doanh
và loại trung gian phân phối có thể lựa chọn một số tiêu chí đánh giá:
Điện thoại
Internet
Trang 18- Đang kinh doanh trong cùng thị trường mà doanh nghiệp đang nhắm
đến;
- Có đủ khả năng và điều kiện để khai thác thị trường mà doanh nghiệp
đang nhắm tới;
- Có đầy đủ lực lượng nhân viên bán hàng với trình độ và kỹ năng bán
hàng đã qua đào tạo;
- Có mạng lưới kênh phân phối độc lập;
- Có chính sách xúc tiến thương mại phù hợp với chính sách của doanh
nghiệp;
- Có khả năng tài chính đủ mạnh;
- Có khả năng cung cấp dịch vụ sau bán hàng;
- Chính sách phát triển sản phẩm phù hợp với chính sách của doanh
nghiệp (thích hợp trong kinh doanh nhượng quyền);
- Không kinh doanh các sản phẩm cạnh tranh
- Có đủ điều kiện kho tàng, bến bãi đủ lưu trữ lượng hàng hoá cần thiết;
- Có kho tàng phù hợp với chủng loại hàng;
- Điều kiện bao phủ thị trường cần thiết;
- Có uy tín về tài chính;
- Cung cách quản lý phù hợp với doanh nghiệp;
- Có uy tín, vị thế trên thị trường;
1.1.4 Cấu trúc kênh phân phối
Cấu trúc của kênh phân phối thường được phản ánh qua ba yếu tố cơ bản
là: chiều dài, chiều rộng và các loại trung gian kênh
Trang 19Hình 1.3: Cấu trúc kênh phân phối
1.4.1.1 Chiều dài của kênh phân phối
Các kênh phân phối có thể được mô tả bằng số lượng các cấp trung gian của nó Mỗi người trung gian sẽ thực hiện một số công việc nhất định nhằm đem sản phẩm tới gần người tiêu dùng hơn và tạo thành một cấp trong kênh phân phối Vì nhà sản xuất và người tiêu dùng là điểm đầu và điểm cuối của mỗi kênh phân phối, nên họ cũng là những bộ phận của kênh Chúng ta sẽ dùng số cấp trung gian để chỉ độ dài của một kênh phân phối Do đặc điểm khác nhau của sản phẩm và dịch vụ mà các kênh phân phối cũng được thiết kế khác nhau, bao gồm kênh phân phối hàng tiêu dùng, kênh phân phối tư liệu
xuất, kênh càng nhiều cấp độ càng ít có khả năng kiểm soát quá trình hoạt động của nó Căn cứ vào cấu tạo của các bộ phận trong kênh, người ta phân cấp số kênh như sau:
+ Kênh không cấp (còn được gọi là kênh phân phối trực tiếp) gồm người sản xuất bán hàng trực tiếp cho khách hàng cuối cùng Những hình thức của marketing trực tiếp chính là bán hàng lưu động, bán hàng dây chuyền, đặt hàng qua bưu điện, marketing qua điện thoại, bán hàng qua internet và các cửa hàng của người sản xuất
Trang 20+ Kênh một cấp (kênh phân phối gián tiếp): có một người trung gian,
như người bán lẻ (Kênh cấp 1, hình 1.1)
+ Kênh hai cấp có hai người trung gian: Trên các thị trường hàng tiêu dùng
thì đó thường là người bán buôn và một người bán lẻ (Kênh cấp 2, hình 1.1)
+ Kênh ba cấp có ba người trung gian:Giữa người bán buôn và người
1.4.4.2 Bề rộng của kênh
Được thể hiện ở số lượng trung gian ở mỗi cấp độ của kênh và quyết
định phạm vi bao phủ thị trường của kênh Doanh nghiệp có thể nghiên cứu
và vận dụng một trong ba phương thức phân phối là:
- Phân phối cường độ: Bán sản phẩm qua vô số các trung gian thương
mại trên thị trường, sử dụng nhiều trung gian ở mỗi cấp độ kênh, đặc biệt là
lực lượng bán lẻ Mục tiêu của nó là bao phủ thị trường và được áp dụng phổ
biến khi tiêu thụ sản phẩm thông dụng, có thị trường phân bố rộng ví dụ như:
Kẹo, bánh, thuốc lá, dịch vụ khám bệnh thông thường…;
- Phân phối đặc quyền: Ngược lại với phương thức phân phối rộng rãi
trên mỗi khu vực doanh nghiệp chỉ bán sản phẩm của họ qua một trung gian
thương mại duy nhất và trung gian thương mại được chọn phải thực hiện
phương thức bán độc quyền Mục tiêu của nó là tăng khả năng giám sát và
bảo vệ danh tiếng sản phẩm, thương hiệu, giá bán, hoạt động khuyến mãi và
tăng mức độ quản lý trung gian Áp dụng khi sản phẩm của dioanh nghiệp có
giá trị sản phẩm và danh tiếng thương hiệu cao: Ô tô, biệt dược, thiết bị công
nghệ…(Iphone chỉ cung cấp sản phẩm qua ishop và 2 nhà mạng lớn nhất Việt
nam: Vinaphone và Mobiphone);
- Phân phối chọn lọc: Doanh nghiệp chỉ bán sản phẩm của họ qua một số
trung gian thương mại đã được lựa chọn theo những tiêu chuẩn nhất định
Được áp dụng phổ biến để tiêu thụ sản phẩm thuộc nhóm hàng sử dụng lâu
Trang 21bền, người mua có sự lựa chọn kỹ lưỡng trước khi đưa ra quyết định hoặc khi nhà sản xuất đang muốn thu hút một số trung gian cụ thể trong mỗi cấp độ kênh (hàng nội thất, điện tử…)
1.4.4.3 Dạng trung gian thương mại ở mỗi cấp độ
