Hoàn thiện công tác quản lý đào tạo và bồi dưỡng cán bộ công đoàn cơ sở thuộc Công đoàn Viên chức tỉnh Lai Châu (LV thạc sĩ)Hoàn thiện công tác quản lý đào tạo và bồi dưỡng cán bộ công đoàn cơ sở thuộc Công đoàn Viên chức tỉnh Lai Châu (LV thạc sĩ)Hoàn thiện công tác quản lý đào tạo và bồi dưỡng cán bộ công đoàn cơ sở thuộc Công đoàn Viên chức tỉnh Lai Châu (LV thạc sĩ)Hoàn thiện công tác quản lý đào tạo và bồi dưỡng cán bộ công đoàn cơ sở thuộc Công đoàn Viên chức tỉnh Lai Châu (LV thạc sĩ)Hoàn thiện công tác quản lý đào tạo và bồi dưỡng cán bộ công đoàn cơ sở thuộc Công đoàn Viên chức tỉnh Lai Châu (LV thạc sĩ)Hoàn thiện công tác quản lý đào tạo và bồi dưỡng cán bộ công đoàn cơ sở thuộc Công đoàn Viên chức tỉnh Lai Châu (LV thạc sĩ)Hoàn thiện công tác quản lý đào tạo và bồi dưỡng cán bộ công đoàn cơ sở thuộc Công đoàn Viên chức tỉnh Lai Châu (LV thạc sĩ)Hoàn thiện công tác quản lý đào tạo và bồi dưỡng cán bộ công đoàn cơ sở thuộc Công đoàn Viên chức tỉnh Lai Châu (LV thạc sĩ)Hoàn thiện công tác quản lý đào tạo và bồi dưỡng cán bộ công đoàn cơ sở thuộc Công đoàn Viên chức tỉnh Lai Châu (LV thạc sĩ)Hoàn thiện công tác quản lý đào tạo và bồi dưỡng cán bộ công đoàn cơ sở thuộc Công đoàn Viên chức tỉnh Lai Châu (LV thạc sĩ)
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN BẢO ĐÔNG
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐÀO TẠO
VÀ BỒI DƯỠNG CÁN BỘ CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ THUỘC CÔNG ĐOÀN VIÊN CHỨC TỈNH LAI CHÂU
LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN BẢO ĐÔNG
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐÀO TẠO
VÀ BỒI DƯỠNG CÁN BỘ CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ THUỘC CÔNG ĐOÀN VIÊN CHỨC TỈNH LAI CHÂU
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60.34.04.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Văn Đức
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng, những kết luận của luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào trước đây
Thái Nguyên, ngày 25 tháng 9 năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Bảo Đông
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban Giám hiệu, toàn thể các thầy cô giáo Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh - Đại học Thái Nguyên đã nhiệt tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức trong quá trình tác giả theo học tại trường và tạo điều kiện thuận lợi nhất để giúp tác giả trong thời gian học tập và nghiên cứu nhằm hoàn thành chương trình cao học
Với tình cảm trân trọng nhất, tác giả luận văn xin bày tỏ sự cảm ơn chân thành và sâu sắc tới TS.Trần Văn Đức đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Tác giả xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ và tạo điều kiện của các đồng chí Công đoàn cơ sở thuộc Công đoàn Viên chức tỉnh Lai Châu và các bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tác giả trong việc thu thập số liệu để hoàn thiện luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 25 tháng 9 năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Bảo Đông
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do lựa chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu 3
5 Kết luận của luận văn 3
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO VÀ BỒI DƯỠNG CÁN BỘ CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ 4
1.1 Đào tạo và bồi dưỡng cán bộ công đoàn cơ sở 4
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 4
1.1.2 Phân loại cán bộ công đoàn cơ sở 8
1.1.3 Vai trò và nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ công đoàn cơ sở 9
1.1.4 Đặc điểm của đội ngũ cán bộ công đoàn cơ sở 11
1.2 Quản lý đào tạo bồi dưỡng cán bộ công đoàn cơ sở 11
1.2.1 Khái niệm về Quản lý đào tạo bồi dưỡng cán bộ công đoàn cơ sở 11
1.2.2 Sự cần thiết của công tác quản lý đào tạo bồi dưỡng cán bộ công đoàn cơ sở 12
1.2.3 Nội dung của công tác quản lý đào tạo bồi dưỡng cán bộ công đoàn cơ sở 14
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý đào tạo bồi dưỡng cán bộ công đoàn cơ sở 28
1.3.1 Các yếu tố khách quan 28
1.3.2 Yếu tố chủ quan 34
Trang 61.4 Cơ sở thực tiễn nâng cao hiệu quả quản lý đào tạo và bồi dưỡng cán bộ
công đoàn cơ sở 34
1.4.1 Kinh nghiệm nâng cao hiệu quả quản lý đào tạo và bồi dưỡng cán bộ công đoàn cơ sở thuộc Công đoàn Viên chức tỉnh Phú Thọ 34
1.4.2 Kinh nghiệm nâng cao hiệu quả quản lý đào tạo và bồi dưỡng cán bộ công đoàn cơ sở thuộc Công đoàn Viên chức tỉnh Lào Cai 35
1.4.3 Bài học kinh nghiệm rút ra cho tỉnh Lai Châu 37
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39
2.1 Câu hỏi nghiên cứu 39
2.2 Phương pháp nghiên cứu 39
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 39
2.2.2 Phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu 39
2.2.3 Phương pháp phân tích số liệu 40
2.2.4 Phương pháp điều tra 40
2.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 42
2.3.1 Xác định nhu cầu đào tạo và bồi dưỡng 42
2.3.2 Xây dựng chương trình kế hoạch đào tạo và bồi dưỡng 42
2.3.3 Tổ chức thực hiện kế hoạch đào tạo và bồi dưỡng 42
2.3.4 Đánh giá hoạt động đào tạo và bồi dưỡng 42
Chương 3 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO VÀ BỒI DƯỠNG CÁN BỘ CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ THUỘC CÔNG ĐOÀN VIÊN CHỨC TỈNH LAI CHÂU 43
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tỉnh Lai Châu 43
3.1.1 Vị trí địa lý 43
3.1.2 Điều kiện tự nhiên 43
3.1.3 Tài nguyên thiên nhiên 44
3.1.4 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội của địa phương 45
3.2 Tổng quan về Công đoàn Viên chức tỉnh Lai Châu 47
3.2.1 Số lượng cán bộ công đoàn cơ sở thuộc công đoàn viên chức tỉnh Lai Châu 48
3.2.2 Trình độ cán bộ công đoàn cơ sở thuộc công đoàn viên chức tỉnh Lai Châu 52
3.2.3 Cơ cấu độ tuổi, giới tính cán bộ công đoàn cơ sở thuộc Công đoàn Viên chức tỉnh Lai Châu 54
Trang 73.3 Thực trạng công tác quản lý đào tạo và bồi dưỡng cán bộ công đoàn cơ sở
thuộc công đoàn viên chức tỉnh Lai Châu 58
3.3.1 Xác định nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công đoàn cơ sở 58
3.3.2 Thực trạng xây dựng chương trình, kế hoạch đào tạo và bồi dưỡng cán bộ công đoàn cơ sở 66
3.3.3 Thực trạng tổ chức thực hiện kế hoạch đào tạo và bồi dưỡng cán bộ công đoàn cơ sở 71
3.3.4 Kết quả hoạt động đào tạo bồi dưỡng cán bộ công đoàn cơ sở thuộc công đoàn viên chức 77
3.4 Đánh giá công tác quản lý đào tạo và bồi dưỡng cán bộ công đoàn cơ sở thuộc công đoàn viên chức tỉnh Lai Châu 81
3.4.1 Thành công 81
3.4.2 Hạn chế 83
3.4.3 Nguyên nhân của hạn chế 84
Chương 4 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐÀO TẠO VÀ BỒI DƯỠNG CÁN BỘ CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ THUỘC CÔNG ĐOÀN VIÊN CHỨC TỈNH LAI CHÂU 86
4.1 Quan điểm, định hướng quản lý đào tạo và bồi dưỡng cán bộ công đoàn cơ sở thuộc Công đoàn Viên chức tỉnh Lai Châu 86
4.1.1 Quan điểm 86
4.1.2 Định hướng 87
4.2 Các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý đào tạo và bồi dưỡng cán bộ công đoàn cơ sở thuộc Công đoàn Viên chức tỉnh Lai Châu 91
4.2.1 Hoàn thiện căn cứ xác định nhu cầu đào tạo và bồi dưỡng 91
4.2.2 Hoàn thiện công tác lập kế hoạch đào tạo và bồi dưỡng 93
4.2.3 Hoàn thiện công tác tổ chức thực hiện kế hoạch đào tạo và bồi dưỡng 97
4.2.4 Hoàn thiện phương pháp đánh giá hoạt động đào tạo và bồi dưỡng 100
4.2.5 Các giải pháp khác 102
4.3 Kiến nghị 109
4.3.1 Kiến nghị đối với Liên đoàn Lao động cấp trên 109
4.3.2 Kiến nghị với các cấp chính quyền 110
KẾT LUẬN 111
TÀI LIỆU THAM KHẢO 112
PHỤ LỤC 114
Trang 8DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
BCH : Ban chấp hành
CB : Cán bộ CBCĐ : Cán bộ công đoàn CBCĐCS : Cán bộ công đoàn cơ sở CBVC : Cán bộ viên chức
CCVC : Công chức viên chức
CĐ : Công đoàn ĐVCĐ : Đoàn viên công đoàn LĐLĐ : Liên đoàn lao động LLCT : Lý luận chính trị UBKT : Ủy ban kiểm tra UBND : Ủy ban nhân dân
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Phân tích nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công đoàn cơ sở 17
Bảng 1.2 Mô tả mô hình và phương pháp đào tạo 23
Bảng 2.1 Mẫu điều tra 41
Bảng 3.1 Số lượng cán bộ công đoàn thuộc Công đoàn Viên chức tỉnh Lai Châu 49
Bảng 3.2 Số lượng cán bộ công đoàn bán chuyên trách ở các loại hình công đoàn cơ sở trực thuộc Công đoàn Viên chức tỉnh Lai Châu 50
Bảng 3.3 Trình độ học vấn của cán bộ công đoàn cơ sở trực thuộc Công đoàn Viên chức tỉnh Lai Châu 52
