Điều tra thực tiễn về thực trạng bồi dưỡng và vận dụng PPDH tích cực nói chung, DHTG nói riêng ở trường phổ thông hiện nay; về đặc điểm của SV sư phạm Vật lí và mong muốn của họ trong
Trang 1MỞ ĐẦU
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong thời gian qua, cụm từ “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo ở các cấp học, bậc học đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa…” được xuất hiện rất nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng Sự thay đổi cơ bản về mục tiêu đào tạo chủ yếu tập trung trang bị kiến thức (người học biết gì) sang đào tạo tập trung phát triển năng lực (người học có khả năng làm gì)
Để đáp ứng với những thay đổi mang tính bước ngoặt đó, đòi hỏi các giáo viên (GV) nói chung, các sinh viên (SV) ngành sư phạm nói riêng phải có sự thay đổi mạnh mẽ phương pháp dạy học (PPDH) của mình, trong đó tập trung vào các PPDH tích cực, dạy học phát triển năng lực (NL) của HS Do đó, ngay trong thời gian ngồi trên ghế nhà trường, các
SV ngành sư phạm (SP) phải được làm quen, từ đó được bồi dưỡng các NL áp dụng các PPDH hiện đại, đảm bảo cho SV vững vàng, tự tin sau khi ra trường
Dạy học theo Góc (DHTG) thuộc nhóm các PPDH hiện đại, với ưu điểm nổi bật như: tăng cường sự tham gia, giúp học sâu, học thoải mái cho HS thông qua lựa chọn các nhiệm
vụ (NV) tại các vị trí (các góc) khác nhau phù hợp với phong cách học Đồng thời, HS hình thành và rèn luyện được các kỹ năng (KN) mềm DHTG du nhập vào Việt Nam từ những năm 2003 và đã được triển khai bồi dưỡng rộng rãi cho GV các cấp học ở phổ thông trên phạm vi cả nước trong thời gian qua
Hiện trạng của công tác bồi dưỡng và vận dụng các PPDH hiện đại ở phổ thông là: Mô hình bồi dưỡng dù đã có sự đổi mới nhưng vẫn còn mang tính lý thuyết, mang tính tổng thể, chưa quan tâm đúng mức tới tính cá thể, tính làm chủ dần dần trong bồi dưỡng NL của mỗi
cá nhân; việc vận dụng PPDH hiện đại ở trường phổ thông còn nhiều hạn chế
Đào tạo nghề theo năng lực thực hiện (NLTH) là mô hình đào tạo chủ yếu dựa vào những tiêu chuẩn quy định cho một nghề và đào tạo theo các tiêu chuẩn đó, giúp người lao động có thể nhanh chóng hòa nhập với thực tế, khắc phục tình trạng đào tạo không phù hợp, đào tạo không đạt chuẩn hiện nay
Dạy học Vi mô (DHVM) là một kỹ thuật dạy học được sử dụng hiệu quả trong rèn luyện KNSP cho GV mới vào nghề, giúp kiểm soát được sự phát triển dần dần từng KN Nếu có thể kết hợp được ưu điểm của đào tạo nghề SP theo NLTH và kỹ thuật DHVM
sẽ là giải pháp tốt để bồi dưỡng cho SV NL vận dụng PPDH hiện đại (cụ thể là DHTG) Từ
những lí do đó, tôi lựa chọn đề tài: “Bồi dưỡng NL dạy học theo Góc cho SV ngành Sư phạm Vật lí” làm nội dung nghiên cứu của luận án
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Xây dựng quy trình bồi dưỡng NL áp dụng một PPDH tích cực cho SV sư phạm, từ đó
vận dụng bồi dưỡng được NL dạy học theo Góc cho SV sư phạm Vật lí
3 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu xây dựng được quy trình bồi dưỡng NL áp dụng một PPDH tích cực nói chung, DHTG nói riêng dựa trên quan điểm hiện đại về đào tạo nghề tiếp cận NLTH và DHVM thì
Trang 2có thể bồi dưỡng cho SV năng lực DHTG trong tổ chức DH học phần “Phương pháp dạy học vật lí phổ thông”
