1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Đánh giá thực trạng và đề xuất các loại hình sử dụng đất ruộng có hiệu quả trên địa bàn huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn (LV thạc sĩ)

89 276 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 1,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá thực trạng và đề xuất các loại hình sử dụng đất ruộng có hiệu quả trên địa bàn huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn (LV thạc sĩ)Đánh giá thực trạng và đề xuất các loại hình sử dụng đất ruộng có hiệu quả trên địa bàn huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn (LV thạc sĩ)Đánh giá thực trạng và đề xuất các loại hình sử dụng đất ruộng có hiệu quả trên địa bàn huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn (LV thạc sĩ)Đánh giá thực trạng và đề xuất các loại hình sử dụng đất ruộng có hiệu quả trên địa bàn huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn (LV thạc sĩ)Đánh giá thực trạng và đề xuất các loại hình sử dụng đất ruộng có hiệu quả trên địa bàn huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn (LV thạc sĩ)Đánh giá thực trạng và đề xuất các loại hình sử dụng đất ruộng có hiệu quả trên địa bàn huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn (LV thạc sĩ)Đánh giá thực trạng và đề xuất các loại hình sử dụng đất ruộng có hiệu quả trên địa bàn huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn (LV thạc sĩ)Đánh giá thực trạng và đề xuất các loại hình sử dụng đất ruộng có hiệu quả trên địa bàn huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn (LV thạc sĩ)Đánh giá thực trạng và đề xuất các loại hình sử dụng đất ruộng có hiệu quả trên địa bàn huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn (LV thạc sĩ)

Trang 1

LÃ TIẾN MINH

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT CÁC LOẠI HÌNH SỬ DỤNG ĐẤT RUỘNG CÓ HIỆU QUẢ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CAO LỘC,

TỈNH LẠNG SƠN

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

Thái Nguyên - 2016

Trang 2

LÃ TIẾN MINH

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT CÁC LOẠI HÌNH SỬ DỤNG ĐẤT RUỘNG CÓ HIỆU QUẢ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CAO LỘC,

TỈNH LẠNG SƠN

Ngành: Quản lý đất đai

Mã số: 60.85.01.03

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Thế Đặng

Thái Nguyên - 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng: số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng: mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Lạng Sơn, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Lã Tiến Minh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến GS.TS Nguyễn Thế Đặng người hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên; các thầy cô trong khoa Quản lý Tài nguyên và các thầy cô phòng Đào tạo, Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn này

Tôi chân thành cảm ơn Uỷ ban nhân dân huyện Cao Lộc tỉnh Lạng Sơn; Phòng Kinh tế; Phòng Thống kê; Phòng TNMT huyện Cao Lộc và các hộ gia đình

đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực tập và hoàn thành luận văn này

Cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn ở bên tôi

và tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn này

Lạng Sơn, ngày 05 tháng 10 năm 2016

Tác giả luận văn

Lã Tiến Minh

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Một số vấn đề về sử dụng đất nông nghiệp 4

1.1.1 Khái niệm về đất và đất nông nghiệp 4

1.1.2 Khái niệm về sử dụng đất nông nghiệp 5

1.1.3 Loại hình sử dụng đất và hệ thống sử dụng đất 6

1.1.4 Hiệu quả sử dụng đất và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 8

1.1.5 Khái quát tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên Thế giới và ở Việt Nam 15 1.2 Đánh giá sử dụng đất nông nghiệp bền vững 20

1.2.1 Khái niệm 20

1.2.2 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất theo quan điểm sinh thái bền vững 22

1.2.3 Các công trình nghiên cứu về đánh giá sử dụng đất nông nghiệp bền vững ở Việt Nam 26

Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 30

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu: 30

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu: 30

2.2 Địa điểm và thòi gian nghiên cứu 30

2.2.1 Địa điểm nghiên cứu: 30

2.2.2 Thời gian nghiên cứu: 30

Trang 6

2.3 Nội dung nghiên cứu 30

2.3.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội tác động đến sử dụng đất ruộng của huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn 30

2.3.2 Đánh giá hiện trạng sử dụng đất ruộng và các loại hình sử dụng đất ruộng 30 2.3.3 Đánh giá hiệu quả và lựa chọn loại hình sử dụng đất ruộng 30

2.3.4 Đề xuất giải pháp phát triển các loại hình sử dụng đất ruộng hiệu quả bền vững cho sản xuất nông nghiệp tại huyện Cao Lộc 30

2.4 Phương pháp nghiên cứu 30

2.4.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 30

2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu 31

2.4.3 Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu 31

2.4.4 Phương pháp chuyên gia 31

2.4.5 Phương pháp tính hiệu quả sử dụng đất 32

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33

3.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội tác động đến sử dụng đất nông nghiệp của huyện Cao Lộc 33

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 33

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 39

3.2 Đánh giá hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp và các loại hình sử dụng đất nông nghiệp 43

3.2.1 Hiện trạng sử dụng đất huyện Cao Lộc 43

3.2.2 Các loại hình sử dụng đất ruộng chính trên địa bàn huyện Cao Lộc 48

3.2.3 Đánh giá hiệu quả của các loại hình sử dụng đất ruộng 49

3.3 Đề xuất các loại hình sử dụng đất trên địa bàn huyện Cao Lộc 60

3.3.1 Định hướng phát triển nông nghiệp huyện Cao Lộc 60

3.3.2 Đề xuất các loại hình sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả 61

3.3.3 Đề xuất các giải pháp thực hiện 62

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 66

TÀI LIỆU THAM KHẢO 68

Trang 7

DANH MỤC VIẾT TẮT

BVTV : Bảo vệ thực vật

CPTG : Chi phí trung gian

FAO : Tổ chức nông lương thế giới

GTGT : Giá trị gia tăng

GTNC : Giá trị ngày công

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Chuyển dịch cơ cấu các ngành kinh tế 40

Bảng 3.2: Hiện trạng sử dụng đất huyện Cao Lộc năm 2015 44

Bảng 3.3: Diện tích và cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp huyện Cao Lộc năm 2015 45

Bảng 3.4: Phân vùng kinh tế sinh thái theo đơn vị hành chính 47

Bảng 3.5: Các loại hình sử dụng đất nông nghiệp của huyện Cao Lộc 48

Bảng 3.6: Phân cấp mức độ đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất ruộng 50

Bảng 3.7: Hiệu quả kinh tế của các cây trồng chính (tiểu vùng 1) 50

Bảng 3.8: Hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất ruộng (Tiểu vùng 1) 51

Bảng 3.9 Hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất ruộng (tiểu vùng 2) 52

Bảng 3.10: Đánh giá hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất ruộng 52

Bảng 3.11: Phân cấp mức độ đánh giá hiệu quả xã hội sử dụng đất nông nghiệp 53

Bảng 3.12: Đánh giá hiệu quả xã hội các loại hình sử dụng đất nông nghiệp 54

Bảng 3.13: Phân cấp mức độ đánh giá hiệu quả môi trường sử dụng đất 55

Bảng 3.14: So sánh mức sử dụng phân bón của các nông hộ với quy trình kỹ thuật 56

Bảng 3.15: Lượng thuốc bảo vệ thực vật thực tế sử dụng và khuyến cáo 57

Bảng 3.16: Hiệu quả môi trường của các loại hình sử dụng đất 58

Bảng 3.17: Đánh giá khả năng lựa chọn của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp tại huyện Cao Lộc 59

Bảng 3.18: Đề xuất các loại hình sử dụng đất nông nghiệp huyện Cao Lộc đến năm 2020 61

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất đai là yếu tố quan trọng hàng đầu, không thể thay thế đối với tất cả các ngành sản xuất, đặc biệt trong hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt và là môi trường duy nhất sản xuất ra lương thực, thực phẩm để nuôi sống con người Đất đai là một nhân tố quan trọng của môi trường sống, là vật mang của các hệ sinh thái tự nhiên và các hệ sinh thái canh tác, là mặt bằng để phát triển nền kinh tế quốc dân, là một trong những yếu tố đầu tiên chi phối tới sự phát triển hay huỷ diệt các nhân tố khác của môi trường Vì vậy, chiến lược sử dụng đất hợp lý là một phần của chiến lược nông nghiệp sinh thái bền vững của tất

cả các nước trên thế giới cũng như ở nước ta hiện nay

Trong vài thập kỷ gần đây, dân số thế giới tăng nhanh đã thúc đẩy nhu cầu về lương thực, thực phẩm Trong đó, nhịp độ phát triển nhanh chóng của các cuộc cách mạng khoa học và kỹ thuật đã góp phần quan trọng trong việc tàn phá môi trường tự nhiên và khai thác triệt để các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là tài nguyên đất đai - một dạng tài nguyên thiên nhiên có khả năng tái tạo chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi hoạt động khai thác của con người

Ở nước ta, vấn đề sử dụng đất nông nghiệp luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước Trong hoạt động sản xuất nông nghiệp, sản phẩm nông sản thu được đều thông qua chức năng sản xuất của đất Việc sử dụng đất nông nghiệp đạt hiệu quả cao là vấn đề quan tâm hàng đầu trong công tác quản lý, sử dụng đất của Nhà nước Lĩnh vực sản xuất nông nghiệp là một ngành kinh tế lấy đất đai làm tư liệu sản xuất thì mỗi mục đích sử dụng đất có những yêu cầu nhất định

mà đất đai cần đáp ứng Việc lựa chọn, so sánh các kiểu sử dụng đất hoặc cây trồng khác nhau phù hợp với điều kiện đất đai là đòi hỏi của người sử dụng đất, các nhà làm quy hoạch, để từ đó có quyết định đúng đắn, phù hợp trong việc sử dụng đất mang lại hiệu quả kinh tế và bền vững

Đặc biệt, trong bối cảnh hiện nay, sự ảnh hưởng của biến đổi khí hậu với kịch bản nước biển dâng làm cho diện tích đất canh tác ở các vùng đồng bằng ven biển

Trang 10

ngày càng bị thu hẹp lại, việc nghiên cứu tiềm năng đất đai, tìm hiểu một số loại hình sử dụng đất nông nghiệp, đánh giá mức độ thích hợp của các loại hình sử dụng

đó để làm cơ sở cho việc đề xuất giải pháp sử dụng đất hợp lý, hiệu quả ở các địa phương miền núi là vấn đề có tính chiến lược và cấp bách của từng địa phương cũng như của cả nước đảm bảo mục tiêu an ninh lương thực, phát triển bền vững Huyện Cao Lộc có tổng diện tích tự nhiên 61.908,88 ha, 23 đơn vị hành chính, bao gồm: 21 xã và 2 thị trấn, xã xa nhất là xã Mẫu Sơn cách trung tâm huyện lỵ trên 25,00 km với địa hình tương đối phức tạp, diện tích đất nông nghiệp là 55.486,91

ha, chiếm tới 89,63 % so với tổng diện tích tự nhiên huyện Cao Lộc

Trong những năm qua sản xuất nông nghiệp của huyện đã được chú trọng đầu

tư phát triển Năng suất, sản lượng không ngừng tăng lên, đời sống vật chất tinh thần của nhân dân ngày càng được cải thiện Song trong sản xuất nông nghiệp còn tồn tại nhiều điểm yếu: Trình độ khoa học kỹ thuật còn hạn chế, tư liệu sản xuất giản đơn; kỹ thuật canh tác truyền thống, sản xuất nông nghiệp ở một số nơi đã không phát huy được tiềm năng đất đai mà còn có xu thế làm cho nguồn tài nguyên đất bị thoái hoá

Nhằm phát huy tối đa nguồn tài nguyên đất nông nghiệp sẵn có, tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội cho huyện Cao Lộc, dưới sự hướng dẫn của GS.TS

Nguyễn Thế Đặng, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá thực trạng và

đề xuất các loại hình sử dụng đất ruộng có hiệu quả trên địa bàn huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn”

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

2.1 Mục tiêu tổng quát

Lựa chọn được loại hình sử dụng đất nông nghiệp hiệu quả bền vững và đề xuất giải pháp nhằm phát triển các loại hình sử dụng đất đã được lựa chọn phục vụ phát triển kinh tế xã hội của huyện Cao Lộc

Trang 11

- Lựa chọn loại hình sử dụng đất ruộng hiệu quả bền vững trên địa bàn nghiên cứu

- Đề xuất các giải pháp phát triển loại hình sử dụng đất ruộng hiệu quả bền vững trên địa bàn nghiên cứu