Bảng 3.4 Trình độ chuyên môn của cán bộ công đoàn cơ sở trực thuộc Công đoàn Viên chức tỉnh Lai Châu 53
Bảng 3.5 Cơ cấu theo độ tuổi của cán bộ công đoàn 55
Bảng 3.6 Cơ cấu và giới tính của cán bộ công đoàn 57
Bảng 3.6 Bảng đánh giá phát hiện nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công đoàn cơ sở thuộc Công đoàn Viên chức tỉnh - năm 2015 60
Bảng 3.7 Kế hoạch và thực tế số lượng đào tạo từ năm 2012 đến năm 2015 63
Bảng 3.8 Đánh giá nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công đoàn của CĐCS AB (thuộc Công đoàn Viên chức tỉnh) năm 2014 65
Bảng 3.8 Kết quả đánh giá kỹ năng giải quyết công việc của CBCĐVC 66
Bảng 3.9 Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công đoàn cơ sở trực thuộc Công đoàn Viên chức tỉnh Lai Châu 68
Bảng 3.10 Kế hoạch mở lớp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đoàn cơ sở 2015 69
Bảng 3.11 Số lượng đào tạo năm 2012 - 2015 theo các loại hình đào tạo 73
Bảng 3.12 Số lượng đào tạo, bồi dưỡng các lĩnh vực từ năm 2012 - 2015 73
Bảng 3.13 Đào tạo trình độ lý luận nghiệp vụ công đoàn 74
Bảng 3.14 Sự thay đổi trình độ lý luận chính trị của cán bộ công đoàn cơ sở năm 2012 - 2015 75
Bảng 3.15 Nguồn kinh phí chi đào tạo từ năm 2012 - 2015 76
Bảng 3.16 Kết quả đào tạo và tuyển dụng đội ngũ cán bộ công đoàn cơ sở Công đoàn Viên chức tỉnh Lai Châu 78
Bảng 3.17 Tác động của công tác đào tạo và bồi dưỡng đến chất lượng đội ngũ CBCĐVC tỉnh Lai Châu 80
Bảng 3.18 Kết quả đánh giá tinh thần trách nhiệm của CBCĐVC 82
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Số lượng cán bộ công đoàn bán chuyên trách ở các loại hình 51
Hình 3.2 Cơ cấu trình độ chuyên môn của cán bộ công đoàn cơ sở trực thuộc Công đoàn Viên chức tỉnh Lai Châu 54
Hình 3.3 Số lượng cán bộ công đoàn cơ sở theo độ tuổi 56
Hình 3.4 Cơ cấu cán bộ công đoàn cơ sở theo giới tính 58
Hình 3.5 Tỷ lệ số lượng cán bộ được đào tạo so với kế hoạch 64
Hình 3.6 Hệ thống tổ chức và loại hình đào tạo cán bộ đoàn cơ sở tỉnh 67
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Cán bộ công đoàn (CBCĐ) là cán bộ quần chúng, đại diện cho người lao động,
họ trưởng thành từ thực tế lao động, sản xuất kinh doanh và thường xuyên tham gia vào lĩnh vực quan hệ lao động, nhằm bảo đảm quan hệ lao động ngày càng hài hoà, ổn định và tiến bộ trước yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Đồng thời, quá trình đổi mới đã và đang đặt ra những yêu cầu mới, nhất thiết phải không ngừng hoàn thiện và tăng cường sức mạnh của hệ thống chính trị Bên cạnh đó, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế dẫn đến tình trạng lao động trong các thành phần kinh tế tăng nhanh về số lượng, đa dạng về cơ cấu và quan hệ lao động cũng có xu hướng phức tạp hơn, làm cho nhiều doanh nghiệp phải thu hẹp sản xuất, kinh doanh hoặc giải thể, phá sản dẫn đến một bộ phận người lao động bị mất việc làm hoặc thiếu việc làm, quyền lợi hợp pháp, chính đáng của công nhân, viên chức, lao động bị xâm phạm, cuộc sống bị xáo trộn, thu nhập giảm, điều này đã tác động tiêu cực đến xã hội Điều này đòi hỏi các đoàn thể chính trị - xã hội, trong đó có tổ chức công đoàn không ngừng đổi mới tổ chức hoạt động, nhằm phát huy mạnh mẽ vai trò của mình; đổi mới
tổ chức, để nâng cao hiệu quả hoạt động, đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới; cần phải nâng cao hiệu quả quản lý xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ CBCĐ đủ về số lượng, bảo đảm về trình độ, năng lực, có bản lĩnh chính trị vững vàng,… đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế
Với tầm quan trọng, yêu cầu cấp bách của công tác quản lý đào tạovà bồi dưỡng nguồn cán bộ công đoàn trong quá trình hội nhập kinh tế và sự phát triển kinh tế xã hội; chất lượng nguồn cán bộ công đoàn sẽ quyết định quá trình thúc đẩy
sự phát triển của phong trào công nhân, viên chức, lao động cả nước, trong đó có Công đoàn Viên chức tỉnh Lai Châu Do vậy hoạt động đào tạo và bồi dưỡng cán bộ công đoàn ở Công đoàn Viên chức tỉnh Lai Châu đang là vấn đề được Đảng bộ Khối các cơ quan tỉnh; Đảng đoàn Liên đoàn Lao động tỉnh và Ban thường vụ Công đoàn Viên chức tỉnh rất quan tâm hiện nay [6]; trong đó đặc biệt quan tâm đào tạo
Trang 12cán bộ công đoàn cơ sở Đồng thời với sự biến đổi nhanh chóng của môi trường và yêu cầu nhiệm vụ đặt ra; đòi hỏi hoạt động đào tạo cán bộ công đoàn phải đào tạo
đa hình thức và phải đào tạo chuẩn hoá đội ngũ cán bộ công đoàn đảm bảo theo tiêu chuẩn quy định của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, góp phần quyết định vào quá trình phát triển kinh tế xã hội của địa phương
Mặt khác, các vấn đề về đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực, phát triển đội ngũ cán bộ công đoàn, vai trò quan trọng của công đoàn cơ sở hay các vấn đề khác liên quan đến hoạt động công đoàn…đều đã được nhiều tác giả nghiên cứu, thể hiện
ý nghĩa sâu sắc trong cả lý luận và cuộc sống thực tiễn Nhưng chưa một tác giả nào nghiên cứu cụ thể về công tác quản lý đào tạo và bồi dưỡng cán bộ công đoàn cơ sở
tại một tỉnh miền núi phía bắc như tỉnh Lai Châu Do đó, tôi chọn đề tài: “Hoàn
thiện công tác quản lý đào tạo và bồi dưỡng cán bộ công đoàn cơ sở thuộc Công đoàn Viên chức tỉnh Lai Châu” nhằm phục vụ cho yêu cầu phát triển tổ chức công
đoàn và phong trào công nhân, viên chức, lao động và hoạt động công đoàn của các
cơ quan tỉnh Lai Châu
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở phân tích thực trạng công tác quản lý đào tạo và bồi dưỡng cán bộ công đoàn cơ sở thuộc công đoàn viên chức tỉnh Lai Châu, đánh giá những thành công, hạn chế để đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý đào tạo và bồi dưỡng cán bộ công đoàn cơ sở thuộc công đoàn viên chức trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận về quản lý đào tạo và bồi dưỡng cán bộ công đoàn cơ sở, vai trò, đặc điểm, phân loại cũng như yêu cầu đối với cán bộ công đoàn
cơ sở, số lượng, chất lượng cán bộ công đoàn cơ sở
- Phân tích và đánh giá thực trạng quản lý đào tạo và bồi dưỡng cán bộ công đoàn cơ sở của Công đoàn Viên chức tỉnh Lai Châu giai đoạn 2012-2015 Đánh giá những thành công, hạn chế và các nguyên nhân chủ yếu
- Đề xuất những giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quảquản lý đào tạo và bồi dưỡng cán bộ công đoàn cơ sở thuộc Công đoàn Viên chức tỉnh Lai Châu trong thời gian tới
Trang 133 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý đào tạo và bồi dưỡng cán bộ công đoàn cơ sở thuộc Công đoàn Viên chức tỉnh Lai Châu
* Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: Nghiên cứu những nội dung cơ bản: xác định nhu cầu, xây dựng chương trình kế hoạch và tổ chức thực hiện quản lý đào tạo và bồi dưỡng cán
bộ công đoàn cơ sở
- Về không gian: Địa bàn Thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu
- Về thời gian: Số liệu thu thập từ năm 2013 - 2015 Định hướng đến 2020
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
5 Kết luận của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục và tài liệu tham khảo; kết cấu luận văn gồm bốn chương
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý đào tạo và bồi dưỡng cán
bộ công đoàn cơ sở
- Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
- Chương 3: Thực trạng quản lý đào tạo và bồi dưỡng cán bộ công đoàn cơ
sở thuộc Công đoàn Viên chức tỉnh Lai Châu
- Chương 4: Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý đào tạo và bồi dưỡng cán bộ Công đoàn cơ sở thuộc Công đoàn Viên chức tỉnh Lai Châu
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO
VÀ BỒI DƯỠNG CÁN BỘ CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ
1.1 Đào tạo và bồi dưỡng cán bộ công đoàn cơ sở
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
* Khái niệm Công đoàn Việt Nam
“Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và của người lao động, được thành lập trên cơ sở tự nguyện, là thành viên trong hệ thống chính trị của xã hội Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; đại diện cho cán bộ, công chức, viên chức, công nhân và những người lao động khác (sau đây gọi chung là người lao động), cùng với cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức
xã hội chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội, tham gia thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp; tuyên truyền, vận động người lao động học tập nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.”
