1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Thực trạng và giải pháp xây dựng nông thôn mới ở huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên (LV thạc sĩ)

83 2K 25

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng và giải pháp xây dựng nông thôn mới ở huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên (LV thạc sĩ)Thực trạng và giải pháp xây dựng nông thôn mới ở huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên (LV thạc sĩ)Thực trạng và giải pháp xây dựng nông thôn mới ở huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên (LV thạc sĩ)Thực trạng và giải pháp xây dựng nông thôn mới ở huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên (LV thạc sĩ)Thực trạng và giải pháp xây dựng nông thôn mới ở huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên (LV thạc sĩ)Thực trạng và giải pháp xây dựng nông thôn mới ở huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên (LV thạc sĩ)Thực trạng và giải pháp xây dựng nông thôn mới ở huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên (LV thạc sĩ)Thực trạng và giải pháp xây dựng nông thôn mới ở huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên (LV thạc sĩ)Thực trạng và giải pháp xây dựng nông thôn mới ở huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên (LV thạc sĩ)Thực trạng và giải pháp xây dựng nông thôn mới ở huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên (LV thạc sĩ)Thực trạng và giải pháp xây dựng nông thôn mới ở huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên (LV thạc sĩ)Thực trạng và giải pháp xây dựng nông thôn mới ở huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên (LV thạc sĩ)Thực trạng và giải pháp xây dựng nông thôn mới ở huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên (LV thạc sĩ)

Trang 1

NGUYỄN THANH BÌNH

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG NÔNG

THÔN MỚI TẠI HUYỆN ĐIỆN BIÊN,

TỈNH ĐIỆN BIÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

Thái Nguyên - 2016

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Tính cấp thiết của đề tài

Xây dựng nông thôn mới (NTM) là bước đầu tiên để tiến tới công nghiệp hóa và hiện đại hóa Hội nghị lần thứ 7 của ban chấp hành trung ương Đảng khóa X đã ban hành nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 5/8/2008 về vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn Nghị quyết đã xác định mục tiêu xây dựng nông thôn mới đến năm 2020 Ngày 16/4/2009, Thủ Tướng Chính phủ đã có quyết định số 491/QĐ-TTg ban hành bộ tiêu chí quốc gia (bao gồm 19 tiêu chí) về nông thôn mới Đây là cơ sở để chỉ đạo xây dựng mô hình nông thôn mới nhằm thực hiện các mục tiêu quốc gia về nông thôn phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước [20]

Xây dựng NTM là mục tiêu quốc gia, là vấn đề lớn, nhằm tạo ra sự chuyển biến về mọi mặt trong sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông thôn và nâng cao chất lượng sống của người dân, đồng thời cũng là để rút ngắn khoảng cách giữa nông thôn và thành thị Trong quá trình đó, thực hiện chủ trương của đảng

về phát triển nông thôn, Bộ NN - PTNT đã phối hợp với các địa phương tiến hành xây dựng thí điểm một số mô hình nông thôn mới ở quy mô xã, thôn, ấp, bản Nhưng do nhận thức chưa thống nhất, chỉ đạo, đầu tư còn phân tán cho nên kết quả đạt được còn hạn chế Đối chiếu với yêu cầu, mục tiêu xây dựng giai cấp nông dân, phát triển nông nghiệp, xây dựng NTM trong thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH theo chủ trương của đảng, Nhà nước ta thì việc xây dựng nông thôn mới hiện nay còn rất nhiều vấn đề khó khăn đặt ra cần phải giải quyết

Tại tỉnh Điện Biên, trong những năm qua, Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh

đã tích cực thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, quan tâm chú trọng đầu tư nhiều cho nông nghiệp, nông dân và nông thôn, trong đó lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện gắn liền với việc xây dựng nông thôn mới, chính quyền và nhân dân các địa phương tích cực hưởng ứng, thực hiện phong trào xây dựng nông thôn mới Huyện Điện Biên là là một trong những địa phương đã tích cực hưởng

Trang 3

ứng và thực hiện chủ trương, phong trào xây dựng nông thôn mới sớm so với nhiều huyện trong tỉnh Kết quả đạt được đã dần góp phần làm thay đổi diện mạo nông thôn Tuy nhiên, sau 5 năm triển khai thực hiện Chương trình NTM chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện còn chậm, hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn chưa được cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo còn cao (chiếm 14,56%), thu nhập bình quân đầu người thấp (đạt 12,5 đồng/người/năm), mức độ đạt được so với các tiêu chí NTM còn thấp (bình quân đạt 7,6 tiêu chí/xã, huyện mới chỉ có 01 xã đạt chuẩn NTM) Nguyên nhân đó là: xuất phát điểm các xã còn thấp, việc triển khai còn lúng túng, hạ tầng KT - XH cũ, xuống cấp, nhu cầu kinh phí đầu

tư xây dựng lớn, việc huy động nguồn kinh phí đầu tư trong xây dựng nông thôn mới khó khăn, vai trò tham gia của cộng đồng còn hạn chế, tiến độ triển khai thực hiện chưa đảm bảo yêu cầu, việc xây dựng NTM tại một số xã còn dàn trải, kém hiệu quả

Xuất phát từ những yêu cầu về phát triển nông thôn mới và giải quyết

những khó khăn trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng và giải

pháp xây dựng nông thôn mới ở huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên”

3 Ý nghĩa của đề tài

- Kết quả nghiên cứu của đề tài xác định được những thành công, bất cập trong quá trình triển khai thực hiện “Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới”, đề xuất các giải pháp có tính khả thi góp phần thúc đẩy quá trình xây dựng nông thôn mới ở huyện Điện Biên nói chung Vì vậy, đây là luận cứ khoa học phục vụ cho sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành quản lý của huyện

Trang 4

Điện Biên và UBND các xã Mường Phăng, Thanh Chăn, xã Thanh Xương trong việc thực hiện “Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới” của Đảng và Nhà nước

- Đề tài góp phần quan trọng trong việc đánh giá quá trình xây dựng nông thôn mới và đề xuất các giải pháp có cơ sở khoa học góp phần đẩy mạnh quá

trình xây dựng Nông thôn mới ở huyện Điện Biên đảm bảo nhanh và bền vững

Trang 5

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở lý luận của xây dựng nông thôn mới

1.1.1 Một số khái niệm liên quan

1.1.1.1 Nông thôn

Hiện nay trên thế giới có nhiều quan điểm khác nhau về nông thôn Có quan điểm cho rằng cần dựa vào chỉ tiêu phát triển cơ sở hạ tầng, có nghĩa vùng nông thôn có cơ sở hạ tầng không phát triển bằng vùng đô thị Quan điểm khác lại cho rằng nên dựa vào chỉ tiêu trình độ tiếp cận thị trường phát triển hàng hóa

và khả năng tiếp cận thị trường Một số quan điểm khác nêu ra, vùng nông thôn

là vùng có dân cư làm nông nghiệp là chủ yếu, tức là nguồn sinh kế chính của cư dân trong vùng là sản xuất nông nghiệp Những ý kiến này chỉ đúng khi đặt trong bối cảnh cụ thể của từng nước

Nông thôn là khái niệm chỉ hệ thống cộng đồng xã hội lãnh thổ được hình thành trong quá trình phân công lao động xã hội mà ở đó dân cư tương đối thấp; lao động nông nghiệp chiếm tỉ trọng cao, mối quan hệ cộng đồng chặt chẽ; do vậy, lối sống, phương thức sống của cộng đồng dân cư nông thôn khác biệt cộng đồng dân cư thành thị (Nguyễn Chí Dũng, 2010) [14]

Như vậy, khái niệm về nông thôn chỉ có tính chất tương đối, thay đổi theo thời gian và theo tiến trình phát triển kinh tế, xã hội của các quốc gia trên thế giới Trong điều kiện hiện nay của Việt Nam, nhìn nhận dưới góc độ quản lý,

có thể hiểu nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp cư dân, trong đó có nhiều nông dân Tập hợp cư dân này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác (Nguyễn Văn Tâm, 2010) [15]

1.1.1.2 Phát triển nông thôn

Phát triển nông thôn là một phạm trù rộng được nhận thức với rất nhiều quan điểm khác nhau Đã có nhiều nghiên cứu và triển khai ứng dụng thuật ngữ này ở nhiều nước trên thế giới Ở Việt Nam, thuật ngữ này được đề cập và có sự

Trang 6

thay đổi nhận thức qua các thời kỳ Tuy nhiên chúng ta vẫn chưa có sự tổng hợp

lý luận về thuật ngữ này Nhiều tổ chức phát triển quốc tế đã nghiên cứu và vận dụng thuật ngữ này ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam

Phát triển là một quá trình làm thay đổi liên tục làm tăng trưởng mức sống của con người và phân phối công bằng những thành quả trong xã hội

Phát triển nông thôn là một chiến lược nhằm cải thiện các điều kiện sống

về kinh tế và xã hội của một nhóm người cụ thể - người nghèo ở vùng nông thôn Nó giúp những người nghèo nhất trong những người dân sống ở các vùng nông thôn được hưởng lợi từ sự phát triển (Vũ Thị Bình, 2006) [23]

Trong điều kiện của Việt Nam tổng hợp các quan điểm từ các chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Chính phủ, thuật ngữ này được hiểu như sau: Phát triển nông thôn là quá trình cải thiện có chủ ý một cách bền vững về kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nông thôn và có sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước và các tổ chức khác (Nguyễn Văn Tâm, 2010) [13]

1.1.1.3 Nông thôn mới

Trong Nghị quyết số 26-NQ/TW đưa ra mục tiêu: Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự xã hội được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng nâng cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Như vậy, nông thôn mới trước tiên nó phải là nông thôn, không phải là thị

tứ, thị trấn, thị xã, thành phố và khác với nông thôn truyền thống hiện nay, có thể khái quát theo 5 nội dung cơ bản sau: Làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại; sản xuất phải phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hóa; đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn ngày càng được nâng cao;

Trang 7

bản sắc văn hóa dân tộc được gìn giữ và phát triển; xã hội nông thôn an ninh tốt, quản lý dân chủ [10]

Nông thôn mới chính là nông thôn tiến bộ, cơ sở hạ tầng đồng bộ, đời sống văn hóa phong phú Song, có điều không bao giờ thay đổi là nông thôn mới cũng phải giữ được tính truyền thống, những nét đặc trưng nhất, bản sắc từng vùng, từng dân tộc và nâng cao giá trị đoàn kết của cộng đồng, mức sống của người dân

Trước hết NTM phải là nơi sản xuất nông nghiệp, tạo ra các sản phẩm có năng suất, chất lượng cao theo hướng sản xuất hàng hóa Bên cạnh đó nông thôn mới phải đảm nhận được vai trò gìn giữ văn hóa truyền thống dân tộc Làng quê nông thôn Việt Nam khác hẳn so với các nước xung quanh, ngay cả ở Việt Nam, làng quê dân tộc Thái khác với dân tộc H’Mông, khác với dân tộc Êđê, Bana, người Kinh Nếu quá trình xây dựng NTM làm phá vỡ chức năng này là đi ngược lại với lòng dân và làm xóa nhòa truyền thống văn hóa muôn đời của người dân Việt Nam NTM phải giữ được môi trường sinh thái hài hòa

Mô hình nông thôn mới được quy định bởi các tính chất: Đáp ứng yêu cầu phát triển; có sự đổi mới về tổ chức, vận hành và cảnh quan môi trường; đạt hiệu quả cao nhất trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội; tiến bộ hơn so với mô hình cũ; chứa đựng các đặc điểm chung, có thể phổ biến và vận dụng trên cả nước Như vậy, có thể quan niệm: Mô hình nông thôn mới là tổng thể những đặc điểm, cấu trúc tạo thành một kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu chí mới, đáp ứng yêu cầu mới đặt ra cho nông thôn trong điều kiện hiện nay, là kiểu nông thôn được xây dựng so với mô hình nông thôn cũ (truyền thống, đã có) ở tính tiên tiến về mọi mặt (Phan Xuân Sơn, 2008) [18]

* Một số đặc trưng của mô hình nông thôn mới:

- Nông thôn là lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị

xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Uỷ ban nhân dân xã [11]

- Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại

Trang 8

- Cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch

- Xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc

- Dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường

- Xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công nhân - nông dân - trí thức vững mạnh, tạo nền tảng kinh tế - xã hội và chính trị vững chắc cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa [1]

Ngày 16/4/2009 Thủ tướng Chính Phủ đã ký Quyết định số 491/QĐ-TTg

về việc ban hành bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới gồm 19 tiêu chí áp dụng riêng cho từng vùng của Việt Nam Bộ tiêu chí cụ thể hóa đặc tính của xây dựng NTM thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH

Bộ tiêu chí cũng là căn cứ để xây dựng nội dung chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM, là chuẩn mực để xác lập kế hoạch phấn đấu đạt 19 tiêu chí nông thôn mới Ngoài ra nó còn là căn cứ để chỉ đạo và đánh giá kết quả thực hiện xây dựng NTM của các địa phương trong từng thời kỳ; đánh giá công nhận xã, huyện, tỉnh đạt nông thôn mới [19]

1.1.2 Vai trò nông thôn mới trong phát triển kinh tế xã hội

1.1.2.1.Về kinh tế

Nông thôn có nền sản xuất hàng hóa mở, hướng đến thị trường và giao lưu, hội nhập Để đạt được điều đó, cơ sở hạ tầng của nông thôn phải hiện đại, tạo điều kiện thuận lợi cho mở rộng sản xuất, giao lưu buôn bán, chăm sóc sức khỏe cộng đồng

Thúc đẩy nông nghiệp, nông thôn phát triển nhanh, kích thích mọi người tham gia vào thị trường, hạn chế rủi ro cho nông dân, điều chỉnh, giảm bớt sự phân hóa giàu nghèo, chênh lệch về mức sống giữa các vùng, giữa nông thôn và thành thị

Trang 9

Phát triển các hình thức sở hữu đa dạng, trong đó chú ý xây dựng mới các HTX theo mô hình kinh doanh đa ngành Hỗ trợ các HTX ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ phù hợp với các phương án sản xuất, kinh doanh, phát triển ngành nghề ở nông thôn

Sản xuất hàng hóa với chất lượng sản phẩm mang nét độc đáo, đặc sắc của từng vùng, địa phương Tập trung đầu tư vào những trang thiết bị, công nghệ sản xuất, chế biến nông sản sau thu hoạch vừa có khả năng tận dụng nhiều lao động vừa đáp ứng yêu cầu xuất khẩu

1.1.2.2.Về chính trị

Phát huy dân chủ với tinh thần tôn trọng pháp luật, gắn lệ làng, hương ước với pháp luật để điều chỉnh hành vi con người, đảm bảo tính pháp lý, phát huy tính tự chủ của làng xã

Phát huy tối đa Quy chế dân chủ cơ sở, tôn trọng hoạt động của các hội, đoàn thể, các tổ chức hiệp hội vì lợi ích cộng đồng, nhằm huy động tổng lực vào xây dựng nông thôn mới

1.1.2.3.Về văn hóa - xã hội

Tăng cường dân chủ ở cơ sở, phát huy vai trò tự chủ trong thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, giúp nhau xóa đói giảm nghèo, vươn lên làm giàu

1.1.2.4.Về con người

Xây dựng nhân vật trung tâm của mô hình NTM, đó là người nông dân sản xuất hàng hóa khá giả, giàu có; là nông dân kết tinh các tư cách: công dân, thể nhân, dân của làng, người con của các dòng họ, gia đình

Có kế hoạch, chương trình, lộ trình xây dựng người nông dân nông thôn thành người nông dân sản xuất hàng hóa trong kinh tế thị trường, thành nhân vật trung tâm của mô hình nông thôn mới, người quyết định thành công của mọi cải cách ở nông thôn

Trang 10

Người nông dân và các cộng đồng nông thôn là trung tâm của mọi chiến lược phát triển NN, NT Đưa nông dân vào sản xuất hàng hóa, doanh nhân hóa nông dân, doanh nghiệp hóa các cộng đồng dân cư, thị trường hóa nông thôn

1.1.2.5.Về môi trường

Môi trường sinh thái phải được bảo tồn xây dựng, củng cố, bảo vệ Bảo vệ rừng đầu nguồn, chống ô nhiễm nguồn nước, môi trường không khí và chất thải

từ các khu công nghiệp để nông thôn phát triển bền vững

Các nội dung trên trong cấu trúc vai trò mô hình nông thôn mới có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Nhà nước đóng vai trò chỉ đạo, tổ chức điều hành quá trình hoạch định và thực thi chính sách, xây dựng đề án, cơ chế, tạo hành lang pháp lý, hỗ trợ vốn, kỹ thuật, nguồn lực, tạo điều kiện, kích thích tinh thần Nhân dân tự nguyện tham gia, chủ động trong thực thi và hoạch định chính sách Trên tinh thần đó, các chính sách kinh tế - xã hội ra đời tạo hiệu ứng tổng (Hồ Văn Thông, 2005) [13]

1.2 Cơ sở thực tiễn xây dựng nông thôn mới

1.2.1 Tình hình xây dựng nông thôn mới trên thế giới

1.2.1.1 Trung Quốc

Nông thôn Việt Nam và Trung Quốc có nhiều nét tương đồng Trung Quốc đã thực hiện nhiều chính sách cải cách ở nông thôn Đến năm 2009, thu nhập bình quân của cư dân nông thôn lần đầu tiên đạt mức trên 5.000 NDT tăng 8,5% so với năm trước Cũng trong năm 2009, Trung Quốc đầu tư làm mới và sửa chữa khoảng 300.000 km đường bộ nông thôn; hỗ trợ trên 46 triệu người nghèo đảm bảo đời sống tối thiểu; triển khai thí điểm ở 320 huyện về bảo hiểm dưỡng lão xã hội nông thôn (Phạm Anh - Văn Lợi, 2011) [16]

Việc chỉ đạo của Chính phủ trước kia cũng theo kiểu mệnh lệnh hành chính, nên việc thực hiện khá miễn cưỡng Sau đó, việc thực hiện xây dựng NTM linh hoạt hơn, dựa trên quy hoạch tổng thể (ngân sách nhà nước và địa phương) Căn cứ tình hình cụ thể ở các địa phương, đặc điểm tự nhiên, xã hội,

để đưa ra chính sách, biện pháp thích hợp Ngân sách nhà nước chủ yếu dùng

Trang 11

làm đường, công trình thủy lợi,… một phần dùng để xây nhà ở cho dân Đối với nhà ở nông thôn, nếu địa phương nào ngân sách lớn, nông dân chỉ bỏ ra một phần, còn lại là tiền của ngân sách

Nhà nước đầu tư nhiều hơn vào nông nghiệp Đầu tiên là đầu năm 2006 Trung Quốc xoá bỏ thuế nông nghiệp đã tồn tại 2.600 năm, đã cắt 120 tỷ nhân dân tệ (15 tỷ USD) gánh nặng thuế của nông dân Việc xoá bỏ thuế làm cho ngân sách các xã giảm nhiều, nhất là ở các vùng không có hoạt động phi nông nghiệp Ngân sách cho phát triển nông thôn tăng lên Xây dựng một cơ chế để công nghiệp và đô thị thúc đẩy phát triển nông thôn Sự phân phối thu nhập quốc dân sẽ được điều chỉnh để cho việc tiêu thụ thuế và đầu tư ngân sách và tài sản

cố định và tín dụng sẽ tăng cho nông nghiệp và nông thôn Hỗ trợ từ vốn nhà nước sẽ lớn và tăng liên tục Phần lớn trái phiếu và vốn ngân sách sẽ đi về phát triển nông thôn Đặc biệt đầu tư để cải tiến sản xuất và điều kiện sống sẽ trở thành một luồng ổn định để tăng vốn cho xây dựng Năm 2005, Nhà nước đã chi 297,5 tỷ nhân dân tệ cho tam nông, năm 2006: 339,7 tỷ nhân dân tệ và năm 2007: 391,7 tỷ nhân dân tệ (Đào Thế Tuấn, 2008) [12]

Công cuộc cải cách nông thôn của Trung Quốc trải qua nhiều dấu mốc Trong đó, những mốc quan trọng là xóa bỏ công xã nhân dân; xác lập thể chế kinh doanh hai tầng kết hợp, lấy kinh doanh bao thầu gia đình làm cơ sở; mở cửa toàn diện thị trường nông sản; xóa bỏ thuế nông nghiệp, và thực hiện trợ cấp trực tiếp cho nông dân Trung Quốc thực hiện nội dung hai mở, một điều chỉnh

là mở cửa giá thu mua, thị trường mua bán lương thực; một điều chỉnh là chuyển

từ trợ cấp gián tiếp qua lưu thông thành trợ cấp trực tiếp cho nông dân trồng lương thực

Định hướng phát triển tài chính hỗ trợ tam nông ở Trung Quốc là nông nghiệp hiện đại, nông thôn đô thị hóa và nông dân chuyên nghiệp hóa Trong chính sách tài chính, để tăng thu nhập cho nông dân, Trung Quốc tăng đầu tư hỗ trợ về giá mua giống, hỗ trợ thu mua lương thực không thấp hơn giá thị trường, mua máy móc thiết bị nông nghiệp và vốn Cùng đó, Trung Quốc cũng tập trung

Trang 12

xây dựng cơ chế hướng nghiệp, đào tạo kỹ năng làm việc, đặc biệt là lao động trẻ Ngoài ra, bên cạnh giảm thu phí và thuế với nông dân, Trung Quốc còn có chủ trương, đảm bảo trong vòng 3 năm xóa bỏ tình trạng các xã, thị trấn không

có dịch vụ tài chính tiền tệ cơ bản Đồng thời, thúc đẩy việc mua đồ gia dụng, ô

tô, xe máy tại các xã, bằng cách nhà nước trợ cấp 13% trên tổng giá trị hàng hoá khi nông dân mua sản phẩm do nhà nước định hướng (Phạm Anh - Văn Lợi, 2011) [16]

1.2.1.2 Hàn Quốc: Phong trào làng mới

Sau trận lụt lớn năm 1969, người dân Hàn Quốc phải tu sửa lại nhà cửa, đường sá, ruộng vườn mà không có sự trợ giúp của chính phủ Trong khi đi thị sát tình hình dân chúng, Tổng thống Hàn Quốc lúc bấy giờ là Park Chung Hy nhận ra rằng viện trợ của chính phủ cũng là vô nghĩa nếu người dân không nghĩ cách tự cứu lấy mình Hơn thế nữa, khuyến khích người dân tự hợp tác và giúp

đỡ nhau là điểm mấu chốt để phát triển nông thôn

Những ý tưởng này chính là nền tảng của phong trào “Saemaul Undong” được đích thân Tổng thống Park phát động vào ngày 22/4/1970 “Saemaul” theo nghĩa tiếng Hàn là “sự đổi mới của cộng đồng” được ghép với “undong” có nghĩa

là một phong trào và cụm từ “Saemaul Undong” có nghĩa là phong trào đổi mới cộng đồng Vì phong trào bắt đầu từ nông thôn nên “Saemaul Undong” được hiểu

là “phong trào đổi mới nông thôn” Sự ra đời kịp thời của “Saemaul Undong” vào đúng lúc nông thôn Hàn Quốc đang trì trệ trong đói nghèo cần có sự bứt phá mạnh mẽ và những kết quả khả quan đạt được ngay sau đó đã làm nức lòng nông dân cả nước Tới năm 1974, chỉ sau 4 năm phát động “Saemaul Undong”, sản lượng lúa tăng đến mức có thể tự túc lương thực, phổ biến kiến thức nông nghiệp

đã tạo nên một cuộc cách mạng trong phương pháp canh tác, thu nhập một năm của hộ nông dân (674 nghìn won tương đương 562 USD) cao hơn so với hộ ở thành thị (644 nghìn won tương đương 537 USD) Vào năm 1980, bộ mặt nông thôn có thể nói đã hoàn toàn thay đổi với đầy đủ điện, đường, nước sạch, công trình văn hóa… “Saemaul Undong” từ một phong trào ở nông thôn đã lan ra

Trang 13

thành một phong trào đổi mới toàn xã hội Hàn Quốc (Phạm Xuân Liêm, 2011) [17]

Bộ mặt nông thôn Hàn Quốc đã có những thay đổi hết sức kỳ diệu Trong

8 năm từ 1971-1978, Hàn Quốc đã cứng hóa được 43.631km đường làng nối với đường của xã, trung bình mỗi làng nâng cấp được 1.322m đường; cứng hóa đường ngõ xóm 42.220km, trung bình mỗi làng là 1.280m; xây dựng được 68.797 cầu (Hàn Quốc là đất nước có nhiều sông suối), kiên cố hóa 7.839km đê, kè; xây 24.140 hồ chứa nước và 98% hộ có điện thắp sáng Đặc biệt, vì không

có quỹ bồi thường đất và các tài sản khác nên việc hiến đất, tháo dỡ công trình, cây cối, đều do dân tự giác bàn bạc, thỏa thuận, ghi công lao đóng góp và hy sinh của các hộ cho phong trào

Nhờ phát triển giao thông nông thôn nên các hộ có điều kiện mua sắm phương tiện sản xuất Cụ thể là năm 1971 cứ 3 làng mới có 1 máy cày thì đến năm 1975 trung bình mỗi làng đã có 2,6 máy cày, rồi nâng lên 20 máy vào năm

1980 Từ đó tạo phong trào cơ khí hóa trong sản xuất nông nghiệp, áp dụng công nghệ cao, giống mới lai tạo đột biến, công nghệ nhà lưới, nhà kính trồng rau, hoa quả đã thúc đẩy năng suất, giá trị sản phẩm nông nghiệp tăng nhanh Năm