Dạng trung gian thương mại ở mỗi cấp độ đó là những hình thức tồn tại của các trung gian thương mại Trung gian bán buôn có bán buôn chuyên doanh, tổng hợp, đại lý, môi giới, bán buôn hàng hóa ăn hoa hồng…, trung gian bán lẻ có bán lẻ tổng hợp, cửa hàng chuyên doanh, tự phục vụ… Mỗi loại hình trung gian có điểm mạnh, điểm yếu, quy mô, phương thức kinh doanh khác nhau và thực hiện một số công việc phân phối nhất định Ngược lại, mỗi loại sản phẩm cũng chỉ thích hợp với một số loại trung gian thương mại nhất định Các loại trung gian trên thị trường luôn luôn biến đổi, người quản lý kênh phân phối phải phân tích các trung gian hiện có trên thị trường
để có thể sử dụng những loại trung gian thương mại thích hợp trong hệ thống kênh phân phối của doanh nghiệp
Với ba đặc trưng cơ bản, ta có thể thấy số cấu trúc kênh rất lớn Tuy nhiên, có những dạng cấu trúc kênh chủ yếu là kênh phân phối trực tiếp, kênh phân phối gián tiếp và kênh phân phối hỗn hợp:
- Kênh phân phối trực tiếp (kênh không phân cấp): là loại kênh mà nhà sản xuất bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng Vì không có trung gian thương mại nên nhà sản xuất phải thực hiện tất cả các chức năng của kênh phân phối Lực lượng bán hàng của doanh nghiệp chịu trách nhiệm bán hàng trực tiếp đến tay người tiêu dùng (hình 1.4)
Trang 22Hình 1.4: Dạng kênh phân phối trực tiếp
- Kênh phân phối gián tiếp: là loại kênh mà doanh nghiệp không bán trực tiếp hàng hóa của mình cho người tiêu dùng cuối cùng mà thông qua các trung gian thương mại (nhà bán buôn hoặc nhà bán lẻ) Tùy từng trường hợp, doanh nghiệp có thể lựa chọn số cấp độ trung gian tham gia vào kênh Kênh một cấp là kênh nhà sản xuất bán hàng hóa cho người tiêu dùng thông qua trung gian thương mại bán lẻ Kênh hai cấp là kênh có hai người trung gian bán buôn và lẻ Kênh ba cấp có ba người trung gian là bán buôn cấp một, bán buôn cấp hai và bán lẻ Ngoài ra còn có kênh nhiều cấp hơn nhưng mức độ thu nhận thông tin về người tiêu dùng cuối cùng và mức độ kiểm soát kênh sẽ càng giảm đi khi số cấp độ trung gian trong kênh tăng lên (hình 1.5)
Hình 1.5: Dạng kênh phân phối gián tiếp
- Kênh phân phối hỗn hợp: là kênh phân phối dựa trên sự kết hợp của kênh phân phối trực tiếp và kênh phân phối gián tiếp (hình 1.6)
Người tiêu dùng
Trang 23Hình 1.7: Các thành viên của kênh phân phối
(Nguồn: Quản trị kênh phân phối – PGS.TS Trương Đình Chiến)
Trung gian thương mại
Thành viên kênh phân phối
Trang 24cung cấp cho thị trường những sản phẩm và dịch vụ nhưng họ thiếu cả kinh
nghiệm lẫn quy mô hiệu quả để thực hiện tất cả các công việc phân phối cần
thiết cho sản phẩm bởi vì các kinh nghiệm trong sản xuất đã không tự động
chuyển thành kinh nghiệm trong phân phối Do vậy các nhà sản xuất thường
chia sẻ những công việc phân phối cho những người trung gian Người trung
gian bao gồm các doanh nghiệp và các cá nhân kinh doanh thương mại độc
lập trợ giúp người sản xuất, người tiêu dung cuối cùng thực hiện các công
việc phân phối cùng thực hiện các công việc phân phối sản phẩm và dịch vụ
1.1.5.2 Những người trung gian bán buôn và bán lẻ 2
Những người trung gian bán buôn, bán lẻ hoạt động trước hết là các tổ
chức độc lập có nhu cầu và mong muốn riêng với những mục tiêu cụ thể
khác với nhà sản xuất
Trung gian bán buôn: Người bán buôn bao gồm các doanh nghiệp và
cá nhân mua hàng hóa để bán lại cho các doanh nghiệp hoặc tổ chức khác
(các nhà bán lẻ, các nhà bán buôn khác, các doanh nghiệp sản xuất, các tổ
chức xã hội và cơ quan nhà nước)
Trung gian bán buôn được phân loại thành ba nhóm chính:
- Bán buôn hàng hoá thực sự: là các tổ chức kinh doanh độc lập về sở
hữu Họ tham gia vào kênh Marketing với chức năng mua, sở hữu hàng hoá,
dự trữ và quản lý sản phẩm với số lượng lớn và bán lại với khối lượng nhỏ
hơn cho các khách hàng là các tổ chức kinh doanh khác nhau Họ thực hiện
tất cả các công việc phân phối ở cấp độ bán buôn trong kênh với những tên
gọi khác nhau: nhà bán buôn, nhà phân phối, nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu
- Đại lý môi giới và các nhà bán buôn hưởng hoa hồng: họ cũng là các
doanh nghiệp độc lập đảm nhiệm tất cả hay phần lớn các công việc phân phối
2 Trần Minh Đạo (2006), Giáo trình Marketing căn bản, NXB Kinh tế Quốc dân, Hà Nội
Trang 25ở khâu bán buôn Họ không sở hữu hàng hoá nhưng tham gia thực sự vào hoạt động đàm phán, mua bán thay mặt cho các khách hàng của họ Họ thường nhận thu nhập dưới hình thức tiền hoa hồng trên doanh số bán hay khoản lệ phí nhất đinh
