1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Biến đổi không gian văn hóa buôn làng Ê Đê ở Buôn Ma Thuột từ sau 1975 đến nay

178 137 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 178
Dung lượng 4,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bởi vậy, trong xu thế chuyển động chung của vùng Tây Nguyên từ sau 1975, sự biến đổi không gian buôn làng của cộng đồng Ê Đê ở Buôn Ma Thuột mang ý nghĩa điển hình, là đối tượng lí tưởng

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM

-* -

Đặng Hoài Giang

BIẾN ĐỔI KHÔNG GIAN VĂN HÓA BUÔN LÀNG Ê ĐÊ

Ở BUÔN MA THUỘT TỪ SAU 1975 ĐẾN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC

Hà Nội - 2016

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM

-* -

Đặng Hoài Giang

BIẾN ĐỔI KHÔNG GIAN VĂN HÓA BUÔN LÀNG Ê ĐÊ

Ở BUÔN MA THUỘT TỪ SAU 1975 ĐẾN NAY

Chuyên ngành: Văn hóa học

Mã số: 62 31 06 40

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Duy Thiệu

TS Phan Phương Anh

Hà Nội - 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận án Tiến sĩ Biến đổi không gian văn hóa buôn làng Ê Đê ở Buôn Ma Thuột từ sau 1975 đến nay là công trình

nghiên cứu của riêng tôi; các tư liệu được sử dụng trong luận án là trung thực; kết quả nghiên cứu của luận án chưa được công bố trong bất kì công trình nào khác

Hà Nội, ngày 25 tháng 1 năm 2016

Tác giả luận án

Đặng Hoài Giang

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 1

MỤC LỤC 2

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 3

DANH MỤC BẢN ĐỒ VÀ CÁC BẢNG 4

MỞ ĐẦU 5

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KHÔNG GIAN VĂN HÓA BUÔN LÀNG 22

1.1 Không gian văn hóa 22

1.2 Không gian văn hóa buôn làng 26

1.4 Khái quát về các buôn được lựa chọn nghiên cứu 46

Chương 2 SỰ VẬN ĐỘNG CỦA CÁC THÀNH TỐ CẤU THÀNH KHÔNG GIAN VĂN HÓA BUÔN LÀNG Ê ĐÊ 51

2.1 Bối cảnh tác động đến không gian văn hóa buôn làng Ê Đê ở Buôn Ma Thuột từ sau 1975 đến nay 51

2.2 Biến đổi không gian sản xuất 56

2.3 Biến đổi không gian cư trú 74

2.4 Biến đổi không gian sinh hoạt cộng đồng 85

2.5 Biến đổi không gian sinh hoạt tín ngưỡng 93

Chương 3 XU HƯỚNG VÀ VẤN ĐỀ ĐẶT RA TỪ QUÁ TRÌNH BIẾN ĐỔI KHÔNG GIAN VĂN HÓA BUÔN LÀNG Ê ĐÊ 108

3.1 Các xu hướng biến đổi không gian văn hóa buôn làng 108

3.2 Những vấn đề đặt ra từ sự biến đổi không gian văn hóa buôn làng Ê Đê 124

3.3 Một số đề xuất nhằm qui hoạch, bảo tồn không gian văn hóa buôn làng Ê Đê theo hướng bền vững 131

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ 139

TÀI LIỆU THAM KHẢO 140

PHỤ LỤC 150

Trang 6

DANH MỤC BẢN ĐỒ VÀ CÁC BẢNG

Bản đồ 1 Vị trí của các buôn được nghiên cứu 49

Bảng 2.1 Diễn biến diện tích một số cây công nghiệp ở Tây Nguyên 52

Bảng 2.3 Bình quân đất sản xuất nông nghiệp ở các điểm điều tra 60

Bảng 2.4 Vai trò của cây cà phê ở các điểm điều tra 63

Bảng 2.5 Thách thức trong sản xuất nông nghiệp ở các điểm điều tra 64

Bảng 2.6 Cơ cấu thu nhập của buôn Alê A 65

Bảng 2.5 Tỷ lệ hộ nghèo ở các điểm nghiên cứu 67

Bảng 2.6 Tiện nghi gia đình ở các điểm nghiên cứu 67

Bảng 2.7 Cơ cấu nhà ở của Buôn Alê A 76

Bảng 2.8 Cơ cấu nhà ở buôn Ea Bông 77

Bảng 2.9 Cơ cấu nhà ở của buôn Ako Dhông 77

Bảng 2.10 Cơ cấu dân tộc ở buôn Alê A 78

Bảng 2.11 Cơ cấu dân tộc ở buôn Ako Dhông 79

Bảng 2.12 Cơ cấu dân tộc ở buôn Ea Bông 80

Bảng 2.13 Những nét mới của người Ê Đê khi cộng cư với người Kinh 83

Bảng 2.14 Những hạn chế của giới trẻ ở các điểm nghiên cứu 92

Bảng 2.15 Nhóm Thiên Chúa giáo ở các điểm nghiên cứu 95

Bảng 2.16 Nhóm Tin Lành ở các điểm điều tra 98

Bảng 3.1 Thực trạng sinh hoạt văn hóa truyền thống ở buôn Alê A 110

Bảng 3.2 Vai trò của nhà sàn trong đời sống hiện tại 117

Bảng 3.3 Vai trò của bến nước và rừng cộng đồng 118

Bảng 3.4 Thực trạng sinh hoạt văn hóa truyền thống ở Ea Bông, Ako Dhông 119

Bảng 3.5 Số lượng nghệ nhân dân gian ở Ea Bông và Ako Dhông 121

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do lựa chọn đề tài

1.1 Để tồn tại và phát triển, bất cứ cộng đồng xã hội nào cũng cần đến một không gian sinh tồn Trong không gian ấy, con người tồn tại với tư cách là một chủ thể văn hóa: tương tác với tự nhiên và xã hội; lựa chọn các mô hình sản xuất; định hình các khuôn mẫu ứng xử; tiếp nhận, sáng tạo và trao truyền các giá trị nhằm đảm bảo tính liên tục văn hóa cho cá nhân và cộng đồng Bởi lẽ văn hóa ra đời trên nền tảng của không gian sinh tồn, cho nên, đối với một cộng đồng, không gian sinh tồn cũng đồng thời là không gian văn hóa Không phải ngẫu nhiên mà Clyde Kluckhohn

- nhà văn hóa học nổi tiếng người Mỹ cho rằng: văn hóa của một cộng đồng được phản chiếu qua không gian sống của họ [102] Còn theo Francoise P Lévy và Marion Segaud thì “tất cả mọi xã hội, đều có mối quan hệ với không gian của họ; chúng đều được thể hiện bởi tổ chức không gian của chính mình” [52, tr.140-141]

1.2 Trong các loại hình không gian văn hóa mà con người đã sáng tạo nên, có

lẽ, làng là loại hình không gian lâu đời và phổ biến hơn cả Dường như ở đâu có nông thôn, nông nghiệp, nông dân thì ở đó có làng và không gian làng Với một đất nước

có truyền thống “trọng nông” như Việt Nam, dấu ấn của làng trong đời sống xã hội càng đậm nét Nghiên cứu văn hóa Việt Nam, các học giả trong và ngoài nước, dù đứng từ góc độ tiếp cận nào, đều có chung một nhận định: làng là không gian văn hóa

cơ bản và đặc trưng nhất của quốc gia đa dân tộc Việt Nam Thật vậy, tuy khác nhau

về nguồn gốc, ngôn ngữ, địa bàn cư trú và lối sống, nhưng giá trị văn hóa của từng nhóm tộc người trên lãnh thổ Việt Nam đều được phản chiếu trong không gian làng của họ Vì thế, theo cách diễn đạt của nhà dân tộc học Từ Chi, nghiên cứu không gian văn hóa làng cho phép chúng ta tìm hiểu người Việt nói riêng và các tộc người ở Việt Nam nói chung “trong sức năng động lịch sử của nó, trong ứng xử cộng đồng và tâm

lý tập thể của nó, trong các biểu hiện văn hóa của nó, cả trong những phản ứng của nó trước tình huống mà lịch sử đương đại đặt nó vào”[8, tr.226]

1.3 Tây Nguyên là một vùng đất độc đáo trong hệ thống lãnh thổ sinh thái - nhân văn của Việt Nam Sau 1975, dưới tác động của hàng loạt nhân tố mới, Tây Nguyên đã trở thành một vùng đất hoàn toàn khác về điều kiện tự nhiên, kinh tế, dân số, cơ cấu dân tộc, cơ cấu tôn giáo so với trước 1975 Sự chuyển động của

Trang 8

vùng đã tác động sâu sắc lên không gian buôn làng của các dân tộc tại chỗ, dẫn đến nhiều hệ quả phức tạp: sự xáo trộn không gian sinh tồn của nhóm dân tộc tại chỗ; nạn “chảy máu cồng chiêng” và suy thoái vốn văn hóa tộc người; đặc biệt, cải đạo

đã trở thành một hiện tượng mang tính khu vực, thu hút đông đảo người Thượng tham gia (Thiên Chúa giáo, Tin Lành) Những gì vừa nêu cho thấy rằng, để nhận thức thấu đáo hơn về thực tiễn Tây Nguyên nói chung và thực tiễn phát triển của nhóm dân tộc tại chỗ nói riêng, không thể tách các vấn đề văn hóa - xã hội của nhóm dân tộc tại chỗ ra khỏi bối cảnh biến đổi không gian buôn làng Tuy nhiên, cho đến nay, các nghiên cứu được thực hiện theo hướng này vẫn còn hạn chế cả về

số lượng lẫn chất lượng Mặt khác, theo Lưu Hùng, từ trước đến nay “phần đông các tác giả thường đi vào một vài khía cạnh của xã hội buôn làng nói chung hoặc ở một tộc người nào đó, hay đề cập dưới dạng bao quát về buôn làng trong toàn khu vực Tây Nguyên”, cho nên, “đã đến lúc phải chú trọng nghiên cứu từng làng ở các tộc người, các vùng khác nhau”[31, tr.128]

1.4 Buôn Ma Thuột (hay Ban Mê Thuột) là thành phố tỉnh lị của tỉnh Đắk Lắk Tên gọi Buôn Ma Thuột có nguồn gốc từ tiếng Ê Đê: Buôn Ama Y Thuột (gọi tắt là Buôn Ma Thuột) - có nghĩa là làng của cha Thuột, vị tù trưởng có công lập ra buôn làng đầu tiên bên bờ suối Êa Tam (nằm ở trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột bây giờ) Trong bốn thập niên qua, vùng đất này đã tiến những bước dài trên lộ trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Ngày nay, Buôn Ma Thuột là đô thị trung tâm của vùng Tây Nguyên và dự kiến sẽ trở thành đô thị trực thuộc Trung ương vào năm

2020 Có thể nói, trong kỷ nguyên thống nhất và đổi mới đất nước, nếu Tây Nguyên được xem là một trong những vùng biến đổi nhanh nhất của Việt Nam thì Buôn Ma Thuột là đại diện tiêu biểu nhất của một Tây Nguyên chuyển đổi Đáng lưu ý là trong bối cảnh hiện nay, Buôn Ma Thuột cũng đối diện với những vấn đề chung của vùng Tây Nguyên, trong đó có các vấn đề văn hóa liên quan đến cộng đồng dân tộc tại chỗ

1.5 Buôn Ma Thuột nói riêng và Đắk Lắk nói chung là quê hương lâu đời của người Ê Đê Theo số liệu của Ủy ban dân tộc tỉnh Đắk Lắk, đến cuối năm 2014, dân số Ê Đê ở Đắk Lắk vào khoảng hơn 300.000 người, chiếm tỷ lệ vượt trội trong các dân tộc sở tại và đứng thứ hai trong nhóm tại chỗ của vùng Tây Nguyên (chỉ xếp sau dân tộc Ja Rai) Ở Đắk Lắk, người Ê Đê quần cư thành các nhóm địa phương: nhóm Kpă ở Buôn Ma Thuột, nhóm Adham ở phía Tây Bắc, nhóm Ktul

Trang 9

phía Đông, nhóm Dliê và Ruê ở phía Đông Nam Trong các nhóm này, nhóm Kpă không chỉ là nhóm “thuần chủng” nhất mà còn là nhóm tiếp xúc sớm và liên tục nhất với các chủ thể văn hóa bên ngoài Bởi vậy, trong xu thế chuyển động chung của vùng Tây Nguyên từ sau 1975, sự biến đổi không gian buôn làng của cộng đồng

Ê Đê ở Buôn Ma Thuột mang ý nghĩa điển hình, là đối tượng lí tưởng cho các

nghiên cứu theo hướng Văn hóa học Trên bình diện lý thuyết, việc nghiên cứu đối

tượng này cho phép chúng ta nhận ra mối liên hệ giữa biến đổi không gian buôn làng với biến đổi văn hóa tộc người, các xu hướng biến đổi khác nhau giữa các cộng

đồng, cũng như các vấn đề đặt ra từ quá trình biến đổi ấy Trên bình diện thực tiễn,

quá trình khảo sát, phân tích đối tượng nghiên cứu có thể gợi ra một số ý tưởng thiết thực nhằm qui hoạch, bảo tồn không gian văn hóa buôn làng ở Buôn Ma Thuột nói riêng và ở Tây Nguyên nói chung theo hướng bền vững

Vì các lí do lí thuyết và thực tiễn như vậy, nghiên cứu sinh quyết định chọn

Biến đổi không gian văn hóa buôn làng Ê Đê ở Buôn Ma Thuột từ sau 1975 đến nay làm đề tài nghiên cứu của luận án tiến sỹ

2 Tình hình nghiên cứu

Với nội dung trọng tâm là quá trình biến đổi không gian buôn làng của người

Ê Đê ở Buôn Ma Thuột từ sau 1975 đến nay, luận án có mối liên hệ gần gũi với các công trình nghiên cứu sự chuyển đổi của cộng đồng làng nói chung, đặc biệt là làng của các tộc người vùng cao trong bối cảnh hiện đại hóa và toàn cầu hóa Do đó, trong phần tổng quan vấn đề, đối với các nghiên cứu quốc tế, nghiên cứu sinh sẽ dành ưu tiên cho các công trình nghiên cứu sự biến đổi của các cộng đồng vùng cao

ở Đông Nam Á Đối với các nghiên cứu trong nước, nghiên cứu sinh sẽ điểm qua các công trình nghiên cứu làng ở đồng bằng và làng vùng cao nói chung, trước khi tập trung giới thiệu các công trình nghiên cứu buôn làng của các dân tộc tại chỗ Tây Nguyên và người Ê Đê, đặc biệt trong vòng 4 thập niên trở lại đây