4 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu cơ sở lý luận về NL, NL nghề sư phạm và đào tạo nghề SP tiếp cận NLTH
Nghiên cứu và bổ sung lý luận về DHTG nhằm xây dựng hệ thống KN cần thiết của
SV trong vận dụng DHTG
Điều tra thực tiễn về thực trạng bồi dưỡng và vận dụng PPDH tích cực nói chung, DHTG nói riêng ở trường phổ thông hiện nay; về đặc điểm của SV sư phạm Vật lí và mong muốn của họ trong việc bồi dưỡng các NLSP nhằm xác định nguyên nhân, đề xuất quy trình bồi dưỡng NL DHTG cho SV SP Vật lí
Thiết kế quy trình bồi dưỡng NL áp dụng một PPDH tích cực nói chung, DHTG nói riêng cho SV SP Vật lí, gồm:
1- Đề xuất quy trình bồi dưỡng NL áp dụng một PPDH tích cực cho SV SP Vật lí 2- Xác định cấu trúc NL DHTG cần bồi dưỡng cho SV sư phạm Vật lí
3- Xác định các KN cần thiết cho SV trong tổ chức DHTG
4- Trên cơ sở đó, thiết kế quy trình bồi dưỡng một KN tổ chức DHTG
5- Thiết kế các mô đun học tập tương ứng với mỗi KN
6- Từ các mô đun học tập, xây dựng website hỗ trợ hoạt động tự học của SV trong rèn luyện KN DHTG
7- Thiết kế kế hoạch bồi dưỡng từng KN theo DHVM
8- Xây dựng công cụ đánh giá NL DHTG của SV về KT, KN và TĐ, HV
Tiến hành TNSP theo quy trình đã thiết kế nhằm ĐG tính khả thi, hiệu quả của quy trình trong việc bồi dưỡng năng lực DHTG cho SV SP Vật lí, Trường Đại học Tây Nguyên
5 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đào tạo nghề theo hướng tiếp cận NLTH; phương pháp DHTG; kỹ thuật DHVM; hoạt động dạy và học các học phần PPDH ngành Sư phạm Vật lí, Trường đại học Tây Nguyên
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu lý luận
Điều tra, phỏng vấn
Tham vấn ý kiến chuyên gia
Thực nghiệm sư phạm
Xử lý thống kê trong giáo dục
7 NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬN ÁN
Đề xuất được quy trình bồi dưỡng NL áp dụng một PPDH tích cực cho SV SP vật lí
Vận dụng, xây dựng được quy trình bồi dưỡng NL DHTG cho SV SP Vật lí tiếp cận NLTH, đảm bảo được sự cá nhân hóa, sự làm chủ dần dần trong quá trình hình thành NL Trong đó:
Trang 3- Vận dụng được lí luận về đào tạo nghề theo NLTH để xây dựng nội dung bồi dưỡng mỗi KN thành một mô đun học tập, phục vụ giai đoạn tự học của SV
- Xây dựng và sử dụng được quy trình rèn luyện từng KN (thuộc nhóm KN thiết kế KHBH và KN thực hiện DHBH) thông qua DHVM
Cụ thể hóa lý luận DHTG áp dụng trong môn vật lí ở bậc THPT, mà trọng tâm là 2 kiểu tổ chức các góc
Xây dựng được bộ tiêu chí ĐG năng lực DHTG của SV sau bồi dưỡng như: đánh giá
KT về DHTG; đánh giá KN (KN thiết kế KHBH, KN thực hiện DH và KN mềm, đánh giá từng KN qua kỹ thuật DHVM); đánh giá TĐ, HV cá nhân về DHTG (gồm TĐ, HV quan sát được và TĐ, HV không quan sát được)
8 CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN
Luận án gồm phần mở đầu, chương 1, chương 2, chương 3, chương 4, kết luận, danh mục các bài báo liên quan đến đề tài luận án, tài liệu tham khảo và phụ lục
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Trong chương này chúng tôi trình bày một số hướng nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam về các vấn đề: Bồi dưỡng NLTH, năng lực nghề SP cho SV, về lý luận và thực tiễn việc vận dụng DHTG ở trường phổ thông, về sử dụng kỹ thuật DHVM trong đào tạo nghề cho SV sư phạm Qua tìm hiểu, chúng tôi thấy:
Một số điều cần phải nghiên cứu, hoàn thiện thêm để DHTG trở nên khả thi trong thực tiễn dạy học môn vật lí bậc THPT ở Việt Nam là:
- Về mặt lý luận: Khái niệm về DHTG, cơ sở khoa học để lựa chọn KT vật lí áp dụng DHTG hiệu quả, các kiểu vận dụng DHTG
- Về mặt thực tiễn: cần đề xuất cách thức tổ chức phù hợp để vừa đảm bảo thời gian tiết học, vừa đảm bảo đạt được các đặc trưng của DHTG là tính đa dạng, phù hợp các phong cách học, học sâu, học thoải mái
Việc vận dụng kỹ thuật DHVM cần nghiên cứu, làm sáng tỏ thêm các vấn đề như cách thức bố trí các phương tiện hỗ trợ bồi dưỡng và sử dụng trong phản hồi; việc thiết kế và sử dụng phiếu đánh giá; sự bố trí không gian lớp học vi mô (nhóm HS, nhóm quan sát); việc xác định (xây dựng) các KN sơ cấp
Từ những phân tích trên, câu hỏi lớn đặt ra cần giải quyết trong đề tài là: Làm thế
nào có thể bồi dưỡng được NL vận dụng một PPDH cụ thể nói chung (DHTG nói riêng) tiếp cận NLTH cho SV sư phạm và đánh giá được kết quả của sự bồi dưỡng? Qua tìm hiểu,
chúng tôi thấy rằng, chưa có công trình nào nghiên cứu về mảng này
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC BỒI DƯỠNG NL
DẠY HỌC THEO GÓC
Phần này trình bày về các nội dung về khái niệm năng lực, NL nghề sư phạm; NL thực hiện và việc đào tạo nghề sư phạm theo NLTH, khái niệm về môn đun học tập và quy trình biên soạn môn đun học tập; dạy học theo Góc trong môn vật lí ở trường THPT gồm khái niệm, cơ sở, đặc điểm, các kiểu tổ chức DHTG trong dạy học vật lí, quy trình tổ chức, đánh giá năng lực DHTG; DHVM và việc bồi dưỡng NL tổ chức DHTG (gồm khái niệm, cơ
Trang 4sở, đặc điểm, quy trình tổ chức DHVM, đánh giá trong DHVM); cơ sở thực tiễn của đề tài (điều tra hoạt động đào tạo, bồi dưỡng NLSP ở trường đại học; thực trạng bồi dưỡng và vận dụng DHTG ở trường phổ thông; về đặc điểm của SV ngành sư phạm Vật lí, trường đại học Tây Nguyên và mong muốn trong việc bồi dưỡng các KNSP) Sau đây là một số nội dung trọng tâm
2.1 Năng lực nghề nghiệp
2.1.1 Khái niệm về năng lực
Khái niệm năng lực có nguồn gốc tiếng La tinh “competentia” có nghĩa là gặp gỡ
Trong luận án này, khái niệm NL được đề cập là năng lực thực hiện Theo đó,
“NLTH thể hiện khả năng hành động có hiệu quả và có trách nhiệm các nhiệm vụ, công việc thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân dựa trên hiểu biết, kĩ năng, và thái
độ (sự sẵn sàng hành động)”
Có thể biểu diễn cấu trúc của năng lực
thực hiện qua hình 2.1.Theo đó:
- KT cho con người sự hiểu biết
Không có KT, không có những hiểu biết đầy
đủ, sâu sắc về lí do, mục đích, yêu cầu,
nguyên tắc, ý nghĩa, để hành động, thì
không thể có hành động đúng đắn và hiệu quả
KT là câu trả lời cho câu hỏi “Biết gì?” KT là
“cần có” nhưng để biến KT thành hành động,
cần đến các thao tác cụ thể (KN)
- KN là các thao tác để biến điều đã
biết thành việc làm cụ thể KN là câu trả lời cho câu hỏi “Biết làm gì?” Sự khác biệt giữa
KT và KN được thể hiện qua động từ “làm” KN cho con người sự biết làm
- TĐ không phải chỉ là thái độ trong khi tiến hành các hành động cần làm mà trước hết phải được hiểu là TĐ đối với bản thân hành động cần tiến hành Muốn làm việc một cách hiệu quả, người lao động không chỉ cần “biết làm” (nghĩa là có KT, KN cần thiết) mà
