1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Thực trạng thú y trong chăn nuôi dê nông hộ ở xã Lộc Điền, huyện Phú Lộc, tỉnh TT-Huế”

59 527 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 1,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển đi lên của các nghành công nghiệp, dịch vụ, nghành nông nghiệp cũng có những bước phát triển đáng kể chiếm phần

Trang 1

PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển đi lên của các nghành công nghiệp, dịch vụ, nghành nông nghiệp cũng có những bước phát triển đáng kể

chiếm phần lớn trong kinh ngạch xuất khẩu của nước ta trong đó chăn nuôi đóng một vai trò hết sức quan trọng trong đời sống người nông dân Việt Nam

Trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp hiện nay, chăn nuôi giữ vị trí và vai trò quan trọng, góp phần thúc đẩy mạnh mẽ chuyển dịch cơ cấu nội bộ nghành nông nghiệp nói riêng và cơ cấu quốc gia nói chung, sản phẩm chăn nuôi vẫn là một trong những sản phẩm không thể thay thế trong nhu cầu lương thực, thực phẩm của con người

Với qui mô dân số 88,78 triệu dân hiện nay [11] Việt Nam vẫn là thị trường tiêu thụ rộng lớn cho nghành chăn nuôi nhằm đáp ứng nhu cầu lương thực, thực phẩm trong nước.Tuy nhiên do đặc điểm sản xuất của ngành chăn nuôi phụ thuộc sâu sắc vào điều kiện tự nhiên, nhu cầu tiêu dùng và những biến đổi của thị trường nên sự phát triển và phân bố của nghành này không ổn định

Ở nhiều nước nhiệt đới và bán nhiệt đới dê là một loài vật nuôi có vai trò quan trọng trong nghành chăn nuôi.chăn nuôi dê cung cấp nhiều loại sản phẩm phục vụ nhu cầu con người như: Thịt, sữa, lông, da, sừng, móng cung cấp nguồn phân bón khá lớn phục vụ sản xuất nông nghiệp

Đã từ lâu dê được coi là bạn của người nghèo là con bò sữa của người nghèo vì dê

có nhiều tính ưu việt nuôi dê mang lại nhiều lợi ích cho gia đình Vì: Dê có khả năng thích nghi cao với điều kiện tự nhiên khác nhau

Trang 2

Là loài động vật thông minh khá thuần tính, dễ nuôi, sạch sẽ Nó thích hợp với chăn nuôi hộ gia đình, tận dụng được nguồn lao động là phụ nữ, người già và trẻ

em

Đòi hỏi lượng thức ăn ít hơn trâu bò: Nhu cầu thức ăn của 10 con dê thịt tương đương với 1 con bò thịt và 7,8 con dê sữa tương đương với 1 con bò sữa [4] Có thể nuôi dê bằng cách chăn thả tự nhiên

Dê là loài động vật ăn cỏ nhỏ yêu cầu vốn đầu tư ban đầu ít hơn trâu bò nhưng lại

có khả năng tăng đàn nhanh hơn trâu bò, chu kỳ sản xuất ngắn nhanh cho sản phẩm

vì vậy có khả năng cho ra sản phẩm thịt sữa nhanh hơn trâu bò.Hơn nữa chăn nuôi

dê thương ít gặp rủi ro hơn chăn nuôi các loài động vật khác Vì vậy đối với nông dân dê còn được coi là sự bảo hiểm đồng vốn cho họ khi có những khó khăn rủi ro xảy ra

Về mặt xã hội, có thể nói dê là một đối tượng vật nuôi được sử dụng nhiều trong các chương trình xóa đói giảm nghèo, tạo việc làm cho người nông dân ở vùng sâu, vùng xa

Xã Lộc Điền là một xã thuần nông nên điều kiện kinh tế vẫn gặp nhiều khó khăn,thu nhập bình quân đầu người ở mức thấp, chăn nuôi nói chung và chăn nuôi dê nói riêng vẫn còn đang đứng trước những khó khăn thách thức lớn đó là do người dân nuôi dê theo phương thức quảng canh, chủ yếu tận dụng nguồn cỏ tự nhiên và phụ phẩm nông nghiệp, đặc biệt là thiếu các tài liệu liên quan đến phòng và trị bệnh cho dê đã là một cản trở lớn cho việc chăn dê thành công Hơn nữa điều kiện thời tiết khí hậu nóng ẩm của khu vực miền trung, nhất là những hình thái khí hậu cực đoan như nắng nóng kéo dài đã tạo điều kiện cho mầm bệnh phát triển và lây lan trong đàn gây thiệt hại về kinh tế cho người dân Để hiểu biết được hiện trạng thú y trong

chăn nuôi dê nông hộ chúng tôi đặt vấn đề nghiên cứu đề tài: “Thực trạng thú y trong chăn nuôi dê nông hộ ở xã Lộc Điền, huyện Phú Lộc, tỉnh TT-Huế”

Đồng thời có được những cơ sở thực tiễn trong việc đề xuất các giải pháp thú y

Trang 3

giúp người dân chăn hiệu quả hơn

1.2 Mục tiêu, ý nghĩa của đề tài

1.2.1 Mục tiêu:

- Tìm hiểu hiện trạng chăn nuôi dê nông hộ trên địa bàn nghiên cứu

- Tìm hiểu một số bệnh thường gặp trong chăn nuôi dê và các biện pháp phòng tránh

- Đưa ra các giải pháp nhằm hạn chế thiệt hại về dịch bệnh cho bà con trong chăn nuôi dê

1.2.2.Ý nghĩa:

- Xác định được một số bệnh thường gặp trong nuôi dê

- Đưa ra các giải pháp phòng và trị bệnh đơn giản, hiệu quả

Trang 4

PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1 Cơ sở lý luận:

2.1.1 Nguồn gốc và sự phân bố của dê

2.1.1.1 Nguồn gốc loài dê

Dê thuộc loài gia súc nhai lại nhỏ, có tên khoa học là Capra, họ sừng rỗng (Bovidae), họ phụ dê cừu (Capra rovanae), bộ phụ nhai lại (Ruminantia), bộ guốc chẵn (Artiodactita), lớp có vú (Manmalian) Cùng họ phụ dê cừu nhưng dê khác hẳn cừu, dê có 60 nhiễm sắc thể, cừu chỉ có 54 nhiễm sắc thể

Các giống dê nhà hiện nay đều có nguồn gốc từ dê rừng (Capra Aegagrus)

và bắt nguồn từ Châu Á Dê rừng trên thế giới được chia làm 3 nhóm là Bezoar (Capra Aegagrus) có sừng hình xoắn, Ibex (Capra Ibex) có sừng bình thường và Makhor (Capra Falconeri) sừng quặn về phía sau

2.1.1.2 Sự phân bố

Dê được loài người thuần hóa sớm nhất, vào khoảng thiên niên kỷ thứ 7 - 9 trước công nguyên tại Tây Á Các nước Trung Đông, Ấn Độ là những trung tâm nuôi cổ nhất rồi tới Ai Cập, sau đó đến các nước phương Tây Trung tâm Đông Nam Á là mới nhất, bắt đầu nuôi dê từ thời đồ đồng

Dê rừng phân bố rộng ở vùng núi và bán sơn địa Phạm vi phân bố tự nhiên của nhóm Bezoar ở vùng Tây Á, nhóm Ibex vùng Tây Á, Đông Châu Phi và Châu

Âu còn nhóm Markhor phân bố ở Afghanistan và vùng Kashimir – Karakorum Trước kia các nước Trung Đông là trung tâm nuôi dê sớm nhất, sau đó đến Ấn Độ

và Ai Cập, rồi một số nước ở phương Tây và Châu Á Còn ngày nay các nước Đông Nam Á chính là trung tâm mới về việc nuôi dê và khai thác các sản phẩm từ

dê Hiện trên thế giới có khoảng 210 giống dê với tổng đàn khoảng 480 triệu con Giống dê Việt nam chưa rõ nguồn gốc ở đâu, chưa định được tên phân loại nhưng

có thể chia thành 3 nhóm dê chính là dê địa phương (dê Cỏ), dê lai, dê Bách thảo

Trang 5

2.1.2 Tình hình chăn nuôi dê thế giới và Việt Nam

2.1.2.1 Tình hình chăn nuôi dê trên thế giới

Dê vốn được coi là ngân hàng của người nghèo, là hướng đi khả quan cho những vùng quê khó khăn và giá trị kinh tế của con dê ngày một tăng Do đó trong những năm năm qua số lượng đàn dê liên tục tăng trên thế giới