2.1 Các nghiên cứu về sự chuyển đổi của các cộng đồng vùng cao ở Đông Nam Á

Sau thế chiến II, các nghiên cứu theo hướng sinh thái học văn hóa hay nhân

học sinh thái tập trung sự chú ý vào một vấn đề rất cơ bản: không gian sinh thái -

nhân văn của các cộng đồng thiểu số sẽ đi về đâu trước tác động của các chương

Trang 10

trình phát triển nội địa và xu hướng toàn cầu hóa? Đi ngược truyền thống xem không

gian sinh thái - nhân văn của các tộc người thiểu số vùng cao như là những đơn vị biệt lập với thế giới bên ngoài, các nhà nghiên cứu đã chuyển sang phân tích ảnh hưởng của những dòng di cư, công nghệ, thông tin và các loại quyền lực trong thế giới hiện đại lên các cộng đồng địa phương [109] Ở Đông Nam Á, sau thế chiến II, trong bối cảnh các quốc gia trong khu vực đã giành được độc lập dân tộc và tiến hành hiện đại hóa, vấn đề được nhiều học giả quan tâm là các chương trình phát triển kinh

tế - xã hội của nhà nước, các chương trình viện trợ từ bên ngoài và xu hướng toàn cầu hóa tác động ra sao tới các cộng đồng vùng cao trong khu vực Trong một nghiên cứu mang tính tổng quan về “các tộc người thiểu số và các tộc người bản xứ ở Đông Nam Á”, dựa trên kết quả nghiên cứu ở một số nước Đông Nam Á lục địa (Thái Lan, Myanmar) và Đông Nam Á hải đảo (Indonesia, Malaysia, Philippin), Gerard Clarke cho rằng, bối cảnh chuyển đổi ở từng quốc gia và của khu vực đã phá vỡ không gian sinh tồn của rất nhiều tộc người thiểu số vùng cao Chính sách định cư

(sedentarisation) ở Thái Lan vào thập niên 1970 nhằm đưa các cộng đồng dân tộc

vùng cao phía Bắc xuống tập trung thành các làng lớn ở đồng bằng đã đẩy các cộng đồng này vào thế lưỡng nan về kinh tế, về lối sống và họ đã tìm cách phản kháng lại các chương trình của chính phủ dưới nhiều hình thức khác nhau Cũng theo tác giả, chính sách khai thác tài nguyên và tôn giáo ở Thái Lan, Myanma, Philippin, Indonesia đã làm thay đổi mô hình sinh kế truyền thống của các cộng đồng vùng cao khi họ buộc phải chuyển từ nền canh tác hưu canh luân khoảnh truyền thống sang thâm canh cây công nghiệp và tiếp nhận các tôn giáo mới từ bên ngoài và do đó, đi đến từ bỏ nhiều thực hành tín ngưỡng truyền thống [100, tr.413-436]

Sự thay đổi mô hình sinh kế của các cộng đồng vùng cao cũng là một chủ đề được nhiều tác giả quan tâm Các nghiên cứu của Rob Cramb ở Sarawak (Malaysia)

và của Gregory M.Thailer ở Borneo (Indonesia) cho thấy, việc từ bỏ kiểu canh tác hưu canh luân khoảnh truyền thống sang phát triển các loại cây trồng vì mục đích thương mại, ngoài khía cạnh kinh tế, đã tạo nên những biến đổi to lớn trong cảnh quan, lối sống, quan hệ xã hội của các cộng đồng liên đới Rob Cram đã khái quát

hóa những biến đổi ấy trong cụm từ cảnh quan hậu nương rẫy luân canh

(post-swidden landscape) [101, tr.770-793], [105]

Trang 11

Tóm lại, các nghiên cứu quốc tế giúp nghiên cứu sinh có được cái nhìn so

sánh (comparative vision) trong nghiên cứu không gian văn hóa buôn làng giữa các

khu vực trên thế giới, tiếp nhận các lý thuyết và các phương pháp nghiên cứu hiện đại để phục vụ cho đề tài nghiên cứu

2.2 Các nghiên cứu về sự chuyển đổi của làng đồng bằng và làng vùng cao ở Việt Nam

Trong bản đồ tộc người của Việt Nam, người Việt là tộc người chủ thể, quần

cư ở vùng đồng bằng trung tâm Trong các thập niên qua, không gian làng xã của người Việt đã trải qua một quá trình biến đổi sâu sắc Vì thế, đề tài “làng Việt trong chuyển đổi” được nhiều chuyên ngành khoa học quan tâm và đạt nhiều thành tựu quan trọng Ở đây, chúng tôi cố gắng lược qua các công trình có ảnh hưởng hoặc có mối liên hệ trực tiếp với đề tài của luận án

Công trình Làng ở vùng châu thổ sông Hồng: vấn đề còn bỏ ngỏ do Philippe

Papin và Olivier Tessier đồng chủ biên, với sự tham gia của nhiều học giả trong nước và quốc tế, “nghiên cứu những chuyển động, biến đổi và bất ổn” trong không gian làng xã Bắc Bộ đương đại: tổ chức không gian, quan hệ gia đình - dòng họ, tôn giáo, cơ cấu xã hội, đời sống kinh tế, di dân [52]

Công trình Góp phần nghiên cứu văn hóa dân gian Việt Nam của Nguyễn

Chí Bền tập hợp các tiểu luận nghiên cứu văn hóa dân gian của các vùng văn hóa ở Việt Nam (trong đó có vùng Bắc Tây Nguyên) trình bày nhiều vấn đề lý luận cơ bản trong nghiên cứu văn hóa cổ truyền nói chung và trong nghiên cứu văn hóa dân gian của các tộc người nói riêng [2]

Theo hướng tiếp cận của nhân học văn hóa, qua nghiên cứu trường hợp 3

làng Đồng Kỵ, Trang Liệt, Đình Bảng (Từ Sơn - Bắc Ninh), công trình Biến đổi văn

hóa ở các làng quê hiện nay của Nguyễn Thị Phương Châm phân tích sự biến đổi

văn hóa của làng xã trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn [7]

Sự chuyển đổi của các cộng đồng vùng cao Việt Nam, đặc biệt ở khu vực

miền núi phía Bắc cũng được nhiều tác giả nghiên cứu Công trình Vùng núi phía Bắc

Việt Nam: một số vấn đề về môi trường và kinh tế - xã hội của Trung Tâm nghiên cứu

tài nguyên và môi trường (CRES) thuộc Đại học quốc gia Hà Nội mô tả tình trạng phát triển của các cộng đồng thiểu số ở khu vực miền núi phía Bắc, qua đó chỉ ra mối

Trang 12

Công trình Những xu hướng biến đổi văn hóa các dân tộc miền núi phía Bắc

Việt Nam của Nguyễn Thị Huế trình bày các giá trị tiêu biểu trong văn hóa vật chất

và văn hóa tinh thần (nhà cửa, trang phục, ẩm thực, tín ngưỡng, phong tục tập quán, nghệ thuật, ngôn ngữ, chữ viết, văn học dân gian) cũng như xu hướng biến đổi văn hóa của các dân tộc miền núi phía Bắc như Thái, Mường, H’Mông, Dao, Tày, Nùng, Hà Nhì, Pu Péo, Lô Lô [28]

Công trình Phát triển bền vững văn hóa tộc người trong quá trình hội nhập ở

vùng Đông Bắc do Vương Xuân Tình chủ biên đề cập đến thực trạng văn hóa truyền

thống của một số dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc và đề xuất các quan điểm, giải pháp nhằm phát triển bền vững các giá trị văn hóa tộc người trong bối cảnh hội nhập, toàn cầu hóa [77]

Tóm lại, các nghiên cứu trong nhóm này gợi mở cho nghiên cứu sinh các cách tiếp cận khác nhau trong nghiên cứu không gian làng và có được cái nhìn tổng thể về bức tranh chuyển đổi của các cộng đồng vùng cao ở Việt Nam mà người Ê

Đê ở Buôn Ma Thuột là một bộ phận trong số đó

2.3 Các nghiên cứu về không gian buôn làng Tây Nguyên

Quá trình tìm kiếm và khai thác thuộc địa đã khiến người Pháp trở thành những người đầu tiên nghiên cứu vùng đất Tây Nguyên Sau sự mở đường của các nhà truyền giáo, lần lượt có mặt ở Tây Nguyên các phái bộ khảo sát và các nhà cai trị Nhờ được đào tạo bài bản về nhân học, ngôn ngữ học và địa chất học, họ đã tổ chức điền dã khắp Tây Nguyên, nghiên cứu hoặc trên chiều cạnh tổng thể đặc điểm

tự nhiên và con người của toàn vùng, hoặc trên chiều cạnh cụ thể của từng tộc người hay từng vùng riêng biệt Đáng chú ý là những học giả bán chuyên: Henri Maitre, Antomarchi, Bernard Y Jouin… Trong đó, công trình của Henri Maitre -

Rừng người Thượng (Les jungles Mois), cho đến nay vẫn được xem là công trình

nghiên cứu cơ bản nhất về Tây Nguyên

Những người Pháp tiếp theo đến Tây Nguyên là thế hệ các nhà khoa học chuyên nghiệp: G.Condominas, Anna De Hautecloque-howe, Boulbet, Maurice, J Dournes Họ đã đến, tiến hành điền dã lâu dài và hoàn thành nhiều tác phẩm quan

trọng về các tộc người Tây Nguyên Công trình Chúng tôi ăn rừng của Condominas

là một bút ký dân tộc học mô tả toàn bộ đời sống của làng Sar Luk thuộc bộ lạc M’Nông Gar trong chu kỳ một năm nông nghiệp - từ lúc hạ cây, đốt rẫy cho đến khi

Trang 13

thu hoạch: tìm đất làm rẫy, thử đất, đám cưới, đám tang, các lễ hội Đây là một nghiên cứu mẫu mực về một “không gian xã hội” điển hình của vùng Tây Nguyên vào thời điểm mà ngọn lửa chiến tranh Đông Dương chuẩn bị loang đến và tàn phá không gian sống của người dân Sar Luk [10]

Trong các nghiên cứu của người Pháp về Tây Nguyên, chuyên khảo Người Ê

Đê – một xã hội mẫu quyền của Anne De Hautecloque-howe có mối liên hệ rất gần

gũi với luận án của nghiên cứu sinh Chuyên khảo này là kết quả của hơn 1 năm điền dã của tác giả (1961 - 1962) ở 26 buôn Ê Đê thuộc Đắk Lắk Trong quãng thời gian đó, bà đã lựa chọn một phương pháp được chính bà đặt tên là “dân tộc học - lối sống”, tức là tiến hành việc điều tra bằng ngôn ngữ của những người chủ tiếp đón

bà và chia sẻ cuộc sống thường nhật của họ, sống trong một ngôi nhà dài và tham gia lao động cùng họ, kể cả lao động nương rẫy Nhờ vậy, công trình của bà đã đề cập đến những vấn đề vừa cơ bản vừa đặc trưng của một đời sống mẫu quyền diễn

ra trong khuôn khổ các làng Ê Đê giai đoạn trước 1975 [23] Vì vậy, nó trở thành một cơ sở đối chứng rất quý giá mà nghiên cứu sinh có thể dựa vào để làm sáng rõ quá trình biến đổi không gian buôn làng Ê Đê từ 1975 đến nay

Sau 1975, nhằm phục vụ cho các chương trình phát triển kinh tế - xã hội ở Tây Nguyên, nhà nước bắt đầu tổ chức các chương trình nghiên cứu vùng đất này (chương trình Tây Nguyên I và Tây Nguyên II) Kể từ đó, các thế hệ học giả miền Bắc bắt đầu có điều kiện tiếp cận và nghiên cứu Tây Nguyên Các chương trình này, ban đầu tập trung vào những vấn đề chung của vùng, sau đó, đi vào các vấn đề cụ thể của các nhóm tộc người và các tỉnh địa phương Tuy nhiên, có hai vấn đề được nhiều thế hệ học giả quan tâm là vấn đề sở hữu đất đai và vấn đề làng cổ truyền ở Tây Nguyên Thực chất, đây là hai vấn đề có mối quan hệ khăng khít: đất và rừng Tây Nguyên mênh mông từng thuộc quyền sở hữu của các làng, là nền tảng tạo nên không gian sinh tồn của các làng, là nguồn cội của đời sống văn hóa vật chất và tinh thần của họ Khi chế độ sở hữu đất và rừng thay đổi, không gian buôn làng tất yếu chịu tác động, dẫn đến nhiều hệ quả mới Trong các chuyến điền dã Tây Nguyên cùng cán bộ viện Đông Nam Á và Ủy ban Khoa học xã hội vào cuối thập niên 1970,

Từ Chi đã phác họa những nét đặc trưng của nếp sống Tây Nguyên cổ truyền và sớm nhận ra “những mặt tiêu cực lộ ra qua nếp sống văn hóa ở Tây Nguyên” sau

Trang 14

một quá trình chuyển đổi kinh tế - xã hội và cảnh báo một số hệ quả sẽ phát sinh khi không gian buôn làng của các tộc người Tây Nguyên bị xáo trộn [8, tr.542-562]

Sang thập niên 1980, công trình Tây Nguyên trên đường phát triển - tập hợp các kết

quả nghiên cứu về kinh tế - xã hội thuộc Chương trình Tây Nguyên II đã phân tích tường tận các vấn đề nổi cộm của thực tiễn Tây Nguyên tính đến thời điểm đó, đặc biệt nhấn mạnh một số hạn chế trong công tác quy hoạch, sử dụng đất đai ở Tây Nguyên mà hệ quả lớn nhất, như Đặng Nghiêm Vạn đã phân tích, là không đảm bảo quyền khai thác tài nguyên cho người dân tộc tại chỗ, trong khi tài nguyên đất rừng

ở Tây Nguyên thì bị tàn phá nghiêm trọng [85, tr.92-98] Đến thập niên 1990, Lưu

Hùng xuất bản công trình Buôn làng cổ truyền xứ Thượng, xác định buôn làng như

một cộng đồng sở hữu, cộng đồng sản xuất, cộng đồng xã hội và cộng đồng văn hóa

[29] Cuối thập niên 1990, qua công trình Sở hữu và sử dụng đất đai ở các tỉnh Tây

Nguyên, nhóm tác giả Vũ Đình Lợi, Bùi Minh Đạo, Vũ Thị Hồng thuộc Viện Dân

tộc học Việt Nam đã phân tích toàn diện và chi tiết quá trình chuyển đổi chế độ sở hữu và sử dụng đất đai ở các làng Tây Nguyên từ trong chiều dài lịch sử đến thời điểm nghiên cứu [38]

