Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu (LV thạc sĩ)Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu (LV thạc sĩ)Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu (LV thạc sĩ)Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu (LV thạc sĩ)Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu (LV thạc sĩ)Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu (LV thạc sĩ)Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu (LV thạc sĩ)Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu (LV thạc sĩ)
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
LÝ CÔNG HẬU
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN MƯỜNG TÈ,
TỈNH LAI CHÂU
LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
LÝ CÔNG HẬU
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN MƯỜNG TÈ,
TỈNH LAI CHÂU
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60.34.04.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Gấm
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
“Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu” là trung thực và là kết quả nghiên
cứu của riêng tôi
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2016
Tác giả luận văn
Lý Công Hậu
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài: “Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ
cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu”, tôi đã
nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ, động viên của các cá nhân và tập thể Tôi xin được bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc nhất tới tất cả các cá nhân và tập thể đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu Nhà trường, Phòng Đào tạo, các khoa và các phòng của Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh - Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi về mọi mặt trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của giáo viên hướng dẫn
PGS.TS Nguyễn Thị Gấm Đồng thời, tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ, đóng góp
nhiều ý kiến quý báu của các nhà khoa học, các thầy các cô giáo trong Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh - Đại học Thái Nguyên Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi còn được sự giúp đỡ và cộng tác của nhiều phòng ban trên địa bàn huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc đối với mọi sự giúp đỡ quý báu đó
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2016
Tác giả luận văn
Lý Công Hậu
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG vi
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Đóng góp của luận văn 4
5 Bố cục của luận văn 7
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ̀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP CƠ SỞ 8
1.1 Cơ sở lý luận 8
1.1.1 Chính quyền cấp xã và vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã 8
1.1.2 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức cấp xã 17
1.1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ cán bộ công chức cấp xã 26
1.2 Cơ sở thực tiễn về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã 31
1.2.1 Kinh nghiệm thực tiễn về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức của các địa phương 31
1.2.2 Những bài học kinh nghiệm cho huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu 34 Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
2.1 Câu hỏi nghiên cứu 36
2.2 Phương pháp nghiên cứu 36
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 36
2.2.2 Phương pháp điều tra 37
Trang 62.2.3 Phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu 38
2.2.4 Phương pháp phân tích số liệu 38
2.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 39
2.3.1 Chỉ tiêu về Thể lực 39
2.3.2 Chỉ tiêu về Tâm lực 40
2.3.3 Chỉ tiêu về Trí lực 40
2.3.4 Chỉ tiêu về kết quả thực hiện công việc 40
Chương 3 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ HUYỆN MƯỜNG TÈ 42
3.1 Giới thiệu chung về huyện Mường Tè 42
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 42
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 44
3.2 Đặc điểm đội ngũ cán bộ công chức cấp xã tại các xã, thị trấn của huyện Mường Tè 46
3.3 Thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ công chức cấp xã của huyện Mường Tè giai đoạn 2013-2015 48
3.3.1 Cơ cấu đội ngũ cán bộ công chức cấp xã tại các xã, thị trấn huyện Mường Tè 48
3.3.2 Trình độ văn hóa của đội ngũ cán bộ công chức cấp xã tại các xã, thị trấn huyện Mường Tè 50
3.3.3 Trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ công chức cấp xã tại các xã, thị trấn huyện Mường Tè 51
3.3.4 Trình độ chính trị của đội ngũ cán bộ công chức cấp xã tại các xã, thị trấn huyện Mường Tè 52
3.3.5 Trình độ ngoại ngữ, tin học của đội ngũ cán bộ công chức cấp xã tại các xã, thị trấn huyện Mường Tè 55
3.3.6 Trình độ quản lý nhà nước của đội ngũ cán bộ công chức cấp xã tại các xã, thị trấn huyện Mường Tè 56
Trang 73.4 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng của đội ngũ cán bộ, công
chức cấp xã tại các xã, thị trấn huyện Mường Tè 56
3.4.1 Vấn đề đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức cấp xã 56
3.4.2 Cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm đội ngũ cán bộ cấp xã 57
3.4.3 Chế độ, chính sách và vị thế của người cán bộ công chức cấp xã 58
3.4.4 Công tác quản lý, kiểm tra, giám sát, đánh giá đội ngũ cán bộ công chức cấp xã 59
3.5 Kết quả đánh giá của người dân về đội ngũ cán bộ công chức xã, thị trấn thuộc huyện Mường Tè, Lai Châu 60
3.5.1 Về mặt thể lực 60
3.5.2 Về mặt trí lực 61
3.5.3 Về tâm lực 62
3.5.4 Về kết quả thực hiện công việc 64
3.6 Đánh giá chung về chất lượng đội ngũ cán bộ công chức xã tại huyện Mường Tè 65
3.6.1 Những ưu điểm của đội ngũ cán bộ, công chức xã huyện Mường Tè 65
3.6.2 Những mặt hạn chế cần khắc phục 66
3.6.3 Nguyên nhân các mặt hạn chế của chất lượng đội ngũ cán bộ công chức 68
Chương 4 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CÔNG CHỨC CẤP XÃ, THỊ TRẤN TẠI HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU HIỆN NAY 72
4.1 Yêu cầu trong bối cảnh mới, quan điểm và mục tiêu về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức cấp xã, thị ̣ trấn huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu 72
4.1.1 Yêu cầu về chất lượng đội ngũ cán bộ công chức cấp xã, thị trấn của Huyện Mường Tè trong bối cảnh mới 72
4.1.2 Quan điểm về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức cấp xã, thị̣ trấn huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu 72
Trang 84.1.3 Mục tiêu về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức cấp xã,
thị̣ trấn huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu trong thời gian tới 73
4.2 Các giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức cấp xã, thị trấn huyện Mường Tè trong giai đoạn hiện nay 74
4.2.1 Giải pháp về công tác tuyển dụng, bổ nhiệm 74
4.2.2 Giải pháp về công tác đào tạo bồi dưỡng 76
4.2.3 Giải pháp về chế độ, chính sách và nâng cao vị thế của người cán bộ công chức cấp xã 78
4.2.4 Giải pháp về công tác quản lý, kiểm tra, giám sát, đánh giá 79
4.3 Kiến nghị và đề xuất 82
4.3.1 Đối với Chính phủ, Bộ, Ngành TW 82
4.3.2 Đối với tỉnh Lai Châu 83
KẾT LUẬN 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
PHỤ LỤC 89
Trang 9DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
CBCC : Cán bộ công chức CNH,HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CQĐT : Chưa qua đào tạo ĐQĐT : Đã qua đào tạo HĐND : Hội đồng nhân dân NXB : Nhà xuất bản
UBND : Ủy ban nhân dân
Trang 10DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Biên chế cán bộ công chức cấp xã tại các xã, thị trấn huyện
Mường Tè hiện nay 47Bảng 3.2: Cơ cấu phân bổ cán bộ công chức cấp xã huyện Mường Tè
theo giới tính 48Bảng 3.3: Cơ cấu phân bổ cán bộ công chức cấp xã huyện Mường Tè
theo độ tuổi 49Bảng 3.4: Trình độ văn hóa của đội ngũ cán bộ công chức cấp xã tại các
