Quản lý hoạt động tư vấn hướng nghiệp theo hướng phân luồng học sinh sau THCS ở thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ (LV thạc sĩ)Quản lý hoạt động tư vấn hướng nghiệp theo hướng phân luồng học sinh sau THCS ở thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ (LV thạc sĩ)Quản lý hoạt động tư vấn hướng nghiệp theo hướng phân luồng học sinh sau THCS ở thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ (LV thạc sĩ)Quản lý hoạt động tư vấn hướng nghiệp theo hướng phân luồng học sinh sau THCS ở thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ (LV thạc sĩ)Quản lý hoạt động tư vấn hướng nghiệp theo hướng phân luồng học sinh sau THCS ở thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ (LV thạc sĩ)Quản lý hoạt động tư vấn hướng nghiệp theo hướng phân luồng học sinh sau THCS ở thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ (LV thạc sĩ)Quản lý hoạt động tư vấn hướng nghiệp theo hướng phân luồng học sinh sau THCS ở thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ (LV thạc sĩ)Quản lý hoạt động tư vấn hướng nghiệp theo hướng phân luồng học sinh sau THCS ở thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ (LV thạc sĩ)Quản lý hoạt động tư vấn hướng nghiệp theo hướng phân luồng học sinh sau THCS ở thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ (LV thạc sĩ)Quản lý hoạt động tư vấn hướng nghiệp theo hướng phân luồng học sinh sau THCS ở thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ (LV thạc sĩ)Quản lý hoạt động tư vấn hướng nghiệp theo hướng phân luồng học sinh sau THCS ở thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ (LV thạc sĩ)Quản lý hoạt động tư vấn hướng nghiệp theo hướng phân luồng học sinh sau THCS ở thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ (LV thạc sĩ)
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Bá Dương
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Ngọc Thảo
Trang 4Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo, giáo viên các trường THCS ở thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ; các đồng chí Giám đốc, Phó Giám đốc và Hội đồng sư phạm trung tâm KTTH-HN tỉnh Phú Thọ, các bạn đồng nghiệp và những người thân đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song chắc chắn luận văn còn những thiếu xót và hạn chế, tôi rất mong nhận được sự chỉ dẫn, góp ý của các quý thầy, cô giáo và các bạn đồng nghiệp
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Ngọc Thảo
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3
4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài 3
5 Giả thuyết khoa học 4
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
7 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Cấu trúc của đề tài 5
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TVHN THEO HƯỚNG PHÂN LUỒNG HỌC SINH SAU THCS 6
1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 6
1.2 Một số khái niệm cơ bản 11
1.2.1 Quản lý 11
1.2.2 Quản lý giáo dục 14
1.2.3 Khái niệm về hướng nghiệp 15
1.2.4 Tư vấn hướng nghiệp 16
1.2.5 Khái niệm về phân luồng 23
1.2.6 Khái niệm về hoạt động TVHN theo hướng phân luồng học sinh sau THCS 24
Trang 61.2.7 Khái niệm về quản lý hoạt động TVHN theo hướng phân luồng học
sinh sau THCS 24
1.3 Nội dung quản lý hoạt động tư vấn hướng nghiệp theo hướng phân luồng học sinh sau THCS 25
1.3.1 Xây dựng kế hoạch tư vấn hướng nghiệp theo hướng phân luồng học sinh sau THCS 25
1.3.2 Tổ chức thực hiện kế hoạch 26
1.3.3 Chỉ đạo thực hiện kế hoạch 27
1.3.4 Giám sát, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế 27
1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động TVHN 28
1.4.1 Những yếu tố chủ quan 28
1.4.2 Những yếu tố khách quan 29
Tiểu kết chương 1 30
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TVHN THEO HƯỚNG PHÂN LUỒNG HỌC SINH SAU THCS Ở THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ TỈNH PHÚ THỌ 31
2.1 Khái quát về tình hình TVHN, phân luồng học sinh sau THCS hiện nay 31
2.2 Kết quả khảo sát thực trạng hoạt động TVHN tại các trường THCS ở thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ 35
2.2.1 Thực trạng về đội ngũ giáo viên tham gia công tác TVHN ta ̣i các trường THCS ở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Tho ̣ 35
2.2.2 Thực trạng nhận thức về học tập của học sinh sau khi tốt nghiệp THCS 36
2.2.3 Thực trạng nhận thức của học sinh về công tác TVHN 38
2.2.4 Thực trạng đánh giá của giáo viên và cán bộ quản lý về công tác hướng nghiệp 39
2.3 Thực trạng quản lý hoạt động TVHN theo hướng phân luồng học sinh sau THCS ở thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ 42
2.3.1 Thực trạng quản lý hoạt động TVHN 42
Trang 72.3.2 Những khó khăn, bất cập trong quản lý hoạt động TVHN 43
Tiểu kết chương 2 44
Chương 3 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TVHN THEO HƯỚNG PHÂN LUỒNG HỌC SINH SAU THCS Ở THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ TỈNH PHÚ THỌ 46
3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 46
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 46
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ 46
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 47
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 48
3.2 Biện pháp quản lý hoạt động TVHN theo hướng phân luồng học sinh sau THCS ở thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ 48
3.2.1 Nâng cao nhận thức cho cán bộ, giáo viên, học sinh, phụ huynh học sinh và các lực lượng xã hội về vai trò tầm quan trọng của công tác TVHN cho học sinh THCS 49
3.2.2 Hoàn thiện bộ máy tổ chức chỉ đạo và xây dựng cơ chế phối hợp giữa các Trung tâm KTTH-HN, GDNN -GDTX với phòng GD&ĐT, các trường THCS để tổ chức TVHN phân luồng học sinh có hiệu quả gắn với sự phát triển kinh tế-xã hội của địa phương 51
3.2.3 Tổ chức bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ CB, GV tham gia vào hoạt động TVHN về chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng TVHN cho học sinh THCS 57
3.2.4 Đổi mới hình thức và phương pháp TVHN, lồng ghép TVHN thông qua dạy Nghề phổ thông, hạn chế thuyết trình, áp đặt 60
3.2.5 Tăng cường đầu tư và quản lý cơ sở vật chất phục vụ TVHN 65
3.2.6 Tăng cường kiểm tra, đánh giá hoạt động TVHN ở các trường THCS, các Trung tâm KTTH-HN, GDTX-HN 68
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp quản lý 70
Trang 83.4 Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp 71
3.4.1 Các bước khảo nghiệm 71
3.4.2 Kết quả khảo nghiệm 72
Tiểu kết chương 3 77
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 78
1 Kết luận 78
2 Một số khuyến nghị 81
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 83 PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Xin đọc là
CBQL : Cán bộ quản lý
CSVC : Sơ sở vật chất
GDTX : Giáo dục thường xuyên
GDHN : Giáo dục hướng nghiệp
GD&ĐT : Giáo dục và Đào tạo
GDNN-GDTX : Giáo dục nghề nghiệp-Giáo dục thường xuyên
TVHN : Tư vấn hướng nghiệp
KTTH-HN : Kỹ thuật tổng hợp-Hướng nghiệp
LĐTB-XH : Lao động thương binh - Xã hội
PPDH : Phương pháp dạy học
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Tổng số giáo viên tham gia công tác TVHN ta ̣i các trường
THCS ở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ năm học 2014-2015 35 Bảng 2.2 Nguyện vọng của học sinh sau tốt nghiệp THCS 36 Bảng 2.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn hướng đi sau tốt
nghiệp THCS 38 Bảng 2.4 Tính hiệu quả và tầm quan trọng của TVHN 40 Bảng 2.5 Các phương thức (con đường) TVHN, GDHN ở các trường THCS 41 Bảng 2.6 Kết quả khảo sát, đánh giá việc quản lý hoạt động TVHN của
CBQL (Theo 4 chức năng của quản lý) 42 Bảng 2.7 Khảo sát những khó khăn, bất cập hiện nay về công tác TVHN
ở các trường THCS 43 Bảng 3.1 Mức độ cần thiết của các biện pháp nâng cao chất lượng TVHN
ở trường THCS 72 Bảng 3.2 Mức độ khả thi của các biện pháp nâng cao chất lượng TVHN
cho học sinh THCS 75
Trang 11DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Miền chọn nghề phù hợp 17
Sơ đồ 1.2 Mối quan hệ giữa chủ thể và đối tượng trong hoạt động TV 20
Sơ đồ 1.3 Mối quan hệ trách nhiệm giữa các bộ phận trong trường
THCS khi thực hiện hoạt động TVHN cho học sinh 21
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Giáo dục và Đào tạo là một trong những nền tảng quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người Trong xã hội ta hiện nay vẫn tồn tại cách suy nghĩ, chỉ có vào đại học mới có danh tiếng, mới được xem là thành đạt Học sinh sau THCS hầu hết đều thi vào THPT để sau 3 năm học tiếp tục thi vào đại học cho dù học lực của các
em không khá Những hệ lụy của suy nghĩ này là cơ cấu lao động của ta “ thừa thầy, thiếu thợ” Khi chúng ta đang tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì nguồn nhân lực về mặt kỹ thuật là rất quan trọng Trong khi đó đại đa
số học sinh đều thi nhau học các ngành lý luận
Trong các văn kiện Đại hội Đảng đều xác định rõ tầm quan trọng của công tác Tư vấn hướng nghiệp phân luồng HS tạo nên sự phù hợp về mặt cơ cấu trong giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ IX của Đảng có ghi “Coi trọng công tác hướng nghiệp và phân luồng học sinh trung học, chuẩn bị cho thanh niên đi vào lao động nghề nghiệp phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong cả nước và từng địa phương” và trong Cương lĩnh xây dựng Đảng đã xác định: “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế Trong đó, đổi mới
cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt Tập trung nâng cao đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, khả năng lập nghiệp” [12, tr.15]
Trong chiến lược phát triển giáo dục 2011 - 2020 Ban hành kèm theo Quyết định số 711/QĐ-TTg ngày 13 tháng 6 năm 2012 của Thủ tướng Chính
phủ chỉ rõ “Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hóa,
Trang 13hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa, hội nhập quốc tế, thích ứng với nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển giáo dục gắn với phát triển khoa học và công nghệ, tập trung vào nâng cao chất lượng, đặc biệt chất lượng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành để một mặt đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đảm bảo an ninh quốc phòng; mặt khác phải chú trọng thỏa mãn nhu cầu phát triển của mỗi người học, những người có năng khiếu được phát triển tài năng”; mục tiêu phát triển giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học là “Đến năm 2020, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp có đủ khả năng tiếp nhận 30% số học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở; tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề nghiệp và đại học đạt khoảng 70%; tỷ lệ sinh viên tất cả các hệ đào
tạo trên một vạn dân vào khoảng 350 - 400” [8, tr.5]
Trong những năm qua, hệ thống giáo dục nước ta phát triển mạnh ở tất cả các cấp học, từ mầm non đến đại học Tuy nhiên, việc giúp học sinh có những hiểu biết về nghề nghiệp để định hướng phát triển, lựa chọn ngành nghề phù hợp sở thích cá nhân cũng như năng lực bản thân và nhu cầu xã hội còn nhiều hạn chế Việc phân luồng học sinh sau THCS tạo nền tảng quan trọng cho việc chuẩn bị nguồn nhân lực có chất lượng theo yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và từng địa phương hầu như chưa được đáp ứng Qua thực tế cho thấy, đại đa số học sinh tốt nghiệp xong THCS thì phải thi tiếp lên bậc THPT
và đa số học sinh tốt nghiệp THPT thường dự thi đại học, cao đẳng, không đỗ mới chuyển sang học TCCN hoặc học nghề Số còn lại có thể ở nhà ôn tập và chờ năm sau thi tiếp hoặc tìm kiếm việc làm khác
Để có đủ nguồn nhân lực phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn cách mạng mới, Đảng và Nhà nước ta đã có chủ trương đẩy mạnh công tác hướng nghiệp phân luồng học sinh, nhằm đào tạo thế hệ trẻ thành lớp người
Trang 14nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Như vậy, thực hiện TVHN phân luồng học sinh sau trung học cơ sở là một việc làm đúng với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục, qua đó giúp nâng cao mặt bằng chất lượng giáo dục phổ thông, cơ cấu nhân lực được cải thiện, tránh được
lãng phí cho xã hội trong giáo dục Đó là lý do tôi chọn đề tài: “Quản lý hoạt
động tư vấn hướng nghiệp theo hướng phân luồng học sinh sau THCS ở thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ” làm luận văn thạc sỹ của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận và thực tiễn về TVHN theo hướng phân luồng HS sau THCS để đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động TVHN giúp cho việc TVHN phân luồng HS sau ở thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ đạt kết quả tốt
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Một số biện pháp quản lý hoạt động TVHN theo hướng phân luồng học sinh sau THCS ở thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ
3.2 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động TVHN cho HS THCS và quản lý hoạt động TVHN cho HS THCS
4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Chủ thể quản lý
Cán bộ quản lý, giáo viên và các lực lượng tham gia công tác TVHN ở các trường THCS thuộc địa bàn nghiên cứu
4.2 Giới hạn về đối tượng nghiên cứu
Một số biện pháp quản lý hoạt động TVHN theo hướng phân luồng học sinh sau THCS
4.3 Giới hạn về địa bàn nghiên cứu
Các trường THCS ở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ
Trang 154.4 Giới hạn về khách thể khảo sát
Cán bộ quản lý, giáo viên và các lực lượng khác làm công tác TVHN, học sinh lớp 9 tại một số trường THCS ở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ
5 Giả thuyết khoa học
Công tác TVHN nói chung và quản lý công tác TVHN theo hướng phân luồng
HS THCS ở thành phố Việt Trì nói riêng trong những năm qua đã đạt được những kết quả nhất định song vẫn còn tồn tại nhiều bất cập, hạn chế Nếu đề xuất được những biện pháp quản lý phù hợp, hiệu quả và khả thi sẽ góp phần nâng cao chất lượng công tác TVHN theo hướng phân luồng HS sau THCS ở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc quản lý hoạt động TVHN theo hướng phân luồng HS sau THCS
- Nghiên cứu thực trạng của hoạt động TVHN phân luồng HS ở các trường THCS trên địa bàn nghiên cứu
- Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động TVHN theo hướng phân luồng học sinh ở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích, tổng hợp, hệ thống lý luận từ các tài liệu và các công trình nghiên cứu có liên quan chặt chẽ với đề tài nghiên cứu
7.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Điều tra, khảo sát thực trạng về công tác quản lý, trình độ chuyên môn,
cơ sở vật chất đối với nhà trường, các cấp quản lý giáo dục, giáo viên làm công tác TVHN
- Trao đổi, thực hiện các câu hỏi trắc nghiệm đối với giáo viên và học sinh
để tìm hiểu tâm tư nguyện vọng, ước mơ sau khi tốt nghiệp THCS của các em
- Phân tích kết qủa đạt được về phân luồng học sinh sau khi tốt nghiệp THCS
7.3 Phương pháp bổ trợ
- Phương pháp thống kê toán học: Xử lý các kết quả nghiên cứu
Trang 168 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo
và phần phụ lục luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý hoạt động TVHN theo hướng phân luồng học sinh sau THCS
- Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động TVHN theo hướng phân luồng
HS sau THCS ở thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ
- Chương 3: Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động TVHN theo hướng phân luồng học sinh sau ở thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ
Trang 17Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TVHN
THEO HƯỚNG PHÂN LUỒNG HỌC SINH SAU THCS
1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Công tác hướng nghiệp có vị trí đặc biệt quan trọng trong trường phổ thông,
là một yêu cầu cần thiết của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa nhằm thực hiện mục tiêu, nguyên lí và nội dung giáo dục của Đảng, góp phần tích cực và hiệu quả vào việc phân công và sử dụng hợp lý học sinh phổ thông sau khi tốt nghiệp
Hướng nghiệp cho học sinh phổ thông là một hệ thống biện pháp giáo dục của gia đình, nhà trường và xã hội Trong đó nhà trường đóng vai trò chủ đạo nhằm hướng dẫn và chuẩn bị cho thế hệ trẻ về tư tưởng, tâm lí, ý thức, kĩ năng
để họ có thể đi vào lao động ở các ngành nghề, tại những nơi xã hội đang cần phát triển đồng thời phù hợp với hứng thú, năng lực của cá nhân
Phần lớn ở các nước trên thế giới, hầu như học sinh được tư vấn hướng nghiệp ngay từ đầu những cấp học phổ thông, ai đủ điều kiện thì học tiếp, ai không đủ điều kiện thì được bảo lưu kết quả và chuyển sang hướng khác Ở các nước châu Âu như: Pháp, Đức, châu Á như: Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc, đã đặc biệt quan tâm đến việc TVHN phân luồng cho học sinh từ những năm cuối thế kỷ XX Tuy nhiên, do điều kiện, cấu trúc kinh tế khác nhau nên các nước trên thế giới tiến hành phân luồng học sinh không giống nhau Cụ thể như:
Ở Pháp những học sinh đủ điều kiện theo quy định được tuyển thẳng vào học năm thứ nhất bậc cao đẳng, không phải trải qua kỳ thi tuyển Những sinh viên tốt nghiệp hệ cao đẳng (2 năm) được chuyển tiếp vào năm thứ 3 bậc đại học Việc học chuyển tiếp của sinh viên được hội đồng nhà trường quyết định
Trang 18và đề nghị dựa trên kết quả học tập, qua thực tế chúng ta thấy trung bình có khoảng 50% số lượng sinh viên tốt nghiệp hệ cao đẳng ở Pháp đi làm ngay và trên 25% được chuyển tiếp vào học năm thứ 3 đại học Những sinh viên theo học hệ cao đẳng có điều kiện học tiếp sẽ tốt nghiệp đại học cùng năm với những sinh viên vào đại học trực tiếp và sau đó dĩ nhiên những sinh viên này
có thể học tiếp lên bậc học cao hơn
Ở Singapore làm rất tốt việc phân luồng học sinh phổ thông Họ có hình thức tuyên truyền và chính sách phân luồng học sinh theo khả năng rất hiệu quả Học sinh vào được đại học chỉ chiếm một phần rất ít, số còn lại vào cao đẳng, trung học chuyên nghiệp Cuối cùng họ đạt được mục tiêu là mọi sinh viên ra trường đều có việc làm và làm được việc ngay, tránh được sự lãng phí tiền bạc, thời gian do đào tạo sai năng lực
Ở Nhật Bản rất coi trọng việc học và sự phát triển thông qua giáo dục
Giáo dục và đào tạo gắn với nhu cầu thực tế thấm đậm từ trong suy nghĩ, nhận thức của mỗi người Chính sách đào tạo được thực hiện theo hướng phân luồng rất rõ sau phổ thông giúp cho người Nhật sẵn sàng đáp ứng được đòi hỏi của lực lượng lao động chuyên nghiệp
Ở Hàn Quốc trong các loại hình trường phổ thông, nội dung giảng dạy kỹ thuật - lao động là một bộ phận cấu thành quan trọng trong chương trình giáo dục Hết trung học cơ sở học sinh sẽ đi theo hai luồng chính: phổ thông và chuyên nghiệp Các trường kỹ thuật nghề nghiệp tuyển sinh trước rồi mới chọn học sinh theo luồng phổ thông
Như vậy, các nước đều có chung quan điểm rằng: Những vấn đề khó khăn nhất của giáo dục đều tập trung ở bậc Giáo dục trung học Vì thế cần phải ưu tiên đổi mới bậc Giáo dục trung học trước tiên nhằm tạo cơ sở vững
Trang 19chắc cho các bậc học cao hơn trong khi vẫn tiến hành đồng thời đổi mới ở các bậc học khác
Ở Việt Nam ngay từ những năm 80 của thế kỷ XX, công tác hướng nghiệp cho học sinh phổ thông đã được quan tâm nghiên cứu cả về mặt lý luận và quản
lý Những kết quả nghiên cứu của hai nhóm dưới sự chỉ đạo của Phạm Tất Dong
và Đặng Danh Ánh đã tạo cơ sở cho chính phủ ra quyết định số 126 - CP về
“Công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông và sử dụng hợp lý học sinh tốt nghiệp ra trường” ngày 19/03/1981
Những nghiên cứu chuyên sâu về công tác hướng và quản lý công tác hướng nghiệp cho học sinh phổ thông tiếp tục được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm dưới góp độ giáo dục học và tâm lý học nghề nghiệp Có thể dẫn ra một số nghiên cứu cơ bản của một số tác giả sau đây như: Phạm Tất Dong (1987,2000), Đặng Danh Ánh (1985, 2002), Nguyễn Văn Hộ (1998), Nguyễn Bá Dương (1994), Nguyễn Văn Hộ và Nguyễn Thị Thanh Huyền (2006), Hồ Văn Thống (2011),… Các nghiên cứu này đã giải quyết tương đối có hệ thống về lý luận công tác hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông
Một số nghiên cứu khác dưới góc độ quản lý giáo dục đã giải quyết được một số vấn đề về thực tiễn quản lý công tác này đối với khách thể là học sinh trung học phổ thông và học nghề Tuy nhiên, những nghiên cứu về tư vấn hướng nghiệp theo hướng phân luồng học sinh sau THCS ở nước ta hiện nay còn ít được quan tâm nghiên cứu
Trong những năm gần đây, công tác Hướng nghiệp cho học sinh phổ thông được xã hội đặc biệt quan tâm Công tác Hướng nghiệp đã góp phần quan trọng vào việc hướng học, hướng nghiệp và phân luồng học sinh sau THCS, THPT
nhằm mục đích đào tạo nguồn nhân lực theo nhu cầu xã hội và theo định hướng
Trang 20phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011-2020 Tuy nhiên, hoạt động Hướng nghiệp, TVHN, phân luồng học sinh sau THCS còn gặp nhiều khó khăn, bất cập Hoạt động Hướng nghiệp hiện nay đang được thực hiện theo bốn hình thức là:
1 Hướng nghiệp qua dạy học các môn văn hoá;
2 Hướng nghiệp qua dạy học môn Công nghệ, dạy nghề phổ thông và hoạt động lao động sản xuất;
3 Hướng nghiệp qua việc tổ chức hoạt động GDHN;
4 Hướng nghiệp qua các hoạt động ngoại khoá, các phương tiện thông tin đại chúng, sự hướng dẫn của gia đình, các tổ chức xã hội
Các hình thức (2), (3) đã được các cơ sở giáo dục thực hiện tương đối nền nếp nhưng kết quả còn hạn chế Riêng hình thức (1), (4) do nhiều nguyên nhân nên việc thực hiện còn khó khăn, hình thức và kết quả chưa cao Đặc biệt, các hình thức Hướng nghiệp kể trên chủ yếu theo hướng tuyên truyền, áp đặt, một chiều có nghĩa là GV, các trường Đào tạo, giáo dục, tuyên truyền về các loại Ngành nghề mà chưa thực sự biết được ước mơ, nguyện vọng, năng lực bản thân, hoàn cảnh gia đình học sinh để TV cho các em lựa chọn con đường đi thích hợp nhất Do vậy, cần tăng cường đổi mới công tác TVHN cho học sinh các trường THCS nhằm làm cho công tác hướng nghiệp đạt hiệu quả, góp phần phân luồng để tạo nguồn đào tạo nhân lực theo nhu cầu xã hội
Nếu đứng về phương diện xã hội học và phương diện tài chính chúng ta có thể khẳng định rằng: nếu làm tốt công tác TVHN phân luồng cho học sinh sau tốt nghiệp THCS chúng ta sẽ góp phần giúp cho số học sinh có học lực trung bình, dưới trung bình đỡ phải gánh chịu sự căng thẳng về tinh thần và tốn kém thời gian trong 3 năm học ở THPT và giảm được một khoản tiền rất lớn cho gia
Trang 21đình phụ huynh và giảm một phần ngân sách của Nhà nước chi cho giáo dục Việc chọn sai trường, sai nghề không chỉ gây lãng phí về thời gian, tiền bạc mà còn gây khó khăn cho việc phân hoá nhân lực phù hợp với nhu cầu xã hội Để làm tốt công tác TVHN cho học sinh trong các trường THCS giúp cho học sinh lựa chọn con đường đi đúng đắn: tiếp tục học lên THPT hay học TCCN, học nghề rất cần được sự quan tâm của các cấp quản lý giáo dục, các thầy cô giáo, gia đình và toàn xã hội Để giúp cho phụ huynh, học sinh có nhận thức đúng đắn về vai trò, vị trí của đào tạo nghề, giúp các em định hướng nghề nghiệp thì công tác TVHN có ý nghĩa vô cùng quan trọng Thế nhưng, đội ngũ làm công tác TVHN cho học sinh ở các trường THCS trên địa bàn thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ chưa được đào tạo bồi dưỡng theo hướng chuẩn hóa: đa số các thầy cô giáo chưa được đào tạo, bồi dưỡng về các kỹ năng TV; các hiểu biết về nghiệp vụ; xu hướng việc làm tại địa phương để có thể TVHN cho các em một cách hiệu quả nhất Lãnh đạo các trường THCS, vẫn chưa có những biện pháp hữu hiệu nhằm nâng cao chất lượng TVHN cho học sinh sau khi tốt nghiệp THCS để các em thấy rõ năng lực bản thân và nhu cầu nguồn nhân lực của xã hội Học sinh lúng túng trong việc lựa chọn nghề; phụ huynh hoang mang khi học lực của con em mình ở mức trung bình yếu
Để đẩy mạnh công tác phân luồng học sinh sau THCS đi đôi với phát triển
và nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp và giáo dục phổ thông gắn với dạy nghề nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực; phấn đấu đến năm 2020: 30% học sinh tốt nghiệp THCS đi học nghề thì công tác TVHN theo hướng phân luồng học sinh là một trong những nhiệm vụ cấp thiết ở các trường THCS các Trung tâm KTTH-HN, các Trung tâm GDNN-GDTX Xác định rõ nhiệm vụ của mình Trung tâm KTTH-HN tỉnh Phú Thọ - được giao phối hợp với các trường phổ thông trên địa bàn thành phố Việt Trì làm công tác TVHN,
Trang 22lãnh đạo, cán bộ, giáo viên Trung tâm đã có những nỗ lực hết mình để thực hiện nhiệm vụ này Tuy nhiên, còn rất nhiều những trở ngại trong quá trình thực hiện nhiệm vụ như CB, GV không được đào tạo về lĩnh vực này, kinh phí
để đầu tư cho công tác TVHN rất hạn chế Việc nghiên cứu một cách hệ thống các tài liệu về TVHN, khảo sát thực trạng công tác TVHN tại các trường THCS trên địa bàn thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ, từ đó đề ra các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác TVHN theo hướng phân luồng đối với học sinh tại các trường THCS là vô cùng cần thiết, cấp bách
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Quản lý
Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể (người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế… bằng một hệ thống các luật lệ, chính sách, nguyên tắc, phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng Đối tượng quản lý có thể trên quy mô toàn cầu, khu vực, quốc gia, ngành, đơn vị, có thể là một con người cụ thể
Mác viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ
sự vận động của toàn bộ cơ thể với sự vận động của những khí quan độc lập của
nó Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [5, tr.33]
Quản lý là một nhân tố không thể thiếu trong đời sống và sự phát triển của xã hội Từ khi xã hội phát triển và từ sự phân công lao động đã hình thành hoạt động đặc biệt - đó là sự chỉ huy, chỉ đạo, điều khiển/điều hành, kiểm tra, điều chỉnh dành cho người đứng đầu của một tổ chức hay một nhóm Hoạt động đặc biệt đó
Trang 23chính là hoạt động quản lý Cũng từ lúc đó mọi người đi tìm hiểu bản chất khái niệm quản ly và đưa ra những định nghĩa khác nhau từ những góc nhìn riêng
Theo quan điểm kinh tế học thì F.W Taylor cho rằng “Quản lý là nghệ thuật biết
rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ tiền nhất” [16]; còn H.Koontz thì khẳng định: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt các mục đích của nhóm (tổ chức) với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn ít nhất Với tư cách thực hành thì quản lý là một nghệ thuật, còn với kiến thức thì quản lý là một khoa học” [17, tr.60]
Các nhà lý luận quản lý quốc tế như: Frederich Wiliam Taylor (1856-1915), Mỹ; Henri Fayol (1841-1925), Pháp; Max Weber (1864-1920), Đức đều đã khẳng định: quản lý là khoa học và đồng thời là nghệ thuật thúc đẩy sự phát triển xã hội
Về khái niệm quản lý có nhiều cách định nghĩa khác nhau:
(1) Quản lý là các hoạt động được thực hiện nhằm đảm bảo sự hoàn thành công việc qua những nỗ lực của người khác
(2) Quản lý là công tác phối hợp có hiệu quả các hoạt động của những người cộng sự khác cùng chung một tổ chức
(3) Koontz và O Donnell cho rằng: Không có lĩnh vực hoạt động nào của con người quan trọng hơn là công việc quản lý, bởi vì mọi nhà quản lý ở mọi cấp độ
và ở trong mọi cơ sở đều có một nhiệm vụ cơ bản là thiết kế duy trì một môi ngfmaf trong đó các cá nhân làm việc với nhau trong các nhóm có thể hoàn thành các nhiệm vụ và các mục tiêu đã định
(4) James Stiner và Stephen Robbins quan niệm: Quản lý là tiến trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát những hoạt động của các thành viên trong tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực khác của tổ chức nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra
Trang 24Qua các định nghĩa trên, tuy khác nhau về cách diễn đạt nhưng đều gặp nhau
ở những nội dung cơ bản:
- Quản lý bao gồm các yếu tố cơ bản sau đây:
+ Chủ thể quản lý (có thể là một người hoặc nhiều người)
+ Đối tượng bị quản lý (có thể là một người hoặc nhiều người, sự vật,
lý, sau đó phải được đào tạo huấn luyện về cách thức tác động đến con người, sự vật; Quản lý là tìm cách, biết cách ràng buộc một cách thông minh, tế nhị việc thỏa mãn nhu cầu cho con người, trên cơ sở đó khích lệ con người đem hết năng lực thực hiện công việc được giao
+ Quản lý là thực hiện những công việc có tác dụng định hướng, điều tiết phối hợp các hoạt động của cấp dưới Đó chính là thực hiện các chức năng của quản lý
+ Quản lý là thiết lập, khai thông các quan hệ cụ thể để hoạt động chung được hình thành, tiến hành trôi chảy, đạt hiệu quả cao, bền lâu và không ngừng phát triển
+ Quản lý là chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý một cách gián tiếp hoặc trực tiếp nhằm thu được những diễn biến, thay đổi tích cực của cá nhân,
tổ chức theo mục tiêu mong đợi
Trang 25Như vậy có thể khái quát: Quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý trong tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt được mục tiêu đã đề ra
Hay nói cách khác: Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng việc thực hiện các chức năng quản lý như lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo
và kiểm tra
1.2.2 Quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội Này nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà giáo dục cho mọi người
Quản lý giáo dục được tiếp cận dưới hai góc độ đó là góc độ vĩ mô và góc độ
vi mô
Ở góc độ vĩ mô chủ thể quản lý giáo dục là hệ thống các cơ quan quản lý giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân, đối tượng của quản lý là hệ thống giáo dục quốc dân và hệ thống quản lý, mục tiêu của quản lý là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước, vì vậy khái niệm quản lý giáo dục
có thể hiểu như sau: “Quản lý giáo dục là những tác động có hệ thống, có mục đích, hợp quy luật của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống giáo dục, nhằm đảm bảo cho hệ thống giáo dục vận hành, phát triển, thực hiện mục tiêu của nền giáo dục” [25]
Ở góc độ vi mô chủ thể quản lý giáo dục là chủ thể quản lý nhà trường (hiệu trưởng, giám đốc cơ sở giáo dục), đối tượng của quản lý là các quá trình dạy học, quá trình giáo dục và các thành tố tham gia vào các quá trình đó (giáo viên, học sinh, các lực lượng khác, cơ sở vật chất, tài chính …), vì vậy khái niệm quản lý có
Trang 26thể hiểu như sau: “Quản lý nhà trường là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhà trường giúp cho nhà trường vận hành theo đường lối, quan điểm giáo dục của Đảng, thực hiện được mục tiêu, tính chất của nhà trường Việt Nam đó là hình thành phát triển nhân cách người học theo yêu cầu xã hội” [25]
1.2.3 Khái niệm về hướng nghiệp
Hướng nghiệp là một hệ thống biện pháp tác động của gia đình, nhà trường và xã hội, trong đó nhà trường đóng vai trò chủ đạo nhằm hướng dẫn và chuẩn bị cho thế hệ trẻ sẵn sàng đi vào lao động ở các ngành nghề tại những nơi xã hội đang cần phát triển, đồng thời lại phù hợp với hứng thú năng lực cá nhân Hội nghị lần thứ 9 tháng 10 năm 1980 những người đứng đầu cơ quan giáo dục nghề nghiệp các nước xã hội chủ nghĩa, họp tại La-Ha-Ba-Na Thủ đô
Cu Ba đã đưa ra định nghĩa khái niệm hướng nghiệp như sau: "Hướng nghiệp
là hệ thống những biện pháp dựa trên cơ sở tâm lý học, sinh lý học, y học và nhiều khoa học khác để giúp đỡ học sinh chọn nghề phù hợp với nhu cầu xã hội, đồng thời thoả mãn tối đa nguyện vọng, thích hợp với những năng lực, sở trường và điều kiện tâm sinh lý cá nhân, nhằm mục đích phân bố hợp lý và sử dụng có hiệu quả nhất lượng lao động dự trữ có sẵn của đất nước" [dẫn theo 24]
Định nghĩa Hướng nghiệp của liên minh châu Âu:
“Hướng nghiệp là thuật ngữ dùng để chỉ những dịch vụ hoặc hoạt động với mục đích hỗ trợ các cá nhân ở mọi lứa tuổi và vào mọi thời điểm trong cuộc đời đưa ra những lựa chọn về đào tạo, học tập và nghề nghiệp và quản lý
sự nghiệp của mình Những dịch vụ này có thể ở các trường học, các trường đại học, cao đẳng, các tổ chức đào tạo dịch vụ tuyển dụng công, ở nơi làm việc, ở khu vực tư nhân, tình nguyện hoặc cộng đồng Những hoạt động này có thể được tiến hành cho một cá nhân hoặc một nhóm cá nhân, có thể là qua tiếp
Trang 27xúc từ xa như qua điện thoại, qua website Những hoạt động này bao gồm cung cấp thông tin nghề nghiệp (bằng ấn bản, trên mạng hoặc các hình thức khác), các công cụ đánh giá và tự đánh giá, phỏng vấn, TV, những chương trình giáo dục nghề nghiệp để giúp các cá nhân phát triển nhận thức về bản thân, nhận biết cơ hội và những kỹ năng quản lý sự nghiệp), chương trình thử (lựa chọn mẫu trước khi lựa chọn chính thức), chương trình tìm kiếm việc làm
và những dịch vụ chuyển tiếp” [dẫn theo 24]
Theo quan niệm mới, hướng nghiệp là một quá trình, không chỉ diễn ra ở một thời điểm của cuộc đời mà diễn ra trong suốt đời người Mục đích không chỉ giúp con người lựa chọn nghề nghiệp phù hợp mà còn hỗ trợ con người vượt qua khó khăn, thích ứng với hoàn cảnh của một xã hội phát triển và có nhiều thay đổi, phát huy được tối đa năng lực của mình để đạt được thành công trong nghề nghiệp, có được cuộc sống tốt đẹp cho bản thân
Đối với trường phổ thông Hướng nghiệp bao gồm một hệ thống biện pháp tác động của gia đình, nhà trường, xã hội Trong đó, nhà trường đóng vai trò chủ đạo nhằm giáo dục học sinh trong việc chọn nghề, giúp các em tự quyết định nghề nghiệp tương lai trên cơ sở phân tích khoa học về năng lực, hứng thú của bản thân và nhu cầu nhân lực của ngành sản xuất trong xã hội
Như vậy, bản chất của công tác hướng nghiệp trong trường Phổ thông là một hệ thống điều khiển các động cơ chọn nghề của học sinh Hướng nghiệp
là một quá trình giáo dục liên tục; công tác hướng nghiệp mang tính xã hội rộng rãi
1.2.4 Tư vấn hướng nghiệp
TVHN là giúp học sinh xác định miền chọn nghề tối ưu theo sơ đồ sau:
Trang 28Sơ đồ 1.1 Miền chọn nghề phù hợp
Mỗi cá nhân có một xu hướng (hứng thú) với một số nhóm nghề khác nhau, đồng thời họ lại có những khả năng, năng lực cá nhân (tính cách) để phù hợp với mỗi nhóm nghề khác nhau Hai yếu tố đó phải được kết hợp với nhu cầu xã hội, yêu cầu của thị trường lao động thì mới có sự lựa chọn phù hợp Miền chọn nghề tối ưu rất hẹp, chỉ là giao của 3 miền xu hướng, năng lực và nhu cầu nghề Bởi vậy, chọn nghề phù hợp là một việc không đơn giản Nhấn
mạnh vai trò của sự phù hợp nghề, cố Bộ trưởng Tạ Quang Bửu đã nói: “Có những nghề phù hợp với sở trường và năng lực, nhưng chưa thể là nghề “kiếm cơm” Tuy vậy, đến một giai đoạn chín muồi, khi đã thực sự vững tay nghề sở đắc thì sẽ bước vào thời “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh” [dẫn theo 14]
Honda cũng đã phát biểu: “Nghề không thiếu, chỉ thiếu người chí thú với nghề, phù hợp với nghề .” [dẫn theo 14]
TVHN cho học sinh phổ thông chính là giúp các em học cách làm chủ cuộc đời mình, làm chủ tương lai thông qua việc lựa chọn hướng đi, lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với bản thân, với thị trường lao động TVHN có hiệu quả
sẽ góp phần tạo ra một lực lượng lao động trong tương lai có định hướng rõ ràng, có năng lực nghề nghiệp tốt, sẽ góp phần làm tăng năng suất lao động, là tiền đề cho sự phát triển xã hội TVHN là lời khuyên hoặc các tài liệu có liên
Xu hướng
Năng lực
Nhu cầu
Trang 29quan tới sự lựa chọn nghề của những nhà chuyên môn dự trên cơ sở những tư liệu do chuẩn đoán nghề mang lại
Về bản chất, TV là một hoạt động thông tin nhằm đáp ứng nhu cầu của một cá nhân hay của một nhóm người muốn hiểu biết về một đối tượng hoạt động mà họ chưa có điều kiện tiếp cận một cách cặn kẽ và hoàn chỉnh
Trong thực tế chúng ta thường thấy xuất hiện các cụm từ có liên quan tới hoạt động TV như: TV học đường, TV hôn nhân và gia đình, TV việc làm Đồng thời cũng tồn tại những tổ chức dịch vụ TV hiện có mặt tại thành phố, các khu công nghiệp, các tổ chức thanh niên, phụ nữ, quân đội như: Trung tâm
TV và xúc tiến việc làm, Trung tâm TV hôn nhân và gia đình
Như vậy TVHN cũng được hiểu như một hoạt động thông tin nhằm giúp học sinh nâng cao nhận thức, hiểu biết về nghề và hoạt động nghề, lĩnh vực nghề riêng biệt
TVHN là một hoạt động giữa chủ thể TV với đối tượng TV, trong đó chủ thể là một cá nhân hay một tổ chức có kinh nghiệm nắm vững một lĩnh vực hoạt động nào đó Chủ thể TV là nơi thu nhận, sàng lọc, chuyển tải thông tin nghề có khả năng ứng xử với đối tượng TV (để thỏa mãn những nhu cầu đối tượng ở mức độ cần thiết) Do tính phức hợp về nhu cầu của đối tượng TV, chủ thể TV cũng theo đó mà có thành phần xuất xứ đa dạng: đó có thể là những chuyên gia xã hội học, tâm lý học, y học, những chuyên gia về thương mại, khoa học kỹ thuật, văn hóa, mỹ thuật
Đối tượng TV có thể là bất cứ học sinh nào, nhóm học sinh, cha mẹ học sinh nào nếu có nhu cầu TV
Mối quan hệ giữa chủ thể TV và đối tượng TV là mối quan hệ tác động qua lại, trong đó chủ thể TV ở vị trí tạo nên tác động nhờ việc chuyển tải thông
Trang 30tin, phân tích, khuyên nhủ Đối tượng TV ở vị trí của những người được tác động tiếp nhận những thông tin từ chủ thể TV
Kết quả cuối cùng của TV có thể là sự chuyển biến về nhận thức và cũng
có thể là sự thay đổi quyết định lớn của cuộc đời Song, nếu thông tin thiếu hoàn thiện, ứng sử của chủ thể chưa thấu tình đạt lý, có thể dẫn tới đối tượng
TV có những nhận thức hoặc việc làm vô bổ - sự tác động diễn ra theo chiều hướng xấu kém hiệu quả
Nội dung TVHN là những thông tin theo yêu cầu của đối tượng TV Những thông tin này nhằm đặt đối tượng vào sự lựa chọn quyết sách cho mình,
có được sự định hướng để “cần phải” hay “không cần” thực hiện theo dự kiến trước đây hoặc những lời khuyên của chủ thể TV Thông tin TVHN bao gồm cả những mặt được và chưa được của đối tượng thỏa mãn nhu cầu, kèm theo những lời khuyên “nên” hoặc “không nên” của chủ thể Nội dung TV nghề có thể là thuận chiều nếu những thông tin TV mang lại giúp cho đối tượng củng cố thêm những ý định của mình, làm sáng tỏ thêm những gì còn vướng mắc trong tiến trình đạt tới ước muốn cũng như kết quả sẽ đạt tới của họ
Những thông tin loại này trong nội dung TV được hiểu như là nguồn thông tin thuận chiều so với ước nguyện của đối tượng Trong rất nhiều trường hợp, nội dung TV nghề lại bao hàm những thông tin phản bác lại suy nghĩ của đối tượng, vạch rõ những yếu tố sai trái không thể chấp nhận được trong thực tiễn hoặc những cản trở khiến học sinh không có khả năng thực hiện được ước muốn Những thông tin loại này được gọi là những thông tin phản bác của chủ thể TV đưa ra giúp đối tượng xem xét và quyết định Trong hoạt động TV, ngoài sự tham gia chính yếu của chủ thể và đối tượng, chúng ta còn thấy sự có mặt của những phương tiện hỗ trợ như máy móc đo một số chỉ số y học, sinh học của con người, phim, video, tranh ảnh và đôi khi gặp cả những cuộc thị sát thực tế tại hiện trường (công ty, nhà máy, xí nghiệp, công trường, nông trường,
Trang 31thương trường, ) để đối tượng có điều kiện mắt thấy tai nghe, làm sáng tỏ hơn những nhận định của bản thân Kết quả của mỗi hoạt động TV nghề được biểu thị qua mức độ thông hiểu, chấp nhận hay không chấp nhận những thông tin và lời khuyên có liên quan tới nhu cầu do đối tượng đặt ra của chủ thể TV cùng với những quy định cụ thể của đối tượng Không phải mọi cuộc TV đều đi tới kết quả thuận chiều mà đôi khi nó chỉ là sự gợi mở cho đối tượng một số hiểu biết cần thiết để trên cơ sở đó đối tượng sẽ tiếp tục suy nghĩ, tự phân tích để đi tới quyết sách cho bản thân Hiệu quả của hoạt động TV có thể mang tính tức thời (sau một lần TV) và cũng có thể mang tính lâu dài (sau một số lần TV) Ở trường hợp thứ hai, mỗi lần TV đối tượng có thêm những thông tin làm sáng tỏ mục đích cần đạt tới trong nhu cầu, tạo ra sự điều chỉnh cần thiết phù hợp hơn với thực tế
Về phía chủ thể, thông qua hoạt động TV họ sẽ thu nhận được nhiều thông tin bổ ích về nhu cầu đa dạng của nhiều loại đối tượng TV, tìm được những kinh nghiệm trong giao tiếp với đối tượng trong những hoàn cảnh cụ thể, để từ
đó nâng cao khả năng và hiệu quả TV
Mối quan hệ giữa chủ thể và đối tượng thông qua nội dung trong hoạt động TV có thể được biểu hiện qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.2 Mối quan hệ giữa chủ thể và đối tượng trong hoạt động TV
Trang 32
Sơ đồ 1.3 Mối quan hệ trách nhiệm giữa các bộ phận trong trường THCS
khi thực hiện hoạt động TVHN cho học sinh
Những thành phần nêu trên với chức năng, nhiệm vụ riêng của mình sẽ tham gia vào hoạt động TV cho học sinh trên những phần việc sau:
- Hiệu trưởng: Là người phụ trách chung về các hoạt động hướng nghiệp trong nhà trường, trong đó có hoạt động TV Hiệu trưởng có trách nhiệm thông qua và ký các quyết định về kế hoạch tiến hành các hoạt động TV trong và ngoài trường
Thu thập và cung cấp thông tin phục
vụ hoạt động
TV
HIỆU TRƯỞNG
Thu thập và
xử lý thông tin cung cấp thông tin cho chủ thể
TV
Học sinh: tiếp nhận và lựa chọn thông tin do TV
mang lại
Cung cấp thông tin nghề nghiệp cho học sinh
Ban hướng nghiệp nhà trường
Trang 33- Ban/Tổ hướng nghiệp: Chịu trách nhiệm thu thập xử lý những thông tin
do các bộ phận cung cấp, đưa ra những nhận định, đánh giá sơ bộ về xu hướng nghề của học sinh Những thông tin sau xử lý do Ban/Tổ hướng nghiệp thực hiện sẽ là những tài liệu bổ ích cho cán bộ làm TV khi tiến hành hoạt động này, làm cho nội dung TV có tính sát thực, đáp ứng đúng nhu cầu định hướng nghề của đối tượng TV Ban hướng nghiệp còn chịu trách nhiệm tham mưu cho Hiệu trưởng đề xuất kế hoạch và tổ chức các hoạt động TV về nhân lực, cơ sở vật chất, phù hợp với kế hoạch năm học của nhà trường trên từng loại đối tượng
cụ thể
- Giáo viên chủ nhiệm: Cung cấp những thông tin phản ánh năng lực học tập, trình độ nhận thức xã hội, phẩm chất đạo đức, kỹ năng hòa nhập cộng đồng của mỗi học sinh do mình phụ trách Mỗi giáo viên chủ nhiệm còn có trách nhiệm tập hợp những thông tin do những bộ phận khác cung cấp để thiết lập các phiếu đánh giá về xu hướng nghề đối với từng học sinh trong từng lớp làm hoạt động TV
- Giáo viên bộ môn: Thu thập và cung cấp những thông tin có liên quan tới thái độ, năng lực học tập của từng học sinh đối với những môn học cụ thể
- Thư viện: Thu thập và cung cấp những thông tin về nhu cầu, hứng thú,
sở thích của hoạt động đối với những lĩnh vực hoạt động xã hội, nghệ thuật, khoa học, công nghệ, kỹ thuật, được phản ánh qua sách báo, tài liệu do Nhà nước ấn hành
- Y tế nhà trường: Trên cơ sở các kết quả giám định y học đối với từng học sinh qua các năm học, bộ phận y tế có thể thu thập và cung cấp thông tin về sức khỏe và dự kiến về sự tương ứng của tình trạng này đối với mỗi lĩnh vực nghề hoặc nghề cụ thể cũng như những chống chỉ định nghề trên mỗi học sinh
Trang 34- Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh: Thu thập và cung cấp những thông tin về năng lực hoạt động xã hội, tập thể, thái độ, lối sống của mỗi thành viên trong tổ chức
- Học sinh: Là đối tượng của hoạt động TV đồng thời là chủ thể của quá trình tiếp nhận thông tin nghề do hoạt động TV mang lại Học sinh không chỉ
có nhiệm vụ tiếp thu thông tin do chủ thể TV cung cấp mà cùng với nó là quá trình lựa chọn những thông tin hữu ích phù hợp với năng lực, sở trường, tình trạng sức khỏe và nhu cầu lựa chọn nghề của bản thân
1.2.5 Khái niệm về phân luồng
Về khái niệm: Phân luồng học sinh sau THCS là việc lựa chọn, sắp xếp
mang tính xã hội để học sinh sau khi tốt nghiệp tiếp tục được giáo dục và đào tạo theo những khuynh hướng và ngành học khác nhau phù hợp với nguyện vọng, năng lực học sinh và nhu cầu xã hội hoặc tham gia lao động sản xuất Học sinh sau tốt nghiệp THCS được phân chia theo bốn luồng khác nhau
đó là: Giáo dục phổ thông (luồng chính); giáo dục thường xuyên; giáo dục nghề nghiệp và tham gia lao động sản xuất (các luồng phụ)
Xu thế hiện nay cần giảm học sinh vào luồng chính đến một tỷ lệ phù hợp, tăng tỷ lệ học sinh các luồng phụ ở mức cần thiết trong đó luồng lao động sản xuất giảm thiểu càng nhiều càng tốt
Về bản chất: Phân luồng là sự phân hoá theo nhóm lớn đối với học sinh
sau THCS Đó là những nhóm học sinh có cùng định hướng, cùng nguyện vọng sau THCS
Về mục tiêu: Phân luồng học sinh sau THCS là nhằm phát huy năng lực
của người học tốt nhất theo khả năng, hoàn cảnh, điều kiện mà họ có được
Về ý nghĩa: Phân luồng học sinh sau THCS là biện pháp thực hiện hợp lý
Trang 35hoá xu hướng phân hoá của học sinh sau THCS trên cơ sở năng lực học tập, nguyện vọng của học sinh và nhu cầu xã hội
1.2.6 Khái niệm về hoạt động TVHN theo hướng phân luồng học sinh sau THCS
Hoạt động TVHN theo hướng phân luồng học sinh sau THCS là hoạt
động thông tin nhằm giúp học sinh nâng cao nhận thức, hiểu biết về bản thân, nhu cầu thị trường lao động từ đó làm chủ cuộc đời mình, làm chủ tương lai thông qua việc lựa chọn hướng đi sau THCS Là việc lựa chọn, sắp xếp mang tính xã hội để học sinh sau khi tốt nghiệp THCS tiếp tục được giáo dục và đào tạo theo những khuynh hướng và ngành học khác nhau phù hợp với nguyện vọng, năng lực học sinh và nhu cầu xã hội hoặc tham gia lao động sản xuất Học sinh sau tốt nghiệp THCS được phân chia theo bốn luồng khác nhau
đó là: Giáo dục phổ thông (luồng chính); giáo dục thường xuyên; giáo dục nghề nghiệp và tham gia lao động sản xuất (các luồng phụ) Hoạt động TVHN theo hướng phân luồng học sinh sau THCS là hoạt động nhằm tạo ra sự hợp lý về số lượng học sinh theo các luồng Hiện nay đa số HS tốt nghiệp THCS đều đi theo luồng chính là học lên THPT Số lượng học sinh theo các luồng phụ là rất ít Vì vậy Hoạt động TVHN theo hướng phân luồng HS sau THCS là hoạt động tư vấn giúp cho số lượng học sinh theo luồng chính giảm bớt và tăng số HS theo các luồng phụ phù hợp với năng lực HS và nhu cầu xã hội
1.2.7 Khái niệm về quản lý hoạt động TVHN theo hướng phân luồng học sinh sau THCS
Quản lý hoạt động TVHN theo hướng phân luồng HS sau THCS là những tác động có hệ thống, có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý đối với hoạt động TVHN theo hướng phân luồng học sinh sau THCS
Trang 36Hiện nay hoạt động TVHN phân luồng học sinh sau THCS tuy đã có nhiều chuyển biến tích cực nhưng vẫn còn nhiều yếu kém, bất cập như: Việc phát triển giáo dục và đào tạo không cân đối giữa các luồng, hiệu quả xã hội của phân luồng chưa cao, các luồng phụ chưa thông thoáng
Nhận thức của mọi người dân trong xã hội về hoạt động này chưa đúng hướng nhất là tâm lý của phụ huynh và học sinh Việc quản lý hoạt động TVHN theo hướng phân luồng trong các trường THCS còn nhiều yếu kém, chưa được coi trọng Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, giáo dục thường xuyên chưa đủ mạnh để có sức thu hút và thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ phân luồng học sinh THCS
1.3 Nội dung quản lý hoạt động tư vấn hướng nghiệp theo hướng phân luồng học sinh sau THCS
1.3.1 Xây dựng kế hoạch tư vấn hướng nghiệp theo hướng phân luồng học sinh sau THCS
Xây dựng kế hoạch hoạt động TVHN theo hướng phân luồng học sinh
sau THCS bao gồm xây dựng mục tiêu, chương trình hoạt động TVHN, xác định từng bước đi, những điều kiện, phương tiện cần thiết trong một thời gian nhất định phục vụ cho hoạt động TVHN phân luồng HS Việc xây dựng kế hoạch, chương trình hoạt động TVHN giúp các nhà quản lý tập trung chú ý vào mục tiêu hoạt động TVHN phân luồng HS, dự kiến trước những khả năng ứng phó với những phương án tối ưu, tiết kiệm nguồn nhân lực và đem lại hiệu quả cao nhất; đồng thời giúp nhà quản lý dễ dàng kiểm tra việc thực hiện
kế hoạch, chương trình của các lực lượng tham gia hoạt động TVHN và hiệu
quả của việc phân luồng HS
Việc xây dựng kế hoạch TVHN theo hướng phân luồng HS trong trường THCS phụ thuộc vào mục tiêu hoạt động TVHN trong năm học và các nhiệm
Trang 37vụ phải thực hiện để đạt mục tiêu đó Để xác định nội dung kế hoạch hoạt động TVHN trong năm học cần căn cứ vào kế hoạch tổng thể và nhiệm vụ cụ thể của hoạt động TVHN trong năm học đó của nhà trường Đồng thời khi xây dựng kế hoạch TVHN theo hướng phân luồng HS cần cụ thể hóa các nhiệm
vụ, nội dung theo tháng, tuần, buổi; theo các hoạt động chính và theo trách nhiệm của từng bộ phận, cá nhân tham gia vào hoạt động TVHN, kết quả phân luồng HS sau khi được tư vấn
1.3.2 Tổ chức thực hiện kế hoạch
- Tổ chức cơ cấu: xây dựng cơ cấu tổ chức quản lý hoạt động TVHN
hoặc bộ máy quản lý hoạt động TVHN được phân chia thành các bộ phận khác nhau và xác định nhiệm vụ cho từng bộ phận
Trong quá trình xây dựng cơ cấu tổ chức cần phải:
+ Xác định rõ nhiệm vụ và chức năng của hoạt động TVHN là nhằm phân luồng hợp lý HS Căn cứ năng lực học tập của HS, nguyện vọng, xu hướng nghề, đặc điểm thần kinh khí chất để xác định tỷ lệ HS theo luồng chính và theo các luồng phụ
+ Nghiên cứu mối liên hệ giữa hoạt động TVHN với các hoạt động khác + Xác định những hoạt động quan trọng, cần thiết để đạt được mục đích của hoạt động TVHN và hiệu quả của phân luồng
- Tổ chức quá trình: thiết kế quá trình quản lý hoạt động TVHN theo
hướng phân luồng HS, làm cho cơ cấu tổ chức quản lý có thể vận hành được trong thực tế thông qua việc xây dựng nội quy, quy chế phối hợp, tạo mối liên
hệ giữa các bộ phận tham gia thực hiện kế hoạch hoạt động TVHN phân luồng
HS tại đơn vị
Trang 38- Tổ chức nhân sự: xác định số lượng giáo viên, các bộ phận tham gia vào
hoạt động TVHN Chức danh cho các bộ phận, tổ chức hoạt động TVHN
1.3.3 Chỉ đạo thực hiện kế hoạch
Một trong những khâu quan trọng của việc quản lý hoạt động TVHN theo hướng phân luồng HS chính là chỉ đạo thực hiện kế hoạch, chương trình hoạt động TVHN ở nhà trường Việc cụ thể hóa kế hoạch, chương trình thực hiện theo từng thời điểm nhất định, và việc thực hiện kế hoạch đến đâu, hiệu quả ra sao đều phụ thuộc chủ yếu vào việc chỉ đạo thực hiện kế hoạch, chương trình hoạt động TVHN của lãnh đạo nhà trường Trong quá trình thực hiện kế hoạch, chương trình hoạt động TVHN có thể xảy ra những tình huống ngoài dự kiến,
cần có sự điều chỉnh kịp thời để đạt mục đích mong đợi
1.3.4 Giám sát, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế
Kiểm tra, đánh giá là một khâu không thể thiếu trong quá trình quản lý hoạt động TVHN phân luồng HS Đánh giá không chỉ ở giai đoạn cuối cùng của mỗi giai đoạn giáo dục mà cần thực hiện thường xuyên trong suốt cả quá trình Đánh giá ở những thời điểm cuối mỗi giai đoạn sẽ trở thành khởi điểm của mỗi giai đoạn tiếp theo với yêu cầu giáo dục cao hơn, chất lượng mới hơn
trong cả một quá trình TVHN theo hướng phân luồng HS
Vậy, muốn hoạt động TVHN, phân luồng HS đạt hiệu quả cao thì nhà quản lý phải bám sát mục tiêu của hoạt động TVHN đã đề ra; xây dựng các tiêu chuẩn, phương pháp kiểm tra đánh giá hoạt động TVHN; thực hiện công tác kiểm tra đánh giá một cách thường xuyên và phối hợp tốt các phương pháp
kiểm tra đánh giá:
Đánh giá qua việc theo dõi các bảng biểu báo cáo định kỳ về nề nếp học tập
của học sinh, hoạt động giảng dạy của giáo viên… để có ý kiến chỉ đạo kịp thời
Trang 39Đánh giá một cách thường xuyên và theo định kỳ hàng tuần, hàng tháng để
rút kinh nghiệm về những gì đã và chưa làm được, những sai sót cần khắc phục
Đánh giá hoạt động TVHN phân luồng HS thông qua giáo viên và học
sinh vì đây chính là đối tượng chính trong hoạt động TVHN
Tổng kết, rút kinh nghiệm từng giai đoạn để kịp thời chấn chỉnh những thiếu sót, đề ra biện pháp phù hợp đối với những yếu tố phát sinh trong quá trình thực hiện hoạt động TVHN
1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động TVHN
Trong nhà trường đội ngũ giáo viên là lực lượng chủ lực để thực hiện các nhiệm vụ đề ra, trong đó có hoạt động TVHN phân luồng HS Người giáo viên cần có đủ năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ đồng thời phải am hiểu chính sách phát triển kinh tế xã hội của địa phương, hệ thống đào tạo nghề và các thông tin về nghề để có thể TV cho học sinh
Trang 40Nhận thức của học sinh về năng lực bản thân, vai trò nghề nghiệp, thiếu thông tin về các ngành nghề hiện nay, không thấy giá trị của lao động nghề kỹ thuật nên hầu hết học sinh THCS mong muốn học lên THPT để sau đó học lên đại học và cao đẳng
1.4.2 Những yếu tố khách quan
Những yếu tố khách quan ảnh hướng đến quản lý hoạt động TVHN bao gồm: sự quan tâm lãnh, chỉ đạo của cấp trên; xu hướng học tập của học sinh trên địa bàn; các điều kiện cơ sở vật chất, chế độ cho người làm công tác TV; tâm lý trọng bằng cấp của phụ huynh học sinh muốn con em mình phải qua đại học khó chấp nhận cho con em mình học trong các trường dạy nghề; chất lượng của hệ thống các trường đào tạo nghề
Ngoài ra còn có các yếu tố khác có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp, ít hay nhiều đến quản lý hoạt động TVHN theo hướng phân luồng HS sau THCS