- Chi nhánh và đại diện của nhà sản xuất: là tổ chức của các nhà sản xuất đặt tại các khu vức thị trường với chức năng thay mặt nhà sản xuất bán buôn sản phẩm của họ, do nhà sản xuất làm chủ và điều hành Vì vậy, những công việc phân phối mà các chi nhánh và đại diện bán của nhà sản xuất thực hiện thường do từng nhà sản xuất quy định cụ thể
Đặc điểm hoạt động của người bán buôn:
- Lựa chọn thị trường mục tiêu: người bán buôn cũng phải xác định nhóm khách hàng mục tiêu của mình Họ có thể xác định một nhóm khách hàng mục tiêu theo quy mô, loại hình khách hàng, hoặc theo các tiêu chuẩn khác;
- Quyết định về chủng loại sản phẩm và dịch vụ: sản phẩm của người bán buôn là chủng loại hàng hóa của họ Người bán buôn luôn chịu một sức
ép phải bán đầy đủ các chủng loại và duy trì lượng dự trữ đủ để có thể giao hàng ngay nhưng điều này có thể dẫn tới mất lợi nhuận Vì vậy, họ cố gắng tính toán nên bán bao nhiêu chủng loại hàng hóa và chỉ chọn những chủng loại hàng có lợi cho mình Người bán buôn cũng cân nhắc dịch vụ nào cần cung cấp, dịch vụ nào cần tính tiền với khách hàng;
- Quyết định về giá cả: người bán buôn thường định giá bán dựa trên giá mua cộng thêm chi phí và lợi nhuận cho họ Ngoài ra, người bán buôn cũng kết hợp nhiều phương pháp định giá khác như chiết khấu và bớt giá, định giá khuyến mại, định giá theo nguyên tắc địa lý;
- Quyết định về các biện pháp xúc tiến: người bán buôn không quan tâm nhiều đến các hoạt động xúc tiến Họ thường thực hiện các chương
Trang 26trình quảng cáo hạn chế;
- Quyết định về địa điểm: người bán buôn thường đặt địa điểm ở nơi giá
rẻ, chi phí rất ít cho việc trưng bày hàng cũng như văn phòng
Trung gian bán lẻ: Là những doanh nghiệp thương mại mà doanh số chủ yếu
là từ việc bán hàng hoá trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng để họ sử dụng vào mục
đích cá nhân, không kinh doanh Ví dụ như : Các cửa hàng bán áo quần, shop áo quần -
mũ -giày., siêu thị Họ có chức năng phát hiện nhu cầu khách hàng, nhu cầu tiêu
dùng và truyền thông tin trở lại người sản xuất, thực hiện bán hàng, quảng cáo
và trưng bày sản phẩm, phân chia và sắp xếp hàng hóa thành những khối
lượng phù hợp với người mua, dự trữ hàng hóa sẵn sàng cung cấp cho người
tiêu dùng và đặc biệt là cung cấp những dịch vụ khách hàng
Các nhà bán lẻ thuộc đủ loại quy mô, hình thức khác nhau và luôn xuất
hiện những kiểu bán lẻ mới Theo những mặt hàng mà người bán lẻ bán người
ta chia ra cửa hàng chuyên doanh, cửa hàng bách hóa, siêu thị, cửa hàng tiện
dụng, cửa hàng cao cấp, theo phương thức hoạt động người ta chia thành bán
lẻ qua cửa hàng và bán lẻ không qua cửa hàng…
Đặc điểm hoạt động của người bán lẻ:
- Quyết định thị trường mục tiêu: người bán lẻ xác định thị trường mục
tiêu trên cơ sở nghiên cứu thị trường, đánh giá triển vọng của từng đoạn thị
trường và tiến hành lựa chọn thị trường mục tiêu theo khả năng của mình;
- Quyết định về danh mục hàng hóa và dịch vụ: lựa chọn danh mục hàng
hóa là một quyết định quan trọng trong cuộc cạnh tranh giữa các nhà bán lẻ
cùng loại Việc lựa chọn cần tính đến sự thích hợp của sản phẩm với thị
trường mục tiêu, lợi nhuận, chiết khấu, tốc độ chu chuyển Người bán lẻ quan
tâm đến các dịch vụ dành cho khách hàng như giao hàng tận nhà, bảo hành,
bán trả góp… Bầu không khí cửa hàng cũng là một quyết định quan trọng của
người bán lẻ;
Trang 27- Quyết định về địa điểm: chọn địa điểm bán lẻ là yếu tố quyết định đến khả năng thu hút khách hàng của người bán lẻ Chi phí xây dựng hay thuê cơ
sở sẽ tác động lớn đến lợi nhuận của nhà bán lẻ Các nhà bán lẻ nhỏ có thể bằng lòng với địa điểm sẵn có nhưng các nhà bán lẻ lớn thường chọn địa điểm bằng các phương pháp tiên tiến
1.1.5.3 Người tiêu dùng
Người tiêu dùng bao gồm cả người tiêu dùng cá nhân và tiêu dùng công nghiệp Chỉ khi nào hàng hóa tới người tiêu dùng thì quá trình phan phối mới kết thúc Người tiêu dùng có vai trò quan trọng trong kênh phân phối vì họ có quyền lựa chọn các kênh phân phối khác nhau dể cung cấp hàng hóa cho họ
1.1.6 Các hoạt động trong kênh phân phối
Kênh phân phối hoạt động được thông qua các dòng chảy kết nối các
thành viên trong kênh với nhau Nội dung của mỗi dòng chảy mô tả những
công việc mà các thành viên trong kênh phải thực hiện trong quá trình phân phối hàng hóa Các dòng chảy chủ yếu bao gồm:
- Dòng chuyển quyền sở hữu: Mô tả việc chuyển quyền sở hữu sản phẩm từ thành viên này sang thành viên khác trong kênh phân phối Mỗi một hành vi mua bán xảy ra ở trong kênh là một lần chuyển quyền sở hữu từ người bán sang người mua;
- Dòng đàm phán (thương lượng): Phản ánh việc các thành viên tác động
Trang 28qua lại lẫn nhau để phân chia các công việc phân phối cũng như trách nhiệm
và quyền loại của từng thành viên;
- Dòng chuyển động vật chất của sản phẩm: Phản ánh sự di chuyển
những hàng hóa, vật phẩm thật sự trong không gian và thời gian từ địa điểm
sản xuất tới tiêu dùng qua hệ thống kho tàng và phương tiện vận chuyển;
- Dòng thanh toán: Mô tả sự vận động của tiền tệ và chứng từ thanh toán
ngược từ người tiêu dung qua các trung gian thương mại trở lại với người sản
xuất;
- Dòng xúc tiến: Mô tả sự phối hợp và trợ giúp hoạt động xúc tiến giữa
các thành viên trong kênh phân phối với nhau 3 Ví dụ như: người sản xuất
thực hiện các hoạt động quảng cáo, khuyến mại, tuyên truyền không những uy
tín cho doanh nghiệp của mình mà còn cho cả người bán buôn và bán lẻ;
- Dòng thông tin: Hệ thống thông tin trong kênh và việc quản lý dòng
chảy thông tin thông suốt trong kênh;
- Dòng đặt hàng: Quy trình thu thập, tập hợp và giải quyết các đơn hàng,
thời gian cần thiết cho quá trình đặt hàng, chờ đợi và giao hàng, công nghệ
được ứng dụng vào việc quản lý dòng đặt hàng;
- Dòng chia sẻ rủi ro: Trách nhiệm của mỗi thành viên trước những rủi
ro, vấn đề mua bảo hiểm cho các thành viên trong kênh;
- Dòng tài chính: Các chương trình hỗ trợ tài chính cho các thành viên
quy mô nhỏ trong điều kiện kinh tế suy thoái;
- Dòng thu hồi, tái sử dụng lại bao gói: Quá trình thu hồi theo thời gian
và không gian Sự kết hợp giữa dòng vận động vật chất và dòng thu hồi bao
gói để giảm chi phí vận tải và lưu kho
3 Trần Minh Đạo (2006), Giáo trình Marketing căn bản, NXB Kinh tế Quốc dân, Hà Nội
Trang 291.2 QUẢN LÝ KÊNH PHÂN PHỐI
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm quản lý kênh phân phối
Sau khi doanh nghiệp đã lựa chọn loại cấu trúc kênh và các thành viên của kênh, hoàn thiện tổ chức các quan hệ trong kênh, một kênh phân phối hoạt động như một hệ thống tổng thể hình thành Hệ thống kênh có thể được xem như là một hệ thống xã hội trong đó mỗi thành viên phụ thuộc vào những người khác Mỗi thành viên giữ một vai trò nhất định và họ có những kỳ vọng nhất định vào người khác Doanh nghiệp phải thực hiện chức năng quản lý điều hành hoạt động của các hệ thống kênh phân phối của mình
Từ bản chất trên của kênh phân phối ta có thể đưa ra khái niệm quản lý
kênh phân phối như sau: Quản lý kênh phân phối là toàn bộ các công việc quản
lý điều hành hoạt động của hệ thống kênh phân phối nhằm đảm bảo sự hợp tác giữa các thành viên đã được chọn lựa qua đó thực hiện các mục tiêu phân phối của doanh nghiệp 4
Những điểm cần lưu ý trong khái niệm trên là:
Thứ nhất, quản lý kênh là quản lý các kênh đã có, đang hoạt động Có
nghĩa là cấu trúc của kênh đã được thiết kế và tất cả các thành viên trong kênh
đã được lựa chọn Các quyết định tổ chức kênh được xem xét tách biệt với các quyết định quản lý kênh Trong thực tế, sự phân biệt này đôi khi có thể không
rõ ràng vì một quyết định quản lý kênh có thể nhanh chóng chuyển thành quyết định tổ chức kênh
Thứ hai, đảm bảo sự hợp tác của các thành viên trong kênh có nghĩa là
các thành viên trong kênh không hợp tác một cách tự nhiên mà cần có các hoạt động quản lý để đảm bảo sự hợp tác chủ động của họ
Thứ ba, quản lý kênh phải nhằm vào mục tiêu phân phối cụ thể Mục tiêu
phân phối là những tuyên bố về hoạt động phân phối với tư cách là một bộ
4 Trương Đình Chiến (2002), Quản trị kênh marketing, NXB Thống kê, Hà Nội
Trang 30phận của marketing-mix sẽ đóng góp những gì vào việc đạt được toàn bộ mục
tiêu marketing của doanh nghiệp Quản lý kênh phải đảm bảo thực hiện các
mục tiêu phân phối của doanh nghiệp
Quản lý kênh phân phối có những đặc điểm sau đây:
- Phạm vi quản lý kênh phân phối là bao trùm toàn bộ mọi hoạt động
của kênh, liên quan đến tất cả mọi thành viên tham gia vào kênh phân phối từ
nhà sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng
- Quản lý kênh phân phối bao gồm quản lý cả các dòng chảy trong kênh,
một hệ thống kênh phân phối hoạt động có hiệu quả hay không phụ thuộc vào