Sang thập niên 2000, công trình Một số vấn đề phát triển kinh tế - xã hội

buôn làng các dân tộc Tây Nguyên tập hợp nhiều bài viết phân tích các phương diện

kinh tế - văn hóa - xã hội cơ bản của các buôn làng Tây Nguyên từ sau 1975 đến nay [80] Trong công trình này, Đặng Nghiêm Vạn tiếp tục trở lại vấn đề đất đai của các tỉnh Tây Nguyên và đề xuất nhiều luận điểm quan trọng Theo tác giả, dựa trên nguyên tắc đảm bảo quyền làm chủ của người dân, cần tôn trọng quyền làm chủ tập thể của buôn, coi buôn như một đơn vị xã hội, lại là đơn vị xã hội cơ sở và cơ bản nhất Đồng thời, luật đất đai của nhà nước cần công nhận quyền chiếm hữu hay quyền sử dụng tập thể của buôn như một đơn vị tổ chức kinh tế hay xã hội [80, tr.345-350] Ngô Đức Thịnh xem buôn làng cổ truyền Tây Nguyên như một cấu trúc hoàn chỉnh với 4 đặc điểm nổi bật: (i) Buôn làng là một cộng đồng cư trú; (ii) Buôn làng là một cộng đồng sở hữu và lợi ích; (iii) Buôn làng là một cộng đồng tâm linh và (iv) Buôn làng là một cộng đồng văn hóa [80, tr.60] Trong khi

đó, từ góc nhìn dân tộc học, Lưu Hùng phân tích những biến đổi của các làng Thượng qua 3 phương diện căn bản: (i) sự thay đổi về tổ chức hành chính; (ii) sự

Trang 15

thay đổi của các thiết chế quản lý - xã hội; và (iii) sự thay đổi chế độ sở hữu Theo tác giả, mặc dù đã có nhiều xáo trộn sau nhiều thập kỉ phát triển, đối với đồng bào Thượng, làng vẫn là khung xã hội cơ bản, “vừa là không gian sinh tồn, vừa là môi trường văn hóa và xã hội trực tiếp, thường xuyên, một nhu cầu tự nhiên và rất sâu sắc Làng đối với nông dân người Kinh rất quan trọng, nhưng đối với người Thượng còn quan trọng hơn” [80, tr.98-126] Cũng trong công trình, Vương Xuân Tình đề xuất giải pháp tái lập hình thức quản lý cộng đồng về đất đai - một hình thức được tác giả gọi là “mô hình cũ trong khung cảnh mới” [80, tr.390]

Tiếp theo Một số vấn đề phát triển kinh tế - xã hội buôn làng các dân tộc Tây

Nguyên, có thể kể đến một công trình tập thể quan trọng khác là Văn hóa các dân tộc Tây Nguyên: thực trạng và những vấn đề đặt ra do Trần Văn Bính chủ biên đã

đề cập những vấn đề thách thức của văn hóa các dân tộc Tây Nguyên và đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn, phát huy các giá trị truyền thống trong bối cảnh hiện đại hóa, công nghiệp hóa của Tây Nguyên và của cả nước [6]

Trong 5 năm trở lại đây, ngày càng có nhiều công trình nghiên cứu thực trạng biến đổi văn hóa ở Tây Nguyên Đáng chú ý là cụm công trình do Viện Khoa học xã hội vùng Tây Nguyên, Viện nghiên cứu văn hóa (Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam) và Viện Tư vấn phát triển (CODE) chủ trì Trên cơ sở xem buôn làng như một chỉnh thể không gian gồm 4 chiều (không gian sinh tồn kinh tế, không gian sinh tồn xã hội, không gian sinh tồn văn hóa, không gian sinh tồn tự nhiên), trong công

trình Tổ chức và hoạt động buôn làng trong phát triển bền vững vùng Tây Nguyên,

Bùi Minh Đạo đã phân tích sự biến đổi của từng bộ phận trong chỉnh thể đó [17]

Công trình Văn hóa cổ truyền ở Tây Nguyên trong phát triển bền vững của Đỗ Hồng

Kỳ phân tích những vấn đề cơ bản của văn hóa Tây Nguyên và đề xuất các quan

điểm, giải pháp nhằm bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống trong xã hội

Tây Nguyên hiện đại [34] Công trình Vai trò của văn hóa và lối sống trong phát

triển bền vững Tây nguyên của Viện Nghiên cứu văn hóa, dựa trên một cơ sở lý luận

vững chắc, các hướng tiếp cận phù hợp và các phương pháp nghiên cứu hiện đại, đã phân tích quá trình biến đổi văn hóa và lối sống của các tộc người ở Tây Nguyên, cũng như xem xét các hệ quả của sự biến đổi đối với đời sống kinh tế, văn hóa và xã

hội của các tộc người này từ quan điểm phát triển bền vững [91] Công trình Hướng

Trang 16

tới phát triển bền vững Tây Nguyên của Viện Tư vấn phát triển phân tích hiện trạng

vốn văn hóa của cộng đồng dân tộc tại chỗ trong toàn cảnh chuyển động của Tây Nguyên từ sau 1975 đến nay để làm cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc xây dựng các chính sách đặc thù đối với các dân tộc Tây Nguyên [95]

Ngoài ra, còn có thể kể đến một số công trình khác đề cập đến tình trạng biến đổi kiến trúc, tín ngưỡng và hệ giá trị của cộng đồng dân tộc tại chỗ Tây Nguyên trong bối cảnh đô thị hóa, toàn cầu hóa:

- Nhóm tác giả Nguyễn Ngọc Hòa, Lê Quý Đức, Nguyễn Duy Bắc phân tích

sự biến đổi những giá trị xã hội truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên hiện nay trong công trình cùng tên [26]

- Luận án Tiến sỹ Triết học của tác giả Lê Hồng Phong phân tích ảnh hưởng

của đạo Tin Lành đối với đời sống tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên hiện nay [53]

- Luận án Tiến sỹ kiến trúc của tác giả Nguyễn Hồng Hà tập trung vào vấn

đề bảo tồn và phát huy giá trị buôn làng truyền thống trong quá trình phát triển các

đô thị ở Tây Nguyên [21]

Như vậy, khi nghiên cứu văn hóa Tây Nguyên, hầu hết các tác giả cùng chung quan điểm rằng buôn làng là một không gian phức hợp Cách nhìn này cần được tiếp tục thúc đẩy bằng cách đặt ra và trả lời các câu hỏi cụ thể hơn: nếu xem buôn làng là một không gian chỉnh thể, thì khi không gian ấy mất đi tính nhất thể vốn có, văn hóa tộc người đã biến đổi ra sao? Các cộng đồng đã làm gì để thích nghi với quá trình biến đổi ấy? Tóm lại, các nghiên cứu văn hóa tộc người ở Tây Nguyên đã cung cấp cho nghiên cứu sinh một vốn tri thức phong phú về Tây Nguyên nói chung và những gợi ý mang tính phương pháp luận trong nghiên cứu văn hóa Tây Nguyên đương đại

2.4 Các nghiên cứu về văn hóa của dân tộc Ê Đê

Trên bức khảm văn hóa tộc người ở Tây Nguyên, người Ê Đê là một cộng đồng lớn, có truyền thống lâu đời và độc đáo Chính Georges Condominas đã từng thừa nhận sức ám ảnh đặc biệt của tộc người này khi ông mới đặt chân lên cao nguyên vào thập niên 1950 [23, tr.8] Tiếp nối các công trình của người Pháp (Antomarchi, Bernard Y Jouin, Anne De Hautecloque-howe), sau 1975, văn hóa cổ

Trang 17

truyền của người Ê Đê tiếp tục được giới học giả Việt Nam nghiên cứu Trước hết

là công trình Đại cương các dân tộc Ê Đê, M’Nông ở Đắk Lắk do Viện Dân tộc học

Việt Nam chủ trì Đây là khảo cứu đầu tiên, giới thiệu sơ lược bức tranh tộc người của hai dân tộc Ê đê và M’Nông qua các khía cạnh: nhân chủng, tổ chức xã hội, sản

xuất kinh tế, hôn nhân - gia đình [19] Tiếp đến, công trình Văn hóa dân gian Ê Đê

do Ngô Đức Thịnh chủ biên giới thiệu các nghi thức liên quan đến chu kỳ đời sống của con người, hôn nhân, gia đình… [71] Cuối thập niên 1990, luận án Tiến sỹ Dân

tộc học của Nguyễn Thị Hòa Nhà ở và sinh hoạt trong nhà của người Ê Đê ở Việt

Nam tập trung mô tả kiến trúc nhà sàn và đời sống gia đình trong khung cảnh nhà

sàn của người Ê Đê [24]

Từ sau năm 2000, các công trình nghiên cứu văn hóa Ê Đê ngày càng phong

phú về chủ đề và số lượng Luận án Tiến sỹ Người phụ nữ Ê Đê trong đời sống xã

hội tộc người của Thu Nhung Mlô là một công trình rất đáng chú ý vì đây là tiếng

nói của một người trong cuộc Có thể nói, tác giả đã rất thành công khi phân tích sự biến đổi vai trò của người phụ nữ trong đời sống buôn làng, cũng như những biến đổi đang diễn ra trong lòng xã hội Ê Đê trong bước chuyển từ cổ truyền sang hiện đại Điều lí thú là buôn Alê A cũng là một trong những điểm được Thu Nhung Mlô lựa chọn điều tra, nghiên cứu Sự trùng hợp ngẫu nhiên này đã giúp nghiên cứu sinh

kế thừa được nhiều thông tin và tư liệu quý giá khi phân tích quá trình chuyển đổi không gian buôn làng ở Alê A [49] Sau Thu Nhung Mlô Duôn Du, luận án Tiến sỹ

Văn hóa Ê Đê - truyền thống và biến đổi của Nguyễn Ngọc Hòa trình bày quá trình

biến đổi văn hóa Ê Đê từ truyền thống đến hiện đại và đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn, làm giàu và phát huy giá trị của văn hóa Ê Đê trong quá trình công nghiệp

hóa, hiện đại hóa [25] Cũng theo hướng tiếp cận tương tự, luận án Tiến sỹ Văn hóa

người Bih ở Tây Nguyên và vấn đề giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa dân tộc của

Lương Thanh Sơn phân tích các giá trị văn hóa nổi bật của người Bih ở Đắk Lắk (một nhánh của dân tộc Ê Đê), từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm duy trì bản sắc văn hóa của cộng đồng này [59]

Gần đây, bắt đầu xuất hiện các nghiên cứu chuyên sâu vào từng thành tố cụ

thể của văn hóa Ê Đê Công trình Văn hóa ẩm thực của người Ê Đê do Tuyết

Nhung Buôn Krông chủ biên miêu tả các món ăn truyền thống cũng như các ứng xử

Trang 18

quen thuộc mà người Ê Đê vẫn thể hiện trong ăn uống Đáng chú ý, trong phần tổng quan về người Ê Đê ở Đắk Lắk, tác giả lập luận rằng, xã hội truyền thống hay buôn làng truyền thống của người Ê Đê tồn tại dựa trên 5 thành tố: làng (khu cư trú), bến nước, rừng đầu nguồn, khu mộ địa và đất sản xuất “Các thành tố gắn kết không thể tách rời, tạo thành một tổng thể hoàn chỉnh và hoạt động với hệ thống pháp luật dưới hình thức luật tục truyền thống” Tác giả cũng lưu ý rằng, cấu trúc ấy tuy đã từng tồn tại lâu dài trong lịch sử nhưng cũng rất mong manh, dễ bị phá vỡ nếu chúng ta không hiểu rõ, hiểu sâu để có hướng đi phù hợp cho phát triển cộng đồng

tại địa phương [50, tr.24-26] Công trình Nghi lễ - lễ hội Ê Đê của tác giả Trương Bi

giới thiệu những nội dung cơ bản của hai hệ thống nghi lễ - lễ hội trong xã hội Ê Đê

cổ truyền: nghi lễ - lễ hội vòng đời người và nghi lễ - lễ hội nông nghiệp Đồng thời, tác giả cũng đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa trong nghi lễ - lễ hội của người Ê Đê [4]

Công trình Chính sách đất đai và văn hóa tộc người của Mai Thanh Sơn phân

tích những tác động của chính sách đất đai đối với đời sống của các cộng đồng Ê Đê

ở Đắk Lắk Tác giả cho rằng, mỗi cộng đồng tộc người, thông qua đơn vị cơ bản nhất của nó là thôn làng, luôn dựa trên 3 điểm tựa để tồn tại: nguồn lực tự nhiên, cộng đồng thôn làng và nỗi ám ảnh Chính sách đất đai ở Đắk Lắk từ sau 1975 đã trực tiếp hay gián tiếp phá vỡ các điểm tựa cố hữu của người Ê Đê, dẫn đến những kết quả ngoài mong đợi trong đời sống cộng đồng: thay đổi sinh kế, đổ vỡ văn hóa truyền thống, phân hóa xã hội và bất mãn tâm lý [60] Các điểm tựa mà Mai Thanh Sơn nói đến, trong một chừng mực nào đó, chính là các nhân tố hình thành nên không gian văn hóa của mỗi cộng đồng Điều đó cũng có nghĩa rằng, để đảm bảo cho người dân thực hiện tốt nhất quyền bảo tồn văn hóa truyền thống của tộc người mình, nhà nước cần củng cố bổ sung các cơ sở điểm tựa [60, tr.64]

Trong luận án Tiến sỹ Đời sống của đồng bào dân tộc Ê Đê trên địa bàn

tỉnh Đắk Lắk - những phân tích và so sánh xã hội học, dựa trên các quan điểm lý

thuyết của xã hội học, tác giả Nguyễn Minh Tuấn đã mô tả thực trạng đời sống của người Ê Đê ở Đắk Lắk trên hai phương diện: kinh tế (cơ sở hạ tầng, điều kiện nhà

ở, tiện nghi sinh hoạt và thu nhập của hộ gia đình) và phi kinh tế (giáo dục, y tế,

Trang 19

giải trí, sinh hoạt cộng đồng và bình đẳng giới) Đồng thời, luận án cũng phân tích các nhân tố tác động đến sự biến đổi đời sống của cộng đồng Ê Đê hiện nay [83]

Như vậy, ngoại trừ công trình của Mai Thanh Sơn, đa phần các nghiên cứu

về người Ê Đê đều có khuynh hướng đi vào các thành tố văn hóa cụ thể, ít quan tâm đến khía cạnh không gian buôn làng, đặc biệt là diễn tiến thay đổi của không gian buôn làng từ sau 1975 đến nay cùng những hệ quả của nó Thực tế này đã mở ra một dư địa nghiên cứu cho những người đi sau Luận án của nghiên cứu sinh là một

nỗ lực nhằm khai thác khoảng trống mà dư địa đó để lại

3 Mục đích nghiên cứu

3.1 Mục đích tổng quát

Áp dụng các lý thuyết, khái niệm nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu phù hợp

