Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học địa lý lớp 12 (LV thạc sĩ)Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học địa lý lớp 12 (LV thạc sĩ)Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học địa lý lớp 12 (LV thạc sĩ)Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học địa lý lớp 12 (LV thạc sĩ)Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học địa lý lớp 12 (LV thạc sĩ)Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học địa lý lớp 12 (LV thạc sĩ)Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học địa lý lớp 12 (LV thạc sĩ)Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học địa lý lớp 12 (LV thạc sĩ)Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học địa lý lớp 12 (LV thạc sĩ)Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học địa lý lớp 12 (LV thạc sĩ)Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học địa lý lớp 12 (LV thạc sĩ)
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Phương Liên
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các tài liệu trong luận văn là trung thực Luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào
Thái Nguyên, tháng 3 năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Đình Tuấn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, lời đầu tiên tôi xin gửi lời cảm
ơn chân thành và sâu sắc nhất tới cô TS Nguyễn Phương Liên, người đã hướng dẫn và giúp đỡ tận tình trong suốt thời gian tôi tiến hành học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Địa lí trường Đại học sư phạm - Đại học Thái Nguyên, phòng thư viện khoa Địa lí, thư viện trường ĐHSP Thái Nguyên, trung tâm học liệu Đại học Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ để khóa luận của tôi hoàn thành đạt kết quả tốt nhất
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo và học sinh trường THPT Hoa
Lư A - huyện Hoa Lư - tỉnh Ninh Bình, tập thể giáo viên và học sinh trường THPT Gia Viễn B - huyện Gia Viễn - tỉnh Ninh Bình đã tạo điều kiện giúp đỡ
và phối hợp thực hiện trong quá trình nghiên cứu và tiến hành thực nghiệm sư phạm, điều tra thực tế tại trường để đạt kết quả khách quan tốt nhất
Trong quá trình nghiên cứu luận văn không tránh khỏi những sai sót, nhầm lẫn không đáng có, rất mong nhận được sự góp ý chân tình của thầy cô giáo, các đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện và có tính khả thi cao hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 3 năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Đình Tuấn
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC HÌNH vi
MỞ ĐẦU 7
1 Lý do chọn đề tài 7
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài 4
3 Mục tiêu, nhiệm vụ 6
4 Phạm vi nghiên cứu 7
5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 7
6 Giả thuyết khoa học 9
7 Cấu trúc luận văn 9
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ LỚP 12 10
1.1 Cơ sở lí luận và thực tiễn 10
1.1.1 Một số vấn đề về phương pháp dạy học 10
1.1.2 Sơ đồ tư duy 23
1.1.4 Thực trạng việc dạy học Địa lí lớp 12 hiện nay 32
1.1.5 Đặc điểm tâm sinh lí và trình độ nhận thức của học sinh lớp 12 36
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 39
Chương 2 TỔ CHỨC DẠY HỌC ĐỊA LÍ LỚP 12 BẰNG SƠ ĐỒ TƯ DUY 40
2.1 Thiết kế Sơ đồ tư duy trong dạy học Địa lí lớp 12 40
2.1.1 Những nguyên tắc thiết kế 40
2.1.2 Giới thiệu phần mềm thiết kế 43
2.1.3 Sử dụng phần mềm imindmap để thiết kế Sơ đồ tư duy 46
Trang 62.2 Sử dụng Sơ đồ tư duy trong dạy học Địa lí 12 47
2.2.1 Sử dụng Sơ đồ tư duy trong soạn giáo án 47
2.2.2 Thiết kế Sơ đồ tư duy cho một số bài học cụ thể 51
2.2.3 Sử dụng Sơ đồ tư duy trong thực hiện bài dạy trên lớp 56
2.2.4 Sử dụng Sơ đồ tư duy như một phương tiện trực quan hỗ trợ nội dung bài giảng 58
2.2.5 Sử dụng SĐTD trong kiểm tra, đánh giá 59
2.2.6 Hướng dẫn học sinh sử dụng Sơ đồ tư duy trong khâu học tập Địa lí 60
2.2.7 Sử dụng kết hợp Sơ đồ tư duy với một số phương pháp khác trong dạy học Địa lí lớp 12 62
2.2.6 Học sinh tự lập Sơ đồ tư duy trong quá trình học tập 69
2.3 Các điều kiện áp dụng Sơ đồ tư duy trong dạy học Địa lí 70
2.3.1 Đối với giáo viên 70
2.3.2 Đối với học sinh 72
2.3.3 Các điều kiện khác 72
2.4 Một số lưu ý khi áp dụng phương pháp Sơ đồ tư duy 73
2.4.1 Tránh tính hình thức trong việc lập và sử dụng sơ đồ tư duy 73
2.4.2 Tránh lạm dụng Sơ đồ tư duy 74
2.5 Hạn chế của Sơ đồ tư duy 74
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 76
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 77
3.1 Mục đích và nhiệm vụ thực nghiệm 77
3.1.1 Mục đích 77
3.1.2 Nhiệm vụ 77
3.2 Đối tượng thực nghiệm 78
3.3 Nguyên tắc tiến hành thực nghiệm 78
3.4 Phương pháp tiến hành thực nghiệm 78
3.5 Tổ chức thực nghiệm 79
Trang 73.5.1 Bài thực nghiệm 79
3.5.3 Lựa chọn giáo viên 81
3.6 Đánh giá kết quả thực nghiệm: 82
3.6.1 Về hoạt động của giáo viên và học sinh 82
3.6.2 Về thái độ của học sinh 82
3.6.3 Kết quả kiểm tra kiến thức 83
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 86
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 87
1 Kết luận 87
2 Kiến nghị 89
3 Hướng phát triển của đề tài 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
STT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Danh sách các bài thực nghiệm 79
Bảng 3.2 Danh sách giáo viên tham gia dạy học thực nghiệm 81
Bảng 3.3 Khảo sát thái độ của HS ở hai lớp thực nghiệm và đối chứng khi GV đặt câu hỏi 82
Bảng 3.4 Kết quả thực nghiệm tại trường THPT Hoa Lư A 83
Bảng 3.5 Kết quả thực nghiệm tại trường THPT Gia Viễn B 83
Bảng 3.6 Kết quả thực nghiệm chung tại hai trường THPT 84
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Mối quan hệ của quá trình dạy học 17
Hình 2.1 Sơ đồ về đặc điểm vị trí địa lí và phạm vi lãnh thổ nước ta 54
Hình 2.2 Sơ đồ tư duy Đặc điểm ngành giao thông vận tải 56
Hình 3.1 Sơ đồ tư duy bài “Vấn đề khai thác thế mạnh ở Tây Nguyên” 24
Hình 3.2 Biểu đồ thể hiện tổng hợp kết quả các bài thực nghiệm 85
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong hoạt động dạy học, phát triển tư duy cho học sinh có thể được coi
là mục tiêu hàng đầu của quá trình dạy học, phục vụ cho mục tiêu này đã có không ít các phương pháp đã được xây dựng và vận dụng
Xu thế đổi mới giáo dục trên Thế Giới hiện nay dựa trên mô hình 4 trụ cột: học để biết, học để làm, học để chung sống và học để làm người
- Học để biết: bằng cách kết hợp giữa vốn văn hoá chung đủ rộng và hiểu biết sâu trên một số lĩnh vực Người học cần phải có cách tiếp cận với bản thân việc học, phải nắm những công cụ sử dụng kiến thức và cách rèn luyện những khả năng ghi nhớ, chú ý, tư duy, tưởng tượng
- Học để làm: nhằm nắm được những kỹ năng nghề nghiệp nhất định, đồng thời có khả năng giải quyết được những tình huống nảy sinh trong cuộc sống và trong công việc hàng ngày Học để làm cũng có nghĩa là học những kinh nghiệm về xã hội và lao động
- Học để cùng chung sống với nhau: là học cách hiểu người khác, khoan dung với người khác, thông qua sự hiểu chính minh, có một cái nhìn đúng đắn
về thế giới, phải giúp họ tự khám phá ra mình, đặt mình vào địa vị của người khác để hiểu rõ những tác động qua lại và có thái độ đúng đắn, từ đó có thể cùng chung sống với nhau trong sự tôn trọng lẫn nhau, tôn trong những giá trị của sự đa dạng ở mỗi con người và cộng đồng
