Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất của gà 6 Ngón nuôi tại xã Mai Pha – thành phố Lạng Sơn tỉnh Lạng Sơn (LV thạc sĩ)Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất của gà 6 Ngón nuôi tại xã Mai Pha – thành phố Lạng Sơn tỉnh Lạng Sơn (LV thạc sĩ)Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất của gà 6 Ngón nuôi tại xã Mai Pha – thành phố Lạng Sơn tỉnh Lạng Sơn (LV thạc sĩ)Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất của gà 6 Ngón nuôi tại xã Mai Pha – thành phố Lạng Sơn tỉnh Lạng Sơn (LV thạc sĩ)Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất của gà 6 Ngón nuôi tại xã Mai Pha – thành phố Lạng Sơn tỉnh Lạng Sơn (LV thạc sĩ)Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất của gà 6 Ngón nuôi tại xã Mai Pha – thành phố Lạng Sơn tỉnh Lạng Sơn (LV thạc sĩ)Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất của gà 6 Ngón nuôi tại xã Mai Pha – thành phố Lạng Sơn tỉnh Lạng Sơn (LV thạc sĩ)Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất của gà 6 Ngón nuôi tại xã Mai Pha – thành phố Lạng Sơn tỉnh Lạng Sơn (LV thạc sĩ)Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất của gà 6 Ngón nuôi tại xã Mai Pha – thành phố Lạng Sơn tỉnh Lạng Sơn (LV thạc sĩ)Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất của gà 6 Ngón nuôi tại xã Mai Pha – thành phố Lạng Sơn tỉnh Lạng Sơn (LV thạc sĩ)
Trang 1NGUYỄN KHÁNH TOÀN
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC
VÀ KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA GÀ 6 NGÓN NUÔI
TẠI XÃ MAI PHA THÀNH PHỐ LẠNG SƠN
- TỈNH LẠNG SƠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHĂN NUÔI
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 2NGUYỄN KHÁNH TOÀN
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC
VÀ KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA GÀ 6 NGÓN NUÔI
TẠI XÃ MAI PHA THÀNH PHỐ LẠNG SƠN
- TỈNH LẠNG SƠN
Chuyên ngành : Chăn nuôi
Mã số: 60.62.01.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHĂN NUÔI
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Liên
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu và kết quả trình bày trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Khánh Toàn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ và được tạo điều kiện thuận lợi từ nhiều cá nhân và tập thể
Trước hết tôi xin nói lời cảm ơn chân thành nhất tới người hướng dẫn
khoa học: TS Nguyễn Thị Liên; cô đã giúp đỡ tận tình và trực tiếp hướng dẫn
tôi trong suốt thời gian tôi thực hiện nghiên cứu đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn các ý kiến đóng góp và hướng dẫn của các thầy, cô giáo trong Khoa Chăn nuôi Thú y, phòng Đào tạo – Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên trong suốt thời gian học tập
Xin cảm ơn tới bà con nông dân xã Mai pha, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi theo dõi và thu thập số liệu làm cơ sở cho luận văn
Tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này./
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên,ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Khánh Toàn
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3
1.1.1 Phân loại và nguồn gốc gia cầm 3
1.1.2 Cơ sở nghiên cứu một số đặc điểm sinh học ở gia cầm 4
1.1.3 Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu sự di truyền các tính trạng ở gia cầm 5 1.1.4 Các tính trạng ở gia cầm và các yếu tố ảnh hưởng 7
1.1.5 Một số đặc điểm của gà 6 ngón 21
1.1.6 Một số đặc điểm tự nhiên của xã Mai Pha – Lạng Sơn 22
1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 24
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 24
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 26
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 29
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 29
2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 29
2.1.3.Thời gian thực hiện luận văn: từ tháng 8/2015 - 8/2016 29
Trang 62.2 Nội dung nghiên cứu 29
2.2.1 Nghiên cứu về số lượng, cơ cấu, quy mô đàn gà 6 ngón nuôi tại xã Mai Pha – Lạng Sơn 29
2.2.3 Nghiên cứu khả năng sinh sản của gà 6 ngón 29
2.2.4 Nghiên cứu về tỷ lệ nuôi sống, khả năng sinh trưởng và chất lượng thịt của gà 6 ngón 29
2.3 Phương pháp nghiên cứu 30
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu tình hình chăn nuôi của gà 6 ngón tại xã Mai Pha – Lạng Sơn 30
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm sinh học của gà 6 ngón 30
2.3.3 Phương pháp nghiên cứu khả năng sinh sản của gà 6 ngón 30
2.3.4 Phương pháp nghiên cứu khả năng sinh trưởng và chất lượng thịt của gà 6 ngón 33
2.5 Phương pháp xử lý số liệu 36
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 37
3.1 Số lượng, cơ cấu và sự phân bố đàn gà 6 ngón tại xã Mai Pha – Lạng Sơn37 3.1.1 Biến động về số lượng gà nuôi tại xã Mai Pha qua 3 năm 37
3.1.2 Cơ cấu đàn gà theo giống nuôi tại xã Mai Pha – Lạng Sơn năm 2016 38
3.1.3 Quy mô đàn gà 6 ngón nuôi trong nông hộ tại xã Mai Pha 40
3.1.4 Nguồn gốc nhân giống đàn gà 6 ngón nuôi tại xã Mai Pha – Lạng Sơn 41
3.2 Một số chỉ tiêu về đặc điểm sinh học của gà 6 ngón nuôi tại xã Mai Pha – Lạng Sơn 42
3.2.1 Đặc điểm màu lông 42
3.2.2 Đặc điểm kiểu mào 44
3.2.3 Đặc điểm ngón và màu chân 47
3.2.4 Tập tính sinh hoạt của giống gà 6 ngón nuôi tại xã Mai Pha – Lạng Sơn 49
3.3 Một số chỉ tiêu thành thục về tính và sinh sản của giống gà 6 ngón nuôi tại xã Mai Pha – Lạng Sơn 51
3.3.1 Chỉ tiêu về thành thục sinh dục 51
Trang 73.3.2 Tỷ lệ đẻ, năng suất, chất lượng trứng và tỷ lệ ấp nở của gà 6 ngón 52 3.4 Kết quả theo dõi tỷ lệ nuôi sống và khả năng sinh trưởng của gà 6 ngón
nuôi tại xã Mai Pha – Lạng Sơn 60
3.4.1 Tỷ lệ nuôi sống 60
3.4.2 Khả năng sinh trưởng của gà 6 ngón nuôi tại xã Mai Pha – Lạng Sơn 62 3.4.3 Khả năng cho thịt của gà 6 ngón lúc 28 tuần tuổi 68
3.4.4 Một số thành phần hóa học của thịt gà 6 ngón 71
3.4.5 Hàm lượng một số axit amin của thịt gà 6 ngón 74
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78 PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Tuổi đẻ quả trứng đầu của một số giống gà Việt Nam 8
Bảng 1.2: Thành phần cấu tạo trứng của một số giống gia cầm (%) 13
Bảng 1.3: Hệ số di truyền của tính trạng khối lượng ở gà 17
Bảng 1.4 Hàm lượng các chất dinh dưỡng có trong thịt của một số loài gia cầm……… 21
Bảng 2.1 Đánh giá chất lượng trứng theo đơn vị Haugh: 32
Bảng 2.2 Sơ đồ thí nghiệm theo dõi khả năng sinh trưởng gà 6 ngón 33
Bảng 3.1 Số lượng gà nuôi tại xã Mai Pha qua 3 năm (2014 – 2016) 37
Bảng 3.2 Cơ cấu phân bố đàn gà theo giống nuôi tại xã Mai Pha 39
Bảng 3.3 Quy mô đàn gà 6 ngón tại xã Mai Pha 40
Bảng 3.4 Nguồn gốc nhân giống đàn gà 6 ngón nuôi tại xã Mai Pha 41
Bảng 3.5 Đặc điểm màu lông của gà 6 ngón trưởng thành 42
Bảng 3.6 Kiểu mào của gà 6 ngón trưởng thành 45
Bảng 3.7 Số ngón 2 bên chân của gà 6 ngón trưởng thành 47
Bảng 3.8 Màu da chân của gà 6 ngón trưởng thành 48
Bảng 3.9 Tập tính sinh hoạt của gà 6 ngón 49
Bảng 3.10 Một số chỉ tiêu về tuổi thành thục sinh dục gà 6 ngón 52
Bảng 3.11 Chỉ tiêu về tỷ lệ đẻ và năng suất trứng 53
Bảng 3.12 Một số chỉ tiêu chất lượng trứng của gà 6 ngón 55
Bảng 3.13 Các chỉ tiêu ấp nở của gà 6 Ngón 58
Bảng 3.14 Tỷ lệ nuôi sống của gà 6 ngón qua các tuần tuổi (%) 61
Bảng 3.15 Sinh trưởng tích lũy của gà 6 ngón 64
Bảng 3.16 Sinh trưởng tương đối và tuyệt đối của gà 6 ngón 66
Bảng 3.17 Khảo sát thành phần thân thịt của gà 6 ngón lúc 28 tuần tuổi 69
Bảng 3.18 Phân tích một số thành phần hóa học của thịt đùi và thịt ngực gà 6 ngón lúc 28 tuần tuổi 73
Bảng 3.19 Phân tích hàm lượng một số axit amin của thịt gà 6 ngón lúc 28 tuần tuổi 74
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1: Một số màu lông gà 6 ngón 44
Hình 3.2: Một số kiểu mào gà 6 ngón 47
Hình 3.3: Chân gà 6 ngón lúc mới nở 48
Hình 3.4: Chân gà 6 ngón 20 tuần tuổi 48