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

3.1 Ý nghĩa khoa học

Góp phần bổ sung hệ thống lý luận về sử dụng đất nông nghiệp theo hướng bền vững phục vụ cho công tác đánh giá, quy hoạch và quản lý đất đai

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Đưa ra các định hướng sử dụng đất nông nghiệp theo hướng bền vững làm

cơ sở cho việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên địa bàn huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn

- Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần cung cấp những cơ sở khoa học cho thực tiễn sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Cao Lộc

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Một số vấn đề về sử dụng đất nông nghiệp

1.1.1 Khái niệm về đất và đất nông nghiệp

Đất là nguồn tài nguyên quý báu của quốc gia, là điều kiện tiên quyết của bất

kỳ ngành sản xuất vật chất nào trong xã hội Hiện có rất nhiều quan niệm khác nhau

về đất

Theo Docutraiep - người Nga (1879), là người đầu tiên đã xác định một cách khoa học cho rằng: “Đất là một vật thể thiên nhiên cấu tạo độc lập, lâu đời do kết quả của quá trình hoạt động tổng hợp của 5 yếu tố hình thành đất gồm: đá mẹ, sinh vật, khí hậu, địa hình và thời gian” [9]

Đất là một vật thể thiên nhiên được tồn tại một cách độc lập, có trước con người và tồn tại ngoài ý chí chủ quan của con người Đây là cách nhìn nhận theo quan điểm phát sinh nguồn gốc của đất Đó là một quá trình hình thành phức tạp của tự nhiên, tổng hợp của nhiều yếu tố cấu thành nên đất Sau này, nhiều học giả nhận thấy rằng cần bổ sung thêm nhân tố con người làm nhân tố thứ 6 ảnh hưởng đến quá trình hình thành đất, và coi đây là nhân tố quan trọng có ý nghĩa sống còn đối với sự phát triển hay suy thoái tài nguyên đất Đất được xem như một thể sống,

nó luôn luôn vận động, biến đổi và phát triển Đất là tài nguyên hữu hạn song có khả năng phục hồi, tái tạo tuỳ thuộc vào cách mà con người tác động lên nó Trên trái đất, ở các vùng địa lý và sinh thái khác nhau, đất được hình thành và có độ phì khác nhau rõ rệt bởi các yếu tố hình thành đất tác động, đó là các yếu tố sinh vật, địa hình, khí hậu, đá mẹ, thời gian và tác động của con người

Theo V.R.Viliam thì cho rằng đất là lớp tơi xốp của vỏ lục địa, có độ dày khác nhau, có thể sản xuất ra những sản phẩm của cây trồng Tiêu chuẩn cơ bản để phân biệt giữa "đá mẹ" và đất là độ phì nhiêu, nếu chưa có độ phì nhiêu, thực vật thượng đẳng chưa sống được thì chưa gọi là đất Độ phì nhiêu là khả năng của đất

có thể cung cấp nước, thức ăn và đảm bảo các điều kiện khác để cây trồng sinh trưởng, phát triển và cho năng suất Như vậy độ phì không phải chỉ là số lượng chất

Trang 13

dinh dưỡng tổng số trong đất mà là khả năng cung cấp chất dinh dưỡng cho cây nhiều hay ít Khả năng đó nhiều hay ít (tức độ phì cao hay thấp) là do các tính chất lý học, hóa học và sinh học của đất quyết định; ngoài ra còn phụ thuộc vào điều kiện thiên nhiên và tác động của con người

Như vậy, nguồn gốc của đất là từ các loại "đá mẹ" nằm trong thiên nhiên lâu đời bị phá hủy dần dần dưới tác dụng của yếu tố lý học, hóa học và sinh học, tạo ra độ phì nhiêu để cây trồng sinh trưởng phát triển và cho năng suất Đối với đất trồng trọt ngoài những yếu tố tự nhiên, thì yếu tố con người có ảnh hưởng mang tính quyết định đến sự tồn tại và phát triển của đất

Đối với sản xuất nông lâm nghiệp, đất là một tư liệu sản xuất vô cùng quý giá,

cơ bản và không gì thay thế được, tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất, vừa là công cụ lao động, vừa là đối tượng lao động, quyết định đến năng suất, phẩm chất của sản phẩm

Nhìn nhận trên góc độ nghiên cứu về sử dụng đất, đất là một bộ phận quan trọng của hệ sinh thái, bao gồm tất cả các thuộc tính sinh học và tự nhiên của bề mặt trái đất có ảnh hưởng nhất định đến tiềm năng và hiện trạng sử dụng đất Đất được coi như một “hệ đệm”, như một “phễu lọc” luôn luôn làm trong sạch môi trường với tất cả các chất thải do hoạt động sống của sinh vật nói chung và con người nói riêng trên trái đất

- Đất nông nghiệp: là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối và mục đích bảo

vệ, phát triển rừng; bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác

Đất nông nghiệp tham gia vào quá trình sản xuất tạo ra các sản phẩm thiết yếu của con người Đất nông nghiệp ngày càng có những ý nghĩa quan trọng đối với sự tồn tại, phát triển của xã hội loài người nhất là trong bối cảnh thế giới đang đứng trước nguy cơ của biến đổi khí hậu thì việc nghiên cứu nhằm nâng cao hiệu quả trong sử dụng đất nông nghiệp là vô cùng cấp thiết

1.1.2 Khái niệm về sử dụng đất nông nghiệp

Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội Lịch sử nông nghiệp là một quãng đường dài thể hiện sự phát triển mối quan hệ giữa con người

Trang 14

với thiên nhiên Trong hoạt động sống của mình, con người đã tìm ra các phương thức sản xuất cùng với những biện pháp kỹ thuật tác động lên đất để tiến hành các hoạt động sản xuất tạo ra sản phẩm đáp ứng nhu cầu của con người

Sử dụng đất nông nghiệp là một hệ thống các biện pháp nhằm điều hoà mối quan hệ người – đất trong tổ hợp với nguồn tài nguyên thiên nhiên khác và môi trường Bùi Nữ Hoàng Anh (2013) [1]

Quá trình tác động đó gắn liền với các giai đoạn phát triển của con người và xã hội Sử dụng đất nông nghiệp luôn gắn với một phạm vi không gian nhất định, thể hiện qua cơ cấu sử dụng đất, quy mô sử dụng đất và mức độ khai thác sức sản xuất của đất Ngày nay, cùng với sự tiến bộ và phát triển như vũ bão của nhân loại, thế giới đang đứng trước những thách thức của vấn đề an ninh lương thực và môi trường sinh thái, thì sử dụng đất nông nghiệp như thế nào đang là một vấn đề được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm nghiên cứu

1.1.3 Loại hình sử dụng đất và hệ thống sử dụng đất

1.1.3.1 Loại hình sử dụng đất (Land Use Type - LUT):

Là thực trạng sử dụng đất của một vùng đất (hay đơn vị đất, khoanh đất, vạt đất ), có các đặc trưng về điều kiện kinh tế – xã hội, phương thức quản lý, kỹ thuật sản xuất tại một thời điểm nhất định

Hoặc: LUT là bức tranh mô tả thực trạng sử dụng đất của một vùng đất với các phương thức quản lý sản xuất trong điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội nhất định

- Loại sử dụng đất chính (Major type of land use): Là thực trạng sử dụng đất

tổng quát của một vùng đất Đó là sự phân nhỏ của sử dụng đất trong khu vực hoặc vùng nông lâm nghiệp, chủ yếu dựa trên cơ sở của sản xuất các cây trồng hàng năm, cây lâu năm, lúa, đồng cỏ, rừng, khu giải trí nghỉ ngơi…

Tuy nhiên trong đánh giá đất (LE- Land Evaluation), nếu chỉ xem xét việc sử dụng đất qua các loại hình sử dụng đất chính thì chưa đủ, sẽ có những câu hỏi như sau được đưa ra trong quá trình đánh giá đất:

- Những loại cây trồng hay những giống loài cây gì sẽ được trồng? điều này rất quan trọng vì mỗi loài, giống cây khác nhau sẽ đòi hỏi điều kiện đất đai khác nhau

- Các loại phân bón được dùng đã đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của các loài cây trồng chưa? Đôi khi sử dụng phân bón không hợp lý còn giảm độ phì của đất

Trang 15

Để trả lời được những vấn đề nêu trên, cần phải có những mô tả chi tiết hơn trong việc sử dụng đất, vì vậy một khái niệm “ Loại hình sử dụng đất” (LUT) được

đề cập trong LE

- Kiểu sử dụng đất: Là sự phân chia chi tiết của các loại sử dụng đất

Những loại hình của sử dụng đất này có thể hiểu theo nghĩa rộng là các loại

hình sử dụng đất chính (Major type of land use) hoặc có thể được mô tả chi tiết hơn với khái niệm là các loại hình sử dụng đất (Land Use Type - LUT), LUT còn có nghĩa là kiểu sử dụng đất (Land Use Utilization)

1.1.3.2 Hệ thống sử dụng đất (Land Use System – LUS):

Là sự kết hợp của đơn vị bản đồ đất đai và loại hình sử dụng đất (hiện tại và tương lai), hay là loại sử dụng đất riêng biệt được thực hiện trên một vạt đất nhất định kết hợp với đầu tư, thu nhập và khả năng cải tạo đất như: làm bằng, tưới, tiêu Mỗi một hệ thống sử dụng đất (LUS) có một hợp phần đất đai và một hợp phần sử dụng đất đai Hợp phần đất đai của LUS là các đặc tính đất của LMU, ví dụ như thời vụ, cây trồng, độ dốc %, thành phần cơ giới đất Hợp phần sử dụng đất của hệ thống sử dụng đất là sự mô tả loại hình sử dụng đất (LUT) bởi các thuộc tính Các đặc tính của LMU và các thuộc tính của LUT đều ảnh hưởng đến tính thích hợp của đất đai

1.1.3.3 Các thuộc tính cơ bản của loại hình sử dụng đất

Là các đặc tính, tính chất mô tả đặc điểm, hiện trạng của các loại hình sử dụng đất

Theo H.Hulzing, 1993, loại hình sử dụng đất gồm các thuộc tính cơ bản sau đây:

* Nhóm thuộc tính sinh học: Gồm các sản phẩm và lợi ích khác mà LUT

mang lại

* Nhóm thuộc tính kinh tế - xã hội: gồm các thông tin cơ bản về:

- Định hướng thị trường: Là thuộc tính của loại hình sử dụng đất được mô tả theo định lượng, thể hiện

- Khả năng vốn: Khả năng vốn đầu tư được quy thành mức vốn theo các cấp: chi phí trở lại và đầu tư vốn

- Khả năng lao động: Được biểu thị là số công lao động/LUT theo mùa vụ, theo năm hoặc theo thời điểm lao động mùa vụ, bao gồm cả lao động của nông hộ

và lao động thuê mướn

Trang 16

- Kỹ thuật, kiến thức và quan điểm: Sự hiểu biết kỹ thuật và quan điểm sản xuất của chủ sử dụng đất được biểu thị qua trình độ giáo dục phổ cập và trình độ kỹ thuật cũng như qua hiệu quả tiếp thu đổi mới và thay đổi sản xuất

* Nhóm thuộc tính kỹ thuật và quản lý

- Sở hữu đất đai và quy mô quản lý đất

- Sức kéo/cơ giới hoá: Phản ảnh phương thức sản xuất giữa việc sử dụng nhân công, sức kéo gia súc hay bằng máy móc

- Các đặc điểm trồng trọt : Phản ánh các loại hệ thống cây trồng của các LUT

- Đầu tư vật tư : Phản ánh thể loại vật tư và mức đầu tư cho mỗi LUT (kg giống gieo trồng, kg phân bón, số lần phun thuốc/ha)

- Công nghệ được sử dụng : Kỹ thuật sản xuất ở đây gồm toàn bộ các khâu thực tế được áp dụng trong quản lý LUT nông nghiệp,

- Năng suất và sản lượng: Năng suất cây trồng chính là đầu ra trên mỗi đơn vị đất đai của mỗi LUT, thường tính theo ha Để mô tả LUT, cũng có thể ước tính/dự tính năng suất do dựa vào các dữ liệu điều tra và kinh nghiệm sản xuất từ nhiều năm/vụ trước đó