1979, Hàn Quốc đã có 98% số làng tự chủ về kinh tế

Ông Le Sang Mu, cố vấn đặc biệt của Chính phủ Hàn Quốc về nông, lâm, ngư nghiệp cho biết: Chính phủ hỗ trợ một phần đầu tư hạ tầng để nông thôn tự mình vươn lên, xốc lại tinh thần, đánh thức khát vọng tự tin Thắng lợi đó được Hàn Quốc tổng kết thành 6 bài học lớn

Thứ nhất, phát huy nội lực của nhân dân để xây dựng kết cấu hạ tầng

nông thôn phương châm là nhân dân quyết định và làm mọi việc “Nhà nước bỏ

ra 1 vật tư, nhân dân bỏ ra 5-10 công sức và tiền của” Dân quyết định loại công trình, dự án nào cần ưu tiên làm trước, công khai bàn bạc, quyết định thiết kế và chỉ đạo thi công, nghiệm thu công trình Năm 1971, Chính phủ chỉ hỗ trợ cho 33.267 làng, mỗi làng 335 bao xi măng Năm 1972 lựa chọn 1.600 làng làm tốt được hỗ trợ thêm 500 bao xi măng và 1 tấn sắt thép Sự trợ giúp này chính là

Trang 14

chất xúc tác thúc đẩy phong trào nông thôn mới, dân làng tự quyết định mức đóng góp đất, ngày công cho các dự án

Thứ hai, phát triển sản xuất để tăng thu nhập Khi kết cấu hạ tầng phục vụ

sản xuất được xây dựng, các cơ quan, đơn vị chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, giống mới, khoa học công nghệ giúp nông dân tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, xây dựng vùng chuyên canh hàng hóa Chính phủ xây dựng nhiều nhà máy ở nông thôn để chế biến và tiêu thụ nông sản cũng như có chính sách tín dụng nông thôn, cho vay thúc đẩy sản xuất Từ năm 1972 đến năm 1977 thu nhập trung bình của các hộ tăng lên 3 lần

Thứ ba, đào tạo cán bộ phục vụ phát triển nông thôn Hàn Quốc, xác định

nhân tố quan trọng nhất để phát triển phong trào “làng mới” là đội ngũ cán bộ cơ

sở theo tinh thần tự nguyện và do dân bầu Hàn Quốc đã xây dựng 3 trung tâm đào tạo quốc gia và mạng lưới trường nghiệp vụ của các ngành ở địa phương Nhà nước đài thọ, mở các lớp học trong thời gian từ 1-2 tuần để trang bị đủ kiến thức thiết thực như kỹ năng lãnh đạo cơ bản, quản lý dự án, phát triển cộng đồng

Thứ tư, phát huy dân chủ để phát triển nông thôn Hàn Quốc thành lập hội

đồng phát triển xã, quyết định sử dụng trợ giúp của Chính phủ trên cơ sở công khai, dân chủ, bàn bạc để triển khai các dự án theo mức độ cần thiết của địa phương Thành công ở Hàn Quốc là xã hội hóa các nguồn hỗ trợ để dân tự quyết định lựa chọn dự án, phương thức đóng góp, giám sát công trình

Thứ năm, phát triển kinh tế hợp tác từ phát triển cộng đồng Hàn Quốc đã

thiết lập lại các hợp tác xã (HTX) kiểu mới phục vụ trực tiếp nhu cầu của dân, cán bộ HTX do dân bầu chọn Phong trào “làng mới” là bước ngoặt đối với sự phát triển của HTX hoạt động đa dạng, hiệu quả trong dịch vụ tín dụng, cung cấp đầu vào cho sản xuất, tiếp thị nông sản, bảo hiểm nông thôn và các dịch vụ khác Trong vòng 10 năm, doanh thu bình quân của 1 HTX tăng từ 43 triệu won lên 2,3 tỉ won

Thứ sáu, phát triển và bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường bằng sức mạnh

toàn dân Chính phủ quy hoạch, xác định chủng loại cây rừng phù hợp, hỗ trợ

Trang 15

giống, tập huấn cán bộ kỹ thuật chăm sóc vườn ươm và trồng rừng để hướng dẫn

và yêu cầu tất cả chủ đất trên vùng núi trọc đều phải trồng rừng, bảo vệ rừng Nếu năm 1970 phá rừng còn là quốc nạn thì 20 năm sau rừng xanh đã che phủ khắp nước và đây được coi là một kỳ tích của phong trào“làng mới” (Tuấn Anh, 2012) [21]

1.2.1.3 Nhật Bản: “Mỗi làng một sản phẩm”

Từ thập niên 70 của thế kỷ trước, ở tỉnh Oita (miền tây nam Nhật Bản) đã hình thành và phát triển phong trào “Mỗi làng một sản phẩm”, với mục tiêu phát triển vùng nông thôn của khu vực này một cách tương xứng với sự phát triển chung của cả nước Nhật Bản Trải qua gần 30 năm hình thành và phát triển, Phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” ở đây đã thu được nhiều thắng lợi rực rỡ

Sự thành công của phong trào này đã lôi cuốn sự quan tâm không chỉ của nhiều địa phương trên đất nước Nhật Bản mà còn rất nhiều khu vực, quốc gia khác trên thế giới Một số quốc gia, nhất là những quốc gia trong khu vực Đông Nam

Á đã thu được những thành công nhất định trong phát triển nông thôn của đất nước mình nhờ áp dụng kinh nghiệm phong trào “Mỗi làng một sản phẩm”

Những kinh nghiệm của phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” được những người sáng lập, các nhà nghiên cứu đúc rút để ngày càng có nhiều người, nhiều khu vực và quốc gia có thể áp dụng trong chiến lược phát triển nông thôn, nhất là phát triển nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa đất nước mình (Tuấn Anh, 2012) [21]

1.2.1.4 Thái Lan: sự trợ giúp mạnh mẽ của nhà nước

Thái Lan vốn là một nước nông nghiệp truyền thống với dân số nông thôn chiếm khoảng 80% dân số cả nước Để thúc đẩy sự phát triển bền vững nền nông nghiệp, Thái Lan đã áp dụng một số chiến lược như: Tăng cường vai trò của cá nhân và các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp; đẩy mạnh phong trào học tập, nâng cao trình độ của từng cá nhân và tập thể bằng cách mở các lớp học và các hoạt động chuyên môn trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn; tăng cường công tác bảo hiểm xã hội cho nông dân, giải quyết tốt vấn đề

Trang 16

nợ trong nông nghiệp; giảm nguy cơ rủi ro và thiết lập hệ thống bảo hiểm rủi ro cho nông dân

Đối với các sản phẩm nông nghiệp, Nhà nước đã hỗ trợ để tăng sức cạnh tranh với các hình thức, như tổ chức hội chợ triển lãm hàng nông nghiệp, đẩy mạnh công tác tiếp thị; phân bổ khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách khoa học và hợp lý, từ đó góp phần ngăn chặn tình trạng khai thác tài nguyên bừa bãi

và kịp thời phục hồi những khu vực mà tài nguyên đã bị suy thoái; giải quyết những mâu thuẫn có liên quan đến việc sử dụng tài nguyên lâm, thủy hải sản, đất đai, đa dạng sinh học, phân bổ đất canh tác Trong xây dựng kết cấu hạ tầng, Nhà nước đã có chiến lược trong xây dựng và phân bố hợp lý các công trình thủy lợi lớn phục vụ cho nông nghiệp Hệ thống thủy lợi bảo đảm tưới tiêu cho hầu hết đất canh tác trên toàn quốc, góp phần nâng cao năng suất lúa và các loại cây trồng khác trong sản xuất nông nghiệp Chương trình điện khí hóa nông thôn với việc xây dựng các trạm thủy điện vừa và nhỏ được triển khai rộng khắp cả nước…

Về lĩnh vực công nghiệp phục vụ nông nghiệp, chính phủ Thái Lan đã tập trung vào các nội dung sau: Cơ cấu lại ngành nghề phục vụ phát triển công nghiệp nông thôn, đồng thời cũng xem xét đến các nguồn tài nguyên, những kỹ năng truyền thống, nội lực, tiềm năng trong lĩnh vực sản xuất và tiếp thị song song với việc cân đối nhu cầu tiêu dùng trong nước và nhập khẩu

Thái Lan đã tập trung phát triển các ngành mũi nhọn như sản xuất hàng nông nghiệp, thủy, hải sản phục vụ xuất khẩu, thúc đẩy mạnh mẽ công nghiệp chế biến nông sản cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, nhất là các nước công nghiệp phát triển Ngành công nghiệp chế biến thực phẩm ở Thái Lan phát triển rất mạnh nhờ một số chính sách sau:

- Chính sách phát triển nông nghiệp: Một trong những nội dung quan trọng nhất của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 2000-2005 là kế hoạch

cơ cấu lại mặt hàng nông sản của Bộ Nông nghiệp Thái Lan, nhằm mục đích nâng cao chất lượng và sản lượng của 12 mặt hàng nông sản, trong đó có các

Trang 17

mặt hàng: gạo, dứa, tôm sú, gà và cà phê Chính phủ Thái Lan cho rằng, càng có nhiều nguyên liệu cho chế biến thì ngành công nghiệp chế biến lương thực thực phẩm mới phát triển và càng thu được nhiều ngoại tệ cho đất nước Nhiều sáng kiến làm gia tăng giá trị cho nông sản được khuyến khích trong chương trình Mỗi làng một sản phẩm và chương trình Quỹ làng

- Chính sách bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm: Chính phủ Thái Lan thường xuyên thực hiện chương trình quảng bá vệ sinh an toàn thực phẩm Năm

2004, Thái Lan phát động chương trình “Năm an toàn thực phẩm và Thái Lan là bếp ăn của thế giới” Mục đích chương trình này là khuyến khích các nhà chế biến và nông dân có hành động kiểm soát chất lượng vệ sinh thực phẩm để bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Bên cạnh đó, Chính phủ thường xuyên hỗ trợ cho doanh nghiệp cải thiện chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm Do đó, ngày nay, thực phẩm chế biến của Thái Lan được người tiêu dùng ở các thị trường khó tính, như Hoa Kỳ, Nhật Bản và EU, chấp nhận

- Mở cửa thị trường khi thích hợp: Chính phủ Thái Lan đã xúc tiến đầu tư, thu hút mạnh các nhà đầu tư nước ngoài vào liên doanh với các nhà sản xuất trong nước để phát triển ngành công nghiệp chế biến thực phẩm, thông qua việc

mở cửa cho các quốc gia dù lớn hay nhỏ vào đầu tư kinh doanh Trong tiếp cận thị trường xuất khẩu, Chính phủ Thái Lan là người đại diện thương lượng với chính phủ các nước để các doanh nghiệp đạt được lợi thế cạnh tranh trong xuất khẩu thực phẩm chế biến Bên cạnh đó, Chính phủ Thái Lan có chính sách trợ cấp ban đầu cho các nhà máy chế biến và đầu tư trực tiếp vào kết cấu hạ tầng như: Cảng kho lạnh, sàn đấu giá và đầu tư vào nghiên cứu và phát triển; xúc tiến công nghiệp và phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ Xúc tiến công nghiệp là trách nhiệm chính của Cục Xúc tiến công nghiệp thuộc Bộ Công nghiệp, nhưng việc xúc tiến và phát triển công nghiệp chế biến thực phẩm ở Thái Lan do nhiều

cơ quan cùng thực hiện Chẳng hạn, trong Bộ Nông nghiệp và Hợp tác xã, cùng với Cục Xúc tiến nông nghiệp, Cục Hợp tác xã giúp nông dân xây dựng hợp tác

xã để thực hiện các hoạt động, trong đó có chế biến thực phẩm; Cục Thủy sản

Trang 18

giúp đỡ nông dân từ nuôi trồng, đánh bắt đến chế biến thủy sản Cơ quan Tiêu chuẩn sản phẩm công nghiệp thuộc Bộ Công nghiệp xúc tiến tiêu chuẩn hoá và

hệ thống chất lượng; Cơ quan Phát triển công nghệ và khoa học quốc gia xúc tiến việc áp dụng khoa học và công nghệ cho chế biến; Bộ Đầu tư xúc tiến đầu

tư vào vùng nông thôn (Tuấn Anh, 2012) [21]

1.2.2 Tình hình xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam

1.2.2.1 Những bài học kinh nghiệm trong xây dựng NTM giai đoạn 2010 - 2015

- Bài học kinh nghiệm trong xây dựng NTM của cả nước: Qua 5 năm thực

hiện chương trình xây dựng NTM giai đoạn 2011-2015 đã làm thay đổi nhận thức của đa số người dân, lôi cuốn người dân tham gia xây dựng NTM.Cả nước

có 1.298 xã (14,5%) được công nhận đạt chuẩn NTM; số tiêu chí bình quân/xã

là 12,9 tiêu chí (tăng 8,2 tiêu chí so với 2010); số xã khó khăn nhưng có nỗ lực vươn lên (xuất phát điểm dưới 3 tiêu chí, nay đã đạt được 10 tiêu chí trở lên) là

183 xã [2]

Chương trình xây dựng mô hình nông thôn mới trong giai đoạn 2010 -

2015 đã rút ra năm bài học kinh nghiệm:

Từ thực tế chỉ đạo, triển khai thực hiện chương trình trong 5 năm qua, nhiều bài học kinh nghiệm quý đã được rút ra, như: Xây dựng nông thôn thực chất là thực hiện các nội dung cụ thể để công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Do đó, phải gắn xây dựng NTM với tái cơ cấu nông nghiệp

và thực hiện các kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của địa phương

Phải thực sự phát huy vai trò chủ thể của người dân Công tác tuyên truyền, vận động quần chúng phải là giải pháp quan trọng hàng đầu Làm cho dân hiểu, dân tin, dân hưởng ứng bằng sự tham gia bàn bạc, hiến kế, đóng góp công, của và chủ động thực hiện các nhiệm vụ của mình là yếu tố quyết định sự thành công trong xây dựng nông thôn mới

Phải có sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên sâu sát, quyết liệt của các cấp ủy, chính quyền, sự tham gia tích cực và phối hợp chặt chẽ của các ban, ngành, đoàn thể

Trang 19

Có cách làm phù hợp với điều kiện của từng địa phương thông qua lựa chọn nội dung, nhiệm vụ ưu tiên, vận dụng sáng tạo cơ chế chính sách Có phương thức huy động các nguồn lực phù hợp Phải có hệ thống chỉ đạo, đồng

bộ, hiệu quả; có bộ máy giúp việc đủ năng lực, chuyên nghiệp, sát thực tế sẽ là yếu tố quan trọng đảm bảo cho công tác chỉ đạo có hiệu quả

Lồng ghép sử dụng có hiệu quả sự hỗ trợ ngân sách của Nhà nước và các nguồn lực đa dạng; việc huy động, đóng góp của người dân phải được thực hiện trên cơ sở thực sự tự nguyện, bàn bạc dân chủ, không gượng ép quá sức dân [2]

- Tăng cường huy động nguồn lực trong xây dựng NTM: Thực hiện Nghị

quyết 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020 Báo cáo tổng kết Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới trong 3 năm (2011- 2013) đã huy động được hơn 485.000 tỷ đồng Trong đó, NSNN chiếm 33,4%, vốn tín dụng 47,7%, vốn huy động từ các DN 6% và dân đóng góp chiếm 12,9% Bên cạnh những ưu điểm trong quá trình triển khai chương trình, một số hạn chế cũng đã bộc lộ, bao gồm:

Quy mô huy động nguồn lực giữa các năm không ổn định, cơ cấu các nguồn lực huy động chưa đạt mục tiêu đề ra:

+ Quy mô huy động giữa các năm không ổn định: Năm 2012, huy động tăng 40% so với năm 2011 nhưng sang năm 2013 quy mô huy động lại giảm 17,6% so với năm 2012

+ Xét về cơ cấu nguồn lực, nguồn huy động từ NSNN và từ DN đạt thấp

so với mục tiêu đề ra Hai nguồn vốn còn lại là nguồn vốn tín dụng và huy động

từ dân cư có tỷ lệ huy động đạt cao hơn so với mục tiêu đề ra Nguồn vốn tín dụng chiếm tỷ lệ cao nhất (47,7%), cao hơn so với mục tiêu (30%)

Khi xem xét cơ cấu của từng nguồn vốn theo năm cho thấy, nguồn NSNN trong 3 năm 2011-2013 cơ bản ổn định trong khi vốn lồng ghép và vốn huy động từ DN, đóng góp của cộng đồng dân cư vào Chương trình có xu hướng

Trang 20

giảm Riêng chỉ vốn tín dụng là có xu hướng tăng rõ rệt trong cơ cấu nguồn vốn huy động cho Chương trình

Nguồn ngân sách trung ương bố trí cho Chương trình trong 3 năm qua còn chưa đảm bảo theo cam kết Nguồn ngân sách trung ương mới đạt khoảng 30%

so với kế hoạch phân bổ được Quốc hội thông qua cho cả giai đoạn 2011-2015), nguồn vốn hỗ trợ chuyển về còn chậm đã ảnh hưởng tới kế hoạch và tiến độ triển khai thực hiện

Cơ chế lồng ghép các nguồn lực từ các chương trình, dự án chưa rõ ràng

và chưa quan tâm tới đặc thù từng địa phương Thực tế các địa phương mới chỉ tiến hành ghép vốn đối với các công việc, mục tiêu có cùng nội dung Tuy nhiên, điều này lại gây khó trong tổng hợp kết quả đạt được của từng dự án, chương trình từ việc ghép các nguồn vốn của các chương trình, dự án trên địa bàn Ngoài ra, thực tế mức độ lồng ghép vốn giữa các địa phương cũng khác nhau như đồng bằng sông Hồng tỷ lệ vốn lồng ghép trong tổng vốn huy động được 3 năm qua đạt 12,86% nhưng ở vùng Đông Nam Bộ thì con số này chỉ là 1,82%

Nguyên nhân của những hạn chế:

+ Chương trình được triển khai thực hiện trong bối cảnh kinh tế thế giới

có nhiều biến động phức tạp, kinh tế trong nước gặp nhiều khó khăn do tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu và những yếu kém nội tại chưa được giải quyết, dẫn đến khả năng huy động vốn hạn chế

+ Năng lực tham gia thị trường tín dụng nông thôn của nông dân còn hạn chế do trình độ và khả năng tiếp cận nguồn vốn Các tổ chức tín dụng chưa quan tâm, chú trọng đến phát triển hoạt động tín dụng ở thị trường nông thôn

+ Việc cải thiện môi trường đầu tư ở khu vực nông thôn còn hạn chế Hệ thống kết cấu hạ tầng mặc dù đã được quan tâm nhưng nhiều nơi còn yếu kém, trình độ lao động khu vực nông thôn chưa cao nên việc thu hút vốn đầu tư cũng như sự tham gia của DN vào xây dựng nông thôn mới còn hạn chế

+ Sự phối hợp của các cấp, các ngành còn thiếu kịp thời, chặt chẽ nên ảnh hưởng đến định hướng đầu tư và huy động vốn (TS Vũ Như Thăng, 2015) [22]

Trang 21

1.2.2.2 Kết quả xây dựng nông thôn mới ở một số tỉnh TDMN phía Bắc giai đoạn 2011 - 2015

Ở Lai Châu: Qua 5 năm triển khai thực hiện, đến nay tỉnh ta đã triển khai

xây dựng nông thôn mới tại 96 xã, với sự nỗ lực quyết tâm của các cấp, các ngành, các tổ chức đoàn thể chính trị và Nhân dân các dân tộc trên địa bàn tỉnh, Chương trình mục tiêu Quốc gia XDNTM đạt được nhiều kết quả tích cực Tính đến ngày 30/6/2015, toàn tỉnh có 91/93 xã có đường ô tô đến trung tâm xã, liên

xã, có 22/96 xã đạt tiêu chí giao thông; 38/93 xã có hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu sản xuất và dân sinh Bình quân tiêu chí chung toàn tỉnh đến hết năm 2015 đạt 11 tiêu chí/xã, tăng 8,12 tiêu chí so với năm 2011 Tính hết năm

2015, toàn tỉnh có 15 xã đạt 19 tiêu chí; 5 xã đạt 15-18 tiêu chí; 33 xã đạt 10-14 tiêu chí; 43 xã đạt 5-9 tiêu chí

Tuy nhiên, chương trình còn những hạn chế, yếu kém như: Việc triển khai thực hiện các nội dung trọng tâm về XDNTM ở nhiều xã còn hạn chế, chưa đảm bảo đủ nguồn lực để thực hiện các nội dung theo kế hoạch, chưa có nhiều giải pháp hay, sáng tạo trong tổ chức thực hiện; việc phát triển sản xuất nâng cao thu nhập cho người dân ở nhiều địa phương chưa được quan tâm đúng mức; việc thực hiện lồng ghép các chương trình, dự án trong XDNTM chưa được đẩy mạnh…[2]

Ở Lào Cai: Sau 5 năm triển khai thực hiện, Chương trình đã đạt được

những kết quả sau:

Về tuyên truyển vận động, các Sở, ban, ngành đoàn thể và các đơn vị đã ban hành 3.099 văn bản các loại chỉ đạo nông thôn mới (các huyện, thành phố ban hành 2.958 văn bản các loại về công tác tuyên truyền) ban hành 3.800 cuốn gương người tốt việc tốt trong xây dựng NTM 5.000 cuốn Sổ tay hướng dẫn xây dựng nông thôn mới; 1.000 cuốn tài liệu hỏi đáp xây dựng nông thôn mới; Ban Tuyên vận đã thực hiện 8.700 hội nghị tuyên vận cơ sở, trên 400 cuộc khảo sát, kiểm tra, tổ chức 92 lớp tập huấn cho trên 6.000 lượt cán bộ tuyên vận, tổ tuyên vận, chỉ đạo 854 hội nghị tuyên vận các cấp, kiểm tra công tác tuyên vận Tổ chức được 5.438 hội nghị tuyên truyền, truyền thông về công tác xây dựng nông

Trang 22

thôn mới; 1.200 buổi diễn văn nghệ, 1.000 giải thể thao thu hút đông đảo nhân dân tham gia Tổ chức được 3.060 buổi tuyên truyền bằng hình thức biểu diễn văn hóa, văn nghệ; in sao phát cho cơ sở 3.284 đĩa CD có nội dung tuyên truyền

về Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM Tổ chức 2 cuô ̣c thi về sáng

tác tranh tuyên truyền NTM (thu hút 31.934 bài dự thi và 1.433 tác phẩm dự thi)

Tổ chức trên 40 lễ hội văn hóa dân gian ở các địa phương lồng ghép nội dung tuyên truyền xây dựng NTM Cấp phát 102.882 tờ rơi, khẩu hiê ̣u, áp phích tuyên truyền về xây dựng NTM của các cơ quan, đơn vị cấp phát cho nhân dân trên đi ̣a

bàn toàn tỉnh Ngoài ra, 9 huyện, thành phố đã treo 14.078 băng zôn, khẩu hiê ̣u,

dựng 3.141 pa nô và cụm pa nô (lớn và nhỏ), in và phát hành 92.733 tờ rơi, tờ gấp ; Xây dựng đươ ̣c cổng chào kiên cố, bán kiên cố tại các xã, thôn, bản để tuyên truyền trực quan về xây dựng NTM Các địa phương còn có các hình thức tuyên truyền đa da ̣ng như: Chiếu bóng lưu động, sáng tác tiểu phẩm, làm phim phóng sự, tuyên truyền miệng, tuyên truyền bằng xe lưu động

Về huy động và sử dụng nguồn lực đầu tư thực hiện Chương trình: Tổng nguồn vốn đã bố trí thực hiện Chương trình MTQG xây dựng NTM trên địa bàn tỉnh Lào Cai giai đoạn 2011-2015 là 9.860,258 tỷ đồng, vượt 11,36% so Đề án Trong đó: Vốn trực tiếp cho Chương trình: 1.956,397 tỷ đồng (19,84% tổng nguồn) Vốn lồng ghép từ các chương trình, dự án khác: 6.394,986 tỷ đồng (64,86%) Vốn Tín dụng 220 tỷ đồng; Doanh nghiệp 461,739 tỷ đồng Dân góp 827,136 tỷ đồng, bao gồm (công lao động, hiến đất, tiền mặt và các hiện vật xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn; giá trị của các tiêu chí do nhân dân làm như nhà

ở, chỉnh trang nhà cửa, vệ sinh môi trường, chuồng trại chăn nuôi )

Về tiêu chí xây dựng nông thôn mới: Số xã đạt chuẩn nông thôn mới 20/143 (Xã Mường Khương lên Thị trấn) đạt 13,9%; Thành phố Lào Cai hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới (5/5 xã đã hoàn thành); Bình quân số tiêu chí đạt chuẩn/xã: 9,63 tiêu chí, tăng 6,33 so với năm 2010; Bình quân thu nhập đầu người khu vực nông thôn đạt 13,11 triệu đồng, tăng 5,67 triệu đồng/người/năm so với năm 2010 (2010 là 7,44 triệu đồng) Tỷ lệ hộ nghèo khu

Trang 23

vực nông thôn năm 2014 là 22,4%, giảm 31,07% so với năm 2010 (Số liệu Niên giám thống kê tỉnh Lào Cai ban hành tháng 7/2015) Hết năm 2015, toàn tỉnh có 31/144 xã đạt tiêu chí hộ nghèo, tăng 14 xã so với năm 2010 [4]

1.2.2.3 Tình hình xây dựng NTM ở tỉnh Điện Biên giai đoạn 2011 - 2015

Qua 05 năm (2011-2015) thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, mặc dù điều kiện kinh tế - xã hội của tỉnh còn gặp nhiều khó khăn, nguồn lực đầu tư cho Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới còn hạn chế Song, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, sự hỗ trợ của các Bộ, ngành Trung ương, đặc biệt sự quyết tâm của cả hệ thống chính trị cùng toàn thể nhân dân các dân tộc trong tỉnh; Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới tỉnh Điện Biên đã đạt được một số kết quả bước đầu như sau:

* Công tác lập quy hoạch, đề án xây dựng NTM:

- Công tác lập quy hoạch: tính đến nay đã có 116/116 xã hoành thành phê duyệt quy hoạch chung, đạt 100% so với kế hoạch Tuy nhiên, trong quá trình triển khai công bố quy hoạch còn chậm so với tiến độ, một số quy hoạch chất lượng chưa đáp ứng được theo yêu cầu

- Lập đề án xây dựng NTM: đến nay 100% số xã hoàn thành việc xây dựng đề án Công tác lập đề án xây dựng NTM cấp xã chưa đảm bảo về thời gian, tiến độ theo kế hoạch do năng lực cán bộ xã, cán bộ huyện một số nơi còn hạn chế, các xã vùng cao địa hình phức tạp, giao thông đin lại khó khăn, nhận thức người dân còn hạn chế nên việc khảo sát đánh giá thực trạng và lấy ý kiến tham gia của người dân còn gặp nhiều khó khăn

* Phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập cho người dân:

Thực hiện các Chương trình, Dự án phát triển sản xuất và xóa đói giảm nghèo Nhiều tiến bộ kỹ thuật được thử nghiệm, mở rộng trong sản xuất bằng nhiều hình thức như tập huấn cho nông dân gắn liền với xây dựng các mô hình ở tất cả các lĩnh vực snr xuất nông nghiệp, bằng nhiều nguồn vốn khác nhau Nông dân từ bước tiếp thu các tiến bộ khoa học áp dụng vào sản xuất, tạo ra những chuyển biến trong sản xuất nông lâm nghiệp, nâng cao thu nhập, phát triển sản

Trang 24

xuất của hộ gia đình

- Về thu nhập và tỷ lệ hộ nghèo: đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện, thu nhập bình quân đầu người liên tục tăng qua các năm; Tỷ lệ hộ nghèo trong toàn tỉnh giảm từ 50,01% năm 2010 xuống còn 28,01% năm 2015 (giảm 22,0%) Thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn năm 2015 đạt 10,1 triệu đồng/người/năm tăng 4,6 triệu đồng so với năm 2010, có 10/116 xã đạt tiêu chí số 10 về thu nhập

- Về tỷ lệ lao động có việc làm: tổng số lao động khu vực nông thôn được

hỗ trợ đào tạo nghề theo chính sách của Đề án 1956 là 30.928 người, tỷ lệ lao động qua đào tạo khu vực nông thôn đạt 26,4% Tỷ lệ lao động nông thôn có việc làm sau khi học nghề đạt 71,72%, chủ tyếu thông qua hình thưc tự tạo việc làm Năm 2015, toàn tỉnh có 64/116 xã đạt tiêu chí 12 về tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên

- Về hình thức tổ chức sản xuất: đến nay, toàn tỉnh có 97 HTX nông nghiệp tăng 34 HTX so với năm 2011, trong đó 20% số HTX nông lâm nghiệp tổng hợp, HTX thủy sản hoạt động khá hiệu quả Các HTX hoạt động tạo sự liên kết hợp tác sản xuất trong nông nghiệp, một số HTX-THT hoạt động có hiệu quả được các hội viên tín nhiệm Các HTX nông lâm nghiệp, thủy sản đang có xu hướng chuyển dần sang hoạt động dịch vụ tổng hợp để giải quyết những khó khăn trước mắt trong sản xuất nông nghiệp Có 20/116 xã đạt tiêu chí số 13 chiếm 15,5%

* Về xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu:

Xây dựng cơ sở hạ tầng là khâu đột phá, thúc đẩy tiến độ xây dựng NTM Trong điều kiện nguồn lực đầu tư còn hạn chế, UBND tỉnh đã chỉ đạo các cấp, các ngành thực hiện việc rà soát, lựa chọn những danh mục công trình cấp bách, thiết thực để đầu tư Sau 5 năm triển khai, cơ sở hạ tầng được xây dựng khang trang, diện mạo nông thôn đã có nhiều thay đổi

- Giao thông: đến nay có 96/116 xã có đường ô tô đến trung tâm xã, đảm bảo cho nhân dân đi lại được các mùa trong năm Tổng chiều dài các tuyến

Trang 25

đường xã, thôn, bản được xây dựng trong giai đoạn 2011-2015 là 288,13 km Toàn tỉnh có 22,5% đường trục xã đạt chuẩn; 10,1% đường trục thôn, bản được nhựa hóa hoặc bê tông hóa; 6,75% đường ngõ xóm sạch và không bị lầy lội vào mùa mưa; 8,3% đường trục chính nội đồng được cứng hóa, xe cơ giới đi lại thuận tiện; có 01/116 xã đạt tiêu chí số 2 (xã Thanh Chăn huyện Điện Biên)

- Thủy lợi: số công trình do xã quản lý được cải tạo, nâng cấp, xây mới là

112 công trình; 86,96 km kênh mương nội đồng đã được cứng hóa Số xã đạt tiêu chí số 3 về thủy lợi là 33/116 xã chiếm 13% tổng số xã

- Điện: việc phát triển lưới điện trên địa bàn tỉnh được thực hiện bằng nhiều nguồn vốn (vốn vay ADB, WB, Chương trình 135, Ngân sách địa phương ) Đến nay, 10/10 huyện, thị, thành phố đã có điện; 114/116 xã có điện đạt tỷ lệ 98,27% Số xã đạt tiêu chí về điện là 34/116 xã

- Trường học: hệ thống trường học phát triển khá toàn diện từ mầm non đến phổ thông và chuyên nghiệp Toàn tỉnh có 491 trường học các cấp, trong đó 246/491 trường đạt chuẩn quốc gia Số xã đạt tiêu chí số 5 là 32/116 xã

- Cơ sở vật chất văn hóa: đến nay, có 27/116 xã có nhà văn hóa Tuy nhiên,trang thiết bị thiếu và chưa đồng bộ; đội ngũ cán bộ kiêm nghiệm chưa qua đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ, kinh phí hoạt động thấp nên chưa phát huy được hiệu quả Năm 2015, có 01/116 xã đạt tiêu chí số 6 (xã Thanh Chăn)

- Chợ: đến năm 2015, tổng số chợ trong quy hoạch phát triển chợ là 20 chợ (xây mới 04 chợ) Số xã đạt tiêu chí số 7 là 12/116 xã

- Bưu điện: toàn tỉnh có 116 xã có điểm phục vụ bưu chính, viễn thông; 93/116 xã có internet đến thôn, bản; 93/116 xã đạt tiêu chí số 8

- Nhà ở dân cư: chất lượng nhà ở của tỉnh Điện Biên có xu hướng tăng lên, đến nay nhà ở kiên cố và bán kiên cố khu vực nông thôn đạt 76,97% Số xã đạt tiêu chí số 9 là 5/116 xã

* Về phát triển giáo dục, y tế và bảo vệ môi trường:

- Về giáo dục: chất lượng giáo dục từ mầm non đến phổ thông được nâng

lên mọi mặt Năm học 2014 - 2015, tỷ lệ học sinh các cấp lên lớp đạt 99%, tỉnh

Trang 26

hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức độ 2 Số xã đạt tiêu chí

14 là 17/116 xã

- Y tế: tỷ lệ bác sỹ/vạn dân đạt 10,4%; dược sỹ đại học/vạn dân đạt 0,88%;

tỷ lệ trạm y tế xã có bác sỹ hoạt động 48,5%; tỷ lệ thôn, bản các nhân viên y tế đạt 91,6%; tỷ lệ bao phủ BHYT khu vực nông thôn đạt 90,6%; Số xã đạt tiêu chí 15 là 26/116 xã

- Văn hóa: toàn tỉnh có 857/1776 thôn, bản, tổ dân phố được công nhận thôn, bản, tổ dân phố văn hóa Số xã đạt tiêu chí số 16 là 15/116 xã

- Môi trường: tỷ lệ người dân khu vực nông thôn được dùng nước sinh hoạt hợp vệ sinh năm 2015 đạt 77,9% Số xã đạt tiêu chí 17 là 01/116 xã (xã Thanh Chăn huyện Điện Biên)

* Về xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh và giữ gìn an ninh, trật tự xã hội:

- Hệ thống tổ chức chính trị, xã hội: có 40,36% công chức cấp xã đạt chuẩn Số xã đạt tiêu chí 18 là 23/116 xã

- An ninh trật tự xã hội: năm 2015, số xã đạt tiêu chí số 19 đạt 109/116 xã tăng 42 xã so với năm 2012

* Kết quả huy động các nguồn lực thực hiện Chương trình: Giai đoạn

2011-2015, tổng nguồn vốn thực hiện Chương trình là 7.697.468 triệu đồng, cụ

thể phân theo các nguồn như sau:

- Vốn đầu tư phát triển, vốn sự nghiệp, TPCP (đầu tư trực tiếp cho Chương trình): 292.644 triệu đồng;

- Ngân sách địa phương (đầu tư trực tiếp cho Chương trình): 6.553 triệu đồng;

- Vốn lồng ghép các Chương trình, dự án: 6.542.904 triệu đồng;

- Vốn tín dụng: 811.304 triệu đồng;

- Vốn đầu tư của doanh nghiệp: 790 triệu đồng;

- Vốn góp của nhân dân: 43.727 triệu đồng;

* Kết quả thực hiện bộ tiêu chí Quốc gia về NTM:

Đến nay, toàn tỉnh chưa có huyện nào đạt nông thôn mới, 01/116 xã đạt

Trang 27

chuẩn NTM (xã Thanh Chăn huyện Điện Biên) Tuy nhiên, với nguồn lực đầu tư còn hạn chế như vậy nhưng Chương trình xây dựng nông thôn mới của địa phương đã đạt được những kết quả nhất định so với năm 2011 cụ thể như sau:

- Số xã đạt 19 tiêu chí: 01/116 xã chiếm 0,86%;

- Số xã đạt từ 15-18 tiêu chí: 01/116 xã chiếm 0,86%;

- Số xã đạt từ 10-14 tiêu chí: 8/116 xã chiếm 6,89%;

- Số xã đạt từ 5-9 tiêu chí: 38/116 xã chiếm 32,7%;

- Số xã đạt chuẩn dưới 05 tiêu chí: 68/116 xã chiếm 58,62%

- Bình quân số tiêu chí đạt chuẩn/xã: 5,5 tiêu chí, tăng 4,1 tiêu chí so với năm 2011 [5]

1.3 Các kết luận qua phân tích tổng quan

Qua nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước về tiến trình xây dựng mô hình phát triển nông thôn mới và nghiên cứu tình hình phát triển nông thôn của nước ta trong những năm qua cho thấy xây dựng mô hình nông thôn mới là sự nghiệp mang tính chiến lược, việc xây dựng mô hình nông thôn ở mỗi vùng có những kết quả khác nhau, nhưng có thể khái quát thành những kinh nghiệm trong quá trình xây dựng mô hình nông thôn mới cho miền núi như:

- Cần phát huy vai trò chủ thể của nhân dân Phát huy vai trò của cả hệ thống chính trị và của toàn xã hội để xây dựng NTM, xem đây là nhiệm vụ trọng tâm, để không một ai đứng ngoài cuộc, phải thực hiện tốt quy chế dân chủ cơ sở

để “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và hưởng thụ”

- Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, vận động xây dựng NTM một cách thường xuyên, sâu rộng, thiết thực với nhiều hình thức để cán bộ và nhân dân, mọi người, mọi nhà hiểu được ý nghĩa, quyền lợi và trách nhiệm của mình, từ đó chung sức, chung lòng, bắt tay xây dựng NTM

- Phải tranh thủ và huy động được nhiều nguồn lực đầu tư, lồng ghép các các chương trình, dự án, tạo ra nguồn lực tổng hợp đầu tư xây dựng nông thôn mới một cách đồng bộ, hiệu quả Nguồn vốn đầu tư xây dựng NTM là rất lớn,

Trang 28

do đó phải đa dạng hoá nguồn lực đầu tư Phát huy nội lực địa phương là chính, tận dụng tối đa nguồn lực và lợi thế tại chỗ

- Việc xây dựng NTM phải có cách làm chủ động, sáng tạo, phù hợp với điều kiện và đặc điểm từng địa phương, không thể máy móc rập khuôn Việc xây dựng đề án và chỉ đạo thực hiện căn cứ vào đặc điểm cụ thể, lợi thế cũng như nhu cầu thiết thực của địa phương và người dân tại chỗ để quyết định nội dung nào làm trước

- Làm tốt công tác tuyên truyền, vận động giáo dục, thuyết phục để đội

ngũ cán bộ đảng viên và nhân dân nhận thức rõ và thấy được tầm quan trọng để xây dựng nông thôn mới, đây là một chương trình lớn mang tính tổng hợp về kinh kế, văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng, do đó đòi hỏi phải có sự vào cuộc đồng bộ, quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị Từ đó hiểu rõ nội dung, cách làm, nghĩa vụ và trách nghiệm của từng tổ chức và cá nhân trong xây dựng NTM Để xóa bỏ tư tưởng trông chờ Nhà nước, cần có sự phân công đăng ký nhiệm vụ đối với từng tổ chức, từng nghành, tăng cường kiểm tra đôn đốc, đánh giá phân loại vào thi đua khen thưởng

- Xây dựng nội quy, quy chế hoạt động, phân công rõ trách nhiệm cho từng cấp từng bộ phận, từng thành viên, quản lý, cụ thể, rõ ràng, không để tình trạng né tránh, tập trung lãnh đạo với phương châm “dễ làm trước khó làm sau” không nóng vội, càng không để mất cơ hội

- Thực hiện chủ trương xã hội hóa, huy động các nguồn lực trong cộng

đồng dân cư, con em thành đạt xa quê và các doanh nghiệm có tiềm lực và tâm huyết với nông thôn, khai thác các nguồn thu tại địa phương “Lấy sức dân để lo cho dân” tạo nguồn vốn đầu tư cơ sở hạ tầng và các công trình phúc lợi công cộng thuộc nhóm không có hỗ trợ của nhà nước

- Phát huy tốt quy chế dân chủ công khai, minh bạch, thực hiện tốt công

tác kiểm tra giám sát, kịp thời chấn chỉnh, điều chỉnh, uốn nắn những lệch lạc tạo niềm tin cho quần chúng nhân dân

Trang 29

Tồn tại và bất cập trong xây dựng nông thôn mới:

- Nguồn nhân lực ở cả cấp trung ương và địa phương không đáp ứng được nhu cầu công việc Cán bộ tham gia chương trình chưa nhận thức rõ việc áp dụng cách tiếp cận khuyến khích sự tham gia của cộng đồng

- Việc xây dựng mô hình phát triển nông thôn mới mang xu hướng như các

dự án đầu tư Các nguồn lực trong cộng đồng không được huy động triệt để phục

vụ cho yêu cầu phát triển Trong khi đó, các mô hình đều đòi hỏi có sự đầu tư lớn từ các nguồn bên ngoài cộng đồng, tâm lý ỷ lại, trông chờ hoàn toàn vào sự đầu tư hỗ trợ của Nhà nước là phổ biến

- Đối tượng tác động của Chương trình là người dân nông thôn không được xác định rõ ngay từ đầu Do vậy, người dân nông thôn không được tham gia tích cực trong các hoạt động của Chương trình Tổ chức thực hiện không lưu tâm đến vai trò tổ chức cộng đồng cấp thôn xóm nên chưa thực sự tạo được động lực mạnh mẽ để huy động người dân tham gia tích cực vào các hoạt động phát triển tại chính cộng đồng nơi họ sinh sống

- Tuy đội ngũ cán bộ chủ chốt tại các xã điểm đã được tập huấn, đào tạo, nhưng do nhiều nguyên nhân, nhận thức của cán bộ lãnh đạo các cấp và người dân tại các xã điểm về phát triển nông thôn mới còn nhiều bất cập Do vậy, khi thực hiện xây dựng mô hình tại địa phương, họ vẫn còn đứng ngoài cuộc, chưa thực sự cho rằng họ đóng vai trò chính và quan trọng, quyết định sự thành bại của mô hình phát triển nông thôn mới

- Ngoài ra, đội ngũ cán bộ trong hệ thống hỗ trợ công tác phát triển nông thôn chưa thực sự tin rằng cán bộ và người dân tại các xã điểm tham gia xây dựng mô hình có thể tự làm được nên thường nghĩ và làm thay phần việc đáng

ra địa phương phải làm Đội ngũ cán bộ hỗ trợ “quên” vai trò chính của mình là (1) phát hiện và khơi dậy khả năng tiềm tàng, tính tự tin của người dân để huy động sự tham gia tích cực của họ và (2) tư vấn, hỗ trợ để người dân tự lập kế hoạch xây dựng mô hình nông thôn mới cho chính họ và cộng đồng của họ

Trang 30

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Chương trình xây dựng nông thôn mới ở huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên giai đoạn 2011 - 2015

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu

- Thời gian: Số liệu thu thập được từ các tài liệu đã công bố trong khoảng thời gian từ năm 2013 đến năm 2015; số liệu khảo sát thực trạng được điều tra năm 2015, các số liệu dự kiến tính đến năm 2020

- Không gian: Đề tài tiến hành nghiên cứu ở huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên

2.2 Nội dung nghiên cứu

Nội dung 1: Đánh giá thực trạng công tác xây dựng nông thôn mới tại

huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên

Nội dung 2: Phân tích những thuận lợi khó khăn, cơ hội và thách thức

trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở huyện Điện Biên

Nội dung 3: Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy quá trình

xây dựng nông thôn mới tại huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Chọn điểm điều tra nghiên cứu

Điện Biên là huyện triển khai thực hiện tốt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM của tỉnh, đến năm 2015 huyện đã có 01 xã (Thanh Chăn) đạt

là xã NTM (đạt 19/19 tiêu chí) Huyện phấn đấu hết năm 2016 có thêm 02 xã đạt

xã NTM (xã Thanh Xương, Noong Hẹt) Đề tài đã lựa chọn 03 xã của huyện Điện Biên để điều tra, gồm:

- Xã Thanh Chăn là một xã thuộc vùng Lòng chảo cánh Đồng Mường Thanh huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên, cách trung tâm huyện khoảng 10 km

Trang 31

Xã có 25 thôn, có 1.244 hộ, 5.106 khẩu, tổng diện tích đất tự nhiên 2.220,88 ha Thanh Chăn là xã thí điểm của Trung ương, của tỉnh trong phong trào xây dựng NTM, năm 2015 đạt xã NTM với tiêu chí đạt chuẩn 19/19 tiêu chí [7]

- Xã Thanh Xương, 1 trong 5 xã điểm về xây dựng NTM và hiện cũng là

1 trong 2 xã được chọn phấn đấu hoàn thành chuẩn NTM trong năm 2016 của huyện Điện Biên (là một xã thuộc vùng Lòng chảo cánh Đồng Mường Thanh), cách trung tâm huyện 03 km với tổng diện tích đất tự nhiên 1.899,59 ha Xã có

26 thôn (có 16 thôn đặc biệt khó khăn), có 2.072 hộ, 8.237 khẩu, có 03 dân tộc, địa bàn dân cư tập trung, giao thông đi lại tương đối thuận lợi, kinh tế phát triển khá Năm 2015 xã mới đạt được 14/19 tiêu chí về xây dựng NTM [8]

- Xã Mường Phăng nằm ở phía Bắc cách huyện Điện Biên khoảng 30 km, đây là xã thuộc vùng ngoài của huyện Xã có 26 thôn, có 1.026 hộ, 4.843 khẩu, tổng diện tích đất tự nhiên 3.474,44 ha Mường Phăng là xã nằm trong tốp gần cuối của chương trình xây dựng NTM Đến 12/2015 xã mới đạt được 8/19 tiêu chí đó là tiêu chí: quy hoạch; điện; trường học; bưu điện; cơ cấu lao động; giáo dục; hình thức tổ chức sản xuất; an ninh, trật xã hội [9]

Chọn hộ nghiên cứu: đề tài đã điều tra, phỏng vấn 270 hộ của 03 xã đại

diện cho 03 vùng kinh tế khác nhau của huyện Điện Biên gồm các xã: Thanh Chăn (90 hộ), Thanh Xương (90 hộ) và Mường Phăng (90 hộ) Hộ nghiên cứu phải nằm trong các xã được chọn, đồng thời mang tính đại diện cho các hộ trong vùng Hộ điều tra được chọn dựa theo danh sách và các hộ thuộc các nhóm là hộ nghèo, cận nghèo, trung bình và khá trong thôn, bản

2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu

- Thu thập số liệu thứ cấp: nguồn tài liệu từ các báo cáo, các bảng, biểu

thu thập từ văn phòng điều phối xây dựng nông thôn mới của tỉnh, phòng nông nghiệp, phòng thống kê huyện Điện Biên, Cục thống kê tỉnh, huyện, UBND huyện huyện Điện Biên và Ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới của huyện Điện Biên, UBND các xã: Thanh Chăn, Thanh Xương, Mường Phăng Ngoài ra còn tham khảo các đề tài, các báo cáo khoa học, các tạp chí chuyên ngành nông

Trang 32

nghiệp và phát triển nông thôn trong; qua các cổng thông tin điện tử, mạng Internet, được sử dụng làm nguồn tài liệu thu thập cho quá trình nghiên cứu

- Thu thập số liệu sơ cấp: Phỏng vấn hộ nông dân bằng các câu hỏi đã

được chuẩn bị sẵn Nội dung phỏng vấn hộ bao gồm:

+ Các thông tin chung về hộ

+ Sự tham gia, mức độ tham gia của hộ trong xây dựng mô hình NTM + Đánh giá của các hộ về sự tham gia

+ Các ý kiến, nguyện vọng đóng góp để xây dựng NTM ở xã

2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu

- Phương pháp thống kê mô tả: sử dụng phương pháp này để hệ thống hoá

và phân tích các số liệu thu thập được từ điều tra qua đó đánh giá được xây dựng NTM tại huyện Điện Biên và các xã nghiên cứu

- Phương pháp thống kê so sánh: đề tài sử dụng phương pháp thống kê so sánh để tiến hành phân tích thực trạng xây dựng nông thôn mới của các xã nghiên cứu, sự đóng góp của người dân và các doanh nghiệp, HTX vào chương trình xây dựng NTM

- Phương pháp chuyên gia: phương pháp chuyên gia thông qua trao đổi với các cán bộ có kinh nghiệm về lĩnh vực xây dựng NTM của huyện, xã, các chủ hộ tham gia chương trình từ đó góp phần hoàn thiện nội dung nghiên cứu

- Phương pháp phân tích SWOT: sử dụng phương pháp SWOT để xác định những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức trong việc xây dựng nông thôn mới tại khu vực nghiên cứu

- Phương pháp tổng hợp, phân tích thông tin, viết báo cáo: tổng hợp các thông tin điều tra phỏng vấn tại 3 xã; xử lý và phân tích thông tin, số liệu, bằng phần mềm Excel

2.4 Các chỉ tiêu nghiên cứu

2.4.1 Chỉ tiêu đánh giá sự phát triển kinh tế

- Mức độ tăng trưởng kinh tế của huyện, xã

- Cơ cấu kinh tế huyện, xã: Nông lâm nghiệp; Công nghiệp - Xây dựng;

Trang 33

Thương mại - Dịch vụ

- Một số chỉ tiêu bình quân: (Tổng GTSX; Lương thực bình quân/người; Thu nhập bình quân đầu người )

- Mức độ thực hiện kế hoạch, tham gia đóng góp nguồn kinh phí

- Tổng hợp nguồn kinh phí nhân dân đóng góp cho các hoạt động

2.4.2 Chỉ tiêu đánh giá thực trạng cơ sở hạ tầng

- Số lượng các công trình cơ sở hạ tầng được xây dựng tại xã nhằm phát triển kinh tế xã

- Tỷ lệ đường giao thông nông thôn được cứng hoá

- Trụ sở và nhà văn hoá xã được nâng cấp, xây mới

- Tỷ lệ phòng học phổ thông được kiên cố hoá

- Số chợ nông thôn được nâng cấp kiên cố hoá

- Tỷ lệ xã có điểm bưu điện văn hoá xã

- Số thôn có nhà văn hoá

2.4.3 Chỉ tiêu đánh giá về mặt xã hội

- Tỷ lệ tăng, giảm hộ nghèo

- Tỷ lệ đơn vị đạt làng, khu dân cư văn hoá

- Tỷ lệ hộ được dùng nước, sử dụng điện và một số dịch vụ khác

- Mức độ cải thiện về đời sống và điều kiện sinh hoạt: thu nhập bình quân đầu người

- Số lao động qua đào tạo

- Số trường học, trạm y tế đạt chuẩn quốc gia

2.4.4 Chỉ tiêu đánh giá mức độ bảo vệ môi trường

- Tỷ lệ hộ dùng nước sạch

- Số tổ, đội thu gom rác; điểm thu gom rác

- Tỷ lệ đường thôn xóm được bê tông hóa,…

Trang 34

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Thực trạng xây dựng nông thôn mới ở huyện Điện Biên

Chương trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Điện Biên được tổ chức triển khai thực hiện có nhiều thuận lợi và khó khăn Tuy nhiên, với tinh thần đoàn kết, nỗ lực, quyết tâm phấn đấu, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân trong huyện đã đạt được những kết quả quan trọng trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội

Để đánh giá quá trình triển khai, thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Điện Biên, cùng với việc nghiên cứu tập trung các nội dung tại

03 xã Thanh Chăn, Thanh Xương và xã Mường Phăng kết hợp nghiên cứu sự phát triển kinh tế - xã hội chung của huyện để phân tích

3.1.1 Phát triển kinh tế

Trong lĩnh vực phát triển kinh tế, huyện đã tập trung chỉ đạo, đẩy mạnh các giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế, tích cực huy động các nguồn lực để tổ chức, phát triển có hiệu quả các mô hình

Đối với cơ cấu kinh tế chung của huyện, trong những năm qua đã có sự chuyển dịch và tăng nhanh tỷ trọng sản xuất của ngành công nghiệp - xây dựng

và dịch vụ thương mại, giảm dần tỷ trọng của ngành nông nghiệp Năm 2015, cơ cấu kinh tế nông - lâm nghiệp và thủy sản chiếm 50,0% giảm 13,2% so với năm 2013; công nghiệp - xây dựng chiếm 35,0 % tăng 7,60% so với năm 2013; thương mại - dịch vụ chiếm 15,0% tăng 5,60% so với năm 2013 và thu nhập bình quân đầu người đạt 12,5 triệu đồng/năm

Bảng 3.1 Cơ cấu kinh tế của huyện Điện Biên (2013-2015) Chỉ tiêu (%) Năm 2013 Năm 2014 Năm 2015

Trang 35

Nhằm thúc đẩy sản xuất, phát triển kinh tế huyện đã tập trung tổ chức phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng đa canh, thâm canh, với cơ cấu cây trồng phù hợp cho từng vùng Xây dựng các vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa, an toàn, bền vững, tạo nhiều sản phẩm có giá trị kinh tế cao, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong và ngoài tỉnh; khai thác triệt để lợi thế của cánh đồng Mường Thanh với thương hiệu gạo Điện Biên Giá trị sản xuất bình quân 01 ha đất sản xuất nông nghiệp tăng lên khoảng 70-80 triệu đồng/ha/năm, nuôi trông thuỷ sản tăng lên khoảng 350 triệu đồng/ha/năm Phát triển mạnh các loại hình kinh tế trang trại nhỏ tập trung ở các xã Thanh Chăn, Thanh Xương, Thanh Yên, Thanh Luông, Pom Lót, Noong Hẹt Xã Thanh Chăn, Thanh Xương là những địa phương được hưởng lợi từ mô hình này

Lĩnh vực chăn nuôi - thủy sản tiếp tục có bước phát triển đa dạng, nhiều

mô hình chăn nuôi trang trại gắn với phát triển kinh tế vườn, đồi, ứng dựng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới đã xuất hiện Lao động trong nông nghiệp tiếp tục chuyển dần sang các ngành CN - xây dựng và Thương mại - dịch vụ Kinh

tế hộ tiếp tục phát triển và đến nay vẫn là đơn vị sản xuất kinh doanh chủ lực; kinh tế trang trại, loại hình tổ chức sản xuất có hiệu quả hiện nay đang có xu hướng phát triển mạnh Huyện đã hình thành nhiều trang trại, vùng, khu sản xuất tập trung có quy mô về trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản; trong đó tập trung vào một số lĩnh vực: sản xuất lúa chất lượng cao (xã Thanh Chăn, Thanh Yên, Thanh Luông ; sản xuất rau theo quy trình VietGAP (Thanh Hưng, Thanh Xương ); vùng nuôi thuỷ sản tập trung (Mường Phăng, Pá Khoang, Nà Tấu, Noong Luống )

Theo tổng hợp, năm 2015 toàn huyện có 58 HTX (trong đó: 28 HTX nông nghiệp, 25 HTX thương mại dịch vụ, 5 HTX xây dựng; Tổng số vốn đăng

ký 61.095 triệu đồng với trên 1.000 lao động), 152 tổ hợp tác nông, lâm, thủy sản Các HTX dịch vụ nông nghiệp đã ổn định tổ chức, bước đầu hoạt động có hiệu quả, đã tăng cường mở rộng các dịch vụ cung ứng cho các xã viên, tăng doanh thu đảm bảo hiệu quả hoạt động của HTX Các mô hình các trang trại, tổ

Trang 36

hợp tác tại các địa phương hiện đang hoạt động hiệu quả, thu hút tạo việc làm cho nhiều lao động, nâng cao thu nhập cho nông dân, thúc đẩy sản xuất, phát triển kinh tế

Nhiều tiến bộ KHKT, công nghiệp, dịch vụ hỗ trợ được áp dụng vào sản xuất Huyện đã mở nhiều lớp tập huấn, chuyển giao khoa học kỹ thuật cho nông dân về trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, hỗ trợ vốn, giống, cây, con, Trong đó, điển hình thực hiện tốt việc cơ giới hoá trong sản xuất nông nghiệp Với việc đưa máy móc vào đồng ruộng đã góp phần đẩy mạnh cơ giới hóa trong sản xuất, giải phóng sức lao động của người nông dân, đem lại nhiều hiệu quả thiết thực Toàn huyện hiện có trên 1.500 máy làm đất, hàng chục máy gặt đập liên hợp Hàng năm, tỷ lệ cơ giới hoá trong làm đất đạt bình quân từ 70-80% Một số xã điển hình trong đầu tư cơ giới hoá vào sản xuất nông nghiệp là: Thanh Chăn, Thanh Xương, Thanh Yên, Thanh Luông Việc đẩy mạnh cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp đã góp phần quan trọng giúp chuyển đổi cơ cấu cây trồng, nâng cao năng suất, tạo cơ hội để phát triển các

mô hình kinh tế, các vùng chuyên canh trên địa bàn huyện

Để phá thế 'độc canh cây lúa', huyện tìm cách khôi phục, phát huy thế mạnh của các nghề truyền thống Đến nay, huyện đã khôi phục được 01 HTX tiểu thủ công nghiệp (HTX dệt thổ cẩm Lào Na Sang 2 xã Núa ngam) và 01 làng nghề mây tre đan (tại Bản Là Tấu xã Nà Tấu), 02 tổ dệt thổ cẩm (tại Bản Mến xã Thanh Nưa và Bản Pa sa Lào xã Pa Thơm); Nhân dân các xã trên địa bàn mới chỉ làm các nghề tiểu thủ công nghiệp là dệt và đan nát song mặt hàng này mới chỉ để phục vụ tự cung tự cấp cho nhân dân chưa làm thành hàng hoá phục vụ trên thị trường

Với chủ trương lấy công nghiệp tác động vào nông nghiệp, tăng giá trị sản xuất, đẩy nhanh phát triển nông nghiệp, nông thôn Hiện nay, CN - TTCN huyện Điện Biên tập chung vào phát triển công nghiệp chế biến thức ăn, công nghiệp khai thác (than, đá xây dựng, xi măng) và công nghiệp sản xuất điện, nước Hàng năm tạo việc làm cho hơn 1.000 lao động với thu nhập bình quân

Trang 37

đạt 3,5 triệu đồng/người/tháng Giá trị sản xuất CN - TTCN trên địa bàn huyện năm 2015 đạt 1.397 tỷ đồng, tăng 2,3 lần so với năm 2010 Tốc độ tăng trưởng bình quân của CN - TTCN những năm qua đạt mục tiêu Nghị quyết đại hội đảng bộ huyện lần thứ XVIII đề ra CN - TTCN phát triển nhanh, giúp chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Điện Biên theo hướng CN

Lĩnh vực đầu tư xây dựng trong giai đoạn vừa qua tăng nhanh nhờ có sự quản lý, huy động nguồn vốn Huyện đã tăng cường các giải pháp huy động các nguồn vốn để đấu tư phát triển kinh tế xã hội Số vốn xây dựng cơ bản được huy động, đầu tư là 694,1 tỷ đồng, trong đó: vốn đầu tư thuộc NSNN là 539 tỷ đồng, vốn TPCP 104 tỷ đồng, vốn tín dụng đầu tư nhà nước 28,1 tỷ đồng, vốn đầu tư của dân cư và doanh nghiệp tư nhân 11,5 tỷ đồng và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (vốn viện trợ của các tổ chức, cá nhân) 11,5 tỷ đồng Các nguồn vốn đầu

tư của huyện được tập trung nhiều cho phát triển hạ tầng giao thông, giáo dục, y

tế, thủy lợi từng bước xây dựng nông thôn phát triển

Lĩnh vực thương mại - dịch vụ: đã tổ chức tốt việc cung ứng hàng hóa phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng, gắn với tăng cường kiểm tra, kiểm soát thị trường, nâng cao chất lượng các dịch vụ thương mại đáp ứng nhu cầu của các thành phần kinh tế và người dân Cơ sở vật chất, hạ tầng thương mại được đầu

tư xây dựng, phát triển theo đúng quy hoạch Tổng mức bán lẻ hàng hóa và kinh doanh dịch vụ năm 2015 đạt 4.973 tỷ đồng, tăng bình quân 20,4 %/năm; hoạt động dịch vụ xuất, nhập khẩu qua 02 cửa khẩu Quốc tế Tây Trang và cửa khẩu Huổi Puốc diễn ra bình thường, trong 2015 đã làm thủ tục xuất nhập cảnh cho 7.008 lượt phương tiện, 22.156 lượt hành khách, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 30,7 triệu USD (trong đó xuất khẩu đạt 17,6 triệu USD, nhập khẩu đạt 13,1 triệu USD), thu thuế xuất nhập khẩu và thu khác đạt 28,945 tỷ đồng; đóng góp quan trọng vào sự tăng trương và phát triển kinh tế xã hội của huyện

3.1.2 Về xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn

Những năm qua, huyện đã chú trọng quan tâm đầu tư xây dựng, nâng cấp và phát triển các kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn nhằm đáp ứng

Trang 38

ngày càng tốt hơn yêu cầu phát triển nhất là về thuỷ lợi, giao thông, điện, thông tin truyền thông, hạ tầng y tế, giáo dục, nước sinh hoạt, văn hoá thể thao Cụ thể như sau:

- Giao thông: được được coi là khâu đột phá trong xây dựng hạ tầng

nông thôn Để nâng cấp hệ thống giao thông nông thôn phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, trong giai đoạn 2011-2015, cùng với sự đầu tư của Nhà nước theo phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm, huyện đã tích cực huy động sự đóng góp của nhân dân, trích ngân sách, lồng ghép các chương trình

dự án để nhựa hóa, bê-tông hóa cải tạo được 217,3 km đường trục xã, liên xã; 159,06 km đường trục thôn, xóm; 93,789 km đường ngõ, xóm và 17,23

km đường nội đồng 25/25 xã có đường ô tô về đến trung tâm xã được nhựa hóa, bê tông hóa Mặc dù việc xây dựng hạ tầng giao thông được thực hiện rất tích cực, tuy nhiên tỷ lệ cứng hoá đạt được còn thấp, tính chung toàn huyện mới đạt 21,6 %

- Thủy lợi: trong giai đoạn từ năm 2011-2015, toàn huyện đã xây dựng 30

công trình thủy lợi phục vụ sản xuất, kiên cố hóa được 27,34 km kênh mương các loại Tính đến hết năm 2015, toàn huyện có 09 hồ hồ chứa, 95 đập dâng, 01 trạm bơm, 82 phai, kênh tạm Đã kiên cố hóa được 100% kênh cấp I (33,5/33,5 km), 93,2% kênh cấp II (81/83km) và 13,75% kênh cấp III (60,44/439,6 km) Kết quả việc kiên cố hóa kênh mương trong những năm vừa qua đã góp phần giúp thâm canh tăng vụ, tăng độ phì của đất, thu hẹp diện tích hạn hán, mở rộng được diện tích cây vụ đông lên 20-30% tổng diện tích đất canh tác Tuy nhiên,

hệ thống thủy lợi của huyện vẫn còn nhiều tồn tại đó là: tỷ lệ chủ động tưới tiêu còn thấp, chủ động tưới được khoảng 2.000 ha (45% diện tích đất canh tác); tỷ

lệ kiên cố hóa kênh mương nội đồng thấp (13,75%), chủ yếu vẫn là kênh đất, mặc dù hàng năm được tu bổ nhưng vẫn liên tục xuống cấp gây khó khăn cho việc điều tiết nước phục vụ sản xuất nhất là vào mùa mưa

- Hệ thống điện: Hệ thống điện nông thôn được quan tâm cải tạo, củng cố

nâng cấp, đảm bảo đủ điện cung cấp cho sản xuất, dân sinh nông thôn Toàn

Trang 39

huyện có: 500 km tuyến trung thế đường dây 22,35 KV; 498 km tuyến hạ thế 0,4KV; Trạm biến áp 148 trạm (trung bình từ 120 -160KVA/trạm) Đến nay, trên địa bàn toàn huyện 25/25 xã sử dụng điện Quốc gia; 24.231/26.507 hộ được

sử dụng điện, tỷ lệ hộ dân sử dụng điện mua trực tiếp từ ngành điện năm 2015 tỷ

lệ đạt 91,4% hộ gia đình được sử dụng điện

- Hệ thống cấp nước: trong những năm qua hệ thống cấp nước của huyện

đã được tiếp tục đầu tư xây dựng để phục vụ nhu cầu nước sạch cho nhân dân; xây dựng được 125 công trình cấp nước sinh hoạt tập trung với 332 bể chứa nước bằng các nguồn vốn chương trình mục tiêu Quốc gia nước sạch VSMTNT

và chương trình sự nghiệp thủy lợi; Tính đến năm 2015, tỷ lệ hộ được sử dụng nước sạch hợp vệ sinh đạt 85%

- Thông tin - liên lạc: Mạng viễn thông nông thôn của huyện những năm

gần đây đã có những bước phát triển mạnh mẽ Đến nay, 100% xã, thị trấn trên địa bàn huyện đều có Bưu điện văn hóa xã phục vụ nhu cầu trao đổi thông tin của nhân dân, hệ thống công trình viễn thông liên tục được đầu tư sửa chữa nâng cấp; Hệ thống hạ tầng bưu chính viễn thông được đầu tư xây dựng, phát triển nhanh; 25/25 xã có dịch vụ bưu chính; 19/25 xã có điểm truy cập internet (số thuê bao điện thoại/100 dân là 11 thuê bao, số thuê bao internet/100 dân là 2,5 thuê bao) Đây là điều kiện hết sức cần thiết để khai thác các nguồn thông tin phục vụ phát triển kinh tế, xã hội của huyện

- Giáo dục: Những năm qua, hạ tầng các trường học được quan tâm cải

tạo, tu sửa, nâng cấp và xây mới để tạo điều kiện học tập tốt nhất cho học sinh;

số phòng học được kiên cố và bán kiên cố chiếm 85% Năm 2015, toàn huyện có

99 trường học, trong đó: 35 trường mầm non với 345 lớp học; 38 trường tiểu học với 517 lớp học; 19 trường THCS với 252 lớp học; 6 trường THPT với 117 lớp học và 01 trung tâm giáo dục thường xuyên

- Y tế: hệ thống y tế toàn huyện có 19 trạm y tế xã, 03 phòng khám đa

khoa khu vực, 01 bệnh viện đa khoa huyện và 01 trung tâm y tế dự phòng Những năm qua, huyện đã quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị khám,

Trang 40

chữa bệnh cho tuyến huyện và xã; 76,0% các xã có trạm y tế được kiên cố hoá Đội ngũ cán bộ y tế cơ bản đảm bảo về số lượng, chất lượng ngày một nâng lên Mức độ thụ hưởng các dịch vụ y tế của người dân tốt hơn (120 giường bệnh, 4,1 bác sĩ/một vạn dân, tỷ lệ xã có bác sỹ 20%) Hiện tại, huyện đang chỉ đạo thực hiện đề án xây dựng xã đạt chuẩn Quốc gia về y tế, đã có 9/20 xã đạt

3.1.3 Về xây dựng và phát triển đời sống văn hoá

Phong trào thi đua xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh đạt kết quả tích cực; góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức

cơ sở đảng, hàng năm huyện có trên 70% tổ chức cơ sở đảng đạt trong sạch, vững mạnh; không có cơ sở đảng yếu kém Các xã luôn quan tâm tập trung phát triển kinh tế, xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất, lồng ghép các phong trào giúp nhau xóa đói, giảm nghèo, đời sống văn hóa phát triển lành mạnh, nếp sống văn minh từng bước được xây dựng góp phần giữ vững an ninh, trật tự xã hội Thường xuyên phát động, tổ chức các lễ hội truyền thống của làng, đón làng văn hoá theo phong tục, tổ chức các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể thao, rèn luyện sức khoẻ, nâng cao tinh thần Huyện Điện Biên là địa phương có phong trào thể dục thể thao phát triển (bóng đá, bóng chuyền, cầu lông, đẩy gậy…), đứng trong tốp đầu của tỉnh

Trong những năm qua, các cấp uỷ đảng trong toàn huyện đã chú trọng việc xây dựng và phát triển đời sống văn hoá khu dân cư Đến nay, toàn huyện

có 25/25 xã có thôn, bản văn hoá, trong đó có 242/463 thôn, bản được công nhận Thôn, bản văn hóa (chiếm 52,27%); 100% cơ quan, đơn vị đóng trên địa bàn được công nhân là cơ quan, đơn vị văn hóa; hàng năm có trên 83% gia đình đạt danh hiệu “Gia đình văn hóa” Số xã, thị trấn có thư viện là 19/25 xã

Ngày đăng: 20/03/2017, 00:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
10. Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn (2010). Chương trình hỗ trợ quốc tế, Bản tin ISG, Quý 2/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình hỗ trợ quốc tế, Bản tin ISG
Tác giả: Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn
Năm: 2010
14. Nguyễn Chí Dũng (2010). Đề tài sự phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở các vùng nông thôn nước ta hiện nay thực trạng và giải pháp, Trang 16-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề tài sự phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở các vùng nông thôn nước ta hiện nay thực trạng và giải pháp
Tác giả: Nguyễn Chí Dũng
Năm: 2010
15. Nguyễn Văn Tâm (2010), Bài giảng nguyên lý Phát triển nông thôn, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng nguyên lý Phát triển nông thôn
Tác giả: Nguyễn Văn Tâm
Năm: 2010
23. Vũ Thị Bình (2006), Giáo trình quy hoạch phát triển nông thôn, Nhà xuất bản nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quy hoạch phát triển nông thôn
Tác giả: Vũ Thị Bình
Nhà XB: Nhà xuất bản nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2006
12. Đào Thế Tuấn, 2008. Chính sách nông thôn, nông dân và nông nghiệp mới ở Trung Quốc, http://ipsard.gov.vn, 04/01/2008 Link
16. Phạm Anh - Văn Lợi (2011). Xây dựng nông thôn mới bài học và kinh nghiệm từ Trung Quốc, http://www.nongthonmoi.gov.vn, ngày 8/12/2011 Link
17. Phạm Xuân Liêm (2011). Phong trào đổi mới nông thôn của Hàn Quốc, http://www.nongnghiep.vn, ngày 09/11/2011 Link
18. Phan Xuân Sơn (2008). Xây dựng nông thôn mới ở nước ta hiện nay, http://www.tapchicongsan.org.vn, ngày 17/7/2008 Link
21. Tuấn Anh (2012). Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới ở một số nước trên thế giới, http://www.tapchicongsan.org.vn, ngày 09/02/2012 Link
22. TS. Vũ Như Thăng (2015). Tăng cường huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới, http://tapchitaichinh.vn/ ngày 23/01/2015 Link
1. Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khóa X), Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/08/2008 về nông nghiệp, nông dân và nông thôn Khác
2. Ban chỉ đạo CTMTQG XDNTM, 2015. Báo cáo tổng kết 05 năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2015 Khác
3. Ban chỉ đạo CTMTQG XDNTM tỉnh Lai Châu, 2015. Báo cáo tổng kết 05 năm thực hiện Chương trình nông thôn mới giai đoạn 2011-2015 Khác
4. Ban chỉ đạo CTMTQG XDNTM tỉnh Lào Cai, 2015. Báo cáo tổng kết 05 năm thực hiện Chương trình nông thôn mới giai đoạn 2011-2015 Khác
5. Ban chỉ đạo CTMTQG XDNTM tỉnh Điện Biên, 2015. Báo cáo tổng kết 05 năm thực hiện Chương trình nông thôn mới giai đoạn 2011-2015 Khác
6. Ban chỉ đạo CTMTQG XDNTM huyện Điện Biên, 2015. Báo cáo tổng kết 05 năm thực hiện Chương trình nông thôn mới giai đoạn 2011-2015 Khác
7. Ban chỉ đạo CTMTQG XDNTM xã Thanh Chăn, 2015. Báo cáo tổng kết 05 năm thực hiện Chương trình nông thôn mới giai đoạn 2011-2015 Khác
8. Ban chỉ đạo CTMTQG XDNTM xã Thanh Xương, 2015. Báo cáo tổng kết 05 năm thực hiện Chương trình nông thôn mới giai đoạn 2011-2015 Khác
9. Ban chỉ đạo CTMTQG XDNTM xã Mường Phăng, 2015. Báo cáo tổng kết 05 năm thực hiện Chương trình nông thôn mới giai đoạn 2011-2015 Khác
11. Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2009. Thông tư số 54/2009/TT- BNNPTNT, Hướng dẫn thực hiện bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.3. Mức độ đạt được nhóm tiêu chí Kinh tế và tổ chức sản xuất - Thực trạng và giải pháp xây dựng nông thôn mới ở huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên (LV thạc sĩ)
Bảng 3.3. Mức độ đạt được nhóm tiêu chí Kinh tế và tổ chức sản xuất (Trang 51)
Bảng 3.4. Mức độ đạt được nhóm tiêu chí Văn hóa – Xã hội– Môi trường - Thực trạng và giải pháp xây dựng nông thôn mới ở huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên (LV thạc sĩ)
Bảng 3.4. Mức độ đạt được nhóm tiêu chí Văn hóa – Xã hội– Môi trường (Trang 52)
Bảng 3.5. Mức độ đạt được nhóm tiêu chí Hệ thống chính trị - Thực trạng và giải pháp xây dựng nông thôn mới ở huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên (LV thạc sĩ)
Bảng 3.5. Mức độ đạt được nhóm tiêu chí Hệ thống chính trị (Trang 53)
Bảng 3.6. Một số chỉ tiêu kinh tế của xã qua 03 năm (2013-2015) - Thực trạng và giải pháp xây dựng nông thôn mới ở huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên (LV thạc sĩ)
Bảng 3.6. Một số chỉ tiêu kinh tế của xã qua 03 năm (2013-2015) (Trang 56)
Bảng 3.7. Một số chỉ tiêu về hạ tầng nông thôn - Thực trạng và giải pháp xây dựng nông thôn mới ở huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên (LV thạc sĩ)
Bảng 3.7. Một số chỉ tiêu về hạ tầng nông thôn (Trang 57)
Bảng 3.8. Tình hình phát triển đời sống văn hoá - Thực trạng và giải pháp xây dựng nông thôn mới ở huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên (LV thạc sĩ)
Bảng 3.8. Tình hình phát triển đời sống văn hoá (Trang 59)
Bảng 3.10. Tổng hợp trình độ cán bộ chủ chốt của 03 xã nghiên cứu - Thực trạng và giải pháp xây dựng nông thôn mới ở huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên (LV thạc sĩ)
Bảng 3.10. Tổng hợp trình độ cán bộ chủ chốt của 03 xã nghiên cứu (Trang 60)
Bảng 3.11. Nguồn lực huy động xây dựng công trình nông thôn mới - Thực trạng và giải pháp xây dựng nông thôn mới ở huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên (LV thạc sĩ)
Bảng 3.11. Nguồn lực huy động xây dựng công trình nông thôn mới (Trang 61)
Bảng 3.12. Người dân biết về chủ trương, chính sách của Đảng - Thực trạng và giải pháp xây dựng nông thôn mới ở huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên (LV thạc sĩ)
Bảng 3.12. Người dân biết về chủ trương, chính sách của Đảng (Trang 62)
Bảng 3.13. Người dân biết Chương trình xây dựng nông thôn mới - Thực trạng và giải pháp xây dựng nông thôn mới ở huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên (LV thạc sĩ)
Bảng 3.13. Người dân biết Chương trình xây dựng nông thôn mới (Trang 62)
Bảng 3.14: Các kênh thông tin mà người dân nhận được về Chương - Thực trạng và giải pháp xây dựng nông thôn mới ở huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên (LV thạc sĩ)
Bảng 3.14 Các kênh thông tin mà người dân nhận được về Chương (Trang 63)
Bảng 3.15. Đánh giá của người dân về sự cần thiết trong - Thực trạng và giải pháp xây dựng nông thôn mới ở huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên (LV thạc sĩ)
Bảng 3.15. Đánh giá của người dân về sự cần thiết trong (Trang 64)
Bảng 3.16. Người dân tham gia vào xây dựng nông thôn mới - Thực trạng và giải pháp xây dựng nông thôn mới ở huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên (LV thạc sĩ)
Bảng 3.16. Người dân tham gia vào xây dựng nông thôn mới (Trang 64)
Bảng 3.18. Tổng hợp kết quả thực hiện tiêu chí nông thôn mới năm 2015 - Thực trạng và giải pháp xây dựng nông thôn mới ở huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên (LV thạc sĩ)
Bảng 3.18. Tổng hợp kết quả thực hiện tiêu chí nông thôn mới năm 2015 (Trang 66)
Bảng 3.19: Phân tích ma trận SWOT - Thực trạng và giải pháp xây dựng nông thôn mới ở huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên (LV thạc sĩ)
Bảng 3.19 Phân tích ma trận SWOT (Trang 69)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w