Theo số liệu thống kê của Tổ chức Lương thực thế giới FAO (2013), số lượng đầu dê một số năm gần đây được nêu trong bảng 2.1

Bảng 2.1 Số lượng dê trên Thế giới và các Châu lục từ năm 2007 - 2011

( Đơn vị: con)

Năm

Thế giới 855,081,570 877,091,135 899,082,571 909,847,240 875,530,184 Châu Á 502,192,828 516,924,635 533,714,356 537,766,000 539,178,357

Châu Phi 294,350,868 301,221,954 306,460,875 312,447,616 276,684,030

Châu Mỹ 37,356,084 37,507,527 37,489,485 37,595,009 37,678,479 Châu Âu 17,749,699 17,818,678 16,512,416 17,115,224 17,072,238

Châu Đại Dương 3,432,091 3,618,341 4,905,439 4,923,391 4,917,080

Nguồn: FAO (2013)

Như vậy theo thống kê của FAO có thể thấy rằng tổng dàn dê liên tục tăng trong những năm qua nếu vào năm 2007 trên toàn thế giới có 855,081,570 con thì đến năm 2010 đạt 909,847,240 con, tuy nhiên đến năm 2011 đã giảm xuống còn 875,530,184 con, nhưng vẫn chiếm tỉ lệ cao Trong đó đàn dê tập trung chủ yếu ở các nước đang phát triển, Châu Á, Châu Phi và được chăn nuôi chủ yếu với quy

mô nhỏ ở hộ gia đình ở những vùng quê nghèo

Trong đó Châu Á với số lượng dê lớn nhất với 539,178,357 con (chiếm 61,6% tổng đàn dê thế giới) Tiếp theo là Châu Phi với 276,684,030 con (chiếm 31,6% tổng đàn dê ) Thấp nhất là Châu Đại Dương với 4,917,080 con (chiếm 0,56% tổng đàn dê)

Dẫn đầu những nước nuôi dê với số lượng lớn là Ấn Độ, Trung Quốc,

Trang 6

Pakistan Đến năm 2011, đứng đầu là Ấn Độ (157 triệu con), sau đó đến Trung Quốc (142,2 triệu con) Các nước đang phát triển chăn nuôi dê chủ yếu ở khu vực gia đình với quy mô nhỏ và tập trung ở các vùng khô cằn, nông dân nghèo Còn đối với những nước phát triển tuy số lượng ít hơn nhưng người ta nuôi theo phương thức thâm canh chủ yếu để lấy sữa tạo ra các sản phẩm có giá trị cao như phomat, sữa dê

Thống kê của FAO (2013) cho thấy trong năm 2011, sản lượng thịt các loại của toàn thế giới đạt 297,221,758 tấn Trong đó, sản lượng thịt dê đạt 5,114,494 tấn (chiếm 1,72% tổng sản lượng) Với số lượng dê nhiều nhất thế giới nên sản lượng thịt tập trung chủ yếu ở các nước châu Á (3,693,482 tấn - chiếm 72,2% tổng sản lượng thịt dê) Quốc gia cung cấp lượng thịt dê nhiều nhất vẫn là Trung Quốc (1,889,612 tấn) sau đó là Ấn Độ (596,600tấn)

Nguồn: FAO 2013

Đồ thị 2.1 Sản lượng thịt dê giai đoạn 2009-2011

Cũng theo thống kê của FAO 2013, năm 2011 toàn thế giới đạt 727,052,012 tấn sản lượng sữa Và sản lượng sữa dê toàn thế giới đạt 15,855,612 tấn (chiếm 2,18%) Sữa dê chủ yếu do các nước đang phát triển sản xuất Phần lớn lượng sữa này là các nước châu Á cung cấp (10,021,163tấn - chiếm 63,2% tổng sản lượng) Trong đó đứng đầu là Ấn Độ (4,594,000tấn), Bangladesh (2,496,000tấn), Pakistan (759,000tấn)

Trang 7

Nguồn: FAO 2013

Đồ thị 2.2 Sản lượng sữa dê giai đoạn 2009-2011

Sản lượng thịt, sữa tuy có sự tăng giảm qua các năm nhưng nhìn chung vẫn chưa khai thác hết tiềm năng của ngành, việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi dê vẫn còn hạn chế đặc biệt là ở các nước các châu Á, châu Phi nên chất

lượng thịt, sữa chưa thật sự cao và đáp ứng đúng với nhu cầu của xã hội

Bảng 2.2 Sản lượng thịt, sữa dê trên thế giới và các khu vực giai đoạn 2009-2011

(Đơn vị tính: tấn)

Thế giới 5,095,177 16,416,660 5,217,339 17,279,077 5,114,494 15,855,612 Châu Á 3,582,446 9,424,194 3,675,973 9,904,717 3,693,482 10,021,163 Châu Phi 1,230,104 3,850,320 1,252,923 4,070,696 1,133,523 2,578,608 Châu Mỹ 128,119 564,677 128,772 588,748 129,239 590,458 Châu Âu 127,848 2,577,427 132,989 2,714,874 131,588 2,665,341

( Nguồn: FAO 2013) Nên cùng với sự đi lên của ngành nuôi dê và tận dụng kinh nghiệm chăn

Trang 8

nuôi dê của các nước khác nhau đồng thời hội tụ các nhà khoa học cùng tham gia nghiên cứu và trao đổi, học tập kinh nghiệm lẫn nhau, đẩy mạnh phát triển chăn nuôi dê trên toàn thế giới, Hội chăn nuôi dê thế giới đã được thành lập từ năm 1976 (International goat association) và cứ 4 năm họp một lần

2.1.2.2 Tình hình phát triển chăn nuôi dê ở Việt Nam

Bảng 2.3 Tổng đàn dê, cừu từ năm 2007 – 2011

Đơn vị tính: 1000 con Năm 2007 2008 2009 2010 2011(sơ bộ)

Nguồn: Tổng cục thống kê GSO (2013)

Do có sự hỗ trợ của nhà nước cũng như người dân tiếp cận được với những tiến bộ khoa học trong việc chăn nuôi dê nên số lượng đàn dê có xu hướng tăng nhanh trong giai đoạn 2001–2007 Và trong giai đoạn tăng lên về số lượng từ 2001-2009 thì tốc độ tăng trưởng hàng năm đạt 21,59% tăng 3,11 lần so với năm

2001 [11] Đồng thời theo thống kê mới nhất của Tổng cục thống kê GSO 2013 được nêu ở bảng 2.3 ta thấy vào năm 2007, cả nước có 1777,7000 con thì đến năm

2011 tổng đàn dê cừu nước ta chỉ còn 1267,8000 con Tuy có sự sụt giảm về số lượng nhưng vẫn ở mức cao Trong đó số lượng đàn dê chiếm đa số so với cừu

Bảng 2.4 Phân bố đàn dê theo vùng sinh thái

Tây Nguyên

Đông Nam Bộ ĐBSCL Cả

nước

2009 545,96 573,00 249,45 104,95 302,26 127,53 1375,10

Nguồn: Cục Chăn nuôi năm 2011

Do sự khác nhau về điều kiện tự nhiên cũng như thời tiết nên có sự phân bố không đồng đều đàn dê giữa các vùng sinh thái khác nhau ở nước ta (biểu đồ 2.1)

Trang 9

Với điều kiện tự nhiên thích hợp bãi chăn thả rộng nên đàn dê được phát triển mạnh ở khu vực các tỉnh Đông Nam Bộ, miền núi Tây Bắc và các tỉnh Bắc Trung

Bộ Còn các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ điều kiện thời tiết thất thường cũng như đồi núi đâm thẳng ra biển, diện tích chăn thả hẹp nên việc chăn nuôi còn ít và chưa phát triển Các tỉnh có số lượng dê nhiều nhất là Hà Giang, Nghệ An, Ninh Thuận

Biểu đồ 2.1 Phân bố vùng sinh thái của đàn dê

Cùng với sự phát triển nhanh chóng của đàn dê trong giai đoạn 2001–2007

và các sản phẩm từ dê luôn được xã hội chấp nhận ở mức cao Nên tốc độ tăng sản lượng thịt hơi bình quân hàng năm là 22,8% cao gấp 3 lần so với tốc độ tăng thịt

bò (7,08 %/năm) Sản phẩm thịt hơi tăng nhanh hơn so với tốc độ tăng đàn do chất lượng giống và trình độ thâm canh ngày càng được cải thiện, khối lượng xuất chuồng cao hơn