để đánh giá tác động của sự biến đổi không gian buôn làng (vốn là không gian thực hành và nuôi dưỡng các giá trị văn hóa tộc người) đối với quá trình biến đổi văn hóa tộc người của dân tộc Ê Đê nói riêng và các dân tộc Tây Nguyên nói chung Từ đó, luận án cung cấp những luận cứ khoa học và những đề xuất khả thi nhằm góp phần qui hoạch, bảo tồn không gian văn hóa buôn làng Tây Nguyên theo hướng bền vững

3.2 Mục đích cụ thể

- Nhận diện quá trình biến đổi không gian văn hóa buôn làng của cộng đồng Ê

Đê vùng Buôn Ma Thuột từ 1975 đến nay và các hệ quả văn hóa của sự thay đổi này

- Nhận diện các yếu tố tác động và các xu hướng biến đổi không gian văn hóa buôn làng của cộng đồng Ê Đê ở Buôn Ma Thuột từ 1975 đến nay

- Đề xuất các giải pháp nhằm qui hoạch, bảo tồn không gian văn hóa buôn làng Ê Đê ở Buôn Ma Thuột theo hướng bền vững

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là không gian văn hóa buôn làng của cộng

đồng Ê Đê ở Buôn Ma Thuột Không gian buôn làng của người Ê Đê là một chỉnh

thể thống nhất, hữu cơ, được cấu thành bởi 4 yếu tố: không gian sản xuất, không gian cư trú, không gian sinh hoạt cộng đồng và không gian sinh hoạt tín ngưỡng Vì vậy, trong luận án này, nghiên cứu sinh sẽ lần lượt phân tích quá trình thay đổi của từng yếu tố cũng như mối quan hệ giữa các yếu tố trong tổng thể không gian ấy

Trang 20

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Về mặt không gian, luận án nghiên cứu các buôn Ê Đê ở thành phố Buôn Ma

Thuột - thủ phủ của tỉnh Đắk Lắk, cũng là đô thị lớn nhất vùng Tây Nguyên Trong

số 33 thôn/buôn thuộc địa bàn thành phố, luận án tập trung nghiên cứu 3 buôn: buôn Alê A (phường Ea Tam), buôn Ea Bông (xã Cư Êbur) và buôn Ako Dhông (phường Tân Lợi) Căn cứ vào các tiêu chí chọn mẫu, giữa 3 buôn này có những khác biệt nhất định đến mức có thể xem như những kiểu buôn khác nhau, do đó, có thể đại diện cho cộng đồng Ê Đê ở Buôn Ma Thuột Cụ thể:

- Về vị trí địa lý, buôn Alê A ở vùng trung tâm; buôn Ako Dhông ở vùng cận trung

tâm; trong khi buôn Ea Bông thuộc vùng phụ cận/ngoại ô của thành phố Buôn Ma Thuột;

- Về cơ cấu nghề nghiệp, buôn Alê A do thiếu đất nông nghiệp nên người

dân lựa chọn 2 nguồn sinh kế chính là làm công chức nhà nước và làm thuê công nhật; buôn Ea Bông thuần túy dựa vào nghề nông (thâm canh cây cà phê, trồng lúa nước và chăn nuôi); còn buôn Ako Dhông kết hợp giữa thâm canh cây cà phê và cung cấp dịch vụ (cho thuê đất, phòng trọ, du lịch cộng đồng);

- Về mức sống, theo phân loại của chính quyền phường/xã sở tại, buôn Alê A

thuộc buôn trung bình; buôn Ea Bông được xếp hạng trung bình khá; trong khi buôn Ako Dhông là buôn khá;

- Về cơ cấu tín ngưỡng - tôn giáo, nhóm Thiên Chúa giáo và Tin Lành ở

buôn Alê A (60,66%) chiếm tỷ lệ áp đảo so với nhóm tín ngưỡng truyền thống (39,34%); ngược lại, ở Ea Bông, nhóm tín ngưỡng truyền thống là nhóm vượt trội (63,47%) so với các nhóm tôn giáo (36,53%); trong khi Ako Dhông là một buôn thuần túy Thiên Chúa giáo (100%)

Về mặt thời gian, luận án nghiên cứu quá trình biến đổi không gian văn hóa

buôn làng trong giai đoạn từ 1975 đến nay Đây là giai đoạn mà đô thị Buôn Ma Thuột trải qua quá trình biến đổi mạnh mẽ nhất, kéo theo sự biến đổi không gian văn hóa buôn làng của cộng đồng Ê Đê trong khu vực

5 Phương pháp tiếp cận và nghiên cứu

Trang 21

- Phương pháp tiếp cận của Sử học: tiếp cận đối tượng nghiên cứu theo chiều lịch đại để đánh giá, phân tích sự vận động của chủ thể qua các giai đoạn lịch sử quan trọng và những hệ quả mà quá trình đó tạo ra đối với cuộc sống đương đại của con người

- Phương pháp tiếp cận của Xã hội học: nghiên cứu các khuôn mẫu xã hội trong hoạt động sản xuất, trong sinh hoạt gia đình, trong sinh hoạt tín ngưỡng, trong

sự tổ chức đời sống tập thể để xác định “trạng thái xã hội hiện thực” của cộng đồng trong bối cảnh hiện tại

- Phương pháp tiếp cận của Nhân học văn hóa: thông qua các trải nghiệm thực địa, thâm nhập vào đời sống của cộng đồng và diễn giải ý nghĩa của các khuôn mẫu, các lựa chọn, các thực hành văn hóa theo quan điểm của người dân địa phương

Trong 3 phương pháp nói trên, luận án lấy phương pháp tiếp cận của nhân học văn hóa làm phương pháp chủ đạo

5.2 Các phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Nghiên cứu sinh tiếp cận, phân tích, sử dụng các nhóm tài liệu sau: (i) nhóm tài liệu trình bày các khái niệm không gian văn hóa, vùng văn hóa, không gian xã hội và các quan điểm lý thuyết về biến đổi văn hóa, sinh thái học văn hóa, chức năng luận; (ii) các nghiên cứu quốc tế và trong nước đề cập đến sự chuyển đổi của các cộng đồng dân tộc thiểu số ở vùng cao trên thế giới và Đông Nam Á, các nghiên cứu đề cập đến sự chuyển đổi của làng Việt đồng bằng và làng vùng cao ở Việt Nam, đặc biệt chú trọng các nghiên cứu về không gian buôn làng Tây Nguyên nói chung và Ê Đê nói riêng; (iii) các báo cáo kinh tế - xã hội hàng năm của địa phương (cấp tỉnh, thành phố, xã/phường) và các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, chính sách dân tộc của nhà nước trung ương, địa phương

- Phương pháp nghiên cứu định tính: Tiến hành điền dã dân tộc học nhiều đợt ở các địa bàn nghiên cứu, sử dụng các phương pháp phỏng vấn sâu, quan sát tham dự, thảo luận nhóm để thu thập thông tin Đối tượng để tiến hành nghiên cứu định tính khá đa dạng: cán bộ quản lý, giới khoa học và người dân địa phương Đối với cán bộ quản lý (cấp tỉnh, thành phố và cấp phường/xã), thông qua các cuộc phỏng vấn sâu, nghiên cứu sinh tìm hiểu thực trạng sinh hoạt văn hóa truyền thống

ở địa phương, thực trạng quản lý và định hướng chính sách của chính quyền địa

Trang 22

phương đối với việc bảo tồn di sản truyền thống và quan điểm của họ về các giải pháp nhằm qui hoạch, bảo tồn không gian buôn làng Đối với giới khoa học địa phương (Đại học Tây Nguyên, Viện Khoa học xã hội vùng Tây Nguyên), nghiên cứu sinh tham vấn quan điểm của họ về những hệ quả của sự thay đổi không gian buôn làng đối với đời sống văn hóa của cộng đồng, cũng như các giải pháp cần kíp

để cân bằng giữa phát triển không gian đô thị với bảo tồn không gian văn hóa buôn làng Đối với người dân địa phương, nghiên cứu sinh dành nhiều thời gian làm việc với nhóm nòng cốt - gồm những người hiểu biết nhất về lịch sử và hiện trạng của cộng đồng (già làng, các nghệ nhân, tổ hòa giải), nhóm phụ nữ và nhóm thanh niên Mục đích của nghiên cứu định tính là tìm hiểu sâu hơn về quá trình phát triển của mỗi cộng đồng, các lựa chọn của cộng đồng ở các thời điểm mang tính bước ngoặt, các quan điểm của người dân về những vấn đề mà họ đã và đang đối diện, các khuôn mẫu đang chi phối hành vi của người dân địa phương Việc lựa chọn các đối

tượng phỏng vấn được tiến hành theo phương pháp “quả bóng tuyết” (snowball) -

tức những người phỏng vấn trước sẽ giới thiệu các đối tượng mà nghiên cứu sinh nên tiếp cận trong các cuộc phỏng vấn kế tiếp Mỗi cuộc phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm thường kéo dài từ 45 đến 90 phút, được ghi âm với sự cho phép của những người tham gia phỏng vấn Các băng ghi âm sau đó được gỡ và chọn lọc thông tin

để phục vụ cho việc xây dựng bản thảo luận án Tên của thông tín viên được sử dụng theo “tên gọi ở nhà” - tức là tên mà người trong nhà và trong buôn vẫn thường dùng để gọi người đó Khi người được phỏng vấn đã “lên” một chức mới trong chu

kì vòng đời (làm bố/mẹ hay làm ông/bà) thì “tên gọi ở nhà” thậm chí còn quan trọng hơn và được sử dụng phổ biến hơn tên “khai sinh” Ví dụ, sau khi sinh con gái đầu lòng là H’Nguôn Buôn Yă, hai vợ chồng H’Riêt Buôn Yă và Ylơ Arul được người trong buôn gọi là Amĩ Nguôn (mẹ của Nguôn) và Ama Nguôn (bố của Nguôn)

- Phương pháp nghiên cứu định lượng: Nghiên cứu sinh sử dụng phiếu điều tra xã hội học để phỏng vấn người dân ở các điểm nghiên cứu Mục đích của phiếu điều tra là thông qua các câu hỏi cho trước để thu thập các thông tin phản ánh sự thay đổi trong quan niệm, trong lối sống của người dân ở 3 làng được nghiên cứu trong bối cảnh chuyển đổi cấu trúc không gian buôn làng từ sau 1975 đến nay Tổng

số phiếu điều tra ở 3 làng là 360 phiếu, sau khi làm sạch còn 324 phiếu với cơ cấu giới tính là 144 nam/180 nữ

Trang 23

6 Đóng góp khoa học và thực tiễn của luận án

- Thứ nhất, luận án không lặp lại lối tiếp cận quen thuộc là nghiên cứu từng thành tố cụ thể trong kho tàng văn hóa tộc người mà lấy không gian văn hóa buôn làng làm đối tượng nghiên cứu, từ đó phân tích mối quan hệ mang tính hữu cơ, đa chiều giữa biến đổi không gian buôn làng với quá trình biến đổi văn hóa tộc người trong bối cảnh Tây Nguyên đương đại

- Thứ hai, làm sáng rõ khái niệm không gian văn hóa buôn làng và biến khái niệm này thành một công cụ hữu dụng để phân tích mối quan hệ đa chiều giữa biến đổi cấu trúc không gian buôn làng và biến đổi văn hóa tộc người;

- Thứ ba, cung cấp cho giới hoạch định chính sách và giới quản lý văn hóa địa phương những bằng chứng thực tiễn, những luận điểm khoa học, những đề xuất thiết thực nhằm qui hoạch, bảo tồn không gian văn hóa buôn làng Tây Nguyên theo hướng bền vững, phù hợp với bối cảnh phát triển hiện tại

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần Mở đầu (17 trang), kết luận (3 trang), tài liệu tham khảo (10 trang), phụ lục (25 trang), nội dung của luận án được trình bày trong 3 chương:

- Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về không gian văn hóa buôn làng (29

trang): Giới thiệu các khái niệm (không gian văn hóa, không gian văn hóa buôn làng) và các lý thuyết nghiên cứu (biến đổi văn hóa, sinh thái học văn hóa và chức năng) được áp dụng trong luận án

- Chương 2: Sự vận động của các thành tố cấu thành không gian văn hóa

buôn làng Ê Đê (56 trang): Phân tích quá trình biến đổi của các thành tố trong

không gian văn hóa buôn làng Ê Đê ở Buôn Ma Thuột từ sau Giải phóng đến nay và các hệ quả của nó xét trên phương diện văn hóa

- Chương 3: Xu hướng và vấn đề đặt ra từ quá trình biến đổi không gian văn

hóa buôn làng Ê Đê (27 trang): Phân tích các nhân tố tác động và các xu hướng

biến đổi không gian văn hóa buôn làng Ê Đê ở Buôn Ma Thuột từ sau Giải phóng đến nay Đồng thời, đưa ra một số đề xuất cơ bản nhằm qui hoạch, bảo tồn không gian văn hóa buôn làng Ê Đê ở khu vực Buôn Ma Thuột theo hướng bền vững

Trang 24

Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KHÔNG GIAN

VĂN HÓA BUÔN LÀNG

1.1 Không gian văn hóa

Những năm gần đây, khái niệm không gian văn hóa xuất hiện khá phổ biến

trên các diễn đàn học thuật, cũng như trong các công trình nghiên cứu của giới khoa học xã hội Việt Nam Xu hướng này hẳn ít nhiều liên quan đến một thực tế hiển nhiên: chúng ta luôn đối diện và tồn tại trong các kiểu không gian văn hóa khác nhau Vậy, không gian văn hóa là gì?