- Thông tin kinh tế có liên quan đến đầu vào và đầu ra: Những thông tin kinh

tế là rất cần thiết cho yêu cầu phân tích kinh tế/tài chính cho các LUT nhằm tính hiệu quả sử dụng đất

* Nhóm thuộc tính hạ tầng

Các yêu cầu về hạ tầng cơ sở: gồm các nhu cầu của LUT về cơ sở giao thông đường sá, dịch vụ khuyến nông, lâm, tín dụng, dịch vụ giống, phân bón, bảo vệ thực vật, trang thiết bị và cơ sở bảo quản sau thu hoạch, trang thiết bị và nhà máy chế biến nông lâm sản

1.1.4 Hiệu quả sử dụng đất và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

1.1.4.1 Hiệu quả và hiệu quả sử dụng đất

* Khái quát về hiệu quả

Trong thực tế có rất nhiều quan điểm về hiệu quả Trước kia người ta thường quan niệm kết quả và hiệu quả chỉ là một Sau này khi nhận thức của con người phát triển cao hơn người ta đã thấy rõ sự khác nhau giữa kết quả và hiệu quả

Trang 17

Theo trung tâm từ điển ngôn ngữ, hiệu quả chính là kết quả như yêu cầu của việc làm mang lại

Việc xác định bản chất và khái niệm hiệu quả cần xuất phát từ những luận điểm triết học của Mác và những luận điểm lý thuyết hệ thống, nhưng nhìn chung, hiệu quả là một phạm trù trọng tâm và rất cơ bản của khoa học kinh tế và quản lý Việc xác định hiệu quả là việc hết sức khó khăn và phức tạp mà nhiều vấn đề về lý luận cũng như thực tiễn cũng chưa giải đáp hết được

Bản chất của hiệu quả xuất phát từ mục đích sản xuất và phát triển kinh tế xã hội là đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về đời sống vật chất và tinh thần của mọi thành viên trong xã hội Muốn vậy sản xuất phải không ngừng phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu

Ngày nay chúng ta sống trong thời đại “một trái đất một gia đình” nên con người ngày càng nhận thức được các quy luật tự nhiên kinh tế, xã hội và môi trường Trong điều kiện cụ thể của nền kinh tế mở như hiện nay thì mọi hoạt động sản xuất của con người không chỉ quan tâm đến vấn đề kinh tế, xã hội mà vấn đề môi trường ngày càng trở nên quan trọng đòi hỏi phải được quan tâm đúng mức Như vậy, một quan niệm về hiệu quả trong điều kiện hiện nay là phải thoả mãn vấn đề tiết kiệm thời gian, tiết kiệm tài nguyên trong sản xuất, mang lại lợi ích

xã hội và bảo vệ được môi trường

* Hiệu quả sử dụng đất

Đất đai là tài nguyên quý giá của quốc gia, là tài sản to lớn của con người Đất

là điều kiện đầu tiên và tiên quyết của mọi ngành sản xuất vật chất của xã hội, là một trong những thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là nơi duy nhất con người sinh sống, hoạt động và phát triển Đất cũng là yếu tố có vai trò quan trọng tới hệ sinh thái môi trường Với ý nghĩa, vai trò đó, đất được coi là một trong những đối tượng đầu tiên cần tác động để hướng tới sự phát triển bền vững, vừa tạo ra được khối lượng sản phẩm vật chất lớn để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người mà không gây ảnh hưởng xấu tới thế hệ tương lai, vì vậy hiệu quả sử dụng đất là vấn đề quan trọng thu hút được nhiều sự quan tâm, nghiên cứu của các nhà khoa học và được đưa vào trong chiến lược phát triển của các quốc gia trên thế giới

Trang 18

Như vậy khi nhìn nhận về hiệu quả trong sử dụng đất thì không những chỉ nhìn về lượng kết quả đạt được theo mục đích của con người mà còn phải nhìn nhận

cả ở quá trình sử dụng để tạo ra lượng kết quả đó, có nghĩa là cần xem xét thêm cả những ảnh hưởng của các tác động, hành động của con người trong suốt quá trình

sản xuất đó Để đánh giá hiệu quả phải được xem xét một cách toàn diện cả về thời

gian và không gian trong mối quan hệ hiệu quả chung của toàn nền kinh tế Hiệu quả đó bao gồm: Hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường Ba loại hiệu quả này có mối quan hệ mật thiết với nhau như một thể thống nhất và không tách rời nhau

1.1.4.2 Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

Sử dụng đất nông nghiệp là một tổ hợp các biện pháp mà con người tác động lên đất, khai thác sức sản xuất của đất để tạo ra sản phẩm nông nghiệp phục vụ nhu cầu của con người

Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất thu hút được một lượng lớn lao động của xã hội và các sản phẩm nông nghiệp mang tính đa dạng sinh học Vì vậy, khi nghiên cứu hiệu quả trong sử dụng đất nông nghiệp, ngoài lợi ích kinh tế đạt được cần phải xem xét lợi ích xã hội và lợi ích đối với môi trường sinh thái

Như vậy, khi xem xét hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, cần xem xét hiệu quả của các phương thức sử dụng đất, hệ thống cây trồng thể hiện qua khả năng sản xuất hàng hoá, hoà nhập với thị trường trong nước và quốc tế, thực hiện cạnh tranh, phát huy hết lợi thế so sánh của từng vùng, góp phần công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, khả năng chuyên môn hoá và đa dạng hoá sản phẩm, sử dụng hợp lý nguồn lao động, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, đồng thời bảo vệ môi trường sinh thái Điều đó có nghĩa là phải đánh giá khả năng thích hợp của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp với đất đai, đánh giá những tồn dư của việc sử dụng hóa chất trong nông nghiệp đối với con người và môi trường

Đánh giá hiệu quả trong sử dụng đất nông nghiệp để tìm ra những lợi thế và hạn chế của các phương thức sản xuất, cơ cấu cây trồng tương ứng với những đặc điểm, điều kiện của từng vùng, từ đó đánh giá hiệu quả đạt được trên mỗi đơn vị diện tích canh tác, là căn cứ để đề xuất và lựa chọn những loại hình sử dụng đất và phương thức tác động vào đất nhằm đạt được hiệu quả tối ưu

Trang 19

Đánh giá hiệu quả sử dụng đất cần hướng vào ba tiêu chuẩn chung như sau:

- Bền vững về mặt kinh tế: hệ thống cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao, phát triển ổn định, được thị trường chấp nhận Do đó, phát triển sản xuất nông nghiệp là thực hiện tập trung, chuyên canh với đa dạng hóa sản phẩm

- Bền vững về mặt xã hội: thu hút nguồn lao động trong nông nghiệp, tăng thu nhập, tăng năng suất lao động, đảm bảo đời sống xã hội

- Bảo vệ môi trường: loại hình sử dụng đất có hiệu quả cao phải bảo vệ độ phì đất, ngăn ngừa sự thoái hóa đất, bảo vệ môi trường tự nhiên

1.1.4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

Việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến sử dụng đất giúp cho việc đưa ra những đánh giá phù hợp với từng loại đất, vùng đất để trên cơ sở đó đề xuất những phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất Các nhân tố ảnh hưởng đến sử dụng đất nông nghiệp có thể chia thành 3 nhóm:

* Yếu tố tự nhiên:

Các yếu tố tự nhiên bao gồm điều kiện khí hậu, đất trồng, cây trồng, môi trường sinh thái, nguồn nước Chúng có ảnh hưởng một cách rõ nét, thậm chí quyết định đến kết quả và hiệu quả sử dụng đất

- Yếu tố khí hậu:

Thực vật nói chung và cây trồng nói riêng muốn sống, sinh trưởng và phát triển đòi hỏi phải có đầy đủ các yếu tố sinh trưởng là ánh sáng, nhiệt độ, không khí, nước và dinh dưỡng Trong đó, ánh sáng, nhiệt độ, lượng mưa và độ ẩm không khí

là các yếu tố khí hậu (Hà Thị Thanh Bình và cộng sự, 2002) [4] Chính vì thế, khí

hậu là một trong những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng, năng suất và sản lượng cây trồng, ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

Khí hậu là yếu tố quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến việc phân bố các loại cây trồng, cũng như thời vụ cây trồng trong sản xuất nông nghiệp Nếu như ở trung du

và miền núi phía Bắc có thể trồng mận, hồng, đào, chuối, đậu côve, súp lơ xanh ở đồng bằng sông Hồng có thể trồng các loại rau vụ đông có nguồn gốc ôn đới thì ở đồng bằng sông Cửu Long có thể trồng sầu riêng, măng cụt hay miền Đông Nam

bộ và Tây Nguyên có thể trồng chôm chôm, trái bơ, thanh long là những cây nhiệt đới điển hình (Nguyễn Văn Nam, 2005) [22]

Trang 20

Yếu tố khí hậu nhiều khi ảnh hưởng rõ nét đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp với các mức độ khác nhau Ở đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung bộ, nhiệt

độ thấp vào vụ đông và thời kỳ đầu vụ xuân kèm theo ẩm ướt, mưa phùn, thiếu ánh sáng làm hạn chế sinh trưởng và phát triển của cây trồng ưa nắng, ưa nhiệt nhưng lại phù hợp cho cây trồng ưa lạnh có nguồn gốc ôn đới Trời âm u thiếu ánh sáng cũng là điều kiện cho sâu bệnh phát triển phá hại mùa màng

- Yếu tố đất trồng:

Cùng với khí hậu, đất tạo nên môi trường sống của cây trồng Đất trồng với các đặc tính như loại đất, thành phần cơ giới, chế độ nước, độ phì có vai trò quan trọng đối với sự sinh trưởng, phát triển và năng suất của cây trồng, ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp Đất giữ cây đứng vững trong không gian, cung cấp cho cây các yếu tố sinh trưởng như nước, dinh dưỡng và không khí (Hà Thị

Thanh Bình và cộng sự, 2002) Độ phì là một trong những yếu tố quan trọng nhất

của đất Vị trí từng mảnh đất có ảnh hưởng đến quá trình hình thành độ phì của đất

Độ phì nhiêu của đất liên quan trực tiếp đến năng suất cây trồng Do vậy, tuỳ theo

vị trí địa hình, chất đất mà lựa chọn, bố trí cây trồng thích hợp trên từng loại đất mới cho năng suất, hiệu quả sử dụng đất cao

- Yếu tố cây trồng:

Cây trồng là yếu tố trung tâm trong quá trình sản xuất nông nghiệp Con người hưởng lợi trực tiếp từ những sản phẩm của cây trồng Những sản phẩm này cung cấp lương thực, thực phẩm cho các nhu cầu thiết yếu cho con người và cho các hoạt động trao đổi hàng hóa, xuất khẩu Việc bố trí cây trồng và kiểu sử dụng đất hợp lý trên đất sẽ đem lại những giá trị cao về mặt hiệu quả cho cả người sản xuất và tạo ra

sự bền vững cho môi trường đất Ngược lại, nếu cây trồng được bố trí bất hợp lý, sử dụng đất bừa bãi không những gây thất thu cho người nông dân mà còn ảnh hưởng xấu đến đất

Ngày nay, với sự phát triển nhanh chóng của những tiến bộ khoa học, kỹ thuật trong quá trình sản xuất nông nghiệp cũng như trình độ của người nông dân ngày càng được nâng cao, các giống cây trồng mới với chất lượng và năng suất cao, thời gian sinh trưởng ngắn xuất hiện ngày càng nhiều góp phần tạo tiền đề mạnh mẽ cho

Trang 21

quá trình sản xuất hàng hóa trong sản xuất nông nghiệp Sản xuất nông nghiệp hàng hoá phát triển gắn với việc tăng hệ số sử dụng đất, gia tăng giá trị kinh tế cho một đơn vị diện tích đất

* Yếu tố kinh tế, xã hội:

- Yếu tố con người:

Con người là chủ thể của quá trình lao động, là nhân tố tác động trực tiếp tới đất và hưởng lợi từ đất Con người với bàn tay và khối óc của mình có thể tạo ra những phương thức sử dụng đất hợp lý, hiệu quả Đối với các hoạt động kinh tế nói chung, sản xuất nông nghiệp nói riêng, dân số vừa là thị trường cầu của sản phẩm hàng hoá và dịch vụ, vừa là nguồn cung về lao động cho sản xuất