Tuy có phát triển, nhưng sản lượng thịt dê còn thấp so với sản lượng thịt trâu

bò và so với khả năng phát triển của ngành chăn nuôi Sản lượng thịt xẻ tính bình quân trên đầu người tăng dần, năm 2007 là 0,063 kg/người/năm nhưng vẫn còn thấp so với nhu cầu về thực phẩm của người dân [10]

Phương thức chăn nuôi Người dân chủ yếu nuôi với phương thức bán chăn thả tận dụng nguồn sinh

Trang 10

khối lớn từ thức ăn sẵn có ở các khu vực đồi núi các tỉnh vùng Đông Bắc, Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ Với lợi thế về đồi núi trống thức ăn nhiều và thời tiết phù hợp tuy nhiên phần lớn với quy mô nhỏ từ 5 - 25 con, một số nông hộ có quy mô 30 - 50 con, còn lại số ít nông trại có qui mô 60 - 150 con Không nhiều những trang trại có quy mô lớn khai thác theo phương thức chăn nuôi

dê sinh sản, dê sữa, dê thịt được hình thành và phát triển ở các địa phương Tập trung nhiều nhất là Hà Giang, Nghệ An, Gia Lai, Tiền Giang

2.1.2.3 Tiềm năng và thách thức của việc phát triển chăn nuôi dê ở Việt Nam

- Những năm gần đây ngành chăn nuôi dê ở nước ta đã tăng lên cả về mặt số lượng lẫn chất lượng, thịt dê được xem là loại có giá trị dinh dưỡng cao, hàm lượng cholesterol thấp rất tốt cho sức khỏe con người

- Sự tăng lên về giá thịt dê hơi trên thị trường do nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng trong nước ngày càng tăng Tập quán sử dụng sản phẩm từ chăn nuôi dê

đã được hình thành Đây là động lực mới nhằm thúc đẩy mạnh tiến trình cải tạo đàn, tăng quy mô đàn, số lượng đàn và công nghệ chế biến sản phẩm

- Hội nhập kinh thế thới giới tạo điều kiện cho ngành nuôi dê tiếp cận với những tiến bộ khoa học cũng như thị trường về đầu ra cũng được mở rộng

Thách thức

- Công tác quy hoạch của các cơ quan chức năng còn chậm, thiếu đồng bộ và kém hiệu quả Phần lớn các địa phương đều chưa quy hoạch hoặc thực hiện chậm quy hoạch vùng chăn nuôi dê hàng hóa

- Công tác lai tạo giống dê và phát triển trồng cỏ có năng suất cao chịu hạn, chịu rét tốt làm thức ăn cho dê phù hợp với từng vùng sinh thái còn rất chậm và nhiều bất cập Hệ thống giống dê chưa hình thành, thiếu trầm trọng con giống có chất lượng tốt, năng suất chăn nuôi chưa cao

Trang 11

- Người dân chủ yếu vẫn nuôi dê theo tập quán chăn thả quảng canh, bán thâm canh tận dụng rừng, gò đồi, công lao động và vốn nhàn rỗi Chăn nuôi dê chủ yếu theo hướng lấy thịt, hướng khai thác sữa và kiêm dụng còn ít Do thiếu quy hoạch đồng bộ nên tốc độ mở rộng vùng chăn nuôi dê còn chậm, hướng khai thác giống ít, các hướng khác như sữa hầu như không có

- Hệ thống giết mổ tập trung và công nghệ chế biến thịt dê chưa có Chủ yếu vẫn sử dụng dạng tươi sống tại các nhà hàng, công nghệ chế biến thủ công và sản phẩm kém phong phú

- Dịch bệnh vẫn thường xuyên diễn ra trong khi công tác phòng chống còn yếu kém Chưa có hệ tiêm phòng, kiểm dịch đồng bộ Người dân thường thiếu các thông tin cần thiết trong việc chăn nuôi dê như: giá cả, con giống

2.1.2.4 Định hướng phát triển chăn nuôi dê ở nước ta đến năm 2020

Trong những năm vừa qua, mặc dù đã có những phát triển nhanh cả về số lượng lẫn chất lượng nhưng ngành chăn nuôi gia súc nhai lại ở nước ta vẫn đang còn nhiều khó khăn và hạn chế Từ những thực tế về điều kiện chăn nuôi dê cũng như yêu cầu của xã hội, đồng thời phân tích cả về thuận lợi, khó khăn của ngành Cũng như để đẩy mạnh ngành chăn nuôi dê trên cả nước, tăng thu nhập cho người dân Góp phần xóa đói giảm nghèo, tạo tính đột biến để tăng nhanh năng suất nông nghiệp, đa dạng hóa sản phẩm chăn nuôi Để đạt được những mục tiêu đó, Bộ NN

& PTNT đã định hướng phát triển chăn nuôi dê của nước ta đến năm 2020 cơ bản như sau:

Tốc độ tăng trưởng: Phấn đấu đưa đàn dê từ 1,52 triệu con năm 2006 lên

2,24 triệu con năm 2010; 3,18 triệu con năm 2015 và 3,89 triệu con năm 2020 Đạt tốc độ tăng đàn dê tương ứng là 16,06 %/năm; 8,5 %/năm; 7,0 %/năm và 4,6 %/năm Đưa sản lượng thịt dê từ 11,12 nghìn tấn năm 2006 lên 16,23 nghìn tấn năm 2010; 24,89 nghìn tấn năm 2015 và 32,74 nghìn tấn năm 2020, tương ứng với tốc độ tăng 16,88 %/năm vào năm 2010 và 5,88 %/năm vào năm 2020 Góp phần đưa tỷ trọng chăn nuôi lên 30% trong sản xuất nông, lâm nghiệp vào năm 2010

Công tác giống: Song song với việc nhân thuần các giống dê đã có, tiếp tục

cải tạo đàn dê Cỏ, Bách Thảo, chọn tạo đàn cái nền lai hướng thịt, sữa, kiêm dụng

để nhân giống dê chuyên thịt và chuyên sữa Việt Nam Biện pháp chủ yếu là thụ

Trang 12

tinh nhân tạo, cấy truyền phôi ở các vùng chăn nuôi tập trung, xây dựng, quản lý các vùng nhân giống trọng điểm và cung cấp con đực để phối trực tiếp, luân chuyển cho các vùng xa phát triển đàn dê thịt, sữa chất lượng cao

Thức ăn: Nghiên cứu xây dựng được các khẩu phần ăn phù hợp cho từng

loại dê trên cơ sở sử dụng các nguồn thức ăn sẵn có ở địa phương Nghiên cứu và sản xuất một số loại thức ăn công nghiệp cân đối dinh dưỡng cho các giống dê chuyên dụng cao sản Trồng thêm các loại cây đa mục đích tạo nguồn thức ăn đầy

đủ, đều quanh năm cân đối về lượng và chất cho đàn dê cả nước Nhập khẩu các loại thức ăn, quy trình chế biến bảo quản nâng cao chất lượng dinh dưỡng cho đàn

Giết mổ, chế biến: Hình thành các cơ sở giết mổ tập trung với quy mô khác

nhau và ứng dụng công nghệ tiến tiến cập nhật về chế biến các sản phẩm phong phú, đa dạng đáp ứng thị hiếu tiêu dùng trong nước

Quy hoạch: Hình thành các vùng chăn nuôi dê với quy mô khác nhau phù

hợp với nội lực của từng địa phương Hình thành dây chuyền thu gom, chế biến, tiêu thụ sản phẩm

Phương thức chăn nuôi: Nghiên cứu hoàn thiện quy trình chăn nuôi dê theo

hướng bán thâm canh, thâm canh phù hợp với từng loại giống và từng vùng cụ thể Giảm dần phương thức chăn thả tự do, quảng canh, tận dụng để đảm bảo môi trường sinh thái Thử nghiệm chăn nuôi thâm canh công nghiệp đối với các giống dê cao sản chuyên thịt, sữa Xây dựng các mô hình chăn nuôi dê, cừu nông, lâm, thủy sản, công nghiệp kết hợp - vành đai thức ăn - vùng chế biến sản phẩm hàng hóa làm nền tảng cho sự phát triển sản xuất nông nghiệp bền vững, hiệu quả