- Học để làm người: là khuyến khích sự đầy đủ nhất tiềm năng sáng tạo của mỗi con người, với toàn bộ sự phong phú và sự phức tạp của con người Thế kỷ mới đòi hỏi ở mỗi con người năng lực tự chủ và xét đoán cao hơn, đòi
Trang 12hỏi giáo dục không để một tài năng nào, như một kho báu tiềm ẩn trong từng con người không được khai thác
Ở Việt Nam định hướng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo được đề cập ở nghị quyết số 29-NQ/TW
- Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội
- Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn
đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ
sở giáo dục-đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học
- Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội
- Phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh
tế-xã hội và bảo vệ Tổ quốc; với tiến bộ khoa học và công nghệ; phù hợp quy luật khách quan Chuyển phát triển giáo dục và đào tạo từ chủ yếu theo số lượng sang chú trọng chất lượng và hiệu quả, đồng thời đáp ứng yêu cầu số lượng
- Đổi mới hệ thống giáo dục theo hướng mở, linh hoạt, liên thông giữa các bậc học, trình độ và giữa các phương thức giáo dục, đào tạo Chuẩn hóa, hiện đại hóa giáo dục và đào tạo
- Phát triển hài hòa, hỗ trợ giữa giáo dục công lập và ngoài công lập, giữa các vùng, miền Ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo đối với các vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, vùng sâu,
Trang 13vùng xa và các đối tượng chính sách Thực hiện dân chủ hóa, xã hội hóa giáo dục và đào tạo
- Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế để phát triển giáo dục và đào tạo, đồng thời giáo dục và đào tạo phải đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế để phát triển đất nước
Đối với chương trình, nội dung sách giáo khoa môn Địa lí 12 có nhiều thuận lợi trong việc sử dụng Sơ đồ tư duy trong quá trình dạy học So với chương trình Địa lí lớp 12 cũ, chương trình Địa lí lớp 12 mới có nhiều đổi mới
cả về nội dung, thời lượng và phương pháp dạy học
Về nội dung: chương trình Địa lí lớp 12 mới có nội dung tương đối hoàn chỉnh hơn, trong đó bổ sung thêm được phần Địa lí tự nhiên Việt Nam và phần Địa lí địa phương (tỉnh, thành phố) Các phần còn lại cũng có nhiều bổ sung, cập nhật (như các kiến thức về tổ chức lãnh thổ, các vùng kinh tế trọng điểm, khai thác biển, đảo); bài đọc thêm (cuối bài 4) và nhiều kênh hình làm cho môn Địa lí gắn liền với thực tiễn sinh động đang diễn ra trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta
Về phương pháp: thể hiện rõ ràng những đổi mới để đáp ứng được những yêu cầu của chương trình SGK Địa lí mới Về mặt hoạt động nhận thức, phương pháp thực hành là “tích cực” hơn trực quan, phương pháp trực quan
“sinh động” hơn thuyết trình Giáo viên có thể lựa chọn phương pháp thích hợp
để đạt được tính tích cực và sinh động của bài giảng, cụ thể một số phương pháp dạy học
Các phương pháp dạy học truyền thống như phương pháp thuyết giảng, thuyết trình, giảng giải… mặc dù vẫn thể hiện được tầm quan trọng của nó đối với quá trình dạy học nhưng cho đến ngày nay nó đã bộc lộ nhiều yếu điểm Chẳng hạn như phương pháp thuyết trình, mặc dù có khả năng truyền tải một khối lượng lớn kiến thức tới người học và cung cấp những thông tin cập nhật mới nhưng cũng đã để lộ nhiều hạn chế như nhàm chán, kém hứng thú đối với người học, chủ yếu sử dụng cơ chế ghi nhớ và tư duy tái tạo của người học,
Trang 14ngoài ra mức độ lưu trữ thông tin của người học rất ít nên không phát huy được tính tích cực từ người học,… Đòi hỏi những phương pháp dạy học có tính linh động cao hơn như: ứng dụng công nghệ thông tin, sơ đồ tư duy, Elearning hay làm việc theo nhóm…nhằm phát huy tính tích cực của học sinh
Việc sử dụng Sơ đồ tư duy gắn với nội dung bài học sẽ giúp học sinh có thể nắm được nội dung một bài học, một chủ đề, một chương theo mạch logic của kiến thức, bằng cách kết hợp việc sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực Đặc biệt đây là một sơ đồ mở, không yêu cầu tỉ lệ, chi tiết chặt chẽ như bản đồ địa lí, có thể vẽ thêm hoặc bớt các nhánh, mỗi người vẽ một kiểu khác nhau, dùng màu sắc, hình ảnh, các cụm từ diễn đạt khác nhau, cùng một chủ đề nhưng mỗi người có thể thể hiện nó dưới dạng sơ đồ tư duy theo một cách riêng, do đó việc lập sơ đồ tư duy phát huy được tối đa khả năng sáng tạo của mỗi người, giúp học sinh tiếp thu kiến thức một cách linh hoạt hơn
Học hỏi là một việc phải học suốt đời không ai có thể cho mình là đã biết đủ rồi Do đó, một trong những nội dung của đổi mới phương pháp dạy và học chính là việc hướng dẫn học sinh tự học, tự nghiên cứu để từ đó có thể tự học suốt đời Xuất phát từ ý nghĩa quan trọng đó, luận văn xin phép được đề
cập đến vấn đề “Sử dụng Sơ đồ tư duy trong dạy học Địa lí lớp 12”
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài
2.1 Trên thế giới
Có nhiều công trình nghiên cứu về sự hoạt động của bộ não con người, cách thức hoạt động của bộ não trong tiếp nhận kiến thức để thấy được những khó khăn trong học tập, trong việc giải quyết vấn đề, ghi nhớ, suy nghĩ, sáng tạo của con người… Tony Buzan là người đã tạo ra Mindmap hay còn gọi là Sơ
đồ tư duy vào nhữn năm đầu của thập niên 60 Mục đích của SĐTD chỉ là giúp học sinh ghi nhớ lại bài giảng mà chỉ dùng những từ then chốt và các hình ảnh dựa trên cách thức ghi nhớ tự nhiên của bộ não
Cơ chế hoạt động của bán cầu não trái, phải, bản chất của việc ghi nhớ của bộ não dựa trên sự tưởng tượng và liên tưởng việc vận dụng các lí thuyết
Trang 15đó để tạo ra các kĩ thuật ghi nhớ đã được Tony in thành sách: “Use both sides
of your brain” Sau đó, một loạt sách do chính tác giả viết đã ra đời tạo nên một bách khoa toàn thư về não bộ và cách sử dụng não bộ (An Enyclopedia of the Brain and Its Use) Trong đó, tác phẩm “Use Your Head” được giới thiệu vào đầu mùa xuân năm 1974 đã đưa đến cho độc giả một cái nhìn khái quát hơn về
Sơ đồ tư duy
Nếu như trong giai đoạn đầu SĐTD chỉ được TonyBuzan dùng cho việc ghi nhớ thì sau này với những tính năng ưu việt của mình, SĐTD đã được dùng cho nhiều lĩnh vực khác nhau TonyBuzan và em trai mình là Barry Buzan đã viết tác phẩm: “The Mind Map Book” - một tác phẩm khá hoàn chỉnh về SĐTD cũng như việc áp dụng nó vào các lĩnh vực khác nhau trong cuộc sống Cuốn sách này đã trình bày các lí thuyết về não bộ, quan hệ giữa sáng tạo và trí nhớ, các quy luật, kĩ thuật lập SĐTD cũng như sự khái quát hóa các ứng dụng của SĐTD trong nhiều vực của cá nhân, gia đình, giáo dục, kinh doanh và các lĩnh vực chuyên môn khác
Dựa trên những lí thuyết về SĐTD của Tony Buzan mà nhiều tác giả khác cũng đã nghiên cứu và phát triển kĩ thuật này cho từng lĩnh vực cụ thể như: Cuốn “Writing the natural way” của tác giả Gabereiele Rico là tác phẩm tiên phong trong việc ứng dụng SĐTD trong lĩnh vực ghi chép thông tin Dành riêng cho giới doanh nhân những người hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh thương mại, cố vấn Joyco Wycoff của Tony Buzan đã cho ra đời một cuốn sách hoàn chỉnh để áp dụng SĐTD trong kinh doanh khi tạo ra một SĐTD trong quản lí một dự án
2.2 Ở Việt Nam