Các hoạt động kinh tế sẽ không thể phát triển nếu không có thị trường tiêu thụ các sản phẩm do chúng tạo ra (Hoàng Văn Cường, 2002) [8] Khi dân số còn thấp, trình độ và nhu cầu thấp, việc khai thác quỹ đất nông nghiệp còn ở mức hạn chế, hiệu quả không cao nhưng sự bền vững trong sử dụng đất nông nghiệp được đảm bảo Ngược lại, ngày nay, khi dân số tăng nhanh kéo theo sự gia tăng các nhu cầu thì tài nguyên đất nông nghiệp bị khai thác nhiều, triệt để hơn nhằm đạt năng suất

và hiệu quả cao hơn Vì vậy, quy luật sinh thái và tự nhiên bị xâm phạm, tính bền

vững tài nguyên đất kém hơn

- Yếu tố kinh tế:

Đối với mỗi quốc gia, mức độ phát triển của nền kinh tế quốc dân có ảnh hưởng lớn đến các hoạt động sản xuất nói chung và sử dụng đất nông nghiệp nói riêng và ngược lại Nếu sử dụng đất có hiệu quả sẽ góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển Khi kinh tế phát triển, nó sẽ làm tiền đề cho quá trình sử dụng đất đạt được hiệu quả cao hơn, thông qua việc đầu tư, áp dụng tiến bộ kỹ thuật, công nghệ cao làm nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm cây trồng Sự phát triển nông nghiệp chịu sự chi phối của quy luật cung cầu, chịu sự ảnh hưởng của rất nhiều yếu

tố đầu vào, quy mô các nguồn lực như: đất, lao động, vốn sản xuất, thị trường, kiến thức và kinh nghiệm trong sản xuất và tiêu thụ nông sản

- Cơ chế chính sách:

Trong hơn mười năm qua, Việt Nam đã thực hiện chính sách đổi mới trong nông nghiệp, tập trung vào trọng tâm: làm rõ và giao cho nông dân nhiều quyền đối

Trang 22

với ruộng đất; tự do hóa thương mại trong nước và xuất nhập khẩu; giao quyền quyết định sản xuất cho nông dân; đổi mới các hợp tác xã, doanh nghiệp nhà nước, khuyến khích kinh tế tư nhân Đồng thời nhà nước tăng đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng, cung cấp tín dụng, chuyển giao khoa học công nghệ Những chính sách mới đã khuyến khích mạnh mẽ nhân dân đầu tư vào phát triển sản xuất Nông nghiệp Việt Nam đã phát triển nhanh, liên tục trong thời kỳ thực hiện chính sách đổi mới Các chính sách đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn, chính sách tín dụng nông thôn, chính sách về giải quyết việc làm và xoá đói giảm nghèo, khuyến nông thực sự đã giúp ích rất nhiều trong quá trình sử dụng đất nông nghiệp của những người nông dân

Trong sản xuất nông nghiệp, việc sử dụng bừa bãi phân hoá học, thuốc trừ sâu, thuốc trừ cỏ không chỉ làm cho sản xuất kém hiệu quả mà còn có tác động tiêu cực đến môi trường, nguồn nước, không khí và đất Do vậy, việc Nhà nước can thiệp bằng các chính sách và pháp luật thích hợp đã tạo điều kiện, khuyến khích, hướng dẫn sản xuất nông nghiệp và đảm bảo tính bền vững của các yếu tố nguồn lực trong sản xuất nông nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông

nghiệp Cũng bằng các chính sách thích hợp, sử dụng đất nông nghiệp được đảm

bảo ổn định và lâu dài

Trong những năm qua, Chính phủ đã ban hành, sửa đổi và bổ sung những chủ trương, chính sách về đất đai nhằm mục đích thúc đẩy sự phát triển sản xuất nông nghiệp nông thôn Luật đất đai năm 2003 và mới đây là luật đất đai năm 2013 (chính thức có hiệu lực từ ngày 1/7/2014) đã thể chế hoá và nới rộng quyền của người sử dụng đất Đây là một chính sách khuyến khích người nông dân đầu tư vào sản xuất dài hạn, thay đổi cơ cấu cây trồng nhằm phát triển sản xuất hàng hoá một cách có hiệu quả Từ khi luật Đất đai 2003 ra đời đã làm cho người nông dân yên tâm đầu tư trên đất, sử dụng đất nông nghiệp một cách chủ động và hiệu quả, phát huy được lợi thế so sánh của từng vùng, từng miền Thực tế cho thấy, chính sách về đất đai thông thoáng sẽ là cơ sở để hình thành các phương thức sản xuất mới như thâm canh, tăng vụ, nâng cao hiệu quả sử dụng đất canh tác, đặc biệt là sử dụng để sản xuất cây trồng có giá trị hàng hoá cao

Trang 23

- Khoa học kỹ thuật:

Trong những năm qua, cùng với sự phát triển của xã hội, những thành tựu và khoa học kỹ thuật ngày càng được ứng dụng nhiều trong các ngành kinh tế nói chung và nông nghiệp nói riêng Các máy móc cơ giới liên tục được cải tiến cho phù hợp hơn với đồng ruộng Việt Nam, các giống cây trồng mới tốt hơn, năng suất hơn thường xuyên được ứng dụng vào sản xuất Điều này góp phần không nhỏ vào việc giải phóng sức lao động cũng như nâng cao năng suất, sản lượng cây trồng hay tạo ra những sản phẩm tốt hơn, sạch hơn cho xã hội Khoa học kỹ thuật đóng vai trò quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn Cải tiến kỹ thuật trước hết làm tăng cung về hàng hoá nông sản, cũng tức là làm phát triển kinh tế

1.1.5 Khái quát tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên Thế giới và ở Việt Nam

Đất có năng suất cao : 14%

Đất có năng suất trung bình : 28%

Đất có năng suất thấp : 58%

Xã hội phát triển ngày càng cao, nhu cầu xây dựng ngày càng lớn Người ta ước tính một người cần 0,1 ha đất làm chỗ ở và các nhu cầu văn hoá, giao thông, v.v ) dẫn đến hàng năm thế giới mất đi khoảng 8 triệu ha đất nông nghiệp do chuyển sang xây dựng cơ bản

Nguồn tài nguyên đất thế giới hàng năm luôn bị giảm đi về số lượng cũng như chất lượng, đặc biệt là đất nông nghiệp mất đi do chuyển sang sử dụng cho mục đích khác (chủ yếu là dùng cho xây dựng) Đất nông nghiệp còn mất đi do xói mòn,

Trang 24

nhiễm mặn, ô nhiễm khác, v.v khoảng 4 triệu ha Như vậy, mỗi năm nhân loại mất

đi 12 triệu ha đất nông nghiệp

Những đất còn lại thì bị giảm sút về chất lượng do nhiều nguyên nhân như xói mòn, rửa trôi, đặc biệt ở vùng nhiệt đới ẩm do mưa lớn cùng với đất dốc, 1 ha đất trong

1 năm mất từ 100 - 150 tấn đất Ngoài ra còn nhiều nguyên nhân khác như: Khô hạn, chất thải rắn và lỏng, bụi, v.v đã làm cho đất bị ô nhiễm thoái hóa Bên cạnh đó, tình trạng kết von, đá ong hoá, hoang mạc hóa, v.v ngày càng gia tăng

Song song với việc đất nông nghiệp ngày càng bị mất mất và xấu đi thì sự bùng nổ dân số trên cả thế giới ngày càng báo động Dân số thế giới mỗi năm tăng

từ 80 - 85 triệu người Với năng suất như hiện nay, mỗi người cần 0,2 - 0,4 ha đất nông nghiệp mới đủ lương thực, thực phẩm Muốn nuôi sống 80 - 100 triệu người dân tăng/năm cần phải khai hoang 20 - 30 triệu ha đất mỗi năm Như vậy muốn đất nông nghiệp khỏi mất đi hàng năm thì phải khai hoang mở rộng diện tích từ 30 - 40 triệu ha Song tiềm năng đất nông nghiệp của thế giới chỉ có hạn Theo nhiều nhà khoa học tính toán, trong 3,2 tỷ ha đất của trái đất chúng ta đã khai thác 1,5 tỷ ha, còn 1,7 tỷ ha với tốc độ khai thác 40 triệu ha/năm thì chỉ còn 40 năm nữa là không

có đất để khai hoang mở rộng diện tích

Tóm lại, việc con người khai thác và sử dụng bừa bãi không có khoa học làm cho đất nông nghiệp giảm cả về số lượng và chất lượng Nhiều vùng đất trên thế giới đã trở thành sa mạc không thể canh tác được, các hệ sinh thái đất khô cằn rất nhạy cảm với việc khai thác quá mức và sử dụng đất không hợp lý Nghèo đói, mất

ổn định chính trị, phá rừng, chăn thả quá mức và các hoạt động tưới tiêu nghèo nàn đều đóng góp vào sa mạc hoá Sa mạc Sahara mỗi năm mở rộng lấn mất 100.000 ha đất nông nghiệp và đồng cỏ Thoái hoá môi trường đất có nguy cơ làm giảm 10 - 20% sản lượng lương thực thế giới trong 20 năm tới Khoảng 1,2 tỷ người của hơn

110 nước đang bị đe doạ bởi vấn đề này [3]

1.1.5.2 Ở Việt Nam

Theo báo cáo Tổng điều tra đất đai năm 2010, tổng diện tích các loại đất kiểm

kê của cả nước là 33.093.857 ha Theo mục đích sử dụng, đất được phân thành 3 nhóm chính: đất nông nghiệp; đất phi nông nghiệp; đất chưa sử dụng

Trang 25

Trong đó, tổng diện tích nhóm đất nông nghiệp của cả nước năm 2010 là 26.100.160 ha, tăng 5.179.385 ha (gấp 1,25 lần) so với năm 2000 Trong đó, lượng tăng chủ yếu ở loại đất lâm nghiệp (tăng 3.673.998 ha) và loại đất sản xuất nông nghiệp (tăng 1.140.393 ha) [28]

Như vậy, diện tích đất đai được sử dụng vào sản xuất nông nghiệp chưa đầy 25% Có thể nói, Việt Nam rất đa dạng về các loại hình thổ nhưỡng và phong phú

về khả năng sử dụng đất, nhưng phân bố giữa các vùng không đều Ở những vùng đất rộng lớn thì dân cư lại ít, thưa thớt Những vùng này thường điều kiện sản xuất khó khăn, do đó đời sống cũng gặp nhiều khó khăn Vùng Trung du Bắc bộ chiếm 31,3% diện tích đất tự nhiên nhưng chỉ chiếm 16,4% tổng diện tích đất nông nghiệp của cả nước Trong khi đó, Đồng bằng sông Hồng chiếm 3,78% đất tự nhiên nhưng chiếm 8,7% tổng diện tích đất nông nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long chiếm 11,95% đất tự nhiên, nhưng chiếm 34,30% tổng diện tích đất nông nghiệp.[31] Diện tích đất tự nhiên và đất nông nghiệp trên đầu người ngày càng giảm do tốc độ tăng dân số cao, sự phát triển mạnh của các yếu tố như đô thị hoá, công nghiệp hoá và các cơ sở hạ tầng mà ở đó chủ yếu là đất nông nghiệp bị chuyển đổi mục đích sử dụng sang các hoạt động kinh tế khác với số lượng ngày càng tăng Diện tích đất bình quân đầu người ở Việt Nam thuộc loại thấp trên Thế giới, diện tích đất tự nhiên bình quân đầu người là 0,46 ha, chỉ bằng 1/6 mức bình quân của Thế giới, đứng thứ 10 trong 11 nước Đông Nam á (cao hơn Singapore) và đứng thứ

135 trong số 200 nước trên Thế giới Bình quân đất nông nghiệp trên đầu người của

Việt Nam hiện chỉ còn dưới 0,12 ha (theo số liệu thống kê đất nông nghiệp năm

2002 của Bộ Tài nguyên và Môi trường)

Trong đó đất sản xuất nông nghiệp được sử dụng chủ yếu vào các mục đích như trồng cây hàng năm và cây lâu năm Sơ bộ năm 2009, đất trồng cây hàng năm

có diện tích là 11.188,6 ha, trong đó: đất trồng cây lương thực có hạt là 8528,4 nghìn ha, cây công nghiệp hàng năm là 758,6 nghìn ha Diện tích đất trồng cây lâu năm là 2.760,6 nghìn ha, trong đó diện tích cây ăn quả là 774,0 nghìn ha, cây công nghiệp lâu năm 1936,2 nghìn ha [20]