Chính sách: Thực hiện các chính sách ưu đãi, hỗ trợ phát triển chăn nuôi dê

thông qua việc cấp đất sử dụng lâu dài, miễn giảm thuế sử dụng đất, giảm lãi suất vay vốn, hỗ trợ giống cỏ, cây thức ăn thô xanh Chú trọng chính sách đào tạo đội ngũ khoa học kỹ thuật, ưu đãi công tác khuyến nông, tuyên truyền quảng bá chăn nuôi dê và phát triển thị trường trong và ngoài nước Khuyến khích phát triển chăn nuôi qui mô trang trại có sự quản lý của nhà nước Tăng cường công tác thú y, phòng bệnh, miễn phí vacxin đậu dê và lở mồm long móng [8]

Trang 13

2.2 Cơ sở khoa học của nghiên cứu

2.2.1 Một số giống dê

Dê Cỏ (dê địa phương): Là giống dê được người dân nuôi lâu năm nhất Đặc

điểm ngoại hình: thân hình nhỏ và thấp, tai nhỏ và đứng sững Cả dê đực và cái đều có râu Có màu lông khá khác nhau, đa số màu vàng, đen hoặc đen loang trắng, trọng lượng trưởng thành khoảng 25-30kg, sơ sinh 1,7-1,9 kg, 6 tháng tuổi 11-12kg, khả năng cho sữa 350- 370g/ngày Đặc điểm sinh sản, tuổi phối giống lần đầu 6-7 tháng, dê mang thai 5 tháng, đẻ 1,4 lứa/năm, 1,3 con/lứa, tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa 65-70%, được người dân chủ yếu nuôi quảng canh với mục đích lấy thịt [9] Tuy năng suất thấp nhưng phù hợp với điều kiện chăn thả quảng canh Để cải tạo tầm vóc và khả năng sản xuất của dê Cỏ chúng ta nên cho lai tạo với dê đực Bách Thảo tạo giống lai Bách Thảo Cỏ

Hình 2.1 Dê Cỏ

Dê Bách Thảo: Đa số người dân đều thích nuôi loại dê Bách Thảo này Đây

là giống dê kiêm dụng thịt sữa, tính hiền phù hợp với điều kiện thời tiết Việt Nam Cho đến nay người ta cũng chưa xác định được rõ nguồn gốc của nó Giống dê này

có màu lông đen loang sọc trắng, cẳng chân và đuôi màu trắng, tai to cụp xuống Tầm vóc to, đầu thô, dài, miệng rộng và thô, phần lớn không có râu cằm và sừng, bầu vú hình bát úp, núm vú dài Trọng lượng trưởng thành 40-45kg dê cái, dê đực 60-85kg, sơ sinh 2,6-2,8kg, khả năng cho sữa là 1,1-1,4 kg/ngày với chu kỳ cho sữa là 148-150 ngày, tuổi phối giống lần đầu là 7-8 tháng, đẻ 1,7 con/lứa và 1,8 lứa/năm [4] Dê hiền lành, có thể nuôi nhốt hoàn toàn, hoặc nhốt kết hợp chăn thả

Trang 14

ở các vùng và đều cho kết quả chăn nuôi tốt Hiện được nuôi chủ yếu ở các tỉnh duyên hải miền Nam Trung Bộ như Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận

Hình 2.2 Dê Bách Thảo

Dê Lai: Được tiến hành lai tạo bởi Trung tâm nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn

Tây với hàng loạt các công thức lai giữa các giống dê khác nhau Tiến hành cho

Dê Bách Thảo đực lai với dê cái Cỏ, cho con lai F1 và F2 Con lai sinh trưởng và tăng trọng tốt, khả năng sinh sản và cho sữa đều cao hơn dê cỏ từ 25-30%, nâng cao khả năng thích nghi với điều kiện chăn nuôi ở nhiều vùng nước ta Đồng thời với những con lai sử dụng dê đực 3 giống dê Ấn Độ lai với dê Cỏ và dê Bách Thảo, cho con lai cũng có khả năng sản xuất cao hơn so với dê Cỏ và dê Bách Thảo thuần [9]

Trang 15

Hình 2.3 Dê lai

Dê Bore: Là giống dê có trọng lượng lớn chuyên thịt, tính thuần, kháng bệnh

tốt, phù hợp với nhiều kiểu thời tiết khác nhau Có nguồn gốc từ châu Phi Giống

dê này có màu lông nâu, có vòng trắng hoặc vòng nâu quanh cổ Con đực nặng tới 100-160kg, con cái nặng tới 90-110kg, tuổi động dục từ 5-7 tháng tuổi Phối lần đâu khi dê được 15 tháng, thời gian mang thai từ 145-155 ngày, trung bình mỗi lứa

đẻ từ 2-3 con Dê này có cơ bắp rất đầy đặn phát triển tốt, sinh trưởng nhanh Với

ưu điểm nổi trội nước ta đã nhập dê Bore nhằm nhân thuần phát triển sản xuất giống dê chuyên thịt cao sản và sử dụng con đực lai cải tạo, lai kinh tế nâng cao năng suất thịt các giống dê hiện có, mang lại hiệu quả kinh tế cao, phù hợp với mục đích chăn nuôi của đất nước [9]

Trang 16

Hình 2.4 Dê Bore

Dê Jumnapari: Có xuất xứ từ Ấn Độ thân hình cao to như be con, lông màu

trắng tuyền, trọng lượng con cái trưởng thành 42-46 kg, con đực 70-80 kg, sơ sinh 2,8-3,5 kg, 6 tháng 22-24 kg, khả năng cho sữa 1,4- 1,6 kg với chu kỳ 180 - 185 ngày Tuổi phối giống lần đầu 8-9 tháng, đẻ 1,3 con/lứa, 1,3 lứa/năm Dê ăn tạp và

có thể chịu đựng tốt với điều kiện khí hậu Việt Nam [9]

Hình 2.5 Dê Jumnapari

Trang 17

Dê Alpine: Là giống dê có nguồn gốc từ Pháp chuyên sản xuất sữa đã được

nhập vào nước ta với số lượng ban đầu là 35 con đang được nuôi tại Trung tâm Nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tây và tỉnh Ninh Thuận, màu lông chủ yếu màu vàng,

có khi đốm trắng, tai nhỏ thẳng hơi giống dê Cỏ (dê địa phương), trọng lượng trưởng thành 40-42kg, con đực 50-55kg, sản lượng sữa 900-1000 lít/1 chu kỳ cho sữa 240-250 ngày Dê Alpine tinh cọng rạ của giống dê này cũng được nhập về từ Pháp để tiến hành lai tạo đàn dê trong nước ban đầu đã cho kết quả tốt [9]

Hình 2.6 Dê Alpine

2.2.2 Tập tính của dê và một số điều cần biết

Phàm trong chăn nuôi muốn gặt hái được thành công chúng ta phải có kiến thức có những kinh nghiệm và phải thật am hiểu về đối tượng chăn nuôi trong đó việc hiểu được tập tính là một điều hết sức quan trọng Vậy tập tính là gì? Tập tính là chuỗi các phản xạ được hình thành trong đời sống động vật để thích nghi với môi trường sống Ở nước ta hiện không có nhiều những nhà khoa học nghiên cứu về môn khoa học này Năm 1997, một thí nghiệm về tập tính ăn có ý nghĩa khoa học rất lớn lần đầu tiên được triển khai ở nước ta do Đàm Văn Tiện thuộc

Đại Học Nông Lâm Huế thực hiện trên cừu về mùi và vị cỏ tự nhiên Cyperlus

rotondus L, Cynodon dactylon (L) Pers và Brachiaria distachya (L.) Stapf để giảm

ảnh hưởng của phản ứng sợ những cái gì mới, khi cừu Phang Rang tập ăn rơm và cám Cuối cùng kết quả được công bố sau đó 2 năm Công trình của tác giả được

được đăng trên một tạp chí thế giới có tên là Small Ruminant Research, được rất

Trang 18

nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm

2.2.2.1 Một số tập tính của động vật

Tập tính hoạt động bầy đàn (allelomimetic)