Sơ đồ tư duy mới xuất hiện ở nước ta khoảng 5, 6 năm trở lại đây thông qua một số tác phẩm được biên dịch lại như: Use your head, Mind Map at wrok, Mind Map Book… Tuy nhiên, thời gian đầu SĐTD ít được mọi người chú ý đến, đặc biệt là giới học sinh, sinh viên, các nhà sư phạm Với những ưu
Trang 16điểm vượt trội của Sơ đồ tư duy, nước ta trong những năm gần đây đã có rất nhiều nhà sư phạm ứng dụng Sơ đồ tư duy vào việc đổi mới cách dạy học của mình Người đi tiên phong trong việc ứng dụng phương pháp này ở Việt Nam
là nhà giáo Hoàng Đức Huy, Trung tâm giáo dục thường xuyên quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh Với việc sử dụng Sơ đồ tư duy trong văn học, học sinh có thể hệ thống lại kiến thức, ôn tập, củng cố một cách chắc chắn
Hiện nay, việc sử dụng công cụ trên đang dần phổ biến trong giới trẻ Điển hình đó là hoạt động nghiên cứu ứng dụng và phổ biến SĐTD của nhóm
Tư duy mới (New Think Group - NTG) Nhóm này đã có công rất lớn trong
việc biên dịch tác phẩm “Mind Map at work”, ra tiếng Việt Những dự án mà NTG thực hiện như: ứng dụng SĐTD trong việc học nhóm, trong học ngoại ngữ và học các môn xã hội khác đã rất thành công
Trong 3 năm gần đây, các cán bộ nghiên cứu thuộc Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, Dự án Phát triển giáo dục THCS II kết hợp với Vụ Giáo dục Trung học và Cục Nhà giáo của Bộ GD - ĐT và Sở GD - ĐT các tỉnh đến các vùng miền của đất nước để nghiên cứu và nhân rộng dần phương pháp mới này với hy vọng sẽ giúp học sinh thoát khỏi lối “học vẹt”, đóng góp phần mình vào công việc chung của ngành giáo dục
Trong lĩnh vực Địa lí, ở nước ta cũng đã có rất nhiều các thầy cô giáo sử dụng Sơ đồ tư duy trong nghiên cứu và giảng dạy Địa lí gần đây nhất, tác giả Đậu Thị Hòa, giảng viên khoa Địa Lí, trường Đại học sư phạm - Đại học Đà Nẵng cũng đã có bài báo viết về “Phương pháp sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học các học phần địa lí tự nhiên Việt Nam ở khoa Địa Lí - trường đại học
sư phạm - Đại học Đà Nẵng
3 Mục tiêu, nhiệm vụ
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Trang 17Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực tiễn về việc khai thác, xây dựng và
sử dụng Sơ dồ tư duy, đề tài tập trung nghiên cứu việc sử dụng Sơ đồ tư duy trong học tập và giảng dạy môn Địa lí lớp 12 ở trường Trung học phổ thông
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu thực trạng dạy học Địa Lí ở trường phổ thông và việc sử dụng
Sơ đồ tư duy trong dạy học
- Nghiên cứu các cơ sở lí luận, vai trò của việc sử dụng Sơ đồ tư duy
trong dạy học Địa lí 12
- Tìm hiểu về đặc điểm tâm sinh lí và trình độ nhận thức của học sinh lớp 12
- Nghiên cứu các kĩ thuật ứng dụng phần mềm để khai thác và xây dựng
sơ đồ tư duy trong dạy học Địa lí lớp 12
- Thiết kế SĐTD trong quá trình dạy học Địa lí 12 (ban cơ bản)
- Thực nghiệm dạy học Địa lí 12 bằng SĐTD để kiểm chứng
4 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài
+ Thiết kế và sử dụng SĐTD trong dạy học Địa Lí 12 THPT
+ Thực nghiệm tại một số trường THPT tỉnh Ninh Bình
5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
5.1 Quan điểm nghiên cứu
- Quan điểm thực tiễn:Thực tiễn giáo dục là nguồn gốc, là động lực, là
tiêu chuẩn và là mục đích của quá trình nghiên cứu khoa học giao dục, Quan điểm thực tiễn trong nghiên cứu khoa học giáo dục cho phép ta nhìn thấy sự xuất hiện, sự phát triển, diễn biến và kết thúc của các sự vật hiện tượng trong thực tiễn, phát hiện qui luật tất yếu của sự phát triển đối tượng, giúp các nhà khoa học kiểm tra kết quả nghiên cứu trong hoạt động thực tiễn giáo dục, cải tạo thực tiễn giáo dục
Trang 18- Quan điểm hệ thống: Nghiên cứu theo quan điểm hệ thống cho phép
nhìn nhận một cách khách quan, toàn diện về hiện tượng giáo dục, thấy được mối quan hệ của hệ thống với các đối tượng khác trong hệ thống lớn, từ đó xác định được các con đường tổng hợp, tối ưu để nâng cao chất lượng giáo dục
- Quan điểm tích hợp: Trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học giáo dục,
quan điểm tiếp cận tích hợp là chỉ một quan niệm GD toàn diện con người, chống lại hiện tượng làm cho con người phát triển thiếu hài hòa, cân đối Tích hợp còn có nghĩa là thành lập một loại hình nhà trường mới, bao gồm các thuộc tính trội của các loại hình nhà trường vốn có
- Quan điểm lịch sử: Trong nghiên cứu cho phép ta nhìn thấy toàn cảnh
sự xuất hiện, sự phát triển, diễn biến và kết thúc của các sự vật hiện tượng, mặt khác giúp ta phát hiện qui luật tất yếu của sự phát triển đối tượng, giúp các nhà khoa học nghiên cứu và hoạt động thực tiễn giáo dục tránh được những sai lầm không đáng có
- Dựa trên quan điểm duy vật biện chứng, kế thừa và phát triển kết quả của những công trình nghiên cứu trước đây về thiết kế và sử dụng SĐTD
- Tổ chức dạy học Địa lí 12 theo quan điểm “lấy học sinh làm trung tâm”
5.2 Phương pháp nghiên cứu
5.2.1 Phương pháp thu thập thông tin, phân tích, tổng hợp tài liệu
Để thực hiện được nhiệm vụ của đề tài, đây là một trong những phương pháp quan trọng và cần nhiều thời gian, công sức nhất Việc thu thập thông tin được lấy từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau như: SGK, các sách tham khảo, các khóa luận, luận văn có nội dung liên quan, khai thác thông tin từ internet, sử dụng các phần mềm tin học, sử dụng các phần mềm tin học có liên quan… Sau đó, tác giả đã tiến hành công tác tổng hợp, phân tích, đối chiếu các nguồn tài liệu trên để có được thông tin chắt lọc, súc tích nhất phục vụ cho đề tài nghiên cứu
5.2.2 Phương pháp khảo sát, điều tra thực tế
Trang 19Phương pháp này được thực hiện ở các trường phổ thông qua việc soạn giáo án, dự giờ, đánh giá nhằm thu thập thông tin thực tế và hiện trạng dạy và học hiện nay, về việc ứng dụng SĐTD trong dạy học nhằm hiểu được thực trạng và đưa ra những phương hướng hợp lí, nâng cao chất lượng dạy và học hiện nay
5.2.3 Phương pháp thực nghiệm
Mục đích của việc tiến hành phương pháp này là nhằm kiểm tra tính khả thi và hiệu quả của đề tài, thông qua việc soạn giáo án và tiến hành dạy thử nghiệm tại các lớp của trường phổ thông nhằm so sánh, đối chiếu để tìm ra ưu nhược điểm, cách khắc phục những hạn chế của đề tài
6 Giả thuyết khoa học
Hiện nay việc sử dụng SĐTD còn đang là vấn đề khá mới mẻ trong dạy
và học ở trường phổ thông nói riêng, mà nguyên nhân chủ yếu do nhận thức và hiểu biết về SĐTD của giáo viên còn hạn chế, đa phần vẫn còn sử dụng các phương pháp truyền thống Nếu thực hiện được mục tiêu và nhiệm vụ đề tài đưa ra sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy và học, nâng cao hiệu quả của việc
đổi mới phương pháp dạy học ở nhà trường hiện nay
7 Cấu trúc luận văn
Đề tài ngoài phần mở đầu và phần kết luận, được chia làm 3 chương: + Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc sử dụng SĐTD trong dạy học Địa lí lớp 12 THPT
+ Chương 2: Tổ chức dạy học Địa lí 12 bằng SĐTD
+ Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 20Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ
DUY TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ LỚP 12
1.1 Cơ sở lí luận và thực tiễn
1.1.1 Một số vấn đề về phương pháp dạy học
1.1.1.1 Khái niệm phương pháp dạy học