các dòng chảy của nó có được điều hành thông suốt hay không Tất cả các
dòng chảy như đàm phán, chuyển quyền sở hữu, thông tin, tiền tệ, xúc tiến…
phải được quản lý có hiệu quả để đạt các mục tiêu phân phối của hệ thống
kênh
- Quản lý kênh phân phối là quản lý các hoạt động, các quan hệ ở bên
ngoài doanh nghiệp chứ không phải trong nội bộ nên đòi hỏi người quản lý
kênh phải sử dụng những biện pháp hoàn toàn khác với những biện pháp quản
lý các biến số marketing khác Các thành viên trong kênh phân phối là các tổ
chức hay cá nhân độc lập có chiến lược riêng, mục tiêu riêng, sức mạnh riêng,
muốn quản lý họ phải thông qua đàm phán thương lượng
- Mọi vị trí thành viên trong kênh đều có trách nhiệm và khả năng quản
lý kênh ở những mức độ khác nhau Tất nhiên, quản lý kênh phân phối của
những doanh nghiệp có vai trò lãnh đạo kênh khác với quản lý kênh của
những doanh nghiệp vai trò phụ thuộc Thành viên nắm giữ vai trò lãnh đạo
kênh phải phát triển một chiến lược kênh phân phối toàn diện để chi phối dẫn
dắt các thành viên khác trong kênh phân phối hoạt động theo mục tiêu mong
muốn của họ
- Các vị trí thành viên kênh khác nhau có mục tiêu, định hướng quản lý
Trang 31kế hoạch và chương trình hoạt động đảm bảo sự hợp tác dài hạn của các thành viên nhằm đạt các mục tiêu phân phối của doanh nghiệp
- Mức độ và khả năng quản lý hệ thống kênh phân phối của các doanh nghiệp phụ thuộc vào kiểu tổ chức kênh đã xác lập của doanh nghiệp Những kênh đơn và kênh truyền thống không cho phép doanh nghiệp quản lý toàn diện và với mức độ cao hoạt động của hệ thống kênh Các kênh phân phối liên kết dọc cho phép và đòi hỏi doanh nghiệp giữ vai trò lãnh đạo kênh thực hiện quản lý toàn diện và ở mức độ cao hoạt động của nó
1.2.2 Vai trò quản lý kênh phân phối
Quản lý kênh phân phối có vai trò to lớn đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp:
- Quản lý kênh phân phối giúp doanh nghiệp và các thành viên của nó thấy rõ mục tiêu và hướng đi của mình Đây là yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất với doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp đạt được mục đích ngắn hạn và dài hạn, tồn tại và phát triển không ngừng
- Quản lý kênh phân phối giúp tập hợp, huy động nguồn lực của doanh nghiệp và tranh thủ sự hợp tác của các thành viên kênh của nó thành một
Trang 32chỉnh thể, tạo nên tính trồi để thực hiện mục tiêu phân phối với hiệu quả cao
- Điều kiện môi trường luôn biến động tạo ra những cơ hội và nguy cơ
bất ngờ, quản lý kênh phân phối giữ vai trò giúp kênh phân phối của doanh
nghiệp thích nghi với môi trường, nắm bắt tốt các cơ hội và giảm bớt ảnh
hưởng tiêu cực
1.2.3 Nội dung quản lý kênh phân phối
Quản lý kênh phân phối là một nội dung cơ bản của quản trị kênh phân phối
tên tiếng anh đầy đủ là distribution channel management bao gồm việc thiết kế
kênh (channel design) và quản lý kênh (managing channels), trong khuôn khổ
phạm vi luận văn tác giả xin phép chỉ tập trung vào vấn đề quản lý kênh
(managing channels)5
Hình: 1.8 Quản Trị kênh phân phối
Sau khi các kênh phân phối đã được lựa chọn, vấn đề quan trọng là phải
quản lý điều hành hoạt động của chúng Việc quản lý kênh bao trùm toàn bộ
hoạt động của kênh, liên quan đến tất cả thành viên tham gia vào kênh từ nhà
sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng Quản lý kênh gồm quản lý cả 5 dòng
chảy trong kênh Một hệ thống kênh hoạt động có hiệu quả hay không phụ
thuộc vào các dòng chảy của nó có thông suốt không
Quản lý kênh bao gồm các nội dung: lựa chọn các thành viên kênh;
khuyến khích các thành viên trong kênh hoạt động; đánh giá các thành viên
5 Dr Prashant Mehta (2009),
http://www.slideshare.net/prashantmehta371/distribution-logistics-channel-management
Quản trị kênh phân phối
Thiết kế kênh phân phối Quản lý kênh phân phối
Trang 33kênh (Hình 1.9)
Hình 1.9: Quản lý kênh phân phối
(Nguồn: Quản trị hệ thống phân phối sản phẩm – NXB Thống kê)
1.2.3.1 Lựa chọn các thành viên kênh
Cũng giống như tuyển chọn lao động, trong doanh nghiệp quá trình tổ chức hoạt động của kênh, doanh nghiệp phải lựa chọn và thu hút những trung gian thương mại tham gia cụ thể vào kênh phân phối của mình Việc tuyển chọn dễ hay khó phụ thuộc vào quy mô của doanh nghiệp và loại sản phẩm bán ra Quy trình tuyển chọn thành viên kênh được thực hiện qua ba bước cơ bản sau: (1) Tìm kiếm các thành viên kênh; (2) xác định tiêu chuẩn lựa chọn;(3) bảo đảm các thành viên chắc chắn tham gia kênh