Theo Martin và Nakayama, cũng như tính trừu tượng, đa nghĩa của bản thân

khái niệm “không gian”, không gian văn hóa là một khái niệm khá phức tạp Khái

niệm không gian văn hóa có thể biểu đạt một không gian vật lý, chẳng hạn, một ngôi nhà - nơi mỗi người sinh ra và lớn lên, hoặc là một không gian mang tính ẩn dụ

(metaphorical) như thế giới Internet Không gian văn hóa còn bao gồm các mối

quan hệ láng giềng, các hoạt động tôn giáo, đời sống sinh hoạt, các mạng lưới tổ chức/thiết chế xã hội như trường học, bệnh viện Các nhân tố vừa nêu kết hợp với

nhau để hình thành nên các ranh giới văn hóa vô hình (invisible boundaries) khuôn định nên bản sắc (identity) của từng cá nhân tồn tại trong đó Khi một cá nhân di

chuyển ra khỏi khí quyển này để chuyển sang một không gian khác thì anh ta có thể

đối diện với những cú sốc văn hóa (cultural shock) và phải tìm cách thích nghi với

văn hóa mới Như vậy, theo quan niệm này, không gian văn hóa được nhận thức như là môi trường xác định bản sắc văn hóa của mỗi cá nhân [103]

Quan điểm của giới học giả Việt Nam về khái niệm không gian văn hóa có nhiều điểm khác so với các học giả phương Tây

Theo Ngô Đức Thịnh, có thể hiểu không gian văn hóa trên 2 cấp độ: cụ thể

và trừu tượng Trong ý nghĩa cụ thể, không gian văn hóa là một không gian địa lý

xác định, mà ở đó một hiện tượng hay một tổ hợp hiện tượng văn hóa nảy sinh, tồn

tại, biến đổi và liên kết với nhau như một hệ thống Trong ý nghĩa trừu tượng,

không gian văn hóa là một “trường” (mượn khái niệm trường của vật lý) bao chứa một hiện tượng hay tổ hợp các hiện tượng (một nền văn hóa tộc người, quốc gia hay

Trang 25

khu vực) có khả năng tiếp nhận và lan tỏa (ảnh hưởng), tạo cho nền văn hóa đó một không gian rộng hay hẹp khác nhau [73, tr.39]

Trong công trình Văn hóa cổ truyền Tây Nguyên trong phát triển bền vững,

khi bàn về không gian văn hóa Tây Nguyên, Đỗ Hồng Kỳ cũng gián tiếp đưa ra một quan niệm về không gian văn hóa Tác giả cho rằng, khái niệm không gian văn hóa hàm chỉ một không gian trong đó tồn tại các hình thức văn hóa, về cơ bản là thống nhất, tương đồng [34, tr.9-10]

Như vậy, tuy cách diễn đạt khác nhau, nhưng các định nghĩa về không gian văn hóa ở Việt Nam vẫn có một số điểm chung Về đại thể, khái niệm không gian văn hóa chứa đựng các ý nghĩa sau đây:

- Một không gian địa lý/lãnh thổ xác định Phạm vi của không gian có thể rộng, hẹp khác nhau tùy vào bối cảnh cụ thể

- Trên không gian địa lý ấy, tồn tại một hay nhiều cộng đồng dân cư có chung nguồn gốc hay có mối liên hệ mật thiết với nhau qua quá trình khai phá đất đai, qua hợp tác sản xuất và bảo vệ các quyền lợi chung, qua hôn nhân, qua các sự kiện mang tính cộng đồng, qua việc xác tín các chuẩn mực chung của đời sống tập thể (biểu hiện trong luật tục hay hương ước)

- Điều quan trọng hơn cả là cộng đồng dân cư trên địa bàn lãnh thổ đã sáng tạo nên một lối sống, một nếp sống chung, trong đó có thể nổi lên một kiểu loại văn hóa tiêu biểu, đặc sắc, làm nên “cái hồn” cho không gian văn hóa Ở Việt Nam, các không gian văn hóa tiêu biểu đều gắn liền với một kiểu loại văn hóa cụ thể Chẳng hạn: dân ca quan họ là linh hồn của không gian văn hóa Kinh Bắc, dân ca ví dặm là linh hồn của không gian văn hóa xứ Nghệ, nghệ thuật cồng chiêng hay nghệ thuật diễn xướng sử thi là linh hồn của không gian văn hóa Tây Nguyên

Một không gian văn hóa được kiến tạo bởi nhiều nhân tố khác nhau Trước

hết, bất kì không gian văn hóa nào cũng gắn liền với một môi trường tự nhiên và

một tập quán sản xuất nhất định Không thể phủ nhận rằng điều kiện tự nhiên của

vùng đồng bằng, miền núi, cao nguyên, duyên hải và các hoạt động sản xuất tương ứng đã ảnh hưởng sâu đậm đến tư duy, nhận thức và nếp sống của cư dân trong vùng Chẳng hạn, môi trường tự nhiên cao nguyên với thảm thực vật, động vật trù phú và chế độ canh tác nương rẫy hưu canh luân khoảnh chính là nền tảng tự nhiên

Trang 26

- kinh tế của không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên Có tác giả cho rằng,

trình độ phát triển kinh tế - xã hội cũng qui định diện mạo của một không gian văn

hóa, mà cụ thể là qui định cơ chế sáng tạo và hưởng thụ văn hóa của con người Thí

dụ, trong xã hội Tây Nguyên cổ truyền, các tộc người còn ở trình độ phát triển tiền giai cấp, nhà nước chưa xuất hiện, buôn làng là đơn vị xã hội cơ bản nhất, cho nên, không gian văn hóa Tây Nguyên mang tính cộng đồng rất cao, cả trong mặt sáng tạo lẫn hưởng thụ Ngược lại, xã hội Tày - Thái ở thung lũng miền núi phía Bắc đã bước vào giai đoạn đầu của xã hội có giai cấp nên quá trình sáng tạo và hưởng thụ văn hóa không còn đậm đà tính cộng đồng như vùng Tây Nguyên và bị chi phối bởi

xu hướng thẩm mỹ của tầng lớp quý tộc trong xã hội [73, tr.653] Truyền thống văn

hóa tộc người cũng có vai trò quan trọng trong việc hình thành diện mạo của một

không gian văn hóa Chúng ta đều biết rằng, mỗi tộc người có một truyền thống văn hóa riêng và tính riêng này được phản ánh trong không gian văn hóa của họ Ví dụ, trong khi các làng Ba Na có một căn nhà chung của cộng đồng (nhà rông) thì người

Ê Đê không có kiểu nhà rông như thế Cũng vậy, nếu người Gia Rai, Ê Đê ở nhà sàn dài thì người M’Nông, người Mạ lại ở “nhà sạp” (nửa sàn, nửa trệt) Ngoài ra,

diện mạo của một không gian văn hóa còn bị quy định bởi quá trình tiếp xúc - giao

lưu văn hóa giữa các nhóm xã hội Chẳng hạn, sự hiện diện của ngôi nhà rông trong

không gian làng của người Ja Rai (thuộc ngữ hệ Nam đảo, vốn không có nhà rông) được xem là một sản phẩm của quá trình giao lưu văn hóa giữa dân tộc này với các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Môn Khơmer ở Bắc Tây Nguyên như Ba Na, Giẻ Triêng, Brâu, Rơ Măm (có truyền thống kiến trúc nhà rông)

Các không gian văn hóa không nhất thành bất biến mà vận động theo thời gian Sự thay đổi của không gian văn hóa được kích hoạt bởi các nguyên nhân bên

ngoài và bên trong: điều kiện chính trị, kinh tế, tự nhiên - môi trường, nhu cầu phát triển của cộng đồng Đối với các cộng đồng thiểu số vùng cao, trong thời đại toàn cầu hóa, theo tổng kết của giới nghiên cứu khoa học xã hội, các tác thể bên ngoài là nguyên nhân chính dẫn đến sự biến đổi mạnh mẽ, sâu sắc không gian sinh tồn của họ: sự hình thành nhà nước dân tộc quốc gia và các chính sách can thiệp của nhà nước, sự hình thành thị trường kinh tế toàn cầu với vai trò chi phối của các công ty xuyên quốc gia, hoạt động của các tổ chức phát triển cộng đồng, các làn sóng di dân

Trang 27

dẫn đến những xáo trộn về môi trường và xã hội Dĩ nhiên, khi không gian văn hóa thay đổi thì lối sống của cộng đồng chủ thể cũng thay đổi theo, thậm chí, trong không ít trường hợp, do không gian văn hóa bị xáo trộn đột ngột, cộng đồng chủ thể

đã mất khả năng đề kháng, thích nghi và nhanh chóng bị cuốn theo các chuẩn mực của văn hóa mới

Khái niệm không gian văn hóa có quan hệ gần gũi với các khái niệm vùng

văn hóa và không gian xã hội Theo Ngô Đức Thịnh, vùng văn hóa là một vùng

lãnh thổ có những tương đồng về hoàn cảnh tự nhiên, dân cư sinh sống ở đó từ lâu

đã có những mối quan hệ nguồn gốc và lịch sử, có những tương đồng về trình độ phát triển kinh tế - xã hội, giữa họ đã diễn ra những giao lưu, ảnh hưởng văn hóa qua lại, nên trong vùng đã hình thành những đặc trưng chung, thể hiện trong sinh hoạt văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của cư dân, có thể phân biệt với vùng văn

hóa khác [70, tr.99] Trong khá nhiều trường hợp, khái niệm không gian văn hóa được đồng nhất với khái niệm vùng văn hóa Chẳng hạn, trong công trình Việt Nam

cái nhìn địa văn hóa, Trần Quốc Vượng đã sử dụng cụm từ không gian văn hóa để

diễn giải khái niệm vùng văn hóa Tác giả viết: “Một vùng văn hóa là một tổng thể -

hệ thống, một không gian văn hóa (cutural space) với một cấu trúc - hệ thống (structure-system) bao gồm các hệ dưới - hay tiểu hệ (sub- system) theo lối tiếp cận

hệ thống (system-analysis)” [97, tr.401] Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng, vùng văn

hóa và không gian văn hóa không hẳn là hai khái niệm đồng nghĩa khác âm Điểm

phân biệt giữa hai khái niệm này nằm ở chỗ: vùng văn hóa chỉ đề cập đến các không gian văn hóa ở tầm vĩ mô hoặc trung mô (tiểu vùng) Trong khi đó, người ta có thể

sử dụng khái niệm không gian văn hóa để chỉ các không gian cả ở tầm vĩ mô lẫn vi

mô Chính vì thế, không ai gọi là vùng văn hóa làng nhưng không gian văn hóa

làng lại là một khái niệm được giới khoa học chấp nhận và sử dụng Với cách hiểu

như vậy, luận án của chúng tôi lựa chọn nghiên cứu không gian văn hóa ở cấp độ vi

mô của khái niệm này: không gian văn hóa buôn làng

Như chúng ta đã biết, khái niệm không gian xã hội trở nên phổ biến nhờ công

lao của Georges Condominas khi ông sử dụng khái niệm này để phân tích không gian

xã hội ở khu vực Đông Nam Á [9] Không gian xã hội được Georges Condominas định nghĩa là “cái không gian được xác định bởi tập hợp các hệ thống quan hệ đặc

Trang 28

trưng cho một nhóm người nào đó” [9, tr.16] Như tác giả đã chỉ ra, “các hệ thống quan hệ đặc trưng” ấy, gồm: những mối liên hệ với không gian (môi trường tự nhiên)

và thời gian (nhịp điệu sản xuất, chu kì nghi lễ trong 1 năm), những mối quan hệ về trao đổi của cải, những mối quan hệ về giao tiếp (ngôn ngữ và chữ viết), những mối quan hệ họ hàng và xóm giềng [9, tr.22-55] Các “hệ thống quan hệ đặc trưng” trong cách diễn đạt của Georges Condominas chính là các hoạt động, các kiểu ứng xử làm nên lối sống của một cộng đồng trong một phạm vi không gian nhất định Đây là điểm tương đồng về nội hàm giữa hai khái niệm không gian xã hội và không gian văn hóa Tuy nhiên, khái niệm không gian xã hội của Georges Condominas còn đề cập

đến một ý niệm quan trọng khác: phạm vi tương tác hay “trường xã hội” của một

cộng đồng Một cộng đồng càng năng động thì “trường xã hội” hay phạm vi tương tác của nó với thế giới bên ngoài càng rộng lớn Vì thế, Georges Condominas đã phân biệt các không gian xã hội bé/không gian xã hội giới hạn (các không gian ở miền núi) với các không gian xã hội lớn (các không gian ở vùng đồng bằng, duyên hải) [9, tr.55-74] Như vậy, bên cạnh mặt tương đồng, giữa khái niệm không gian xã hội và không gian văn hóa vẫn tồn tại một điểm khác biệt: khái niệm không gian xã hội nhấn

mạnh đến ý niệm trường xã hội, còn khái niệm không gian văn hóa tập trung vào phương diện lối sống và kiểu loại văn hóa đặc trưng của cộng đồng Chính Georges

Condominas đã nói rõ điều này khi ông giải thích lí do không dùng thuật ngữ “văn hóa” (nền văn hóa hoặc không gian văn hóa) mà lại dùng khái niệm không gian xã hội để biểu đạt các hệ thống quan hệ xã hội của người M’Nông Gar [9, tr.55-56]

1.2 Không gian văn hóa buôn làng

1.2.1 Không gian văn hóa làng Việt đồng bằng

Trước khi đi vào xác định các đặc trưng của buôn làng Tây Nguyên - những đặc trưng cho phép nhận diện buôn làng như một không gian văn hóa, chúng tôi muốn điểm lại một số đặc điểm cơ bản của làng Việt cổ truyền vùng đồng bằng Vì hai lí do: thứ nhất, làng cổ truyền đồng bằng được xem là có “quan hệ cội nguồn” với làng của các tộc người thiểu số vùng cao ở Việt Nam Cụ thể hơn, làng tiểu nông đồng bằng được xem là một thực thể “tiến hóa” lên từ các công xã thị tộc, công xã nông thôn trước đó; thứ hai, các tranh luận về đặc điểm làng Việt cổ truyền sẽ giúp

mở mang nhiều nhận thức về buôn làng Tây Nguyên

Trang 29

Từ trước đến nay, các nhà nghiên cứu đều thống nhất xem làng - xã là đơn vị

cơ bản của xã hội nông thôn Việt Nam truyền thống Quá trình lập làng, tách làng diễn ra trong lịch sử khá phức tạp, song dù trong một đơn vị hành chính (xã) lớn hơn hay nhỏ hơn làng, thì làng vẫn có tính độc lập tương đối, với tư cách là một thực thể văn hóa, một cộng đồng tự quản, tạo cho nó diện mạo với những đường nét riêng, khác với những cộng đồng khác Vì vậy, có cộng đồng văn hóa làng, nhưng rất khó nói đến cộng đồng văn hóa xã Tính độc lập hay diện mạo riêng của làng được phản ánh qua các chiều cạnh sau:

- Làng trước hết có một lãnh thổ riêng, một cộng đồng lãnh thổ xác định Hương ước làng bao giờ cũng có điều khoản nói rõ phạm vi lãnh thổ làng Lãnh thổ

ấy được hình thành từ thuở lập làng, gắn với công sức khai phá của nhiều thế hệ

- Làng là một cộng đồng kinh tế tiểu nông, tự cấp tự túc Sự tồn tại ruộng công của làng, của các dòng họ cho đến đầu thế kỷ XX là điểm tựa duy trì những thiết chế, sinh hoạt và tâm lý làng xã cổ truyền

- Làng cũng là một đơn vị hành chính tự trị được quản lý chặt chẽ trong một kết cấu xã hội phân tầng theo chức tước, theo khoa mục, theo tuổi tác, theo trật tự thân tộc Hương ước thành văn quy định chuẩn mực ứng xử của mọi thành viên trong làng, những nghĩa vụ đối với làng và đối với nhau, được tuân thủ một cách nghiêm ngặt và tự nguyện

- Làng còn là một cộng đồng tín ngưỡng với Thành hoàng, đình, chùa, miếu,

lễ hội và phong tục tập quán riêng; một cộng đồng sản xuất, bảo quản, lưu thông và hưởng thụ một kho tàng văn hóa dân gian [113]