“Thuật ngữ phương pháp trong tiếng Hy Lạp là “Méthodos” có nghĩa là con đường, cách thức hoạt động nhằm đạt được mục đích nhất định Vì vậy, phương pháp là hệ thống những hành động tự giác, tuần tự nhằm đạt được những kết quả phù hợp với mục đích đã định” [7]
Trong phương pháp dạy học, chủ thể tác động - người thầy giáo và đối tượng tác động của họ là học sinh Còn học sinh lại là chủ thể tác động của mình vào nội dung dạy học Vì vậy, người thầy giáo phải nắm vững những quy luật khách quan chi phối tác động của mình vào học sinh và nội dung dạy học thì mới đề ra những phương pháp tác động phù hợp
Từ đó có thể nhận thấy đặc trưng của phương pháp dạy học: người học là đối tượng tác động của giáo viên, đồng thời là chủ thể, là nhân cách mà hoạt động của họ phụ thuộc vào hứng thú, nhu cầu, ý chí của họ Nếu giáo viên không gây cho học sinh có mục đích tương ứng với mục đích của mình thì không diễn ra hoạt động dạy và hoạt động học và phương pháp tác động không đạt được kết quả mong muốn Phương pháp dạy học là cách thức hành động có trình tự, phối hợp tương tác với nhau của giáo viên và của học sinh nhằm đạt được mục đích dạy học
“Phương pháp dạy học là hệ thống những hành động có chủ đích theo một trình tự nhất định của giáo viên nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và hoạt động thực hành của học sinh nhằm đảm bảo cho họ lĩnh hội nội dung dạy học
và chính như vậy mà đạt được mục đích dạy học” [15]
Trang 21Phương pháp dạy học bao gồm phương pháp dạy và phương pháp học với sự tương tác lẫn nhau, trong đó phương pháp dạy đóng vai trò chủ đạo, còn phương pháp học có tính chất độc lập tương đối, chịu sự chi phối của phương pháp dạy, song nó cũng ảnh hưởng trở lại phương pháp dạy Phương pháp dạy học là tổ hợp những biện pháp với tư cách là những thành phần cấu trúc của nó, xong việc phân như vậy cũng chỉ có tính chất tương đối Chẳng hạn giảng giải
là phương pháp dạy học trong tiết học lĩnh hội tri thức mới nhưng lại là một biện pháp của phương pháp công tác trong phòng thí nghiệm Điều đó có nghĩa
là trong những điều kiện nhất định, chúng có thể chuyển hoá lẫn nhau
Như vậy, có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về phương pháp dạy học Tuy nhiên, việc định nghĩa phương pháp dạy học dựa trên những dấu hiệu đặc trưng của nó:
Nó phản ánh sự vận động của quá trình nhận thức của học sinh nhằm đạt được mục đích đề ra, phản ánh sự vận động của nội dung đã được nhà trường quy định, cách trao đổi thông tin giữa thầy và trò
Phản ánh cách thức điều khiển hoạt động nhận thức, kích thích và xây dựng động cơ, tổ chức hoạt động nhận thức và kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động
Phương pháp, mục tiêu và nội dung học tập luôn có mối quan hệ với nhau, qui định lẫn nhau
1.1.1.2 Những vấn đề chung về đổi mới phương pháp dạy học Địa lí
Nhà trường trước yêu cầu của xã hội
Trong giai đoạn hiện nay, đổi mới phương pháp giảng dạy là một trong những yêu cầu cấp thiết đối với ngành giáo dục nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, là sự sống còn của mỗi cơ sở đào tạo Các cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật và cách mạng xã hội đang diễn ra với tốc độ phát triển như vũ bão thúc đẩy nhiều lĩnh vực có bước tiến mạnh mẽ và mở ra những triển vọng hết sức lớn lao cho con người mới trong hành trang vào thế kỉ của công nghệ số
Cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại đòi hỏi nhà trường phải đào tạo ra những con người mới thông minh sáng tạo, thích ứng được với yêu
Trang 22cầu của thời đại, có tri thức khoa học tiên tiến, có kĩ năng kĩ xảo vững chắc và
có ý thức nghề nghiệp để giải quyết tốt các nhiệm vụ đặt ra của thực tiễn
- Những yêu cầu của cuộc cách mạng xã hội
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và khu vực hóa đang diễn ra mạnh mẽ, các nước phải cùng nhau hợp tác đa phương để giải quyết những vấn đề toàn cầu có tính sống còn đối với toàn thể nhân loại như vấn đề an ninh, môi trường, kinh tế… Các dân tộc trên thế giới phải tăng cường hòa bình, ổn định để cùng nhau phát triển lâu dài, bền vững Các nước có chế độ chính trị xã hội khác nhau vừa hợp tác vừa cạnh tranh gay gắt trong nền kinh tế thị trường, các dân tộc nâng cao ý thức độc lập tự chủ, phát huy bản sắc và truyền thống dân tộc
Chính vì những lí do trên đòi hỏi con người phải đáp ứng được:
+ Có những đầu óc khoa học, có trình độ học vấn cao, biết sử dụng các quy luật tự nhiên và xã hội để xây dựng cuộc sống
+ Có tính nhân văn sâu sắc, có ý thức chấp hành pháp luật, có tinh thần dân tộc, biết giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc mình
+ Có cá tính và bản sắc có ý chí, hoài bão, tự chủ, tự cường…
- Những yêu cầu đặt ra từ tình hình kinh tế chính trị của đất nước
Công cuộc đổi mới toàn diện của nước ta đã tiến hành được 25 năm trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là kinh tế, thu được nhiều thành tựu nổi bật đưa nước ta chuyển dần từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường Cùng với các nước trong khu vực và trên thế giới, chúng ta đang ở thời
kì mở cửa mạnh mẽ nền kinh tế, tự lập nghiệp và thăng tiến, góp phần xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh
- Đổi mới nền giáo dục theo yêu cầu thời đại
Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho tương lai đất nước Những biến đổi của xã hội đã thúc đẩy các nước trên thế giới quan tâm hơn đến sự nghiệp giáo dục nhằm đầu tư và xây dựng một nền giáo dục đáp ứng kịp thời các yêu cầu ngày càng tăng lên của xã hội, đảm bảo sự hòa nhập và giao lưu quốc tế Cũng
Trang 23chính vì thế, giáo dục đã trở thành quốc sách hàng đầu của nhiều quốc gia trong
đó có Việt Nam
- Những yêu cầu cần đổi mới trong giáo dục đào tạo nước ta
Đảng và nhà nước ta luôn coi đầu tư cho giáo dục là một trong những hướng chính của đầu tư phát triển, tạo điều kiện cho giáo dục đi trước phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước Công cuộc đổi mới với những thành tựu bước đầu đang dần đưa đất nước ra khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, kém phát triển để sánh vai cùng bạn bè khu vực và thế giới
Để thực hiện thành công nhiệm vụ ấy, yêu cầu đặt ra đối với hệ thống giáo dục
là phải xác định lại mục tiêu, thiết kế lại chương trình, kế hoạch nội dung, phương pháp giáo dục và đào tạo nhằm thực hiện nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài
Tuy nhiên, cũng phải thẳng thắn nhìn nhận rằng nền giáo dục nước ta so với nhiều nước trên thế giới còn thua kém, có nguy cơ bị tụt hậu nếu không có thay đổi phù hợp tình hình thực tiễn Để khắc phục tình trạng này, chúng ta cần tiếp tục thực hiện đổi mới nền giáo dục đào tạo, tạo ra những chuyển biến sâu sắc trong đổi mới tổ chức quy trình dạy và học, nâng cao chất lượng và hiệu quả, đào tạo ra những con người lao động tự chủ, sáng tạo
Một số quan điểm mới về mục tiêu, nội dung, phương pháp
Mục tiêu giáo dục: là những gì HS phải có được về tri thức, kĩ năng, kĩ
xảo nghề nghiệp, thái độ hành vi sau một quá trình học tập Việc xác định mục tiêu giáo dục có ý nghĩa lớn đối với việc nâng cao hiệu quả của quá trình dạy học Đối với GV, căn cứ vào mục tiêu để xác định cần dạy gì, ở mức độ nào để lựa chọn phương pháp phù hợp, đánh giá được khách quan, đúng đắn kết quả học tập của HS Đối với HS, xác định mục tiêu giúp người học biết cần học cái
