Thực trạng và giải pháp quản lý, sử dụng đất đai của các tổ chức trên địa bàn thành phố Cẩm Phả tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2011 2015 (LV thạc sĩ)Thực trạng và giải pháp quản lý, sử dụng đất đai của các tổ chức trên địa bàn thành phố Cẩm Phả tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2011 2015 (LV thạc sĩ)Thực trạng và giải pháp quản lý, sử dụng đất đai của các tổ chức trên địa bàn thành phố Cẩm Phả tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2011 2015 (LV thạc sĩ)Thực trạng và giải pháp quản lý, sử dụng đất đai của các tổ chức trên địa bàn thành phố Cẩm Phả tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2011 2015 (LV thạc sĩ)Thực trạng và giải pháp quản lý, sử dụng đất đai của các tổ chức trên địa bàn thành phố Cẩm Phả tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2011 2015 (LV thạc sĩ)Thực trạng và giải pháp quản lý, sử dụng đất đai của các tổ chức trên địa bàn thành phố Cẩm Phả tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2011 2015 (LV thạc sĩ)Thực trạng và giải pháp quản lý, sử dụng đất đai của các tổ chức trên địa bàn thành phố Cẩm Phả tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2011 2015 (LV thạc sĩ)Thực trạng và giải pháp quản lý, sử dụng đất đai của các tổ chức trên địa bàn thành phố Cẩm Phả tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2011 2015 (LV thạc sĩ)Thực trạng và giải pháp quản lý, sử dụng đất đai của các tổ chức trên địa bàn thành phố Cẩm Phả tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2011 2015 (LV thạc sĩ)Thực trạng và giải pháp quản lý, sử dụng đất đai của các tổ chức trên địa bàn thành phố Cẩm Phả tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2011 2015 (LV thạc sĩ)Thực trạng và giải pháp quản lý, sử dụng đất đai của các tổ chức trên địa bàn thành phố Cẩm Phả tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2011 2015 (LV thạc sĩ)
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Thái Nguyên, năm 2016
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN THẾ HÙNG
Thái Nguyên, năm 2016
Trang 3i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc./
Tác giả luận văn
Nguyễn Thạch Long
Trang 4ii
LỜI CẢM ƠN Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo – PGS.TS NGUYỄN THẾ HÙNG, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, là người trực
tiếp hướng dẫn, giúp đỡ và chỉ bảo tận tình để tôi có thể hoàn thành Luận văn này Xin chân thành cảm ơn Phòng quản lý đào tạo sau đại học, Ban chủ nhiệm khoa Tài nguyên và Môi trường, tập thể giáo viên, cán bộ công nhân viên Phòng quản lý sau đại học, khoa Tài nguyên và Môi trường cùng toàn thể bạn bè đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Sở Tài nguyên và Môi trường Quảng Ninh, Văn phòng đăng ký đất đai, chi nhánh Văn phòng đăng kí đất đai thành phố Cẩm Phả, phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Cẩm Phả và các cơ quan ban ngành khác có liên quan tạo điều kiện cho tôi thu thập số liệu, những thông tin cần thiết để thực hiện luận văn
Tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn chân thành và sâu sắc tới sự giúp đỡ tận tình, quý báu đó!
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Trang 5iii
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
2.1 Mục tiêu tổng quát 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3
3.1 Ý nghĩa khoa học 3
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở lý luận và tầm quan trọng của công tác quản lý đất đai 4
1.1.1 Tầm quan trọng của công tác quản lý đất đai đối với các tổ chức 4
1.1.2 Cơ sở pháp lý của công tác giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đât 7
1.2 Tổng quan quản lý đất đai trong nước và ngoài nước 13
1.2.1 Tình hình quản lý đất đai trên thế giới 13
1.2.2 Tình hình quản lý đất đai tại Việt Nam 15
1.3 Tình hình sử dụng đất đai của cả nước 16
1.3.1 Hiện trạng sử dụng đất của cả nước 16
1.3.2 Hiện trạng sử dụng đất của các tổ chức trong cả nước 17
1.4 Tình hình sử dụng đất của các tổ chức trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh 21
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU25 2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 25
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 25
2.1.2 Phạm vi và thời gian nghiên cứu 25
2.2 Nội dung nghiên cứu 25
2.2.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội có liên quan đến tình hình sử dụng đất của các tổ chức 25
2.2.2 Đánh giá hiện trạng quản lý và sử dụng đất đai trên địa bàn thành phố Cẩm Phả 25
2.2.3 Đánh giá thực trạng quản lý, sử dụng đất của các tổ chức trên địa bàn thành phố Cẩm Phả 25
Trang 6iv 2.2.4 Đề xuất một số giải pháp nhằm sử dụng tiết kiệm, hiệu quả đối với quỹ
đất đã giao cho các tổ chức sử dụng 26
2.3 Phương pháp nghiên cứu 26
2.3.1 Tài liệu liệu thứ cấp 26
2.3.2 Tài liệu sơ cấp 27
2.3.3 Phương pháp so sánh, phân tích tổng hợp 27
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 28
3.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội có liên quan đến tình hình sử dụng đất của các tổ chức 28
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 28
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 33
3.2 Hiện trạng quản lý và sử dụng đất đai trên địa bàn thành phố Cẩm Phả 34
3.2.1 Tình hình quản lý đất đai 34
3.2.2 Hiện trạng sử dụng đất đai năm 2015 40
3.3 Đánh giá hiện trạng quản lý, sử dụng đất của các tổ chức trên địa bàn thành phố Cẩm Phả 42
3.3.1 Tình hình giao đất và thuê đất cho các tổ chức trên địa bàn thành phố Cẩm Phả 42
3.3.2 Tình hình sử dụng đất mặt nước biển của các tổ chức 54
3.3.3 Tình hình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các tổ chức 55
3.3.4 Đánh giá tình hình quản lý sử dụng đất của các tổ chức 57
3.3.5 Tình hình thực hiện nghĩa vụ tài chính của các tổ chức kinh tế thuê đất 61
3.3.6 Đánh giá tình hình sử dụng đất của các tổ chức qua kết quả điều tra 61
3.3.7 Đánh giá chung tình hình sử dụng đất của các tổ chức 66
3.4 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý đất đai của các tổ chức trên địa bàn thành phố Cẩm Phả 69
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 72
1 Kết luận 72
2 Đề nghị 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
Trang 7TDMNBB Trung du miền núi Bắc bộ
TN&MT Tài nguyên và môi trường
Trang 82011-2015 55Bảng 3.12: Tình hình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các tổ chức
giai đoạn 2011-2015 56Bảng 3.13: Tình hình sử dụng đất không đúng mục đích được giao, được thuê
của các tổ chức 58Bảng 3.14: Tình hình cho thuê, cho mượn, chuyển nhượng trái phép diện tích
đất được giao, được thuê của các tổ chức 59Bảng 3.15: Những nguyên nhân chính của các tổ chức sử dụng đất không
đúng mục đích được giao, được thuê 62Bảng 3.16: Các khó khăn trong việc xin giao đất, thuê đất đối với các tổ chức 64Bảng 3.17: Hiệu quả sử dụng đất của các tổ chức 64Bảng 3.18: Tổng hợp giải pháp nâng cao hiệu quả của công tác giao đất, cho
thuê đất cho các tổ chức 65
Trang 9của Hạ Long, Đông Triều và Uông Bí 34Hình 3.5: Quy hoạch sử dụng đất thành phố Cẩm Phả giai đoạn 2010 - 2015 42
Trang 101
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ khi thực hiện chủ trương đổi mới đất nước, với sự hình thành và phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, kinh tế Việt Nam ngày càng phát triển dẫn đến sự đa dạng hóa về các thành phần kinh tế và các hình thức sản xuất Từ nền kinh tế quốc doanh chiếm chủ yếu đến nay kinh tế tư nhân, liên doanh liên kết phát triển đóng vai trò không thể thiếu trong nền kinh tế quốc dân