Trên nền tảng đó, đã hình thành nên cái gọi là văn hóa làng: “Văn hóa làng chính là văn hóa nông thôn mà diện mạo của nó là cây đa, bến nước, ngõ xóm, đình làng, là tâm tính của những người nông dân biểu hiện trong kho tàng văn hóa dân gian, trong đất lề quê thói vốn là sản phẩm của kết cấu xóm làng” [113] Do đó, nói đến văn hóa làng là nói đến một cộng đồng văn hóa, cộng đồng sáng tạo, bảo tồn và hưởng thụ những giá trị vật chất và tinh thần trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, từ đó mà hình thành nhân cách người nông dân, tính cách con người làng xã, cũng từ đó mà hình thành những nét riêng, diện mạo văn hóa riêng của mỗi làng [113]

Trang 30

Những gì vừa nêu chứng minh rằng: làng đồng bằng vừa là một cộng đồng lãnh thổ; vừa là một cộng đồng cư trú gồm những thành viên có chung lịch sử và mối quan hệ huyết thống, địa vực; cũng vừa là một cộng đồng văn hóa với một nếp sống riêng và các chuẩn mực riêng được biểu hiện qua phong tục, hương ước và các sinh hoạt văn hóa dân gian phong phú Do đó, chúng ta có đầy đủ lí do để xem làng đồng bằng như một không gian văn hóa điển hình của người Việt

1.2.2 Không gian văn hóa buôn làng Tây Nguyên

1.2.2.1 Các đặc trưng của buôn làng Tây Nguyên

Vào khoảng giai đoạn trước sau công nguyên, khi các tộc lớn ở Đông Nam Á bước vào giai đoạn tiếp xúc với các nền văn minh lớn bên ngoài (Ấn Độ, Trung Hoa) để hình thành nên các nhà nước cổ mang màu sắc Ấn hóa hay Hán hóa, thì các tộc người ở Tây Nguyên hầu như đứng ngoài dòng vận động của lịch sử chính thống, “miễn nhiễm” với ảnh hưởng của văn minh Ấn Độ và Trung Hoa Hệ quả, xã hội Tây Nguyên cổ truyền mang nhiều nét đặc trưng so với các khuôn mẫu thường gặp trong quá khứ Khác với loại hình làng ở đồng bằng và bản ở vùng cao phía

Bắc, trước thời thuộc địa, ở Tây Nguyên, làng là đơn vị xã hội cơ bản và duy nhất

Trong nhiều ngôn ngữ các dân tộc Tây Nguyên không có từ để chỉ đơn vị cao hơn làng Bon trong tiếng M’Nông, Buôn trong tiếng Ê Đê, Plei trong tiếng Ba Na, Gia Rai, đều có nghĩa là làng Trong quá khứ, một số tộc người ở Tây Nguyên có sử dụng từ T’ring để chỉ liên minh giữa một số làng Nhưng đấy chỉ là những liên minh được lập ra vì một nhu cầu an ninh nhất thời Khi nhu cầu không còn thì liên minh

ấy cũng tan rã, không tồn tại một hình thức lãnh thổ và tổ chức hành chính tương đương [47, tr.152] Theo Từ Chi, dù thuộc dân tộc nào, người Thượng đều sống thành từng làng độc lập hay tự trị Độc lập là không phụ thuộc vào làng khác, giữa các làng gần nhau chỉ có quan hệ giao hảo, hôn nhân, buôn bán , và nếu có mâu thuẫn không giải quyết được giữa họ với nhau, thì quan hệ chiến tranh, nhưng chỉ trong một thời gian nào đó Trong xã hội Tây Nguyên cổ truyền, làng không gắn với nước, như trong trường hợp xã hội Việt, để thành “làng nước”, mà làng là nước [8, tr.555] Georges Condominas cũng khẳng định: trước khi người Pháp đến, tổ chức

xã hội và chính trị của đa số các bộ lạc người Đông Dương nguyên thủy ở miền Trung Việt Nam chưa hề vượt ra khỏi khuôn khổ cái làng Trong các xã hội này -

Trang 31

nơi mà đơn vị chính trị rộng nhất không vượt quá khuôn khổ làng, nhưng lại ít dân, thì tổ chức xã hội chủ yếu dựa trên tổ chức gia đình đến mức hầu như hòa lẫn với tổ chức đó [9, tr.238-239]

Với người Tây Nguyên, làng quan trọng đến nỗi, ý thức về cộng đồng làng thậm chí còn đậm hơn ý thức về cộng đồng tộc người Mỗi người Tây Nguyên đều biết rõ mình là người Ê Đê hay người Ba Na, M’Nông, Xơ Đăng…, nhưng điều đó không quan trọng bằng việc biết rõ mình là người của một làng cụ thể, xác định nào Hình thức trừng phạt nặng nhất đối với một con người Tây Nguyên là bị đuổi

ra khỏi làng, tức bị khai trừ ra khỏi cộng đồng làng Trong trường hợp đó thường không làng nào khác nhận anh ta nữa, anh ta sẽ lang thang và chết vùi trong rừng Cũng có tục những người chết ở ngoài làng thì bị coi là “chết xấu”, không được chôn trong nghĩa địa của làng, không được nằm chung trong nghĩa địa với cộng đồng làng: làng còn lan sang đến cả thế giới bên kia [92, tr.140-141]

Trong một môi trường chính trị - xã hội đặc thù như vậy, buôn làng Tây Nguyên cổ truyền mang nhiều nét đặc trưng rõ rệt Các đặc điểm của làng Việt đồng bằng mà chúng tôi đã đề cập, trong một chừng mực nào đó, là “hóa thạch” của những đặc điểm đã từng tồn tại trong các làng Thượng Đến nay, các nhà nghiên cứu Tây Nguyên đều thống nhất về 4 đặc điểm cốt yếu của buôn làng cổ truyền Tây Nguyên:

- Thứ nhất, buôn làng Tây Nguyên là một cộng đồng cư trú, hay là một đơn

vị cộng cư thống nhất Tính cộng đồng cư trú được hình thành trên các mối liên hệ

về huyết thống, hôn nhân, cùng thành phần tộc người, cùng chung lợi ích kinh tế, văn hóa và cùng chia sẻ trách nhiệm

- Thứ hai, buôn làng là một cộng đồng về sở hữu lãnh thổ và lợi ích kinh tế Mỗi buôn làng đều có ranh giới đất đai khá rõ ràng, người buôn khác không được tự tiện đến khai thác đất đai trong phạm vi đất đai của buôn mình Đất làng chính là không gian sinh tồn của cộng đồng làng: các hoạt động của con người như làm nhà, làm rẫy, chăn nuôi, đánh cá, hái măng, hái rau, lấy mật ong và các dược liệu, cũng như đốn gỗ, cắt tranh, chặt nứa, tre đều diễn ra trong phạm vi đó Đại diện cho quyền sở hữu công đồng là người chủ buôn – có tên gọi khác nhau tùy theo mỗi tộc người: tơm plây (Ba Na), khoa buôn (Ê Đê), khoa lon (Gia Rai), quăng bon (Mạ) Quyền sở hữu của cộng đồng còn được thiêng hóa bởi vị thần Đất là người chủ tối

Trang 32

thượng đất đai của buôn làng, ai xâm phạm và làm ô uế đất đai sẽ bị thần linh trừng phạt Trong các buôn làng Tây Nguyên cổ truyền, chưa thấy xuất hiện hình thức tư hữu về đất đai và các nguồn tài nguyên, chưa có hiện tượng mua bán, chuyển nhượng các tư liệu sản xuất cơ bản Việc xâm canh, tranh giành đất đai rừng rú cũng hiếm khi xảy ra, và nếu có thì cũng được giải quyết theo luật tục [80, tr.46] Vậy là, trong xã hội Tây Nguyên cổ truyền, hình thức sở hữu chỉ dừng ở cấp độ buôn làng - một hình thức đơn giản, nhưng trực tiếp, cụ thể, thiết thực [80, tr.100]

- Thứ ba, buôn làng là một đơn vị tổ chức xã hội hoàn chỉnh, vận hành theo lối tự quản, thông qua vai trò của thiết chế hội đồng già làng và luật tục Trong thời Pháp thuộc, thiết chế này vẫn cơ bản được bảo lưu, mặc dầu từng làng không còn hoàn toàn độc lập hay tự trị như xưa nữa, mà bắt đầu bị chi phối bởi các cấp hành chính do người Pháp áp đặt lên trên làng [8, tr.557]

- Thứ tư, buôn làng là một cộng đồng tín ngưỡng, thể hiện qua các quan niệm, các nghi lễ, các cấm kị Đây là mối dây liên kết vô hình nhưng rất bền chặt, quy tụ con người hướng vọng về các lực lượng siêu nhiên có khả năng ban phúc, giáng họa cho con người trong mọi thời điểm của cuộc sống Nếu con người xúc phạm thần linh (yang) thông qua các hành động làm ô uế đất đai, vi phạm các nghi

lễ và phong tục đã tồn tại ngàn đời thì sẽ bị thần linh trừng phạt và ngược lại Mọi hoạt động nghi lễ của cộng đồng đối với đất đai, bến nước, rừng thiêng đều nhằm thực hiện chức năng giao tiếp với thế giới thần linh đó [80, tr.50-51]

Là một cộng đồng cư trú, một cộng đồng sở hữu, một cộng đồng tự quản, một cộng đồng tín ngưỡng, cho nên, buôn làng Tây Nguyên cũng là một cộng đồng văn hóa Có nhà nghiên cứu đã định danh bản chất của cộng đồng văn hóa buôn làng Tây Nguyên là “văn hóa rừng” hay văn hóa làng - rừng [34, tr.278] Bản chất “văn hóa rừng” của các buôn làng Tây Nguyên không chỉ thể hiện ở các khía cạnh hữu hình (kiến trúc, ngôn ngữ, các loại hình nghệ thuật diễn xướng, hệ thống lễ hội) mà còn thể hiện ở một “tâm thức rừng” hay một thứ “đạo đức của rừng” hết sức đặc biệt trong con người Tây Nguyên Từ Chi đã phân tích rất tinh

tế “tâm thức rừng” của các cộng đồng Thượng:

Là người trồng trọt tìm nguồn sống giữa vòng vây của núi rừng, họ [người Thượng] đã chủ động chọn một ứng xử hai mặt trước thiên

Trang 33

nhiên: vừa đối phó với môi trường hoang dã bao quanh; vừa thích ứng với nó Nói một cách khác, hòa mình vào thiên nhiên, để làm chủ thiên nhiên Thái độ sống mềm dẻo mà vẫn tích cực ấy đã in dấu lên từng khía cạnh của nếp sống Thượng

Đốt rừng để nuôi miệng, nhưng “luân canh” qua nhiều chặng đường trong vòng khép kín của địa vực làng Tóm lại, phá, vì còn cách nào khác khi kỹ thuật canh tác hiện đại chưa ra đời; nhưng, song song với phá, vẫn nuôi Ứng xử hai mặt đó là tiền đề trực tiếp của mối hòa đồng, của dòng thông quan sâu sắc giữa người Thượng và thiên nhiên hoang

dã bao quanh họ Nó không khỏi cầm chân con người lại trong thái độ chấp nhận thực tại do thiên nhiên đưa lại (thái độ “chờ đợi lượng trời”, theo cách nói của người miền xuôi thời trước) Nhưng nó cũng là một trong những đầu mối không thể thiếu của cách ứng xử trung thực có một không hai, mà đa số người Thượng không ngừng biểu lộ trong cuộc sống hàng ngày: trung thực với bản thân; trung thực với môi trường bao quanh mình, kể cả thiên nhiên và con người; trung thực với hành động mà mình đảm đương trước mọi con người ở quanh mình, trong mối quan hệ với thiên nhiên [8, tr.478]

Như vậy, xét trên tất cả các tiêu chí nhận diện (cộng đồng sở hữu lãnh thổ, cộng đồng dân cư, cộng đồng văn hóa với đặc trưng là văn hóa rừng), buôn làng

Tây Nguyên đã thực sự hiện hữu như một loại hình không gian văn hóa Khi sử

dụng khái niệm không gian văn hóa buôn làng, chúng tôi hàm chỉ một thực thể không gian đóng vai trò như là không gian sáng tạo, thực hành và nuôi dưỡng các giá trị văn hóa của cộng đồng buôn làng Mặt khác, cần nhấn mạnh thêm rằng, các

giá trị văn hóa của các tộc người ở Tây Nguyên (cái chung) được thể hiện trong không gian của từng làng (cái riêng), cho nên, không gian văn hóa buôn làng cũng còn có thể hiểu như là không gian văn hóa tộc người hay môi trường nuôi dưỡng, trao truyền các giá trị văn hóa tộc người Ví dụ, các giá trị văn hóa của dân tộc Ê Đê không hiện hữu trong một “không gian Ê Đê” chung chung, mơ hồ nào đó, mà tồn tại trong khuôn khổ không gian của các làng, từng làng cụ thể

Trang 34

1.2.2.2 Cấu trúc không gian buôn làng Tây Nguyên

Khi nghiên cứu không gian làng Việt, các tác giả trong - ngoài nước đã đưa

ra một số cách phân loại không gian Trong công trình tập thể Làng ở vùng châu thổ

sông Hồng: vấn đề còn bỏ ngỏ, khi bàn về cơ cấu không gian làng, nhà dân tộc học

Nguyễn Tùng đã chỉ ra 3 bộ phận trong tổng thể không gian làng: không gian hành chính, không gian cư trú và không gian sản xuất [52, tr 97-138] Một đồng sự khác của Nguyễn Tùng là Olivier Tessier lại nhấn mạnh vào không gian sản xuất và không gian cư trú và chỉ ra tình trạng đan xen, hòa lẫn vào nhau giữa hai bộ phận này [52, tr.140] Nghiên cứu sự chuyển đổi sinh kế của các làng ven đô Hà Nội, Nguyễn Văn Sửu nhận ra rằng bên trong hay bên trên cái mà chúng ta hình dung là không gian làng là nhiều loại hình không gian khác nhau: không gian cư trú, không gian kiến trúc, không gian xã hội, không gian thiêng, không gian canh tác sản xuất, không gian hành chính, không gian riêng, không gian chung Và việc phân loại, xác định những không gian ấy như thế nào là tùy thuộc vào mục đích của từng dự

án nghiên cứu [61, tr.51-52] Trong khi đó, trên cơ sở xem làng Việt như một không gian sinh thái - nhân văn, tác giả Nguyễn Công Thảo phân loại không gian làng Việt thành 4 bộ phận: (i) không gian sản xuất bao gồm: các xứ đồng, bãi chăn thả, đầm, hồ; (ii) không gian cư trú gồm xóm, ngõ, nhà cửa, vườn nhà; (iii) không gian sinh hoạt cộng đồng gồm sân đình, chợ, giếng làng, ao làng, các bãi đất công trong làng dùng làm nơi hội họp, tổ chức lễ hội, hay vui chơi; (iv) không gian tâm linh gồm đình, chùa, đền, miếu [119]