gì và làm gì sau khi học xong
Cần tăng cường giáo dục nhân văn, tức là tinh thần hòa bình, hữu nghĩ, hợp tác Giáo dục phải làm sao nâng cao tính hài hòa trong quá trình toàn cầu
Trang 24hóa của xã hội loài người ngày càng được đẩy mạnh, làm sao cho toàn bộ quá trình giáo dục phải giúp cho mọi người học cách chung sống với nhau
Bên cạnh đó, các chính sách giáo dục phải chú ý phối hợp hài hòa cả ba mục đích: Công bằng, thích hợp và chất lượng Các cá nhân trở thành các thực thể xã hội có khả năng cùng nhau hợp tác, đối thoại và thực hiện trách nhiệm công dân Đào tạo những con người có năng lực đóng góp vào sự phát triển của
xã hội, có tri thức và kĩ năng cụ thể
Đối với cộng đồng, hệ thống giáo dục quốc dân phải đáp ứng được yêu cầu xây dựng cơ cấu lao động xã hội, phù hợp với yêu cầu của công nghệ, khoa học và
sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế Mục tiêu đào tạo phải đáp ứng được năm yêu cầu:
xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [3]
Nội dung dạy học: Cơ sở để xác định nội dung bài học là bối cảnh văn
hóa, trong đó có yêu cầu của người sử dụng nhân lực được đào tạo, của phụ huynh, môi trường, các nguồn lực, các môn khoa học Nội dung giáo dục được hiện đại hóa phù hợp với yêu cầu của thời đại, mềm hóa phù hợp với đặc điểm, điều kiện của HS, đảm bảo sự cân bằng hợp lí giữa các yếu tố khác
Nội dung dạy học phải đảm bảo: cơ bản, hiện đại, sát thực tiễn Việt Nam Ngoài ra, người GV cần cố gắng giáo dục những truyền thống tốt đẹp của dân tộc và những yêu cầu mới của đất nước, của thời đại đối với con người như truyền thống yêu nước, lòng nhân ái…, các yêu cầu ổn định và phát triển hòa bình, bảo vệ môi trường, giáo dục dân số…
Như vậy có thể nói về nội dung đào tạo cần đảm bảo:
Trang 25- Phản ánh những thành tựu hiện đại của nền văn hóa, khoa học kĩ thuật, chương trình đào tạo có phần cứng và phần mềm, tạo điều kiện cho việc cá thể hóa và phân hóa việc dạy học
- Tính hiện đại của nội dung đào tạo thể hiện ở sự liên kết hợp lí những thông tin khoa học vào những cấu trúc logic, tạo sự tối ưu của nội dung, thúc đẩy HS tích cực tìm ra kiến thức mới cao và rộng hơn cái đã có
- Đưa vào mục đích giáo dục đào tạo việc tích hợp nhiều môn khoa học cùng các phương pháp nghiên cứu đặc trưng của nó, làm tiền đề cho việc thích nghi nhanh với thực tiễn công tác sau này của HS
- Nội dung đào tạo được phân nhỏ để thiết lập một cấu trúc vừa mức, hướng vào một mục tiêu hoạt động nhất định, hình thành động lực thúc đẩy quá trình tự phấn đấu của HS
- Đổi mới nội dung chương trình môn học sát với tình hình thực tiễn của nhà trường, của đất nước cũng như khu vực và thế giới
Phương pháp dạy: là cách thức GV trình bày tri thức, tổ chức và kiểm tra
hoạt động nhận thức và thực tiễn của HS nhằm đạt được các nhiệm vụ dạy học Nói cách khác, đó là phương pháp thiết kế và góp phần thi công của người GV Phương pháp học là cách thức tiếp thu, tự tổ chức và kiểm tra hoạt động nhận thức và thực tiễn của HS nhằm đạt các nhiệm vụ dạy học Nói cách khác, đó là cách thức tự thiết kế và thi công quá trình học tập của người HS
Mỗi phương pháp thường bao gồm các yếu tố như:
* Mối quan hệ giữa mục tiêu - nội dung - phương pháp
Đây có thể coi là ba thành tố có quan hệ hữu cơ, biện chứng với nhau theo sơ
đồ tam giác Người dạy chọn phương pháp không chỉ từ nội dung mà còn trực tiếp
từ mục tiêu, nói cách khác phương pháp dạy học là cách thức hoạt động của GV trong việc chỉ đạo, tổ chức hoạt động của HS nhằm đạt mục tiêu dạy học
Trang 26* Mối quan hệ giữa các thành tố của quá trình dạy học
Quá trình dạy học là quá trình nhận thức độc đáo của HS dưới sự chỉ đạo của GV, là một quá trình hai mặt, đạt được chất lượng và hiệu quả dạy học
- Dạy là quá trình tổ chức nhận thức cho HS của GV bằng cách tổ chức nên các tình huống học tập, các tình huống gia cố, HS hoạt động tích cực dưới
sự hướng dẫn ít nhiều của GV nhằm đạt chất lượng và hiệu quả dạy học
- Học là quá trình hoạt động tự giác, tích cực của HS nhằm lĩnh hội tri thức, kĩ năng kĩ xảo, phát triển trí tuệ, thể chất và hình thành nhân cách bản thân cho phù hợp với yêu cầu của xã hội
Quá trình dạy học là một hệ thống cân bằng động, gồm nhiều nhân tố tác động qua lại lẫn nhau theo quy luật và nguyên tắc nhất định nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy học, đạt chất lượng và hiệu quả Dạy học về bản chất là quá trình thiết kế và góp phần thi công của người GV và học tập về bản chất là quá trình
tự thiết kế và trực tiếp thi công của HS có sự hướng dẫn, hỗ trợ ít nhiều của GV nhằm đạt chất lượng và hiệu quả dạy học
Quá trình dạy học gồm hai hoạt động chính:
- Hoạt động học gồm hai chức năng thống nhất với nhau là lĩnh hội và tự điều khiển
- Hoạt dộng dạy gồm hai chức năng: Truyền đạt và điều khiển
Hai quá trình này có mối quan hệ qua lại với nhau theo sơ đồ sau:
KHÁI NIỆM KHOA HỌC
Trang 27Hình 1.1: Mối quan hệ của quá trình dạy học
Mục đích của quá trình dạy học hướng tới là sự tác động qua lại giữa thầy và trò để chiếm lĩnh một đối tượng kiến thức
Các phương hướng đổi mới phướng pháp dạy học trên thế giới
Để nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy và học cho phù hợp với tình hình mới, hiện nay trên thế giới có một số phương hướng cải tiến phương pháp như sau:
- Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của HS
- Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học
- Tăng cường học tập các thể phối hợp học tập hợp tác
- Kết hợp đánh giá của thầy với đánh giá gì của trò
* Cá thể hóa việc dạy học
- Mục tiêu dạy học phù hợp với đặc điểm, điều kiện của từng HS
- Nội dung dạy học phù hợp với nhau cầu hứng thú của từng HS
* Công nghệ đào tạo
- Thường xuyên áp dụng vào giáo dục những đổi mới về giáo dục có căn cứ khoa học và được kiểm tra bằng thực nghiệm
- Chi phí ít nhất về thời gian, sức lực, tiền của nhưng đạt kết quả cao nhất trong đào tạo
- Giáo dục hiện đại phải đưa vào những thành tựu hiện đại của các khoa học khác
- Tính khoa học
- Tính lập lại kết quả
- Chương trình hóa hành động
- Sử dụng các phương tiện kĩ thuật dạy học
- Đánh giá kết quả đào tạo khách quan, kịp thời
Định hướng đổi mới phương pháp dạy học
Trang 28Những định hướng đổi mới phương pháp dạy học được thể hiện trong nhiều nghị quyết, văn kiện của Đảng và nhà nước ta như: Nghị quyết TW 4
khóa VII, nghị quyết TW2 khóa VIII, luật giáo dục, thể hiện: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS” [5, tr 42] Nghị quyết trung ương 8 khóa XI về đổi mới
căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo xác định: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học” [5, tr 46].Có thể xem dạy học lấy HS làm trung tâm là một tư tưởng, quan điểm, một cách tiếp cận mới về hoạt động dạy học, khác với tư tưởng, quan điểm, cách tiếp cận truyền thống là nhấn mạnh hoạt động dạy và vai trò của người dạy
Chuyển từ dạy học lấy HS làm trung tâm là một tư tưởng, quan điểm, một cách tiếp cận mới về hoạt động dạy học, khác với tư tưởng, quan điểm, cách tiếp cận truyền thống là nhấn mạnh hoạt động dạy và vai trò của người dạy