Từ đó, vai trò của chủ sử dụng đất đai nhiều, phong phú hơn Nhà nước quản lý, khai thác, sử dụng đất đai với tư cách là tư liệu sản xuất mà còn thể hiện qua việc khai thác, sử dụng các nguồn lực tài chính quan trọng từ đất phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước Nhờ có chính sách đổi mới đó mà đời sống người dân ngày càng cải thiện, kinh tế đất nước ngày càng phát triển Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực vấn đề đặt ra với cơ quan quản lý đất đai làm thế nào để đáp ứng được nhu cầu sử dụng đất ngày càng gia tăng của các thành phần kinh tế trong khi quỹ đất có hạn Đây là vấn đề được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm, chú trọng giải quyết, được thể hiện qua Luật Đất đai và các văn bản của Chính phủ và các Bộ, Ngành có liên quan đến quản lý, sử dụng hợp lý, hiệu quả và bền vững tài nguyên đất
Theo kết quả thống kê đất đai toàn quốc năm 2012 diện tích đất giao hoặc cho các tổ chức thuê có đến hơn 10.000.000 ha, chiếm hơn 30% diện tích tự nhiên của cả nước Tuy nhiên việc quản lý và sử dụng nhìn chung còn chưa chặt chẽ, hiệu quả thấp, còn để xảy ra nhiều tiêu cực như: Sử dụng không đúng ranh giới và diện tích, không đúng mục đích, bị lấn chiếm, chuyển nhượng, cho thuê trái phép…
Cẩm Phả là thành phố công nghiệp mà chủ yếu là khai thác than, đây là khu vực có trữ lượng than lớn nhất cả nước, hàng năm khai thác và chế biến khoảng
38 triệu tấn than cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu Bên cạnh đó ngành công nghiệp khai thác và sản xuất vật liệu xây dựng như đá vôi, cát, đất sét và sản xuất xi măng cũng đóng góp đáng kể cho nguồn thu ngân sách của địa phương Ngoài ra còn có các nhà máy cơ khí và các ngành du lịch, dịch vụ cũng
Trang 112 rất phát triển Hiện trên địa bàn thành phố các tổ chức sử dụng đất chiếm 32,88
% tổng diện tích tự nhiên Tuy nhiên, công tác quản lý sử dụng đất của các đơn
vị còn nhiều bất cập, tình trạng sử dụng đất trái mục đích được giao, để đất bị lấn chiếm hoặc không sử dụng đất vẫn còn xảy ra Đặc biệt với đặc thù của ngành công nghiệp khai thác than, diện tích sử dụng lớn và sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau và thường nằm trong khu vực có địa bàn đồi núi phức tạp, xa khu dân
cư và ranh giới giao đất khó xác định ngoài thực địa cũng là những khó khăn trong công tác quản lý cho cơ quan nhà nước cũng như chính đơn vị sử dụng đất Thành phố Cẩm Phả nằm trong vùng tam giác kinh tế trọng điểm phía Bắc:
Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh và nằm trong hành lang kinh tế Hạ Long - Cẩm Phả - Vân Đồn - Móng Cái với nguồn tài nguyên phong phú và đa dạng với trữ lượng lớn cùng vị trí địa lý chiến lược là những thuận lợi để Cẩm Phả phát triển hơn nữa trong tương lai Chiến lược phát triển của đại phương trong thời gian tới là xây dựng thành phố Cẩm Phả trở thành thành phố công nghiệp và dịch
vụ theo hướng hiện đại, bền vững với môi trường, là đô thị điển hình trong việc thực hiện cụ thể hóa chuyển đổi mô hình phát triển từ “nâu” sang “xanh” Do đó cần phải có sự bố trí hợp lý nguồn tài nguyên đất đai để đáp ứng nhu cầu cho sự phát triển đặc biệt là quỹ đất dành cho các tổ chức kinh tế - xã hội vì vậy tôi lựa
chọn đề tài “Thực trạng và giải pháp quản lý, sử dụng đất đai của các tổ chức
trên địa bàn thành phố Cẩm Phả - tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2011 - 2015”
2 Mục tiêu của đề tài
2.1 Mục tiêu tổng quát
Đánh giá thực trạng quản lý, sử dụng đất đai của các tổ chức và đề xuất một
số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đất trên địa bàn thành phố Cẩm Phả từ năm 2011 đến năm 2015
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Nghiên cứu điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội trên địa bàn thành phố Cẩm Phả để từ đó khái quát những ưu điểm, hạn chế có ảnh hưởng đến tình hình quản lý và sử dụng đất của các tổ chức
- Đánh giá tình hình quản lý, sử dụng đất đai trên địa bàn thành phố Cẩm Phả
Trang 123 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Trang 134
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở lý luận và tầm quan trọng của công tác quản lý đất đai
Trên cơ sở đánh giá thực trạng công tác quản lý đất đai của một số tổ chức
đề tài dựa trên hai bộ luật chính là Luật Đất đai 2003 được Quốc hội thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2003 và Luật Đất đai 2013 được Quốc hội thông qua ngày
29 tháng 11 năm 2013 và các văn bản hướng dẫn có liên quan
1.1.1 Tầm quan trọng của công tác quản lý đất đai đối với các tổ chức
1.1.1.1 Khái quát về đất đai
Đất đai là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt,
là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn để phân bố dân
cư, kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng Hiến pháp Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 tại Chương II Điều 18 quy định "Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả Nhà nước giao đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài"[8]
Việc quản lý, sử dụng nguồn tài nguyên đất đúng mục đích, hợp lý, có hiệu quả, bảo vệ cảnh quan và môi trường sinh thái sẽ phát huy tối đa nguồn lực của đất đai, góp phần thúc đẩy mạnh mẽ quá trình phát triển kinh tế - xã hội theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Theo Luật Đất đai năm 2003[3] , một số khái niệm liên quan đến các tổ chức quản lý, sử dụng đất được hiểu như sau:
Nhà nước giao đất là việc Nhà nước trao quyền sử dụng đất đai bằng quyết định hành chính cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất
Nhà nước cho thuê đất là việc Nhà nước trao quyền sử dụng đất bằng hợp đồng cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất
Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất đối với người đang sử dụng ổn định
là việc Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu cho người đó
Theo Luật Đất đai năm 2013 [4], đối với các tổ chức một số khái niệm được hiểu như sau:
Nhà nước giao quyền sử dụng đất (sau đây gọi là Nhà nước giao đất) là việc
Trang 145 Nhà nước ban hành quyết định giao đất để trao quyền sử dụng đất cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất
Nhà nước cho thuê quyền sử dụng đất (sau đây gọi là Nhà nước cho thuê đất)
là việc Nhà nước quyết định trao quyền sử dụng đất cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất thông qua hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất
Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất là việc Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người đang sử dụng đất ổn định mà không có nguồn gốc được Nhà nước giao đất, cho thuê đất thông qua việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất lần đầu đối với thửa đất xác định
1.1.1.2 Khái quát về quỹ đất các tổ chức
Quỹ đất đang quản lý, sử dụng của các tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất được kiểm kê bao gồm quỹ đất thuộc cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức kinh tế - xã hội, tổ chức sự nghiệp công, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, tổ chức nước ngoài đầu tư vào Việt Nam
Theo Thông tư số 08/2007/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường ngày 02 tháng 8 năm 2007 hướng dẫn thực hiện thống kê, kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất, và thông tư số 28/2014/TT-BTNMT thì quỹ đất của các tổ chức trên địa bàn toàn quốc được thống kê phân theo các loại [9, 17]: giao đất không thu tiền sử dụng đất; giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất
1.1.1.3 Các loại hình tổ chức ở Việt Nam
Theo Phạm Hồng Thái [11]:
a Cơ quan hành chính Nhà nước
Bộ máy nhà nước là một chỉnh thể thống nhất, được tạo thành bởi các cơ quan nhà nước Là một bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước, cơ quan hành chính nhà nước có đặc điểm chung của cơ quan nhà nước Đặc điểm chung ấy là cơ sở để phân biệt cơ quan nhà nước với tổ chức xã hội Đồng thời, cơ quan hành chính nhà nước
có những đặc thù so với cơ quan khác của Nhà nước như Quốc hội, Chủ tịch nước, Hội đồng nhân dân, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân
Theo Hiến pháp 1992 [8] hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước gồm có:
- Cơ quan hành chính nhà nước cao nhất là Chính phủ (Điều 109 Hiến pháp 1992)
Trang 156
- Cơ quan hành chính nhà nước ở Trung ương (các Bộ, các cơ quan ngang Bộ, các cơ quan thuộc Chính phủ)
- Cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương (Uỷ ban nhân dân các cấp, các
sở, phòng, ban của Uỷ ban nhân dân)
Hiến pháp 1992 còn có một chương về Chủ tịch nước Cộng hoà XHCN Việt Nam: Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước (Nguyên thủ Quốc gia) Có những quyền hạn mang tính chất của cơ quan lập pháp như: công bố Hiến pháp, luật, pháp lệnh, đề nghị Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và trong trường hợp cần thiết đưa vấn đề trên ra Quốc hội (có thể gọi đây là quyền phủ quyết pháp lệnh) Với tư cách nguyên thủ Quốc gia, Chủ tịch nước thực hiện một số quyền hạn mang tính chất hành pháp và bảo đảm hoạt động độc lập của Toà án và Viện kiểm sát Vì vậy, chế định của Chủ tịch nước trong Hiến pháp 1992 được quy định như một biểu tượng của Quốc gia, một biểu tượng của quyền lực nhà nước, không nắm quyền hành pháp với tư cách là Tổng thống
c Tổ chức xã hội
Các tổ chức xã hội là những bộ phận cấu thành của hệ thống chính trị ở nước
ta được hình thành trên cơ sở tự nguyện và tự quản của những thành viên tham gia nhằm đáp ứng những lợi ích đa dạng của nhân dân lao động, thu hút đông đảo quần chúng vào quản lý các công việc của Nhà nước và xã hội, nâng cao tính tích cực chính trị của mỗi cá nhân
Cùng với quá trình hoàn thiện hệ thống chính trị, vai trò của các tổ chức ngày càng được nâng cao, phát triển về mặt số lượng các hiệp hội, đoàn thể trên cơ sở
Trang 167 nghề nghiệp hoặc sở thích, phát triển về chất lượng trong đời sống xã hội, đời sống nhà nước
d Các tổ chức chính trị - xã hội bao gồm
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Công đoàn; Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; Hội Nông dân Việt Nam; Hội Cựu chiến binh Những tổ chức này có cơ cấu tổ chức hoàn thiện và đóng vai trò quan trọng trong hệ thống chính trị, ảnh hưởng của chúng trong việc ra quyết định quản lý, ban hành đường lối, chủ trương của Nhà nước cũng lớn hơn so với những hội quần chúng ở phạm vi địa phương
e Tổ chức xã hội nghề nghiệp
Hiện nay, ở nước ta các tổ chức xã hội, nghề nghiệp, hiệp hội, nghiệp đoàn, tổ chức nghề nghiệp (gọi chung là hội nghề nghiệp) tương đối nhiều, hầu như ngành nghề nào cũng có hội nghề nghiệp của mình Trong đó, nhiều tổ chức xã hội nghề nghiệp được pháp luật quy định được phép thành lập từ cấp trung ương đến cơ sở Bao gồm 28 loại hình tổ chức như: hội nhà văn, hội nhà báo, hội chữ thập đỏ Việt Nam, hội sinh viên Việt Nam, hội nhiếp ảnh
f Tổ chức sự nghiệp công
Theo quy định tại Điều 9 Luật Viên chức thì [5]:
Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước Đơn vị sự nghiệp công lập gồm:
- Đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự ;
- Đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự
1.1.2 Cơ sở pháp lý của công tác giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đât
Từ thập niên 80 trở lại đây, nền kinh tế nước ta đã có những chuyển biến đáng
kể Nền kinh tế tự cung, tự cấp đã dần chuyển sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành
Trang 178 phần với định hướng xã hội chủ nghĩa Kinh tế ngày càng phát triển dẫn đến sự đa dạng hóa các thành phần kinh tế và các hình thức sản xuất Từ chỗ kinh tế quốc doanh chiếm đa số thì đến nay kinh tế tư nhân, liên doanh liên kết phát triển đóng vai trò không thể thiếu trong nền kinh tế quốc dân
Nhờ có chính sách đổi mới đó mà đời sống người dân ngày càng cải thiện Tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực đó thì vấn đề đặt ra với cơ quan quản lý đất đai là làm thế nào để đáp ứng được nhu cầu sử dụng đất ngày càng gia tăng của các ngành sản xuất và của đời sống nhân dân Đây là vấn đề được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm, chú trọng giải quyết Sự quan tâm đó được thể hiện qua Luật Đất đai
và hàng loạt các văn bản của Chính phủ và các Bộ, Ngành có liên quan
1.1.2.1 Căn cứ để giao đất và cho thuê đất đối với các tổ chức
Theo Điều 27 Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường và hỗ trợ tái định cư thì căn cứ để quyết định giao đất, cho thuê đất gồm [7]:
- Quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt
Trường hợp chưa có quy hoạch sử dụng đất hoặc kế hoạch sử dụng đất được duyệt thì căn cứ vào quy hoạch xây dựng đô thị hoặc quy hoạch xây dựng điểm dân
cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt
- Nhu cầu sử dụng đất được thể hiện trong văn bản sau:
Đối với các tổ chức thì nhu cầu sử dụng đất thể hiện trong dự án đầu tư đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt hoặc cấp giấy chứng nhận đầu tư;
Đối với các dự án không phải trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt hoặc không phải cấp Giấy chứng nhận đầu tư thì phải thể hiện nhu cầu sử dụng đất trong đơn xin giao đất, thuê đất và có văn bản của Sở Tài nguyên và Môi trường thẩm định về nhu cầu sử dụng đất
Theo Luật Đất đai 2013 và Nghị định số 43 thì căn cứ để giao cho thuê đất bao gồm [4] [6]:
- Căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt
- Căn cứ vào nhu cầu sử dụng đất của các đối tượng sử dụng đất
Trang 189
1.1.2.2 Thời hạn giao và cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư
Điều 66, Điều 67 của Luật Đất đai 2003 [3] và Điều 125 Luật Đất đai 2013 [4] quy định thời hạn sử dụng của các loại đất Trong đó một số loại đất như đất ở; đất xây dựng trụ sở cơ quan, xây dựng công trình sự nghiệp; đất quốc phòng, an ninh; đất tôn giáo là những loại đất được giao sử dụng ổn định lâu dài:
Thời hạn giao đất, cho thuê đất đối với tổ chức kinh tế để thực hiện các dự án đầu tư được xem xét, quyết định trên cơ sở dự án đầu tư hoặc đơn xin giao đất, thuê đất nhưng không quá năm mươi năm; đối với dự án có vốn đầu tư lớn nhưng thu hồi vốn chậm, dự án đầu tư vào địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn mà cần thời hạn dài hơn thì thời hạn giao đất, cho thuê đất là không quá bảy mươi năm
Việc quy định thời hạn sử dụng đất một mặt giúp các nhà đầu tư có thể yên tâm đầu tư và sử dụng đất phù hợp, mặt khác là cơ sở để Nhà nước có thể thu hồi lại đất khi đã hết thời hạn giao và cho thuê để sử dụng vào mục đích khác Tuy nhiên, Nhà nước cũng quy định thời hạn giao và cho thuê đất đủ dài để nhà đầu tư có đủ thời gian để thu hồi vốn và khai thác các lợi ích mà mình đã đầu tư trên đất
Luật còn quy định trong trường hợp đã hết thời hạn giao đất, cho thuê đất, nếu
có nhu cầu tiếp tục sử dụng đất đó thì nhà đầu tư có thể đăng ký xin gia hạn thời hạn
sử dụng đất Có thể thấy rằng đây là một quy định tạo điều kiện cho các nhà đầu tư tiếp tục khai thác những lợi ích mình đã bỏ ra đồng thời khuyên khích họ đầu tư thêm vào đất
1.1.2.3 Thẩm quyền giao đất và cho thuê đất đối với các tổ chức
Thẩm quyền giao và cho thuê đất được quy định tại Điều 37 Luật Đất đai
2003 [3], Điều 59, Luật Đất đai 2013 [4] Cả hai điều này quy định ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định giao đất, cho thuê đất đối với các tổ chức trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài thực hiện các dự án đầu tư
1.1.2.4 Quyền và nghĩa vụ của tổ chức được giao đất, cho thuê đất
Theo quy định của Luật Đất đai 2003 và Luật Đất đai 2013, các tổ chức khi được Nhà nước giao đất, cho thuê đất có các quyền và nghĩa vụ như sau [3, 4]:
- Quyền và nghĩa vụ của tổ chức được Nhà nước giao đất
Trang 1910
a, Quyền và nghĩa vụ của tổ chức giao đất không thu tiền sử dụng đất
Theo Điều 109 và Điều 110 của Luật Đất đai năm 2003:
+ Tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất có các quyền
và nghĩa vụ quy định tại Điều 105 và Điều 107 của Luật Đất đai năm 2003
+ Tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất không có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê quyền sử dụng đất; thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất
+ Tổ chức kinh tế được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất để xây dựng các công trình không bằng nguồn vốn từ ngân sách nhà nước được quyền bán tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất; thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất Người mua tài sản được Nhà nước tiếp tục giao đất không thu tiền sử dụng đất theo mục đích đã được xác định
Theo Điều 173 Luật Đất đai 2013 qui định [4]:
+ Tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất có quyền và nghĩa vụ chung quy định tại Điều 166 và Điều 170 của Luật Đất đai 2013
+ Tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất không có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê quyền sử dụng đất; thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất; không được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất
b, Quyền và nghĩa vụ của tổ chức kinh tế được Nhà nước giao đất có thu tiền
sử dụng đất
Luật Đất đai 2003 qui định [3]:
+ Tổ chức kinh tế được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất có các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 105 và Điều 107 của Luật Đất đai năm 2003
+ Tổ chức kinh tế được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất đã trả không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước thì có các quyền và nghĩa
Trang 2011 cộng đồng dân cư để xây dựng các công trình phục vụ lợi ích chung của cộng đồng, tặng cho nhà tình nghĩa gắn liền với đất theo quy định của pháp luật;
Thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất và tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất tại tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam để vay vốn theo quy định của pháp luật;
Góp vốn bằng quyền sử dụng đất và tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất để hợp tác sản xuất, kinh doanh với tổ chức, cá nhân, người Việt Nam định
cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài theo quy định của pháp luật;
+ Tổ chức kinh tế được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất đã trả có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước thì có các quyền, nghĩa vụ quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 109 của Luật Đất đai năm 2003
Theo Luật Đất đai 2013 thì [4]:
Tổ chức kinh tế được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê có quyền và nghĩa vụ chung quy định tại Điều 166 và Điều 170 của Luật này
Tổ chức kinh tế được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê ngoài quyền và nghĩa vụ quy định tại khoản 1 Điều này còn có các quyền sau đây:
+ Chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất;
+ Cho thuê quyền sử dụng đất, tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất đối với trường hợp được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất; cho thuê lại quyền sử dụng đất, tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất đối với trường hợp được Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê;
+ Tặng cho quyền sử dụng đất cho Nhà nước; tặng cho quyền sử dụng đất cho cộng đồng dân cư để xây dựng các công trình phục vụ lợi ích chung của cộng đồng; tặng cho nhà tình nghĩa gắn liền với đất theo quy định của pháp luật;
+ Thế chấp bằng quyền sử dụng đất, tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất tại các tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam;
+ Góp vốn bằng quyền sử dụng đất, tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với
Trang 2112 đất để hợp tác sản xuất, kinh doanh với tổ chức, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo quy định của pháp luật
Tổ chức sự nghiệp công lập tự chủ tài chính được Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê mà tiền thuê đất đã trả không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước thì có quyền và nghĩa vụ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này; việc thực hiện các quyền phải được sự chấp thuận bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Trường hợp tổ chức sự nghiệp công lập tự chủ tài chính được Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê mà tiền thuê đất đã trả có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước thì có quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 173 của Luật này
Tổ chức được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê nhưng được miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất thì có các quyền và nghĩa vụ sau đây:
+ Trường hợp được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự án xây dựng kinh doanh nhà ở mà được miễn hoặc giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất thì có quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật về đất đai như trường hợp không được miễn hoặc không được giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất;
+ Trường hợp được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư
vì mục đích lợi nhuận không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này mà được giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất thì có quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật về đất đai như trường hợp không được miễn hoặc không được giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với loại đất có mục đích sử dụng tương ứng;
+ Trường hợp được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư
vì mục đích lợi nhuận không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này mà được miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất thì có quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật về đất đai như trường hợp Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm đối với loại đất có mục đích sử dụng tương ứng
c, Quyền và nghĩa vụ của tổ chức kinh tế sử dụng đất thuê
Quyền và nghĩa vụ của tổ chức kinh tế sử dụng đất thuê được quy định tại
Trang 2213 Điều 111 Luật Đất đai 2003 như sau:
+ Tổ chức kinh tế được Nhà nước cho thuê đất có các quyền và nghĩa vụ sau đây: + Các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 105 và Điều 107 của Luật Đất đai năm 2003;
+ Thế chấp, bảo lãnh bằng tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê tại các tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam để vay vốn sản xuất, kinh doanh theo quy định của pháp luật;
+ Bán tài sản, góp vốn bằng tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê; người mua tài sản được Nhà nước tiếp tục cho thuê đất theo mục đích đã được xác định;
+ Cho thuê lại đất đã được xây dựng xong kết cấu hạ tầng trong trường hợp được phép đầu tư xây dựng kinh doanh kết cấu hạ tầng tạ khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế;
+ Tổ chức kinh tế được Nhà nước cho thuê đất trước ngày Luật Đất đai năm
2003 có hiệu lực thi hành mà đã trả tiền thuê đất cho cả thời gian thuê hoặc đã trả trước tiền thuê đất cho nhiều năm mà thời hạn thuê đất đã được trả tiền còn lại ít nhất
là năm năm thì có các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 110 của Luật Đất đai năm
2003 trong thời hạn đã trả tiền thuê đất; trường hợp có nhu cầu chuyển sang hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất thì phải nộp tiền sử dụng đất trừ đi tiền thuê đất
đã trả và có các quyền, nghĩa vụ quy định tại Điều 110 của Luật Đất đai năm 2003
+ Tổ chức kinh tế thuê lại đất trong khu công nghiệp thì có các quyền và nghĩa vụ quy định tại khoản 1 Điều 111 của Luật Đất đai năm 2003
+ Tổ chức kinh tế sử dụng đất thuê của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 111 của Luật Đất đai năm 2003 thì có các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật về dân sự
1.2 Tổng quan quản lý đất đai trong nước và ngoài nước
1.2.1 Tình hình quản lý đất đai trên thế giới
Theo tài liệu của Tổ chức Lương Nông Thế giới (FAO) thì diện tích của phần đất liền của các lục địa là 13.400 triệu ha, với 1.527 triệu ha đất đóng băng và 13.251 triệu ha đất không phủ băng Trong đó có 1.500 triệu ha (11%) là đất canh tác, 3.200
Trang 2314 triệu ha (24%) là đồng cỏ chăn nuôi gia súc, 4.100 triệu ha (31%) là diện tích rừng và đất rừng; 4.400 triệu ha (34%) còn lại là diện tích đất dùng vào các việc khác (dân
cư, đầm lầy, đất ngập mặn ) Diện tích đất có thể dùng cho canh tác được đánh giá vào khoảng 3.200 triệu ha, hiện mới khai thác khoảng 1.500 triệu ha Tại các vùng khác nhau, các nước khác nhau, tỉ lệ đất đã sử dụng canh tác so với đất có tiềm năng canh tác cũng khác nhau Đáng chú ý là khu vực Châu Á, tỉ lệ này rất cao, đạt đến 92%; trái lại, ở Châu Mỹ Latinh con số này chỉ đạt 15%, các nước phát triển là 70%, các nước đang phát triển là 36% Trong diện tích đất canh tác, đất cho năng suất cao chiếm 14 %, năng suất trung bình là 28% và năng suất thấp là 58%
Hàng năm trên thế giới diện tích đất canh tác bị thu hẹp, kinh tế nông nghiệp trở nên khó khăn hơn Hoang mạc hoá hiện đang đe doạ 1/3 diện tích trái đất, ảnh hưởng đời sống ít nhất 850 triệu người Một diện tích lớn đất canh tác bị nhiễm mặn không canh tác được một phần cũng do tác động gián tiếp của sự gia tăng dân
số Ở Việt Nam từ năm 1978 đến nay, 130.000 ha bị lấy cho thủy lợi, 63.000 ha cho phát triển giao thông, 21 ha cho các khu công nghiệp (Trần Văn Lanh, 2011) [19]
Theo số liệu của Viện Tài nguyên Thế giới, năm 1993 quỹ đất của toàn thế giới khoảng 13 tỉ ha, mật độ dân số 43 người/km2 Một số nước có quỹ đất hạn hẹp như
Hà Lan, Mỹ, Nhật, Hàn Quốc, Ấn Độ, Singapore (chỉ 0,3ha/người) Diện tích nước ta là trên 33 triệu ha diện tích bình quân đầu người khoảng 0,4 ha Quỹ đất trồng trọt tăng không đáng kể trong khi dân số tăng nhanh nên diện tích đất trên đầu người ngày càng giảm Đất ngày bị sa mạc hóa, bạc màu… do sự khai thác của con người
Khoảng 2/3 diện tích đất nông nghiệp trên thế giới đã bị suy thoái nghiêm trọng trong 50 năm qua do xói mòn rửa trôi, sa mạc hoá, chua hoá, mặn hoá, ô nhiễm môi trường, khủng hoảng hệ sinh thái đất Khoảng 40% đất nông nghiệp
đã bị suy thoái mạnh hoặc rất mạnh, 10% bị sa mạc hoá do biến động khí hậu bất lợi và khai thác sử dụng không hợp lý Sa mạc Sahara mỗi năm mở rộng lấn mất 100.000 ha đất nông nghiệp và đồng cỏ Thoái hoá môi trường đất có nguy
cơ làm giảm 10 - 20% sản lượng lương thực thế giới trong 25 năm tới
Tính tổng diện tích bề mặt của toàn thế giới thì đại dương chiếm 71%, còn lại là diện tích lục địa chỉ chiếm 29% Bắc bán cầu có diện tích lớn hơn
Trang 2415 nhiều so với Nam bán cầu Diện tích đất nông nghiệp trên thế giới được phân bố không đều: Châu Mỹ chiếm 35%, Châu Á chiếm 26%, Châu Âu chiếm 13%, Châu Phi chiếm 6% Bình quân đất nông nghiệp trên thế giới là 12.000 m2 Đất trồng trọt toàn thế giới mới đạt 1,5 tỷ chiếm 10,8% tổng diện tích đất đai trong
đó có 46% đất có khả năng sản xuất nông nghiệp như vậy còn 54% đất có khả năng sản xuất nhưng chưa được khai thác Diện tích đất đang canh tác trên thế giới chỉ chiếm 10% tổng diện tích tự nhiên, được đánh giá là:
Đất có năng suất cao:14%
Đất có năng suất TB: 28%
Đất có năng suất thấp:28%
Như vậy, với mức tăng này mỗi người cần phải có 0,2 - 0,4 ha đất nông nghiệp mới đủ lương thực, thực phẩm Đứng trước những khó khăn rất lớn đó thì việc đánh giá hiệu quả sử dụng đất cũng như tình hình chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp là hết sức cần thiết
Hầu hết các quốc gia trên thế giới (dù quy định chế độ sở hữu đối với đất đai khác nhau), đều có xu hướng ngày càng tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước đối với đất đai Xu thế này phù hợp với sự phát triển ngày càng đa dạng của các quan hệ kinh tế, chính trị theo xu hướng toàn cầu hóa hiện nay Mục tiêu của mỗi quốc gia là nhằm quản lý chặt chẽ, hiệu quả tài nguyên trong nước, tăng cường khả năng cạnh tranh, để phục vụ cao nhất cho quyền lợi của quốc gia, đồng thời có những quy định phù hợp với xu thế mở cửa, phát triển, tạo điều kiện để phát triển hợp tác đầu tư giữa các quốc gia thông qua các chế định pháp luật thông thường, cởi mở nhưng vẫn giữ được ổn định về an ninh kinh tế và an ninh quốc gia (Trần Văn Lanh, 2011) [19]
1.2.2 Tình hình quản lý đất đai tại Việt Nam
Tổng diện tích đất tự nhiện của nước ta là trên 33.000.000 ha, đứng thứ 59 trong hơn 200 nước trên thế giới Đất bằng ở Việt Nam có khoảng >7 triệu ha, đất dốc >25 triệu ha, >50% diện tích đất đồng bằng và gần 70% diện tích đất đồi núi là đất xấu và có độ phì nhiêu thấp, trong đó đất bạc màu gần 3 triệu ha, đất trơ sỏi đá 5,76 triệu ha, đất mặn 0,91 triệu ha, đất dốc trên 25% gần 12,4 triệu ha (Dương Hà, 2010) [2]
Theo Thu Phương (2009) [18]thì mục đích sử dụng năm 2008, đất nông
Trang 2516 nghiệp 16.406,1 nghìn ha, lâm nghiệp 11.575,4 nghìn ha, đất phi nông nghiệp 1.772,3 nghìn ha, đất chưa sử dụng 14.924,9 nghìn ha
Đất tiềm năng nông nghiệp hiện còn khoảng 4 triệu ha Bình quân diện tích đất tự nhiên ở Việt Nam là 0,4 ha/người Bình quân diện tích đất nông nghiệp theo đầu người thấp và giảm rất nhanh theo thời gian, năm 1940 có 0,2 ha, năm 1995 là 0,095 ha Đây là một hạn chế rất lớn cho phát triển Đầu tư và hiệu quả khai thác tài nguyên đất ở Việt Nam chưa cao, thể hiện ở tỷ lệ đất thuỷ lợi hoá thấp, hiệu quả dùng đất thấp, năng suất cây trồng thấp, riêng năng suất lúa, cà phê và ngô đã đạt mức trung bình thế giới Trong điều kiện mở mang đô thị như hiện nay, đất sản xuất nông nghiệp ở nước ta sẽ còn mất thêm Vấn đề đặt ra là cần phải quy hoạch và bố trí
sử dụng đất hợp lý trên cơ sở tiết kiệm đất đai, hạn chế thấp nhất việc mất đất
Theo mục đích sử dụng đất năm 2010, Việt Nam có tổng diện tích đất tự nhiên 33.115 nghìn ha, là nước có quy mô diện tích thuộc loại trung bình nhưng vì dân số đông nên diện tích đất bình quân theo đầu người vào loại thấp: với mức 0,1 ha/người( bằng 1/6 mức bình quân của thế giới) Hiện nay, toàn quốc đã đưa vào sử dụng cho nông nghiệp 24.997,2 nghìn ha (chiếm 75,5% tổng diện tích đất tự nhiên) Trong đó, đất sản xuất nông nghiệp 9.420,3 nghìn ha (chiếm 28,4% tổng diện tích đất
tự nhiên), đất lâm nghiệp 14.816,6 nghìn ha (chiếm 44,7% tổng diện tích đất tự nhiên), đất nuôi trồng thủy sản 728,6 nghìn ha (chiếm 2,2% tổng diện tích đất tự nhiên), đất làm muối 13,7 nghìn ha (chiếm 0,04% tổng diện tích đất tự nhiên), đất nông nghiệp khác 18,1 nghìn ha (chiếm 0,05% tổng diện tích đất tự nhiên); đất phi nông nghiệp 3.385,8 nghìn ha, mặt nước ven biển 42,5 nghìn ha còn lại là đất chưa
sử dụng (Dương Hà, 2010)[2]
1.3 Tình hình sử dụng đất đai của cả nước
1.3.1 Hiện trạng sử dụng đất của cả nước
Với tổng diện tích đất tự nhiên trên 33,11 triệu ha, nước ta có ¾ diện tích lãnh thổ là đồi núi, được phân bố ở các tỉnh phía Bắc 15,80 triệu ha (2,30 triệu
ha ở đồng bằng, tập trung tại hạ lưu các dòng sông, các dải đất ven biển) Các tỉnh phía Nam có 17,20 triệu ha diện tích đất tự nhiên với 6,70 triệu ha đất bằng chủ yếu ở Đồng bằng sông Cửu Long
Trang 2617 Trên địa bàn cả nước, diện tích đất đang được khai thác sử dụng vào các mục đích nông nghiệp và phi nông nghiệp là 28.592.216 ha, chiếm 86,34% diện tích đất tự nhiên; đất chưa sử dụng còn 4.522.836 ha, chiếm 13,66% tổng quỹ đất Khoảng 36% diện tích đất đang sử dụng của cả nước tập trung ở 2 vùng Đông Bắc (với 5.221.914
ha, chiếm 18,26%) và Tây Nguyên (với 5.075.746 ha, chiếm 17,75%); khoảng 42% tập trung ở vùng Bắc Trung Bộ (4.331.820 ha, chiếm 15,15%), vùng Đồng bằng sông Cửu Long (4.015.123 ha, chiếm 14,04%) và vùng Duyên hải Nam Trung bộ (với 3.640.395 ha, chiếm 12,73%); còn lại 3 vùng chiếm tỷ lệ 22% (trong đó, vùng có tỷ lệ thấp nhất là Đồng bằng sông Hồng chiếm 5,09%) (Phương Hiếu, 2012) [12]
1.3.2 Hiện trạng sử dụng đất của các tổ chức trong cả nước
Tổng diện tích các tổ chức sử dụng đất trong cả nước được Nhà nước giao đất,
cho thuê đất (Trần Văn Lanh, 2011) [19] có 7.833.142,70 ha chiếm 23,65 tổng diện tích tự nhiên của cả nước với 144.485 tổ chức và 338.450 thửa đất, khu đất, trong đó: Trong tổng số 7.833.142,70 ha đất do các tổ chức sử dụng đất chủ yếu là diện tích của các nông – lâm trường quốc doanh quản lý, sử dụng (chiếm 77,88% tổng diện tích đất của các tổ chức), tổ chức sự nghiệp công (chiếm 6,63%), tổ chức kinh tế (chiếm 6,47%) Trong khối tổ chức là cơ quan nhà nước (cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, tổ chức sự nghiệp công) thì tổ chức sự nghiệp công sử dụng đất là chủ yếu (chiếm đến 92,16%) Diện tích đất của các tổ chức phân bố ở các vùng, trong đó diện tích lớn nhất
là tại vùng Tây Nguyên với 2.515.166,38 ha, chiếm 32,11% tổng diện tích sử dụng (trong đó tập trung chủ yếu diện tích sử dụng của các nông – lâm trường với 2.311.993,26 ha) và thấp nhất tại vùng Tây Bắc với 176.381,38 ha, chiếm 2,25% tổng diện tích sử dụng Vùng Đồng bằng sông Hồng nơi chiếm đến 22,69% tổng số
tổ chức trong cả nước nhưng chỉ chiếm 3,07% diện tích sử dụng đất của các tổ chức
và phần lớn là diện tích đất của khối tổ chức các cơ quan nhà nước
Năm 2010 diện tích quản lý, sử dụng đất của các tổ chức là 7.833.142,70
ha được phân theo các hình thức sử dụng chủ yếu là giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tiền trả có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước, cụ thể như sau:
Trang 2718
* Tình hình giao đất (QL, 2010) [13]:
Theo kết quả kiểm kê đối với diện tích được nhà nước giao (có giấy tờ về giao đất) thì diện tích đất giao cho các loại hình tổ chức sử dụng trên phạm vi toàn quốc 5.149.526,27 ha, chiếm 65,74% tổng diện tích của các hình thức do các loại hình tổ chức sử dụng và chiếm 15,55% so với tổng diện tích tự nhiên toàn quốc, trong đó giao đất không thu tiền 5.097.118,91 ha và giao đất có thu tiền 52.443,36 ha Như vậy, diện tích sử dụng đất của cá tổ chức chủ yếu được nhà nước giao đất không thu tiền, trong đó tổ chức quốc phòng an, ninh và các tổ chức nông lâm trường có tỷ lệ diện tích được nhà nước giao tương đối cao
* Tình hình thuê đất [1]:
Diện tích đất do các loại hình tổ chức thuê sử dụng trên phạm vi toàn quốc 1.307.606,14 ha, chiếm 16,96% tổng diện tích đất của các tổ chức và chiếm 3,95% tổng diện tích tự nhiên của toàn quốc, trong đó thuê đất trả tiền một lần 8.457,04 ha và thuê đất trả tiền hàng năm là 1.299.149,10 ha Trong đó tổng diện tích sử dụng 8.457,04 ha của hình thức thuê đất trả tiền một lần thì diện tích sử dụng tập trung chủ yếu ở tổ chức kinh tế 7.804,17 ha chiếm 92,28% (trong đó, lớn nhất là Tây Nguyên 2.062,40; Đồng bằng sông Hồng 1.902,,86 ha, Đông Nam bộ 1.863,24 ha và Duyên hải Nam Trung bộ 1.020,24 ha) Trong tổng diện tích sử dụng 1.299.149,10 ha của hình thức thuê đất trả tiền hàng năm thì diện tích tập trung chủ yếu các nông – lâm trường 998.460,14 ha, chiếm 76,85%, các loại hình tổ chức khác chiếm tỷ lệ dưới 0,1%
* Công nhận quyền sử dụng đất (QL, 2010) [13]:
Tổng diện tích đất do các loại hình tổ chức sử dụng đất được công nhận quyền sử dụng đất là 684.476,66 ha chiếm 8,74% tổng diện tích của các hình thức do các loại hình tổ chức sử dụng, trong đó được công nhận quyền sử dụng đất không thu tiền 626.231,49 ha và được công nhận quyền sử dụng đât có thu tiền 58.245,17 ha
Trong tổng diện tích được công nhận quyền sử dụng đất không thu tiền 626.231,49 ha thì diện tích sử dụng tập trung chủ yếu ở các nông, lâm trường 444.028,02 ha chiếm 20,90%, UBND cấp xã 100.374,23 ha chiếm 16,03%; quốc phòng, an ninh 39.906,35 ha, chiếm 6,37 %, tổ chức sự nghiệp công
Trang 2819 25.687,19ha, chiếm 4,10%, tổ chức kinh tế 9.408,07 ha, chiếm 1,50%, các loại hình tổ chức còn lại chiếm tỷ lệ rất thấp, dưới 1%
* Chuyển nhượng quyền sử dụng đất và trả tiền có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước (Thu Phương, 2009) [18]:
Tổng diện tích đất do các loại hình tổ chức chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tiền trả có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước là 779,02 ha, chỉ chiếm 0,01% tổng diện tích của các hình thức do các loại hình tổ chức sử dụng Trong
đó, lớn nhất là tổ chức sự nghiệp công 261,62 ha, chiếm 33,58%, cơ quan nhà nước 143,21 ha chiếm 18,38%, UBND xã 102,94 ha, chiếm 13,21%, nông-lâm trường 93,62 ha, chiếm 12,02%
Đánh giá thực trạng quản lý, sử dụng đất của các tổ chức (Thu Phương, 2009) [18]
* Tình hình sử dụng theo mục đích được giao, được thuê
Năm 2008, cả nước có 141.812 tổ chức sử dụng đúng mục đích được giao, được thuê với diện tích 7.148.536,47 ha, chiếm 91,26% Trường hợp tổ chức sử dụng đất để cho thuê trái phép, cho mượn hoặc sử dụng sai mục đích, đất bị lấn chiếm tỷ lệ 2,74%
- Cơ quan nhà nước có 15.189 tổ chức, diện tích sử dụng đúng mục đích là 33.838,42 ha, đạt 95,63% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng: diện tích đất cho thuê trái pháp luật, cho mượn, chuyển nhượng trái phép đối với các cơ
Trang 2920 quan nhà nước không nhiều nhưng vẫn có tình trạng xảy ra (cả nước có 235 cơ quan nhà nước cho thuê trái pháp luật, cho mượn, chuyển nhượng trái phép với diện tích là 190,42 ha, trong đó chủ yếu là diện tích cho thuê trái pháp luật)
- Tổ chức chính trị có 1.439 tổ chức, diện tích sử dụng đúng mục đích 2.390,00
ha đạt 75,30% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng; các tổ chức chính trị có số lượng tổ chức có diện tích đất cho thuê trái pháp luật, cho mượn, chuyển nhượng trái phép không nhiều 42/1.439 tổ chức, nhưng diện tích vi phạm tương đối nhiều (306,40 ha), chiếm đến 9,65% tổng số diện tích đang quản lý, sử dụng
- Tổ chức xã hội có 952 tổ chức, diện tích sử dụng đúng mục đích 1.373,87 ha, đạt 96,47% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng; các tổ chức chính trị - xã hội
có 26 tổ chức cho thuê trái pháp luật, cho mượn chuyển nhượng trái phép với diện tích
là 74,91 ha
- Tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp có 610 tổ chức, diện tích sử dụng đúng mục đích là 697,99 ha, đạt 96,78% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng; các tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp có 13 tổ chức cho thuê trái pháp luật, cho mượn, chuyển nhượng trái phép với diện tích là 0,42 ha
- Tổ chức sự nghiệp công có 55.456 tổ chức, diện tích sử dụng đúng mục đích là 394.201,53 ha, đạt 75,94% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng; các tổ chức sự nghiệp công có 810 tổ chức cho thuê trái pháp luật, cho mượn, chuyển nhượng trái phép với diện tích là 242,27 ha, trong đó chủ yếu là diện tích đất cho mượn (chiếm 88,36%)
- Tổ chức ngoại giao có 41 tổ chức, diện tích sử dụng đúng mục đích là 16,74 ha đạt 78,41% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng; các tổ chức ngoại giao có 01 tổ chức cho thuê trái pháp luật với diện tích 0,07 ha
- Tổ chức kinh tế có 49.723 tổ chức, diện tích sử dụng đúng mục đích là 458.179,32 ha, đạt 90,42% so với tồng diện tích đang quản lý, sử dụng; các tổ chức kinh tế có 992 tổ chức cho thuê trái pháp luật, cho mượn, chuyển nhượng trái phép với diện tích 1.608,57 ha, trong đó chủ yếu là diện tích cho thuê và cho mượn trái pháp luật
- Nông lâm trường có 653 tổ chức với diện tích sử dụng đúng mục đích là
Trang 3021 5.615.419.13 ha, đạt 92,05% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng; các nông lâm trường có 42 tổ chức cho thuê trái pháp luật, cho mượn, chuyển nhượng trái phép với diện tích 5.006,21 ha
1.4 Tình hình sử dụng đất của các tổ chức trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
Thực hiện Luật Đất đai năm 2003, 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành, công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn tỉnh từng bước đi vào nền nếp; việc khai thác, quản lý và sử dụng đất đai ngày càng chặt chẽ, có hiệu quả Trong những năm qua UBND tỉnh đã giao đất thực hiện các dự án, tạo điều kiện cho các tổ chức có đất để phát triển sản xuất kinh doanh Các tổ chức được giao đất cơ bản đã chấp hành các quy định của pháp luật, sử dụng đất hiệu quả, đúng mục đích đóng góp vào sự tăng tưởng kinh tế của tỉnh, giải quyết việc làm cho người lao động, tăng nguồn thu cho ngân sách địa phương
Tuy nhiên, công tác quản lý nhà nước về đất đai vẫn còn một số mặt hạn chế, sự lãnh đạo, quản lý, điều hành của các cấp chính quyền địa phương chưa được quan tâm đúng mức Công tác kiểm tra, thanh tra phát hiện, xử lý những vi phạm pháp luật về đất đai, đặc biệt đối với các tổ chức kinh tế chưa kịp thời Còn nhiều dự án sau khi được giao đất chưa nghiêm túc thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước, chậm triển khai, sử dụng đất không hiệu quả, không đúng mục đích, chuyển mục đích trái phép gây lãng phí, bức xúc trong nhân dân
Theo kết quả Kiểm kê quỹ đất năm 2008 của các tổ chức đang quản lý, sử dụng được nhà nước giao đất, cho thuê đất theo Chỉ thị số 31/2007/CT-TTg ngày 14/12/2007 của Thủ tướng Chính phủ, hiện trạng sử dụng đất của các tổ chức như sau:
* Tình hình sử dụng theo mục đích được giao, được thuê
Tỉnh Quảng Ninh có 2.663 tổ chức sử dụng đúng mục đích được giao, được thuê với diện tích 149.793,8 ha, chiếm 94,8% Trường hợp tổ chức sử dụng đất để cho thuê trái phép, cho mượn hoặc chuyển nhượng trái pháp luật chiếm tỷ
lệ 2,9%
Cơ quan nhà nước có 327 tổ chức, diện tích sử dụng đúng mục đích là 11.280,9 ha, đạt 99,99% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng; diện tích đất cho thuê trái pháp luật, cho mượn, chuyển nhượng trái phép đối với các cơ
Trang 3122 quan nhà nước là rất ít (toàn tỉnh có 02 cơ quan nhà nước cho cho mượn với diện tích 0,07 ha)
Tổ chức chính trị có 28 tổ chức, diện tích sử dụng đúng mục đích 19,68
ha, đạt 97,8% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng
Tổ chức xã hội có 17 tổ chức, diện tích sử dụng đúng mục đích 5,86 ha, đạt 98,79% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng
Tổ chức chính trị - xã hội có 17 tổ chức, diện tích sử dụng đúng mục đích 2.128,5 ha, đạt 68,03% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng
Tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp có 6 tổ chức, diện tích sử dụng đúng mục đích là 1,59 ha, đạt 97,26% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng
Tổ chức sự nghiệp công có 689 tổ chức, diện tích sử dụng đúng mục đích
là 1.625,45 ha, đạt 99,02% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng; diện tích cho thuê trái phép là 0,024 ha của 01 tổ chức tại phường Cẩm Thành, thị xã Cẩm Phả; diện tích cho mượn là 0,1 ha của 06 tổ chức tập trung ở thị xã Cẩm Phả
Tổ chức kinh tế có 1.435 tổ chức, diện tích sử dụng đúng mục đích là 27.436,89 ha, đạt 95,11% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng; diện tích cho thuê trái phép là 0,9 ha của 09 tổ chức ở các địa phương là Hạ Long, Cẩm Phả, Uông Bí, Yên Hưng, Hoành Bồ; diện tích cho mượn là 0,54 ha của 04 tổ chức, trong đó Cẩm Phả có 03 tổ chức, Hạ Long 01 tổ chức; diện tích chuyển nhượng trái phép có 01 tổ chức ở phường Cẩm Đông, thị xã Cẩm Phả với diện tích 0,003 ha
Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý, sử dụng có 186 tổ chức, diện tích sử dụng đúng mục đích là 2.875,35 ha, đạt 99,4% so với tổng diện tích đang quản
lý, sử dụng; diện tích cho mượn là 2,94 ha của 06 tổ chức tập trung ở huyện Yên Hưng, Bình Liêu, Cô Tô
Nông, lâm trường có 11 tổ chức với diện tích sử dụng đúng mục đích là 85.903,95 ha, đạt 96,7% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng;
Quốc phòng, an ninh có 15 tổ chức với diện tích sử dụng đúng mục đích là 18.515,55 ha, đạt 86,99% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng các tổ
Trang 3223 chức sử dụng đất vào mục đích an ninh quốc phòng có 13 tổ chức cho mượn trái phép với diện tích là 8,68 ha
Sử dụng vào mục đích khác
Toàn tỉnh có 48 tổ chức sử dụng vào mục đích khác với diện tích 26,92
ha, trong đó số tổ chức sử dụng vào mục đích làm nhà ở là 31 tổ chức với diện tích 10,62 ha, số tổ chức sử dụng vào mục đích kinh doanh phi nông nghiệp là 17
tổ chức với diện tích 16,3 ha; phần lớn diện tích sử dụng vào mục đích khác tập trung ở các tổ chức kinh tế với 15 tổ chức sử dụng làm nhà ở và 13 tổ chức sử dụng làm đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp và Uỷ ban nhân dân cấp xã với 8 tổ chức sử dụng làm nhà ở với diện tích 5,45 ha ở Hoành Bồ, Uông Bí, Cẩm Phả, Tiên Yên, Đầm Hà, Hải Hà
* Tình hình tranh chấp, lấn chiếm
Tổng diện tích đất của các tổ chức đang có tranh chấp, lấn chiếm là 6185,26 ha, trong đó đất có tranh chấp có 20 tổ chức với diện tích 3.196,98 ha, đất lấn chiếm có 283 tổ chức với 459,77 ha và đất bị lấn, bị chiếm có 83 tổ chức với diện tích 2.528,51 ha
Diện tích đất đang tranh chấp, bị lấn, bị chiếm chủ yếu xảy ra trong các loại hình tổ chức như tổ chức kinh tế, quốc phòng an ninh, nông lâm trường Nguyên nhân chủ yếu do một số tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất sau khi bàn giao đất ngoài thực địa không tổ chức ngay việc xây dựng hàng rào dẫn đến quản lý ranh giới đất gặp khó khăn do đó dễ xẩy ra tình trạng bị lấn, bị chiếm
Mặt khác đối với các tổ chức là các Công ty lâm nghiệp được giao, thuê đất lâm nghiệp, các đơn vị quốc phòng được giao đất làm thao trường, bãi tập có diện tích lớn và địa hình phức tạp, nhiều diện tích chưa được sử dụng còn để hoang hoá dẫn đến tình trạng bị lấn, chiếm Một số hộ dân sử dụng đất ở gần với đất của các lâm trường ý thức chấp hành pháp luật đất đai kém nên thường có hịên tượng vi phạm pháp luật đất đai
Một số tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất nhưng đã có tình trạng lấn, chiếm đất của các lâm trường bên cạnh do đó diện tích khi triển kiểm
kê đợt này đã tăng có tổ chức tăng gấp 2 đến 3 lần diện tích được giao, thuê
Trang 3324
* Tình hình đất chưa đưa vào sử dụng của các tổ chức
Tổng diện tích đất của các tổ chức được giao, được thuê của các tổ chức nhưng chưa sử dụng là 1.929,78 ha do 136 tổ chức quản lý, trong đó diện tích đã đưa vào sử dụng nhưng còn để hoang hoá là 1.057,52 ha do 48 tổ chức quản lý
và diện tích đất đầu tư, xây dựng chậm là 872,26 ha do 88 tổ chức quản lý Nguyên nhân là do một số tổ chức thiếu năng lực về tài chính nên khi được giao đất, thuê đất đã không thực hiện đúng tiến độ của dự án hoặc không thực hiện
* Tình hình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho tổ chức
Tỉnh Quảng Ninh đã có 1151 tổ chức được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đạt 42,1% số tổ chức cần cấp giấy, số lượng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp là 1699 giấy và diện tích đã cấp là 91.313,25 ha, đạt 58,55% diện tích cần cấp giấy
Trang 3425
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tiến hành điều tra các tổ chức đang quản lý, sử dụng đất đai do Nhà nước giao đất, cho thuê đất theo các đối tượng, mục đích sử dụng đất Cụ thể trong giai đoạn 2011-2015 UBND tỉnh Quảng Ninh đã tiến hành giao đất và cho thuê đất cho các loại hình tổ chức nằm trên địa bàn thành phố Cẩm Phả bao gồm:
Cơ quan hành chính nhà nước, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức sự nghiệp công,
tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị, tổ chức xã hội
2.1.2 Phạm vi và thời gian nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các tổ chức được giao, cho thuê trên địa bàn thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2011-2015
Thời gian nghiên cứu: 8/2015 – 8/2016 và tiếp tục được hoàn thiện tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội có liên quan đến tình hình
sử dụng đất của các tổ chức
- Điều kiện tự nhiên
- Điều kiện kinh tế, xã hội
- Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội có liên quan đến tình hình sử dụng đất của các tổ chức
2.2.2 Đánh giá hiện trạng quản lý và sử dụng đất đai trên địa bàn thành phố Cẩm Phả
- Tình hình quản lý đất đai trên địa bàn thành phố
- Hiện trạng sử dụng đất năm 2015 trên địa bàn thành phố
- Đánh giá tình hình quản lý và sử dụng đất trên địa bàn thành phố
2.2.3 Đánh giá thực trạng quản lý, sử dụng đất của các tổ chức trên địa bàn thành phố Cẩm Phả
- Tình hình giao đất và thuê đất của các tổ chức
Trang 3526
- Tình hình quản lý, sử dụng đất của các tổ chức
- Nguyên nhân biến động tình hình sử dung đất của các tổ chức
2.2.4 Đề xuất một số giải pháp nhằm sử dụng tiết kiệm, hiệu quả đối với quỹ đất
đã giao cho các tổ chức sử dụng
- Giải pháp về tuyên truyền nâng cao nhận thức người sử dụng đất
- Giải pháp về đo đạc, hoàn thiện hồ sơ địa chính đất đai trên địa bàn thành phố
- Giải pháp về tăng cường quản lý, sử dụng đất
- Giải pháp về chính sách pháp luật
- Giải pháp về kinh tế
2.3 Phương pháp nghiên cứu
Các nội dung của để tài được thực hiện trên cơ sở tổng hợp, phân tích, đánh giá từ các tài liệu và số liệu đã thu thập qua công tác điều tra sau đó tiến hành đối soát với các quy định trong hệ thống các văn bản pháp quy hiện hành của Nhà nước (Luật Đất 2013, các Nghị định, Quyết định hướng dẫn thi hành), của tỉnh Quảng Ninh và thành phố Cẩm Phả (các Quyết định và Thông báo liên quan đến tình hình sử dụng đất của các tổ chức) để đưa ra các kết luận Nguồn tài liệu bao gồm:
2.3.1 Tài liệu liệu thứ cấp
Là các số liệu từ các công trình nghiên cứu trước được lựa chọn sử dụng vào mục đích phân tích, minh họa rõ nét về nội dung nghiên cứu Nguồn gốc của các tài liệu này được thu thập từ các cơ quan điều tra, cụ thể như sau:
- Số liệu về xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, Công tác quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thu thập tại phòng Đo đạc Bản đồ thuộc sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh;
- Số liệu về tình hình giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích
sử dụng đất tại phòng Quản lý đất đai; thuộc sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh;
- Số liệu về Đăng ký đất đai, thống kê, kiểm kê đất đai hàng năm và định kỳ,
số liệu về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các tổ chức thu thập tại Văn phòng đăng ký đất đai thuộc sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh;
Trang 36Phỏng vấn các cán bộ chuyên môn tại các địa bàn nghiên cứu: phỏng vấn các cán bộ để thu thập các tài liệu liên quan đến tình hình sử dụng đất của các tổ chức như tình hình giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất của các
tổ chức…Đề tài không tiến hành lập phiếu điều tra chỉ tiến hành phỏng vấn trực tiếp các cán bộ chuyên môn trên địa bàn cụ thể là các chuyên viên của Sở TN&MT, chuyên viên của VP ĐK đất đai tỉnh Quảng Ninh
Trang 3728
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội có liên quan đến tình hình sử dụng đất của các tổ chức
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
du lịch biển, Cẩm Phả được xác định là đô thị phát triển công nghiệp (than, nhiệt điện, phụ trợ ), dịch vụ theo hướng hiện đại, bền vững với môi trường; là đô thị điển hình trong việc thực hiện cụ thể hóa chuyển đổi "nâu" sang "xanh" [21]
Cẩm Phả có toạ độ địa lý từ 20o58'10 - 21o12' vĩ độ bắc, 107o10' -
107o23'50 kinh độ đông; là một thành phố thuộc “tuyến phía Đông” của tỉnh Quảng Ninh với những đặc thù về điều kiện tự nhiên, lịch sử, dân cư cũng như hoạt động kinh tế Phía Bắc giáp huyện Ba Chẽ và huyện Tiên Yên, phía Nam là vịnh Bái Tử Long giáp thành phố Hạ Long và huyện Vân Đồn, phía Đông giáp huyện Vân Đồn, phía Tây giáp huyện Hoành Bồ và thành phố Hạ Long Thành phố cách Hà Nội 180
km, cách thành phố Hải Phòng 100 km, cách thành phố Hạ Long 30 km và cách thành phố Móng Cái 140 km Quá trình phát triển về mọi mặt của Thành phố luôn gắn bó hữu cơ với sự phát triển của các vùng miền (liền kề khu kinh tế Vân Đồn, với các thành phố Hạ Long, Móng Cái, Uông Bí) và đặc biệt là sự phát triển của ngành công nghiệp khai thác mỏ và công nghiệp nhiệt điện (từ năm 2013)
Cẩm Phả là trung tâm khai thác, chế biến và tiêu thụ than của cả nước; trung tâm công nghiệp về điện, cơ khí, vật liệu xây dựng; có vị trí đặc biệt quan trọng về quốc phòng - an ninh, là tuyến phòng thủ phía Đông Bắc của Tổ quốc; nằm trong
Trang 3829 vùng động lực phát triển miền Bắc: Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, là đầu mối giao thông quan trọng của Quảng Ninh với các tỉnh phía Bắc (Quốc lộ 18A; Tỉnh lộ
326, 329; giao thông đường thuỷ đi qua rất thuận tiện cho việc giao thông đối nội, đối ngoại, vận tải khách, giao lưu hàng hoá…)
Thành phố Cẩm Phả là một đơn vị hành chính dọc theo Quốc lộ 18 với các khu dân cư được ghép nối thành một dải tạo nên một hình dáng đô thị đặc biệt gồm
13 phường và 3 xã
Hình 3.1: Ví trí của thành phố Cẩm Phả trên bản đồ đất nước
Trang 3930
3.1.1.2 Khí hậu, thời tiết
Thành phố có khí hậu nhiệt đới gió mùa khá ôn hòa với bốn mùa trong năm (xuân, hạ, thu, đông) Nền nhiệt độ trung bình khoảng 21-23°C; lượng mưa bình quân 2.250 mm; độ ẩm trung bình 82-85%; tốc độ gió trung bình năm 3,1 m/s Ngoài ra, tổng số ngày có giông trong năm là 37,3 ngày; lượng bốc hơi trung bình năm là 936,6
mm [20]
3.1.1.3 Địa hình địa mạo
Có 4 dạng chính: đồi núi cao, đồi thấp, đồng bằng và bãi sú vẹt ven biển
- Địa hình núi cao có độ dốc >25%, khu vực phía Bắc là các đỉnh núi cao gồm nhiều mỏ than nối tiếp nhau, có 2 nếp đứt gãy địa hình dọc theo Quốc lộ 18A
Trang 4031 Nhà máy nước Diễn Vọng là nguồn nước chính đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng nước cho Cẩm Phả, Hòn Gai và Vân Đồn với công nghệ xử lý tương đối hiện đại, tổng công suất dự kiến 120.000m3/ngđ Nguồn nước ngầm vẫn được khai thác sử dụng nhưng chủ yếu phục vụ phòng cháy chữa cháy (PCCC) và vệ sinh môi trường
3.1.1.6 Các nguồn tài nguyên
a) Than
Thành phố nằm trong khu vực có trữ lượng than lớn nhất Việt Nam với 19 khu mỏ chiếm hơn 70% trữ lượng than sạch của tỉnh Quảng Ninh; sở hữu một trong những mỏ than lộ thiên lớn nhất của thế giới và một vài trong số những mỏ này đã hoạt động suốt gần một thế kỷ Với trữ lượng lớn và chất lượng than tốt, nền kinh tế Thành phố đã và đang phát triển chủ yếu dựa vào ngành khai thác than, với hai hình thức là khai thác lộ thiên (khoảng 70% sản lượng than) và khai thác hầm lò (khoảng 30% sản lượng than)
Sản lượng khai thác than trên địa bàn Thành phố chiếm khoảng 50 - 55% sản lượng than cả nước Thành phố có hệ thống cảng biển tương đối hoàn chỉnh trong
đó có các cảng nước sâu tạo điều kiện thuận lợi cho việc xuất khẩu than
Hình 3.2 dưới đây cho thấy sản lượng than sạch của Thành phố đang giảm đi trong những năm gần đây Sản lượng than sạch tăng nhẹ từ năm 2010 đến năm 2011 nhưng sau đó giảm dần xuống còn 16,2 triệu tấn vào năm 2012 và 15,2 triệu tấn năm 2013