xã, thị trấn huyện Mường Tè 50Bảng 3.5: Trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ công chức cấp xã tại
các xã, thị trấn huyện Mường Tè 51Bảng 3.6: Trình độ chính trị của đội ngũ cán bộ công chức cấp xã tại các
xã, thị trấn huyện Mường Tè 54Bảng 3.7: Trình độ ngoại ngữ của đội ngũ cán bộ công chức cấp xã tại
các xã, thị trấn huyện Mường Tè 55Bảng 3.8: Đánh giá của cán bộ công chức cấp xã về công tác đào tạo,
bồi dưỡng 57Bảng 3.9: Đánh giá về cơ chế tuyển dụng, phân công bổ nhiệm cán bộ
công chức 58Bảng 3.10: Đánh giá chế độ, chính sách và vị thế của cán bộ, chính quyền
cấp xã 59Bảng 3.11: Đánh giá về công tác quản lý, kiểm tra, giám sát 60Bảng 3.12: Đánh giá của người dân về mặt thể lực của đội ngũ cán bộ,
công chức cấp xã, thị trấn tại huyện Mường Tè 61Bảng 3.13: Đánh giá của người dân về mặt trí lực của đội ngũ cán bộ,
công chức cấp xã, thị trấn tại huyện Mường Tè 62Bảng 3.14: Đánh giá của người dân về mặt tâm lực của đội ngũ cán bộ,
63công chức cấp xã, thị trấn tại huyện Mường Tè 63Bảng 3.15: Đánh giá của người dân về mặt kết quả thực hiện công việc
của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, thị trấn tại huyện Mường Tè 64
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nguồn nhân lực luôn là một yếu tố quyết định đối với sự phát triển kinh
tế - xã hội của mỗi quốc gia Do đó, để thực hiện thắng lợi mục tiêu chiến lược của sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước trong thời đại tri thức ngày nay, chúng ta cần nhận thức một cách sâu sắc, đầy đủ những giá trị to lớn
và có ý nghĩa quyết định của nhân tố con người, chủ thể của mọi sáng tạo,
“nguồn tài nguyên” vô giá, vô tận của đất nước Trong xu hướng hội nhập hiện nay, mỗi cán bộ chúng ta phải có cách nghĩ, cách nhìn mới về vai trò động lực
và mục tiêu của con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Từ đó, xây dựng các chương trình, kế hoạch và chiến lược phát triển nguồn nhân lực phù hợp, phát huy tối đa nhân tố con người, tạo ra động lực mạnh mẽ cho sự phát triển bền vững, đẩy nhanh tiến độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thúc đẩy quá trình đổi mới toàn diện đất nước
Ngày nay, chất lượng nguồn nhân lực có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự phát triển Nếu trước đây sự phát triển của một quốc gia chủ yếu dựa vào các nguồn lực tài chính như tài nguyên thiên nhiên, nguồn vốn tư bản, nguồn lao động, thị trường tiêu thụ…., thì hiện nay tri thức lại có ý nghĩa hết sức to lớn, góp phần tạo nên sự thịnh vượng và giàu có cho một quốc gia, lãnh thổ
Xu thế toàn cầu hóa cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, đặc biệt là
sự ra đời của internet cũng càng trở nên gay gắt hơn và tất nhiên ưu thế cạnh tranh bao giờ cũng nghiêng về quốc gia, lãnh thổ có chất lượng nguồn nhân lực cao hơn, được đào tạo tốt hơn
Cấp xã (xã, phường, thị trấn) là một cấp trong hệ thống hành chính bốn cấp của Nhà nước Việt Nam, là nền tảng của hệ thống chính trị Cấp xã giữ một vai trò, vị trí hết sức quan trọng, là nơi trực tiếp thực hiện đường lối, chính sách, pháp luật và nhiệm vụ cấp trên giao, là cấp chính quyền trực tiếp chăm lo đời
Trang 12sống của nhân dân, là cầu nối giữa nhà nước với nhân dân Vì vậy, chất lượng hoạt động của đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền cấp xã ảnh hưởng trực tiếp đến sức mạnh của hệ thống chính trị ở cơ sở, tác động trực tiếp đến sự nghiệp cách mạng và đổi mới của Đảng và Nhà nước thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Nhằm mục tiêu nâng cao nhanh đời sống vật chất tinh thần cho đồng bào cấp xã đặc biệt khó khăn vùng sâu, vùng xa, tạo điều kiện để đưa nông thôn các vùng này thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, chậm phát triển và hòa nhập vào sự phát triển chung của cả đất nước, Đảng, Nhà nước ta đã có nhiều chính sách ưu tiên, quan tâm đặc biệt đối với sự phát triển của cấp xã miền núi Để thực hiện thắng lợi các chính sách đó, vấn đề chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở
có ý nghĩa quyết định
Đội ngũ cán bộ công chức chính quyền cấp xã ở vùng dân tộc và miền núi có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tăng cường đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, phát triển kinh tế - xã hội,
tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư
Mường Tè là huyện vùng sâu, vùng xa, biên giới, khó khăn nhất tỉnh Lai Châu Hiện tại, huyện có 14 xã và̀ thị trấn, trong đó có 13 xã đặc biệt khó khăn
và đơn vị thị trấn Mường Tè thuộc địa bàn khó khăn với 06 xã biên giới với vị trí địa lý phức tạp Mường Tè là nơi tập trung nhiều hộ dân tộc thiểu số, tỷ lệ nghèo đói vẫn rất cao, mặt bằng dân trí không đồng đều, chất lượng cuộc sống rất thấp Mặc dù đã được Đảng, Nhà nước có nhiều chính sách ưu đãi về phát triển kinh tế - xã hội, nguồn nhân lực nhằm đưa huyện thoát khỏi tình trạng nghèo đói nhưng do sự thiếu hụt trầm trọng và yếu kém của đội ngũ cán bộ, công chức nói chung và đội ngũ cán bộ cơ sở nói riêng trong triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nên hiệu quả thu được qua việc thực hiện các chính sách này là chưa cao Trong những
Trang 13năm qua việc tổng kết, đánh giá đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của đội ngũ cán bộ, công chức chưa được quan tâm thực hiện đúng mức, chưa có các giải pháp đồng bộ phù hợp với đặc thù đối với đội ngũ cán bộ công chức của huyện nói chung, cán bộ, công chức chính quyền cấp xã nói riêng
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài “Giải pháp nâng cao
chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sỹ của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Luận văn được thực hiện nhằm đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức các xã, thị trấn huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu đến năm 2020 và các giai đoạn tiếp theo góp phần thực hiện mục tiêu chung công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước của Đảng và nhà nước ta, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và đổi mới đất nước trong giai đoạn hiện nay
+ Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức các xã và thị trấn ở huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu trong giai đoạn tới
Trang 143 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã của huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu (Đội ngũ cán bộ, công chức các xã, thị trấn trong phạm vi nghiên cứu của đề tài bao gồm tất cả các chức danh cán bộ, công chức cấp cấp xã và thị trấn theo quy định của Nghị định
số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ tại huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu)
3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Phạm vi về không gian: Đề tài được thực hiện tại huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu: tại tất cả các xã và thị ̣ trấn của huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu
- Phạm vi về thời gian: Đề tài thu thập số liệu thứ cấp từ năm 2013 - 2015,
số liệu sơ cấp được thu thập vào tháng 8 - 9/2016
- Phạm vi về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng và các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cấp xã của huyện Mường
Tè (bao gồm: kỹ năng chung, kỹ năng chuyên môn, kỹ năng quản lý nhà nước, trình độ lý luận chính trị, trình độ tin học, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ,…)
4 Đóng góp của luận văn
- Luận văn góp phần làm rõ hơn cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã Đặc biệt làm rõ đặc điểm của đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền cấp xã tại huyện Mường Tè
- Trên cơ sở đánh giá thực trạng về chất lượng đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã của huyện Mường Tè, luận văn đề xuất các phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức chính quyển cấp