Hình 1.10 Lựa chọn các thành viên kênh
(Nguồn: Quản trị hệ thống phân phối sản phẩm – NXB Thống kê)
(1) Tìm kiếm các thành viên kênh:
Để có thể tìm ra các thành viên kênh có khả năng, người quản lý kênh có
Lựa chọn các thành viên kênh
Tìm kiếm thành viên kênh
Xác định tiêu chuẩn lựa chọn
Đảm bảo các thành viên chắc chắn tham gia kênh
Quản lý kênh phân phối
Lựa chọn các thành viên
Khuyến khích các thành viên trong kênh hoạt động
Đánh giá các thành viên trong kênh
Trang 34thể thông qua các nguồn sau:
- Tổ chức bán hàng theo khu vực: các doanh nghiệp thường có lực
lượng bán hàng sẵn có của mình tại chính các cấp trung gian bán buôn hoặc
bán lẻ và đây là một nguồn quan trọng để tìm kiếm các thành viên kênh Lực
lượng bán hàng thường có thể thu thập thông tin về các trung gian có giá trị
và trên thực tế họ có thể cung cấp phần lớn nếu không phải là tất cả các thông
tin cần thiết để xác định các trung gian tiềm năng
- Các nguồn thương mại: bao gồm các hiệp hội thương mại, các tạp chí
thương mại, các doanh nghiệp có bán các sản phẩm liên quan hoặc tương tự
- Các điều tra người bán lại: sử dụng trong trường hợp sản phẩm của
doanh nghiệp có danh tiếng và nhà phân phối có thể vào thị trường với sản
phẩm của doanh nghiệp nhanh hơn so với sản phẩm cùng loại của đối thủ
cạnh tranh
- Các khách hàng: khách hàng là một nguồn thông tin, họ rất nhiệt tình
đóng góp những ý kiến trung thực về các trung gian Vì vậy, có thể thông qua
các cuộc điều tra những người sử dụng cuối cùng để có thông tin về các nhà
phân phối và khả năng thực hiện chức năng phân phối của họ
- Các quảng cáo: có thể đưa ra một lượng lớn số liệu về các thành viên
kênh trong cùng một thời gian và không gian
- Các hội thương mại hay hội nghị: tại đây doanh nghiệp có thể xem xét
nhiều các thành viên kênh trong cùng một thời gian và không gian
- Các nguồn thông tin khác: như Phòng Thương mại và Công nghiệp,
ngân hàng, danh bạ điện thoại, các trang vàng, thư trực tiếp, các nhà tư vấn
độc lập …
(2) Xác định các tiêu chuẩn lựa chọn:
Các tiêu chuẩn cũng như số lượng các tiêu chuẩn tùy thuộc vào từng điều kiện
cụ thể của từng doanh nghiệp và chúng có thể thay đổi khi các điều kiện của
Trang 35môi trường thay đổi
Một số chỉ tiêu quan trọng khi lựa chọn thành viên kênh:
-Điều kiện tín dụng và tài chính: Đây là tiêu chuẩn được lựa chọn nhiều nhất để chấp nhận các thành viên kênh trong tương lai Do vậy các nhà sản xuất đều phải điều tra xem trong những thành viên tiềm năng, thành viên nào
có đủ khả năng tài chính đáp ứng được yêu cầu của công ty
-Sức mạnh bán hàng: Đây là tiêu chuẩn cực kỳ quan trọng của các thành viên kênh Tiêu chuẩn này được đánh giá dựa vào các thước đo: Chất lượng của lực lượng bán, số lượng người bán thực sự đang làm việc và khả năng hỗ trợ của lực lượng bán hàng
-Khả năng bao phủ thị trường: Các nhà sản xuất luôn cố gắng để đạt được việc bao phủ thị trường với ít nhất sự trùng lặp Chính vì vậy mà sử dụng các thành viên kênh có hiệu quả sẽ tránh được sự trùng lặp, tránh gây sung đột và sự lãng phí về tiền của
- Hoạt động bán: Thông tin này cho biết về hoạt động bán hàng của các trung gian
- Khả năng quản lý: Thành viên có giá trị là những thành viên có khả năng quản lý tốt Nhiệm vụ của họ là phải quản lý một đội ngũ bán hàng của mình, tổ chức duy trì lực lượng bán, đào tạo và phân chia công việc cho họ để
họ có được những kỹ năng trong công tác bán hàng
- Dòng sản phẩm mà các trung gian đang kinh doanh: các sản phẩm cạnh tranh; các sản phẩm có thể so sánh; các sản phẩm được ưa chuộng; chất lượng dòng sản phẩm Đa số các doanh nghiệp đều cố gắng tránh các khâu trung gian buôn bán trực tiếp các dòng sản phẩm cạnh tranh Nhiều doanh nghiệp
ưu tiên các trung gian có bán các sản phẩm bổ trợ cho nhau
- Danh tiếng: đây là một giá trị mang tính vô hình nhưng quan trọng Một trung gian tồi, không có danh tiếng thì sẽ gây ảnh hưởng bất lợi đối với
Trang 36danh tiếng của doanh nghiệp
- Thành công về quản trị: thành công trong quá khứ là dấu hiệu của sự
tiếp tục phát triển trong tương lai
- Quan điểm thái độ: yếu tố này quan hệ tới sự thành công trong dài hạn
của việc phân phối sản phẩm nhưng việc đánh giá nó cũng là một vấn đề khó
khăn