Tham khảo cách làm của các học giả tiền bối, đặc biệt, trên cơ sở tham vấn ý kiến của cộng đồng trong quá trình thực địa, chúng tôi xem không gian văn hóa buôn làng như một chỉnh thể không gian được cấu thành bởi 4 yếu tố:

- Không gian sản xuất: nơi cung cấp các nguồn lợi từ tự nhiên (đất, nước, hệ thực vật và động vật, khoáng sản .) mà con người có quyền tiếp cận, khai thác nhằm đáp ứng nhu cầu sinh tồn: đất để ở và để canh tác nông nghiệp; nguồn nước

để phục vụ sinh hoạt và sản xuất; rừng để khai thác thực phẩm (rau, củ, quả, thịt thú rừng) và các loại vật liệu quan trọng (gỗ, dược liệu); các bãi chăn thả để chăn nuôi súc vật Trong quá trình tương tác và thích nghi với không gian sản xuất, con người đã tích lũy tri thức về thế giới tự nhiên (tri thức bản địa) và định hình nên các

Trang 35

khuôn mẫu văn hóa: các qui định về tiếp cận, sở hữu, chuyển nhượng đất đai và các loại tài nguyên; hình thức canh tác nông nghiệp (lịch mùa vụ, công cụ sản xuất và kĩ thuật canh tác, cơ cấu cây trồng); hình thức tiêu dùng, phân phối và trao đổi sản phẩm Toàn bộ những kinh nghiệm ứng xử vừa nêu được Julian Steward (1902-

1972) - cha đẻ của thuyết sinh thái học văn hóa gọi là lõi văn hóa (cultural core) vì

chúng quyết định sự tồn tại của một cộng đồng Khái niệm “lõi văn hóa” của Julian

Steward rõ ràng đồng nghĩa với khái niệm văn hóa sản xuất - một khái niệm được

nhiều học giả Việt Nam sử dụng khi bàn đến cấu trúc và chức năng của văn hóa [98, tr.104-106] Theo Julian Steward, qua thời gian, văn hóa sản xuất của các cộng đồng

đã thay đổi để thích ứng với một môi trường sống Hơn thế, một khi đã thay đổi, văn hóa sản xuất sẽ tác động trở lại và làm thay đổi cách tư duy, lối sống, cách tổ chức xã hội của cộng đồng [120];

- Không gian cư trú: nơi ở của các hộ gia đình trong cộng đồng, nơi diễn ra toàn bộ đời sống dân sự thường nhật Nói đến không gian cư trú là nói đến phong cách kiến trúc (mô típ kiến trúc, vật liệu kiến trúc, cách sử dụng không gian kiến trúc, nghệ thuật trang trí), loại hình gia đình (hạt nhân hay mở rộng) và vô số nguyên tắc được đặt ra trong khung cảnh đời sống gia đình: hình thức thừa kế và phân chia tài sản, chức năng giới, hình thức lựa chọn đối tượng hôn nhân (đối tượng phối ngẫu) và

cư trú sau hôn nhân, hình thức hợp tác giữa các gia đình cùng huyết thống ;

- Không gian sinh hoạt cộng đồng: nơi diễn ra các sinh hoạt chung của cộng

đồng, trong đó đáng chú ý là nhà cộng đồng (communal house) và khu vui chơi, giải

trí Không gian sinh hoạt cộng đồng có chức năng thúc đẩy quá trình xã hội hóa cá nhân - giúp cá nhân nhập thân sâu hơn vào đời sống bên ngoài, nâng cao sự gắn kết

xã hội và duy trì tính liên tục văn hóa của cộng đồng thông qua các thực hành văn hóa được tổ chức trong một số sự kiện đặc biệt;

- Không gian sinh hoạt tín ngưỡng: nơi con người tổ chức các sinh hoạt tín ngưỡng để tạo nên sự giao tiếp giữa thế giới thực mà họ đang sống với một thế giới tuy mơ hồ nhưng được xem là có mối liên hệ mật thiết với thế giới của họ: thế giới tâm linh Đó là thế giới của các nhân vật siêu nhiên và của những người thân đã khuất Các quan niệm và sinh hoạt gắn liền với không gian tín ngưỡng có chức năng điều tiết hành vi của con người Đồng thời, nó cũng có vai trò duy trì và trao truyền các kĩ năng, các giá trị văn hóa giữa các thế hệ trong một cộng đồng Vì mỗi sự kiện

Trang 36

sinh hoạt tín ngưỡng, ngoài ý nghĩa tinh thần, còn là một cơ hội để các thành viên trong cộng đồng trình diễn những gì được cho là tốt đẹp nhất, tinh túy nhất trong vốn văn hóa của họ

Dĩ nhiên, mọi sự phân loại đều mang ý nghĩa tương đối Trong xã hội Tây Nguyên cổ truyền, sẽ hết sức khiên cưỡng nếu chúng ta cố tìm một đường biên rạch ròi giữa các bộ phận không gian của một làng Vì một không gian có thể đảm nhận nhiều chức năng khác nhau Chẳng hạn, một ngôi nhà dài Ê Đê truyền thống trước hết là nơi cư trú của tất cả các hộ gia đình trong đại gia đình mẫu hệ; nhưng bản thân ngôi nhà cũng được xem là một vật thiêng với những cấm kị chặt chẽ và trong gian phòng khách (gah) của nó, người ta thường xuyên tổ chức các lễ hiến sinh có sự tham gia của người trong nhà và người trong làng Tại thời điểm đó, ngôi nhà sàn dài vừa

là không gian tín ngưỡng vừa là không gian sinh hoạt cộng đồng Đó là chưa nói rằng, bản thân ngôi nhà lại là sản phẩm của không gian sản xuất (gỗ và các đồ dùng được lấy từ trong rừng về) Tuy nhiên, từ sau 1975 đến nay, sự phân biệt chức năng giữa các bộ phận trong không gian buôn làng ngày càng trở nên rõ rệt Dầu vậy, với bản chất tương tác qua lại giữa các bộ phận trong tổng thể không gian, trong quá trình phân tích, luận án sẽ cố gắng chỉ ra mối liên hệ hữu cơ giữa các bộ phận này Mặt khác, do không gian sản xuất đóng một vai trò cực kì trọng yếu trong tổng thể cấu trúc không gian buôn làng nên ở chương 2, chúng tôi sẽ chú trọng phân tích quá trình thay đổi của không gian sản xuất từ sau Giải phóng đến nay

Theo quan điểm của Radcliffe-Brown (1881-1955) - một nhà nhân học người Anh theo trường phái cấu trúc chức năng, sự liên kết chức năng giữa các thành tố trong cấu trúc không gian văn hóa buôn làng là cơ sở duy trì toàn bộ đời sống văn hóa của cộng đồng buôn làng [107] Khi sự liên kết này không còn diễn

ra thì cấu trúc không gian bị phá vỡ, đời sống của cộng đồng bị đảo lộn Để tái cân bằng đời sống, cộng đồng tất yếu phải đi tìm các thành tố mới và chấp nhận tồn tại trong một không gian mới đã trở nên xáo trộn so với không gian cũ Lúc này, sự

tương tác thường xuyên giữa các chủ thể cũ và mới đã mở đường cho quá trình tiếp

biến văn hóa trong một không gian sinh tồn vốn đã trở nên đa chủ thể, đa văn hóa

Theo các nhà nhân học văn hóa, tiếp biến văn hóa là một quá trình tiếp xúc văn hóa mang tính bất bình đẳng giữa hai xã hội, hai cộng đồng Trong tiếp biến

Trang 37

văn hóa, không loại trừ trường hợp hai chủ thể cùng “vay mượn” các quan niệm, khuôn mẫu văn hóa của chủ thể còn lại nhưng phổ biến hơn là “chủ thể yếu” tiếp nhận các giá trị văn hóa từ “chủ thể mạnh” Trong số những áp lực bên ngoài dẫn đến sự biến đổi văn hóa, hình thức phổ biến nhất là xâm lược hay thực dân hóa - tức

là “chủ thể mạnh” thông qua con đường vũ lực để tạo nên sự biến đổi văn hóa trong

xã hội của “chủ thể yếu” Ví dụ, trong lịch sử phát triển lãnh thổ của nước Mỹ, chính quyền liên bang đã rất nỗ lực để buộc các nhóm thổ dân chấp nhận văn hóa Mỹ Người thổ dân đã bị đẩy ra khỏi các vùng đất của tổ tiên và do đó, phải từ bỏ nhiều phong tục truyền thống Khi trẻ con của người da đỏ bị bắt buộc phải đến trường học

- nơi trực tiếp phổ biến các giá trị Mỹ, quá trình tiếp biến văn hóa (trong trường hợp này là đồng hóa văn hóa) sẽ diễn ra nhanh hơn nữa Tất nhiên, một xã hội “yếu thế” cũng có thể chủ động tiếp nhận văn hóa của xã hội mạnh hơn ngay cả khi họ không chịu áp lực từ bên ngoài Người ta gọi đó là kiểu tiếp biến tự nguyện, tự nhiên khi

“chủ thể yếu” nhận ra những giá trị thiết thực trong văn hóa của “chủ thể mạnh” và muốn vận dụng những giá trị ấy vào đời sống của chính họ [115] Điều này tất yếu tạo ra những biến chuyển sâu sắc trong lối sống của cộng đồng tiếp nhận

1.3 Cấu trúc không gian buôn làng Ê Đê truyền thống

1.3.1 Không gian cư trú

Người Ê Đê thường cư trú trên những địa thế tương đối bằng phẳng, cao ráo, đất đai màu mỡ, gần nguồn nước để phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt Quy mô của buôn phụ thuộc vào số lượng gia đình mẫu hệ sinh sống trong buôn Buôn nhỏ có ít nhất từ 20 đến hơn 40 ngôi nhà, buôn lớn khoảng từ 50 đến 100 ngôi nhà [50, tr.11]

Nhà truyền thống của người Ê Đê là một ngôi nhà dài (sang), với chiều dài

trung bình từ sáu mươi đến tám mươi mét nhưng cũng có thể đạt đến cả trăm mét hay hơn nữa, được xây dựng vững chắc trên các cột và được lợp bằng tranh Bao giờ nó cũng được định hướng theo trục Bắc - Nam, cửa chính nằm đầu nhà, không phân biệt hướng nam hay bắc [23, tr.153] Mỗi đầu nhà có một hàng hiên gọi là adring để đặt cầu thang lên xuống Cầu thang có thể là một thân gỗ đơn sơ, hoặc cầu thang rộng hơn được đẽo thành bậc, trên đầu cầu thang người ta chạm nổi hình ảnh bầu sữa mẹ, một đôi sừng trâu hoặc vành trăng khuyết - biểu tượng nói lên sự giàu

có và uy quyền của bà chủ nhà Khách và những người đàn ông lên nhà bằng cầu

Trang 38

thang trước Cầu thang cửa sau chỉ dành riêng cho phụ nữ và những người đàn ông trong gia đình, dòng họ Nam giới được xem là khách (tuê), vì vậy nam giới có mặt

ở gian khách nhiều hơn gian bếp, gian sau [50, tr.34]

Dù dài bao nhiêu, nhà sàn Ê Đê luôn có hai bộ phận: phòng chung (gah) và các phòng riêng (ôk) Trong chiều dài của ngôi nhà, phòng chung chiếm vị trí rất

quan trọng Nó gồm có ba gian được định ranh giới bằng hai đôi cột mà ở các nhà

giàu (mdrõng) có thể được trang hoàng bằng các hoa văn điêu khắc, có mô típ chính

là sừng trâu, tắc kè, rùa, kèm theo các hoa văn được cách điệu hay hình học Dưới

chân cột phía Đông của cặp cột thứ nhất là bếp lò chung (kpur), hầu như lúc nào

cũng cháy dù là vào mùa nóng Hai bên cột là hai tấm phản mà việc chế tạo và bày biện là dịp người chủ nhà phải tiến hành một lễ hiến sinh quan trọng, kèm theo nhiều điều kiêng kị Ban ngày đàn ông trong nhà nghỉ ngơi ở đấy và khách qua đường ngủ ở đấy Phía Tây, dọc suốt chiều vách bằng tre đan, là chiếc ghế dài

(kpan) - chỗ ngồi của dàn cồng chiêng Đôi khi còn có thêm chiếc ghế thứ hai được đẽo từ một khối gỗ nguyên, nhỏ và thấp hơn kpan, được gọi là kpan khơk Dưới

kpan người ta xếp các nồi đồng lớn và cồng chiêng, là những của cải có giá trị nhất trong nhà Việc chế tạo các ghế dài cũng như phản đòi hỏi những lễ hiến sinh lớn và tốn kém, nên không phải nhà nào cũng có Chúng không chỉ là những đồ gỗ đơn thuần, mà còn chứng tỏ rằng chủ nhà đã đạt tới một mức độ nhất định trong đẳng cấp xã hội [50, tr.155-156] Riêng căn phòng chung trong ngôi nhà của người chủ

làng còn mang một chức năng khác: nhà cộng đồng Nó đảm nhận tất cả các chức

năng mà một ngôi nhà rông đảm nhận trong làng Ba Na hay Xơ Đăng Cũng như trong ngôi nhà rông ở làng Ba Na hay Xơ Đăng, trong căn phòng chung ở nhà Ê Đê diễn ra toàn bộ đời sống cộng đồng của làng Nó đại diện cho tinh thần cộng đồng

và gắn bó đến tận máu thịt với cuộc sống của mỗi người Ê Đê

Các căn buồng riêng là phần nối dài của phòng chung, chỗ ngăn cách với phòng này bằng một bức vách tre mở ra một hành lang rộng, trổ ra hành lang này là các ngăn của từng gia đình nằm ở phía đông của hành lang, số lượng của chúng tăng

từ một đến một tá tùy theo nhu cầu và mức độ tăng sinh của người trong nhà Trong chiều dài của ngôi nhà, ngăn gia đình chiếm một gian, nghĩa là khoảng không gian

Trang 39

giữa hai đôi cột cái, khoảng ba đến năm mét, được ngăn cách bởi hai vách tre Mỗi ngăn là khoảng không gian riêng tư của các hộ gia đình nhỏ [23, tr.158]

Nhà sàn dài là nơi ở của một gia đình mẫu hệ mở rộng, gồm nhiều gia đình nhỏ và mỗi hộ gia đình sinh hoạt trong một ngăn buồng của ngôi nhà Mỗi ngăn buồng có một cặp vợ chồng và con cái của họ Chủ nhà (pô sang) là người đàn bà cao tuổi nhất (ana gõ), thường là người chị cả, chịu trách nhiệm quản lí, trông nom các công việc trong nội bộ ngôi nhà Còn chồng của bà ta thì lo các công việc ngoài phạm

vi ngôi nhà [34, tr.22] Dù quy mô của các đại gia đình mẫu hệ có khác nhau thế nào