Hình 3.5 Đồ thị tỷ lệ đẻ của gà 6 ngón 54
Hình 3.6: Ấp nở gà 6 ngón 60
Hình 3.7: Đồ thị sinh trưởng tích lũy của gà 6 ngón 65
Hình 3.8: Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của gà 6 ngón 67
Hình 3.9 Đồ thị sinh trưởng tương đối của gà 6 ngón 68
Hình 3.10: Gà 6 ngón mổ khảo sát 71
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Ngày nay khi kinh tế đất nước phát triển, mức sống của người dân ngày càng được nâng cao Con người không chỉ có nhu cầu về số lượng mà còn có nhu cầu cao về chất lượng sản phẩm chăn nuôi nói chung và sản phẩm gia cầm nói riêng Trên thực tế những gen quy định những tính trạng
có chất lượng cao về thịt và trứng của gia cầm lại thường là những giống
gà địa phương mang đầy đủ các đặc điểm của phẩm giống nguyên thủy hay phẩm giống quá độ Các gen này phải trải qua hàng nghìn năm tiến hóa và chọn lọc tự nhiên mới hình thành được như ngày nay Nếu để mất đi những gen này chúng ta sẽ không có cơ hội khôi phục lại khi ta cần để phục vụ cho chính mục đích của chúng ta Vì thế bảo tồn các nguồn gen quý hiếm và sử dụng tốt quỹ gen vật nuôi đang là vấn đề thu hút được sự quan tâm của các nhà khoa học
Gắn với câu chuyện truyền thuyết trên núi Tản Viên (Ba Vì – Hà Nội) với lời thách cưới của Vua Hùng “Voi chín ngà, Gà chín cựa, Ngựa chín hồng mao” Có một loài gia cầm được chọn làm lễ vật gả công chúa, một loài gia cầm mà nhân dân chỉ tin có trong truyền thuyết đó là gà chín cựa Ngày nay loài gà này đã xuất hiện ở một số vùng miền của Tổ quốc với những tên gọi theo cách gọi của người dân địa phương Người dân vùng đất tổ Phú Thọ gọi loài gà này là gà Đa Cựa, còn người dân vùng Mẫu Sơn - Lạng Sơn gọi loài
gà này là gà 6 ngón Loài gà này từ khi mới nở đã có nhiều ngón chân, các ngón chân mọc thành chùm ở cổ chân gần với vị trí cựa của các giống gà khác Gà được nuôi chăn thả tự nhiên, chủ yếu sống trên đồi, quanh các thửa ruộng bậc thang, tối mới tìm về chuồng ngủ Nguồn thức ăn chính là các côn trùng sống ngoài tự nhiên do gà tự tìm kiếm được, một phần là ngô, thóc và các sản phẩm phụ nông nghiệp khác
Gà 6 ngón là gà quý hiếm của đỉnh núi Mẫu Sơn – Lạng Sơn, nay đã được nuôi phổ biến với diện rộng ở các xã như Mai Pha, Yên Trạch, Công Sơn và một số xã lân cận khác, theo kết quả nghiên cứu, bảo tồn chọn lọc và phát triển của đề tài Đề án Bảo tồn nguồn gen vật nuôi quốc gia do Viện Chăn
Trang 12Nuôi thực hiện với sự hỗ trợ của FAO, Tổ chức nghiên cứu phát triển Đức (DFG) thông qua Chương trình nghiên cứu hỗ trợ vùng cao (Uplands Program) miền núi Đông Nam Châu Á, nhưng chưa được bảo tồn ở mức an toàn, hiện tại số lượng ít, phân tán, tỷ lệ nuôi sống thấp, thường bị lai tạp và khả năng đồng huyết cao
Trên thực tế có rất ít tài liệu, tổng kết viết về gà 6 ngón và cũng còn rất ít
đề tài nghiên cứu về nó Để góp phần cung cấp thêm các số liệu khoa học cho việc đánh giá khẳng định giá trị của gà 6 ngón, cho các nghiên cứu tiếp theo trên loài gà quý này cũng như góp phần nâng cao chất lượng, số lượng và bảo tồn loài gà này tại địa phương, nhằm xóa đói giảm nghèo cho đồng bào dân
tộc ở các xã, thôn, bản, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất của gà 6 Ngón nuôi tại xã Mai Pha – thành phố Lạng Sơn - tỉnh Lạng Sơn” Từ đó có cơ sở khuyến
cáo vào thực tế sản xuất
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá được đặc điểm sinh học, sức sống, khả năng sinh trưởng, sinh sản và khả năng sản xuất của gà 6 ngón nuôi tại xã Mai Pha - Lạng Sơn
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1 Phân loại và nguồn gốc gia cầm
1.1.1.1 Phân loại
Theo Nguyễn Văn Thiện (1995) [45], gà thuộc:
- Giới (Kingdom): Animal
Gà nhà hiện nay có nguồn gốc từ gà rừng Gallus Gallus, gà được nuôi ở
Ấn Độ khoảng 2000 năm trước công nguyên Theo Nguyễn Mạnh Hùng và cs (1994) [14] ở Việt Nam gà được nuôi cách đây 3000 năm Theo Đặng Hữu Lanh và cs (1999) [25], gà rừng có thể chia thành 3 loại kiểu hình sau:
+ Kiểu Bankiva (gà nguyên thủy): Lông nhiều, dán vào mình, ức nở, mào và dái tai lớn, mỏ hơi cong, dài và nhọn
+ Kiểu Mã Lai (gà chọi): Ít lông, cấu trúc lông cứng, mào và dái tai nhỏ, đầu nhỏ, mắt lõm vào hốc mắt, mỏ ngắn, khỏe
+ Kiểu Cochin: Nhiều lông, bồng, nhiều lông tơ, mào và dái tai vừa, tai nhỏ màu đỏ, mỏ tương đối ngắn
Theo Mignon-Grasteau S và cs (2005) [80] cho biết phía Nam lục địa Châu Á, trải dài từ bắc Ấn Độ đến duyên hải miền nam Trung Quốc là chiếc nôi quan trọng trong việc thuần hóa các giống vật nuôi Ở đây có khá nhiều loại vật nuôi được thuần hóa như: lợn, gà, ngỗng, vịt, trâu, bò
Ở nước ta, cho đến nay các công trình nghiên cứu về nguồn gốc của gà chưa thật đầy đủ, nhưng sơ bộ có thể nói nước ta là một trong những trung tâm thuần hóa gà đầu tiên của vùng Đông Nam Á Gà nhà ở nước ta bắt
nguồn từ gà rừng Gallus banquiva
Trang 14Như vậy, thông qua các di chỉ khảo cổ với các niên đại khác nhau cho
phép khẳng định Gallus banquiva là tổ tiên các giống gà nhà hiện nay Có
nhiều tài liệu chứng minh rằng gà được thuần hóa đầu tiên ở Đông Nam Á và
từ đây phân bố đi khắp thế giới Trải qua hàng nghìn năm thuần hóa và không ngừng chọn lọc đã hình thành các giống gà địa phương thích nghi tốt với điều kiện riêng biệt của các nước khác nhau, đồng thời hình thành nên các giống
gà theo hướng sản xuất khác nhau như hiện nay
1.1.2 Cơ sở nghiên cứu một số đặc điểm sinh học ở gia cầm
1.1.2.1 Ngoại hình của gia cầm
Gà có dạng điển hình của lớp chim (aves), một động vật có xương sống bậc cao đã thích ứng với điều kiện sống bay nhảy Toàn thân được bao phủ bằng lông và yếm Lông cườm và lông trên lưng có sự khác biệt giữa trống và mái
Ở gia cầm màu sắc lông rất đa dạng Màu lông phụ thuộc vào sự biểu hiện dưới dạng hạt hay phân bố đều của sắc tố melanin và dạng dịch của sắc
tố lipocrom Sắc tố melanin quy định từ màu cafe - vàng đến màu đen; còn lipocrom quy định màu vàng, đỏ, xanh hoặc xanh sẫm Ở gia cầm màu sắc lông khác nhau có thể chia làm 2 nhóm lớn là lông màu và lông trắng
Mào là đặc điểm sinh dục thứ cấp nên có thể phân biệt trống mái Mào
gà rất đa dạng cả về hình dáng, kích thước, màu sắc, có thể đặc trưng cho từng giống theo hình dạng mào người ta phân biệt các loại: mào cờ, mào hạt đậu, mào mâm xôi, mào nụ
Chân của gia cầm được bao phủ bằng lớp vảy sừng và có sự khác nhau
về màu sắc Chân vàng là do sự có mặt của lipocrom đồng thời thiếu vắng melanin Màu đen của chân là do sự xuất hiện của melanin Khi màu đen có mặt ở thể trội và màu vàng có mặt ở thể lặn thì chân sẽ xuất hiện màu lục (xanh lá cây)
1.1.2.2 Sức sống và khả năng kháng bệnh
Sức sống và khả năng kháng bệnh của gia cầm là yếu tố quan trọng giúp cho chăn nuôi đạt hiệu quả Tổn thất do dịch bệnh ở gia cầm là rất lớn nên cần phải có những biện pháp ngăn chặn, phòng ngừa để giảm bớt tổn thất đó
Trang 15Marco A.S và cs (1992) (dẫn Theo Hoàng Toàn Thắng, 1996) [50] cho biết: sức sống được thể hiện ở thể chất và xác định trước hết bởi khả năng có tính di truyền ở động vật có thể chống lại những ảnh hưởng không thuận lợi của môi trường cũng như ảnh hưởng của dịch bệnh
Theo Ngô Giản Luyện (1994) [24] thì mối liên quan giữa chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu đối với sức sống và sản lượng trứng được Kotris và cs tại Viện Thú y Matxcơva (1988) xác định: Số lượng bạch cầu trong máu gà Hybro liên quan đến sức sống và sản lượng trứng, những gà mái có số lượng bạch cầu cao giai đoạn 60 - 110 ngày thì tương ứng với sức sống và sản lượng trứng cao Theo Gavano J.F (1990) [77] hệ số di truyền tỷ lệ chết ở gia cầm là 0,07; hệ
số di truyền của sức kháng bệnh là 0,25 Robertson A và Lerner I.M (1949) [84] xác định hệ số di truyền tỷ lệ nuôi sống và sức kháng bệnh thấp, phụ thuộc vào dòng, giống, giới tính và phụ thuộc nhiều nhất vào yếu tố nuôi dưỡng
Theo Lê Viết Ly (1995) [28] động vật thích nghi tốt thể hiện ở sự giảm khối lượng cơ thể thấp nhất khi bị stress, có sức sinh sản tốt, sức kháng bệnh cao, sống lâu và tỷ lệ chết thấp Nguyễn Văn Thiện và Nguyễn Khánh Quắc (1995) [45] cho biết hệ số di truyền sức sống của gà là 0,33
Phan Cự Nhân và cs (1998) [39] cho biết khi điều kiện sống thay đổi (thức ăn, thời tiết, khí hậu, quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng,…), gà lông màu
có khả năng thích ứng tốt với môi trường sống
Theo Nguyễn Thị Khanh và cs (2000) [20] nghiên cứu trên gà Tam Hoàng cho biết, dòng 882 có tỷ lệ nuôi sống đến 6 tuần tuổi đạt 96,15 % - 20 tuần tuổi đạt 95,55 % và dòng Jiangcun các tỷ lệ nuôi sống đến 6 tuần tuổi đạt 96,85 %, 7 - 20 tuần tuổi đạt 95,91 %
1.1.3 Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu sự di truyền các tính trạng ở gia cầm
Sự hình thành và phát triển của các cá thể động vật nói chung hay gia cầm nói riêng là đồng nghĩa với quá trình hình thành và phát triển của các tính trạng di truyền Vì vậy bản chất của sự di truyền đó là sự truyền đạt các tính trạng (Character) của bố mẹ cho đời con (Nguyễn Văn Thiện và Nguyễn Khánh Quắc, 1998) [47]
Các tính trạng ở gia súc, gia cầm là vô cùng phong phú và đa dạng, Theo quan điểm di truyền học hiện đại thì sự di truyền các tính trạng của gia súc nói chung hay gia cầm nói riêng chịu sự tác động của qui luật di truyền
các tính trạng số lượng (Quantitative characteristic) hay còn gọi là các tính
trạng năng suất và qui luật di truyền của các tính trạng chất lượng
(Qualitative characteristic) (Nguyễn Ân, 1994) [2]
Trang 161.1.3.1 Bản chất di truyền của các tính trạng chất lượng
Tính trạng chất lượng là tính trạng được quy định bởi một hay vài cặp gen
có hiệu ứng lớn (major gene) Theo Brandsch H và Biichell H (1978) [5] cho
biết các tính trạng chất lượng không bị hoặc ít bị tác động của môi trường, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng và là tính trạng có hệ số di truyền khá cao Di truyền học đối với tính trạng chất lượng tuân theo ba định luật di truyền cơ bản của Mendel đó là: Định luật tính trội (hay định luật đồng nhất), định luật phân ly (hay còn gọi là định luật giao tử thuần khiết), và định luật di truyền độc lập của các tính trạng (hay còn gọi là tổ hợp tự do của hai hay nhiều cặp tính trạng)
Vì vậy sự di truyền các tính trạng chất lượng có vai trò vô cùng quan trọng trong công tác giống nó đảm bảo sự bền vững của các tính trạng mang tính đặc trưng cho giống và loài qua các thế hệ
1.1.3.2 Bản chất di truyền của các tính trạng số lượng
Tính trạng số lượng hay còn gọi là các tính trạng năng suất đó là những tính trạng mà khi nghiên cứu sự di truyền của nó chúng ta phải thông qua sự
đo lường biểu hiện kiểu hình các tính trạng ấy như: Sản lượng trứng, kích thước các chiều đo, tốc độ tăng trọng…
Theo Nguyễn Văn Thiện và Nguyễn Khánh Quắc (1998) [47] Sự biểu hiện bên ngoài của các đặc tính của cơ thể được gọi là kiểu hình (Phenotype – P), nó được qui định bởi giá trị kiểu gen (Genotype value – G) và sự sai lệch môi trường (Environment value – E) Ta có thể biểu diễn mối quan hệ này bằng công thức sau:
P = G + E
Biểu hiện kiểu hình được quyết định bởi giá trị kiểu gen: Để so sánh với các tính trạng chất lượng, giá trị kiểu gen của tính trạng năng suất do nhiều gen có hiệu ứng nhỏ (minor gene) cấu tạo thành Tuy rằng hiệu ứng của từng gen riêng biệt là rất nhỏ, nhưng nếu tập hợp nhiều gen nhỏ sẽ có ảnh hưởng rõ rệt tới tính trạng nghiên cứu Hiện tượng này được gọi là hiện tượng đa gen (Poly gene) Thành phần của giá trị kiểu gen bao gồm:
- Giá trị cộng gộp A (addictive value) hay giá trị giống (breeding value) Đây chính là thành phần vô cùng quan trọng của kiểu gen vì nó mang tính bền vững và có thể di truyền cho các thế hệ sau
Trang 17- Sai lệch trội D (dominance deviation) Đó là sự khác nhau giữa giá trị kiểu gen G và giá trị giống A của một kiểu gen nào đó Sai lệch trội được tạo
ra từ tác động qua lại giữa các cặp alen ở trong cùng một lô cút (đặc biệt là cả cặp alen dị hợp tử) và đó là thành phần duy nhất mà người ta có thể xác định được từ sự đo lường các tính trạng ở quần thể Ta có thể biểu diễn như sau :
G = A + D
- Sai lệch tương tác I (interaction deviation) hoặc sai lệch át gen (epstatic deviation) : Đó là kiểu sai lệch khi kiểu gen được cấu thành từ hai lô cút trở lên do đó giá trị kiểu gen có thêm một sai lệch từ sự tương tác giữa các gen thuộc các lô cút khác nhau
Biểu hiện kiểu hình của các tính trạng số lượng còn chịu sự tác động rất lớn của điều kiện ngoại cảnh, môi trường – E (environment) Có hai loại sai lệch môi trường chính đó là :
- Sai lệch môi trường chung Eg (general deviation) là nhân tố tác động lên cả đời con vật hay tác động lên toàn thân con vật một cách lâu dài và liên tục tới một nhóm các cá thể hay một quần thể Do đó sự sai lệch này là sai lệch giữa các nhóm, giữa các cá thể Điều này cũng đúng như C.Darwin (1941) đã viết : Cơ thể động vật trong tự nhiên có thể thay đổi theo nhiều hướng khác nhau dưới ảnh hưởng của những điều kiện sống lâu dài của nó (Trích theo Trần Đình Miên và cs, 1975) [32]
- Sai lệch môi trường riêng Es (special – deviation) : Các sai lệch do nhân tố môi trường tác động riêng rẽ đến một vài bộ phận khác nhau đối với từng cá thể riêng biệt trong một nhóm vật nuôi hay một quần thể và chỉ xảy ra trong một giai đoạn ngắn ở trạng thái khác nhau
Có thể hiểu được khi kiểu hình của một cá thể được cấu tạo từ hai lô cút trở lên thì giá trị biểu hiện kiểu hình của nó được biểu thị như sau :
P = A + D + I + Eg + Es
Tóm lại, theo quan điểm sinh vật học thì sự biểu hiện kiểu hình được quyết định bởi kiểu gen và điều kiện ngoại cảnh Hay nói một cách khác năng suất các giống vật nuôi nói chung, gia cầm nói riêng là kết quả tác động của yếu tố di truyền và điều kiện môi trường
1.1.4 Các tính trạng ở gia cầm và các yếu tố ảnh hưởng
1.1.4.1 Các chỉ tiêu về sức sinh sản của gia cầm
a, Khả năng sinh sản của gia cầm
Trang 18Sinh sản của gia cầm là hoạt động bản năng mang đặc điểm đặc trưng cho loài đó là xảy ra quá trình thụ tinh trong, con mái sinh sản bằng cách đẻ trứng và gia cầm non được sinh ra bằng cách ấp nở ở môi trường bên ngoài cơ thể mẹ Theo Neumeister H (1978) [38] thì khả năng sinh sản của gia cầm có liên quan và ảnh hưởng tới ba khía cạnh:
- Ảnh hưởng đến sự sinh tinh, từ đó ảnh hưởng đến sự thụ tinh và chất lượng phôi
- Ảnh hưởng đến quá trình hình thành trứng trong cơ thể gà mái do đó ảnh hưởng đến sức đẻ trứng
- Tác động lên chất lượng của trứng và từ đó ảnh hưởng đến tỷ lệ nở Khả năng sinh sản của gia cầm ở các giống, loài, từng cá thể khác nhau thì khác nhau Kết quả nghiên cứu của Bùi Đức Lũng và cs (1994) [22] trên
gà Mía và gà Đông Tảo và kết quả của Nguyễn Thị Thu (1998) [54] trên Ngỗng cỏ đã chỉ rõ điều này
b, Tuổi đẻ quả trứng đầu
Tuổi đẻ quả trứng đầu tiên là thời điểm tại đó gia cầm bắt đầu thành thục
về tính
Tuổi đẻ quả trứng đầu là chỉ tiêu đánh giá sự thành thục về sinh dục
có liên quan và phụ thuộc vào hai yếu tố chính đó là: nhân tố di truyền và ngoại cảnh
- Các nhân tố ngoại cảnh như: điều kiện thời tiết, khí hậu và độ dài ngày chiếu sáng, nếu phù hợp gia cầm sẽ có tuổi thành thục sinh dục sớm hơn
- Nhân tố di truyền đó là sự qui định của loài, giống và trọng lượng cơ thể Những gia cầm thuộc giống bé, thể trọng nhẹ thường có tuổi thành thục sinh dục sớm hơn so với những gia cầm có thể trọng lớn hơn (Bảng 1.1)
Bảng 1.1 Tuổi đẻ quả trứng đầu của một số giống gà Việt Nam
Trang 19Theo Brandsch H và Biichell H (1978) [5]: Hệ số di truyền tuổi đẻ quả trứng đầu tiên của gà là: h2 = 0,14 – 0,15 Giữa tuổi thành thục sinh dục và kích thước cơ thể gia cầm có mối tương quan nghịch Nếu chọn lọc theo hướng tăng về khối lượng quả trứng sẽ dẫn đến sự tăng khối lượng cơ thể gà mẹ và tăng tuổi đẻ quả trứng đầu tiên
Ngoài ra các nhân tố như thức ăn, hướng sản xuất, và kỹ thuật nuôi dưỡng cũng gây ảnh hưởng lớn Trong cùng một giống cá thể nào được chăm sóc nuôi dưỡng tốt hơn sẽ có tuổi thành thục sinh dục sớm hơn
c, Sức đẻ trứng
Sức đẻ trứng là bản năng của gia cầm nó là một trong những chỉ tiêu quan trọng phục vụ cho mục đích của con người Đối với gia cầm đây là chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh sản của loài, giống đó
Theo Brandsch H và Biichell H (1978) [5] cho rằng có năm yếu tố ảnh hưởng đến sức đẻ trứng trong một năm đẻ:
- Tuổi bắt đầu đẻ trứng hay tuổi bắt đầu thành thục đây là yếu tố có tương quan nghịch với kích thước cơ thể
- Chu kỳ đẻ trứng hay cường độ đẻ trứng là sức đẻ trong một thời gian ngắn nó có tương quan chặt với sức đẻ trứng cả năm (r = 0,46)
- Tần số thể hiện bản năng đòi ấp Đây là đặc điểm phụ thuộc nhiều vào yếu tố di truyền song ảnh hưởng của môi trường cũng rất rõ rệt
- Thời gian nghỉ đẻ cũng gây ảnh hưởng lớn đến sản lượng trứng trong một năm Tuy nhiên nó cũng bị ảnh hưởng bởi điều kiện môi trường như: thời tiết mùa vụ, chế độ dinh dưỡng
- Thời gian đẻ kéo dài hay tính ổn định của sự đẻ trứng
Ngoài ra khả năng đẻ trứng còn phụ thuộc vào các yếu tố khác như giống, tuổi đẻ, trạng thái sinh lý, đặc điểm của từng cá thể (Bùi Đức Lũng và
cs, 1995) [23]
d, Năng suất trứng và các yếu tố ảnh hưởng
Năng suất trứng gia cầm là số trứng thu được của mỗi đàn, mỗi mái đẻ trong một khoảng thời gian nào đó, có thể là một tháng, một mùa, sau một năm tuổi, sau một năm đẻ hay cả một đời mái đẻ
Trang 20Năng suất trứng là đặc điểm di truyền học số lượng Tác giả Nguyễn Văn Thiện và Nguyễn Khánh Quắc (1998) [47] cho biết sản lượng trứng có hệ số
độ dinh dưỡng, tiểu khí hậu chuồng nuôi, chế độ chiếu sáng trong ngày, cách quản lý chăm sóc của con người
* Ảnh hưởng của dòng giống:
Đây là một trong những yếu tố có ảnh hưởng quyết định trực tiếp đến năng suất trứng gia cầm Với mỗi loài sản lượng trứng chỉ giao động trong giới hạn nhất định và mang đặc trưng riêng cho loài, giống đó Năng suất trứng còn phụ thuộc vào các giống gia cầm, hướng sản xuất Giống gà Goldline là giống chuyên trứng có sản lượng trứng là 220 – 280 quả/năm Gà Rôt Ri là giống gà kiêm dụng đạt 150 quả/năm (Trương Lăng và Nguyễn Hiền, 1995) [21]
* Ảnh hưởng của tuổi:
Tuổi gia cầm có liên quan chặt chẽ và ảnh hưởng đến năng suất trứng của gia cầm Mối tương quan giữa năng suất trứng và tuổi đẻ của gia cầm phụ thuộc vào loài Theo một quy luật năng suất trứng gia cầm thay đổi theo tuổi
và năm đẻ của gia cầm Theo nghiên cứu của tác giả N.V.Pigarev (1977); G.P.Iochius và N.I.Statikov (1979): năng suất trứng của gà thường cao nhất ở những năm đẻ đầu tiên còn những năm sau giảm dần từ 10% - 20% so với những năm trước (Nguyễn Bạch Yến, 1997) [73]
* Ảnh hưởng của mùa vụ:
Mùa vụ cùng với thời tiết, khí hậu, gây ảnh hưởng rất rõ rệt đến năng suất trứng của gia cầm đặc biệt đối với gia cầm chăn nuôi theo phương thức chăn thả tự do Vào mùa hè nhiệt độ tăng lên cao năng suất trứng gia cầm thường giảm nhưng mùa thu và mùa đông năng suất trứng lại tăng cao hơn Chế độ chiếu sáng phù hợp có thể làm tăng năng suất trứng của gia cầm Theo M.Moris cho rằng chế độ chiếu sáng làm kích thích cơ thể gia cầm tiết ra hoormon FSH từ tuyến yên, từ đó kích thích sự phát triển của bao noãn Tác giả Lweddeckens M, (1978) [26] cho rằng độ dài ngày chiếu sáng thích hợp cho gia cầm đẻ trứng là 13h – 14h/ ngày
Trang 21Nhiệt độ được quyết định theo mùa vụ nó là yếu tố vô cùng quan trọng ảnh hưởng đến sức đẻ trứng gia cầm Khi nhiệt độ ở giới hạn cao cơ thể gia cầm phải tăng khả năng thải nhiệt và đồng thời lượng thức ăn vào giảm do khả năng tiêu hóa giảm dẫn đến số lượng và khối lượng trứng sẽ giảm Khi nhiệt độ ở giới hạn thấp gia cầm phải tốn năng lượng cho duy trì nhiệt độ cơ thể dẫn đến sức đẻ của gia cầm cũng giảm (Nguyễn Duy Hoan và cs, 1999) [16]
Theo tác giả Lweddeckens M (1978) [26] cho biết rằng nhiệt độ thích hợp nhất để gia cầm đạt được năng suất trứng tối đa là 10 – 180C
* Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng và kỹ thuật nuôi dưỡng chăm sóc quản lý:
Khẩu phần thức ăn cũng là yếu tố không kém phần quan trọng ảnh hưởng đến năng suất trứng gia cầm Sự mất cân đối hàm lượng các chất trong khẩu phần ăn làm giảm năng suất trứng Nếu thiếu hụt một số chất muối khoáng hay một số chất có hoạt tính sinh học cao có thể gây cho gia cầm phản
xạ ngừng đẻ ( Auaas R.và Wilke R 1978) [1]
Lê Thị Thúy (1996) [55] cho biết sự thiếu hụt một số chất khoáng như canxi, photpho sẽ là nguyên nhân gây ra tỷ lệ mềm vỏ, dập vỡ trứng cao Năng lượng cũng là yếu tố quyết định đến năng suất trứng nếu năng lượng quá cao sẽ gây tình trạng quá béo cho gia cầm làm giảm phản xạ nhảy ổ, nếu quá thấp sẽ gây tình trạng gầy sút của cơ thể và làm giảm sản lượng trứng
Gà 6 ngón là loài gà được nuôi chăn thả tự nhiên và được con người sử dụng với những mục đích khác nhau nên kỹ thuật nuôi dưỡng cũng được khai thác theo nhiều hướng khác nhau Đối với đàn gà sinh sản và đàn gà hướng thịt thì việc thỏa mãn nhu cầu dinh dưỡng khác nhau là nhằm để có sản lượng thịt và chất lượng trứng cao
1.1.4.2 Đặc điểm sinh học trứng gia cầm
a, Khối lượng trứng
Khối lượng trứng phụ thuộc vào hình dạng trứng bao gồm các chỉ tiêu như: Dài trứng, rộng trứng, khối lượng lòng trắng, khối lượng lòng đỏ và khối lượng vỏ (Awang, 1984) [74]
Theo kết quả nghiên cứu của Pingel H (1986) [83] cho biết: khối lượng trứng
có tương quan âm so với sản lượng trứng (r = - 0,36) và có tương quan dương so với tuổi thành thục về tính dục (r = 0,35) và với khối lượng cơ thể (r = 0,31)
Trang 22Nguyễn Mạnh Hùng và cs (1994) [14] cho biết: ở các loài khác nhau khối lượng trứng của chúng cũng khác nhau và phụ thuộc rất nhiều yếu tố sản lượng trứng, kích thước quả trứng, chu kỳ đẻ trứng
Khối lượng trứng gia cầm thuộc nhóm tính trạng số lượng nhưng do di truyền quyết định nhiều hơn có hệ số di truyền khá cao h2 = 0,6 – 0,74 và chịu ảnh hưởng của rất nhiều gen tác động lên tính trạng này (Nguyễn Văn Thiện
- Tỷ số giữa chiều dài và rộng trứng (được gọi là chỉ số hình dạng)
- Tỷ lệ % giữa chiều rộng và chiều dài trứng
Theo Nuemeister H (1978) [38] thì người ta dùng chỉ số này để đánh giá chất lượng của vỏ trứng Chỉ số này nếu lệch nhiều so với khoảng dao động cho phép sẽ có nguy cơ dập vỡ trứng cao
Ở gà chỉ số hình dạng dao động trong khoảng (1,32 – 1,67) Trị số này ở mỗi loài gia cầm khác nhau là khác nhau (Tạ An Bình và cs, 1985) [4]
Xecgeev V.A (1984) cho biết: Tính trạng hình dạng ở trứng gia cầm gồm nhiều gen qui định và số gen cũng không giống nhau ở các loài gia cầm Tác giả cũng cho biết ở gà số gen này là 78 – 84 gen, ở vịt là 61 – 63 gen (Nguyễn Minh Quang, 1994) [41]
Theo quan điểm của Rwillson H (1991) cho rằng có sự tương quan di truyền giữa chỉ số hình dạng với tỷ lệ ấp nở và sự phát triển của phôi Tác giả còn cho biết những quả trứng quá tròn hoặc quá dài thường cho tỷ lệ ấp nở thấp (Nguyễn Thị Bạch Yến, 1997) [73]
Nguyễn Văn Thiện và Nguyễn Khánh Quắc (1998) [47]: đã cho biết hình dạng trứng có hệ số di truyền khá cao (h2 = 0,6) Sự biến dạng của hình dạng trứng là không rõ rệt và không bị ảnh hưởng hay biến động bởi yếu tố môi trường hay mùa vụ
Trang 23c, Thành phần cấu tạo trứng
Bảng 1.2: Thành phần cấu tạo trứng của một số giống gia cầm (%)
Trứng gia cầm là một tế bào sinh dục đặc biệt bao gồm các thành phần
vỏ cứng, màng, lòng trắng và lòng đỏ Ở mỗi loài mỗi giống khác nhau thì tỷ
lệ giữa các phần là khác nhau và mỗi phần có các chức năng riêng biệt đảm bảo cho sự tồn tại duy trì trao đổi chất của tế bào trứng (Bảng 1.2)
Lớp thứ hai là 2 lớp màng mỏng ngay sát dưới lớp vỏ cứng có khả năng đàn hồi đóng vai trò quan trọng trong quá trình trao đổi khí của tế bào trứng
Tỷ lệ vỏ trứng có tương quan tỷ lệ thuận với độ dày vỏ trứng nếu tỷ lệ vỏ cao thì độ dày vỏ cũng cao và ngược lại
Ngoài yếu tố di truyền thì khối lượng vỏ trứng phụ thuộc vào tuổi gia cầm, thời tiết khí hậu, mùa vụ, tình trạng cơ thể gia cầm, và đặc biệt là chế độ dinh dưỡng Giữa độ bền vỏ trứng và độ dày vỏ có mối tương quan chặt r =
Trang 240,5 – 0,9 Tác giả J.Pikul (1995) đã cho biết: tỷ lệ vỏ của trứng vịt cao hơn trứng gà nên độ bền của vỏ trứng vịt cao hơn (Trần Huê Viên, 1999) [68] Màu sắc của vỏ trứng chỉ có ý nghĩa đối với biểu hiện tính đặc trưng cho giống gia cầm, nó không có ý nghĩa đối với sự quyết định chất lượng vỏ trứng hay chất lượng trứng Màu sắc của vỏ trứng chỉ có ý nghĩa khi dùng để đáp ứng nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng (Brandsch H và Biichell H 1978) [5]
* Lòng trắng:
Là phần tiếp giáp ngay với lớp màng mỏng nó bao bọc toàn bộ lòng đỏ, đây là thành phần chiếm tỷ lệ cao nhất trong trứng gia cầm Theo Nguyễn Duy Hoan và cs (1998) [15] lòng trắng trứng gà chiếm khoảng 56% khối lượng trứng và bao gồm 2 phần: Lòng trắng đặc và lòng trắng loãng
Khối lượng lòng trắng cũng là một chỉ tiêu để đánh giá chất lượng lòng trắng Wegner (1990) đã tính được hệ số di truyền của khối lượng lòng trắng là h2 = 0,27 Ngoài ra chất lượng lòng trắng còn bị chi phối bởi các yếu tố như giống, tuổi, thức ăn, chăm sóc và nuôi dưỡng (Nguyễn Đức Hưng, 1992) [12]
Để đánh giá chất lượng lòng trắng người ta còn dùng đơn vị Haugh (HU) như là một trị số để so sánh Theo Singh R.A (1992) [86] thì trong cùng một điều kiện những trứng có khối lượng tương đương trứng nào có độ cao lòng trắng đặc cao hơn thì sẽ có HU cao hơn, chứng tỏ chất lượng trứng tốt hơn
Nguyễn Duy Hoan và cs (1999) [16] cho biết: Đơn vị HU của trứng đạt chất lượng loại 1 là từ 72 – 80
Awang (1984) [74] đã cho biết khối lượng trứng có tương quan rõ rệt với khối lượng lòng trắng (r = 0,86), với khối lượng lòng đỏ (r = 0,71), với khối lượng vỏ (r = 0,48), với chỉ số lòng trắng (r = - 0,43) và với chỉ số lòng đỏ (r = - 0,3)
* Lòng đỏ:
Lòng đỏ là tế bào trứng đặc biệt được bao bọc bởi một lớp màng mỏng
có tính đàn hồi và có tính thẩm thấu chọn lọc để thực hiện trao đổi chất giữa lòng trắng và lòng đỏ Ở chính giữa lòng đỏ chứa lõi lòng đỏ màu nhạt
và phần trên cùng của lòng đỏ là đĩa phôi có mang vật chất di truyền trong
đó chứa đầy đủ thông tin di truyền của giống, loài với vai trò là một tế bào
Trang 25sinh dục cái Tạ An Bình và cs (1985) [4] cho biết rằng chỉ số này trên gà Ri
là 0,43 và theo Nguyễn Văn Trụ (2000) [52] ở gà Mèo chỉ số này là 0,46
d, Khả năng thụ tinh và tỷ lệ nở
* Sự thụ tinh:
Nguyễn Văn Thiện và Nguyễn Khánh Quắc (1998) [47] đã cho biết: Sự thụ tinh là một quá trình trong đó các giao tử (Gamete) tức là trứng và tinh trùng đã hợp nhất lại thành một hợp tử (Zygote) Tác giả cũng cho biết hệ số
di truyền của tỷ lệ thụ tinh ở gia cầm là tương đối thấp với h2 = 0,11 – 0,13 Berneir, Taylor và Guns (1951) đã cho biết sự thích ứng của cá thể trong giao phối có ý nghĩa lớn với sự thụ tinh Có những cá thể trống sự thụ tinh cao với mái này nhưng lại đạt tỷ lệ rất thấp với con mái khác Giao phối cận huyết cũng là nguyên nhân gây ra tỷ lệ thụ tinh giảm (Lê Thị Thúy, 1996) [55]
Tỷ lệ trống mái hợp lý cũng làm nâng cao tỷ lệ thụ tinh Theo Nguyễn Duy Hoan và cs (1998) [15] tỷ lệ trống mái hợp lý là từ 8 – 10 mái/trống Thông qua sự thụ tinh các nhà chọn giống có thể đánh giá sức sinh sản của đời bố mẹ
* Tỷ lệ ấp nở:
Tỷ lệ ấp nở của gia cầm được xác định bằng tỷ lệ phần trăm số gia cầm nở
ra so với tổng số trứng có phôi hoặc so với tổng số trứng ấp Tỷ lệ nở cũng do một vài gen chi phối nhưng nó bị ảnh hưởng bởi điều kiện môi trường rất lớn Schuberth L và Ruhland R (1978) [42]; Khummenk T và cs, (1990) [78] đã cho thấy khối lượng quả trứng, tỷ lệ giữa lòng đỏ và lòng trắng trứng,
độ dày vỏ xốp của vỏ trứng có ảnh hưởng gián tiếp đến tỷ lệ ấp nở Tỷ lệ ấp
nở cao ở trứng có khối lượng trung bình, trứng quá to hoặc quá nhỏ đều dẫn đến tỷ lệ nở thấp
Theo Neumeister H (1978) [38] cho thấy rằng trong khẩu phần ăn cho gia cầm hàm lượng protein nếu thấp hơn 12% đã gây ảnh hưởng xấu đến kết quả nở Bên cạnh đó phương thức ấp và chế độ ấp cũng là yếu tố gây ảnh hưởng,
ấp trứng nhân tạo thường có tỷ lệ nở thấp hơn so với ấp tự nhiên Ở gia cầm hoặc ngay trong cùng một giống hay cùng một đàn bản năng ham ấp của những gia cầm khác nhau cũng dẫn đến tỷ lệ nở khác nhau Thậm chí phương thức thu nhận bảo quản trứng, vệ sinh thú y, kỹ thuật hay mùa vụ cũng là
Trang 26nhân tố quyết định đến tỷ lệ nở của trứng gia cầm (Nguyễn Đăng Vang và cs, 1997) [65]
1.1.4.3 Sinh trưởng và các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng
a, Khái niệm sinh trưởng
Theo Gartner (1992) đã định nghĩa: Sinh trưởng là kết quả của sự phân chia tế bào và sự tăng lên về thể tích tế bào nhằm duy trì sự sống trong cơ thể sinh vật (Trần Đình Miên và cs, 1992) [33]
Trần Đình Miên và cs (1975) [32] đã cho rằng: Đứng về phương diện sinh học thì sinh trưởng là quá trình tích lũy các chất hữu cơ do đồng hóa và
dị hóa là sự tăng lên về chiều cao, chiều dài, bề ngang, thể tích, khối lượng của các bộ phận trên cơ thể gia súc, quá trình này dựa trên cơ sở tính chất di truyền từ thế hệ trước
Mozan (1977) đã định nghĩa sinh trưởng là kết quả tích lũy của các bộ phận trên cơ thể như thịt, xương, da (Chambers I.R, 1990) [75]
Sinh trưởng của gia súc luôn gắn liền với phát dục đó là quá trình thay đổi chất lượng, là sự tăng lên và hoàn chỉnh các tính chất chức năng hoạt động của các bộ phận trong cơ thể Hai quá trình có mối quan hệ mật thiết và ảnh hưởng lẫn nhau để tạo nên sự hoàn thiện cho cơ thể gia súc, gia cầm Sinh trưởng và phát dục của gia súc tuân theo tính qui luật và theo giai đoạn (Trần Đình Miên và cs, 1975) [32]
Theo Chambers I.R (1990) [75], sinh trưởng là một quá trình sinh lý sinh hóa phức tạp được duy trì ngay từ khi phôi được hình thành
b, Phương pháp đánh giá sinh trưởng
Để đánh giá khả năng sinh trưởng của gia cầm người ta có nhiều cách đánh giá khác nhau, nhưng hiện nay các nhà chọn giống và các nhà chăn nuôi thường áp dụng theo phương pháp định lượng bao gồm: Đo kích thước các chiều đo của cơ thể và định kỳ cân khối lượng
* Khối lượng cơ thể: (khối lượng tích lũy)
Xét về phương diện sinh học sự tăng lên về khối lượng cơ thể chính là sự tích lũy dần dần các chất, phần lớn là protein và sự tích lũy về khối lượng các chất phụ thuộc vào hoạt động của các gen điều khiển khả năng sinh trưởng (Trần Đình Miên và cs, 1992) [33] Do vậy người ta có thể lấy việc tăng khối lượng cơ thể là một chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh trưởng
Trang 27Các tác giả: Brandsch H và Biilchell H (1978) [5]; Nguyễn Văn Thiện (1998) [47] đã cho biết: ở gà hệ số di truyền tính trạng khối lượng cơ thể là tương đối cao (bảng 1.3)
Bảng 1.3: Hệ số di truyền của tính trạng khối lượng ở gà
Giai đoạn tuổi
Hệ số di truyền (%)
Nguồn tài liệu
Khối lượng lúc 3 tháng tuổi
Khối lượng lúc 3 tháng tuổi
Khối lượng lúc 5 tháng tuổi
Khối lượng lúc 6 tháng tuổi
* Tốc độ sinh trưởng:
Trong chăn nuôi gia cầm người ta thường sử dụng hai khái niệm đó là tăng khối lượng tuyệt đối và tăng khối lượng tương đối để đánh giá tốc độ sinh trưởng của gia cầm
- Tăng khối lượng tuyệt đối: là sự tăng lên về khối lượng, kích thước của
cơ thể trong một đơn vị thời gian giữa hai lần khảo sát (TCVN 2, 39 - 77, 1997) [59]
Đồ thị của tăng khối lượng tuyệt đối có dạng hình Parabol Đơn vị của sinh trưởng tuyệt đối ở gia cầm được tính bằng g/con/ngày
- Tăng khối lượng tương đối: là tỷ lệ phần trăm tăng lên của khối lượng (kích thước, thể tích) của cơ thể khi lúc kết thúc quá trình khảo sát so với thời điểm đầu khảo sát (TCVN 2.40 -77, 1997) [60]
Đồ thị của tăng khối lượng tương đối có dạng hình hyperbol Đơn vị để tính sinh trưởng tương đối là (%)
- Đường cong sinh trưởng: là đường mô tả tốc độ sinh trưởng của gia súc, gia cầm dưới dạng hình vẽ đồ thị minh họa mà thông qua đó ta có thể so sánh hay đánh giá tốc độ sinh trưởng một cách đơn giản
Đường cong sinh trưởng có dạng hình chữ S thường biểu diễn cho đồ thị của độ tăng khối lượng tích lũy (Trần Đình Miên và cs, 1975) [32]
Trang 28Theo nghiên cứu của Lê Viết Ly (1995) đã cho thấy trong điều kiện dinh dưỡng hợp lý thì đồ thị biểu diễn đường cong sinh trưởng của gia cầm chia làm hai pha rõ rệt Pha tăng khối lượng nhanh xảy ra trước khi thành thục sinh dục con vật tăng lên về khối lượng, kích thước với tỷ lệ tăng dần Pha hai tăng khối lượng thấp dần, tỷ lệ sinh trưởng giảm dần cho tới khi gia cầm đạt được khối lượng ổn định (Trần Huê Viên, 1999) [68]
c, Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng
* Ảnh hưởng của di truyền:
Có nhiều gen ảnh hưởng tới sinh trưởng và phát triển của cơ thể gia cầm,
có gen ảnh hưởng tới sự phát triển chung, có gen ảnh hưởng tới một nhóm tính trạng, có gen ảnh hưởng tới một vài tính trạng lẻ (Theo tài liệu tổng hợp của Chambers J.R 1990) [75]
Trong cùng một loài, các giống gia cầm khác nhau sẽ có khả năng sinh trưởng khác nhau Tác giả Nguyễn Mạnh Hùng và cs (1994) [14] cho rẳng:
Sự sai khác về khối lượng giữa các giống gia cầm là rất lớn Thông thường các giống gà kiêm dụng thường nặng hơn gà hướng trứng từ 13 – 38%
Các loài gia cầm khác nhau thì có khả năng sinh trưởng hoàn toàn khác nhau
* Ảnh hưởng của tính biệt:
Tính biệt là yếu tố gây ảnh hưởng rõ rệt đến khả năng sinh trưởng của gia cầm thông thường gia cầm trống có khả năng sinh trưởng cao hơn gia cầm mái, sự sai khác này là do các gen di truyền liên kết giới tính quy định (Chamber J.R 1990) [75]
Theo North M.O và Bell P.D (1990) [81] cho thấy ở cùng điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng giống nhau thì gà trống thường sinh trưởng nhanh hơn
gà mái Lúc mới nở gà trống chỉ nặng hơn gà mái 1% và sai khác này ngày càng lớn khi tuổi càng tăng; ở lúc 7 tuần tuổi là 23%, ở 8 tuần tuổi là 27% Các tác giả Phùng Đức Tiến và cs (1999) [51] cho biết: Ở giống gà Ai Cập khối lượng cơ thể giữa con trống và con mái ở các tuần tuổi là khác nhau
ở tuần tuổi thứ 7 con mái đạt 1182g con trống đạt 1548,66g, ở giai đoạn 20 tuần tuổi đạt khối lượng tương ứng là 1401,75g và 1797,25g
* Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng:
Chế độ dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng đối với sinh trưởng của gia cầm, việc cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng và đồng thời có tỷ lệ cân đối giữa các chất sẽ giúp cho gia cầm phát huy cao tiềm năng di truyền về sinh trưởng
Trang 29Ngoài việc tăng mức năng lượng trong khẩu phần ăn của gia cầm cũng làm tăng khối lượng của chúng (Pesti D.M và Smith C.F 1984) [82]
Tác giả Hoàng Toàn Thắng (1996) [50] và một số tác giả khác nghiên cứu ảnh hưởng của các mức năng lượng và protein khác nhau tới sinh trưởng của gà thịt cho rằng: khối lượng cơ thể gà Broiler ở các chế độ dinh dưỡng khác nhau là
có sự sai khác nhau
Dinh dưỡng là một trong những nhân tố quan trọng quyết định đến khả năng sinh trưởng của gia cầm khi đáp ứng đầy đủ nhu cầu dinh dưỡng, thì thời gian đạt khối lượng chuẩn cho gia cầm sẽ giảm xuống (Từ Quang Hiển, Phan Đình Thắm 1995) [11]
* Ảnh hưởng của môi trường, kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng:
Môi trường và kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng có ảnh hưởng lớn đến quá trình sinh trưởng của gia cầm
Ẩm độ môi trường cũng có tác động tới sự sinh trưởng gia cầm Ở hoàn cảnh ẩm độ không khí quá cao sẽ tạo điều kiện cho hệ vi sinh vật gây bệnh phát triển mạnh, gia cầm dễ bị mắc một số bệnh truyền nhiễm
Theo Neumeister H (1978) [38] cho biết: các yêu tố môi trường như quá nóng, quá lạnh, ẩm độ quá cao hay quá thấp, mật độ chuồng nuôi quá đông, độ thông thoáng kém sẽ gây tác động xấu đến quá trình sinh trưởng của gia cầm
Ngoài ra kỹ thuật nuôi dưỡng cũng ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của gia cầm Theo Nguyễn Đình Vinh (2000) [69] tiến hành nuôi gà Ri theo 2 phương thức chăn thả và nuôi trên lưới sắt thì thấy rằng khối lượng gà nuôi trên lưới sắt (lúc
63 ngày tuổi) cao hơn hẳn khối lượng gà nuôi theo phương thức chăn thả, tăng 42,6
- 43,5% với nhóm gà trống và 35,5 – 44,6% với nhóm gà mái
Tóm lại trong chăn nuôi gia cầm đặc biệt với các giống gà địa phương nuôi theo phương thức chăn thả thì sự sinh trưởng của chúng bị phụ thuộc rất lớn vào điều kiện môi trường và kỹ thuật chăm sóc Tốc độ sinh trưởng gia cầm không đạt mức tối đa như giá trị giống của chúng nếu điều kiện ngoại cảnh và kỹ thuật nuôi dưỡng không phù hợp
1.1.4.4 Năng suất thịt và chất lượng thịt
a, Năng suất thịt
Trang 30Năng suất thịt là khả năng cho thịt của gia cầm đây là chỉ tiêu rất quan trọng để đánh giá giá trị sống Chỉ tiêu này thường được biểu thị bằng khối lượng cơ thể, tỷ lệ các phần thân thịt, thịt ngực, thịt đùi và tỷ lệ mỡ bụng Năng suất thịt gia cầm phụ thuộc rất nhiều yếu tố như loài, giống, dòng, tuổi, tính biệt và các yếu tố ngoại cảnh như: thức ăn, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng và vệ sinh thú y
Theo tác giả Nguyễn Đức Hưng và cs (1999) [13]: khi nghiên cứu trên một số giống gà địa phương nuôi tại Thừa Thiên Huế gồm gà Ma Hoàng, Bình Thắng, và con lai F1 (Trống Tam Hoàng x Mái Brown) cho thấy rằng: Trong cùng mức độ về dinh dưỡng và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng thì năng suất thịt ở 16 tuần tuổi hoàn toàn khác nhau: Ma Hoàng 1663,8g; Bình Thắng đạt 1107,3g; F1 đạt 1390,0g
Sự khác nhau về tính biệt cũng dẫn đến năng suất gia cầm khác nhau Theo Nguyễn Thị Hải (1999) [10] khi nghiên cứu trên gà Kabir cho kết quả là: Tỷ lệ thịt ngực của gà mái cao hơn gà trống nhưng tỷ lệ thịt đùi gà mái thấp hơn gà trống
Một yếu tố không kém phần quan trọng quyết định đến năng suất thịt là môi trường ngoại cảnh Theo Soukuva Z và cs (1995) [87] cho biết năng suất thịt có liên quan đến chế độ dinh dưỡng, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng, vệ sinh thú y
- Phương pháp định tính và phương pháp cơ học: Đó là xác định chất lượng thịt theo độ cảm quan như: Độ mềm, độ ướt, màu sắc của thịt đo độ dài
và đường kính của các cơ…
Chất lượng thịt là tính trạng được di truyền và có mối liên quan tới tốc
độ sinh trưởng Nó có tương quan âm với tỷ lệ mỡ (r = -0,39); tương quan
Trang 31dương với tỷ lệ protein (r = 0,53), với hàm lượng khoáng (r = 0,14) và độ ướt của thịt (r = 0,32) (Chambers J.R 1990) [75]
Những giống gia cầm khác nhau thì hàm lượng các chất dinh dưỡng có trong thịt là khác nhau (Bảng 1.4)
Bảng 1.4 Hàm lượng các chất dinh dưỡng có trong thịt của một số loài
gia cầm (Trích theo Neumeister H 1978) [38]
ở gà mái thường chiếm ưu thế hơn ở gà trống
Singh R.A (1992) [86]; Viceni A và cs (1994) [89] cũng cho rằng ở những giống, loài, các dòng khác nhau thì thành phần hóa học và chất lượng thịt xẻ cũng khác nhau
Nhìn chung gia cầm có chất lượng thịt rất thơm ngon dễ tiêu hóa và có mùi vị hấp dẫn Điều này có liên quan đến đặc điểm của các tổ chức cơ, đường kính và độ ướt của các cơ (Theo Nguyễn Duy Hoan và cs 1999) [16] Theo Auaas R và Wilke R (1978) [1]; Neumesiter H (1978) [38] đã cho biết tỷ lệ Protein và mức năng lượng trong thức ăn gây ảnh hưởng đến chất lượng thịt
Trang 32Số ngón mọc ra ở phần thân xương bàn, tạo nên hình dạng đặc trưng của chân gà 6 ngón, từng chùm ngón chân mọc ra ở vị trí cựa của các giống gà khác Màu sắc lông của gà 6 ngón thường có lông màu, đốm vàng, đỏ tía, trắng, vàng rơm, hoa mơ
Hình dáng giống gà Ri, gà lai Lương Phượng, gà lai Mía Mào gà đỏ rực, trống và mái thường có mào nụ, mào cờ, mào mâm xôi Đuôi gà vồng cong, chân gà óng vàng và to
Gà 6 ngón được người dân chăn thả tự nhiên trên các sườn đồi, thửa ruộng quanh nhà Thường mỗi đàn từ 20 – 25 cá thể, đàn đông hơn từ 30 – 35
cá thể Các cá thể cũng sinh sống kiếm ăn với nhau và thể hiện tập tính bầy đàn rất cao
Loài gà này cũng thể hiện tập tính thứ bậc cao Mỗi đàn có con đầu đàn
là gà trống to, khỏe mạnh hơn các con khác, có nhiệm vụ dẫn cả đàn kiếm ăn, việc di chuyển, tìm kiếm thức ăn của cả đàn đều tuân theo con trống đầu đàn
Gà 6 ngón có tính tự lập rất cao, vào buổi sáng sớm sau khi người dân cho gà ăn thì lập tức gà chủ động di chuyển ra các sườn đồi xung quanh để tự kiếm ăn Đàn gà thường tìm kiếm thức ăn trong các tầng cây thấp trong suốt thời gian trong ngày gà chỉ về chuồng khi trời chập tối
Trong điều kiện chăn thả bán hoang dã nhưng đàn gà 6 ngón chỉ kiếm ăn xung quanh nhà với bán kính từ 300 – 400m Gà rất ít khi tập trung kiếm ăn ở nơi trống trải mà phần lớn kiếm ăn dưới các tầng cây bụi thấp
1.1.6 Một số đặc điểm tự nhiên của xã Mai Pha – Lạng Sơn
- Vị trí địa lý
Xã Mai Pha nằm ở cửa ngõ phía nam của thành phố Lạng Sơn, là trung tâm Kinh tế - Chính trị, văn hóa của tỉnh Lạng Sơn, có diện tích tự nhiên 1354,0 ha, bằng 17,33% diện tích tự nhiên của thành phố, gồm 14 thôn bản + Phía bắc giáp phường Đông Kinh và phường Chi Lăng
+ Phía nam giáp xã Gia Cát và xã Yên Trạch huyện Cao Lộc
+ Phía đông giáp xã Hợp Thành huyện Cao Lộc
+ Phía tây giáp xã Quảng Lạc
Trang 33Nằm cách trung tâm thành phố khoảng 4km về phía nam, lợi thế là có đường quốc lộ 1A, và tuyến đường sắt Việt – Trung chạy qua nối liền các trung tâm kinh tế phía bắc Với cửa khẩu quốc tế hữu nghị tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế xã hội của xã
- Địa hình
Mai Pha nằm ở vùng núi có độ cao trung bình nằm thuộc lưu vực sông Kỳ Cùng được kiến tạo trên nền đá cách đây khoảng 280 triệu năm, gồm tầng đá cát kết màu vàng và tầng phun trào Riolit bao quanh bên ngoài tầng cát kết
Địa hình được tạo nên từ sông Kỳ Cùng, được chia thành 2 bậc thềm: Một là dải đất khu vực sân bay Mai Pha Hai là dải đất ven sông Nằm trong vùng lòng chảo nên địa hình có hướng thấp về phía sông Kỳ Cùng, vùng ven song có độ dốc dưới 80, vùng núi bao quanh xã có độ dốc trên 80, địa hình phức tạp đã ảnh hưởng rất lớn đến quá trình khai thác, sử dụng đất đai, mở rộng diện tích canh tác, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, nâng cao hệ số sử dụng đất đai, và cơ giới hóa trong nông nghiệp
- Khí hậu
Mang đặc tính khí hậu gió mùa của miền núi phía bắc, mùa mưa bắt đầu
từ tháng 4 đến tháng 9, mùa khô bắt đầu từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, nhiệt độ thấp, ít mưa, lượng mưa bình quân 44mm/tháng Do ảnh hưởng của yếu tố địa lý, địa hình nên khí hậu có những đặc trưng riêng
Có gió mùa đông nam và tây nam, nền nhiệt cao, nhiều dông, nhiệt độ trung bình 210C, nhiệt độ cao nhất 370C và nhiệt độ thấp nhất là 00C mùa đông lạnh khô hanh, có gió mùa đông bắc Tổng tích ôn hàng năm 7500 –
80000C, lượng bức xạ mặt trời hàng năm là 116,2 kclo/cm2, các tháng mùa hè lượng bức xạ mặt trời đều lớn hơn 10 kclo/cm2/tháng và vào các tháng mùa đông đều lớn hơn 6,1 kclo/cm2/tháng
Lượng mưa trung bình là 1439mm, phân phối không đều qua các tháng mua mưa chiếm 75% lượng mưa cả năm, cao nhất là tháng 8 280mm, mùa khô chỉ chiếm 25% thấp nhất vào tháng riêng 6mm Số mưa trung bình cả năm là 135 ngày
Trang 34Độ ẩm tương đối trung bình là 82% từ tháng 2 đến tháng 9, độ ẩm tương đối bình quân đều vượt 80%, trong đó các tháng 7, 8, 9 đạt 84,85% Các tháng mùa hanh khô, tháng 11, 12, 1 độ ẩm tương đối không vượt quá 78%
Lượng bốc hơi bình quân hàng năm là 1070mm, thấp nhất vào tháng 2
và tháng 8, cao nhất vào tháng 5, 10, 11
Nhìn chung khí hậu thời tiết của xã với các đặc điểm nóng ẩm, lượng bức xạ cao, thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp, tuy nhiên vào thời gian chuyển tiếp giữa các mùa có sự biến đổi mạnh về thời tiết với các hiện tượng xấu như: giông, gió mùa đông bắc… đã ảnh hưởng nhiều đến sản xuất và sinh hoạt của nhân dân, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp
1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Những năm gần đây nghiên cứu và phát triển chăn nuôi gia cầm rất chú trọng đến gia cầm chăn thả Nhiều báo cáo của những dự án phát triển, chỉ ra rằng gia cầm chăn thả đóng một vai trò đáng kể trong việc làm giảm
sự nghèo đói (Saleque M A 1996 ) [88]
Kitalyi A J (1996) [79] cho biết khi nghiên cứu về hệ thống chăn nuôi
gà chăn thả cho biết: Chăn nuôi gà theo phương thức thâm canh ở những vùng nông thôn có sự khác nhau với hệ thống chăn nuôi gà địa phương và sự khác nhau đó có liên quan đến sự tồn tại về vật chất và hoàn cảnh kinh tế xã hội của địa phương Theo Roberts J A (1991) [85] nghiên cứu khả năng sinh trưởng và di truyền của gà chăn thả cho thấy, nuôi gà chăn thả thì đầu
tư thấp, sản phẩm của chúng cung cấp tiêu dùng tại chỗ trong gia đình và được bán buôn trở thành nguồn thu nhập
Theo tài liệu của Đoàn Xuân Trúc và cs (1993) [44] cho biết Pháp là một trong những nước nuôi nhiều gà lông màu chất lượng cao nhất thế giới và cũng là nước đứng đầu về tiêu thụ nhiều thịt gà thả vườn Năm 1996, số lượng
gà ở Pháp là 90 triệu con, sản xuất trên 133000 tấn thịt (đã giết mổ) chất lượng cao, chiếm 20% sản lượng thịt gà và trên 10% tổng sản lượng thịt gia cầm Hiện nay, Pháp có trên 20 tập đoàn chuyên sản xuất thịt gà chất lượng cao, bao gồm trên 6000 chủ trang trại hay hợp tác xã chuyên nuôi gà, có
Trang 35khoảng 60 trại ấp trứng, 120 nhà máy sản xuất thức ăn, 110 nhà máy giết mổ
và chế biến thịt Sản phẩm thịt gà chất lượng cao của nước này được tiêu thụ chủ yếu trong nước, chỉ khoảng 5 - 6% dành cho xuất khẩu
Các nước có ngành chăn nuôi gà thả vườn phát triển sau Pháp còn có Nhật Bản, Mỹ, Trung Quốc, Braxin, Mehico
Những năm gần đây, tại các nước có nền kinh tế phát triển như Pháp, Israel, Trung Quốc…ngoài việc tạo ra các giống gà công nghiệp cao sản hướng thịt, hướng trứng, người ta còn chú ý đến việc nghiên cứu để tạo ra những giống gà lông màu có chất lượng thịt thơm ngon, hợp thị hiếu người tiêu dùng
Ngày nay, trên thế giới xu hướng tiêu dùng sản phẩm thịt gà sạch đang ngày càng tăng, nó đòi hỏi các nhà nghiên cứu, các nhà chăn nuôi phải không ngừng cải tiến về mặt di truyền, phương pháp chăn nuôi để tạo
ra sản phẩm có chất lượng Vấn đề này đã được nhiều nước trên thế giới quan tâm, để tạo ra những giống gà có năng suất cao, chất lượng tốt
Từ năm 2000 đến năm 2012, số lượng gà giết mổ trên toàn thế giới tăng từ 40,635 triệu đến 59,861 triệu con, trong khi mức trung bình trọng lượng mổ thịt mỗi con tăng từ 1,44kg đến 1,55kg Số lượng gia cầm giết thịt ở châu Á đã tăng từ 14,687 triệu đến 24,723 triệu con trong giai đoạn này Trọng lượng mổ thịt tăng 1,3kg ở vùng này, nhưng ở châu Mỹ nó tăng từ 1,67kg - 1,93kg
Theo FAO năm 2012, thì Mỹ chiếm 43% trong tổng số gần 93 triệu tấn, châu Á chiếm khoảng 34%, châu Phi 5%, châu Âu 7%, và châu Đại Dương < 1% Trở lại năm 2000, tỷ lệ tương ứng là khoảng 46, 32, 16,5 và 1% Vì vậy, thị phần toàn cầu của châu Á đã tăng lên không có lợi cho các nước châu Mỹ Sản xuất gia cầm bản địa ở đây từ các loại gia cầm nuôi nông hộ và lượng thịt gia cầm bán còn sống
Tại Mỹ, việc tiêu thụ thịt gà giảm mạnh từ 46kg/ đầu người trong năm
2006 xuống còn 42kg trong năm 2009 tính theo thịt mổ Sau đó tăng gần 44kg trong năm 2011, nhưng rồi lại giảm trở lại 42,5kg trong năm tiếp Năm
2013, dự kiến tăng đến 43,2kg Khi người tiêu dùng chuyển từ thịt bò sang thịt gà Vào năm 2022 dự kiến sẽ đạt 45,3kg/mỗi người
Trang 36Sản lượng thịt gia cầm của Trung Quốc bùng nổ hơn 8% mỗi năm từ năm 1990 đến năm 2012 tuy nhiên, một đợt bùng phát cúm gia cầm năm 2013
đã có một tác động đáng kể vào nguồn cung cấp, trong đó năm 2103 là 13,7 triệu tấn lên 13,4 triệu tấn trong năm sau và hơn nữa ước tính khoảng 12,7 triệu tấn vào năm 2014
Ngành chăn nuôi gia cầm nói chung và chăn nuôi gà nói riêng đã đạt được tốc độ phát triển nhanh như vậy là nhờ có sự tiến bộ vượt bậc về khoa học công nghệ trong lĩnh vực chọn tạo giống, thức ăn, thú y và kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Nghề chăn nuôi gia cầm ở Việt Nam đã có từ lâu đời nhưng thường với quy mô nhỏ, mỗi gia đình chỉ nuôi vài con đến vài chục con chăn thả tự do Bên cạnh những giống gia cầm truyền thống như gà Ri, vịt Bầu được nuôi ở khắp mọi miền do dễ nuôi, sức chống chịu bệnh tật cao, khả năng kiếm mồi tốt, chịu kham khổ, thịt thơm ngon Ở một số vùng còn khá nhiều giống gà khác nhau như: gà Đông Tảo, gà Mía, gà Tàu Vàng, gà Tre, gà Hồ, gà Ác, vịt Cỏ…
Vào những năm cuối thập kỷ 60 một số đàn gà công nghiệp lần đầu tiên được nhập vào nước ta như: Hubbard thịt, Hubbard trứng (Hubbard Goldsn Comet) ở miền Nam và gà chuyên thịt Comish, Plymouth Roch và gà chuyên trứng Sekxalin ở miền Bắc Do chưa có kinh nghiệm và trình độ kỹ thuật còn hạn chế nên các đàn gà công nghiệp nhập vào nước ta thời đó năng suất thấp, dịch bệnh nhiều dẫn đến hiệu quả thấp
Ngày nay, nhiều hộ gia đình đã xác định nghề chăn nuôi gà, vịt làm nghề chính để kiếm sống và làm giàu, nhiều hộ đã mạnh dạn đầu tư xây dựng thành các khu trang trại với quy mô khá lớn có từ: 3.000 - 5.000 con, một số gia đình còn nuôi gia cầm giống bố mẹ và có trạm ấp nhân tạo để nhân giống Trong năm 2010, sản lượng thịt gà của Việt Nam đứng thứ 15 trên tổng số 47 nước ở châu Á, tuy nhiên, tỷ lệ tăng trưởng trong thập niên 2000 -2010 chỉ ở mức vừa phải (tăng trung bình 28,4%) Trong những năm qua, chăn nuôi gia cầm luôn đạt mức tăng trưởng cao nhất, bình quân giai đoạn 2008 - 2012, quy
mô đầu con tăng khoảng 5,6%/năm; sản lượng thịt tăng 12,9%/năm và sản
Trang 37lượng trứng tăng 10,1%/năm
Ở Việt Nam cũng như nhiều nước đang phát triển khác trên thế giới đang
có hiện tượng suy thoái giống và mất dần tính đa dạng di truyền của giống gia cầm truyền thống Nhiều giống đang bị tạp giao, thoái hóa, một số giống bị tuyệt chủng Lo ngại nhất là việc nhập ồ ạt các giống vật nuôi cao sản nhưng chất lượng sản phẩm và khả năng thích nghi kém đã làm hỗn loạn giống lai tạp giao với nhau, thay thế giống địa phương quý hiếm Theo FAO (2003) thì
cứ mỗi tuần có 2 loài biến mất và hiện có 1350 loài động vật nông nghiệp đang bị đe dọa tuyệt chủng Hiện trạng ngành chăn nuôi nước ta cũng đang trong tình trạng chung đó, ở nước ta đàn gà phân bố không đều, chủ yếu tập chung ở vùng núi, trung du phía Bắc (27,5%), Đồng bằng sông Hồng (24,7%), Vùng Đồng bằng sông Cửu Long (15,6%) Chủ yếu vẫn là các giống
gà nội chiếm khoảng 80% Gà nội của Việt Nam có nhiều giống, chúng có đặc điểm chung là chịu đựng tốt khí hậu địa phương, dễ nuôi dưỡng, chăm sóc và các sản phẩm thịt, trứng thơm ngon, có hương vị đặc trưng
Chọn lọc nâng cao dòng gà Ri vàng rơm có tỷ lệ màu vàng rơm tăng trong quần thể đạt 62,2%; năng suất trứng đạt 129 quả/ mái/ 68 tuần tuổi, tỷ lệ phôi đạt 95,7%
Trong thời gian qua chúng ta đã nhập nội và đưa vào sản xuất một số giống gà lông màu, gà công nghiệp hướng trứng và hướng thịt có năng suất và chất lượng cao, đã và đang được thị trường chấp nhận
Chọn lọc dòng gà Ai Cập có năng suất trứng/ mái/ 72 tuần tuổi đạt 209 quả, tỷ lệ phôi đạt 96,9%, chất lượng trứng thơm ngon Hiện nay gà Ai Cập là giống gà được thị trường gà trứng ưa chuộng và được sử dụng làm mái nền phối giống với gà trống chuyên trứng tạo gà lai thương phẩm có năng suất, chất lượng trứng cao đáp ứng nhu cầu của sản xuất
Nhìn chung tình hình phát triển chăn nuôi gia cầm ở nước ta trong thời gian qua đã đạt được nhiều kết quả to lớn, thể hiện ở sự đa dạng về giống, năng suất, sản lượng được tăng cao
* Một vài nghiên cứu liên quan đến đối tượng gà 6 ngón
Tác giả Trần Thanh Vân và cs (2007) [70] cho biết Tỷ lệ gà 6 ngón ở 2
xã Công Sơn và Mẫu Sơn huyện Cao Lộc – Lạng Sơn là 38,09 và 30,45% Các chiều đo của giống gà 6 ngón Mẫu Sơn tương tự như các giống gà nội khác, đến 6 tháng tuổi: Dài thân 26,35cm ở gà trống và 24,26 cm ở gà mái;
Trang 38Vòng ngực tương ứng là 31,04 và 27,07 cm Sự phân ly về màu sắc lông rất
đa dạng, trong đó gà có màu lông đốm vàng chiếm tỷ lệ cao nhất (48,86%) và
gà có màu lông đen tuyền chiếm tỷ lệ thấp nhất (13,35%) Lúc 20 tuần tuổi,
số lượng hồng cầu từ 2,47 ở gà trống đến 2,53 triệu/mm3 ở gà mái, bạch cầu tương ứng là 50,33 – 67,33 ngàn/mm3, protein tổng số của huyết thanh từ 74,33 – 77,00 g/lít Tỷ lệ nuôi sống đến 20 tuần tuổi của gà dao động từ 83,64% đến 84,44% Kết thúc 20 tuần tuổi gà có khối lượng bình quân là 1814,00g ở con trống và 1301,00g ở con mái; Sinh trưởng tuyệt đối tương ứng là 12,74 và 9,14g/con/ngày; Tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng khối lượng bình quân là 4,30kg Tỷ lệ thân thịt từ 70,28% ở gà trống đến 69,23% ở gà mái; Tỷ lệ thịt đùi + ngực tương ứng là 33,13 và 32,48% Tỷ lệ vật chất khô của thịt gà từ 23,93 đến 26,82% và protein từ 20,52 đến 24,72%
Theo luận văn thạc sỹ của Bùi Thế Hoàn (2014) [19] nghiên cứu trên gà nhiều ngón cho biết gà trống có màu trắng đen, vàng đen và mơ còn gà mái có màu lông đa dạng như đen tuyền, mơ đen nâu, mơ vàng nâu, tro xám, trắng tuyền, nhưng màu lông chủ yếu ở con trống là đen xen đỏ sậm, ở con mái là vàng nâu và tro xám Chủ yếu mào cờ, ngoài ra còn một tỷ lệ rất nhỏ mào trái dâu Là giống có từ 3-8 cựa (ngón) Tuổi đẻ quả trứng đầu là 144,73 ngày, năng suất trứng là 3,73 quả/mái/tuần, đẻ 4,23 lứa/mái/năm và trong mỗi chu
kỳ đẻ 14,02 quả/lứa Tỷ lệ ấp nở ở phương pháp ấp tự nhiên là 46%, phương pháp ấp nhân tạo là 73% Gà mới nở có khối lượng 28,38g/con, đến 20 tuần tuổi chung trống mái khối lượng đạt 1407,3g/con
Trang 39Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Gà 6 ngón
2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Tại xã Mai Pha – thành phố Lạng Sơn – tỉnh Lạng Sơn
Các mẫu phân tích được thực hiện tại phòng thí nghiệm trung tâm và bộ môn Di truyền giống khoa Chăn nuôi – Học viện Nông nghiệp Việt Nam
2.1.3.Thời gian thực hiện luận văn: từ tháng 8/2015 - 8/2016
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Nghiên cứu về số lượng, cơ cấu, quy mô đàn gà 6 ngón nuôi tại xã Mai Pha – Lạng Sơn
- Số lượng gà nuôi tại xã Mai Pha qua 3 năm 2014 - 2016
- Cơ cấu phân bố đàn gà theo giống, loài nuôi tại xã Mai Pha
- Quy mô đàn gà 6 ngón tại xã Mai Pha
- Nguồn gốc nhân giống đàn gà 6 ngón nuôi tại xã Mai Pha
2.2.2 Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của gà 6 ngón
- Đặc điểm về màu lông
- Đặc điểm về kiểu mào
- Đặc điểm ngón và màu chân
- Tập tính sinh hoạt của gà trống và gà mái: Tìm kiếm thức ăn, sở thích, lúc ngủ, đi lại
2.2.3 Nghiên cứu khả năng sinh sản của gà 6 ngón
Trang 40- Sinh trưởng tích lũy
- Sinh trưởng tương đối và tuyệt đối
- Khả năng cho thịt lúc 28 tuần tuổi
- Thành phần hóa học của thịt ngực và đùi lúc 28 tuần tuổi
- Thành phần axit amin của thịt ngực và đùi lúc 28 tuần tuổi
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu tình hình chăn nuôi của gà 6 ngón tại xã Mai Pha – Lạng Sơn
- Phỏng vấn trực tiếp các hộ chăn nuôi
- Các mô tả có sự quan sát trực tiếp từ đàn gà
- Khai thác các nguồn thông tin cơ bản
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm sinh học của gà 6 ngón
- Theo dõi gà lúc gà trưởng thành (gà trống và mái): Màu sắc lông, kiểu mào, màu da chân, số ngón và tập tính sinh hoạt
2.3.3 Phương pháp nghiên cứu khả năng sinh sản của gà 6 ngón
Theo dõi khả năng sinh sản của gà 6 ngón thí nghiệm nuôi tại 5 hộ dân (mỗi hộ nuôi 20 gà mái và 2 gà trống)
Xác định tuổi thành thục, tỷ lệ đẻ, sản lượng trứng của đàn gà nuôi thí nghiệm Xác định một số chỉ tiêu về chất lượng trứng như khối lượng, chỉ số hình dạng, tỷ lệ lòng trắng, lòng đỏ, vỏ trứng, chỉ số lòng trắng, lòng đỏ và chỉ số Hu