- Quy mô: trung gian có quy mô lớn thường dễ thành công, được tổ chức
tinh vi và có dòng sản phẩm tốt hơn Họ thường có khả năng tuyển những
nhân viên bán hàng giỏi (những người sẽ khai thác thị trường nhiều hơn để
bán các sản phẩm của doanh nghiệp) và thường có trang bị tốt hơn về trụ sở,
nhân lực so với các trung gian nhỏ khác
(3) Đảm bảo các thành viên chắc chắn tham gia kênh
Quá trình tuyển chọn thành viên kênh là một quá trình hai chiều trong đó
các trung gian cũng có thể lựa chọn người mà họ sẽ đại diện bán Trong khi
các doanh nghiệp có thể sử dụng một số biện pháp để cố gắng thuyết phục các
thành viên kênh và họ đưa ra nhiều động cơ để lôi cuốn thành viên kênh thì đa
số các thành viên thường đánh giá một trong bốn lĩnh vực sau:
- Dòng sản phẩm mang lại lợi nhuận tốt
- Sự trợ giúp về quảng cáo, xúc tiến
- Sự trợ giúp về quản lý
- Các chính sách buôn bán công bằng và quan hệ hữu nghị
Dòng sản phẩm tốt: thường có doanh số bán và lợi nhuận tiềm năng cao,
những doanh nghiệp có loại hàng hóa nào nổi tiếng thì thường có lợi thế hơn
Do vậy, các nhà sản xuất có sản phẩm kém nổi tiếng hơn phải làm cho các
thành viên kênh nhận thấy mối lợi khi nhận tiêu thụ hàng hóa của mình Điều
này có thể đánh giá được qua hiệu quả mà sản phẩm của họ mang lại cho các
Trang 37thành viên kênh
Quảng cáo, xúc tiến hỗn hợp: các trung gian muốn được sự trợ giúp của
doanh nghiệp về mặt quảng cáo, xúc tiến bởi nó làm cho dòng sản phẩm mà trung gian phân phối có lượng bán tăng Các yếu tố như sự chấp nhận quảng cáo, chiến dịch quảng cáo hợp tác, phòng trưng bày giới thiệu sản phẩm là những trợ giúp và đảm bảo tốt để các trung gian tiềm năng tham gia kênh
Sự trợ giúp về quản lý: các thành viên kênh muốn biết doanh nghiệp sẽ
trợ giúp cho mình trong việc quản lý kinh doanh không Đây là một bằng chứng về sự quan tâm của doanh nghiệp, bao gồm: chương trình đào tạo; phân tích, hoạch định tài chính, phân tích thị trường, phương pháp xúc tiến…
Quan hệ buôn bán công bằng hữu nghị: quan hệ trong kênh phân phối
vẫn là quan hệ giữa con người Do vậy, dù quan hệ trong kênh có thể được diễn giải bằng các hợp đồng thỏa thuận thì yếu tố con người không thể bị thay thế và giữa hai bên phải thiết lập mối quan hệ công bằng
1.2.3.2 Khuyến khích các thành viên trong kênh hoạt động
Các thành viên kênh phải thường xuyên được khuyến khích để làm việc tốt nhất Trước hết các nhà sản xuất phải tìm hiểu nhu cầu và mong muốn của các thành viên trong kênh, các trung gian thương mại là các doanh nghiệp kinh doanh độc lập, là một thị trường độc lập, có sức mạnh riêng, có chiến lược kinh doanh riêng, các trung gian hoạt động như một người mua cho khách hàng của họ Họ nỗ lực bán cả nhóm hàng chứ không phải từng mặt hàng riêng lẻ Trong nhiều trường hợp Trong nhiều trường hợp quan điểm kinh doanh của các nhà trung gian thương mại rất khác với quan điểm của nhà sản xuất, nhà sản xuất phải điều tra các thành viên kênh để có chính sách bán hàng thích ứng với nhu cầu, mong muốn của họ
Để các thành viên trong kênh hoạt động tích cực thì người quản lý kênh cần phải giải quyết ba vấn đề sau: (1)Tìm ra những nhu cầu và trở ngại của các thành viên trong kênh; (2)trên cơ sở những nhu cầu và trở ngại đó, đưa ra
Trang 38sự trợ giúp đối với các thành viên; (3)sử dụng sức mạnh một cách hiệu quả để
quản lý kênh
(1) Tìm hiểu nhu cầu và khó khăn của các thành viên trong kênh
Trong kênh phân phối luôn tồn tại dòng thông tin bên trong với tư cách
là một hệ thống liên lạc chính thức và không chính thức Một hệ thống thông
tin được coi là lý tưởng nếu nó cung cấp cho người quản lý kênh toàn bộ các
thông tin cần thiết về nhu cầu và khó khăn của các thành viên trong kênh Tuy
nhiên, trong thực tế nhiễu thường xuất hiện trong hệ thống thông tin, đòi hỏi
người quản lý kênh cần phải nhìn ra ngoài hệ thống kênh để có thêm thông
tin Có thể sử dụng những cách sau để nhận biết yêu cầu và khó khăn của các
thành viên trong kênh:
- Các cuộc nghiên cứu về các thành viên do doanh nghiệp thực hiện
- Các cuộc nghiên cứu về các thành viên do người ngoài thực hiện
- Kiểm tra đánh giá kênh phân phối
- Hội đồng tư vấn cho các nhà phân phối
Nghiên cứu do doanh nghiệp thực hiện: trong nhiều trường hợp, những
vướng mắc khó thấy của các thành viên có thể được phát hiện bằng nghiên
cứu này Nghiên cứu này có thể có chi phí không cao nhưng đôi khi thông tin