Chuyển từ dạy học lấy GV làm trung tâm sang dạy học lấy HS làm trung tâm là một xu thế tất yếu, theo lịch sử phát triển của phương pháp giáo dục và dạy học trong nhà trường
1.1.1.3 Áp dụng dạy học tích cực trong môn Địa lí
* Quan niệm chung về phương pháp dạy học tích cực
Chúng ta biết rằng, phương pháp dạy và học tích cực đề cập đến các hoạt động dạy và học nhằm tích cực hóa hoạt động học tập và phát triển tính sáng tạo của người học Ở đó, các hoạt động học tập được tổ chức, định hướng bởi
GV, người học không thụ động chờ đợi mà chủ động, tích cực tham gia vào quá trình tìm kiếm, phát hiện kiến thức, vận dụng kiến thức để giải quyết các vấn đề trong thực tiễn, qua đó lĩnh hội nội dung học tập và phát triển năng lực sáng tạo Trong dạy và học tích cực, hoạt động học tập được thể hiện trên cơ sở hợp tác và giao tiếp ở mức độ cao Dạy và học tập tích cực nhấn mạnh đến tính
Trang 29tích cực của người học và tính nhân văn của giáo dục, bản chất của dạy và học tích cực là:
- Khai thác động lực học tập ở người học để phát triển chính họ
- Coi trọng lợi ích, nhu cầu của cá nhân để chuẩn bị tốt nhất cho họ thích ứng với đời sống xã hội
* Những dấu hiệu đặc trưng của dạy và học tích cực
+ Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động của HS
Trong phương pháp tích cực, người học và hoạt động học được cuốn hút vào những hoạt động học tập do GV tổ chức và chỉ đạo, qua đó được tự lực khám phá chứ không thụ động tiếp thu tri thức đã sắp đặt sẵn Người học trực tiếp quan sát những tình huống thực tế, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt
ra, vừa nắm được kiến thức kĩ năng kĩ xảo, vừa biết được con đường tìm ra kiến thức đó, bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo của mình Dạy học không chỉ đơn giản là cung cấp tri thức mà còn hướng dẫn hành động từ học làm đến biết làm, muốn làm và cuối cùng là muốn tồn tại và phát triển như nhân cách một con người lao động tự chủ, năng động và sáng tạo
+ Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học
Ngày nay, trong xã hội hiện đại đang biến đổi nhanh chóng với sự bùng
nổ của công nghệ thông tin thì đòi hỏi kiến thức và hiểu biết của con người phải không ngừng tăng lên, những kiến thức thu nhận được trong nhà trường phải kết hợp với những kiến thức thường xuyên cập nhật Do vậy, quan trọng là phải hướng dẫn cho người học một phương pháp tự học có hiệu quả, là cầu nối giữa học tập và nghiên cứu khoa học, khiến họ biết linh hoạt ứng dụng những điều đã học vào tình huống mới, tự phát hiện và giải quyết những vấn đề đặt ra, khơi dậy tiềm năng vốn có trong mỗi người
+ Tăng cường học tập cá thể phối hợp với học tập hợp tác
Phương pháp dạy và học tích cực đòi hỏi sự cố gắng và nghị lực của mỗi
HS trong việc tự lực giành lấy kiến thức Khả năng nhận thức và trình độ của
Trang 30các HS không đồng đều, áp dụng phương pháp dạy học tích cực ở trình độ càng cao thì sự phân hóa càng lớn Việc ứng dụng các phương tiện dạy học hiện đại
sẽ đáp ứng nhu cầu học tập cá thể của mỗi HS Thông qua thảo luận trong tập thể, ý kiến của cá nhân được điều chỉnh, người học nâng mình lên trình độ mới, hiệu quả học tập sẽ tăng lên, tích cách năng lực của mỗi cá nhân được bộc lộ, uốn nắn, phát triển tình bạn, ý thức tổ chức kỉ luật, tình thần tương trợ trong cộng đồng
Trong học tập hợp tác, mục tiêu hoạt động là chung của toàn nhóm nhưng mỗi cá nhân được phân công nhiệm vụ cụ thể, phối hợp với nhau để đạt mục tiêu cuối cùng, chuẩn bị cho HS thích ứng với đời sống xã hội, với môi trường làm việc cộng đồng sau này
+ Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò
Trong dạy và học tích cực, GV không còn là người giữ vai trò độc quyền đánh giá năng lực, kết quả học tập của HS mà người học được tích cực, chủ động tham gia đánh giá và tự đánh giá Từ đó, GV điều chỉnh được phương pháp dạy và HS điều chỉnh phương pháp dạy và HS điều chỉnh phương pháp học để đạt hiệu quả
Việc kiểm tra đánh giá không chỉ dừng lại ở yêu cầu tái hiện kiến thức, lặp lại kĩ năng mà phải khuyến khích óc sáng tạo, rèn luyện khả năng phát hiện
và giải quyết những vấn đề nảy sinh trong thực tế
+ Vai trò chỉ đạo của GV
Trong dạy và học tích cực, GV trở thành người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động để HS tự lực chiếm lĩnh kiến thức mới, hình thành kĩ năng, thái độ phù hợp GV là người gợi mở, là cố vấn, trọng tài của HS GV phải có trình độ chuyên môn sâu rộng, năng lực sư phạm, đầu óc sáng tạo và nhạy cảm mới có thể giúp HS giải quyết nhiều vấn đề nằm ngoài tầm của HS
* Thực hiện dạy và học tích cực trong môn Địa lí
Địa lí là môn tổng quan nhiều lĩnh vực, cả tự nhiên và kinh tế xã hội Thực hiện dạy và học tích cực trong môn Địa lí không phải là loại bỏ hết các phương pháp truyền thống, các phương tiện thiết bị truyền thống mà cần biết
Trang 31kết hợp chúng với các phương pháp và phương tiện dạy học hiện đạt nhằm đạt kết quả dạy và học cao nhất
Để thực hiện dạy và học tích cực cần phát triển các phương pháp thực hành, các phương pháp trực quan theo kiểu tìm tòi từng phần hoặc nghiên cứu phát hiện Trong đổi mới phương pháp cần kế thừa, phát huy những mặt tích cực của các phương pháp dạy học đã quen thuộc đồng thời vận dụng các phương pháp mới phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể để nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
1.1.1.4 Ứng dụng Công nghệ thông tin trong dạy học Địa lí
Chúng ta đang sống trong kỷ nguyên của nền văn minh tri thức,sự “bùng
nổ” mạnh mẽ của khoa học công nghệ đã tạo điều kiện cho con người có thể
tiếp nhận nguồn tri thức của nhân loại một cách dễ dàng, điều đó đòi hỏi ngành giáo dục phải đổi mới toàn diện về nội dung và phương pháp giảng dạy Những năm gần đây, sự tích hợp của công nghệ thông tin và truyền thông trong giảng dạy đã mở ra nhiều khả năng ứng dụng, tạo bước phát triển mới làm thay đổi xã hội nói chung và ngành giáo dục nói riêng
* Công nghệ thông tin gây hứng thú và phát huy tính tích cực học tập Địa lí của học sinh
Với ưu thế của công nghệ thông tin - một nguồn thông tin - dữ liệu rất
khổng lồ dưới các dạng khác nhau như kí hiệu, hình ảnh, đồ thị, biểu đồ với những màu sắc hấp dẫn, âm thanh sống động kích thích sự hứng thú, tò mò và ham muốn tìm hiểu, khám phá, nghiên cứu, trải nghiệm của học sinh Trong
quá trình học tập công nghệ thông tin (máy tính, Internet ) là nguồn tài liệu
khổng lồ, quý giá và có thể khai thác được trong thời gian ngắn Mặt khác nó còn cho phép người học có thể công bố (đánh giá) kết quả học tập và nghiên cứu của mình Đặc biệt việc sử dụng Internet ta có thể tiến hành các cuộc điều tra, trao đổi ý kiến cho nhau và thông báo những thông tin cần thiết Chính vì
Trang 32vậy mà công nghệ thông tin sẽ thu hút được người học và thúc đẩy người học tích cực làm việc độc lập
* Công nghệ thông tin có khả năng lưu trữ và cung cấp cho việc dạy và học Địa lí lượng thông tin lớn
Trong quá trình dạy học Địa lí, bằng những kĩ năng sử dụng các phương tiện, thiết bị kĩ thuật hiện đại HS có thể khai thác từ Internet, Encarta, media, phần mềm google earth, một khối lượng thông tin Địa lí khổng lồ dưới nhiều dạng khác nhau: văn bản, hình ảnh, số liệu, lược đồ, bản đồ Nguồn thông tin này luôn cập nhật, chính xác và nhanh chóng Ta có thể khẳng định rằng không