(Trích: Điều 1 Luật Công đoàn tháng 12/2012/QH13)
Công đoàn Việt Nam là thành viên trong hệ thống chính trị xã hội Việt Nam Với Đảng, Công đoàn chịu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, chỗ dựa vững chắc và là sợi dây chuyền nối liền quần chúng với Đảng - Với Nhà nước, Công đoàn là người cộng tác đắc lực, bình đẳng tôn trọng lẫn nhau, ngược lại Nhà nước tạo điều kiện về pháp lý và cơ sở vật chất cho Công đoàn hoạt động Với tổ chức chính trị, xã hội khác, Công đoàn là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, hạt nhân trong khối liên minh Công, Nông, trí thức, bình đẳng, tôn trọng, tạo điều kiện cho nhau hoạt động (thông qua các Nghị quyết liên tịch…)
* Khái niệm công đoàn cơ sở
Theo Luật Công đoàn số 12/2012/QH13 thì: “Công đoàn cơ sở là tổ chức cơ
sở của Công đoàn, tập hợp đoàn viên công đoàn trong một hoặc một số cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, được công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở công nhận theo quy định của pháp luật và Điều lệ Công đoàn Việt Nam”
Trang 15Công đoàn cơ sở được thành lập ở các doanh nghiệp, các hợp tác xã sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, các đơn vị sự nghiệp công lập và ngoài công lập; các cơ quan Nhà nước, cơ quan của tổ chức chính trị, chính trị - xã hội và
tổ chức xã hội nghề nghiệp, có 5 đoàn viên trở lên và được Công đoàn cấp trên quyết định thành lập
Công đoàn cơ sở, nghiệp đoàn được tổ chức theo 4 loại hình:
+ Công đoàn cơ sở, nghiệp đoàn không có tổ Công đoàn, tổ nghiệp đoàn + Công đoàn cơ sở, nghiệp đoàn có tổ Công đoàn, tổ nghiệp đoàn
+ Công đoàn cơ sở, nghiệp đoàn có Công đoàn bộ phận, nghiệp đoàn bộ phận + Công đoàn cơ sở có Công đoàn cơ sở thành viên
* Khái niệm cán bộ công đoàn cơ sở
Cán bộ công đoàn cơ sở bao gồm tổ trưởng, tổ phó, uỷ viên Ban chấp hành,
chủ tịch công đoàn cơ sở, uỷ viên uỷ ban kiểm tra là người được bầu vào các chức danh thông qua bầu cử tại đại hội hoặc hội nghị công đoàn được cơ quan, đơn vị có thẩm quyền của công đoàn chỉ định hoặc bổ nhiệm vào các chức danh cán bộ công đoàn hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của
tổ chức công đoàn
* Khái niệm công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công đoàn cơ sở
Lao động của cán bộ công đoàn cơ sở là loại lao động trí óc, để thực hiện và đạt hiệu quả công việc, cán bộ công đoàn cơ sở phải có một trình độ nhất định về: Chính trị, pháp luật, kinh tế, văn hóa - xã hội, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng lãnh đạo, quản lý và dân vận Do đó, cán bộ công đoàn cơ sở phải được đào tạo và từng bước bồi dưỡng, nâng cao cái đã có
Đào tạo bồi dưỡng là thực hiện nhiệm vụ lấp đầy khoảng trống giữa một bên
là những điều đã đạt được, đã có trong hiện tại với một bên là những yêu cầu cho những thứ cần ở tương lai, những thứ mà cần phải có theo chuẩn mực
Trang 16Xác định được tầm quan trọng của công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức nói chung và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công đoàn cơ sở nói riêng trong giai đoạn cách mạng mới, nhà nước luôn coi việc đào tạo cán bộ là việc làm thường xuyên, cần được ưu tiên trong sự nghiệp đổi mới theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Khái niệm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công đoàn cơ sở cho đến nay chưa được nêu trong từ điển Tiếng Việt, nhưng đã được đề cập trong một số công trình khoa học, tuy có những cách thức tiếp cận khác nhau, song có những quan niệm chung như sau:
“Đào tạo cán bộ công đoàn cơ sở” là việc tổ chức giảng dạy và học tập dài
ngày gắn với việc giáo dục nhân cách, cung cấp kiến thức những tri thức, kĩ năng, nghề nghiệp một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sốngnhằm chuẩn bị cho cán bộ công đoàn cơ sở khả năng đảm nhận một công việc nhất định Đối với công tác cán bộ công đoàn thì đào tạo là một trong những hoạt động để duy trì và nâng cao chất lượng cán bộ công đoàn cơ sở, là điều kiện quyết định để tổ chức công đoàn hoạt động ngày càng vững mạnh và là chỗ dựa vững chắc cho công nhân viên chức, lao động trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Đào tạo là quá trình truyền thụ khối lượng kiến thức mới một cách có hệ thống
để cán bộ công đoàn cơ sở thông qua đó trở thành người có trình độ cao hơn trước đó Chương trình của đào tạo gắn liền với một trình độ học vấn ở một cấp độ nhất định,
vì vậy sau một quá trình đào tạo mỗi người học được cấp bằng Đào tạo phải gắn với những thay đổi môi trường, đáp ứng đòi hỏi của môi trường Thông thường, đào tạo
là một quá trình trang bị kiến thức cơ bản mới hoặc ở trình độ cao hơn
Trang 17Đào tạo được xem như một quá trình cung cấp và tạo dựng khả năng làm việc cho người học và bố trí đưa họ vào các chương trình, khoá học một cách có hệ thống, có sự kết hợp trong các lĩnh vực khoa học chuyên ngành như kỹ thuật, cơ khí, thương mại, văn phòng, tài chính, hành chính, luật…hay các lĩnh vực khác nhằm nâng cao kết quả thực hiện công việc cho cá nhân, tổ chức và giúp họ hoàn thành nhiệm vụ và các mục tiêu công tác
Đào tạo được xác định như quá trình làm biến đổi hành vi con người một cách có hệ thống thông qua việc học tập Việc học tập này có được là kết quả của việc giáo dục, hướng dẫn, phát triển và lĩnh hội kinh nghiệm một cách có kế hoạch hay nó là quá trình tác động đến con người làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo…một cách có hệ thống nhằm thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công nhất định, góp phần phát triển xã hội
“Bồi dưỡng cán bộ công đoàn cơ sở” là trang bị, tăng cường thêm kiến thức,
truyền thụ kinh nghiệm, kỹ năng, kỹ xảo trong hoạt động thực tiễn công đoàn để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác của cán bộ công đoàn cơ sở nhằm hình thành nên phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, tâm lý, tác phong công tác đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi về tiêu chuẩn cán bộ công đoàn cơ sở
Vậy có thể thấy,hoạt động bồi dưỡng làm tăng thêm năng lực, phẩm chất của mình Hoạt động đào tạo làm cho người cán bộ công đoàn cơ sở trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định Thông thường hoạt động đào tạo là một quá trình trang bị những kiến thức cơ bản mới hoặc một trình độ cao hơn nên thời gian đào tạo thường dài so với hoạt động bồi dưỡng Thời gian của các khoá đào tạo
ít nhất từ một năm trở lên, còn hoạt động bồi dưỡng chỉ với mục đích bổ sung kiến thức hoặc cập nhật những vấn đề mới liên quan đến hoạt động của cán bộ công đoàn
cơ sở nên thời gian ngắn hơn từ một tuần đến ba tháng
Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công đoàn cơ sở là công việc của tổ chức công đoàn nhằm cung cấp, trang bị cho đội ngũ cán bộ công đoàn cơ sở quan điểm, lập trường, tư tưởng, đạo đức, những kiến thức, kỹ năng giúp cho cán bộ công đoàn cơ
sở trở thành những người có trình độ, năng lực, phẩm chất đạo đức đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ của tổ chức Công đoàn Việt nam
Trang 18Công tác đào tạo, bồi dưỡng là một bộ phận của chiến lược tổng thể quản lý nguồn nhân lực bao gồm lập kế hoạch và công tác quản lý cán bộ; các quy định nhiệm vụ cho cán bộ, công chức, lương bổng, các sáng kiến quản lý công việc và năng suất công tác, các mối quan hệ lao động trong cơ quan, tổ chức v.v
Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công đoàn cơ sở không chỉ nhằm nâng cao trình
độ nói chung mà phải sát với yêu cầu công việc trên cơ sở các tiêu chuẩn chức danh, nhiệm vụ công tác Vì vậy, việc xác định nhu cầu, nội dung và đối tượng đào tạo, bồi dưỡng phải có sự ưu tiên, phân định khác nhau
Như vậy, có thể khái quát khái niệm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công đoàn cơ
sở như sau:
Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công đoàn cơ sở là quá trình truyền đạt và tăng
cường thêm kiến thức những tri thức, kĩ năng, nghề nghiệp một cách có hệ thống dưới các hình thức khác nhau để cán bộ công đoàn cơ sở đảm nhận và nâng cao chất lượng, hiệu quả công việc được giao
1.1.2 Phân loại cán bộ công đoàn cơ sở
Cán bộ công đoàn cơ sở bao gồm cán bộ công đoàn chuyên trách, cán bộ công đoàn không chuyên trách, là chủ tịch công đoàn cơ sở, các uỷ viên ban chấp hành công đoàn cơ sở, tổ trưởng, tổ phó công đoàn, uỷ viên uỷ ban kiểm tra
Cán bộ công đoàn chuyên trách là người được tuyển dụng, bổ nhiệm để đảm
nhiệm công việc thường xuyên trong tổ chức công đoàn
Cán bộ công đoàn không chuyên trách là người làm việc kiêm nhiệm được
Đại hội công đoàn, Hội nghị công đoàn các cấp bầu ra hoặc được Ban chấp hành công đoàn cấp trên trực tiếp chỉ định, bổ nhiệm vào chức danh từ tổ phó tổ công đoàn trở lên, cụ thể như sau:
- Chủ tịch công đoàn cơ sở: Do ban chấp hành công đoàn bầu ra, hoặc do đại hội hoặc hội nghị trực tiếp bầu ra, khi có trên 50% đại biểu đại hội hoặc hội nghị đề nghị bầu trực tiếp và được sự đồng ý của công đoàn cấp trên trực tiếp của cơ sở Chủ tịch công đoàn cơ sở là người đứng đầu Ban chấp hành, Ban Thường vụ Công đoàn cơ
sở, người trực tiếp chịu trách nhiệm trước ban chấp hành công đoàn, đoàn viên và trước
công đoàn cấp trên cơ sở trực tiếp về tổ chức hoạt động của công đoàn cơ sở
Trang 19- Ban chấp hành công đoàn cơ sở: Là cơ quan lãnh đạo cao nhất giữa hai kỳ đại hội, hội nghị bầu ra, số lượng ban chấp hành cơ sở do đại hội công đoàn quyết định, tuy nhiên theo quy định của điều lệ Công đoàn Việt Nam khoá X, số lượng uỷ viên Ban chấp hành công đoàn cơ sở, từ 3 đến 15 uỷ viên, đối với công đoàn cơ sở
có từ 3000 đoàn viên trở lên không quá 17 uỷ viên
- Tổ trưởng tổ công đoàn: Là người trực tiếp làm việc, sinh hoạt hàng ngày với đoàn viên và công nhân lao động, do đoàn viên trong tổ bầu ra, tổ trưởng công đoàn là người đại diện trực tiếp bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, công nhân viên chức, lao động trong tổ trực tiếp chịu trách nhiệm giải quyết các vướng mắc của đoàn viên trong tổ, trực tiếp triển khai các hoạt động của
tổ công đoàn xây dựng củng cố tập thể tổ đoàn kết, vận động, các thành viên trong
tổ tích cực thực hiện nhiệm vụ được giao, thực hiện nghiêm các chế độ chính sách của nhà nước, nội quy, quy chế cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp Góp phần thúc đẩy
sản xuất kinh doanh của cơ quan đơn vị phát triển
- Uỷ viên Ủy ban kiểm tra công đoàn cơ sở do Ban chấp hành công đoàn cơ
sở bầu ra để giúp Ban chấp hành, Ban Thường vụ thực hiện việc kiểm tra chấp hành Điều lệ công đoàn cơ sở, kiểm tra cùng cấp khi tổ chức hoặc đoàn viên có dấu hiệu
vi phạm Điều lệ, Nghị quyết, Chỉ thị và các quy định của công đoàn; kiểm tra việc quản lý, sử dụng tài chính, tài sản và hoạt động kinh tế của công đoàn cơ sở
1.1.3 Vai trò và nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ công đoàn cơ sở
- Đại diện chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân, viên chức, lao động, xây dựng mối quan hệ lao động hài hoà ổn định, tiến bộ, góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp
Để thực hiện tốt vai trò đại diện chăm lo bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của Công nhân, viên chức, lao động “người lao động” và xây dựng mối quan hệ lao động hài hoà ổn định, tiến bộ, góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của đơn vị trước hết cần quan tâm xây dựng chương trình kế hoạch hoạt động, nội dung chương trình kế hoạch của công đoàn cơ sở cần tập trung vào các lĩnh vực
đó là: Hướng dẫn giúp đỡ người lao động giao kết hợp đồng với người sử dụng lao động theo quy định của Bộ luật Lao động; đại diện người lao động tham gia xây dựng thoả ước lao động tập thể; Vận động người lao động tham gia xây dựng thỏa ước, giám sát việc thực hiện thoả ước lao động tập thể; kịp thời nắm bắt tâm tư,
Trang 20nguyện vọng, những bức xúc của người lao động và đáp ứng những tâm tư nguyện vọng của người lao động; chủ động phối hợp với người sử dụng lao động tổ chức đối thoại với người lao động để nắm bắt kịp thời những khó khăn thuận lợi của đơn
vị, người lao động và cùng nhau chia sẻ khó khăn để đưa đơn vị phát triển
- Giúp cho người lao động tham gia quản lý cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp
Tham gia quản lý đơn vị có vai trò rất quan trọng nhằm phát huy quyền dân chủ của người lao động đóng góp trí tuệ của người lao động vào quản lý đơn vị nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của đơn vị, để bảo vệ lợi ích trước mắt, lâu dài; quyền, lợi ích của cá nhân, tập thể của người lao động hay nói cách khác, tham gia quản lý đơn vị là phương tiện để công đoàn thực hiện tốt vai trò bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; Tham gia xây dựng quan
hệ lao động hài hoà, ổn định và tiến bộ trong đơn vị Phối hợp tổ chức phong trào thi đua trong phạm vi đơn vị để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của đơn vị
- Tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức chính trị, nâng cao ý thức tổ chức
kỷ luật, tác phong công nghiệp và năng lực làm chủ của người lao động
Chỉ đạo và tăng cường đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến đường lối, chủ trương của Đảng, các chế độ chính sách, pháp luật của Nhà nước có liên quan đến quyền và lợi ích của người lao động ở đơn vị, nhiệm
vụ của tổ chức công đoàn và nghĩa vụ của người lao động Đặc biệt cần quan tâm đến việc tuyên truyền, phổ biến nội dung thoả ước lao động tập thể; nội dung các nội quy, quy chế như: quy chế dân chủ ở cơ sở của đơn vị để mọi người lao động đều am hiểu về chính sách pháp luật và nội quy, quy chế nâng cao tinh thần tự giác thực hiện chính sách pháp luật, nội quy, quy chế của đơn vị và tự bảo vệ mình trước
cơ quan pháp luật
* Nhiệm vụ của CBCĐCS: để phát huy hết vai trò trên cương vị là CBCĐCS, bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của công nhân viên chức, phát huy quyền dân chủ của người lao động nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của đơn vị thì đòi hỏi nhiệm vụ của CBCĐCS trong bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế cần phải
có trình độ, kỹ năng tốt phù hợp với thực tế và đáp ứng được nhu cầu của công tác giáo dục đào tạo, bồi dưỡng phát triển CBCĐCS nhất là Luật Lao động Sự hiểu biết này không chỉ phục vụ cho bản thân mà còn sử dụng thực hiện tốt nhiệm vụ
Trang 211.1.4 Đặc điểm của đội ngũ cán bộ công đoàn cơ sở
- Cán bộ công đoàn cơ sở là người được trưởng thành từ phong trào công nhân, viên chức, lao động
Tức là thông qua các hoạt động thực tiễn của phong trào công nhân, viên chức lao động thì cán bộ được tiếp xúc với các hoạt động thực tiễn từ đó bộc lộ những phẩm chất đạo đức, khả năng, năng lực của bản thân nên được tập thể người lao động tín nhiệm bầu làm cán bộ công đoàn
- Do đại hội, hội nghị bầu và được cấp trên trực tiếp công nhận hoặc được chỉ định vào các chức danh của công đoàn và hoạt động theo nhiệm kỳ
Thông qua các hoạt động thực tiễn của phong trào công nhân, viên chức, lao động tại đơn vị đồng thời trong hội nghị, đại hội của công đoàn bầu và được cấp trên trực tiếp công nhận hoặc được cấp trên chỉ định vào các chức danh của công đoàn thì khi đó chính thức trở thành cán bộ công đoàn Là cán bộ được bầu cử nên thường là người năng động, sáng tạo, tâm huyết và được sự tín nhiệm và ủng hộ của tập thể người lao động trong cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, bởi vậy cán bộ công đoàn có một vị thế xã hội nhất định để thực hiện quyền lực của tổ chức và xã hội
- Cán bộ công đoàn làm việc theo chế độ tập thể Ban chấp hành, Ban Thường vụ
Trong quá trình lãnh đạo, mọi quyết định, mọi hoạt động của công đoàn do tập thể Ban chấp hành quyết định và giao cho một đồng chí phụ trách thường là Chủ tịch, tổ trưởng công đoàn; Do là cán bộ được bầu cử nên thường là người năng động, sáng tạo, tâm huyết và được sự tín nhiệm và ủng hộ của tập thể người lao động trong đơn vị, bởi vậy cán bộ công đoàn có một vị thế xã hội nhất định để thực hiện quyền lực của tổ chức và trong xã hội
1.2 Quản lý đào tạo bồi dƣỡng cán bộ công đoàn cơ sở
1.2.1 Khái niệm về Quản lý đào tạo bồi dưỡng cán bộ công đoàn cơ sở
Nguồn gốc phát triển loài người là lao động của cá nhân và lao động chung
C Mác đã khẳng định: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo
để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ chế sản xuất Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” Trong
Trang 22lịch sử phát triển loài người xuất hiện một dạng lao động mang tính đặc thù là tổ chức - điều khiển con người với các hoạt động theo những yêu cầu nhất định; dạng lao động đó được gọi là quản lý
Quản lý là một chức năng lao động bắt nguồn từ tính chất lao động của xã hội Từ khi con người bắt đầu hình thành các nhóm để thực hiện những mục tiêu mà
họ không thể đạt được với tư cách là những cá nhân riêng lẻ, thì nhu cầu quản lý cũng hình thành như một yếu tố cần thiết để phối hợp những nỗ lực cá nhân hướng tới những mục tiêu chung Trong quá trình lao động con người buộc phải liên kết lại với nhau, kết hợp lại thành tập thể Điều đó đòi hỏi phải có sự tổ chức, phải có sự phân công và hợp tác trong lao động, phải có sự quản lý
Như vậy: Quản lý là một hoạt động xã hội bắt nguồn từ tính chất cộng đồng dựa trên sự phân công và hợp tác để làm một công việc nhằm đạt được mục tiêu chung đề ra Năng lực quản lý là sự tổ chức, điều hành, kết hợp tri thức với việc sử dụng sức lao động, nguồn vốn và tài nguyên để phát triển xã hội Công việc quản lý bao gồm 5 nhiệm vụ (theo Henry Fayol): xây dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm soát
Qua những nội dung trên, tác giả đưa ra khái niệm Quản lý đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ công đoàn cơ sở là hoạt động tổ chức, điều hành các cán bộ công đoàn cơ sở thực hiện và nâng cao về tri thức, kĩ năng, nghề nghiệp một cách có hệ
thống dưới các hình thức khác nhau nhằm hoàn thành mục tiêu chung
1.2.2 Sự cần thiết của công tác quản lý đào tạo bồi dưỡng cán bộ công đoàn cơ sở
Việc đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ công đoàn cơ sở có vai trò quan trọng trong công tác công đoàn Để nâng cao hiệu quả trong công tác công đoàn, cần giải quyết các mục tiêu của công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công đoàn cơ sở bao gồm:
- Đáp ứng nhu cầu công việc của tổ chức
Đào tạo, bồi dưỡng nhằm sử dụng tối đa đội ngũ cán bộ công đoàn cơ sở hiện có và nâng cao tính hiệu quả của tổ chức công đoàn cơ sở thông qua việc giúp cho người cán bộ công đoàn hiểu rõ hơn về công việc, nắm vững hơn về nghề nghiệp của mình và thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình một cách tự giác hơn, với thái độ tốt hơn, cũng như nâng cao khả năng thích ứng của họ với các công việc trong tương lai
Trang 23- Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công đoàn cơ sở
Cán bộ công đoàn cơ sở ở các loại hình cùng khác nhau song trong quá trình đào tạo cần quan tâm đào tạo bản lĩnh chính trị, sự tâm huyết, nhiệt tình với công tác công đoàn tức là đòi hỏi người cán bộ công đoàn cơ sở phải là người am hiểu về đường lối, chủ trương của Đảng, kiên định và phấn đấu vì mục tiêu tư tưởng của Đảng, hiểu biết về chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh có kiến thức rộng, am hiểu và nắm vững tình hình kinh tế, chính trị, xã hội, nắm vững pháp luật, trước tiên là pháp luật có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của công nhân, viên chức, lao động và công đoàn, đồng thời đòi hỏi cán bộ công đoàn phải có tâm huyết
và trách nhiệm với công việc Như vậy giữa phẩm chất trí tuệ và năng lực công tác của cán bộ công đoàn hòa quyện vào nhau, tạo thành bản lĩnh chính trị và tâm huyết của cán bộ công đoàn Nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với ngành nghề, với yêu cầu thực tiễn của sản xuất, công tác ở đơn vị, có kiến thức về kinh tế, chính trị, xã hội, pháp luật và công đoàn, đặc biệt là có khả năng tự học, tự nghiên cứu, đào tạo để không ngừng nâng cao trình độ
- Nâng cao phẩm chất đạo đức và lối sống:
Trong công việc cũng như cuộc sống, cán bộ công đoàn cơ sở cần có tinh thần, ý thức trách nhiệm, ý thức tổ chức kỷ luật, tính năng động, sáng tạo, tính cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư Cụ thể giúp cán bộ công đoàn cơ sở nâng cao ý thức ham học hỏi, tính điềm đạm, tác phong sâu sát, gần gũi quần chúng, khả năng giao tiếp, vận động, thuyết phục quần chúng và quan hệ rộng rãi, có trách nhiệm với công việc, quan tâm đến đồng nghiệp và tập thể
- Nâng cao kỹ năng và nghiệp vụ công tác công đoàn:
Đây là yêu cầu quan trọng với cán bộ công đoàn cơ sở trong điều kiện kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế Cán bộ công đoàn cơ sở phải có khả năng và phương pháp tuyên truyền, vận động, thuyết phục
để vận động, tập hợp đoàn viên và người lao động, đặc biệt là đào tạo cán bộ công đoàn có khả năng tổ chức các hoạt động, các kỹ năng đàm phán, thương lượng, bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên và tập thể người lao động
Đặc điểm của việc quản lý đào tạo và bồi dưỡng cán bộ công đoàn cơ sở
Trang 24- Cán bộ công đoàn cơ sở là người được trưởng thành từ phong trào công nhân, viên chức, lao động
Tức là thông qua các hoạt động thực tiễn của phong trào công nhân, viên chức lao động thì cán bộ được tiếp xúc với các hoạt động thực tiễn từ đó bộc lộ những phẩm chất đạo đức, khả năng, năng lực của bản thân nên được tập thể người lao động tín nhiệm bầu làm cán bộ công đoàn
- Do đại hội, hội nghị bầu và được cấp trên trực tiếp công nhận hoặc được chỉ định vào các chức danh của công đoàn và hoạt động theo nhiệm kỳ
Thông qua các hoạt động thực tiễn của phong trào công nhân, viên chức, lao động tại đơn vị đồng thời trong hội nghị, đại hội của công đoàn bầu và được cấp trên trực tiếp công nhận hoặc được cấp trên chỉ định vào các chức danh của công đoàn thì khi đó chính thức trở thành cán bộ công đoàn Là cán bộ được bầu cử nên thường là người năng động, sáng tạo, tâm huyết và được sự tín nhiệm và ủng hộ của tập thể người lao động trong cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, bởi vậy cán bộ công đoàn có một vị thế xã hội nhất định để thực hiện quyền lực của tổ chức và xã hội
- Cán bộ công đoàn làm việc theo chế độ tập thể Ban chấp hành, Ban Thường vụ
Trong quá trình lãnh đạo, mọi quyết định, mọi hoạt động của công đoàn do tập thể Ban chấp hành quyết định và giao cho một đồng chí phụ trách thường là Chủ tịch, tổ trưởng công đoàn; Do là cán bộ được bầu cử nên thường là người năng động, sáng tạo, tâm huyết và được sự tín nhiệm và ủng hộ của tập thể người lao động trong đơn vị, bởi vậy cán bộ công đoàn có một vị thế xã hội nhất định để thực hiện quyền lực của tổ chức và trong xã hội
1.2.3 Nội dung của công tác quản lý đào tạo bồi dưỡng cán bộ công đoàn cơ sở
Việc đào tạo là rất cần thiết cho tổ chức nhưng không phải cho bất kỳ ai đi vào đào tạo cũng mang lại kết quả tốt và hơn nữa, nó còn phụ thuộc vào kinh phí bỏ
ra Chính vì vậy phải xác định nhu cầu và đối tượng đào tạo xem khi nào đào tạo, đào tạo ở bộ phận nào, đào tạo kỹ năng nào, cho đối tượng nào, bao nhiêu người, nhu cầu của đối tượng được xác định dựa trên phân tích nhiệm vụ của tổ chức, các yêu cầu về kiến thức, kỹ năng cần thiết cho công việc thực hiện và trình độ, kiến thức, kỹ năng của đối tượng được đào tạo
Trang 25Hiện nay, Liên đoàn Lao động cấp huyện mặc dù đội ngũ cán bộ công đoàn cấp cơ sở đã được củng cố kiện toàn sau đại hội xong thực chất chất lượng đội ngũ cán bộ công đoàn vẫn còn nhiều bất cập về trình độ chuyên môn, lý luận cũng như nghiệp vụ công tác công đoàn Do đó công tác đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán
bộ công đoàn cơ sở là vô cùng cần thiết
1.2.3.1 Xác định nhu cầu đào tạo và bồi dưỡng
Nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng là khoảng cách giữa những gì hiện có và những
gì mong muốn trong tương lai xét về khía cạnh thái độ của người quản lý và người lao động trong doanh nghiệp Nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng phát sinh khi cán bộ công đoàn cơ sở không đủ các kiến thức, kỹ năng cần thiết để thực hiện công việc trong hiện tại cũng như tương lai
Đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ công đoàn cơ sở và thống kê số liệu trình độ cán bộ công đoàn theo văn bằng về các tiêu chuẩn sau:
- Trình độ chuyên môn nghiệp vụ
- Trình độ nghiệp vụ công đoàn (Đại học công đoàn, đại học phần công đoàn, bồi dưỡng nghiệp vụ…)
* Phân tích công việc
Đối với các cán bộ công đoàn cơ sở do đã có hệ thống các bản tiêu chuẩn chức danh (công việc) nên nội dung phân tích công việc khá đơn giản Mô hình năng lực (ASK) được viết tắt bởi:
- K: Knowledge (kiến thức), những gì ta biết
- S: Skill (kỹ năng), khả năng thực hiện một công việc cụ thể thuần thục
- A: Attitude/ Actitive (tố chất, thái độ, tâm huyết) Một cán bộ công đoàn cơ
sở chỉ được xem là chuyên nghiệp khi có kiến thức tốt, kỹ năng tốt và tố chất phù hợp/thái độ tích cực
Trang 26Phần lệch pha (kiến thức, kỹ năng và thái độ) giữa tiêu chuẩn chức danh và ASK chính là những gì cần phải đào tạo cho nhân viên Cần tránh lầm lẫn ở đây chính là phân tích để định hướng cho cán bộ công đoàn cơ sở chứ không phải là định hướng công việc hay đơn giản là xem nhân viên cần phải làm gì để thực hiện tốt công việc
* Phân tích nhân viên
Việc đánh giá đúng khả năng cá nhân, kỹ năng nghề nghiệp luôn là hoạt động gặp nhiều khó khăn từ chính bản thân những nhà quản lý nhân sự (thiếu công cụ đánh giá, kỹ năng hỗ trợ và tư vấn cho cấp quản lý trong việc tìm giải quyết vấn đề,…), các cán bộ công đoàn cơ sở (thái độ tích cực cũng như tiêu cực), hệ thống và môi trường quản trị của doanh nghiệp (chưa hoàn thiện, thiếu tính chuyên nghiệp, …)
Công thức đơn giản:
Thành tích của chức danh cần đạt được trong hiện tại hoặc tương lai - Thành tích công tác thực tế = Nhu cầu đào tạo
Hay mức độ hiệu quả thành tích trước mắt của cán bộ công đoàn cơ sở là cơ
sở để quyết định xem cán bộ công đoàn cơ sở đó có cần được đào tạo hay không
- Nếu hiệu số trên > 0 thì cần đào tạo
- Nếu hiệu số trên ≤ 0 thì không cần đào tạo
Tuy nhiên cần phải phân tích nguyên nhân dẫn đến có khoảng cách giữa thành tích kỳ vọng và thành tích thực tế; bởi có thể họ “không biết làm” nhưng cũng
có thể họ “không muốn làm” Ở đây, nhà quản lý nhân sự không đi sâu phân tích các nguyên nhân này mà chỉ quan tâm việc “không biết làm” là do nhân viên thiếu hiểu biết, kiến thức và kỹ năng thì phải được đào tạo
Ngoài ra, nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng còn xuất phát từ việc: thảo luận với các cấp quản lý, các nhân viên; quan sát của nhà quản lý nhân sự; kết quả thống kê và phân tích các dữ kiện thông tin nhân sự
Nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng là khoảng cách giữa những gì hiện có và những
gì mong muốn trong tương lai xét về khía cạnh thái độ của người quản lý và người
Trang 27lao động trong doanh nghiệp Phân tích nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng là một quá trình mang tính hệ thống nhằm xác định và xếp thứ tự các mục tiêu, định lượng các nhu cầu và quyết định các mức độ ưu tiên cho các quyết định trong lĩnh vực đào tạo.Việc xác định nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng có thể được thực hiện thông qua phương pháp đánh giá nhu cầu cổ điển như phân tích công việc
Bảng 1.1 Phân tích nhu cầu đào tạo, bồi dƣỡng cán bộ công đoàn cơ sở
Lý do đào tạo Bối cảnh nảy sinh nhu cầu đào tạo Kết cục
hiện cao hơn
- Công việc mới,
sản phẩm mới
- CBCĐCS cần đào tạo điều gì?
- Phân tích tổ chức
- Nảy sinh nhu cầu đào tạo có thứ tự ưu tiên
- Sự ủng hộ và hỗ trợ của giới quản lý và đồng sự
- Chiến lược của tổ chức đi đến đâu, nhằm mục tiêu gì?
- Các nguồn lực cho đào tạo: Ngân sách, thời gian, chuyên môn, trình độ
- Phân tích con người
- Đặc tính cá nhân: Kiến thức, kỹ năng và thái độ
- Đầu vào, đầu ra
- Kết cục: ảnh hưởng, năng suất, chất lượng
- Phân tích nhiệm vụ
- Chọn công việc để phân tích
- Phát triển danh mục các nhiệm vụ
- Khẳng định danh mục các nhiệm vụ
- Nhận dạng kiến thức, kỹ năng thái độ cần thiết cho việc thực hiện thành công mỗi nhiệm vụ
- CBCĐCS cần học điều gì?
- Ai cần đào tạo?
- Loại hình đào tạo?
- Tần số đào tạo?
- Đào tạo hay thực hiện thông qua các hình thức khác như tuyển lựa, thiết kế lại công việc?
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
* Xác định mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng dựa trên nhu cầu
Mục tiêu đào tạo là những thái độ, kiến thức, kỹ năng nhất định mà cán bộ công đoàn cơ sở là cơ sở cần đạt tới
Trang 28Một mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng phải SMART:
- Specific: Cụ thể
- Measurable: Đo lường được
- Achievable: Đạt đến được
- Relevant: Liên quan
- Time limited: Thời gian hữu hạn
Việc xác định mục tiêu rõ ràng có những ưu điểm sau đây:
- Tạo dễ dàng cho việc kiểm tra và chấm điểm công bằng
- Mục đích đào tạo, bồi dưỡng, nội dung đào tạo, bồi dưỡng và quy trình đánh giá vừa nhất quán vừa quan hệ chặt chẽ với nhau
- Mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng cho phép người phụ trách đào tạo, bồi dưỡng xác định hoạt động và tài liệu đào tạo, bồi dưỡng nào hiệu quả
- Mô hình đào tạo, bồi dưỡng hợp lý phải xác định được trình tự giữa mục tiêu và nội dung
- Cải tiến mối quan hệ giữa những người phụ trách đào tạo, bồi dưỡng và người cần đào tạo
- Khuyến khích người cần đào tạo, bồi dưỡng tự đánh giá vì họ biết họ cần phải đạt cái gì
- Hỗ trợ hiệu quả việc đào tạo, bồi dưỡng của cán bộ công đoàn cơ sở và giảm bớt lo lắng vì có hướng dẫn và xác định các ưu tiên cụ thể
Việc thiết lập mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng dựa trên nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng bao gồm:
- Phát biểu mục đích đào tạo, bồi dưỡng: Cán bộ công đoàn cơ sở cần biết các kỹ năng và hành vi mới nào sẽ đạt được từ việc đào tạo, bồi dưỡng
- Truyền thông đến cán bộ công đoàn cơ sở: Bằng cách xua tan các mong đợi không thực tế, cán bộ công đoàn cơ sở sẽ nhận được các cảm giác rõ ràng về tình trạng hiện tại và kết quả mong ước để đo lường tốt hơn sự tiến bộ cá nhân
- Cung cấp các phương tiện đánh giá: Các mục tiêu thiết lập một nền tảng cho việc đo lường trước mức độ mà cán bộ công đoàn cơ sở nhận được một kỹ năng mong muốn hay là có thể thực hiện một chức năng mong ước
- Hỗ trợ trong việc lựa chọn các tài liệu, nội dung, phương pháp
Trang 29* Đánh giá nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng
Đánh giá nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng là một cách xác định hiệu quả những khoảng trống giữa các kỹ năng mà tổ chức cần và những kỹ năng mà cán bộ công đoàn
cơ sở của tổ chức hiện có Nó thu thập các thông tin để xác định những lĩnh vực mà cán
bộ công đoàn cơ sở có thể nâng cao năng lực thực thi Có thể sử dụng các cuộc điều tra
từ cán bộ công đoàn cơ sở, những quan sát từ phía nhà quản lý và những nhận xét của khách hàng, thông qua các cuộc họp của tổ chức và việc kiểm tra để thu thập thông tin
Đánh giá nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng có thể giúp tổ chức phân loại các mục tiêu của tổ chức trong việc thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ công đoàn cơ sở
Nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng xuất hiện ở những nơi có khoảng trống giữa kiến thức, kỹ năng, yêu cầu với những kiến thức và kỹ năng mà cán bộ công đoàn cơ sở hiện đang có Khoảng trống được xác định thông qua quá trình phân tích nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng.Người quản lý cũng có thể thực hiện đào tạo, bồi dưỡng để đáp ứng nhu cầu hiện tại và trong tương lai của tổ chức, hoặc tuyển dụng những người
có kỹ năng, kiến thức và kinh nghiệm cần thiết đặc biệt
1.2.3.2 Xây dựng chương trình, kế hoạch đào tạo và bồi dưỡng
Việc xây dựng kế hoạch đào tạo cán bộ đối với cán bộ công đoàn cơ sở nhằm đảm bảo tạo nguồn, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công đoàn cơ sở để thực hiện nhiệm vụ trước mắt và lâu dài
* Căn cứ xây dựng kế hoạch đào tạo
- Căn cứ vào quy hoạch cán bộ (các chức danh cán bộ lãnh đạo, cán bộ chủ chốt, cán bộ nguồn) và tình hình thực tế của đơn vị để xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cho từng năm và cả nhiệm kỳ, từng bước tiêu chuẩn hoá cán bộ công đoàn theo Luật cán bộ công chức, viên chức
- Căn cứ vào thực trạng đội ngũ cán bộ công đoàn cơ sở của địa phương và yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới
* Yêu cầu xây dựng kế hoạch đào tạo
- Xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng phải đáp ứng được yêu cầu trước mắt và lâu dài Cần coi trọng hình thức đào tạo tại chức và ngắn hạn cho đội ngũ cán bộ công đoàn cơ sở
Trang 30- Kết hợp đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ với việc quy hoạch, bố trí, sử dụng sau đào tạo và đảm bảo chính sách chế độ đối với cán bộ
- Cử cán bộ đi đào tạo phải đảm bảo theo kế hoạch đã lập Việc cử cán bộ đi đào tạo, bồi dưỡng đảm bảo không ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ sản xuất của các tổ chức, doanh nghiệp Tạo điều kiện bồi dưỡng nâng cao năng lực cán bộ gắn với thực tiễn
* Lập kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng
Lập kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng và danh sách cán bộ thuộc diện đào tạo, bồi dưỡng báo cáo Ban Thường vụ, cấp uỷ đảng và thống nhất với chuyên môn để tạo điều kiện hỗ trợ tổ chức thực hiện
Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng là dự kiến những nội dung đào tạo, bồi dưỡng quan trọng đối với cán bộ công đoàn cơ sở trong từng thời gian cụ thể; Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cần đảm bảo xây dựng mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng, kế hoạch thực hiện và kiểm tra Nếu kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng xây dựng khoa học, phù hợp với điều kiện thực tiễn đáp ứng được yêu cầu, nguyện vọng của cán bộ công đoàn, thì sẽ là cơ sở để tổ chức thực hiện có hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng
Do vậy, xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng có vai trò hết sức quan trọng Nói một cách khác, lập kế hoạch xoay quanh việc xây dựng những mục tiêu,thời gian, đối tượng đào tạo, bồi dưỡng, giải pháp thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng của
tổ chức trên cơ sở phân tích vị trí của tổ chức trong môi trường hoạt động của nó
Tức là sau khi xác định nhu cầu, nhà quản lý phải đưa ra mục tiêu cho chương trình đào tạo, bồi dưỡng Mục tiêu đưa ra phải chính xác, có thể đạt được và
là tiêu chuẩn để đánh giá tính hiệu quả của chương trình đào tạo, bồi dưỡng
- Lựa chọn đối tượng đào tạo, bồi dưỡng: Để đào tạo, bồi dưỡng được một
người cán bộ công đoàn cơ sở là khá tốn kém, vì vậy, trước khi thực hiện chương trình đào tạo, bồi dưỡng phải xác định, lựa chọn đối tượng được cho đi đào tạo, bồi dưỡng Trước hết, người đó phải nằm trong số nhu cầu cần đào tạo, bồi dưỡng, sau
đó xem xét động cơ học tập của họ có muốn được tham gia khoá đào tạo, bồi dưỡng hay không? Tuy nhiên, cũng phải xem xét đến khả năng học tập của từng đối tượng,
có thể do trình độ thấp hoặc tuổi cao nên không có khả năng tiếp thu bài học thì không nên lựa chọn
Trang 31- Xác định mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng: Tức là xác định kết quả hy vọng đạt
được khi chương trình được thực hiện
- Yêu cầu khi xác định mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng và phát triển: Phải xuất
phát từ nhu cầu và mục tiêu phải rõ ràng, cụ thể, phục vụ được cho việc đánh giá
- Nội dung của đào tạo, bồi dưỡng: Kỹ năng cụ thể cần đào tạo và trình độ
có được sau đào tạo, bồi dưỡng; số lượng và cơ cấu học viên và thời gian đào tạo
+ Chuẩn hoá theo quy định của Luật Công đoàn; nâng chuẩn trình độ đào tạo cho đội ngũ cán bộ công đoàn cơ sở
+ Bổ sung, cập nhật kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ, đổi mới phương pháp làm việc, về vị trí, vai trò đại diện bảo vệ quyền lợi người lao động của cán bộ công đoàn cơ sở trong trong thời kỳ hội nhập quốc tế
+ Hướng dẫn phương pháp nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ
+ Phổ cập ngoại ngữ, tin học và kiến thức về quản lý hành chính nhà nước, quản lý nhân lực…
Xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công đoàn cơ sở cần đáp ứng các yêu cầu sau:
- Xác định đúng nhu cầu cần thiết cho từng đối tượng cán bộ (từ cơ sở trở lên) để xây dựng kế hoạch, nội dung đào tạo, bồi dưỡng cho từng năm và cả nhiệm
kỳ, tránh trùng lập Yêu cầu nội dung phải được xây dựng sát với tình hình thực tế của tổ chức
- Trong nhiệm kỳ, mọi vị trí chức danh ở từng cấp, đều được tập huấn nghiệp
vụ và cập nhật kiến thức mới để phục vụ cho công tác, trên cơ sở phân công, phân cấp trách nhiệm cho từng cấp
- Nội dung tập huấn, bồi dưỡng gồm các nghị quyết, chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, kiến thức quản lý kinh tế, quản lý Nhà nước, các chuyên đề lý luận và nghiệp vụ công tác công đoàn, các nghị quyết, văn bản của công đoàn các cấp…
- Công đoàn các tổ chức, doanh nghiệp sẽ chịu trách nhiệm xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công đoàn và chỉ đạo tổ chức thực hiện thống nhất trong toàn Ngành
Trang 32* Phân cấp trách nhiệm tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công đoàn
- Công đoàn huyện chịu trách nhiệm tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ công đoàn là: Uỷ viên Ban Chấp hành, Uỷ viên Uỷ ban kiểm tra đồng cấp, Chủ tịch, Phó Chủ tịch, cán bộ chủ chốt phụ trách các chuyên đề thuộc các tổ chức, doanh nghiệp
- Công đoàn các tổ chức, doanh nghiệp chịu trách nhiệm quản lý, tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng cho cán bộ công đoàn là: Uỷ viên Ban Chấp hành, Uỷ viên
Uỷ ban kiểm tra đồng cấp, Chủ tịch, Phó chủ tịch, cán bộ chủ chốt phụ trách các chuyên đề các công đoàn cơ sở trực thuộc
- Công đoàn cơ sở chịu trách nhiệm quản lý, tổ chức bồi dưỡng từ tổ trưởng,
tổ phó đến Uỷ viên Ban Chấp hành, Uỷ viên Uỷ ban kiểm tra công đoàn cơ sở
1.2.3.3 Tổ chức thực hiện kế hoạch đào tạo và bồi dưỡng
- Công đoàn các tổ chức, doanh nghiệp phải xác định đây là nhiệm vụ trọng tâm trong hoạt động của mình Do vậy, khi tổ chức thực hiện phải báo cáo với cấp
uỷ Đảng, đồng thời tập trung chỉ đạo, xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công đoàn theo phân cấp quản lý và tổ chức thực hiện
- Việc xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ phải căn cứ vào tình hình, đặc điểm cụ thể của đơn vị, chất lượng đội ngũ cán bộ và nhu cầu sử dụng cán
bộ Phải xác định rõ mục tiêu, dự trù kinh phí cho đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công đoàn theo nghị quyết 4a/NQ – TLĐ của Đoàn Chủ Tịch Tổng liên đoàn Dự kiến phân cấp quản lý, phân công cán bộ chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện
- Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công đoàn do Ban Thường vụ (Ban Chấp hành) công đoàn các cấp (từ cơ sở trở lên) trực tiếp quản lý và tổ chức thực hiện Hàng năm, căn cứ vào việc thực hiện kế hoạch và nhu cầu nguồn nhân lực để Ban Thường vụ công đoàn các cấp xem xét và bổ sung kế hoạch
- Các đơn vị có trách nhiệm tổ chức đào tạo, bồi dưỡng và cử cán bộ trong diện quản lý đi đào tạo, bồi dưỡng theo kế hoạch đã được xây dựng; báo cáo đánh giá chất lượng và kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng vào đầu tháng 11 hàng năm (Qua Ban công tác cơ sở ) để tập hợp báo cáo Ban Thường vụ và Tổng Liên Đoàn
Trang 33Các nội dung cụ thể của công tác tổ chức thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công đoàn cơ sở như sau:
Khi thực hiện kế hoạch đào tạo cần xem xét các bước trình tự xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng; trên cơ sở phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ chọn một số bước thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công đoàn cơ sở
- Tổ chức cơ cấu bộ máy thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng
Đội ngũ giảng viên là những yếu tố chủ yếu tạo ra sự thành bại trong quá trình đào tạo, bồi dưỡng và phát triển đội ngũ cán bộ công đoàn cơ sở
Đội ngũ giảng viên bao gồm có giảng viên của trường Đại học Công đoàn Việt Nam, giảng viên là cán bộ của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, giảng viên kiêm chức của Liên đoàn Lao động tỉnh, giảng viên của các trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện tuỳ từng lớp, đối tượng và thời gian của mỗi lớp mà lựa chọn đội ngũ giảng viên hay địa điểm cử đi đào tạo, bồi dưỡng, hình thức đào tạo cho phù hợp
- Phương pháp đào tạo, bồi dưỡng
Những mô hình đào tạo khác nhau dựa trên những phương pháp đào tạo, bồi dưỡng khác nhau Bảng dưới đây sẽ hướng dẫn phương pháp đào tạo, bồi dưỡng được sử dụng trong mỗi một mô hình đào tạo
Bảng 1.2 Mô tả mô hình và phương pháp đào tạo
Mô hình đào tạo, bồi dưỡng Phương pháp đào tạo, bồi dưỡng
Theo dõi công việc Quan sát/ Đặt câu hỏi
Thu thập kinh nghiệm Khám phá
Học hỏi công khai Sử dụng sáng tạo/ khám phá
Lớp học buổi tối Nghe/ đặt câu hỏi
Cạnh tranh chất lượng Sử dụng sáng tạo/ khám phá
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp
Trang 34Có thể lựa chọn đào tạo, bồi dưỡng gắn với thực hành hoặc đào tạo không gắn với thực hành Qua sự chọn lựa đó, có hai nhóm phương pháp đào tạo, bồi dưỡng là đào tạo, bồi dưỡng trong công việc (đào tạo, bồi dưỡng tại chỗ) và đào tạo, bồi dưỡng ngoài công việc tuy nhiên trong quá trình đào tạo cũng cần lựa chọn phương pháp và hình thức đạo tạo, bồi dưỡng cho phù hợp đối với cán bộ công đoàn cơ sở cần tập trung vào các hình thức và phương pháp sau:
Cử đi học ở các trường chính quy: Với những nghề phức tạp, đòi hỏi trình độ cao, tổ chức có thể sử dụng người lao động đi học ở trường dậy nghề có thể trong vài tháng hoặc lên tới vài năm Học viên có thể phải tự bỏ tiền ra đi học nếu xét thấy lợi ích to lớn của công việc đi học hoặc tổ chức hỗ trợ một phần học phí Phương pháp này cũng trang bị tương đối đầy đủ kiến thức cả lý thuyết và thực hành cho học viên Đây là phương pháp đào tạo, bồi dưỡng có hệ thống nhất, mang lại kiến thức toàn diện nhất, tuy nhiên chi phí rất tốn kém;
Các bài giảng, các hội nghị hoặc các hội thảo: Phương pháp này áp dụng cho cán bộ quản lý nhiều hơn, các doanh nghiệp có thể định kỳ tổ chức các cuộc hội thảo, hội nghị nhằm trao đổi kiến thức, kinh nghiệm làm việc Buổi hội thảo có thể đuợc tổ chức riêng hoặc kết hợp với chương trình đào tạo, bồi dưỡng khác Học viên sẽ thảo luận theo từng chủ đề dưới sự hướng dẫn của người lãnh đạo nhóm, qua đó họ học được những kiến thức, kinh nghiệm cần có
Mô hình hoá hành vi: Đây là phương pháp diễn các vở kịch được thiết kế sẵn
để mô hình hoá các hành vi hợp lý trong các tình huống đặc biệt
Đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng xử lý công văn giấy tờ: Đây là phương pháp đào tạo, bồi dưỡng được áp dụng cho cán bộ quản lý, giúp họ nhanh chóng có kỹ năng làm việc và ra quyết định Nhưng đôi khi có thể gây ra những thiệt hại cho tổ chức
và ảnh hưởng tới công việc của bộ phận
- Hình thức đào tạo, bồi dưỡng
Đào tạo, bồi dưỡng có các hình thức như: đào tạo chính quy tập trung, đào tạo tại chức vừa làm vừa học, đào tạo từ xa, kèm cặp tại chỗ…
Để đổi mới nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công đoàn trước hết phải coi đào tạo là nhiệm vụ, biện pháp cơ bản và thường xuyên nhằm tiêu chuẩn hoá và nâng cao năng lực trình độ cán bộ công đoàn
Trang 35Xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng trên cơ sở chiến lược và quy hoạch tổng thể
Từ kế hoạch này, từng địa phương, đơn vị xây dựng kế hoạch cụ thể gắn với nhu cầu thực tiễn của nhiệm vụ và quy hoạch sử dụng cán bộ, đồng thời cần đổi mới nội dung, chương trình, giáo trình, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng theo hướng thiết thực đáp ứng yêu cầu Đào tạo, bồi dưỡng theo sát tiêu chuẩn chức danh, ngạch bậc song cũng cần có trọng tâm, trọng điểm tuỳ theo yêu cầu và đặc điểm của từng địa phương, đơn vị để có chương trình, nội dung, hình thức hợp lý
Về hình thức đào tạo, bồi dưỡng cần kết hợp chặt chẽ các loại hình: chính quy; dài hạn; tại chức; đào tạo từ xa và tự đào tạo; đào tạo trong nước và đào tạo ở nước ngoài Theo Nghị định 18/2010/NĐ-CP ngày 05/3/2010 của Chính phủ về đào tạo bồi dưỡng công chức có các hình thức tổ chức đào tạo, bồi dưỡng gồm: Tập trung; Bán tập trung; Vừa làm vừa học; Từ xa
Hình thức đào tạo, bồi dưỡng xuất phát từ đặc điểm của cán, công chức hiện nay các cơ sở lựa chọn hình thức thích hợp đối với từng loại cán bộ Hiện nay loại hình đào tạo tổng hợp đang được áp dụng phổ biến, bao gồm các chương trình đào tạo, bồi dưỡng chuyên viên, chuyên viên chính, chuyên viên cao cấp Nội dung được
cụ thể hoá theo từng lĩnh vực từng vấn đề kinh tế, xã hội, đây là hình thức đào tạo, bồi dưỡng nhằm chuẩn bị cho đội ngũ kế cận, cốt cán của tương lai, cùng với nó có thể nghiên cứu duy trì tổ chức các lớp chuyên sâu, ít người hơn và thời gian đào tạo, bồi dưỡng ngắn hơn, các lớp chuyên ở đây được hiểu là các lớp chuyên về chức nghiệp giành cho những người có chức danh công chức (chức danh công đoàn) như nhau hoặc gần nhau Các loại lớp chuyên như các lớp chuyên ngành quản lý nhà nước
về kinh tế cho cán bộ thuộc các lĩnh vực quản lý, lớp chuyên ngành quản lý hành chính nhà nước cho cán bộ công chức chính quyền các cấp hoặc lớp giành cho chủ tịch công đoàn cơ sở, lớp chuyên về công tác kiểm tra, chuyên về bảo hộ lao động…Chuyên về nội dung và chú trọng vào các yêu cầu kiến thức, kỹ năng mang tính đặc trưng cụ thể, tránh tình trạng đại trà chung chung Ở các lớp chuyên sâu về nội dung sẽ có điều kiện nâng cao kiến thức và kỹ năng chuyên môn mà thực tế công việc của học viên đòi hỏi nhấn mạnh vào tính thực tiễn và kỹ năng thực thi công vụ đồng thời có thể giảm bớt thời lượng bài giảng những kiến thức chưa thật cần thiết
Trang 36Các hình thức đào tạo, bồi dưỡng phổ biến là đào tạo tại chỗ và đào tạo bên ngoài; đào tạo tại chỗ bao gồm thuyên chuyển công tác cán bộ qua nhiều công việc khác nhau, thường xuyên áp dụng với cán bộ lãnh đạo, nhằm mở rộng kiến thức, họ
sẽ tìm hiểu những chức năng khác nhau; bố trí vào việc “trợ lý”, các vị trí hay thường được đào tạo để mở rộng tầm nhìn của người học qua việc cho phép học làm việc với những người có kinh nghiệm, hình thức này có hiệu quả khi người quản lý cấp trên có trình độ để dẫn dắt và phát triển người học cho đến khi họ gánh vác được toàn bộ trách nhiệm; đề bạt tạm thời với cán bộ quản lý hoặc tham gia vào các
uỷ ban, hội đồng để họ có cơ hội tiếp cận với những người có kinh nghiệm và họ làm quen với nhiều vấn đề khác nhau, học hỏi được nhiều kinh nghiệm
Đào tạo, bồi dưỡng tại chỗ là công việc luôn được tiến hành nhằm thường xuyên nâng cao trình độ của cán bộ đáp ứng nhu cầu thay đổi công việc và cập nhật những thay đổi hàng ngày hàng giờ của hệ thống thông tin và kiến thức khoa học
Đào tạo, bồi dưỡng không gắn với thực hành là phương pháp đào tạo theo chương trình, được đào tạo từ bên trong hoặc tổ chức từ các tổ chức giáo dục, đào tạo hay các hiệp hội nghề nghiệp Hình thức này đảm bảo tính hệ thống, tính khoa học, có bài bản, có kế hoạch Tuy nhiên nó không hoặc ít gắn với thực tế công việc
do đó hiệu quả đào tạo không cao
- Dự tính chi phí đào tạo, bồi dưỡng
Đây là một trong những vấn đề then chốt trong việc ra quyết định đào tạo, bồi dưỡng Những đơn vị, tổ chức có kinh phí giành cho đào tạo, bồi dưỡng người lao động hạn hẹp thì chọn phương pháp đào tạo ít tốn kém nhưng vẫn hiệu quả Vì để thực hiện được một khoá đào tạo cần phải dự tính rất nhiều chi phí: Chi phí cho người dạy; Chi phí cho người học; Chi phí quản lý; Chi phí phương tiện dạy và học…
Nếu không dự tính được trước các khoản chi này, đơn vị, tổ chức sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình đào tạo, bồi dưỡng Do vậy, cần phải dự tính trước
1.2.3.4 Kiểm tra, đánh giá hoạt động đào tạo và bồi dưỡng
Đào tạo, bồi dưỡng đóng vai trò quan trọng trong mọi tổ chức nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi mà đất nước đang chuyển biến nhanh chóng theo nhu cầu hội nhập, toàn cầu hoá thì đào tạo trở nên cần thiết và là một quá trình liên tục, không dứt Nhà quản trị phải luôn kiểm tra, đánh giá chương trình đào tạo, bồi
Trang 37dưỡng đã đáp ứng nhu cầu và mục tiêu của tổ chức đề ra hay chưa Ngoài ra, còn đánh giá hiệu quả kinh tế của các chương trình này mang lại bằng cách so sánh kết quả trước và sau khi quá trình đào tạo được thực hiện
Giai đoạn này tập trung vào đánh giá hiệu quả của một chương trình đạo tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn đề ra Nói chung giai đoạn đánh giá này đều bị lờ đi do một số khó khăn, thí dụ khó thu thập được các số liệu cần thiết để đánh giá, không có thời gian phân tích kết quả đào tạo hoặc lợi ích của đào tạo khó có thể quy về đơn vị tiền tệ
Tuy nhiên ở giai đoạn này, nếu có những khó khăn nói trên ít nhất nhà quản
lý cũng nên ước lượng những lợi ích và chi phí của một chương trình đào tạo Không có những thông tin này giá trị của một chương trình đào tạo, bồi dưỡng sẽ không được chứng minh và các nhà quản lý cấp cao sẽ cảm thấy không có lý do nào
để tiếp tục các nỗ lực đào tạo, bồi dưỡng
Đánh giá thực hiện chương trình đào tạo, bồi dưỡng: Khi kết thúc một chương trình đào tạo, bồi dưỡng phải đánh giá việc thực hiện chương trình đào tạo, bồi dưỡng xem có đạt kết quả như mục tiêu đặt ra hay không Từ đó tìm ra mặt mạnh, mặt yếu để tăng cường và khắc phục cho đợt sau Việc thực hiện chương trình đào tạo, bồi dưỡng được đánh giá qua ba góc độ:
Đánh giá xem mục tiêu của đào tạo, bồi dưỡng đã đạt đến đâu: so sánh trước
và sau đào tạo, bồi dưỡng
Đánh giá xem mặt mạnh, mặt yếu của quá trình đào tạo, bồi dưỡng Để từ đó rút ra bài học làm cơ sở cho đợt đào tạo, bồi dưỡng sau
Đánh giá hiệu quả kinh tế của chương trình và phát triển: so sánh lợi ích đạt được với chi phí bỏ ra
Để thực hiện việc đánh giá, thường lấy thông tin từ kết quả học tập, từ thăm
dò ý kiến của người học và người dạy; sau đó so sánh kết quả thực hiện của người
đi học trước và sau quá trình đào tạo bằng cách thăm dò ý kiến của người quản lý trực tiếp bộ phận có người đi đào tạo
Trong thực tế, các bước được thực hiện song song với nhau, hỗ trợ và điều chỉnh lẫn nhau Đây là vai trò quan trọng của phòng (ban) tổ chức, cùng với sự ủng
hộ của các phòng ban khác
Trang 38Kiểm tra, giám sát và quản lý là hoạt động nhằm nắm chắc thông tin, diễn biến về tư tưởng, hoạt động của cán bộ, công chức giúp cho cấp ủy và thủ trưởng phát hiện vấn đề nảy sinh, kịp thời điều chỉnh và giúp cho cán bộ, công chức luôn hoạt động đúng hướng, đúng nguyên tắc Qua đó có chế độ thưởng phạt nghiêm minh, ngăn chặn cái xấu, tiêu cực, phát huy những nhân tố tích cực, đồng thời nắm vững thực trạng của cán bộ, công chức và là cơ sở để làm tốt công tác quy hoạch, đào tạo và sử dụng bố trí cán bộ
Thực tế cho thấy có một số cán bộ khi mới được đề bạt, bổ nhiệm, mới được bầu cử là những người tốt, có đạo đức, trung thành, tận tụy, liêm khiết, có uy tín đối với đồng bào nhân dân địa phương Song trong quá trình hoạt động thiếu tu dưỡng, rèn luyện học tập, không được quản lý tốt dần dần thoái hóa, biến chất, sa ngã Trong một số điều kiện, vì lòng tham, vì công tác quản lý bị buông lỏng dẫn đến việc vi phạm vào lợi ích của Nhà nước và nhân dân Điều đó, có phần thiếu sót của công tác kiểm tra, giám sát và quản lý cán bộ Mặt khác, một số cán bộ, công chức cấp xã hiện nay còn trẻ, năng lực có, phẩm chất có, tuy nhiên họ lại chưa tận tâm với công việc, họ ngại làm, ham chơi nên khi được cấp trên giao nhiệm vụ họ thường lơ là, không tập trung giải quyết công việc, lại không được giám sát, kiểm tra, đôn đốc thường xuyên dẫn đến công việc không hoàn thành hoặc hoàn thành nhưng chất lượng không cao Điều này cũng do một phần thiếu sót trong công tác quản lý, kiểm tra, giám sát cán bộ
Qua đây cho thấy công tác kiểm tra, giám sát, quản lý và bảo vệ cán bộ có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cán bộ, công chức cấp cơ sở
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý đào tạo bồi dưỡng cán bộ công đoàn cơ sở
1.3.1 Các yếu tố khách quan
1.3.1.1 Cơ chế,chính sách của Nhà nước
* Pháp luật, chính sách của nhà nước
Đây là yếu tố ảnh hưởng rất lớn tới công tác quản lý đào tạo và bồi dưỡng CBCĐCS, là cơ sở, là kim chỉ nam định hướng dẫn dắt và là nền tảng cho mọi hoạt động trong việc đào tạo và bồi dưỡng Theo Luật công đoàn năm 2012 quy định: Cơ
Trang 39quan, tổ chức, doanh nghiệp có trách nhiệm bố trí nơi làm việc và tạo điều kiện về phương tiện làm việc cần thiết cho công đoàn cùng cấp hoạt động
Cán bộ công đoàn không chuyên trách được sử dụng 24 giờ làm việc trong một tháng đối với Chủ tịch, Phó Chủ tịch công đoàn cơ sở; 12 giờ làm việc trong 01 tháng đối với Ủy viên Ban chấp hành, Tổ trưởng, Tổ phó tổ công đoàn để làm công tác công đoàn và được đơn vị sử dụng lao động trả lương Tuỳ theo quy mô cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp mà Ban Chấp hành công đoàn cơ sở và đơn vị sử dụng lao động thoả thuận về thời gian tăng thêm
Cán bộ công đoàn không chuyên trách được nghỉ làm việc và được hưởng lương do đơn vị sử dụng lao động chi trả trong những ngày tham dự cuộc họp, tập huấn do công đoàn cấp trên triệu tập; chi phí đi lại, ăn ở và sinh hoạt trong những ngày tham dự cuộc họp, tập huấn do cấp công đoàn triệu tập chi trả
Cán bộ công đoàn không chuyên trách do đơn vị sử dụng lao động trả lương, được hưởng phụ cấp trách nhiệm cán bộ công đoàn theo quy định của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam
Cán bộ công đoàn chuyên trách do Công đoàn trả lương, được đơn vị sử dụng lao động bảo đảm quyền lợi và phúc lợi tập thể như người lao động đang làm việc trong cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp
1.3.1.2 Hội nhập quốc tế
Hoạt động công đoàn hiện nay diễn ra trong điều kiện nước ta đang trong giai đoạn hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng
Tác động của các nhân tố “nước ngoài” đối với hoạt động công đoàn, với cán
bộ, đoàn viên, công nhân, lao động là rất sâu sắc, cả mặt tích cực và tiêu cực Bởi vậy công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công đoàn nói chung và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công đoàn cơ sở nói riêng cần có những điều chỉnh phù hợp với điều kiện hoàn cảnh mới Hội nhập quốc tế có tác động trên nhiều phương diện từ khoa học, công nghệ hiện đại được du nhập, người lao động có thể tiếp cận, sử dụng; vốn đầu
tư nước ngoài để mở rộng sản xuất, đến sự du nhập tri thức của các nền văn minh thế giới như các nọi dung, cách thức nâng cao hiệu quả đào tạo và bồi dưỡng
Trang 40Quan hệ lao động, nhất là quan hệ lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trở nên phức tạp, tranh chấp lao động và đình công luôn rình rập
và có xu hướng tăng lên, xuất hiện một số vụ đình công lớn, vượt ra ngoài khuôn khổ doanh nghiệp
Đặc biệt, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế cũng đưa đến những tư tưởng đa chiều Không ít công nhân bị ảnh hưởng bởi những dòng văn hóa không lành mạnh Lập trường giai cấp, ý thức chính trị của một số công nhân bị giảm sút, phai nhạt niềm tin vào Đảng và Nhà nước, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội
Quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế đã và đang tạo ra những cơ hội mới đồng thời cũng đưa đến nhiều thách thức cho cán bộ công đoàn và hoạt động công đoàn Trong thời đại mở cửa hội nhập với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học thì các phương tiện truyền thông (điện thoại, internet, báo hình, báo mạng ) mà người lao động có thể khai thác, sử dụng là đa chiều Trong các khối thông tin khổng lồ
đó, nếu không có chính sách, định hướng đúng đắn, người lao động vốn ít hiểu biết, rất dễ dàng tiếp thu những mặt tiêu cực của các sản phẩm văn hóa tư sản phương Tây, không phù hợp với truyền thống văn hóa dân tộc
Theo kết quả khảo sát của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, trên 95% số cán bộ công đoàn có điện thoại, trong đó hơn 50% số điện thoại có thể nghe nhạc, truy cập internet Thông qua các phương tiện thông tin, CNLĐ không chỉ được cập nhật các thông tin liên quan đến tình hình chính trị, thời sự, văn hóa, xã hội trong nước, ngoài nước một cách nhanh chóng, thuận tiện
Qua tiếp thu thông tin, cán bộ công đoàn có sự đồng nhất tương đối giữa quan niệm đạo đức và quy tắc ứng xử của một cộng đồng với những quan niệm đạo đức và ứng xử mang tính quốc tế Điều này đặt ra cho cán bộ công đoàn những nhiệm vụ phức tạp hơn, cần tiếp thu và sử lý thông tin đa chiều, đa dạng hơn Do đó, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công đoàn cũng cần đổi mới về cả nội dung và hình thức
1.3.1.3 Vai trò của chính quyền địa phương
Công đoàn là yếu tố cấu thành hệ thống chính trị, là tổ chức chính trị- xã hội của người lao động, cùng với chính quyền chăm lo và bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của cán bộ công chức, viên chức, tổ chức động viên người lao động thực hiện một cách tốt nhất nhiệm vụ công tác của của đơn vị Mối quan hệ giữa chính