còn phải “muốn làm” (liên quan đến động cơ làm việc của cá nhân) và “có thể làm” (liên
quan đến tổ chức thực hiện công việc), nghĩa là sự sẵn sàng hành động
2.1.2 Năng lực nghề nghiệp
Có thể định nghĩa:“NL nghề nghiệp là sự kết hợp (tích hợp) của KT, KN, TĐ của cá
nhân, thể hiện khả năng thực hiện được các hoạt động (nhiệm vụ hay công việc) trong nghề theo tiêu chuẩn đặt ra”
Trong mô hình cấu trúc NL nghề thì:
+ KT được hiểu là những hiểu biết của cá nhân về nghề nghiệp, bao gồm kiến thức
về chuyên môn, về phương pháp thực hiện, về xã hội
Bối cảnh cụ thể Kiến thức
(nhận thức)
Năng lực (cụ thể)
Hình 2.1 Cấu trúc năng lực thực hiện
Trang 5+ KN được hiểu là sự thể hiện khả năng làm một việc gì đó tốt hoặc thành thục KN bao gồm KN chuyên môn và các KN mềm (KN thông tin, KN sử dụng công nghệ thông tin,
KN lập kế hoạch và triển khai kế hoạch,
KN làm việc nhóm, KN giải quyết vấn đề,
KN giao tiếp, KN thuyết trình …) [19]
+ TĐ được hiểu là cảm nhận của cá
nhân và ứng xử của họ đối với một công
việc/sự việc Nó bao gồm TĐ cá nhân đối
với nghề và đối với xã hội (thể hiện qua ý
thức, trách nhiệm của cá nhân trước các
vấn đề của cộng đồng) Có 2 loại thái độ,
đó là: TĐ không quan sát được (thể hiện
qua suy nghĩ bên trong của cá nhân); TĐ
quan sát được (thể hiện qua thái độ, hành
vi bên ngoài của cá nhân) [19]
Có thể biểu diễn cấu trúc của NL
nghề nghiệp qua hình 2.2
2.2 Đào tạo nghề sư phạm tiếp cận năng lực thực hiện
2.2.1 Đào tạo nghề sư phạm theo năng lực thực hiện
Thuật ngữ đào tạo theo NLTH (tiếng Anh là Competency based training) là một
phương thức đào tạo rất khác với phương thức đào tạo truyền thống, nó dựa chủ yếu vào
những tiêu chuẩn quy định cho một nghề và đào tạo theo các tiêu chuẩn đó
Đặc điểm của đạo tạo nghề theo NLTH
- Đào tạo theo định hướng đầu ra: Đặc điểm cơ bản nhất có ý nghĩa trung tâm của đào tạo
nghề theo NLTH là định hướng và chú trọng vào kết quả, vào đầu ra của quá trình đào tạo,
coi các tiêu chí đầu ra là mục tiêu của quá trình đào tạo Điều đó có nghĩa là: từng người học
có thể làm được cái gì trong một tình huống lao động nhất định theo tiêu chuẩn đề ra
- Chương trình đào tạo được xây dựng dựa trên kết quả phân tích nghề qua sơ đồ DACUM
và phiếu phân tích công việc
Bảng 2.2: Mẫu phiếu phân tích công việc
Các bước
thực hiện
Tiêu chuẩn thực hiện
Dụng cụ, trang
bị, vật liệu
KT liên quan
KN liên quan
TĐ cần có
Các quyết định, các lỗi thường gặp B1:………
Bối cảnh bồi dưỡng cụ thể
Trang 62.2.2 Mô đun học tập
Khái niệm mô đun (học tập) được sử dụng trong luận án: “Mô đun được hiểu là đơn
vị học tập được tích hợp giữa KT chuyên môn, KN thực hành và TĐ nghề nghiệp một cách hoàn chỉnh nhằm giúp cho người học nghề có NL thực hành trọn vẹn một công việc của một nghề” Đặc điểm về mô đun: tính trọn vẹn, tính hoàn chỉnh và tính ghép lại được
Quy trình thiết kế mô đun học tập: Bước 1 - Xác định chủ đề, Bước 2 - Xác định các môđun và trình tự thực hiện, Bước 3 - Biên soạn từng mô đun, Bước 4 - Thử nghiệm và đánh giá từng mô đun Trong đó, bước 3 là quan trọng nhất
2.3 Dạy học theo Góc trong môn Vật lí ở phổ thông
2.3.1 Khái niệm dạy học theo Góc