xã, đáp ứng nhiệm vụ chính trị hiện nay đối với một huyện miền núi, có nhiều dân tộc thiểu số, kinh tế còn chưa được phát triển như huyện Mường
Tè, tỉnh Lai Châu
* Tổng quan tài liệu đã nghiên cứu trước đây
Trang 15Chất lượng đội ngũ cán bộ công chức cấp xã không còn là vấn đề mới, ở nhiều nước trên thế giới đội ngũ cán bộ cán bộ công chức trong bộ máy nhà nước
là chủ đền nghiên cứu của nhiều môn khoa học như: chính trị học, quản lý công nhưng chất lượng đội ngũ cán bộ công chức luôn là đề tài có tính thời sự và cũng không kém phần phức tạp Vấn đề này đã được nhiều nhà khoa học, nhà quản lý, hoạch định chính sách và hoạt động thực tiễn tập trung đi sâu nghiên cứu, tìm tòi, khảo sát Đã có nhiều công trình được công bố dưới những góc độ, mức độ, hình thức thể hiện khác nhau, tiêu biểu của các tác giả sau:
Nguyễn Phú Trọng, Trần Xuân Sầm (2003), Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Nội dung luận cứ đưa
ra cơ sở lý luận trong sử dụng tiêu chuẩn cán bộ của Đảng phù hợp với từng giai đoạn cách mạng, các quan điểm và phương hướng trong việc nâng cao chất lượng công tác cán bộ Luận cứ đã nếu ra các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH gồm: công tác đào tạo bồi dưỡng, công tác phân công bổ nhiệm và công tác quản lý giám sát đội ngũ cán
bộ công chức Điểm nổi bật của luận cứ là việc đưa ra nội dung, “tiêu chuẩn hóa cán bộ” đây là một quan điểm đổi mới trong công tác cán bộ mà tác giả
có thể vận dụng và kế thừa trong luận văn của mình để đưa ra các tiêu chuẩn hóa cán bộ công chức cấp xã phù hợp với huyện Mường Tè trong xu thế phát triển của thời đại và đặc trưng của huyện Mường Tè
Nguyễn Phương Đông (2002), Vấn đề giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên Tạp chí Kiểm tra (07), tr 26-27 Tác giả
đã nêu lên tầm quan trọng của yếu tố đào tạo và bồi dưỡng tác động tới chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức và hiệu quả, hình thức, phương pháp giáo dục
tư tưởng chính trị, đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên hiện nay Luận văn có thể kế thừa những phương pháp khả thi trong giáo dục tư tưởng chính trị,đạo đức cho cán bộ đảng viên cấp cơ sở để góp phần củng cố và nâng cao
Trang 16phẩm chất đạo đức, chính trị của đội ngũ cán bộ công chức cấp xã ở huyện Mường Tè
Thang Văn Phúc và Nguyễn Minh Phương (2004), Xây dựng đội ngũ cán
bộ, cán bộ công chức đáp ứng đòi hỏi của nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, NXB Chính trị quốc gia Trên cơ sở nghiên
cứu các quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
và của Đảng Cộng sản Việt Nam về vai trò, vị trí người cán bộ cách mạng, cũng như yêu cầu đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ, cán bộ công chức; tìm hiểu những bài học kinh nghiệm về việc tuyển chọn và sử dụng nhân tài trong suốt quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, cũng như kinh nghiệm xây dựng nền công vụ chính quy hiện đại của đất nước trong khu vựcvà trên thế giới Từ đó, xác định các yêu cầu, tiêu chuẩn của cán bộ, cán bộ công chức đáp ứng đòi hỏi của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân,vì dân Luận văn có thể kế thừa những kết quả nghiên cứu để đưa ra những tiêu chuẩn để xây dựng một đội ngũ cán bộ công chức cấp xã phù hợp với xu thế phát triển nói chung và phù hợp với điều kiện, đặc trưng của huyện Mường Tè nói riêng
Các tác giả đều đã phân tích một cách hệ thống và tương đối toàn diện
về vấn đề chất lượng cán bộ công chức nói chung dưới góc độ lý luận cũng như
sự vận dụng lý luận đó vào tình hình thực tiễn, đó đều là những công trình, sản phẩm của trí tuệ có giá trị và ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn, là cơ sở kế thừa cho việc nghiên cứu tiếp theo.Tuy nhiên, đứng trước xu hướng hội nhập
và toàn cầu hóa, xây dựng nông thôn mới trong thời kỳ hội nhập thì vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức cấp xã vẫn hết sức cấp thiết Việc nghiên cứu trực tiếp về vấn đề nâng cao chất lượng cán bộ công chức cấp
xã huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào Vì vậy, việc chọn nghiên cứu đề tài này mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn, góp
Trang 17phần nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở huyện Mường
Tè hiện nay
5 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận thì luận văn gồm 4 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở
- Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
- Chương 3: Thực trạng chất lượng cán bộ, công chức các xã, thị trấn của huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu
- Chương 4: Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã của huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu
Trang 181.1.1 1 Khái niệm và đặc điểm của chính quyền cấp xã
a Khái niệm chung về chính quyền cấp xã
Trong hệ thống hành chính nước ta, chính quyền xã, phường và thị trấn (gọi chung là cấp xã) là chính quyền cấp thấp nhất trong hệ thống chính quyền
4 cấp hoàn chỉnh: Trung ương, tỉnh/thành phố thuộc trung ương, quận/huyện/thị xã/thành phố thuộc tỉnh, xã/phường/thị trấn
Theo số liệu của tổng cục thống kê tính đến 31 tháng 12 năm 2015, nước ta có 11162 đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn, trong đó có 8978
xã, 603 thị trấn, 1.581 phường Dưới xã, phường, thị trấn có các cộng đồng dân cư tự quản; dưới xã có thôn, làng, ấp, bản, buôn Dưới phường, thị trấn
có tổ dân phố, ở một số thành phố, thị xã giữa phường và tổ dân phố có cụm dân cư, giữa xã và thôn có khu hành chính Số lượng xã, phường, thị trấn trong những năm qua không ổn định Cùng với quá trình chia tách các tỉnh, huyện, việc thành lập mới các xã, phường, thị trấn diễn ra ở hầu hết các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Chỉ trong vòng 13 năm từ 2002 đến 2015
đã tăng 585 đơn vị trong đó có 79 xã, 539 phường và 17 thị trấn Chính quyền cấp xã là nơi trực tiếp thực hiện nhiệm vụ cụ thể quản lý hành chính nhà nước trên tất cả các lĩnh vực chính trị, an ninh, quốc phòng, kinh tế, văn hóa,
xã hội ở cơ sở, đảm bảo các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đi vào cuộc sống, nâng cao mọi mặt đời sống của nhân dân Sự trong sạch vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả của chính quyền cấp
xã đóng vai trò rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động quản lý nhà nước và cung cấp dịch vụ công phục vụ nhân dân.[17]
Trang 19Trong quá trình xây dựng, hoàn thiện bộ máy nhà nước, Đảng và nhân dân ta luôn dành sự quan tâm đối với chính quyền cấp xã Cùng với việc hoàn thiện thể chế, chính sách đãi ngộ và đầu tư cơ sở vật chất, Đảng và Nhà nước luôn chăm lo xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao phẩm chất đạo đức, trình
độ năng lực của đội ngũ cán bộ công chức cấp xã
Chính quyền cấp xã là cấp chính quyền gần dân nhất, là cầu nối trực tiếp giữa hệ thống chính quyền cấp trên với nhân dân, hàng ngày tiếp xúc, nắm bắt
và phản ánh tâm tư nguyện vọng của nhân dân Cấp xã có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tăng cường đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, huy động mọi khả năng phát triển kinh tế - xã hội,
tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư
Chính quyền được hiểu là bộ máy điều khiển, quản lý công việc của nhà nước và hoạt động của nó mang tính chất quyền lực của Nhà nước, bằng phương thức tác động của Nhà nước Cấp xã là đơn vị cấp dưới cùng, vì thế Chính quyền cấp xã chỉ bao gồm HĐND và UBND Qua đó có thể hiểu, chính quyền cấp xã là một cấp cuối cùng trong hệ thống chính quyền 4 cấp của Việt Nam,
là nơi trực tiếp thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, các mục tiêu kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng ở cơ sở, thực hiện việc quản lý hành chính nhà nước trên địa bàn
Từ những phân tích trên đây và theo Luật tổ chức chính quyền địa phương của Quốc Hội ban hành ngày 19/0/2015 ta có thể nêu khái quát khái