có giáo trình, SGK và thư viện nào có thể cung cấp thông tin một cách nhanh chóng và cập nhật như Internet
Điều này không những đối với HS mà còn có ý nghĩa đặc biệt với GV Với các nguồn tư liệu phong phú và cập nhật này, giúp cho GV thuận tiện hơn rất nhiều khi chuẩn bị bài cũng như khi lên lớp Hơn nữa, máy tính lưu giữ thông tin và dữ liệu, nó cho phép GV có thể thành lập ngân hàng dữ liệu thông tin giáo khoa, nội dung giảng dạy
* Công nghệ thông tin góp phần thúc đẩy việc đổi mới phương pháp dạy học Địa lí
Như chúng ta đã biết, đổi mới phương pháp dạy học chính là khắc phục lối truyền thụ một chiều, phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của
HS Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh Tuy nhiên muốn thay đổi định hướng đổi mới phương pháp dạy học Địa lí, người GV phải thay đổi cách dạy, người học phải thay đổi cách học Cần tăng cường sử dụng các phương pháp tích cực như hợp tác theo nhóm, khai thác tri thức từ bản đồ, nêu và giải quyết tình huống, phương pháp dự án, và
tổ chức các giờ học Địa lí theo quan điểm kiến tạo, sư phạm tương tác, hoạt động hoá người học Tổ chức dạy học theo các quan điểm và phương pháp
Trang 33đó, đòi hỏi HS phải biết kết hợp làm việc theo nhóm và làm việc một cách độc lập, mặt khác HS phải hoạt động tìm kiếm, lựa chọn xử lí một cách tự giác, tích cực Tuy nhiên để thực hiện được điều đó, phải có phương tiện, thiết bị kĩ thuật để hỗ trợ cho HS hoạt động Có như vậy trong một khoảng thời gian nhất định, dưới sự hỗ trợ của giáo viên học sinh mới có thể hoàn thành nhiệm vụ học tập của mình
* Công nghệ thông tin có khả năng đổi mới hình thức tổ chức dạy học Địa lí
Trong quá trình dạy học nói chung, dạy học Địa lí nói riêng chúng ta có thể áp dụng nhiều tổ chức hình thức dạy học khác nhau Ngoài hình thức giáo dục truyền thống là lên lớp giảng bài, học mở rộng, học từ xa tương ứng với các hình thức này đã xuất hiện các ứng dụng của công nghệ điện tử - viễn thông trong giáo dục đó là: băng nghe tiếng (hệ 1); băng hình, truyền hình (hệ 2) Tuy
các phương tiện này đã thúc đẩy việc dạy - học, song các loại này vẫn còn ở thế
bị động, nó chỉ hoạt động một chiều Người học không thể tương tác với máy, khó chọn được thời gian học
Hiện nay, việc sử dụng công nghệ thông tin trong dạy và học đã được áp dụng và đáp ứng được yêu cầu của việc dạy học, đặc biệt là dạy học từ xa Hai công nghệ hiện đại và ứng dụng một cách có hiệu quả nhất cho giáo dục và đào tạo là công nghệ truyền thông đa phương tiện Multimedia và công nghệ mạng Networking, đặc biệt là mạng Internet Hai công nghệ này đã giúp cho dạy học thay đổi được hình thức tổ chức Người học không nhất thiết phải lên lớp, theo đúng thời gian, địa điểm quy định, mà người học có thể học bất cứ ở đâu, nơi nào (thành phố hay vùng sâu, vùng xa) Người học có thể chủ động được thời gian, bất cứ lúc nào họ muốn, họ không phải phụ thuộc vào giờ lên lớp hay phát sóng của đài, truyền hình
1.1.2 Sơ đồ tư duy
1.1.2.1 Khái niệm
Trang 34“Sơ đồ tư duy hay Mind Map (MM) là một hình thức ghi chép sử dụng
từ khóa, chữ số, màu sắc và hình ảnh hoặc có thể là âm thanh để mở rộng và đào sâu các ý tưởng, nội dung cần thể hiện” [23] Ở giữa bản đồ là một ý tưởng hay hình ảnh trung tâm, ý tưởng hay hình ảnh trung tâm này sẽ được phát triển bằng các nhánh tượng trưng cho những ý tưởng và đều được nối với ý trung tâm Các nhánh chính lại được phân thành những nhánh nhỏ nhằm nghiên cứu chủ đề ở mức độ sâu hơn Những nhánh nhỏ này lại tiếp tục được phân thành nhiều nhánh nhỏ hơn, nhằm nghiên cứu vấn đề ở mức độ sâu hơn nữa Nhờ
sự kết nối giữa các nhánh, các ý tưởng cũng có sự liên kết dựa trên mối liên
hệ của bản thân chúng, điều này khiến MM có thể bao quát được các ý tưởng trên một phạm vi sâu rộng mà một bản liệt kê ý tưởng thông thường không thể làm được
1.1.2.2 Cách đọc Sơ đồ tư duy
Không giống như các phương pháp ghi chép thông thường, MM không xuất phát từ trái sang phải và từ trên xuống dưới theo kiểu truyền thống Thay vào đó, MM được vẽ, viết và đọc theo hướng bắt nguồn từ trung tâm di chuyển
ra phía ngoài và sau đó là theo chiều kim đồng hồ Tuy nhiên, người vẽ có thể sắp xếp theo một trật tự khác của riêng mình, theo lối tư duy phóng khoáng Các mũi tên xung quanh MM sẽ chỉ ra cách đọc thông tin trong sơ đồ
1.1.2.3 Cách vẽ Sơ đồ tư duy
a Công cụ vẽ Sơ đồ tư duy
Có hai cách để tạo ra Sơ đồ tư duy MM: có thể vẽ bằng tay hoặc bằng phần mềm trên máy vi tính Nếu vẽ bằng tay thì HS chỉ cần các tờ giấy A4, một hộp bút màu kết hợp với trí sáng tạo của mình Đối với hình thức vẽ bằng phần mềm trên máy vi tính, học sinh có thể sử dụng các phần mềm MindMapping (Freemind, Conceptdraw MM profestional 8.0.1, Edraw MM, Mind Manager, iMindMap,…) với các hình ảnh trung tâm có sẵn trong thư viện hình ảnh của phần mềm hoặc tìm kiếm thông tin qua Internet
b Các bước vẽ Sơ đồ tư duy
Trang 35Đầu tiên cần tập trung vào câu hỏi trọng tâm hay chủ đề cụ thể Xác định thật rõ mục tiêu bạn hướng đến hoặc nỗ lực giải quyết Đặt tờ giấy nằm ngang
vẽ mục tiêu trọng tâm SĐTD ngay giữa trang Điều này sẽ giúp bạn được tự do diễn đạt và không bị bó buộc bởi khuôn khổ chật hẹp của trang giấy
Vẽ một hình ảnh giữa trang giấy để biểu thị mục tiêu của bạn Không nhất thiết hình vẽ phải đẹp mà chỉ cần dễ nhìn, quan trọng là bạn sử dụng hình ảnh này làm điểm bắt đầu của SĐTD bởi hình ảnh sẽ khởi động não bằng cách kích hoạt trí tưởng tượng
Dùng màu sắc ngay từ đầu để thể hiện sự nhấn mạnh, kết cấu, bố cục,
sáng tạo - nhằm gợi tính trực quan và khắc họa hình ảnh vào não Cố gắng
dùng ít nhất ba màu và tạo ra hệ thống mã màu riêng của bạn Có thể dùng màu
để thể hiện thứ bậc, chủ đề hoặc nhấn mạnh những điểm nào đó Bây giờ, hãy
vẽ một loạt đường liên kết đậm, tỏa ra từ trung tâm của hình ảnh Đây là các nhánh chính của SĐTD giống như các cành lớn của cây, có tác dụng triển khai
ý tưởng của bạn Hãy nhớ liên kết thật chặt chẽ các nhánh chính này với hình ảnh trung tâm vì não và trí nhớ hoạt động nhờ liên tưởng
Vẽ đường liên kết dạng cong để thu hút mắt và giúp não dễ ghi nhớ Viết lên mỗi nhánh một từ then chốt sẽ giúp bạn liên tưởng đến các chủ đề Đây là các ý chính (và ý chủ đề) của bạn, các ý này bao gồm những mục như: tình huống, cảm tưởng, sự kiện, chọn lựa Hãy nhớ rằng sử dụng từ then chốt trên mỗi liên kết cho phép bạn thấy rõ bản chất của vấn đề đang xem xét, đồng thời giúp liên tưởng được in sâu trong não Sử dụng cụm từ và câu sẽ hạn chế tác dụng này và gây rối rắm cho trí nhớ.Thêm một vài nhánh trống vào SĐTD bộ não sẽ cần tư duy để bổ sung thông tin vào các nhánh này
Hãy tạo ra nhánh cấp hai và cấp ba cho những ý liên tưởng và ý phụ Cấp hai liên kết với các nhánh chính, cấp ba liên kết với các nhánh của cấp hai … Toàn bộ quá trình này được tạo thành hoàn toàn nhờ các liên tưởng Các từ bạn chọn cho mỗi nhánh có thể là các đề tài nêu câu hỏi: Ai, cái gì, ở đâu, tại sao, bằng cách nào… về môn học hay tình huống nào đó
Trang 36Biến ý tưởng thành hành động: SĐTD hoàn chỉnh vừa là bức tranh mô tả ý tưởng của bạn, vừa là giai đoạn đầu tiên của việc chuẩn bị phương hướng hành động Việc xác lập ưu tiên và tầm quan trọng cho các đề mục, kết luận của bạn có thể được thực hiện rất đơn giản bằng cách đánh số ở mỗi nhánh của SĐTD