thu được không khách quan
Nghiên cứu do người ngoài thực hiện: có thể là cần thiết nếu như qua đó,
người quản lý kênh có thể thu được các dữ liệu hoàn chỉnh và trung thực về
yêu cầu vướng mắc của các thành viên kênh
Đánh giá kênh phân phối: nên được tiến hành định kỳ, mục tiêu của
công việc này là nhằm thu thập dữ liệu để xem mối quan hệ ở đâu là bền
vững, ở đâu là yếu, và doanh nghiệp phải làm gì để mối quan hệ trong kênh
phát triển theo chiều hướng tốt
Hội đồng tư vấn nhà phân phối: bao gồm những đại diện quản lý cao cấp
Trang 39từ phía doanh nghiệp và các đại diện của các thành viên trong kênh Sự tồn tại của hội đồng này sẽ tạo ra sự công nhận đối với các thành viên trong kênh bởi
họ đều có người đại diện Hội đồng các nhà tư vấn cung cấp một phương tiện
để xác định và bàn bạc về những yêu cầu, khó khăn chung không biết được qua luồng thông tin thông thường trong kênh, họ cũng giúp cho việc cải thiện toàn bộ hệ thống liên lạc trong kênh và từ đó sẽ giúp doanh nghiệp hiểu rõ hơn về yêu cầu, khó khăn của các thành viên trong kênh và ngược lại
(2)Giúp đỡ các thành viên trong kênh
Những chương trình hỗ trợ cho các thành viên trong kênh có thể chia làm 3 nhóm sau: Hỗ trợ trực tiếp, hợp tác, lập chương trình phân phối
Kế hoạch hỗ trợ trực tiếp: trong các kênh phân phối có quan hệ lỏng lẻo
thì đây là phương pháp thường được sử dụng để kích thích các thành viên kênh Các hình thức hỗ trợ rất đa dạng như trợ cấp cho quảng cáo, thanh toán cho các vật mẫu bày trong cửa hàng, trợ giúp thông qua chiết khấu bán hàng, trang trí cửa hàng, đào tạo nhân viên bán hàng, trả một phần lương cho nhân viên bán…
Phương thức hợp tác: một kế hoạch hợp tác giữa doanh nghiệp với các
nhà phân phối sẽ làm tăng mức độ kích thích các thành viên hoạt động Sự hợp tác không chỉ có nghĩa về mặt hợp pháp mà còn đưa ra một mối quan hệ
hỗ trợ giữa các thành viên trong kênh dựa trên sự mô tả về vai trò của họ trong kênh Bản chất của phương thức hợp tác trong việc khuyến khích các thành viên kênh là sự hiểu biết lẫn nhau về vai trò mong đợi và những cam kết giữa tất cả các bên trong việc hoàn thành vai trò của họ trong dài hạn
Lập chương trình phân phối: đây là phương thức toàn diện nhất nhằm
đạt tới một đội ngũ thành viên kênh có tính năng động cao Bản chất của phương thức này là phát triển một kênh theo hoạch định và được quản lý chuyên nghiệp Quá trình lập chương trình phân phối theo thứ tự sau: đầu tiên
Trang 40cần phân tích về các mục tiêu, các loại hình và mức độ hỗ trợ mà các thành
viên cần có thể đạt được mục tiêu này Bước thứ hai là xây dựng các chính
sách kênh, có thể chia làm ba nhóm chính sách kênh chính là: các đề nghị
giảm giá; các đề nghị giúp đỡ về mặt tài chính; các đề nghị một hình thức
đảm bảo nào đó cho các thành viên trong kênh
(3) Sử dụng sức mạnh một cách có hiệu quả
Nền tảng của việc khuyến khích các thành viên là sử dụng quyền lực một
cách hiệu quả Cơ sở quyền lực dựa trên 5 cơ sở sức mạnh như đã nói ở trên
đó là: phần thưởng, áp đặt, hợp pháp, thừa nhận, chuyên gia Sự lãnh đạo
trong kênh thực chất là tăng hoặc giảm việc sử dụng một hoặc một số cơ sở
sức mạnh này Điều này đòi hỏi người quản lý kênh phải sử dụng một cách
khéo léo để tối đa hóa sự ảnh hưởng của mình tới các thành viên trong kênh
1.2.3.3.Đánh giá các thành viên kênh
Nhà sản xuất phải định kỳ đánh giá hoạt động của các thành viên kênh
theo những tiêu chuẩn như: mức doanh số đạt được, mức lưu kho trung bình,
thời gian giao hàng, cách xử lý hàng hóa thất thoát hoặc hư hỏng, mức độ hợp
tác trong những chương trình quảng cáo và huấn luyện của doanh nghiệp và
những dịch vụ mà họ cung cấp Việc đặt định mức doanh số các trung gian
thương mại để sau từng thời kỳ, đánh giá mức độ đạt được của từng trung
gian trong kênh có tác động khuyến khích hoạt động của họ Việc đánh giá
thành viên kênh phải theo tiêu chuẩn hợp lý và được các thành viên ủng hộ
Trong việc đánh giá các thành viên thì có những vấn đề mà người quản
lý kênh phải đề cập tới là: (1) các nhân tố tác động tới phạm vi và tần suất của
việc đánh giá; (2) kiểm tra hoạt động của thành viên kênh, áp dụng các tiêu
chuẩn đánh giá hoạt động; (3) đề xuất các điều chỉnh kênh phân phối
(1) Các nhân tố tác động tới phạm vi và tần suất của việc đánh giá
Bốn yếu tố ảnh hưởng đến phạm vi và tần suất của các đánh giá là: mức