Thoái hóa đất đang là xu thế phổ biến đối với nhiều vùng rộng lớn ở Việt Nam, đặc biệt là vùng đồi núi, nơi tập trung hơn 3/4 quỹ đất Các dạng thoái

Trang 26

hoá đất chủ yếu là: xói mòn, rửa trôi, đất có độ phì nhiêu thấp và mất cân bằng dinh dưỡng, đất chua hoá, mặn hoá, phèn hoá, bạc màu, khô hạn và sa mạc hoá, đất ngập úng, lũ quét, đất trượt và sạt lở, đất bị ô nhiễm

Trên 50% diện tích đất (3,2 triệu ha) ở vùng đồng bằng và trên 60% diện tích đất (13 triệu ha) ở vùng đồi núi có những vấn đề liên quan tới suy thoái đất Ở đồng bằng, thách thức về môi trường đất là nạn ngập úng, lũ, phèn hoá, mặn hoá, xói mòn

và sạt lở bờ sông, bờ biển, ô nhiễm đất, vắt kiệt độ phì của đất để thu lợi ích ngắn hạn Ở vùng miền núi, nguyên nhân suy thoái môi trường đất có nhiều, song chủ yếu do phương thức canh tác nương rẫy còn thô sơ, lạc hậu của các dân tộc miền núi; tình trạng chặt phá, đốt rừng bừa bãi Sự suy thoái môi trường đất kéo theo sự suy thoái các quần thể động, thực vật và chiều hướng giảm diện tích đất nông nghiệp trên đầu người đến mức báo động

Để chống thoái hoá đất, sử dụng hiệu quả và bền vững tài nguyên đất, Việt Nam đã và đang thực hiện các chính sách, chương trình và dự án thích hợp như : giao đất khoán rừng cho hộ gia đình, trồng rừng, nông lâm kết hợp, phát triển cây lâu năm trên đất dốc, bảo tồn và sử dụng bền vững đất ngập nước, quản lý lưu vực sông và đới ven bờ Một số hành động quốc tế nhằm chống thoái hoá đất cũng đã được thực hiện, song quy mô còn rất nhỏ

Những hoạt động ưu tiên nhằm chống tình trạng thoái hóa đất, sử dụng hiệu quả và bền vững tài nguyên đất:

Trong cơ cấu đất sản xuất nông nghiệp, diện tích đất trồng lúa có sự suy giảm đáng kể (trên 340.000 ha), trung bình mỗi năm giảm trên 34.000 ha Có 41/63 tỉnh giảm diện tích đất trồng lúa Nguyên nhân giảm chủ yếu do chuyển từ đất trồng lúa kém hiệu quả sang các loại đất nông nghiệp khác, như: đất trồng rau, màu hoặc trồng cây công nghiệp (cao su, cà phê), trồng cây cảnh, cây ăn quả, nuôi trồng thủy sản và các loại đất phi nông nghiệp (công trình công cộng, phát triển đô thị và các khu dân cư nông thôn, hoặc đất sản xuất, kinh doanh)

Hiện nay diện tích đất nông nghiệp ở nước ta đang bị thu hẹp dần qua từng năm Tính đến năm 2010 giảm hơn 170.000ha, diện tích đất canh tác Việt Nam vào loại thấp nhất thế giới chỉ khoảng 0,12% Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình

Trang 27

trạng trên đó là: Do quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa quá nhanh, đặc biệt những năm gần đây hàng loạt những sân golf xây dựng làm cho đất đai bị hủy diệt

với danh nghĩa là những “điểm đến xanh”, “thiên đường xanh”… mà ẩn dấu phía

sau là những mảng xám, màu đen gây hại cho môi sinh, xã hội Ngoài ra do nhu cầu

về sử dụng năng lượng nên chúng ta đã đẩy mạnh việc xây dựng hàng loạt các công trình thủy điện, hồ tích nước làm ảnh hưởng trực tiếp cũng như gián tiếp đến các diện tích đất nông nghiệp đang canh tác (các công trình này làm ngập các thung lũng, các diện tích cây trồng đang canh tác…) Đó là chưa kể đến một phần diện tích đất nông nghiệp bị chuyển đổi mục đích sử dụng vào ngành nuôi trồng thủy sản Tất cả các vấn đề trên ảnh hưởng trực tiếp đến các vấn đề an ninh lương thực,

an sinh xã hội…vì hàng năm dân số nước ta tăng bình quân 1 triệu người Tuy trước mắt chúng ta vẫn là nước xuất khẩu lương thực khá ổn định, an ninh lương thực quốc gia chưa phải là điều đáng quan ngại Nhưng cứ với tốc độ chuyển đổi đất như hiện nay đó cũng chính là thách thức lớn của ngành nông nghiệp Việt Nam trong những năm tới

Nhu cầu lương thực của cả nước năm 2010 là 42 triệu tấn (tăng 5 triệu so với năm 2005) Với diện tích gieo trồng lúa hiện nay là 7,15 triệu ha thì có thể đạt sản lượng 39-40 triệu tấn thóc (hệ số sử dụng đất trồng 1,8) Như vậy không đáp ứng được nhu cầu lương thực Trong khi đó, để đảm bảo đến năm 2015 vẫn giữ được diện tích trên là một khó khăn lớn trước sức ép tăng dân số và sức ép về công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trước những thách thức trên để tăng sản lượng, chúng ta bắt buộc phải năng suất bằng cách nâng cao trình độ thâm canh, sử dụng ngày càng nhiều phân bón hóa học, thuốc BVTV Việt Nam là nước sử dụng phân bón hóa học vào hạng cao nhất thế giới dẫn đến tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng Bởi vậy làm thế nào vừa nâng cao sản lượng vừa đảm bảo vấn đề môi trường là một công việc mà ngành nông nghiệp nước ta đang phải đối mặt giải quyết

Cũng do quá trình thâm canh nên hàng năm tổng lượng phân bón các loại sử dụng ở Việt Nam xấp xỉ 7,7 triệu tấn Tuy nhiên thực tế cho thấy việc sử dụng phân bón chỉ được trên 40% hiệu suất Ở một số vùng tỷ lệ này còn thấp hơn chỉ khoảng

Trang 28

10-20% Tức là hàng năm chúng ta mất khoảng 4,62 triệu tấn phân bón, đó chính là một con số rất lãng phí Trong khi đó tình hình sử dụng thuốc BVTV ở nước ta tăng từng năm, hàng năm lượng thuốc BVTV được sử dụng khoảng 200.000-250.000 tấn Đặc biệt hầu hết các loại thuốc BVTV ở nước ta đang sử dụng đều phải nhập khẩu từ nước ngoài (Phân bón và thuốc BVTV nước ta nhập khẩu hàng năm khoảng 1,3 tỷ USD)

Trước thực trạng trên đã có rất nhiều giải pháp được đưa ra nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón, giảm chi phí đầu tư cho bà con nông dân như: sử dụng phân bón và luân canh cây trồng hợp lý, hạn chế mất cân bằng dinh dưỡng trong đất, kết hợp bón phân hữu cơ, Đặc biệt việc đưa nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật trong công nghệ sản xuất phân bón đang là vấn đề đặt lên hàng đầu Theo đó, giải pháp sử dụng phân bón sinh học, vi sinh học để nâng cao hiệu suất sử dụng phân bón, giảm chi phí sản xuất được bà con nông dân nhiệt tình hưởng ứng

1.2 Đánh giá sử dụng đất nông nghiệp bền vững

Theo quan điểm của FAO (1990), nông nghiệp bền vững bao gồm “việc sử dụng, quản lý có hiệu quả tài nguyên cho nông nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu cuộc sống của con người, đồng thời gìn giữ, cải thiện tài nguyên thiên nhiên môi trường

và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên”

Trang 29

Theo quan điểm của Mollison và Remy Mia Slay (1999): Triết lý của nông nghiệp bền vững là hợp tác với thiên nhiên, tuân theo các quy luật tự nhiên, không đi ngược/chống lại các quy luật của tự nhiên Nông nghiệp bền vững không chỉ bảo vệ những hệ sinh thái hiện có mà còn tìm cách khôi phục những hệ sinh thái đã suy thoái Tiêu chí để đánh giá sự phát triển bền vững là sự tăng trưởng kinh tế ổn định; thực hiện tốt tiến bộ và công bằng xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và nâng cao được chất lượng môi trường sống

Nguyên tắc xây dựng nông nghiệp bền vững là áp dụng hệ thống khoa học kỹ thuật sao cho thích hợp với điều kiện khí hậu từng vùng/miền và điều kiện kinh tế của từng địa phương nhằm xây dựng những hệ sinh thái nông nghiệp phù hợp Việc

áp dụng các biện pháp phòng trừ sâu bệnh hại hay việc sử dụng các hóa chất làm phân bón cần phải tính toán cẩn thận Khi áp dụng cần thực hiện theo 4 nguyên tắc: tính đa dạng; nhìn nhận đất là một thực thể sống; khả năng tái chu chuyển; tính kết cấu nhiều tầng

Theo quan điểm của Dumanski (2000): Nền tảng của một nền nông nghiệp bền vững là duy trì tiềm năng sản xuất sinh học, đặc biệt là duy trì chất lượng đất, nước và tính đa dạng sinh học”

Nền nông nghiệp bền vững phải đảm bảo được 3 yêu cầu: quản lý đất bền vững; công nghệ được cải tiến; hiệu quả kinh tế phải được nâng cao Trong đó quản

lý đất bền vững được đặt lên hàng đầu Mục tiêu của quản lý đất bền vững là hài hòa các mục tiêu sử dụng đất và tạo cơ hội để đạt được kết quả về kinh tế, xã hội và môi trường vì lợi ích không chỉ cho các thế hệ hiện nay mà còn cho các thế hệ tương lai, trong khi vẫn duy trì và nâng cao chất lượng của tài nguyên đất

Như vậy, nông nghiệp giữ vai trò động lực cho phát triển kinh tế của hầu hết các nước đang phát triển Một nền nông nghiệp bền vững là rất cần thiết để tạo ra những lợi ích lâu dài, góp phần vào phát triển bền vững và xóa đói giảm nghèo Tiêu chí đánh giá phát triển nông nghiệp bền vững: tốt về môi trường, có hiệu quả kinh tế, phù hợp với nhu cầu xã hội, nhạy cảm về văn hóa, áp dụng các công nghệ thích hợp, có

cơ sở khoa học hoàn thiện và đem lại sự phát triển chung cho cộng đồng

Trang 30

1.2.2 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất theo quan điểm sinh thái bền vững

1.2.2.1 Sự cần thiết đánh giá hiệu quả sử dụng đất theo quan điểm sinh thái bền vững

Hiện tại trên thế giới cũng như trong nước chưa có những nghiên cứu có tính chiến lược về sử dụng quản lý đất đai lâu bền, trong đó có vấn đề quan trọng là quản lý đất, nước và dinh dưỡng Phần lớn các chương trình nghiên cứu triển khai

đề cập tới nâng cao năng suất trên các ô thửa canh tác, chưa giải quyết được các vấn

đề trên toàn lưu vực hoặc trên một vùng rộng lớn theo quan điểm sinh thái bền vững, đặc biệt đối với những vùng đất dốc, đất có vấn đề và dễ bị thoái hoá Việc đánh giá hiệu quả sử dụng đất theo quan điểm sinh thái bền vững nhằm đạt được các mục tiêu sau:

- Duy trì hoặc nâng cao năng suất nông nghiệp (Hiệu quả sản xuất)

- Giảm rủi ro cho sản xuất (An toàn)

- Bảo vệ tiềm năng nguồn lực tự nhiên và ngăn ngừa thoái hoá đất và nước (Bảo vệ)

- Có hiệu quả lâu dài (Lâu bền)

- Được xã hội chấp nhận (Tính chấp nhận)

Như vậy, việc nghiên cứu và sử dụng những phương thức sản xuất và tác động tới đất nhằm duy trì sức sản xuất hiện tại mà không nguy hại đến lợi ích tương lai là một yêu cầu cấp thiết, có ý nghĩa chiến lược lâu dài hướng tới sự phát triển bền vững

1.2.2.2 Những tiêu chí và chỉ tiêu cơ bản đánh giá tính bền vững hiệu quả sử dụng đất

Để đánh giá hiệu quả sử dụng đất nói chung cần phải xem xét một cách cân đối và đồng bộ các tiêu chí trên các khía cạnh hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và vấn đề bảo vệ môi trường đất để sử dụng lâu bền Theo quan điểm về sử dụng đất bền vững, nhất là đối với đất đồi núi dốc các nhà khoa học đất Việt Nam đã nghiên cứu và đề nghị sử dụng các tiêu chí sau đây để đánh giá hiệu quả sử dụng đất