Hoạt động theo bầy đàn thường gặp ở đa phần các loài động vật trừ mèo Tập tính này có ý nghĩa đối với những bầy thú sống hoang dã và bán hoang dã để

hỗ trợ nhau khi gặp phải những mối đe dọa từ kẻ thù Thật vậy khi thả dê cỏ lên bãi chăn chúng ta quan sát thấy bầy dê không đi theo cách tự do chúng ăn thành tùng tốp và hướng sự vận chuyển của dê trên bãi chăn phụ thuộc vào những con đầu đàn

dê trưởng thành Ngay cả trong điều kiện được bảo vệ tốt như việc sau một ngày dài đi ăn ở bãi chăn, dê khi về chuồng vẫn nằm tập trung thành bầy vào ban đêm

kể cả khi trời nóng bức thì tập tính hoạt động bầy đàn là do sự chỉ dẫn của các tín hiệu hóa học, ánh sáng và đều mang những ý nghĩa sinh tồn của nòi giống [2]

Tập tính ăn (ingestive behavior)

Tập tính ăn được coi là tập tính quan trọng, dê rất tò mò và thường xuyên đi

xa để tìm thức ăn, chúng ăn thì ít nhưng phá cây cỏ thì nhiều đồng thời chúng ăn được nhiều loại thức ăn khác nhau Bên cạnh đó đáng chú ý là tập tính chọn lựa thức ăn, dê thường ăn lá, đột non, những thức ăn sạch và không bị ẩm ước

Tập tính sợ cái mới (neophobia)

Ngược lại với tập tính khám phá là tập tính sợ cái mới, sợ khi đến nơi ở mới,

sợ khi có xuất hiện người lạ, vật lạ, sợ thức ăn mới [2]

Tập tính húc lộn nhau

Dê thường húc nhau và điều này thường xảy ra nhiều lần trong ngày Tập tính này không những chỉ có ở dê đực mà dê cái cũng vậy Có khi chúng húc nhau chỉ vì đi gần chúng vì bắt nạt nhau, vì tranh thức ăn cũng có khi chỉ vì giỡn nhau thôi Có đôi khi chúng húc nhau đơn giản nhưng cũng có lúc sống mái với nhau đặc biệt là những con đực có tính ghen rất cao nên ít khi trong bầy người ta nuôi hai con đực giống cùng lúc Thường thì dê chỉ húc nhau những lúc đã ăn no nê [2]

Tính sợ nước

Bản tính dê rất sợ nước, những vùng trũng ngập nước dù cỏ mọc tốt đến đâu thì dê cũng tránh xa Lúc đang ăn ngoài bãi chăn khi phát hiện có mưa kéo đến cả

Trang 19

đàn liền tức tốc chạy về đàn như ma đuổi, trong trường hợp về không kịp thì chúng hốt hoảng mạnh con nào chạy con nấy tìm bụi cây để núp Chỉ khi nào mưa tạnh thì chúng mới đi ra kéo lại thành bầy Vì vậy vào mùa mưa nếu không có thức ăn

dự trữ thì hầu như dê đều bị đói [2]

Tính sợ chó cắn

Dê rất sợ chó chỉ cần nghe nó tiếng chó sủa thì chúng hoảng loạn chạy trốn hầu như rất ít con chống lại Có một đặc điểm là khi bị chó cắn hầu như mười con thì đều chết cả mười [2]

2.2.2.2 Phân loại tập tính

Căn cứ vào kết quả nghiên cứu của (Hatez và ctv, 1969; Kilgour và Dalton, 1984; Đàm Văn Tiện, 2002) tập tính của dê được phân loại và tóm tắt trong bảng 2.5

Bảng 2.5 Phân loại tập tính

Tập tính ăn Gặm cỏ, ngắt lá cây, nhai lại, liếm muối, uống nước, bú

sữa, cọ sừng, vẫy đuôi Tập tính tìm chỗ ở Trú nắng dưới tán cây, tìm về chuồng, nằm chui đầu vào

nhau để tự bảo vệ thú khác ăn thịt, tập trung thành bầy đông để chống rét, cào đất và năm dài xuống đất

Tập tính tìm kiếm và

thăm dò

Ngẩng cao đầu tìm kiếm, thăm dò, nhìn thẳng vào đối vật

để thăm dò, nghe ngóng và ngửi vu vơ vật để thăm dò, ngửi đối vật hoặc con khác

Trang 20

cái tách xa con đực khác, đái xón để đánh dấu (dê), vẫy đuôi khi tiếp cận với con cái, nhảy lên con cái, xô đẩy phía sau con cái

Tập tính sinh sản của

con cái

Nhảy lên con khác, chạy nhảy đùa giỡn với con khác, nhảy lên thành chuồng, lùng tìm con đực và muốn chung sống gần đực

Tập tính ăn (theo

Đàm Văn Tiện) đối

với thức ăn không

quen thuộc:

Ngửi thăm dò, nếm thử để thăm dò, cào bới húc mõm vào thức ăn, hướng chú ý vào khối thức ăn để thăm dò, đi đi lại lại quanh khối thức ăn

Đối với thức ăn quen

thuộc

Vẫy đuôi chờ đón thức ăn, chèn đẩy con khác về một phía của máng ăn, tha thức ăn khỏi đám đông, vẫy tai sục mỗm vào khối thức ăn

2.2.2.3 Vai trò của tập tính trong nuôi dê

Năm 1995 Ferble đã đưa ra một kết luận có ý nghĩa thực tiễn khoa học rất lớn đó là: Năng xuất và hiệu quả chăn nuôi phụ thuộc chặt chẽ vào việc gia súc ăn loại thức ăn gì, và ăn bao nhiêu do tập tính kiểm soát Thật vậy đối với dê nói riêng

và động vật nhai lại nói chung có một số loại thức ăn được nghiên cứu ở phòng thí nghiệm rất phù hợp với bộ máy tiêu hóa Tuy nhiên khi đưa vào thực tế lượng ăn vào của gia sức rất thấp Như vậy có thể nói rằng tập tính ăn là một tập tính có vai trò hết sức quan trọng trong việc chăn nuôi dê, đảm bảo khả năng tăng trưởng và phát triển mạnh của đàn

2.2.2.4 Mục đích của ăn uống

Trong tự nhiên muốn có sự sống thì cần phải có năng lượng cung cấp Vì vậy mục đích của việc ăn uống là cung cấp năng lượng cho cơ thể phát triển Nhưng làm thế nào vật nuôi biết được nó phải ăn loại thức gì để thỏa mãn các nhu cầu trên Hay nói cách khác cơ chế nào của cơ thể điều khiển được việc đó Có nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này nhưng theo Emman thì cho rằng lượng ăn vào của động vật là phụ thuộc vào nhu cầu năng lượng cho các hoạt động sống của

nó “ăn vì mục đích năng lượng” Điều này được nhiều nhà khoa học đồng ý nhưng vẫn có một vấn đề chưa giải thích được đó là lý do vì sao khi đưa ra loại thức ăn có cùng giá trị năng lượng nhưng vật nuôi lại thích ăn loại này thay vì loại kia Và làm thế nào động vật lại biết chọn những thức ăn có hàm chứa năng lượng hoặc protein

Trang 21

và các chất dinh dưỡng khác phù hợp với nhu cầu của nó

Một dẫn chứng đơn giản đối với gia súc nhai lại thì trâu bò lại thích gặm những cây sát đất còn dê lại thích ăn những đột non phía trên cao Do vậy các nhà khoa học cho rằng sự chọn lựa thức ăn của động vật phần lớn dựa vào mũi và lưỡi

để cảm nhận mùi vị như là các vị ngọt, đắng, chua, chát hoặc dựa vào hình thể và kết cấu bề ngoài của thức ăn như hình thể lá thì khác hình thể thân và hình thể thức

ăn xanh thì khác thức ăn tinh Liệu rằng động vật có “thông minh” đến thế và nhiều công trình đã tiến hành nghiên cứu vấn đề này Và kết quả cho thấy là gia súc có khả năng chọn lựa để ăn những thức ăn phù hợp với nhu cầu cơ thể của nó và tránh