Quan niệm về Góc: Là một địa điểm không gian xác định, tại đó con người giải
quyết một vấn đề chuyên biệt nào đó
Quan niệm về Góc học tập: Trong học tập của HS, góc học tập được hiểu là một địa điểm (vị trí) học tập, mà tại đó HS thực hiện NV học tập có tính chuyên biệt
Khái niệm về DHTG: Trong luận án quan niệm, DHTG là một hình thức tổ chức
DH, trong đó HS thực hiện các NV độc lập, chuyên biệt tại các vị trí cụ thể trong không gian lớp học nhằm học thoải mái, học sâu
Với quan niệm trên, đặc trưng của DHTG trong môn Vật lí là sự học thoải mái, học sâu, phân hóa được HS và NV học tập cần có tính độc lập và chuyên biệt
2.3.2 Cơ sở của dạy học theo Góc
Dạy học theo góc căn cứ vào các cơ sở là: Sự phân hoá trong dạy học, sự đa dạng về phong cách học, lý thuyết nhận thức của Piaget
Có nhiều cách phân loại về phong cách tư duy (hay PCH) của HS Căn cứ theo yếu tố
gen – môi trường, tác giả A.Gregorc (1982) [97] cho rằng trí óc của con người tương tác với môi trường thông qua 2 quá trình lớn là “tri giác” (gồm cụ thể và trừu tượng) và “sắp
xếp” (gồm tuần tự và ngẫu nhiên) “Tri giác” là cách người học tiếp nhận thông tin, còn
“sắp xếp” là cách người học chuyển đổi, truyền tải thông tin Từ đây tạo thành 4 kênh để tiếp nhận và thể hiện thông tin (4 kênh tư duy hay 4 phong cách học) Đó là: cụ thể - tuần
tự, trừu tượng - tuần tự, cụ thể - ngẫu nhiên và trừu tượng - ngẫu nhiên
2.3.3 Các kiểu tổ chức góc trong dạy học Vật lí
2.3.3.1 Lựa chọn nội dung khi xây dựng các góc học tập
Các nội dung KT vật lí lựa chọn để xây dựng các góc học tập và xác định số góc cần đảm bảo:
- Có sự đa dạng trong cách thức giải quyết NV (có thể xây dựng KT bằng nhiều con
đường); đa dạng trong phong cách học (PCH) của HS; NV mỗi góc cần độc lập và tương
đương nhau: Nhiệm vụ cần độc lập để đảm bảo HS có thể lựa chọn từ một góc bất kì, một
chu trình xoay vòng bất kì theo phong cách, sở thích cá nhân NV cần tương đương nhau (về
thời gian thực hiện, mức độ của các NV) để tránh sự tắc nghẽn trong luân chuyển; đảm bảo
học thoải mái, học sâu; phân hóa trình độ HS
Trang 72.3.3.2 Các kiểu tổ chức góc trong dạy học Vật lí
Từ các yêu cầu trên, DHTG có thể được vận dụng trong môn vật lý bậc THPT vào các loại bài học về KT mới, bài học về TN0 thực hành, bài học củng cố kiến thức (bài tập) Trong
đó, việc áp dụng trong bài học về KT mới và TN0 thực hành là rất có ý nghĩa Với loại bài học
về KT mới, GV có thể tổ chức góc theo 2 kiểu Đó là:
- Kiểu 1: Tổ chức các góc đáp ứng PCH (cùng nội dung KT, khác cách thức thực hiện NV);
- Kiểu 2: Tổ chức các góc thực hiện các NV bộ phận của một NV khái quát (các nội dung KT khác nhau)
2.3.3.2.1 Tổ chức các góc đáp ứng PCH (kiểu 1)
Căn cứ theo sự phân loại của Gregorc [97], tương ứng với bốn PCH là bốn loại góc
thường được quan niệm trong dạy học vật lí ở phổ thông Theo đó, trong luận án quan niệm
về các góc như sau:
- Góc Trải nghiệm: HS tiến hành các TN0 thực để thu thập số liệu, từ đó khái quát, xây dựng nên KT mới Tại góc này, ngoài việc xây dựng KT mới, HS được rèn luyện NL thực nghiệm trong vật lí (được rèn các thao tác tư duy như dự đoán, phân tích, tổng hợp, khái quát; rèn các KN TN0 như quan sát, tiến hành, sử dụng các dụng cụ đo, xử lý số liệu …)