niệm chính quyền cấp xã như sau: Chính quyền cấp xã bao gồm HĐND và
UBND là cấp thấp nhất trong hệ thống chính quyền 4 cấp ở Việt Nam, thực hiện quyền lực nhà nước ở địa phương, có chức năng thay mặt nhân dân địa phương, căn cứ vào nguyện vọng của nhân dân địa phương, quyết định và tổ chức thực hiện những vấn đề có liên quan đến phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng và đời sống của nhân dân địa phương, theo Hiến pháp, pháp luật và các mệnh lệnh, quyết định của cấp trên [16]
Trang 20b Đặc điểm của chính quyền cấp xã
Theo Luật tổ chức chính quyền địa phương thì Chính quyền cấp xã có những đặc điểm sau:[16]
Một là: Chính quyền cấp xã có HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương và UBND do HĐND bầu ra là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ
quan hành chính nhà nước ở địa phương Vì thế, chính quyền cấp xã là cấp trực tiếp thực hiện nhiệm vụ cụ thể về quản lý hành chính nhà nước trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng ở cơ sở, là cầu nối trực tiếp giữa nhà nước và nhân dân, xử lý trực tiếp, kịp thời những yêu cầu hàng ngày của nhân dân
Hai là: Chính quyền cấp xã khác với chính quyền cấp tỉnh, cấp huyện:
Tổ chức bộ máy chính quyền cấp xã chỉ bao gồm cơ quan quyền lực nhà nước
là HĐND là cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân ở địa phương và UBND là cơ quan chấp hành của HĐND và là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, không có các cơ quan tư pháp: Viện kiểm sát nhân dân
và Tòa án nhân dân
Ba là: Chính quyền cấp xã là nơi trực tiếp tiếp xúc với nhân dân Cán bộ
chính quyền cấp xã là người hàng ngày trực tiếp giải quyết những vấn đề liên quan đến mọi quyền lợi và nghĩa vụ của nhân dân đảm bảo theo đúng đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, các văn bản pháp luật của cấp trên UBND còn có trách nhiệm rất nặng nề phải quản lý mọi mặt đời sống của nhân dân địa phương cho nên trong hoạt động mang nhiều tính chất hành chính địa phương
Bốn là: Trong hoạt động của chính quyền cấp xã, giữa HĐND và UBND khó tách biệt nhau về các lĩnh vực thẩm quyền và UBND có ưu thế vượt trội:
Chính quyền cấp xã được coi là một cấp chính quyền hoàn chỉnh, bao quát toàn diện đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng ở địa bàn cơ
sở Nội dung các nghị quyết của HĐND và quyết định của UBND nhìn chung
Trang 21là giống nhau, chỉ khác ở chỗ: HĐND quyết định biện pháp, còn UBND tổ chức thực hiện Trong khi đó, tổ chức bộ máy của HĐND không đủ sức hoạt động độc lập mà chủ yếu dựa vào bộ máy của UBND để soạn thảo các nghị quyết Theo Điều 5, Luật tổ chức HĐND và UBND (sửa đổi): "Hội đồng nhân dân cấp xã có Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân" Đối với cấp tỉnh
và cấp huyện: "Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện có Thường trực Hội đồng nhân dân và các ban của Hội đồng nhân dân" Với cơ cấu tổ chức như trên, các ban của HĐND cấp tỉnh và cấp huyện có khả năng soạn thảo các nghị quyết, thức hiện chức năng quyết định các biện pháp, chủ trương về các vấn đề thuộc thẩm quyền của HĐND cấp tỉnh, cấp huyện Trong khi đó, ở cấp
xã, do không có bộ máy giúp việc, đại biểu HĐND lại kiêm nhiệm, việc chuẩn
bị các kỳ họp hoàn toàn dựa vào bộ máy của UBND và mỗi năm chỉ họp từ 3
- 4 lần Trong điều kiện đó, hoạt động của UBND sẽ có ưu thế vượt trội hơn,
dễ lấn át HĐND, dễ lâm vào tình trạng "vừa đá bóng, vừa thổi còi"
Năm là: Các đơn vị hành chính cấp xã, được hình thành trên nền tảng những địa điểm quần cư, nó liên kết dân cư trong một khối liên hoàn thống nhất Mọi vấn đề của địa phương đều liên quan chặt chẽ với nhau và cần phải
được giải quyết trên cơ sở kết hợp hài hòa các lợi ích: Nhà nước, dân cư và giữa dân cư với nhau Chính quyền ở đây không chỉ là cơ quan cai trị - quản lý
mà còn là cơ quan thể hiện lợi ích chung của dân cư
Trong khi tổ chức quyền lực nhà nước ở cấp trung ương có việc phân chia, hoặc phân công phân nhiệm một cách rạch ròi giữa lập pháp, hành pháp
và tư pháp Cấp tỉnh, cấp huyện cũng có cơ quan tư pháp - Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân Riêng cấp xã, trong cơ cấu tổ chức bộ máy chính quyền chỉ có HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương và UBND là cơ quan chấp hành của HĐND và là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, thậm chí UBND cấp xã, phường, thị trấn trong nhiều trường hợp còn phải kiêm nhiệm luôn cả chức năng tư pháp (xét xử, hòa giải)
1.1.1.2 Khái niệm vai trò của đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã
Trang 22a Khái niệm cán bộ công chức
Cán bộ công chức là nhóm nhân lực đặc biệt trong nguồn nhân lực nói chung bởi đây là nhóm nhân lực quản lý nhà nước Theo quy định của Luật Cán bộ, công chức năm 2008 thì cán bộ và công chức có những tiêu chí chung là: công dân Việt Nam; trong biên chế; hưởng lương từ Ngân sách nhà nước (riêng trường hợp công chức làm việc trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì tiền lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật); giữ một công vụ, nhiệm vụ thường xuyên; làm việc trong công sở; được phân định theo cấp hành chính (cán bộ ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; cán bộ cấp xã; công chức ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; cán bộ, công chức cấp xã) Bên cạnh đó, giữa cán bộ và công chức được phân định rõ theo tiêu chí riêng, gắn với cơ chế hình thành
Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức
vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung
là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước
Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch,
chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý
Trang 23của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật
b Khái niệm cán bộ công chức cấp xã
Trong hệ thống chính quyền ở nước ta thì chính quyền cấp cơ sở có một
vị trí rất quan trọng, là cầu nối trực tiếp của hệ thống chính quyền nhà nước với nhân dân thông qua đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã Cán bộ, công chức cấp
xã là những người gần dân nhất, sát dân nhất, mọi chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước có đến được với nhân dân hay không, đến đúng, đến đủ và có được nhân dân tiếp thu đúng đắn hay không đều thông qua đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã Hiệu lực, hiệu quả của bộ máy chính quyền cấp
xã nói riêng và hệ thống chính trị nói chung, xét đến cùng được quyết định bởi phẩm chất, năng lực và hiệu quả công tác của đội ngũ cán bộ, công chức cấp
xã Theo luật Cán bộ công chức của Quốc hội ban hành ngày 13/11/2008 ta có thể tóm tắt các khái niệm như sau: [15]
Cán bộ cấp xã là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm
kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội; công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước
Cán bộ chuyên trách là những người được bầu cử để đảm nhận các chức
vụ theo nhiệm kỳ Đó là: Bí thư, phó bí thư đảng ủy; Chủ tịch, phó chủ tịch HĐND, UBND; Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị trấn có hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam); Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam
Cán bộ không chuyên trách là nhóm người làm việc giống như những
nhóm người được bầu để giữ các vị trí đứng đầu các tổ chức chính trị, chính trị
- xã hội Nhưng họ đảm nhiệm các vị trí “cấp phó” Đồng thời, họ cũng là những
Trang 24người làm công việc chuyên môn nhưng không thường xuyên và không được gọi là công chức
Trong pháp lệnh cán bộ, công chức 1998 và Nghị định
144/2003/NĐ-CP, không có điều khoản nào quy định nhóm người này, nhưng Nghị định 121/2003/NĐ-CP quy định khá chi tiết về cán bộ không chuyên trách Đó là: Trưởng ban tổ chức đảng, chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo và 01 cán bộ Văn phòng Đảng ủy; Phó trưởng công an (nơi chưa bố trí lực lượng công an chính quy); Phó chỉ huy trưởng quân sự; Cán bộ kế hoạch - giao thông - thủy lợi - nông, lâm, ngư, diêm nghiệp; Cán bộ lao động - thương binh