ăn những thức ăn hàm chứa độc tố hoặc có nguy cơ có hại cho cơ thể

2.2.2.5 Sự hình thành sở thích ăn

Sở thích ăn là quá trình được hình thành một cách phức tạp trong cơ thể động vật Theo giả thiết của Đàm Văn Tiện 2000 thì sở thích ăn được hình thành ngay trong giai đoạn bào thai khi con con bắt đầu tiếp nhận chất dinh dưỡng từ cơ thể mẹ Rồi các giai đoạn tiếp theo như giai đoạn bú sữa, giai đoạn sau cai sữa và khi trưởng thành cho tới khi cuối đời và cứ thế sở thích ăn được truyền cho các con con đời sau Cách thức học ăn được thực hiện qua hai giai đoạn đầu tiên con vật tìm thức ăn để thỏa mản nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể và tiếp theo là phân biệt thức ăn với nhau nhờ vào thị giác và vị giác mà con vật để tìm kiềm nguồn thức ăn phù hợp với cơ thể mình

2.3 Cân bằng dinh dưỡng cho gia súc nhai lại bằng thức ăn bổ sung

2.3.1 Sự cần thiết phải cân bằng dinh dưỡng

Sự mất cân đối trầm trọng về nitơ và năng lượng trong khẩu phần nuôi gia súc nhai lại chăn thả hoàn toàn ở các nông hộ, nông trại hiện nay không đảm bảo cho sinh trưởng và hoạt động tối ưu của hệ VSV dạ cỏ, làm giảm tiềm năng sinh trưởng phát triển của gia súc Để cải thiện sức sản xuất của chúng và tăng hiệu quả sử dụng thức ăn có chất lượng thấp có thể bổ sung lượng nhỏ chất dinh dưỡng thiết yếu vào khẩu phần cơ bản Nguyên lý này đã được nghiên cứu và áp dụng rộng rãi

ở nhiều nước trong khu vực như Ấn Độ, Trung Quốc cho kết quả rất tốt Việc sử dụng thức ăn bổ sung đã làm tăng lượng ăn vào, tăng hiệu qủa sản xuất lên 5 lần so

Trang 22

với gia súc được nuôi khẩu phần xơ thô, nghèo dinh dưỡng mà không cần thay đổi nguồn thức ăn ở khẩu phần cơ bản

2.3.1.1 Cân bằng dinh dưỡng để tối ưu hóa sử dụng thức ăn thô xanh

Nguồn thức ăn từ cỏ, lá thiên nhiên và phụ phẩm nông nghiệp bị giới hạn

bởi hàm lượng nitơ rất thấp, lignin rất cao và hydratcarbon dễ lên men thấp Khi

vào dạ cỏ nguồn thức ăn này sản sinh ra một lượng thấp NH3 từ phân giải protein làm giảm tiêu hóa dạ cỏ và giảm sinh khối VSV cung cấp cho vật chủ

Để tối ưu việc sử dụng các loại thức ăn nghèo dinh dưỡng cho gia súc nhai lại ở mọi vùng miền nước ta có thể theo hai hướng chính Đó là:

=> Bổ sung các chất dinh dưỡng bị thiếu như: Các loại kháng đa lượng và vi lượng, nguồn NH3, hydratcarbon dễ tiêu thỏa mãn nhu cầu của VSV dạ cỏ giúp tăng hiệu suất tiêu hóa thức ăn và sinh khối VSV

=> Bổ sung hàm lượng protenin thoát, năng lượng thoát cho gia súc đồng thời với các biện pháp bảo vệ sự tấn công của VSV dạ cỏ để năng cao năng suất gia súc Các biện pháp này bao gồm: Thay đổi mô hình lên men để nâng cao hiệu quả sinh trưởng của vi sinh vật bằng cách tăng tỷ lệ các thành phần (protein và tinh bột) thoát qua lên men của dạ cỏ trong khẩu phần, lựa chọn các nguồn protein bổ sung đã được bảo vệ một cách tự nhiên hay xử lý protein bằng nhiệt, bằng các chất hoá học như fomanđehyt, tannin cũng như dùng biện pháp ức chế quá trình phân giải protein của vi sinh vật dạ cỏ bằng các loại kháng sinh,xử lý nhiệt và thêm lượng nhỏ hydratcarbon giàu năng lượng dễ tiêu (tinh bột và đường) vào khẩu phần

ăn cho gia súc nhai lại

Sử dụng thức ăn bổ sung đã nâng cao sức sản xuất thịt, sữa ở đại gia súc mang lại hiệu quả cao khi gia súc được nuôi dưỡng bằng khẩu phần thức ăn chất lượng thấp Có được điều này là nhờ cân bằng các chất dinh dưỡng cho quá trình sinh tổng hợp của VSV trong dạ cỏ và cung cấp cho gia súc các chất dinh dưỡng ban đầu bị thiếu hụt trong khẩu phần Việc tối ưu hóa môi trường sinh thái dạ cỏ để tối đa hóa tiêu hóa xơ và tối ưu hóa quá trình sinh tổng hợp protein vi sinh vật được xem là ưu tiên số một trong hệ thống nuôi dưỡng gia súc ở các nước nhiệt

Trang 23

đới Từ những vấn đề trên việc bổ sung thức ăn là chiến lược dinh dưỡng cho gia súc nhai lại ở các nước nhiệt đới

2.3.1.2 Ứng dụng bổ sung năng lượng

Năng lượng của thức ăn xơ thô chủ yếu có trong hydratcarbon của vách tế bào và được giải phóng trong quá trình phân giải (lên men) bởi vi sinh vật dạ cỏ Năng lượng này được giải phóng rất chậm do quá trình phân giải chậm Chính vì thế mà khi gia súc nhai lại chỉ được cho ăn các thức ăn xơ thô chất lượng thấp (như rơm rạ) quá trình tăng sinh của vi sinh vật bị hạn chế do thiếu ATP Do vậy cần thiết phải bổ sung thêm các loại thức ăn chứa các nguồn năng lượng dễ lên men để cung cấp ATP cho bản thân vi sinh vật dạ cỏ tăng sinh và hoạt động Mặt khác, đối với gia súc sản xuất có nhu cầu năng lượng cao hơn so với nguồn năng lượng mà thức ăn thô có thể cung cấp thì cần thiết phải bổ sung thêm các loại thức ăn giàu năng lượng để đáp ứng được nhu cầu sản xuất

Khi bổ sung một lượng nhỏ thức ăn giàu hydratcarbon dễ tiêu sẽ có tác dụng kích thích quá trình phân giải xơ ở dạ cỏ và nhờ đó lượng thu nhận tự do của gia súc đối với thức ăn thô có thể tăng lên Tuy nhiên, khi thức ăn tinh bổ sung vượt quá một mức nhất định thì càng tăng lượng thức ăn bổ sung thì lượng thu nhận thức ăn thô trong khẩu phần cơ sở bị giảm xuống Bởi vì, những thức ăn giàu năng lượng dễ lên men làm lượng axít béo bay hơi được sinh ra nhanh dẫn đến giảm pH dạ cỏ đột ngột không thuận lợi cho vi sinh vật phân giải xơ Ngoài ra, thay vì gia súc phải ăn nhiều thức ăn thô cho đến khi no thì việc bổ sung nhiều thức ăn tinh còn có thể làm cho con vật thoả mãn nhu cầu về năng lượng

Khi bổ sung năng lượng vào khẩu phần cơ sở là thức ăn thô cần chú ý đảm bảo sao cho hoạt lực phân giải xơ trong dạ cỏ bị giảm càng ít càng tốt Kết quả của nhiều công trình nghiên cứu cho thấy khi bổ sung các thức ăn bổ sung năng lượng cần chú ý:

=> Càng giàu xơ dễ tiêu càng tốt, như các loại cỏ xanh chất lượng cao, bã bia, bỗng rượu và càng ít bột đường càng tốt Các loại thức ăn giàu xơ dễ tiêu có

Trang 24

thể chiếm tới 50% vật chất khô của khẩu phần Còn các thức ăn bột đường không nên vượt quá 1/3 tổng số vật chất khô của khẩu phần

=> Cho ăn càng đều càng tốt, tức là nên cho ăn làm nhiều lần hay tốt hơn là trộn đều với khẩu phần cơ sở Cho ăn như vậy sẽ tránh giảm pH dạ cỏ một cách đột ngột làm ảnh hưởng không tốt đến vi sinh vật phân giải xơ

=> Bổ sung dưới dạng thức ăn dễ thoát qua sự phân giải ở dạ cỏ để được tiêu hoá và hấp thu chủ yếu ở ruột khi cần cung cấp nhiều năng lượng đáp ứng nhu cầu sản xuất của gia súc cao sản