- Góc Quan sát: HS quan sát và thao tác trên máy vi tính với các đoạn video TN0, quan sát các hiện tượng tự nhiên liên quan, các TN0 mô phỏng, từ đó xây dựng nên KT,
KN mới Ở góc Quan sát, ngoài việc xây dựng KT mới, HS được rèn luyện các KN quan sát, KN về CNTT, sử dụng phần mềm…
- Góc Phân tích: HS nghiên cứu tài liệu giáo khoa, các tài liệu in được cung cấp, từ đó
phân tích (thông qua thực hiện các NV trong phiếu học tập) để rút ra kết luận hoặc thu nhận
KT mới Ở góc Phân tích, ngoài việc xây dựng KT mới, HS được rèn luyện các thao tác tư duy phân tích, tổng hợp, các KN tự đọc, KN tìm kiếm thông tin nhanh…
- Góc Áp dụng: HS vận dụng những KT, KN đã biết, thông qua việc thực hiện các
thao tác tư duy (phân tích, tổng hợp), suy luận logic hay
suy luận toán học để từ đó xây dựng KT mới
Kiểu tổ chức các góc học tập đáp ứng PCH của
HS được thể hiện cụ thể qua hình 2.5 Theo đó, các góc
đều hướng đến xây dựng cùng một nội dung KT, việc tổ
chức các góc học tập được thực hiện trong giai đoạn giải
quyết vấn đề mà bài học đặt ra
Về mặt nhận thức, có thể tổ chức góc kiểu 1 với
các KT được hình thành theo cả hai con đường: suy
luận lý thuyết và thực nghiệm Trong đó, con đường suy
luận lý thuyết sẽ xây dựng góc Áp dụng, con đường
thực nghiệm sẽ xây dựng góc Trải nghiệm Như vậy, cơ
sở quan trọng để tổ chức góc kiểu 1 là sơ đồ tiến trình
khoa học xây dựng kiến thức
Trang 8- Các định luật vật lý (xây dựng được bằng cả hai con đường lý thuyết và thực nghiệm)., các ứng dụng KT của vật lí Ví dụ: ĐL bảo toàn cơ năng, ĐL bảo toàn động
lượng, ĐL Ôm cho toàn mạch…
Ví dụ: Khi dạy bài “Động lượng Định luật bảo toàn động lượng” – SGK Vật lý 10
+ Góc Quan sát (HS quan sát TN0 về sự va chạm của hai vật khác phương trên phần mềm phân tích băng hình, tính động lượng trước và sau va chạm của hai vật Từ đó nhận xét
về tổng động lượng của hệ trước và sau va chạm)
+ Góc Áp dụng (HS vận dụng định luật II, III Newton và kiến thức về xung lượng của lực để biến đổi, từ đó rút ra ĐL bảo toàn động lượng đối với hệ cô lập)
Chú ý:
- Kiểu K-1 chỉ áp dụng khi dạy một đơn vị kiến thức trong bài học
- Có thể có nhiều hơn một góc ứng với mỗi phong cách học (Ví dụ: có thể 2 góc Trải nghiệm hoặc hai góc Áp dụng tùy theo số phương án thí nghiệm khác nhau (số TN0 khác nhau), số cách vận dụng có thể thực hiện
2.3.3.2.2 Tổ chức các góc thực hiện các NV bộ phận của một NV khái quát (kiểu 2)
Trong SGK vật lí phổ thông, có nhiều bài học, nhiều KT được hình thành trên cơ sở giải quyết một vấn đề mang tính
phức hợp của thực tiễn (một NV
khái quát) Để giải quyết được
NV trên, đỏi hỏi phải giải quyết
thành trong mỗi góc, còn sự xoay
vòng giữa các góc (thể hiện qua các mũi tên liền nét) là do yêu cầu về tính trọn vẹn của KT
Trang 9(như góc 1, 2 – được tạo thành từ các góc 1.a, 1.b, 1.c…) Ở đây, quy ước các góc có ký
hiệu chữ a (1.a, 2.a, …a) là góc trung tâm của các góc 1, 2, …, bắt buộc HS phải trải qua, các góc còn lại (1.b, 2,b, 1.c, 1…) là các góc tự chọn, nó được tạo nên có thể từ việc đáp
ứng các PCH hoặc vận dụng KT bộ phận vừa xây dựng
Như vậy: Kiểu 2 nhấn mạnh đến việc thiết kế các góc đáp ứng sự độc lập của chính các KT khoa học mà không quan tâm nhiều đến sự độc lập về PCH