và xã hội; Cán bộ dân số - gia đình và trẻ em; Thủ quỹ - văn thư - lưu trữ; Cán
bộ phụ trách đài truyền thanh; Cán bộ quản lý nhà văn hóa; Phó chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc; phó các đoàn thể cấp xã: Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh; Chủ tịch Hội Người cao tuổi; Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ Việt Nam Ngoài ra còn có cán
bộ không chuyên trách ở thôn, ấp và tổ tự quản thôn, ấp Họ là: Bí thư chi bộ thôn, ấp; Trưởng thôn, ấp; Công an viên ở thôn, ấp; Bí thư chi bộ tổ tự quản thôn, ấp; Tổ trưởng tổ tự quản ở phường, thị trấn
Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức
danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước
Công chức cấp xã đảm nhận các chức danh chuyên môn sau: Trưởng công an; Chỉ huy trưởng quân sự; Văn phòng - thống kê; Địa chính - xây dựng
- đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp
- xây dựng và môi trường (đối với xã); Tài chính - kế toán; Tư pháp - hộ tịch; Văn hóa - xã hội
Trong điều kiện hiện nay, làm việc ở cấp cở sở còn có một lực lượng lao động đặc biệt Đó là những “công chức dự bị” của các cấp cao hơn được đưa
về làm việc tại cơ sở Ngoài ra còn có một lực lượng cán bộ, công chức về tăng cường cho cơ sở
Trang 25c Vai trò của đội ngũ cán bộ công chức cấp xã
Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã có vai trò hết sức quan trọng trong xây dựng và hoàn thiện bộ máy chính quyền cơ sở, trong hoạt động thi hành nhiệm
vụ, công vụ Hiệu lực, hiệu quả của bộ máy chính quyền cấp xã nói riêng và hệ thống chính trị nói chung, xét đến cùng được quyết định bởi phẩm chất, năng lực và hiệu quả công tác của đội ngũ cán bộ, công chức cở sở Có thể nói, đây
là vấn đề đặc biệt quan trọng đã được Đảng và Nhà nước quan tâm trong suốt quá trình từ khi xây dựng Nhà nước dân chủ nhân dân đến nay Cán bộ nói chung có vai trò rất quan trọng, cán bộ cơ sở nói riêng có vị trí nền tảng cơ sở…
Cơ sở xã, phường, thị trấn mạnh hay yếu một phần quan trọng phụ thuộc vào chất lượng đội ngũ cán bộ xã, phường, thị trấn
Cán bộ, công chức cấp xã góp phần quyết định sự thành bại của chủ trương, đường lối và nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước Không có đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở vững mạnh thì dù đường lối, chủ trương chính trị
có đúng đắn cũng khó biến thành hiện thực Cán bộ, công chức cấp xã vừa là người trực tiếp đem các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước giải thích cho nhân dân hiểu rõ và thi hành, vừa là người phản ánh nguyện vọng của quần chúng nhân dân đến với Đảng và Nhà nước để có sự điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung cho đúng và phù hợp với thực tiễn Ở khía cạnh này, họ có vai trò là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với quần chúng nhân dân
Cán bộ, công chức cấp xã có vai trò quan trọng trong quản lý và tổ chức công việc của chính quyền cơ sở Nhiệm vụ của họ là thực thi công vụ mang tính tự quản theo pháp luật và bảo toàn tính thống nhất của thực thi quyền lực nhà nước ở cơ sở thông qua việc giải quyết các công việc hành ngày có tính chất quản lý, tự quản mọi mặt ở địa phương Họ còn có vai trò trực tiếp bảo đảm kỷ cương phép nước tại cơ sở, bảo vệ các quyền tự do dân chủ, quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Thông qua hoạt động của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, nhân dân thể hiện được quyền làm chủ và trực tiếp thực hiện quyền tự quản của mình
Trang 26Chính vì đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã có vai trò quan trọng trong
bộ máy chính quyền cơ sở nên việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã vững vàng về chính trị, có đạo đức trong sạch về lối sống, có trí tuệ, kiến thức
và trình độ năng lực để thực hiện các nhiệm vụ được giao luôn là mối quan tâm hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta Đây cũng là một nội dung rất quan trọng của công tác cán bộ Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX đã nhấn mạnh vai trò quan trọng của hệ thống chính trị và đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã đối với
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa phát triển đất nước Đầu tư xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất, đạo đức và năng lực ngang tầm sự nghiệp đổi mới mang ý nghĩa như sự đầu tư cho hạ tầng cơ sở trong công tác cán bộ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng nhận định: “Cán bộ phải
là người có phẩm chất chính trị tốt, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, hết lòng phấn đấu vì lợi ích của nhân dân, của dân tộc; có bản lĩnh chính trị vững vàng, không dao động trước những khó khăn, thử thách; có năng lực hoàn thành nhiệm vụ được giao, có nhân cách và lối sống mẫu mực, trong sáng; có
ý thức tổ chức kỷ luật cao, tôn trọng tập thể, gắn bó với nhân dân” (Văn kiện
ĐH X tr.136) Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng nhấn mạnh cần phải “xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới” (Văn kiện ĐH XI tr.252) Qua đó cần phải “rà soát,
bổ sung, hoàn thiện quy chế quản lý cán bộ, công chức; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cả về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực điều hành, quản lý nhà nước” Có như thế mới tạo ra được một đội ngũ cán
bộ, công chức “vừa hồng, vừa chuyên” đáp ứng được yêu cầu trong tình hình mới.[23]
Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã có đủ trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, có năng lực tổ chức, điều hành, công tâm, thạo việc, tận tụy với dân, biết phát huy sức mạnh tổng hợp của nhân dân, thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, nâng cao trách nhiệm công tác, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có ý thức tổ chức
kỷ luật và đạo đức trong thực thi nhiệm vụ, công vụ nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc, góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh, chính trị và quốc phòng trên địa bàn xã
Trang 27Cán bộ và công tác cán bộ luôn là “khâu then chốt trong vấn đề then chốt” của toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Đảng Do vậy, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước nói chung, cán bộ, công chức cấp xã nói riêng vững mạnh là công việc hết sức quan trọng và đòi hỏi phải làm thường xuyên, nhất
là trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay Đảng ta cũng đã khẳng định: “Xây dựng đội ngũ cán bộ ngang tầm nhiệm vụ,
có bản lĩnh chính trị, có phẩm chất cách mạng, có năng lực trí tuệ và tổ chức thực tiễn là việc làm vừa cơ bản, vừa cấp bách và là công tác thường xuyên và lâu dài”
1.1.2 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức cấp xã
1.1.2.1 Chất lượng đội ngũ cán bộ công chức cấp xã
a Khái niệm chất lượng nguồn nhân lực
Chất lượng nguồn nhân lực là khái niệm tổng hợp bao gồm những nét đặc trưng về trạng thái thể lực, trí lực, kỹ năng, phong cách đạo đức, lối sống
và tinh thần của nguồn nhân lực Nói cách khác là trình độ học vấn, trạng thái sức khỏe, trình độ chuyên môn kỹ thuật, cơ cấu nghề nghiệp, thành phần xã hội… của nguồn nhân lực, trong đó trình độ học vấn là quan trọng bởi vì đó là
cơ sở để đào tạo kỹ năng nghề nghiệp và là yếu tố hình thành nhân cách và lối sống của một con người.[2]
Theo Đỗ Văn Phức, chất lượng nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực, được biểu hiện thông qua các tiêu chí: sức khỏe, trình độ chuyên môn, trình độ học vấn và phẩm chất tâm lý xã hội Chất lượng nguồn nhân lực là khái niệm tổng hợp bao gồm những nét đặc trưng về trạng thái trí lực, thể lực, phong cách đạo đức, lối sống và tinh thần của nguồn nhân lực Chất lượng nguồn nhân lực do trình độ phát triển kinh tế xã hội và chính sách đầu tư phát triển nguồn nhân lực của chính phủ quyết định.[13]
Trang 28b Chất lượng đội ngũ cán bộ công chức cấp xã, thị trấn
Khi đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ công chức cấp xã, một vấn đề đặt ra là hiểu cho đúng thế nào là chất lượng của đội ngũ cán bộ Chất lượng của đội ngũ cán bộ được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau:
Chất lượng của đội ngũ cán bộ được thể hiện thông qua hoạt động của
bộ máy chính quyền cấp xã, ở việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền cấp xã
Chất lượng của đội ngũ cán bộ được đánh giá dưới góc độ phẩm chất đạo đức, trình độ năng lực và khả năng hoàn thành nhiệm vụ được giao cũng như hiệu quả công tác của họ
Chất lượng của đội ngũ cán bộ là chỉ tiêu tổng hợp chất lượng của từng cán bộ Đối với đội ngũ cán bộ công chức cấp xã, muốn xác định chất lượng cao hay thấp ngoài việc đánh giá phẩm chất đạo đức phải có hàng loạt chỉ tiêu đánh giá trình độ năng lực và sự tín nhiệm của nhân dân địa phương Chẳng hạn, các lớp đào tạo huấn luyện đã qua; bằng cấp (kể cả ngoại ngữ, tin học) về chuyên môn, kỹ thuật, quản lý nhà nước, pháp luật v.v ; độ tuổi; thâm niên công tác v.v
Chất lượng của đội ngũ cán bộ còn được đánh giá dưới góc độ khả năng thích ứng, xử lý các tình huống phát sinh của người cán bộ, công chức đối với công vụ được giao
Công vụ là một hoạt động gắn liền với công chức, là một loại lao động đặc thù để thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước; thi hành pháp luật - đưa pháp luật vào đời sống; quản lý và sử dụng có hiệu quả công sản và ngân sách Nhà nước phục vụ nhiệm vụ chính trị
Từ những góc độ khác nhau nêu trên, có thể đưa ra khái niệm chất lượng
đội ngũ cán bộ công chức cấp xã như sau: Chất lượng đội ngũ cán
bộ chính quyền cấp xã là chỉ tiêu tổng hợp đánh giá phẩm chất đạo đức, trình
độ, năng lực và khả năng thích ứng, thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ được giao của họ
Trang 29c Khái niệm về nâng cao chất lượng cán bộ công chức cấp xã
Nâng cao chất lượng cán bộ công chức cấp xã là quá trình tạo ra sự biến đổi về chất lượng của đội ngũ cán bộ công chức cấp xã về mặt thể lực và trí lực, kỹ năng chuyên môn, phẩm chất và nhân cách để đáp ứng những đòi hỏi của kinh tế, văn hóa, xã hội trong bối cảnh cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại và xu hướng phát triển của kinh tế thế giới
Để đánh giá đúng thực trạng và xác định các giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền cấp xã cần phải xác định rõ những tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ, cũng như hiểu rõ những yếu tố tác động đến chất lượng của đội ngũ cán bộ công chức cấp xã
1.1.2.2 Sự cần thiết của việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức cấp xã
a Đội ngũ cán bộ công chức cấp xã có vị trí rất quan trọng trong hệ thống chính trị - hành chính
Chính quyền cấp xã là đơn vị hành chính ở cơ sở, trực tiếp tổ chức đưa
đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống Đây cũng là nơi gần dân nhất, tiếp thu những ý kiến của nhân dân để phản ánh cho Đảng và Nhà nước hoàn thiện chính sách, pháp luật Trên thực tế, cán
bộ công chức cấp xã phải giải quyết một khối lượng công việc rất lớn, đa dạng
và phức tạp, liên quan đến mọi mặt của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng ở cơ sở Do đó, nếu đội ngũ cán bộ công chức sa sút
về phẩm chất, không đủ năng lực công tác sẽ gây những hậu quả tiêu cực và nghiêm trọng về nhiều mặt đối với mỗi địa phương nói riêng và cả nước nói chung
Lý luận và thực tiễn đã chứng minh, việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức chính quyền cấp xã là nhân tố then chốt trong xây dựng hệ thống chính quyền vững mạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy "Cấp
Trang 30xã là gần gũi dân nhất, là nền tảng của hành chính Cấp xã làm được việc thì mọi công việc đều xong xuôi" Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX xác định: "Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở có năng lực
tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, công tâm, thạo việc, tận tụy với dân, biết phát huy sức dân, không tham nhũng, không ức hiếp dân, trẻ hóa đội ngũ, chăm lo công tác đào tạo, bồi dưỡng, giải quyết hợp lý và đồng bộ chính sách đối với cán bộ
cơ sở" Do đó, vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức cấp
xã là nội dung trọng tâm, then chốt góp phần xây dựng hệ thống chính trị, chính quyền vững mạnh từ cơ sở
b Đội ngũ cán bộ công chức cấp xã có vai trò quyết định trong công
cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa tại địa phương
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng và quan tâm tới việc xây dựng đội ngũ cán bộ công chức nói chung và cán bộ công chức chính quyền cấp xã nói riêng Đây là nhân tố then chốt để thực hiện nhiệm vụ trọng tâm là phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế; thực hiện thành công chương trình cải cách nền hành chính nhà nước và xây dựng nông thôn mới, góp phần ổn định hệ thống chính trị và chất lượng bộ máy nhà nước
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã đề ra mục tiêu: "Xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, lối sống lành mạnh, không quan liêu, tham nhũng, lãng phí, kiên quyết đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí; có tư duy đổi mới, sáng tạo, có kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; có tinh thần đoàn kết, hợp tác, ý thức tổ chức kỷ luật cao và phong cách làm việc khoa học, tôn trọng tập thể, gắn bó với nhân dân, dám nghĩ dám
Trang 31làm, dám chịu trách nhiệm Đội ngũ cán bộ phải đồng bộ, có tính kế thừa và phát triển, có số lượng và cơ cấu hợp lý" Chương trình tổng thể cải cách nền
hành chính nhà nước đến năm 2020 cũng xác định, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức là một trong bảy chương trình hành động chiến lược góp phần xây dựng nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, từng bước hiện đại, xây dựng bộ máy nhà nước hoạt động có hiệu lực, hiệu quả Trong đó, đặt ra yêu cầu xây dựng được đội ngũ cán bộ công chức hành chính vừa có phẩm chất đạo đức tốt, vừa có năng lực, trình độ chuyên môn cao, có
kỹ năng quản lý, vận hành bộ máy hành chính để thực hiện có hiệu quả các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước
c Đội ngũ cán bộ công chức cấp xã cần đáp ứng nhu cầu chuẩn hóa đội ngũ để bắt kịp xu thế phát triển hiện nay
Theo nghị định số: 112/2011/NĐ-CP về công chức xã, phường, thị trấn của Chính phủ quy định tiêu chuẩn của cán bộ công chức cấp xã là:
- Hiểu biết về lý luận chính trị, nắm vững quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước
- Có năng lực tổ chức vận động nhân dân ở địa phương thực hiện có hiệu quả chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước
- Có trình độ văn hóa và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp yêu cầu nhiệm vụ, vị trí việc làm, có đủ năng lực và sức khỏe để hoàn thành nhiệm
Trang 32trung thành với lý tưởng, tin tưởng vào sự nghiệp đổi mới của Đảng; có lối sống giản dị, trong sáng, gần gũi với nhân dân, tâm huyết với công việc Đây là nhân
tố quan trọng góp phần đảm bảo tổ chức thực hiện thành công đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, lãnh đạo nhân dân phát triển kinh tế -
xã hội và thực hiện thắng lợi các mục tiêu đề ra
Tuy nhiên, trước tác động tiêu cực của kinh tế thị trường, một bộ phận cán bộ công chức nói chung, cán bộ công chức cấp xã nói riêng có biểu hiện suy thoái về phẩm chất đạo đức, thái độ quan liêu, hách dịch, chưa thực hiện tốt công tác dân chủ cơ sở; có dấu hiệu, tư tưởng cơ hội, ý thức kỷ luật kém gây mất đoàn kết nội bộ; tinh thần tự phê bình và phê bình còn thấp, gây tổn hại đến uy tín và làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước Mặt khác, tỉ lệ cán bộ công chức chưa đạt chuẩn còn cao Theo số liệu thống kê của
Bộ Nội vụ, tính đến tháng 12/2012, số lượng và chất lượng cán bộ công chức
ở nước ta như sau:
- Về đội ngũ cán bộ cấp xã, cả nước có 145.112 cán bộ chuyên trách Trong đó, số cán bộ người dân tộc thiểu số là 27.571 người (chiếm 19%); số cán
bộ nữ là 24.959 người (chiếm 17,2%) Về trình độ chuyên môn, số cán bộ chưa qua đào tạo có 45.071 người (chiếm 31,06%); trình độ sơ cấp là 9.375 người (chiếm 6,46%); cao đẳng là 6.095 người (chiếm 4,20%) và đại học là 32.142 người (chiếm 22,15%) Về trình độ lý luận chính trị, số người chưa qua đào tạo
là 25.571 người (chiếm 17,46%); trình độ sơ cấp là 23.639 người (chiếm 16,29%); trung cấp 89.244 người (chiếm 61,5%) và cao cấp là 6.893 người (chiếm 4,75%)
- Đội ngũ công chức cấp xã có 111.496 người Trong đó, số công chức người dân tộc thiểu số là 17.728 người (chiếm 15,9%), số công chức nữ là 28.097 người (chiếm 25,2%) Về trình độ chuyên môn: có 8.507 công chức (chiếm 7,63%) chưa qua đào tạo chuyên môn; công chức có trình độ sơ cấp là 2.409 người (chiếm 2,16%); trung cấp là 66.251 người (chiếm 59,42%); cao
Trang 33đẳng là 6.790 người (chiếm 6,09%) và trình độ đại học là 27.539 người (chiếm 24,7%) Về trình độ lý luận chính trị, số công chức chưa qua đào tạo là 46.082 người (chiếm 41,33%); trình độ sơ cấp là 23.481 người (chiếm 21,06%); trung cấp là 41.119 người (chiếm 36,88%) và trình độ cao cấp là 814 người (chiếm 0,73%)
Qua số liệu trên cho thấy, trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền cấp xã ở nước ta còn thấp Vì vậy, việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán
bộ công chức chính quyền cấp xã là việc làm rất cần thiết hiện nay
1.1.2.3 Nội dung đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ công chức
a Thể lực
Sức khỏe vừa là mục tiêu vừa là điều kiện của sự phát triển Sức khỏe là
sự phát triển hài hòa của con người về mặt thể chất lẫn tinh thần Theo tổ chức
y tế thế giới “Sức khỏe là một trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tâm thần và xã hội, chứ không chỉ là không có bệnh hay thương tật” Sức khỏe con người chịu tác động bởi nhiều yếu tố: tự nhiên, kinh tế, xã hội và được phản ánh bằng một hệ thống các chỉ tiêu bao gồm các chỉ tiêu cơ bản về sức khỏe, các chỉ tiêu về bệnh tật và các chỉ tiêu về cơ sở vật chất và các điều kiện bảo
vệ và chăm sóc sức khỏe
Người lao động có sức khỏe tốt có thể mang lại năng suất lao động cao nhờ
sự bền bỉ, dẻo dai và khả năng tập trung trong khi làm việc Nhờ thể lực tốt, con người có thể tiếp thu nhanh chóng những kiến thức, kỹ năng trong quá trình giáo dục Việc chăm sóc tốt sức khỏe làm tăng chất lượng nguồn nhân lực trong tương lai bằng việc kéo dài tuổi lao động Sức khỏe vừa là mục đích, vừa là điều kiện của sự phát triển, nên yêu cầu bảo vệ và nâng cao sức khỏe con người là một đòi hỏi chính đáng mà xã hội phải đảm bảo.Sự phát triển bình thường về thể chất và tâm lý trong một cơ thể khỏe mạnh cũng là một tiêu chí quan trọng của năng lực đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở
b Trí lực
Trang 34Trí lực cũng là yếu tố rất quan trọng đối với người công chức Chính trí lực quyết định hiệu quả công việc của đội ngũ cán bộ, công chức
Để đánh giá trí lực của người cán bộ công chức có thể căn cứ vào các tiêu chí sau:
+ Trình độ văn hóa: là nền tảng cho nhận thực, tiếp thu đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng chủ trương, chính sách trong thực tiễn
+ Trình độ chuyên môn nghiệp vụ: Được hiểu là trình độ được đào tạo ở các lĩnh vực khác nhau theo cấp độ: sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, đại học Đó là những kiến thức mà trường trang bị cho người học theo các chuyên ngành nhất định được thể hiện qua hệ thống bằng cấp Nếu đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức không có chuyên môn, nghiệp vụ chỉ làm theo kinh nghiệm hoặc giải quyết tùy tiện chắc chắn sẽ không đạt hiệu quả cao thậm chí còn mắc sai lầm
+ Trình độ quản lý hành chính Nhà nước: quản lý Nhà nước là sự tác động mang tính tổ chức nên các quan hệ xã hội Để thực hiện được các hoạt động này, đòi hỏi đội ngũ cán bộ, công chức cần phải được đào tạo, bồi dưỡng những kiến thức cơ bản về quản lý Nhà nước thì mới có được những kỹ năng, phương pháp thực hiện nhiệm vụ được giao
c Tâm lực
- Về phẩm chất đạo đức
Đây là phẩm chất rất quan trọng đối với đội ngũ cán bộ, công chức, , nó
là cái “gốc” của người cán bộ Người cán bộ muốn xác lập được uy tín của mình trước nhân dân, trước hết đó phải là người cán bộ có phẩm chất đạo đức tốt Thêm vào đó công tác quản lý xã hội cũng đòi hỏi người cán bộ, công chức, viên chức ở cơ sở phải tạo lập cho mình uy tín đối với nhân dân
Người cán bộ, công chức, viên chức có đạo đức cách mạng phải là người hội tụ đủ năm đức tính đó là nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm Những đức tính đó phải thể hiện ra bên ngoài trong công việc hàng ngày của người công chức
Trang 35Luôn gương mẫu, có lối sống lành mạnh, thực hiện cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư; không tham nhũng và vụ lợi cá nhân, có tính thần đấu tranh chống tham nhũng, quan hệ mật thiết với quần chúng nhân dân, sâu sát với công việc, không quan liêu cửa quyền, gây phiền hà cho nhân dân, tác phong làm việc khoa học, dân chủ, nói đi đôi với làm
- Về phẩm chất chính trị
Đây là yếu tố đầu tiên, là điều kiện đối với người cán bộ, công chức Để trở thành những người có năng lực trước hết phải là người có phẩm chất chính trị
Trình độ lý luận chính trị: Lý luận chính trị là sơ sở xác định lập trường quan điểm của cán bộ công chức, viên chức Có trình độ lý luận chính trị giúp xây dựng được lập trường, quan điểm đúng đắn trong quá trình giải quyết công việc của tổ chức, của nhân dân theo đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước
Người cán bộ, công chức, viên chức có phẩm chất chính trị tốt không chỉ bằng lời hứa hẹn mà thiết thực hơn là việc nghiêm chỉnh chấp hành đường lối, chỉ thị, nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước, kiên quyết chống lại mọi lệch lạc, biểu hiện sai trái trong đời sống xã hội đi ngược lại đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước
Phẩm chất chính trị của người cán bộ, công chức còn biểu hiện thông qua thái độ phục vụ nhân dân, tinh thần gương mẫu trong công tác, tinh thần trách nhiệm đối với đời sống nhân dân tại địa phương
d Kết quả thực hiện công việc
Kết quả thực hiện công việc của cán bộ, công chức tại các xã, thị trấn phụ thuộc vào các yếu tố như: kiến thức, kỹ năng của bản thân cán bộ, công
Trang 36chức; sự phân công công việc, tính chất công việc, môi trường làm việc, khuyến khích của người lãnh đạo, quản lý, tạo động lực cho cán bộ, công chức từ chế
độ, chính sách đãi ngộ và cơ hội thăng tiến phát triển
Như vậy, muốn nâng cao kết quả thực hiện công việc của đội ngũ cán
bộ, công chức cấp xã, thị trấn thì phải chú trọng cải thiện từ năng lực làm việc của cán bộ, công chức cơ sở đến môi trường làm việc của cơ quan hành chính
cơ sở cũng như cách thức tổ chức công việc và chế độ, chính sách nhằm động viên, khuyến khích để có thể hăng say, nhiệt tình làm việc đạt hiệu quả cao
Tóm lại: một đội ngũ cán bộ, công chức có chất lượng là đội ngũ có phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, có trình độ năng lực và có khả năng vận dụng đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước một cách
có hiệu quả nhất nhằm nâng cao đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của nhân dân tại địa phương góp phần xây dựng một xã hội công bằng dân chủ, văn minh
1.1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ cán bộ công chức cấp xã
Dựa trên cơ sở lý luận và tổng quan tài liệu nghiên cứu đã trình bày ở trên, tác giả đã tổng hợp và đưa ra các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ cán bộ công chức cấp xã như sau:
Trang 37Nguồn: Tổng hợp từ cơ sở lý luận và thực tiễn 1.1.3.1 Vấn đề đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công, chức cấp xã
Phần đông cán bộ cấp xã có trình độ học vấn thấp Một số ít cán bộ là người dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa còn ở tình trạng chưa đọc thông, viết thạo Một số không nhỏ cán bộ chính quyền cấp xã không được đào tạo, bồi dưỡng những kiến thức cơ bản về quản lý nhà nước, về pháp luật, về hành chính
và kỹ năng quản lý hành chính - những kiến thức và kỹ năng phục vụ cho nghiệp
vụ chính mà họ đang đảm nhận Đối với số cán bộ chủ chốt cấp xã, sau mỗi lần bầu cử tuy có được bồi dưỡng, đào tạo nhưng các kiến thức họ thu nhận được chưa theo hệ thống, không đầy đủ, vì chủ yếu là chỉ qua các lớp bồi dưỡng ngắn ngày,
và cũng chưa được quan tâm đúng mức Trong một vài năm trở lại đây, trình độ học vấn của đội ngũ cán bộ cấp xã đã được nâng lên, nhưng những kiến thức cơ bản trong lĩnh vực quản lý nhà nước, hành chính, quản lý kinh tế thì rất yếu và thiếu Hơn thế nữa, đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã lại thường biến động qua mỗi cuộc bầu cử Đây cũng chính là lý do tạo cho người cán bộ chính quyền cấp xã không an tâm trong công tác, không có ý chí học tập nâng cao trình độ Điều này có hạn chế rất lớn đến chất lượng công tác của đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã Đây là một trong những nguyên nhân làm cho đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã chưa đáp ứng được với yêu cầu của công cuộc đổi mới và xây dựng đất nước
Trang 38Trong thực tế, việc đào tạo, bồi dưỡng còn nhiều mặt hạn chế Tình trạng người cần đi học thì không đi học, không được cử đi học và không có chỗ để học; người không cần đi học lại được cử đi học, người không cần đi học thì lại
bị buộc phải đi học gây ra sự lãng phí không nhỏ Đã có khá nhiều cán bộ cấp
xã học xong không bố trí được công tác, phải nghỉ việc Ngoài lãng phí tiền của, cái lãng phí lớn nhất là mất công đào tạo mà không làm tăng được số cán
bộ có trình độ học vấn đáp ứng nhu cầu xã hội đang đặt ra Việc quản lý đào tạo cũng chưa được chặt chẽ Đôi khi, việc đào tạo không phải vì nâng cao trình
độ mà là để tìm cách nhận bằng, nhận giấy chứng nhận hợp thức hóa tiêu chuẩn cán bộ Trong khi đó, nội dung chương trình nhìn chung vẫn nặng về lý luận chính trị và trùng lặp, chưa đi sâu vào khoa học hành chính, kỹ năng nghiệp vụ quản lý nhà nước, quản lý kinh tế Bên cạnh đó, thái độ của các cán bộ được cử
đi học cũng cần phải được nhìn nhận cho đúng Cũng chính vì quan niệm công tác ở cấp xã phụ thuộc vào cơ chế Đảng cử, dân bầu không có tính ổn định lâu dài Nên vẫn còn tình trạng cán bộ cấp xã từ chối đi đào tạo, bồi dưỡng vào các thời điểm diễn ra cuộc bầu cử, hoặc diễn ra Đại hội Đảng bộ và đi đào tạo tập trung dài hạn
Do quan niệm chưa đúng vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ cấp xã, cho rằng nếu đưa đi đào tạo khi về công tác không trúng cử thì lãng phí nên công tác đào tạo cán bộ cấp xã chưa được quan tâm đúng mức, kiến thức, chuyên môn được đào tạo nhiều khi chưa phù hợp với vị trí việc làm Thông thường
cứ chờ sau khi bầu cử xong, cán bộ cấp xã trúng cử mới được đưa đi đào tạo, bồi dưỡng
1.1.3.2 Cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm đội ngũ cán bộ công chức cấp xã
Việc tuyển dụng, bổ nhiệm đội ngũ cán bộ cấp xã hầu như chưa gắn với việc thi tuyển, lựa chọn về chuyên môn, nghiệp vụ Đối với các chức danh cán
bộ chủ chốt ở cấp xã đều thông qua cơ chế: Đảng cử, dân bầu và quá trình lịch
sử để lại Chính vì điều đó đã dẫn đến tình trạng, có khá đông cán bộ cấp xã
Trang 39chưa được đào tạo qua bất cứ một chuyên môn nào Đó là chưa kể đến có cả cán
bộ công chức mới có trình độ văn hóa tiểu học, trung học cơ sở Bên cạnh đó, kết quả bầu cử phụ thuộc rất nhiều vào trình độ dân trí, dân cư ở địa phương Yếu tố dòng họ trong nông thôn Việt Nam cũng có ảnh hưởng không nhỏ tới kết quả bầu cử Còn đối với cán bộ chuyên trách và không chuyên trách thì việc tuyển chọn mặc dù đã có các tiêu chí cụ thể là phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ phù hợp với vị trí việc làm nhưng chưa được thực hiện nghiêm túc theo quy định Do đó, có khá đông cán bộ chuyên trách mà không có trình độ, năng lực phù hợp với đòi hỏi của nhiệm vụ được giao
Việc tuyển dụng cán bộ cấp xã hầu như chỉ dựa vào sự nhất chí của cấp
ủy cơ sở và thẩm định qua hồ sở, lý lịch của cơ quan chuyên môn cấp huyện chứ không qua sát hạch thực tế Với cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm như vậy, khó tránh khỏi tuyển dụng những người yếu kém về năng lực, phẩm chất dễ bị "lọt lưới" ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ cán bộ
1.1.3.3 Chế độ, chính sách và vị thế của người cán bộ công chức cấp xã
Đây là một yếu tố tác động rất nhiều đến chất lượng của đội ngũ cán bộ công chức cấp xã Trước ngày 01/7/2003, cán bộ công chức cấp xã không được coi là công chức nhà nước Mặc dù chính quyền cấp xã đã được Hiến pháp 1992 xác định là một cấp hành chính trong hệ thống chính quyền của Nhà nước ta Cán bộ cấp xã không được hưởng lương trong ngân sách nhà nước và lương thì gọi là phụ cấp được lấy từ ngân sách xã ra để chi trả Đã có nhiều trường hợp, khi ngân sách xã quá thiếu thì khoản phụ cấp của các cán bộ cấp xã bị nợ lại Thậm chí có xã nợ phụ cấp cán bộ xã hàng năm trời mới trả Bên cạnh đó, hoạt động của chính quyền cấp xã cũng bị xem nhẹ Có khá nhiều xã (nhất là các xã thuộc vùng sâu, vùng xa) chỉ làm việc buổi chiều, còn buổi sáng thì tham gia lao động sản xuất cùng gia đình Từ năm 2010 trở lại đây khi thực hiện Luật Cán bộ, công chức năm 2008 và Nghị định 92/2009/NĐ-CP, vị thế và chế độ, chính sách đã có nhiều thay đổi theo hướng tích cực hơn đối với đội ngũ cán
Trang 40bộ, công chức cấp xã Tuy nhiên vẫn có sự phân biệt giữa cán bộ, công chức từ cấp huyện trở lên với cán bộ công chức cấp xã Vị thế của người cán bộ cấp xã một thời gian khá dài bị xem nhẹ đã có ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng của đội ngũ cán bộ cấp xã Hầu như nếu có cơ hội được đi học ở các trường chuyên nghiệp thì rất ít có người quay trở về công tác tại xã Trong khi đó, các cán bộ cấp xã khi được cử đi học nâng cao trình độ, thì xu hướng chung là tìm mọi cách để được chuyển công tác lên cấp cao hơn như cấp huyện, cấp tỉnh Bên cạnh đó, khi thấy có cán bộ cấp xã có năng lực, công tác tốt thì huyện cũng đưa lên công tác tại huyện Đã có khá nhiều đồng chí cán bộ cấp xã công tác rất tốt ở cương vị Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã, nhưng khi được đưa lên huyện làm cán bộ huyện thì hầu như không phát huy được sở trường của mình, nhiều người lại được đưa trở về địa phương, nhưng lúc này thì uy tín của họ đã không còn được như trước nữa và hầu như cũng không phát huy được năng lực
Chế độ, chính sách và vị thế thấp của cán bộ cấp xã làm cho người cán
bộ cấp xã không an tâm trong công tác, không có lòng nhiệt tình đối với công việc mà mình được giao, không có chí tiến thủ Đồng thời, địa bàn cấp xã không có sức hút đối với những người có năng lực, có trình độ học vấn và nhất là đối với đội ngũ sinh viên tốt nghiệp đại học, cao đẳng về công tác tại cấp xã
1.1.3.4 Công tác quản lý, kiểm tra, giám sát, đánh giá đội ngũ cán bộ công chức cấp xã
Đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã có bước đổi mới, tiến bộ rõ nét Phần lớn anh chị em đều được đào tạo, bồi dưỡng; đều ở độ tuổi tương đối trẻ, nhiệt tình, có trách nhiệm trong công việc, vì thế tình hình cơ sở tương đối ổn định Tuy nhiên, do tác động tiêu cực của cơ chế thị trường, nhất là một thời gian dài thiếu quan tâm đến cơ sở, buông lỏng công tác quản lý, kiểm tra, giám sát, đánh giá phân loại đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã dẫn đến tình trạng một bộ phận không nhỏ sa sút về phẩm chất đạo đức và tinh thần, trách nhiệm; quan liêu,