c Các nguyên tắc vẽ Sơ đồ tư duy
Bắt đầu với một hình màu ở tâm Một bức ảnh “trung tâm của điểm nhấn” kích thích tư duy sáng tạo và nâng cao khả năng nhớ Đặt tờ giấy nằm ngang
Sử dụng hình ảnh ở mọi nơi trong SĐTD của bạn Đây là quy tắc quan trọng nhất Để kích thích tất cả các quy trình của vỏ não, hay thu hút sự chú ý của mắt và hỗ trợ trí nhớ
Nên dùng chữ in Chữ in tạo cảm giác như ảnh chụp, rõ ràng, dễ đọc
và toàn diện hơn Tuy mất thêm chút thời gian nhưng khi đọc lại, bạn sẽ tiết kiệm được nhiều thì giờ hơn
Chữ in phải nằm trên đường phân nhánh, và các đường phân nhánh phải liên kết với nhau Yêu cầu này nhằm đảm bảo cho SĐTD có cấu trúc cơ bản
Từ phải theo “đơn vị”, nghĩa là một từ cho mỗi đường phân nhánh Nhờ vậy, từ có thêm nhiều móc nối tự do giúp cho việc ghi nhớ trở nên thoải mái và linh hoạt hơn
Sử dụng màu sắc ở mọi nơi trong SĐTD vì màu sắc giúp tăng cường trí nhớ, khiến mắt thích nhìn, đồng thời kích thích quy trình thích hợp của vỏ não
Trong những nỗ lực sáng tạo thuộc loại này, nên để tư duy càng “tự do” càng tốt Bất kỳ “suy nghĩ” nào về việc phải đặt các chi tiết ở đâu hay có nên đặt chúng vào không, chỉ làm chậm quy trình mà thôi
Mục đích nhằm nhớ lại tất cả những gì tư duy bạn nghĩ đến xung quanh
ý trọng tâm Vì tư duy sẽ phát sinh ý tưởng nhanh hơn bạn viết ra giấy, nên tốt nhất là không để có quãng ngừng Nếu ngừng lại, có lẽ bạn sẽ thấy cây viết hoặc bút chì của mình ngập ngừng trên giấy Ngay khi nhận biết điều này, bạn hãy trở lại và tiếp tục Đừng bận tâm tới thứ tự hay bố cục vì trong nhiều trường hợp, chúng sẽ tự hình thành Nếu không, bạn có thể hoàn tất việc lập thứ
Trang 37tự ở cuối bài tập Việc lập SĐTD như vậy có thể xem là đã loại bỏ tất cả nhược điểm củ ghi chú theo lối thông thường
Kỹ thuật
- Nhấn mạnh
+ Luôn dùng hình ảnh trung tâm
+ Dùng hình ảnh ở mọi nơi trong SĐTD
+ Mỗi ảnh trung tâm nên dùng màu khác biệt
+ Dùng kích cỡ trong các ảnh và xung quanh các từ
Viết in từ khóa trên vạch liên kết
Vạch liên kết và các từ luôn cùng độ dài
Các vạch liên kết nối liền nhau và các nhánh chính luôn nối với ảnh trung tâm
Vạch liên kết trung tâm dùng đậm nét
Đường bao ôm sát các nhánh
Sử dụng ảnh có độ phân giải cao
SĐTD luôn nằm theo chiều ngang
Luôn viết chữ in thẳng đứng
- Tạo phong cách riêng
Trang 38 Cách bố trí
- Trình tự phân cấp
- Trình tự đánh số
1.2.3.3 Ý nghĩa của Sơ đồ tư duy
Sơ đồ tư duy là một kỹ thuật hình họa, với sự kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu sắc phù hợp, tương thích với cấu trúc, hoạt động và chức năng của não bộ Minmap hoạt động dựa trên hai nguyên tắc chủ chốt là tưởng tượng và liên kết Não bộ của con người rất nhạy cảm với hỉnh ảnh nên nó chính là bộ máy phân tích và liên kết các ý tưởng bằng sự liên kết tư duy logic
“Mindmap là sự thể hiện ra bên ngoài cách thức mà não bộ chúng ta hoạt
động Đó là liên kết, liên kết và liên kết” [2] Mọi thông tin tồn tại trong não bộ của con người đều cần có các mối nối liên kết để có thể được tìm thấy và sử dụng Khi có một thông tin mới được đưa vào, để được lưu trữ và tồn tại, chúng cần kết nối với các thông tin cũ đã tồn tại trước đó Mindmap có các nhánh rẽ
và giữa các nhánh rẽ đó có liên kết với nhau, mỗi nhánh được thêm vào SĐTD đều được liên kết với nhánh trước Điều này kích thích bộ não hình thành liên kết giữa các ý tưởng
Việc sử dụng các từ khóa, chữ số, màu sắc và hình ảnh trong Mindmap
đã kết hợp hoạt động của cả hai bán cầu não trái và phải trong việc ghi nhớ Sự kết hợp này sẽ làm tăng cường các liên kết giữa hai bán cầu não, và kết quả là tăng cường trí tuệ và tính sáng tạo của chủ nhân bộ não
1.2.3.4 Các ứng dụng của Sơ đồ tư duy
Sơ đồ tư duy liên quan mật thiết với các chức năng của tư duy và có thể được dùng trong hầu hết mọi hoạt động liên quan đến tư duy, ghi nhớ, hoạch định hay sáng tạo trong kinh doanh, lên ý tưởng và đặc biệt là trong lĩnh vực tự học với đầy đủ các chức năng hữu hiệu cho việc nghe và ghi giảng, đến việc ôn tập củng cố để khắc ghi đào sâu kiến thức
1.1.3 Đặc điểm chương trình sách giáo khoa Địa lí lớp 12
1.1.3.1 Phân phối chương trình Địa lí 12
- Tổng số: 42 bài trong đó có 35 bài lí thuyết + 7 bài thực hành
Trang 39- Học kì I: 19 tuần (1 tiết/tuần) kết thúc ở bài 16: Đặc điểm dân số và sự phân bố dân cư
- Học kì II: 18 tuần (2 tiết/tuần): các bài còn lại
HỌC KỲ I
Tiết 1 Bài 1 Việt Nam trên đường đổi mới và hội nhập
ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN
VỊ TRÍ ĐỊA LÍ VÀ LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN LÃNH THỔ Tiết 2 Bài 2 Vị trí địa lí, phạm vi lãnh thổ
Tiết 3 Bài 3 Thực hành: Vẽ lược đồ Việt Nam
ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA TỰ NHIÊN VIỆT NAM Tiết 4 Bài 6 Đất nước nhiều đồi núi
Tiết 5 Bài 7 Đất nước nhiều đồi núi (tiếp theo)
đồi núi Tiết 7 Bài 8 Thiên nhiên chịu ảnh hưởng sâu sắc của biển
Tiết 10 Bài 9 Thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa
Tiết 11 Bài 10 Thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa (tiếp theo)
Tiết 12 Bài 11 Thiên nhiên phân hoá đa dạng
Tiết 13 Bài 12 Thiên nhiên phân hoá đa dạng (tiếp theo)
Tiết 14 Bài 13 Thực hành: Đọc bản đồ địa hình, điền vào lược đồ trống một số
dãy núi và đỉnh núi VẤN ĐỀ SỬ DỤNG VÀ BẢO VỆ TỰ NHIÊN Tiết 15 Bài 14 Sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên
Tiết 20 Bài 17 Lao động và việc làm
Tiết 21 Bài 18 Đô thị hoá
Tiết 22 Bài 19 Thực hành: Vẽ biểu đồ và phân tích sự phân hoá về thu nhập
bình quân theo đầu người giữa các vung
ĐỊA LÍ KINH TẾ
Tiết 23 Bài 20 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
ĐỊA LÍ CÁC NGÀNH KINH TẾ
Trang 40Một số vấn đề phát triển và phân bố nông nghiệp
Tiết 24 Bài 21
Đặc điểm nền nông nghiệp nước ta (Không dạy Mục III Kinh tế nông thôn nước ta đang chuyển dịch rõ nét; Câu hỏi 3 phần câu hỏi và bài tập không yêu cầu HS trả lời)
Tiết 26 Luyện tập, củng cố kiến thức, kĩ năng nội dung vấn đề phát triển
nông nghiệp Tiết 27 Bài 23 Thực hành: Phân tích sự chuyển dịch cơ cấu ngành trồng trọt
(Không yêu cầu HS làm Bài tập 1 ý b) Tiết 28 Bài 24
Vấn đề phát triển ngành thuỷ sản và lâm nghiệp (Mục 2 Lâm nghiệp; phần b Tài nguyên rừng của nước ta vốn giàu có, nhưng
đã bị suy giảm nhiều - không dạy) Tiết 29 Bài 25
Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp (Không dạy Mục 1 Các nhân tố tác động tới tỏ chức lãnh thổ nông nghiệp ở nước ta; Câu hỏi 1 phần câu hỏi bài tập không yêu cầu HS trả lời)
Một số vấn đề phát triển và phân bố công nghiệp
Tiết 30 Bài 26 Cơ cấu ngành công nghiệp
Tiết 31 Luyện tập, củng cố kiến thức, kĩ năng nội dung cơ cấu ngành
công nghiệp Tiết 32 Bài 27 Vấn đề phát triển một số ngành công nghiệp trọng điểm
Tiết 33 Bài 28 Vấn đề tổ chức lãnh thổ nông nghiệp (Không dạy Mục 2 Các
nhân tố ảnh hưởng tới tổ chức lãnh thổ công nghiệp) Tiết 34 Bài 29 Thực hành: Vẽ biểu đồ, nhận xét và giải thích sự chuyển dịch cơ
cấu công nghiệp
Vấn đề khai thác thế mạnh ở Trung du và miền núi Bắc Bộ (Mục
1 Khái quát chung, chỉ dạy nội dung về phạm vi lãnh thổ, tên các tỉnh, vị trí địa lí của vùng Không dạy phần khái quát còn lại) Tiết 41 Bài 33 Vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành ở Đồng bằng
sông Hồng