Có thể tổ chức góc kiểu 2 trong dạy học môn Vật lí theo hai dạng cụ thể sau:
- Kiểu 2a: Các góc thực hiện các NV bộ phận và KT nằm trong một bài học
Ví dụ: Mục 4 Mắc nguồn điện thành bộ (bài 14 Định luật Ôm với các loại mạch điện, mắc các nguồn điện thành bộ, vật lí 11 nâng cao)
Bảng 2.3: Mô tả việc tổ chức góc kiểu 2a phần KT mắc nguồn điện thành bộ
Góc 1 Mắc các
nguồn nối tiếp
1.a: Áp dụng các KT về điện áp, về điện trở trong mạch nối tiếp, từ đó
thiết lập biểu thức về suất điện động và điện trở trong tương đương của
bộ nguồn điện ghép nối tiếp (E b , r b )
nguồn song song
2.a: Áp dụng các KT về điện áp, về điện trở trong mạch song song, từ
đó thiết lập biểu thức về suất điện động và điện trở trong tương đương của bộ nguồn điện (E b , r b )
Bắt buộc
Góc 3 Mắc các
nguồn xung đổi
3.a: Áp dụng các KT về điện áp, về điện trở trong mạch nối tiếp, từ đó
thiết lập biểu thức về suất điện động và điện trở trong tương đương của
bộ 2 nguồn điện ghép xung đối (E b , r b )
Bắt buộc
3.b Tiến hành TN 0 để kiểm nghiệm biểu thức (E b , r b ) Tự chọn
- Kiểu 2b: Các góc thực hiện các NV bộ phận và KT nằm trong các bài học khác nhau (các
KT hướng đến một chủ đề)
Ví dụ: Dạy học chủ đề các định luật chất khí (gồm Định luật Bôilơ – Mariốt, định luật Sác lơ, định luật Gay luyt xắc, phương trình trạng thái khí lí tưởng, bài 29, 30, 31 – SGK Vật lí 10), có thể xây dựng thành ba NV bộ phận tương ứng với 3 góc Đó là:
- Góc 1: Nghiên cứu mối liên hệ giữa áp suất và thể tích một lượng khí không đổi khi giữ nguyên nhiệt độ (xây dựng định luật Bôilơ – Mariôt) thông qua TN0
- Góc 2: Nghiên cứu mối liên hệ giữa áp suất và nhiệt độ một lượng khí không đổi khi giữ nguyên thể tích (xây dựng định luật Sác lơ) thông qua TN0
- Góc 3: Nghiên cứu mối liên hệ giữa thể tích và nhiệt độ một lượng khí không đổi khi giữ nguyên áp suất (xây dựng định luật Gay luyt xắc) thông qua TN0
+ Các KT có thể áp dụng kiểu 2b như: dạy học chủ đề các máy điện (gồm các bài học máy phát điện, động cơ điện, máy biến áp); chủ đề các loại bức xạ gồm (tia hồng ngoại, tử ngoại, tia X); chủ đề về các loại dao động điều hòa (gồm dao động của con lăc đơn, con lắc
lò xo)…
Trang 102.3.4 Quy trình tổ chức dạy học theo Góc
Quy trình tổ chức DHTG trải qua 3 giai đoạn Giai đoạn 1- Chọn nội dung, xác định
sơ bộ số góc, tên góc; giai đoạn 2-Thiết kế KHBH gồm 6 bước (bước 1 Xác định mục tiêu
BH, bước 2 Chuẩn bị các phương tiện DH, bước 3 Thiết kế NV các góc, bước 4 Thiết kế
hỗ trợ các góc, bước 5 Thiết kế tiến trình DH cụ thể, bước 6 Thiết kế nội dung ghi bảng); giai đoạn 3 – Thực hiện DH gồm 6 bước (bước 1.Bố trí không gian lớp học, bước 2 Đặt vấn
đề học tập, bước 3 Giới thiệu và giao NV các góc, bước 4 Lập các nhóm học tập, bước 5
Tổ chức học tập tại các góc, bước 6 Tổ chức đánh giá kết quả và củng cố)
2.3.5 Đánh giá năng lực DHTG
Đánh giá KT về dạy học theo Góc
Đánh giá KT (gồm KT về chính DHTG và KT chuyên môn về bài học mà SV vận dụng) thực hiện qua bài kiểm tra KT
Đánh giá KN dạy học theo Góc
Đánh giá kỹ năng DHTG của SV được đánh giá trên cả hai phương diện: KN thiết kế KHBH và đánh giá KN tổ chức DH theo thiết kế đó để đạt mục tiêu đề ra Ngoài ra, năng lực DHTG được tiếp cận theo NLTH nên đánh giá KN cũng cần thể hiện tính “làm được” của SV