* Nhóm tiêu chí về hiệu quả kinh tế

- Hệ thống sử dụng đất phải có mức năng suất sinh học cao trên mức bình quân trong vùng có cùng điều kiện đất đai

- Xu thế năng suất phải tăng dần

Trang 31

- Về chất lượng: Sản phẩm phải đạt tiêu chuẩn thị trường

- Giá trị sản xuất (GO), giá trị tăng (VA) trên đơn vị diện tích là thước đo quan trọng nhất của hiệu quả kinh tế đối với một hệ thống sử dụng đất Các loại sản phẩm (chính và phụ) có đóng góp vào thu nhập đều phải được tính đến

- Các chỉ tiêu khác về hiệu quả kinh tế được xem xét trong từng điều kiện cụ thể về không gian và thời gian để góp phần đề ra các quyết định cho hệ thống sử dụng đất

- Giảm rủi ro: Hệ thống sử dụng đất cố gắng giảm đến mức thấp nhất thiệt hại

do thiên tai, sâu bệnh Về thị trường tiêu thụ trước hết phải quan tâm đến thị trường nội địa (nếu không bán được xa hay xuất khẩu thì vẫn có khả năng tiêu thụ trong vùng) Sản phẩm dễ bảo quản, ít hư hao, thối hỏng, tránh cho người sản xuất không

bị người mua độc quyền ép giá

* Nhóm tiêu chuẩn về hiệu quả xã hội – tính chấp nhận xã hội

- Xác định hệ thống sử dụng đất trước hết cần quan tâm đến nhu cầu tối thiểu

của nông hộ về ăn, ở và sinh hoạt rồi mới vươn lên để sản xuất hàng hoá

Sau nữa là quan tâm đến việc cho thu nhập thường xuyên, đều kỳ phù hợp với vốn liếng ít ỏi của hộ nông dân

- Hệ thống sử dụng đất phải phát huy được nội lực của nông hộ và nguồn lực địa phương, được tổ chức trên đất mà nông dân có quyền hưởng thụ lâu dài, đất, rừng đã được giao với lợi ích các bên rạch ròi

- Nguồn vốn vay được ổn định với lãi suất và thời hạn phù hợp từ nguồn vốn tín dụng hoặc ngân hàng

- Người dân được tham gia triệt để vào việc ra quyết định về kế hoạch và phương án sản xuất, có quyền bình đẳng trong hưởng lợi đối với mọi hợp đồng có liên quan

- Về lao động xã hội: Bố trí sử dụng hợp lý nguồn lao động, quan tâm đến việc bình đẳng giới và quyền trẻ em Không làm cho phụ nữ phải lao động nặng nhọc hơn, không lạm dụng sức lao động của trẻ em và tước đi quyền học tập của chúng Rút gắn thời gian lao động và tăng thời gian học tập cho trẻ em

+ Tỷ lệ sử dụng lao động trong nông lâm nghiệp

Trang 32

* Nhóm tiêu chuẩn về môi trường sinh thái

Hệ thống sử dụng đất phải đáp ứng các yêu cầu sau:

- Giữ đất khỏi bị rửa trôi, xói mòn: Thể hiện bằng giảm thiểu lượng đất mất hàng năm dưới ngưỡng cho phép Ngưỡng này phải được xác định cho từng loại đất, từng thảm phủ thực vật ở mỗi địa phương

- Độ phì nhiêu đất tăng dần trong đó tuần hoàn hữu cơ được cải thiện

- Đảm bảo nguồn sinh thuỷ không bị khai thác cạn kiệt, hạ mức nước ngầm, ô nhiễm nguồn nước

- Đảm bảo độ che phủ đạt ngưỡng an toàn sinh thái (> 35%) che phủ liên tục trong năm

- Đảm bảo đa dạng sinh học thể hiện qua thành phần loài sinh vật (đa canh bền vững hơn độc canh, cây dài ngày có khả năng bảo vệ tốt hơn cây ngắn ngày v.v )

- Bảo tồn quỹ gen: Tận dụng được nhiều loài cây bản địa vốn đã được chọn lọc từ lâu đời thích nghi với điều kiện địa phương, bổ xung một số loài mới đảm bảo cân bằng sinh thái

- Hệ số đa dạng sinh học

- Tỷ lệ che phủ rừng, tỷ lệ diện tích đất trống được trồng

Các tiêu chí thuộc ba lĩnh vực trên được dùng để xem xét đánh giá một hệ thống sử dụng đất Tuỳ theo từng đặc tính và mục tiêu của mỗi kiểu sử dụng đất các tiêu chí và chỉ tiêu cũng có ý nghĩa khác nhau, cấp độ quan trọng khác nhau Vì vậy khi đánh giá sẽ xem xét trong từng trường hợp cụ thể mà đặt cho chúng các trọng số khác nhau

Trang 33

1.2.2.3 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá

* Chỉ tiêu hiệu quả kinh tế

+ Hiệu quả kinh tế tính trên 1 ha đất nông nghiệp

- Giá trị sản xuất (GTSX): là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ được tạo ra trong một kỳ nhất định (thường là một năm)

- Chi phí trung gian (CPTG): là toàn bộ các khoản chi phí vật chất thường xuyên bằng tiền mà chủ thể bỏ ra để thuê và mua các yếu tố đầu vào và dịch vụ sử dụng trong quá trình sản xuất

- Giá trị gia tăng (GTGT): là hiệu số giữa giá trị sản xuất và chi phí trung gian,

là giá trị sản phẩm xã hội tạo ra thêm trong thời kỳ sản xuất đó

GTGT = GTSX- CPTG

+ Hiệu quả kinh tế tính trên 1 đồng chi phí trung gian (GTSX/CPTG, GTGT/CPTG): đây là chỉ tiêu tương đối của hiệu quả, nó chỉ ra hiệu quả sử dụng các chi phí biến đổi và thu dịch vụ

+ Hiệu quả kinh tế trên ngày công lao động quy đổi, gồm có (GTSX/LĐ, GTGT/LĐ) Thực chất là đánh giá kết quả đầu tư lao động sống cho từng kiểu sử dụng đất và từng cây trồng làm cơ sở để so sánh với chi phí cơ hội của người lao động

* Chỉ tiêu hiệu quả về mặt xã hội

Hiệu quả xã hội được phân tích bởi các chi tiêu sau (Nguyễn Đình Hợi 1993) [12]: + Đảm bảo an toàn lương thực, gia tăng lợi ích của nông dân;

+ Đáp ứng mục tiêu chiến lược phát triển của vùng;

+ Thu hút nhiều lao động, giải quyết công ăn việc làm cho nông dân;

+ Góp phần định canh định cư, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật

* Chỉ tiêu hiệu quả về mặt môi trường

Theo Đỗ Nguyên Hải ( Đỗ Nguyên Hải 1999) [10], chỉ tiêu đánh giá chất lượng môi trường trong quản lý sử dụng đất bền vững ở vùng nông nghiệp được tưới là:

+ Quản lý đối với đất đai rừng đầu nguồn;

+ Đánh giá các tài nguyên nước bền vững;

+ Đánh giá quản lý đất đai;

Trang 34

+ Đánh giá hệ thống cây trồng;

+ Đánh giá về tính bền vững đối với việc duy trì độ phì nhiêu của đất và bảo

vệ cây trồng;

+ Đánh giá về quản lý và bảo vệ tự nhiên;

+ Sự thích nghi của môi trường đất khi thay đổi kiểu sử dụng đất

Các tiêu chí và chỉ tiêu thuộc 3 lĩnh vực trên được dùng để xem xét đánh giá hiệu quả của một hệ thống sử dụng đất Tuy nhiên, theo từng đặc tính và mục tiêu của mỗi kiểu sử dụng đất, các tiêu chí và chỉ tiêu cũng có ý nghĩa khác nhau Vì vậy khi đánh giá xem xét trong từng trường hợp cụ thể mà đặt cho chúng có các trọng số khác nhau

1.2.3 Các công trình nghiên cứu về đánh giá sử dụng đất nông nghiệp bền vững

ở Việt Nam

Sử dụng đất trên quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền là vấn đề then chốt đối với sản xuất nông nghiệp bền vững của mỗi quốc gia Ở Việt Nam cũng như nhiều nước đang phát triển trên thế giới, sản xuất nông nghiệp đang phải đối đầu với tình trạng thiếu đất canh tác do sức ép về tăng dân số, phát triển công nghiệp, đô thị Việc khai thác và sử dụng quá mức đối với tài nguyên đất đai đã làm diện tích đất bị thoái hóa ngày một tăng Do đó cần thiết phải nhìn nhận một cách đúng đắn những hậu quả của việc sử dụng đất và vấn đề môi trường sẽ xảy ra để có những biện pháp nhằm bảo vệ nguồn tài nguyên đất đai Sử dụng đất đai bền vững đang trở thành một biện pháp quan trọng để quản lý các nguồn tài nguyên đất đai cho sản xuất nông, lâm nghiệp nhằm duy trì hay cải thiện được môi trường và bảo tồn tài nguyên tự nhiên Công tác nghiên cứu về đánh giá đất ở Việt Nam mới thực sự bắt đầu từ những năm đầu thập kỷ 70 và đã có những công trình nghiên cứu đã là nền tảng cho việc sử dụng đất đai bền vững

Năm 1983 Tổng cục quản lý ruộng đất đã đề xuất dự thảo “Phương pháp phân hạng đất cấp huyện” Dựa trên những kết quả nghiên cứu bước đầu của việc đánh giá phân hạng đã xác định và đưa đưa ra những tiêu chuẩn phân hạng đánh giá đất cho từng loại cây trồng chủ yếu

Trang 35

Năm 1986 Tôn Thất Chiểu [33] đã nghiên cứu đánh giá, phân hạng đất khái quát toàn quốc tỷ lệ bản đồ 1/500.000, tác giả đã áp dụng đánh giá phân loại khả năng đất đai của Bộ nông nghiệp Hoa Kỳ, kết quả đã lập ra các nhóm khả năng thích hợp đất đai trên toàn quốc Trong đó có 4 nhóm cho sử dụng đất nông nghiệp,

2 nhóm có khả năng sử dụng cho sản xuất lâm nghiệp và 2 nhóm cho sử dụng các mục đích khác

Từ những năm 1990 đến nay, viện Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp đã thực hiện nhiều công trình nghiên cứu đánh giá, đất trên phạm vi toàn quốc với 9 vùng sinh thái và nhiều vùng chuyên canh theo các dự án đầu tư Nguyễn Khang, Phạm Dương Ưng (1994) [13] với “ Kết quả bước đầu đánh giá tài nguyên đất đai Việt Nam”, Nguyên Công Pho (1995) [25] với “Đánh giá khả năng sử dụng đất đai vùng đồng bằng sông Cửu Long” … Tháng 1 năm 1995, viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp đã tổ chức hội thảo về đánh giá đất đai và quy hoạch sử dụng đất trên quan điểm sinh thái và phát triển bền vững Hội nghị đã tổng kết, đánh giá ứng dụng quy định đánh giá của FAO vào thực tiễn ở Việt Nam, nêu những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu để đưa kết quả đánh giá vào quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp

có hiệu quả Thông qua việc đánh giá khả năng thích hợp của đất đai để thấy tiềm năng đa dạng hoá của nông nghiệp, khả năng tăng vụ, lựa chọn hệ thống sử dụng đất, loại hình sử dụng đất phù hợp để tiến tới sử dụng đất hợp lý và có hiệu quả cao hơn [29]

Quy trình đánh giá đất của FAO được vận dụng trong đánh giá đất đai của Việt Nam từ các địa phương đến các vùng, miền của toàn quốc Những công trình nghiên cứu để triển khai sâu rộng ở một số vùng sinh thái lớn có đóng góp của nhiều nhà nghiên cứu:

Vùng núi Tây Bắc và trung du phía Bắc có Lê Duy Thước (1992), Lê Văn Khoa (1993), Lê Thái Bạt (1995) Các kết quả nghiên cứu cho thấy vùng này gồm 6 nhóm đất và 24 loại đất với các đặc điểm phát sinh và sử dụng đa dạng Toàn vùng

có 4 loại sử dụng đất chính là đất lúa, đất chuyên màu và cây công nghiệp ngắn ngày, đất trồng cây lâu năm, đất rừng [32],[16], [2]