2.3.2 Nguồn thức ăn và cách chế biến thức ăn cho dê

Do đặc tính ăn tạp và khả năng sử dụng thức ăn đa dạng nên nguồn thức ăn của dê chủ yếu là thức ăn thô xanh, củ quả và phụ phế phẩm nông nghiệp Tuy nhiên cần kết hợp sử dụng một lượng vừa phải trong khẩu phần của dê nhất là dê nuôi lấy sữa hay dê trong thời gian nuôi con thức ăn hỗn hợp từ các loại như bắp, lúa, đậu, sắn nhằm khai thác hết tiềm năng về khả năng bổ sung năng lượng cho quá trình lên men dạ cỏ nhằm tăng hiệu quả quá trình tiêu hóa của đàn dê

2.3.2.1 Thức ăn thô xanh

Bao gồm tất cả các loại cây cỏ có trong thiên nhiên hoặc gieo trồng hoặc lá một số cây gỗ lớn mà dê ăn được khi còn tươi xanh như: cỏ voi, cỏ ghinê, so đũa, bình linh, rau, bèo, mít, keo dậu Các loại thức ăn xanh có tỷ lệ nước cao (65 - 85%) Tuy nhiên, một số thức ăn xanh được đánh giá cao về giá trị dinh dưỡng khi tính theo thành phần vật chất khô, thức ăn thô xanh có thể coi là nguồn cung cấp vitamin quan trọng, một số loại thức ăn xanh có tỉ lệ protein cao được coi là nguồn

bổ sung protein cho đàn dê, tiêu biểu là cây “keo dậu” và một số cây họ đậu

Thức ăn thô xanh có sẵn trong tự nhiên mà không cần đầu tư hay chăm bón,

vì vậy nó là nguồn cung cấp thức ăn thích hợp đối với nhiều phương thức chăn nuôi Đối với phương thức chăn nuôi quảng canh hay nhỏ lẻ thì nguồn thức ăn thô xanh trong tự nhiên là nguồn cung cấp thức ăn chính và không thể thay thế của đàn

2.3.2.2 Phế phụ phẩm nông nghiệp

Là tổng hợp những loại như: rơm, lá sắn, thân cây ngô, ngọn mía, dây lang,

Trang 25

dây lạc, thân cây đậu tương là những phế phụ phẩm sau khi đã thu hoạch Đây là nguồn thức ăn sẵn có, phổ biến, dễ bảo quản sử dụng cho dê nhất là trong phạm vi gia đình

Chúng ta thể chặt ngắn những loại nêu trên rồi phơi khô, ủ chua dự trữ làm thức ăn cho dê trong mùa đông (lúc khan hiếm thức ăn xanh) hoặc những thời điểm bận rộn hay thời tiết không cho phép chăn thả dê

2.3.3.3 Thức ăn củ quả

Ðặc điểm là hàm lượng tinh bột, đường cao nhưng nghèo về đạm, béo và ít

xơ Có thể dùng làm nguyên liệu phối hợp với khẩu phần thức ăn tinh Tuy nhiên một số loại củ quả có chứa chất độc axit anhydric (HCN) vì vậy cần phải xử lý trước khi dùng hoặc dùng với số lượng hạn chế Những loại củ quả cho dê ăn như sắn, ngô không nên để nguyên củ hay nghiền nhỏ mà nên cắt thành lát cho ăn tươi hoặc phơi khô rồi cho ăn sẽ đạt hiệu quả cao hơn

2.3.3.4 Các phụ phế phẩm nông - công nghiệp

Một số ngành công - nông nghiệp chế biến lương thực cho ra một lượng lớn phụ phế phẩm như cám, bã bia, bả sẵn, rỉ đường là nguồn thức ăn rất tốt cho dê, so với thức ăn thô xanh và củ quả thì các phụ phế phẩm nông - công nghiệp có giá trị dinh dưỡng cao hơn

Theo bảng thành phần và giá trị dinh dưỡng thức ăn gia súc của viện chăn nuôi quốc gia (2001)

- Cám gạo: hàm lượng vật chất khô trong cám gạo 85 - 90%, đạm thô 8 - 15%, cám có thể làm nguyên liệu phối hợp trong khẩu phần cho dê từ 10 - 15%

- Bã đậu nành, đậu xanh: cũng là nguồn thức ăn bổ sung protein tốt cho dê

- Bã bia: có tỷ lệ nước cao 80 - 95%, đạm thấp 2,7 - 6,3%, có thể dùng trong khẩu phần của dê

2.3.3.5 Thức ăn hỗn hợp

Trong thực tế, người chăn nuôi cung cấp cho gia súc, gia cầm các loại "thức

ăn tinh" mà thông thường đó là các loại nguyên liệu thức ăn Nếu chúng ta cho ăn từng loại "thức ăn tinh" riêng biệt như vậy thì dù chất lượng tốt như bột ngô, khô dầu, đậu tương vẫn không thể bảo đảm sự cân bằng dinh dưỡng, tức là có thể dư

Trang 26

thừa chất này mà lại thiếu chất khác Chính vì vậy, cần phối hợp các loại thức ăn (các nguyên liệu phối trộn thức ăn) theo các tỷ lệ nhất định, sao cho hỗn hợp tạo ra

có hàm lượng các chất dinh dưỡng cân đối, phù hợp với nhu cầu của từng loại gia súc, gia cầm Hiện nay, trên thị trường có nhiều loại thức ăn tinh hỗn hợp do nhiều hãng sản xuất tuy nhiên chất lượng của các loại thức ăn này không giống nhau và giá thành thường cao vì vậy nếu dùng nhiều sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế chăn nuôi Mặt khác, người chăn nuôi không thể tận dụng được một cách hiệu quả các loại phụ phẩm như cám gạo, tấm, bột ngô, bột đậu tương, bột sắn sẵn có trong mỗi gia đình để làm nguồn thức ăn bổ sung hiệu quả cho chăn nuôi Vì vậy, để mỗi người chăn nuôi hoàn toàn có thể tự phối trộn được thức ăn tinh hỗn hợp, tận dụng được các nguồn nguyên liệu sẵn có tại địa phương nhưng vẫn đảm bảo đủ dinh dưỡng cho đàn dê là rất cần thiết để phát triển ngành chăn nuôi này

- Cho ăn nhiều cỏ khô rồi thả ra đồng cỏ ướt

- Chăn thả dê quá sớm khi cỏ cây còn ướt

- Đổi đột ngột loai thức ăn từ thức ăn thô sang thức ăn tinh như hạt ngũ cốc, thức ăn tinh hỗn hợp

Nhưng chướng hơi thứ cấp cũng có thể xuất hiện ở dê, khi dê bị cảm lệnh do ướt nước mưa, viêm ruột, bội thực dạ cỏ, tắc cuống họng do nuốt phải dị vật như quả táo, cà rốt, hoặc khi dê ốm yếu không được uống nước đầy đủ cũng hay bị nghẹn thức ăn Các áp-xe nội tạng cũng tạo nên chướng hơi thứ cấp do chèn ép thực quản

Về cơ bản, chướng hơi là sự ngăn cản quá trình thoát hơi từ dạ cỏ và thường xảy ra rất đột xuất Chướng hơi có thể ở dạng tự do hoặc lẫn với dịch dạ cỏ tạo

Trang 27

thành bột Nếu không thoát hơi ra được, dạ cỏ sẽ căng to đè vào cơ hoành, chèn ép phổi gây trở ngại cho hô hấp và tuần hoàn, có thể làm dê chết do thiếu oxi trong máu

Trong trường hợp chướng hơi thứ cấp các dấu hiệu lâm sàng cũng giống như trên dê chảy dãi nhiều hơn nếu bị tắc nghẽn ở cổ hoàn toàn, nước dãi không thể chảy lại vào dạ cỏ được nữa nếu tắc nghẽn không hoàn toàn thì hơi có thể thoát ra được Chướng bụng trong trường hợp này sẽ nhẹ hơn, ít nguy hiểm hơn