đi chăng nữa thì người chị cả trong số những người phụ nữ ở đây đóng vai trò người

mẹ và nếu người chị cả là một bà góa đã già thì thông thường người con gái cả của bà thay mặt bà giữ quyền người mẹ, vẫn không quên tham khảo ý kiến bà trong những quyết định quan trọng, như việc chia gia tài hay chia của hồi môn [23, tr.285] Một vai trò quan trọng khác của ana gõ là quản lí phần gia sản mà tổ tiên để lại Gia sản gồm những của cải có giá trị lâu dài (chum ché, cồng chiêng cổ, nồi đồng), các động sản (ghế dài, ván phản) và các vật dụng dùng cho việc cúng bái Những thứ này vốn được thừa hưởng từ ông bà, được truyền một cách toàn vẹn và tự động từ người con gái của thế hệ trên cho người con gái cả của bà ta vẫn còn ở lại trong nhà, được xem

là bất khả chuyển nhượng Luật tục Ê Đê xác định rất rõ tính chất thiêng liêng và bất khả chuyển nhượng của gia sản:

Các chén mang hình tổ chim ưng, các thau đồng mang dáng tổ kên kên, tài sản của tổ tiên,

Các tài sản cổ, các trang sức cổ, tài sản ngày xưa, trang sức của tổ tiên, Phải được sử dụng chung tất cả

Phải giúp đậy kín (cái hố để ché), đậy nó lại bằng những khúc gỗ tròn, mọi người phải cùng nhau giúp canh giữ và chăm sóc nó

Trang 40

Các ché màu đỏ rất đắt giá, các ché Mơ Nông quý giá, các vòng đeo tay, chén bát, bạc, vàng, của cải của tổ tiên giàu, chính người chị cả phải giữ gìn chúng

Áo khoác đen, áo khoác đỏ, áo khoác thêu vàng, áo khoác dệt hoa, các vật dụng được dùng cho hội hè cuối năm, chiêng lồi và chiêng phẳng, voi và nô lệ, bò và trâu, lợn và gà, chính người chị cả phải giữ gìn chúng [23, tr.280-281]

Trong cấu trúc thân tộc của người Ê Đê, ngoài ana gõ, một thành phần quan trọng khác không thể không nhắc đến là dăm dei Chức danh dăm dei (tạm dịch là ông cậu) chỉ những người đàn ông là anh/em trai ruột hoặc anh/em trai họ của mẹ Khi dăm dei đã lập gia đình và đã về ở bên nhà vợ thì vai trò lại càng quan trọng trong gia đình nhà mẹ đẻ Ở đó, dăm dei đảm nhận nhiều vai trò: đứng ra giải quyết mâu thuẫn phát sinh giữa các thành viên trong nhà hoặc giữa người trong nhà với người ngoài, đại diện cho gia đình của chị em/gái đi hỏi chồng cho con gái của họ Người Ê Đê xem dăm dei như là chỗ dựa của gia đình, dòng họ Nếu gia đình, dòng họ nào không có dăm dei sẽ cảm thấy lẻ loi, cô đơn, không nơi nương tựa

1.3.2 Không gian sản xuất

Không gian sản xuất của một buôn Ê Đê thường rộng hơn khu cư trú nhiều lần, gồm rừng tự nhiên, rẫy (rừng tự nhiên đã được khai hoang để trồng trọt) và các sông suối, đầm lầy Theo Anne De Hautecloque-howe, người Ê Đê biểu đạt toàn bộ những gì thuộc về không gian sản xuất của họ qua một khái niệm đa nghĩa: đất đai (lăn) Cũng có khi người ta gọi nó là đất làng hay đất của buôn, làng Với họ, đất đai

là nguồn gốc của mọi thực phẩm, là cơ sở của đời sống tín ngưỡng và các quan niệm sống Trong cách diễn đạt của người Ê Đê, đất đai “là cái nia tròn khum khum, cái nia nhọn, cái lưng của tổ tiên”, biểu hiện của cái khung cảnh bất biến trong đó tổ tiên đã từng sống, cũng đã từng nuôi sống họ và nó là yếu tố thường trực và chung cho tất cả các thế hệ nối tiếp [23, tr.78] Đất của làng “đã là như vậy từ muôn đời tổ tiên truyền lại”, đã được “Yang (thần) giao cho từng làng”, có ranh giới rõ rệt [47, tr.155] Ranh giới đất đai giữa các làng thường dựa vào đặc điểm và điều kiện tự nhiên như khe suối, sông núi, gốc cây, tảng đá Điều quan trọng là mọi thành viên trong làng được nhắc nhở thường xuyên về ranh giới ấy và có ý thức bảo vệ đất đai

Ngày đăng: 20/03/2017, 04:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Duy Bắc (Cb) (2008), Sự biến đổi các giá trị văn hóa trong bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay, Nxb Từ điển Bách khoa - Viện Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự biến đổi các giá trị văn hóa trong bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Duy Bắc (Cb)
Nhà XB: Nxb Từ điển Bách khoa - Viện Văn hóa
Năm: 2008
2. Nguyễn Chí Bền (2006), Góp phần nghiên cứu văn hóa dân gian Việt Nam, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nghiên cứu văn hóa dân gian Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Chí Bền
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 2006
3. Trương Bi - Bùi Minh Vũ (2009), Bảo tồn, phát huy di sản văn hóa các tộc người Ê Đê, M’nông, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn, phát huy di sản văn hóa các tộc người Ê Đê, M’nông
Tác giả: Trương Bi - Bùi Minh Vũ
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 2009
4. Trương Bi (2010), Nghi lễ - lễ hội Ê Đê, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghi lễ - lễ hội Ê Đê
Tác giả: Trương Bi
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 2010
5. Trương Bi (2011), Văn học dân gian Ê Đê, M’Nông, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gian Ê Đê, M’Nông
Tác giả: Trương Bi
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 2011
6. Trần Văn Bính (Cb) (2004), Văn hóa các dân tộc Tây Nguyên: thực trạng và những vấn đề đặt ra, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa các dân tộc Tây Nguyên: thực trạng và những vấn đề đặt ra
Tác giả: Trần Văn Bính (Cb)
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2004
7. Nguyễn Thị Phương Châm (2009), Biến đổi văn hóa ở các làng quê hiện nay, Nxb Văn hóa - thông tin & Viện Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến đổi văn hóa ở các làng quê hiện nay
Tác giả: Nguyễn Thị Phương Châm
Nhà XB: Nxb Văn hóa - thông tin & Viện Văn hóa
Năm: 2009
8. Nguyễn Từ Chi (2003), Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc người, Nxb Văn hóa dân tộc & Tạp chí Văn hóa - Nghệ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc người
Tác giả: Nguyễn Từ Chi
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc & Tạp chí Văn hóa - Nghệ thuật
Năm: 2003
9. G. Condominas (1998), Không gian xã hội vùng Đông Nam Á (bản tiếng Việt), Nxb Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Không gian xã hội vùng Đông Nam Á
Tác giả: G. Condominas
Nhà XB: Nxb Văn hóa
Năm: 1998
10. G. Condominas (2008), Chúng tôi ăn rừng (bản tiếng Việt), Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chúng tôi ăn rừng
Tác giả: G. Condominas
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2008
11. Nguyễn Văn Kự, Lưu Hùng (2007), Nhà rông Tây Nguyên, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà rông Tây Nguyên
Tác giả: Nguyễn Văn Kự, Lưu Hùng
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2007
12. Ngô Văn Doanh (1995), Lễ hội bỏ mả (Pơthi) các dân tộc Bắc Tây Nguyên: Dân tộc Gia Rai - Ba Na, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội bỏ mả (Pơthi) các dân tộc Bắc Tây Nguyên: "Dân tộc Gia Rai - Ba Na
Tác giả: Ngô Văn Doanh
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 1995
13. Piere Dourisboure (2008), Dân làng Hồ, Nxb Đà Nẵng (Tòa Giám mục Kon Tum tổ chức biên dịch), Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân làng Hồ
Tác giả: Piere Dourisboure
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng (Tòa Giám mục Kon Tum tổ chức biên dịch)
Năm: 2008
14. Jacques Dournes (2002), Rừng, đàn bà, điên loạn – Đi qua miền mơ tưởng Gia Rai (Nguyên Ngọc dịch), Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rừng, đàn bà, điên loạn – Đi qua miền mơ tưởng Gia Rai
Tác giả: Jacques Dournes
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2002
15. Jacque Dournes (2003), Miền đất huyền ảo (Các dân tộc miền núi Nam Đông Dương) (Nguyên Ngọc dịch), Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Miền đất huyền ảo (Các dân tộc miền núi Nam Đông Dương)
Tác giả: Jacque Dournes
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2003
16. Jacques Dournes (2013), Pửtao, Một lớ thuyết quyền lực ở người Gia Rai Đụng Dương (Nguyên Ngọc dịch), Nxb Tri thức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pửtao, Một lớ thuyết quyền lực ở người Gia Rai Đụng Dương
Tác giả: Jacques Dournes
Nhà XB: Nxb Tri thức
Năm: 2013
17. Bùi Minh Đạo (2010), Tổ chức và hoạt động buôn làng trong phát triển bền vững vùng Tây Nguyên, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức và hoạt động buôn làng trong phát triển bền vững vùng Tây Nguyên
Tác giả: Bùi Minh Đạo
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 2010
18. Nguyễn Tấn Đắc (2005), Văn hóa, xã hội và con người Tây Nguyên, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa, xã hội và con người Tây Nguyên
Tác giả: Nguyễn Tấn Đắc
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 2005
19. Bế Viết Đẳng (Cb) (1982), Đại cương các dân tộc Êđê, M’Nông ở Đắk Lắk, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương các dân tộc Êđê, M’Nông ở Đắk Lắk
Tác giả: Bế Viết Đẳng (Cb)
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1982
20. Andrew Hardy (2013), Nhà nhân học chân trần: nghe và đọc Jacques Dournes, Nxb Tri thức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà nhân học chân trần: nghe và đọc Jacques Dournes
Tác giả: Andrew Hardy
Nhà XB: Nxb Tri thức
Năm: 2013

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.5. Thách thức trong sản xuất nông nghiệp ở các điểm điều tra - Biến đổi không gian văn hóa buôn làng Ê Đê ở Buôn Ma Thuột từ sau 1975 đến nay
Bảng 2.5. Thách thức trong sản xuất nông nghiệp ở các điểm điều tra (Trang 66)
Bảng 2.6. Cơ cấu thu nhập của buôn Alê A - Biến đổi không gian văn hóa buôn làng Ê Đê ở Buôn Ma Thuột từ sau 1975 đến nay
Bảng 2.6. Cơ cấu thu nhập của buôn Alê A (Trang 67)
Bảng 2.5. Tỷ lệ hộ nghèo ở các điểm nghiên cứu - Biến đổi không gian văn hóa buôn làng Ê Đê ở Buôn Ma Thuột từ sau 1975 đến nay
Bảng 2.5. Tỷ lệ hộ nghèo ở các điểm nghiên cứu (Trang 69)
Bảng 2.9. Cơ cấu nhà ở của buôn Ako Dhông - Biến đổi không gian văn hóa buôn làng Ê Đê ở Buôn Ma Thuột từ sau 1975 đến nay
Bảng 2.9. Cơ cấu nhà ở của buôn Ako Dhông (Trang 79)
Bảng 2.10. Cơ cấu dân tộc ở buôn Alê A - Biến đổi không gian văn hóa buôn làng Ê Đê ở Buôn Ma Thuột từ sau 1975 đến nay
Bảng 2.10. Cơ cấu dân tộc ở buôn Alê A (Trang 80)
Bảng 2.13. Những nét mới của người Ê Đê khi cộng cư với người Kinh - Biến đổi không gian văn hóa buôn làng Ê Đê ở Buôn Ma Thuột từ sau 1975 đến nay
Bảng 2.13. Những nét mới của người Ê Đê khi cộng cư với người Kinh (Trang 85)
Bảng 2.14. Những hạn chế của giới trẻ ở các điểm nghiên cứu - Biến đổi không gian văn hóa buôn làng Ê Đê ở Buôn Ma Thuột từ sau 1975 đến nay
Bảng 2.14. Những hạn chế của giới trẻ ở các điểm nghiên cứu (Trang 94)
Bảng 3.3. Vai trò của bến nước và rừng cộng đồng - Biến đổi không gian văn hóa buôn làng Ê Đê ở Buôn Ma Thuột từ sau 1975 đến nay
Bảng 3.3. Vai trò của bến nước và rừng cộng đồng (Trang 120)
Bảng 3.4. Thực trạng sinh hoạt văn hóa truyền thống ở Ea Bông, Ako Dhông  Hoạt động - Biến đổi không gian văn hóa buôn làng Ê Đê ở Buôn Ma Thuột từ sau 1975 đến nay
Bảng 3.4. Thực trạng sinh hoạt văn hóa truyền thống ở Ea Bông, Ako Dhông Hoạt động (Trang 121)
BẢNG MÃ CHO MỤC I. THÔNG TIN VỀ HỘ GIA ĐÌNH - Biến đổi không gian văn hóa buôn làng Ê Đê ở Buôn Ma Thuột từ sau 1975 đến nay
BẢNG MÃ CHO MỤC I. THÔNG TIN VỀ HỘ GIA ĐÌNH (Trang 163)
Bảng mã của IV.12.a:   Thường xuyên   □ - Biến đổi không gian văn hóa buôn làng Ê Đê ở Buôn Ma Thuột từ sau 1975 đến nay
Bảng m ã của IV.12.a: Thường xuyên □ (Trang 168)
Bảng mã của IV.11.b:   Không   □ - Biến đổi không gian văn hóa buôn làng Ê Đê ở Buôn Ma Thuột từ sau 1975 đến nay
Bảng m ã của IV.11.b: Không □ (Trang 168)
Bảng mã cho V.2.a: Có  □;  Bảng mã cho V.2.b:  Không   □ - Biến đổi không gian văn hóa buôn làng Ê Đê ở Buôn Ma Thuột từ sau 1975 đến nay
Bảng m ã cho V.2.a: Có □; Bảng mã cho V.2.b: Không □ (Trang 169)
Bảng mã cho V.1.a: Có □;    Bảng mã cho V.1.b:  Không  □ - Biến đổi không gian văn hóa buôn làng Ê Đê ở Buôn Ma Thuột từ sau 1975 đến nay
Bảng m ã cho V.1.a: Có □; Bảng mã cho V.1.b: Không □ (Trang 169)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w