Trang 36

- Vùng đồng bằng sông Hồng với những công trình nghiên cứu có kết quả đã công bố của các tác giả Nguyễn Công Pho (1995) Cao Liêm, Vũ Thị Bình, Quyền Đình Hà ( 1992, 1993), Phạm Văn Lăng (1992) Trong công trình nghiên cứu đã vận dụng phương pháp đánh giá đất của FAO, thực hiện trên bản đồ tỷ lệ 1/250.000 cho phép đánh giá ở mức độ tổng hợp phục vụ cho quy hoạch tổng thể vùng đồng bằng sông Hồng Kết quả nghiên cứu đã khẳng định vùng đồng bằng sông Hồng có

33 đơn vị đất đai ( 22 đơn vị đất đai thuộc đồng bằng và 11 đơn vị đất đai thuộc đất đồi núi) Loại hình sử dụng đất của vùng rất phong phú và đa dạng với 3 vụ chính là

vụ xuân, vụ mùa và vụ đông [25], [19], [18]

- Vùng Tây Nguyên có các công trình nghiên cứu của Nguyễn Khang, Phạm Dương Ưng, Nguyễn Văn Tân, Đỗ Đình Đài, Nguyễn Văn Tuyển ( 1995) Các kết quả nghiên cứu cho thấy, Tây Nguyên có 5 hệ thống sử dụng đất chính, 29 loại hình sử dụng đất hiện tại với 195 đơn vị đất đai [40],[36] Các tác giả: Phạm Việt Tiến, Nguyễn Văn Tân, Vũ Anh Tú đã có bài viết “ Nghiên cứu sử dụng đất bền vững ở Tây Nguyên” được in trên tạp chí tuyển tập Hội nghị khoa học về Tài nguyên và Môi trường

- Vùng Đông Nam bộ có các công trình nghiên cứu của Trần An Phong, Phạm Quang Khánh, Vũ Cao Thái (1990), nghiên cứu về môi trường tự nhiên kinh tế - xã hội, đặc điểm các đơn vị đất đai, hiện trạng sử dụng đất, các loại hình sử dụng đất, phân tích tài chính, đánh giá hiệu quả kinh tế và tác động môi trường, đánh giá đất thích hợp và lựa chọn các loại hình sử dụng đất bền vững trong nông nghiệp của từng vùng Trên bản đồ đơn vị đất đai và hiện trạng sử dụng đất tỷ lệ 1/250.000 đã thể hiện 54 đơn vị đất với 602 khoanh có 7 loại hình sử dụng đất chính, 49 loại hình

sử dụng đất chi tiết với 94 hệ thống sử dụng đất trong nông nghiệp, trong đó có 50

hệ thống sử dụng đất được chọn [14], [15]

- Vùng đồng bằng sông Cửu Long có các công trình nghiên cứu của Trần An Phong, Nguyễn Văn Nhân, Tôn Thất Chiểu, Nguyễn Công Pho, Phạm Quang Khánh ( 1991,1995) Kết quả là toàn vùng có 123 đơn vị đất đai với 63 đơn vị đất đai ở vùng đất phèn, 20 đơn vị đất đai ở vùng đất mặn, 22 đơn vị đất đai ở vùng phù

sa không có hạn chế và 18 đơn vị đất đai ở những vùng đất khác [8], [26]

Trang 37

Trong công trình nghiên cứu “ Kết quả bước đầu đánh giá tài nguyên đất Việt Nam”, các tác giả đã xác định được toàn Việt Nam có 340 đơn vị đất đai trong đó miền Bắc có 144 đơn vị đất đai và miền Nam có 196 đơn vị đất đa Toàn quốc có 90 loại hình sử dụng đất chính trong đó có 28 loại hình sử dụng đất lựa chọn ( Nguyễn Khang, Phạm Dương Ưng, 1995) [40]

Những đánh giá đất ở tầm vĩ mô của nhiều tác giả đã có những đóng góp to lớn trong việc hoàn thiện dần quy trình đánh giá đất đai ở Việt Nam làm cơ sở cho những định hướng chiến lược về quy hoạch sử dụng đất toàn quốc và các vùng sinh thái lớn Các công trình nghiên cứu của các tác giả đã góp phần đặt nền móng cho sự nghiên cứu và sử dụng đất theo quan điểm sinh thái lâu bền, bước đầu hoàn thiện quy trình về đánh giá đất theo FAO và đưa ra những kết quả mang tính khái quát Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu phần lớn mới chỉ dừng ở mức độ vĩ mô, những nghiên cứu chi tiết còn chưa được thực hiện nhiều Việc đánh giá đất theo quan điểm sinh thái phục vụ mục tiêu phát triển nông nghiệp theo hướng đa dạng hoá sản phẩm cho cấp huyện mới chỉ có một số công trình nghiên cứu như: Vũ Thị Bình (1995) [19]; Đoàn Công Quỳ (1997,2001) [28]; Đỗ Nguyên Hải (2001) [10];

Từ những nghiên cứu trên đã nêu ta có thể thấy các các công trình nghiên cứu của các tác tác giả là cơ sở cần thiết và có ý nghĩa quan trọng cho các định hướng sử dụng đất trong thời gian tiếp theo

Trang 38

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu: các loại hình sử dụng đất ruộng trên địa bàn huyện

Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu: Loại hình sử dụng đất ruộng tại huyện Cao Lộc, tỉnh

Lạng Sơn

2.2 Địa điểm và thòi gian nghiên cứu

2.2.1 Địa điểm nghiên cứu: Huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn

2.2.2 Thời gian nghiên cứu: từ tháng 8 năm 2015 đến tháng 8 năm 2016

2.3 Nội dung nghiên cứu

2.3.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội tác động đến sử dụng đất ruộng của huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn

- Đánh giá về điều kiện tự nhiên: vị trí địa lý, địa hình, khí hậu, thủy văn, tài nguyên nước ảnh hưởng đến việc sử dụng đất đai

- Đánh giá điều kiện kinh tế - xã hội: cơ cấu kinh tế, dân số, lao động, cơ sở hạ tầng ảnh hưởng đến sử dụng đất

- Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội rút ra những thuận lợi

và khó khăn

2.3.2 Đánh giá hiện trạng sử dụng đất ruộng và các loại hình sử dụng đất ruộng

- Hiện trạng sử dụng đất ruộng

- Nghiên cứu các hệ thống sử dụng đất và các loại hình sử dụng đất ruộng

2.3.3 Đánh giá hiệu quả và lựa chọn loại hình sử dụng đất ruộng

- Đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất ruộng

- Lựa chọn loại hình sử dụng đất ruộng bền vững

2.3.4 Đề xuất giải pháp phát triển các loại hình sử dụng đất ruộng hiệu quả bền vững cho sản xuất nông nghiệp tại huyện Cao Lộc

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu

Lựa chọn các phường xã có tính đại diện cho các vùng của huyện Cao Lộc được chia ra làm 2 tiểu vùng Do vậy trong đề tài này chúng tôi đã chọn 6 xã trên 2 tiểu vùng trong huyện

Trang 39

Tiểu vùng 1: Gồm 15 xã có địa hình vùng núi độ cao tương đối, bị chia cắt bởi

độ dốc khá lớn; gồm các xã: Bình Trung; Song Giáp; Phú Xá; Hồng Phong; Thụy Hùng; Xuân Long; Cao Lâu; Yên Trạch; Tân Liên; Gia Cát; Thị trấn Cao Lộc; Thị trấn Đồng Đăng; Hợp Thành; Bình Trung; Tân Thành

Tiểu vùng 2: Gồm 10 xã có địa hình đồi núi cao, độ dốc lớn bình quân trên

150 xen kẽ với các vùng đất ruộng bậc thang, khe suối; gồm các xã: Công Sơn; Mẫu Sơn; Cao Lâu; Xuất Lễ; Bảo Lâm; Thạch Đạn; Thanh Lòa; Hải Yến; Lộc Yên; Hòa Cư

Chọn các hộ điều tra đại diện cho các vùng theo phương pháp chọn ngẫu nghiên Các hộ điều tra là các hộ tham gia trực tiếp sản xuất nông nghiệp có diện tích các cây trồng phổ biến, thuộc 6 xã đại diện cho 2 vùng Mỗi xã tiến hành điều tra 15 hộ và tổng số hộ điều tra là 90 hộ theo phương pháp điều tra phỏng vấn trực tiếp

2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu

- Thu thập số liệu, tài liệu thứ cấp:

Thu thập số liệu, tài liệu có sẵn từ các cơ quan nhà nước như: phòng Tài nguyên và Môi trường, phòng Thống kê, phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, phòng Kế hoạch - tài chính

- Thu thập số liệu sơ cấp:

+ Khảo sát thực địa nhằm kiểm chứng các thông tin, số liệu đã thu thập được qua điều tra

+ Điều tra bằng phương pháp truyền thống (bộ câu hỏi) theo mẫu phiếu điều tra phỏng vấn trực tiếp các nông hộ, số lượng hộ điều tra mỗi tiểu vùng là 45 hộ

2.4.3 Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu

- Trên cơ sở số liệu, tài liệu thu thập được chúng tôi tiến hành tổng hợp và đánh giá các loại hình sử dụng đất nông nghiệp (LUT) Xử lý số liệu bằng chương trình Excel Kết quả được trình bày bằng các bảng, biểu đồ

2.4.4 Phương pháp chuyên gia

Dựa vào sự hiểu biết kinh nghiệm của người dân các hộ sản xuất giỏi, các cán

bộ phụ trách kỹ thuật, tham khảo ý kiến của các phòng chức năng liên quan, các nhà

Trang 40

lãnh đạo quản lý, các nhà khoa học về đánh giá khả năng phát triển sản xuất nông nghiệp và khả năng phát triển các loại hình sử dụng đất nông nghiệp đề xuất định hướng phát triển

2.4.5 Phương pháp tính hiệu quả sử dụng đất

Trên cơ sở số liệu tài liệu thu thập được, chúng tôi tiến hành tổng hợp, nhiều loại khác nhau: loại cây trồng, các khoản chi phí… và xây dựng các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất:

* Hiệu quả kinh tế:

Để tính hiệu quả sử dụng đất trên một ha của các LUT, đề tài sử dụng hệ thống chỉ tiêu sau:

- Tổng chi phí: Bao gồm các khoản chi phí được sử dụng trong quá trình sản xuất (chi phí vật chất và chi công lao động)

- Tổng thu nhập = Sản lượng x Đơn giá

- Thu nhập hỗn hợp (TNHH) = Tổng thu nhập – Chi phí vật chất

- Thu nhập thuần (TNT) = Tổng thu nhập – Tổng chi phí

- Hiệu quả kinh tế ngày công lao động = Thu nhập hỗn hợp / Số công lao động

- Hiệu xuất đồng vốn = Thu nhận hỗn hợp /Tổng chi phí

* Hiệu quả xã hội

Đánh giá hiệu quả xã hội là chỉ tiêu khó định lượng Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, do thời gian có hạn, chúng tôi chỉ đề cập đến một số chỉ tiêu sau:

- Khả năng thu hút lao động, giải quyết việc làm cho người sản xuất

- Khả năng phù hợp với thị trường tiêu thụ của các LUT ở thời điểm hiện tại

và tương lai

- Mức độ chấp nhận của người dân thể hiện ở mức độ đầu tư, ý định chuyển đổi cây trồng của hộ

* Hiệu quả môi trường

- Mức độ sử dụng phân bón và các loại thuốc bảo vệ thực vật so sánh với tiêu chuẩn cho phép

- Khả năng duy trì và cải thiện độ phì của đất (như khả năng che phủ đất, giữ

ẩm, trả lại cho đất tàn dư cây trồng có chất lượng)