so với yêu cầu của đầu ra
Đánh giá KN thiết kế KHBH và KN thực hiện DH được dựa trên sự so sánh khả năng thực hiện của SV với mức độ yêu cầu chuẩn đặt ra thông qua bảng tiêu chí đánh giá
Bảng 2.5: Tiêu chí đánh giá KN thiết kế và KN thực hiện dạy học
Rất đầy đủ, rất rõ ràng,
có tính sáng tạo (nhiều hơn so với chuẩn) (4 đ)
Đầy đủ, rõ ràng, ít sáng tạo (3 đ)
Đầy
đủ
(2 đ)
Chưa đầy đủ (1 đ)
Không
có (0 đ)
Để đánh giá TĐ, HV quan sát được, có thể sử dụng bảng kiểm quan sát TĐ, HV
2.4 Dạy học Vi mô và việc bồi dưỡng NL tổ chức DHTG
2.4.1 Khái niệm về dạy học Vi mô
D.W.Allen cho rằng: “Microteaching is a scaled down teaching encounter in class
size and time” (tạm dịch: DHVM là một sự thu nhỏ quá trình dạy học của giáo viên về kích
thước lớp và thời gian dạy) [90]
Từ những quan điểm nêu trên về khái niệm DHVM, có thể hiểu rằng:
DHVM là một kỹ thuật đào tạo KN dạy học cho SV (học viên), giúp các SV làm chủ từng KN dạy học cụ thể thông qua tổ chức thực hiện một trích đoạn bài học có vận dụng KN
Trang 11đó trước một nhóm nhỏ SV trong khoảng thời gian ngắn (khoảng từ 5 đến 20 phút) và được phản hồi từ nhóm đồng nghiệp dựa trên sự quan sát trực tiếp và băng hình giờ học
(Lưu ý: Thực hiện một trích đoạn BH có thể là dạy một trích đoạn BH hoặc trình bày
việc vận dụng 1 KN trong bài học)
2.4.2 Quy trình tổ chức dạy học Vi mô
Trên cơ sở về quy
trình tổ chức DHVM của
các tác giả trong và ngoài
nước, kết hợp với đặc điểm
về đối tượng SV sư phạm
DHVM trong bồi dưỡng
các KN dạy học nói chung,
- Việc bồi dưỡng vẫn mang tính tổng thể (cùng một lúc bồi dưỡng đồng thời nhiều
KN) và tiến hành trên toàn lớp (số lượng lớn đối tượng) mà chưa chú ý đến tính cá thể, tính
làm chủ dần dần, đến các yếu tố đảm bảo cho sự hình thành phát triển KN sư phạm một
cách tuần tự và bền vững
- Việc áp dụng DHTG trong các tiết dạy của GV vật lý có tỉ lệ rất thấp (chiếm 34.4 %
số GV được khảo sát) so với con số 89 % số GV được tiếp cận với hình thức DH này
- Kiểu tổ chức, kiểu bài học áp dụng DHTG còn đơn điệu (chủ yếu áp dụng kiểu 1) Thời gian thực hiện bài học thường không đảm bảo
2.6 Đề xuất giải pháp bồi dưỡng NL áp dụng PPDH tích cực cho SVSP vật lí
Quy trình bồi dưỡng NL áp dụng PPDH tích cực cho SV thể hiện qua hình 2.21, gồm 4
giai đoạn: Giai đoạn 1: Xác định NLDH một PPDH tích cực Giai đoạn 2: Thiết kế bồi dưỡng
Giai đoạn 3: Thực hiện bồi dưỡng Giai đoạn 4: Đánh giá
Trang 12CHƯƠNG 3 THIẾT KẾ QUY TRÌNH BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC DHTG CHO SINH
3.1 Thiết kế quy trình bồi dưỡng năng lực DHTG cho SV sư phạm vật lí
3.1.1 Xác định các KN cần thiết cho SV trong tổ chức DHTG
Hình 2.21 Đề xuất quy trình bồi dưỡng NL áp dụng một PPDH tích cực
Thiết kế bồi dưỡng lý thuyết về PPDH
NC lý thuyết về PPDH
NC các mô hình bồi dưỡng Xác định NLDH một PPDH tích cực
Thiết kế bồi dưỡng KN vận dụng PPDH
Củng cố (qua tự luyện tập có ghi lại băng hình)
Thực hiện bồi dưỡng từng KN
(đảm bảo sự làm chủ) qua kỹ thuật DHVM
Mô đun KN thiết kế KHBH
Mô đun KN thực hiện DH
Chuẩn bị (tự học có
kiểm soát) qua mô đun
và website tự học
Đánh giá KN đơn lẻ Đánh giá tổ hợp KN
Đánh giá hiệu quả bồi dưỡng
Thực hiện bồi dưỡng (dạy học) về lý thuyết của PP (thông qua sự trải nghiệm)