- Chướng hơi do thức ăn: trước hết phải chống sự tạo hơi bằng các cách cho

dê uống 100 - 200 ml dầu rắn, hay cho dê uống 50 - 100ml nước khoáng mặn vừa cho uống vừa kéo thẳng cổ kích thích phản xạ ợ hơi hoặc cho uống 50 - 100ml rượu với tỏi, cho dê hoạt động và chà xát vùng dạ cỏ nhiều lần sau khi uống dầu sẽ làm tăng cường nhu động dạ cỏ và thoát hơi Nếu dê bị tê liệt thì nên xoay tròn dê hoặc xoay vuốt bụng dạ cỏ để giúp cho dầu và chất chứa dạ cỏ trôn đều, chống tạo bọt.Sử dụng ống song dạ cỏ để thoát hơi kịp thời.Chỉ nên dùng kim chọc dạ cỏ khi cấp cứu ở giai đoạn cuối cùng của chứng hơi cấp vì phương pháp này dễ làm viêm phúc mạc và rò rỉ dạ cỏ Cần tiêm kháng sinh 3 - 5 ngày sau khi chọc thoát hơi dạ cỏ.[5, 5-13]

Trang 28

2.4.2 Hội chứng tiêu chảy ở dê con

Nguyên nhân

Bệnh chỉ xảy ra ở dê con, có 3 nguyên nhân chính như sau:

- Bệnh do một số loại vi khuẩn (Escherichia coli, Samonella, Clostridium perfringens) và một số loài virus ( Rota, Corona) gây ra

- Nuôi dê con trong điều kiện chật chội và vẹ sinh kém hoặc quá nóng, quá lạnh và ẩm thấp

- Sử dụng thức ăn thay thế sữa kém chất lượng, thay đổi chế độ ăn và loại thức ăn đột ngột

Có thể sử dụng một trong các dung dịch chống mất nước, chống mất chất điện giải theo công thức sau đây:

Trang 29

Công thức 2:

- 10 g muối tinh

- 10 g muối tiêu (Bicarbonat natri)

Hoà các thành phần trên với 2,5 lít nước để cho dê uống với mức 10% khối lượng cơ thể, chia ra uống 2 - 4 lần/ ngày trong 2 ngày liền, từ ngày thứ 3 giảm dần lượng dung dịch và từ đó tăng dần lượng sữa mẹ đến khi khỏi hoàn toàn Nếu sau 2 ngày mà dê không khỏi tiêu chảy thì kết hợp dùng kháng sinh

Có thể sử dụng nước sắc các loại lá, quả có chất chát như: ngọn lá ổi, hồng xiêm, cỏ sữa để thay nước pha các thành phần hoạt chất trên

Trường hợp bệnh nặng thì cần dùng kháng sinh để điều trị: hỗn hợp Trimethoprim – Sulfonamide, tetracyclin, neomycin

Phòng bệnh

- Cách li những con mắc bệnh

- Sát trùng chuồng trại, vệ sinh sạch sẽ trước khi cho dê đẻ

- Dê con sơ sinh nên cho bú sữa đầu càng sớm càng tốt

- Chống nhiễm bẩn vào thức ăn, nước uống.[5, 12-5]

2.4.3 Bệnh viêm phổi

Nguyên nhân

Bệnh này thường gây nên bởi vi khuẩn, virus, ký sinh trùng hoặc do các tác động của môi trường như lạnh, gió lùa, vận chuyển đường dài, ẩm ướt làm giảm sức đề kháng của cơ thể

Triệu chứng lâm sàng

Bệnh có thể ở dạng quá cấp làm dê chết nhanh, nhưng chủ yếu thường ở dạng cấp tính và mãn tính có thời gian nung bệnh thường 6 - 10 ngày hoặc lâu hơn Tất cả các lứa tuổi dê đều có thể mắc bệnh này Triệu chứng lâm sàng đặc trưng là

dê bị sốt, ho và thở khó, đau, đầu cúi xuống, có thể chảy nước mũi và chảy dãi, dê không muốn hoạt động

Ngày đăng: 20/03/2017, 04:18

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Số lượng dê trên Thế giới và các Châu lục từ năm 2007 - 2011 - Thực trạng thú y trong chăn nuôi dê nông hộ ở xã Lộc Điền, huyện Phú Lộc, tỉnh TT-Huế”
Bảng 2.1. Số lượng dê trên Thế giới và các Châu lục từ năm 2007 - 2011 (Trang 5)
Đồ thị 2.1. Sản lượng thịt dê giai đoạn 2009-2011 - Thực trạng thú y trong chăn nuôi dê nông hộ ở xã Lộc Điền, huyện Phú Lộc, tỉnh TT-Huế”
th ị 2.1. Sản lượng thịt dê giai đoạn 2009-2011 (Trang 6)
Đồ thị 2.2. Sản lượng sữa dê giai đoạn 2009-2011 - Thực trạng thú y trong chăn nuôi dê nông hộ ở xã Lộc Điền, huyện Phú Lộc, tỉnh TT-Huế”
th ị 2.2. Sản lượng sữa dê giai đoạn 2009-2011 (Trang 7)
Bảng 2.2. Sản lượng thịt, sữa dê trên thế giới và các khu vực giai đoạn 2009-2011 - Thực trạng thú y trong chăn nuôi dê nông hộ ở xã Lộc Điền, huyện Phú Lộc, tỉnh TT-Huế”
Bảng 2.2. Sản lượng thịt, sữa dê trên thế giới và các khu vực giai đoạn 2009-2011 (Trang 7)
Bảng 2.4. Phân bố đàn dê theo vùng sinh thái - Thực trạng thú y trong chăn nuôi dê nông hộ ở xã Lộc Điền, huyện Phú Lộc, tỉnh TT-Huế”
Bảng 2.4. Phân bố đàn dê theo vùng sinh thái (Trang 8)
Hình 2.1. Dê Cỏ - Thực trạng thú y trong chăn nuôi dê nông hộ ở xã Lộc Điền, huyện Phú Lộc, tỉnh TT-Huế”
Hình 2.1. Dê Cỏ (Trang 13)
Hình 2.2. Dê Bách Thảo - Thực trạng thú y trong chăn nuôi dê nông hộ ở xã Lộc Điền, huyện Phú Lộc, tỉnh TT-Huế”
Hình 2.2. Dê Bách Thảo (Trang 14)
Hình 2.3. Dê lai - Thực trạng thú y trong chăn nuôi dê nông hộ ở xã Lộc Điền, huyện Phú Lộc, tỉnh TT-Huế”
Hình 2.3. Dê lai (Trang 15)
Hình 2.4. Dê Bore - Thực trạng thú y trong chăn nuôi dê nông hộ ở xã Lộc Điền, huyện Phú Lộc, tỉnh TT-Huế”
Hình 2.4. Dê Bore (Trang 16)
Hình 2.5. Dê Jumnapari - Thực trạng thú y trong chăn nuôi dê nông hộ ở xã Lộc Điền, huyện Phú Lộc, tỉnh TT-Huế”
Hình 2.5. Dê Jumnapari (Trang 16)
Hình 2.6. Dê Alpine - Thực trạng thú y trong chăn nuôi dê nông hộ ở xã Lộc Điền, huyện Phú Lộc, tỉnh TT-Huế”
Hình 2.6. Dê Alpine (Trang 17)
Đồ thị 4.1. Biến động nhiệt độ, ẩm độ và lượng mưa ở Thừa Thiên Huế - Thực trạng thú y trong chăn nuôi dê nông hộ ở xã Lộc Điền, huyện Phú Lộc, tỉnh TT-Huế”
th ị 4.1. Biến động nhiệt độ, ẩm độ và lượng mưa ở Thừa Thiên Huế (Trang 39)
Bảng 4.3. Phản hồi của người dân về độ tuổi dê thường chết - Thực trạng thú y trong chăn nuôi dê nông hộ ở xã Lộc Điền, huyện Phú Lộc, tỉnh TT-Huế”
Bảng 4.3. Phản hồi của người dân về độ tuổi dê thường chết (Trang 43)
Bảng 4.4. Phản hồi của người dân về tuổi loại thải dê sinh sản ở nông hộ - Thực trạng thú y trong chăn nuôi dê nông hộ ở xã Lộc Điền, huyện Phú Lộc, tỉnh TT-Huế”
Bảng 4.4. Phản hồi của người dân về tuổi loại thải dê sinh sản ở nông hộ (Trang 45)
Bảng 4.5. Phản hồi của người dân về những khó khăn trong phát triển chăn nuôi - Thực trạng thú y trong chăn nuôi dê nông hộ ở xã Lộc Điền, huyện Phú Lộc, tỉnh TT-Huế”
Bảng 4.5. Phản hồi của người dân về những khó khăn trong phát triển chăn nuôi (Trang 47)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w