- Thích hợp với đặc điểm, tính chất đất và nguồn nước

Ngày đăng: 20/03/2017, 02:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Lê Thái Bạt (1995), “Báo cáo tóm tắt đánh giá và đề xuất sử dụng đất trên quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền vùng Tây Bắc”, Hội thảo quốc gia về đánh giá và quy hoạch sử dụng đất trên quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 60 - 63 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tóm tắt đánh giá và đề xuất sử dụng đất trên quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền vùng Tây Bắc
Tác giả: Lê Thái Bạt
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1995
3. Lê Thái Bạt (2007), “Sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả và bền vững”, Tạp chí cộng sản số 14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả và bền vững
Tác giả: Lê Thái Bạt
Năm: 2007
4. Hà Thị Thanh Bình và cộng sự (2002), Trồng trọt đại cương, NXB Nông Nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trồng trọt đại cương
Tác giả: Hà Thị Thanh Bình và cộng sự
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp I
Năm: 2002
8. Hoàng Văn Cường (2002), Quan hệ giữa dân số với phát triển kinh tế, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ giữa dân số với phát triển kinh tế
Tác giả: Hoàng Văn Cường
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2002
9. Đường Hồng Dật và các cộng sự (1994), “Lịch sử nông nghiệp Việt Nam” Nxb NN, Hà Nội, 1994, tr.1, 262 - 293 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử nông nghiệp Việt Nam
Tác giả: Đường Hồng Dật và các cộng sự
Nhà XB: Nxb NN
Năm: 1994
11. Nguyễn Minh Hoài, 2008, “Ổn định đất nông nghiệp để đảm bảo an ninh lương thực quốc gia”,Tạp chí Cộng Sản số 790 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ổn định đất nông nghiệp để đảm bảo an ninh lương thực quốc gia
13. Nguyễn Khang, Phạm Dương Ưng (1995), “Kết quả bước đầu đánh giá tài nguyên đất Việt Nam”, Hội thảo quốc gia về đánh giá và quy hoạch sử dụng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả bước đầu đánh giá tài nguyên đất Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Khang, Phạm Dương Ưng
Năm: 1995
14. Phạm Quang Khánh, Trần An Phong (1994), “Đánh giá hiện trạng sử dụng đất vùng đông nam bộ trên quan điểm phát triển sinh thái và phát triển bền vững”, Đề tài KT - 02 - 09, Hà Nội tháng 1. 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiện trạng sử dụng đất vùng đông nam bộ trên quan điểm phát triển sinh thái và phát triển bền vững
Tác giả: Phạm Quang Khánh, Trần An Phong
Năm: 1994
15. Phạm Quang Khánh, Vũ Cao Thái (1994), “Các loại hình sử dụng đất và hiệu quả sản xuất của các hệ thống sử dụng đất trong nông nghiệp vùng đông nam bộ”, tạp chí khoa học đất, (4.1994), tr. 32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các loại hình sử dụng đất và hiệu quả sản xuất của các hệ thống sử dụng đất trong nông nghiệp vùng đông nam bộ"”, "tạp chí khoa học đất
Tác giả: Phạm Quang Khánh, Vũ Cao Thái
Năm: 1994
16. Lê Văn Khoa (1993), “Vấn đề sử dụng đất và bảo vệ môi trường ở vùng trung du phía bắc Việt Nam”, tạp chí khoa học đất, số 3, 1993, tr. 45 - 49 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề sử dụng đất và bảo vệ môi trường ở vùng trung du phía bắc Việt Nam
Tác giả: Lê Văn Khoa
Năm: 1993
18. Phạm Văn Lăng (1992), “Những kết quả nghiên cứu đất và phân bón tỉnh Hải Hưng”, Tạp chí khoa học đất, (2.1992), tr. 67 - 70 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những kết quả nghiên cứu đất và phân bón tỉnh Hải Hưng
Tác giả: Phạm Văn Lăng
Năm: 1992
19. Cao Liêm, Vũ Thị Bình, Quyền Đình Hà (1992), “Hiệu quả sử dụng đất trên một số vùng sinh thái nông nghiệp đồng bằng sông Hồng”, Hội thảo quốc gia về phát triển hệ thống canh tác Việt Nam lần thứ hai - Bắc Thái, tr. 193 - 197.20. Luật đất đai 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả sử dụng đất trên một số vùng sinh thái nông nghiệp đồng bằng sông Hồng
Tác giả: Cao Liêm, Vũ Thị Bình, Quyền Đình Hà
Năm: 1992
25. Nguyễn Công Pho (1995), “Báo cáo tóm tắt đánh giá đất đai vùng đồng bằng sông Hồng”, Hội thảo quốc gia về đánh giá và quy hoạch sử dụng đất trên quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền, Nxb Nông nghiệp Hà Nội, tr. 13 - 16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tóm tắt đánh giá đất đai vùng đồng bằng sông Hồng
Tác giả: Nguyễn Công Pho
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1995
28. Đoàn Công Quỳ (2001), “Đánh giá đất đai phục vụ quy hoạch sử dụng đất nông – lâm nghiệp huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên”, Luận án Tiến sỹ khoa học nông nghiệp, Trường Đại học NN I Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá đất đai phục vụ quy hoạch sử dụng đất nông – lâm nghiệp huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
Tác giả: Đoàn Công Quỳ
Năm: 2001
31. Đào Châu Thu, Nguyễn Ích Tân (2004), “Đánh giá tiềm năng đất đai và định hướng sử dụng đất nông nghiệp, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên”, Tạp chí khoa học đất, ( số 20.2004), tr. 82 - 86 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tiềm năng đất đai và định hướng sử dụng đất nông nghiệp, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên
Tác giả: Đào Châu Thu, Nguyễn Ích Tân
Năm: 2004
32. Lê Duy Thước (1992), “Tiến tới một chế độ cánh tác hợp lý trên đất dốc nương rẫy ở vùng đồi núi Việt Nam”, tạp chí khoa học đất, (2. 1992), tr. 27 - 31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiến tới một chế độ cánh tác hợp lý trên đất dốc nương rẫy ở vùng đồi núi Việt Nam
Tác giả: Lê Duy Thước
Năm: 1992
33. Tôn Thất Chiểu (1986), “Một số kết quả nghiên cứu về khả năng phát triển nông nghiệp nước ta trong giai đoạn tới”, Tạp chí Quy hoạch Nông nghiệp, (40), tr. 5 - 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kết quả nghiên cứu về khả năng phát triển nông nghiệp nước ta trong giai đoạn tới
Tác giả: Tôn Thất Chiểu
Năm: 1986
36. Nguyễn Văn Tuyển (1995), “Một số kết quả bước đầu về đánh giá đất tỉnh Kon Tum”, Hội thảo quốc gia về đánh giá và quy hoạch sử dụng đất trên quan điểm phát triển sinh thái và phát triển lâu bền”, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr.40 - 45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kết quả bước đầu về đánh giá đất tỉnh Kon Tum”, Hội thảo quốc gia về đánh giá và quy hoạch sử dụng đất trên quan điểm phát triển sinh thái và phát triển lâu bền
Tác giả: Nguyễn Văn Tuyển
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1995
1. Bùi Nữ Hoàng Anh (2013), Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất nông nghiệp tại Yên Bái giai đoạn 2012 – 2020, Luận án tiến sĩ nông nghiệp, Trường Đại học Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên Khác
5. Bộ NN&PTNT, Chiến lược phát triển nông nghiệp Việt Nam đến năm 2020 6. Bộ TNMT, Thông tư 28/2014/TT-BTNMT Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: Chuyển dịch cơ cấu các ngành kinh tế  Chỉ tiêu  Đơn vị  Năm 2005  Năm 2010  Năm 2015 - Đánh giá thực trạng và đề xuất các loại hình sử dụng đất ruộng có hiệu quả trên địa bàn huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn (LV thạc sĩ)
Bảng 3.1 Chuyển dịch cơ cấu các ngành kinh tế Chỉ tiêu Đơn vị Năm 2005 Năm 2010 Năm 2015 (Trang 48)
Bảng 3.2. Hiện trạng sử dụng đất huyện Cao Lộc năm 2015 - Đánh giá thực trạng và đề xuất các loại hình sử dụng đất ruộng có hiệu quả trên địa bàn huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn (LV thạc sĩ)
Bảng 3.2. Hiện trạng sử dụng đất huyện Cao Lộc năm 2015 (Trang 52)
Bảng 3.3.  Diện tích và cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp huyện Cao Lộc năm 2015 - Đánh giá thực trạng và đề xuất các loại hình sử dụng đất ruộng có hiệu quả trên địa bàn huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn (LV thạc sĩ)
Bảng 3.3. Diện tích và cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp huyện Cao Lộc năm 2015 (Trang 53)
Bảng 3.4:  Phân vùng kinh tế sinh thái theo đơn vị hành chính - Đánh giá thực trạng và đề xuất các loại hình sử dụng đất ruộng có hiệu quả trên địa bàn huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn (LV thạc sĩ)
Bảng 3.4 Phân vùng kinh tế sinh thái theo đơn vị hành chính (Trang 55)
Bảng 3.6:  Phân cấp mức độ đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất ruộng - Đánh giá thực trạng và đề xuất các loại hình sử dụng đất ruộng có hiệu quả trên địa bàn huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn (LV thạc sĩ)
Bảng 3.6 Phân cấp mức độ đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất ruộng (Trang 58)
Bảng 3.8:  Hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất ruộng - Đánh giá thực trạng và đề xuất các loại hình sử dụng đất ruộng có hiệu quả trên địa bàn huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn (LV thạc sĩ)
Bảng 3.8 Hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất ruộng (Trang 59)
Bảng 3.9.  Hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất ruộng - Đánh giá thực trạng và đề xuất các loại hình sử dụng đất ruộng có hiệu quả trên địa bàn huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn (LV thạc sĩ)
Bảng 3.9. Hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất ruộng (Trang 60)
Bảng 3.11:  Phân cấp mức độ đánh giá hiệu quả xã hội sử dụng đất nông nghiệp - Đánh giá thực trạng và đề xuất các loại hình sử dụng đất ruộng có hiệu quả trên địa bàn huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn (LV thạc sĩ)
Bảng 3.11 Phân cấp mức độ đánh giá hiệu quả xã hội sử dụng đất nông nghiệp (Trang 61)
Bảng 3.12:  Đánh giá hiệu quả xã hội các loại hình sử dụng đất nông nghiệp - Đánh giá thực trạng và đề xuất các loại hình sử dụng đất ruộng có hiệu quả trên địa bàn huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn (LV thạc sĩ)
Bảng 3.12 Đánh giá hiệu quả xã hội các loại hình sử dụng đất nông nghiệp (Trang 62)
Bảng 3.13: Phân cấp mức độ đánh giá hiệu quả môi trường sử dụng đất - Đánh giá thực trạng và đề xuất các loại hình sử dụng đất ruộng có hiệu quả trên địa bàn huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn (LV thạc sĩ)
Bảng 3.13 Phân cấp mức độ đánh giá hiệu quả môi trường sử dụng đất (Trang 63)
Bảng 3.14:  So sánh mức sử dụng phân bón của các nông hộ với quy trình - Đánh giá thực trạng và đề xuất các loại hình sử dụng đất ruộng có hiệu quả trên địa bàn huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn (LV thạc sĩ)
Bảng 3.14 So sánh mức sử dụng phân bón của các nông hộ với quy trình (Trang 64)
Bảng 3.15: Lượng thuốc bảo vệ thực vật thực tế sử dụng và khuyến cáo - Đánh giá thực trạng và đề xuất các loại hình sử dụng đất ruộng có hiệu quả trên địa bàn huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn (LV thạc sĩ)
Bảng 3.15 Lượng thuốc bảo vệ thực vật thực tế sử dụng và khuyến cáo (Trang 65)
Bảng 3.16: Hiệu quả môi trường của các loại hình sử dụng đất - Đánh giá thực trạng và đề xuất các loại hình sử dụng đất ruộng có hiệu quả trên địa bàn huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn (LV thạc sĩ)
Bảng 3.16 Hiệu quả môi trường của các loại hình sử dụng đất (Trang 66)
Bảng 3.17:  Đánh giá khả năng lựa chọn của các loại hình sử dụng đất - Đánh giá thực trạng và đề xuất các loại hình sử dụng đất ruộng có hiệu quả trên địa bàn huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn (LV thạc sĩ)
Bảng 3.17 Đánh giá khả năng lựa chọn của các loại hình sử dụng đất (Trang 67)
Bảng 3.18:  Đề xuất các loại hình sử dụng đất nông nghiệp - Đánh giá thực trạng và đề xuất các loại hình sử dụng đất ruộng có hiệu quả trên địa bàn huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn (LV thạc sĩ)
Bảng 3.18 Đề xuất các loại hình sử dụng đất nông nghiệp (Trang 69)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm