Quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu (LV thạc sĩ)Quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu (LV thạc sĩ)Quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu (LV thạc sĩ)Quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu (LV thạc sĩ)Quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu (LV thạc sĩ)Quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu (LV thạc sĩ)Quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu (LV thạc sĩ)Quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu (LV thạc sĩ)Quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu (LV thạc sĩ)Quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu (LV thạc sĩ)Quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu (LV thạc sĩ)Quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu (LV thạc sĩ)
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN THẾ ANH
QUẢN LÝ NGÂN SÁCH XÃ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TÂN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Văn Đức
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
Lai Châu, tháng 9 năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Thế Anh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài: "Quản lý ngân sách xã trên địa bàn
động viên của nhiều cá nhân và tập thể Tôi xin được bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc nhất tới tất cả các cá nhân và tập thể đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong học tập và
nghiên cứu
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Quản lý Đào tạo sau Đại học, các khoa, phòng của Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh - Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi về mọi mặt trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của người hướng dẫn khoa học
- TS Trần Văn Đức
Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ, đóng góp nhiều ý kiến quý báu của các nhà khoa học, các thầy, cô giáo trong Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh - Đại học Thái Nguyên
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi còn được sự giúp đỡ và cộng tác của các đồng chí tại các địa điểm nghiên cứu, tôi xin chân thành cảm ơn các bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã tạo điều kiện mọi mặt để tôi hoàn thành nghiên cứu này
Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc đối với mọi sự giúp đỡ quý báu đó
Lai Châu, tháng 9 năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Thế Anh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiến của luận văn 3
5 Bố cục của luận văn 4
Chương 1 LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH XÃ 5
1.1 Một số vấn đề cơ bản của ngân sách Nhà nước 5
1.1.1 Khái niệm ngân sách Nhà nước 5
1.1.2 Vai trò của ngân sách Nhà nước 5
1.1.3 Hệ thống ngân sách Nhà nước 8
1.2 Lý luận chung về ngân sách xã 9
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của Ngân sách xã 9
1.2.2 Nguồn thu, nhiệm vụ chi của ngân sách xã 12
1.3 Vai trò của ngân sách xã 17
1.4 Nội dung công tác quản lý ngân sách xã 18
1.4.1 Nguyên tắc quản lý ngân sách xã 18
1.4.2 Quản lý quy trình ngân sách 19
1.4.3 Thanh tra, kiểm tra quản lý ngân sách 24
1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý ngân sách xã 24
1.5.1 Nhận thức của chính quyền địa phương 24
1.5.2 Chế độ, chính sách của Nhà nước 25
1.5.3 Tổ chức bộ máy quản lý và trình độ cán bộ quản lý 25
Trang 61.6 Kinh nghiệm của một số địa phương về quản lý ngân sách xã 26
1.6.1 Kinh nghiệm của huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên 26
1.6.2 Kinh nghiệm của huyện Thanh Ba tỉnh Phú Thọ 28
1.6.3 Bài học rút ra cho huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu 30
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.1 Câu hỏi nghiên cứu 32
2.2 Phương pháp nghiên cứu 32
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 32
2.2.2 Phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu 32
2.2.3 Phương pháp phân tích số liệu 33
2.2.4 Phương pháp chuyên gia 33
2.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 34
2.3.1 Nhóm chỉ tiêu về thu ngân sách 34
2.3.2 Nhóm chỉ tiêu về chi ngân sách 34
Chương 3 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NGÂN SÁCH XÃ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU 35
3.1 Đặc điểm cơ bản của huyện Tân Uyên tỉnh Lai Châu 35
3.1.1 Điều kiện tự nhiên của huyện Tân Uyên tỉnh Lai Châu 35
3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội của huyện Tân Uyên tỉnh Lai Châu 40
3.1.3 Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội đến công tác quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện Tân Uyên 43
3.1.4 Tổ chức bộ máy quản lý NSX trên địa bàn huyện Tân Uyên 44
3.2 Thực trạng quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện Tân Uyên tỉnh Lai Châu giai đoạn 2012 - 2015 49
3.2.1 Thực hiện quy trình quản lý ngân sách 49
3.2.2 Thực trạng công tác kiểm tra, thanh tra quản lý ngân sách 68
3.3 Đánh giá công tác quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện Tân Uyên giai đoạn 2012 - 2015 70
3.3.1 Kết quả đạt được 70
3.3.2 Những tồn tại, hạn chế 73
3.3.3 Nguyên nhân 78
Trang 7Chương 4 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH
XÃ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU 80
4.1 Định hướng phát triển kinh tế - xã hội và quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện Tân Uyên tỉnh Lai Châu trong thời gian tới 80
4.1.1 Định hướng phát triển kinh tế - xã hội 80
4.1.2 Định hướng quản lý ngân sách xã giai đoạn 2016 - 2020 82
4.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện Tân Uyên đến năm 2020 83
4.2.1 Hoàn thiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm, Tăng cường nhận thức của chính quyền địa phương trong quản lý ngân sách 83
4.2.2 Đẩy mạnh cải cách hành chính trong quản lý điều hành thu chi ngân sách xã 84
4.2.3 Từng bước hoàn thiện bộ máy tổ chức và trình độ của các cán bộ chuyên môn 85
4.2.4 Nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật 86
4.2.5 Triển khai kiểm tra giám sát công tác quản lý ngân sách thường xuyên liên tục 87
4.2.6 Đổi mới quy trình quản lý ngân sách theo hướng tích cực 88
4.3 Một số kiến nghị 91
4.3.1 Đối với UBND tỉnh 91
4.3.2 Đối với UBND huyện Tân Uyên 92
KẾT LUẬN 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
Trang 8DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
Tiểu thủ công nghiệp
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Tình hình cán bộ tại UBND huyện Tân Uyên 40
Bảng 3.2: Cơ cấu kinh tế huyện Tân Uyên giai đoạn 2012-2015 42
Bảng 3.3: Trình độ chuyên môn các Ban Tài chính xã năm 2015 48
Bảng 3.4: Tình hình chấp hành dự toán thu ngân sách xã qua các năm 52
Bảng 3.5: Tình hình chấp hành dự toán chi ngân sách xã qua 4 năm 57
Bảng 3.6: Tình hình chi đầu tƣ từ ngân sách xã cho các công trình qua các năm 64
Trang 10Sơ đồ 1.1: Quy trình lập dự toán 20
Sơ đồ 3.1: Bộ máy tổ chức của phòng Tài chính - Kế hoạch 47
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hoàn thiện quản lý ngân sách nhà nước (NSNN) là phạm trù khoa học, nó biểu hiện năng lực tổ chức quản lý và trình độ của nền kinh tế xã hội NSNN là kế hoạch tài chính tập trung của mỗi quốc gia, có vai trò vô cùng quan trọng trong việc điều tiết kinh tế vĩ mô, thực hiện các chức năng nhiệm vụ, quyền hạn trong quá trình quản lý kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng Trên cơ sở đó tạo điều kiện tăng thu nhập, cải thiện và nâng cao mức sống của người dân Trên thực tế việc tổ chức, chỉ đạo, điều hành và quản lý các hoạt động thu chi NSNN được diễn ra hàng ngày, hàng giờ tại các cơ sở kinh tế, các địa phương cấp tỉnh, quận huyện, xã, thị trấn
Cùng với quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước, quản lý NSNN đã
có những bước tiến bộ và đạt được những thành tự đáng kể Cụ thể, từ khi luật NSNN được Quốc hội khóa XI kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 16/12/2002 tạo ra cơ
sở pháp lý quan trọng trong việc tổ chức quản lý và điều hành NSNN nói chung và NSNN địa phương nói riêng nhằm phục vụ công cuộc phát triển kinh tế xã hội, tăng cường tiềm lực tài chính, quản lý thống nhất nền tài chính quốc gia
Ngân sách xã, phường, thị trấn là một bộ phận của ngân sách nhà nước và là một cấp ngân sách, chính vì vậy quan tâm đến việc quản lý ngân sách xã, phường, thị trấn là vấn đề rất cần thiết Xuất phát từ cấp cơ sở là xã, phường, thị trấn là một đơn vị hành chính nên chính quyền cơ sở là đại diện trực tiếp của nhà nước giải quyết mối quan hệ giữa nhà nước với nhân dân Mặt khác, ngân sách xã là điều kiện quan trọng cho hoạt động của chính quyền và hệ thống chính trị của cơ sở và thực hiện quản lý toàn diện các hoạt động kinh tế xã hội trên địa bàn Vì vậy, chính quyền cấp xã muốn thực hiện có hiệu quả những hoạt động phát triển kinh tế xã hội của địa phương thì cần có một nguồn ngân sách đủ mạnh để đáp ứng những hoạt động đó Việc hoàn thiện và đổi mới công tác quản lý ngân sách xã là một vấn đề
Trang 12luôn được nhà nước quan tâm Công tác quản lý ngân sách xã đạt hiệu quả cao sẽ đóng góp tích cực vào công cuộc phát triển kinh tế xã hội của quốc gia nói chung và của các tỉnh, huyện, xã nói riêng như xây dựng nông thôn mới, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, phát triển cơ sở hạ tầng, khoa học công nghệ…
Huyện Tân Uyên có 10 đơn vị hành chính, gồm 1 thị trấn Tân Uyên và 9 xã,
đã nhiều năm hoàn thành tốt nhiệm vụ quản lý ngân sách trên địa bàn Tuy nhiên, công tác quản lý và sử dụng ngân sách xã qua việc tổ chức, lập, phân bổ và quyết toán ngân sách của các cấp trên địa bàn huyện vẫn còn nhiều bất cập trong quản lý
và điều hành ngân sách Nhiều nội dung chi ngân sách xã chưa hợp lý, trình độ, khả năng quản lý của thủ trưởng các đơn vị, đội ngũ cán bộ chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra Huyện Tân Uyên cần xây dựng chủ trương, chính sách và đưa ra các giải pháp thực tế để nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách xã trên địa bàn Đây là một yêu cầu cần thiết, quan trọng góp phần phát triển kinh tế xã hội của huyện Tân Uyên trong tương lai
Bên cạnh đó, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về ngân sách, phân tích nhiều vấn đề như các yếu tố tác động đến hoạt động quản lý NSNN, các giải pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động thu chi ngân sách, tại địa bàn các tỉnh khác nhau Nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu cụ thể về quản lý ngân sách xã
trên địa bàn huyện Tân Uyên Do đó, đề tài “Quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện Tân Uyên, tỉnh Lai châu” được tác giả lựa chọn làm đề tài nghiên cứu, góp
phần nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện Tân Uyên trong giai đoạn trước mắt cũng như lâu dài
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Phân tích và đánh giá thực trạng quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu Từ đó, tạo cơ sở để đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện
Trang 13- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách xã trên
địa bàn huyện Tân Uyên trong tương lai
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu các vấn đề quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Nghiên cứu các vấn đề liên quan đến quản lý ngân sách
xã trên địa bàn huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu
- Phạm vi thời gian: Điều tra, khảo sát, thu thập số liệu trong thời gian 04 năm (từ năm 2012 - năm 2015)
- Phạm vi không gian: Tại địa bàn huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiến của luận văn
* Về mặt khoa học: Luận văn hệ thống lý thuyết quản lý NSNN nói chung,
ngân sách xã nói riêng Bước đầu tổng kết những bài học kinh nghiệm của một số huyện khác trong việc nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách xã
* Về mặt thực tiễn: Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu về quản lý
ngân sách xã trên địa bàn huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu Phân tích và đánh giá thực trạng quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện, chỉ ra được những thành công
và tồn tại và những nguyên nhân chủ yếu; Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao
hiệu quả quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu
Trang 145 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và các danh mục, luận văn gồm 4 chương:
- Chương 1: Lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về quản lý ngân sách xã
- Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
- Chương 3: Thực trạng quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện Tân Uyên,
tỉnh Lai Châu
- Chương 4: Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách xã trên địa
bàn huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu
Trang 15Chương 1
LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ
QUẢN LÝ NGÂN SÁCH XÃ
1.1 Một số vấn đề cơ bản của ngân sách Nhà nước
1.1.1 Khái niệm ngân sách Nhà nước
Theo Luật Ngân sách nhà nước năm 2002, Ngân sách Nhà nước được đề cập như sau:"Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được
cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước"
Về bản chất, NSNN là các quan hệ lợi ích kinh tế giữa Nhà nước với các chủ thể khác như doanh nghiệp, cơ quan HCSN, hộ gia đình, cá nhân… trong và ngoài nước gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ NS
Ngân sách nhà nước Việt Nam gồm NSTW và NSĐP Ngân sách địa phương
có ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có HĐND và UBND Phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền Nhà nước ta hiện nay, NSĐP bao gồm ngân sách cấp tỉnh, tỉnh trực thuộc trung ương; ngân sách cấp huyện, quận, thị xã, tỉnh thuộc tỉnh và ngân sách cấp xã, phường, thị trấn
1.1.2 Vai trò của ngân sách Nhà nước
- Điều tiết nền kinh tế, thúc đẩy phát triển kinh tế
Góp phần định hướng hình thành cơ cấu kinh tế mới, kích thích sản xuất kinh doanh phát triển và chống độc quyền
Ngân sách nhà nước cung cấp kinh phí để nhà nước đầu tư xây dựng kết cấu
hạ tầng cơ sở, hình thành các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực then chốt từ đó tạo môi trường, điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế khác phát triển Nhà nước sử dụng một nguồn vốn không nhỏ để hình thành các doanh nghiệp nhà nước là biện pháp để chống độc quyền và giữ cho thị trường tránh rơi vào tình trạng cạnh tranh không hoàn hảo
Trong những trường hợp cần thiết, sử dụng một số vốn trong ngân sách để hỗ trợ cho các doanh nghiệp ổn định về cơ cấu, vượt qua thời kỳ khó khăn hoặc chuẩn
bị chuyển sang một cơ cấu mới cao hơn
Trang 16Thông qua các khoản thuế và chính sách thuế sẽ đảm bảo thực hiện vai trò định hướng đầu tư, kích thích hoặc hạn chế sản xuất kinh doanh
Vay nợ nước ngoài và trong nước sẽ tạo thêm nguồn thu cho ngân sách nhà nước nhưng cần phải thận trọng trong các chính sách điều khoản, mức vay và thời hạn vay và đảm bảo sử dụng hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả nguồn vốn vay này
Bên cạnh đó ngân sách Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng hình thành cơ cấu kinh tế mới, kích thích sản xuất kinh doanh phát triển và chống độc quyền
Ngân sách nhà nước cung cấp kinh phí để nhà nước đầu tư xây dựng kết cấu
hạ tầng cơ sở, hình thành các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực then chốt từ đó tạo môi trường, điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế khác phát triển
Nhà nước sử dụng một nguồn vốn không nhỏ để hình thành các doanh nghiệp nhà nước là biện pháp để chống độc quyền và giữ cho thị trường tránh rơi vào tình trạng cạnh tranh không hoàn hảo
Trong những trường hợp cần thiết, sử dụng một số vốn trong ngân sách để hỗ trợ cho các doanh nghiệp ổn định về cơ cấu, vượt qua thời kỳ khó khăn hoặc chuẩn
bị chuyển sang một cơ cấu mới cao hơn
Thông qua các khoản thuế và chính sách thuế sẽ đảm bảo thực hiện vai trò định hướng đầu tư, kích thích hoặc hạn chế sản xuất kinh doanh
Vay nợ nước ngoài và trong nước sẽ tạo thêm nguồn thu cho ngân sách nhà nước nhưng cần phải thận trọng trong các chính sách điều khoản, mức vay và thời hạn vay và đảm bảo sử dụng hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả nguồn vốn vay này
- Giải quyết các vấn đề xã hội
Ngân sách nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện công bằng
xã hội Ngân sách nhà nước đầu tư thực hiện các chính sách xã hội như chi cho giáo dục - đào tạo, y tế, kế hoạch hóa gia đình, văn hóa, thể thao, truyền thanh, chi bảo đảm xã hội, trợ giá hàng hóa…
Thông qua hình thức thu thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp nhằm điều tiết thu nhập, phân phối lại cho những đối tượng có thu nhập thấp
Thông qua thuế gián thu nhằm hướng dẫn tiêu dùng hợp lý, tiết kiệm
Trang 17Tuy nhiên, vấn đề sử dụng công cụ ngân sách nhà nước để điều chỉnh các vấn đề xã hội cần chú ý thống nhất giữa chính sách và biện pháp thực hiện để nhóm đối tượng hưởng lợi từ chính sách phù hợp với mục tiêu của chính sách
- Góp phần ổn định thị trường, chống lạm phát, bình ổn giá cả thị trường
Ngân sách nhà nước có vai trò quan trọng trong việc thực hiện chính sách bình ổn giá cả thị trường, chống lạm phát
Nhà nước sử dụng những công cụ về chính sách chi ngân sách, thuế, phí, lệ phí, vay để có thể chủ động điều chỉnh giá cả và thị trường
Những chính sách đó có thể thắt chặt hay nới lỏng tùy thuộc vào mục đích và mức độ tác động đến cung - cầu thị trường mà nhà nước mong muốn điều chỉnh
Việc huy động của ngân sách nhà nước từ các hình thức thuế, phí, lệ phí, vay, bảo hiểm xã hội trên GDP và GNP chiếm tỷ trọng cao thì sự cung ứng vốn đầu tư dài hạn, vốn tiền tệ ngắn hạn của các nhà đầu tư và đầu tư của dân sẽ giảm, vốn tự đầu tư sẽ khan hiếm hơn Mặt khác, nó sẽ làm cho cầu về hàng hóa, dịch vụ của dân
cư giảm xuống nhưng ngân sách nhà nước lại có điều kiện tăng cầu với quy mô lớn
và chi cho đầu tư lớn sẽ kích thích tăng cung
Ngược lại, nếu ngân sách nhà nước huy động trên GDP và GNP chiếm tỷ trọng thấp thì nguồn tự đầu tư tăng lên, thúc đẩy tăng cung, đồng thời kích thích tăng cầu về hàng hóa, dịch vụ nhưng ngân sách lại không có điều kiện để tăng cầu
và chi cho đầu tư
Trên thị trường tài chính, nhà nước vay vốn với lãi suất cao sẽ tác động tăng cung ứng vốn từ các nhà đầu tư và tiết kiệm tiêu dùng cho tương lai và làm giảm lượng cầu về vốn đầu tư của doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế
Khi lãi suất các khoản vay của nhà nước giảm xuống dưới mức lợi tức bình quân toàn xã hội, các nhà đầu tư sẽ tìm môi trường đầu tư vào sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ mà không muốn cho nhà nước vay
Mặt khác, lãi suất các khoản vay của nhà nước có vị trí quan trọng trên thị trường chứng khoán có thể tham gia điều tiết quan hệ cung - cầu trên thị trường chứng khoán
Dự trữ nhà nước đóng vai trò không thể thiếu nhất là trong cơ chế thị trường Giá cả do thị trường quyết định, phụ thuộc và quan hệ cung - cầu và các yếu tố
Trang 18khác Để bảo vệ lợi ích của người sản xuất và người tiêu dùng, kích thích sản xuất phát triển nhà nước cần theo dõi biến động giá cả trên thị trường và phải có nguồn
dự trữ hàng hóa, tài chính để điều chỉnh kịp thời
Chống lạm phát là nội dung quan trọng trong việc điểu chỉnh thị trường Có nhiều nguyên nhân gây ra lạm phát trong đó có nguyên nhân xuất phát từ lĩnh vực thu chi ngân sách nhà nước Nếu đồng vốn ngân sách được sử dụng hợp lý, hiệu quả thì sẽ có tác động tích cưc, ngược lại sẽ gây ra bất ổn trên thị trường, thúc đẩy lạm phát tăng Việc phát hành thêm tiền để bù đắp thâm hụt ngân sách nhà nước là nguyên nhân trực tiếp khiến lạm phát tăng Và sự cân bằng của ngân sách nhà nước sẽ có tác động đến sự cân bằng của cán cân thanh toán quốc tế do sự cân bằng của ngân sách tác động trực tiếp đến sự cân bằng của cán cân thương mại; mức độ thực hiện cân bằng ngân sách nhà nước nói lên khả năng chi trả các khoản
nợ nước ngoài đến hạn
1.1.3 Hệ thống ngân sách Nhà nước
Hệ thống ngân sách Nhà nước là tổng thể các cấp ngân sách có mối quan hệ
cơ hữu với nhau trong quá trình thực hiện việc thu, chi của mỗi cấp ngân sách
Ngân sách nhà nước bao gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa
phương Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp
có Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân Theo quy định của Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân hiện hành bao gồm:
- Ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là ngân sách tỉnh) bao gồm ngân sách cấp tỉnh và ngân sách của các huyện, quận, thị xã, tỉnh thuộc tỉnh
- Ngân sách huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là ngân sách huyện) Bao gồm ngân sách cấp huyện và ngân sách các xã, phường, thị trấn
- Ngân sách các xã, phường, thị trấn (gọi chung là ngân sách xã)
Trên thế giới, hầu hết các nước, kể cả các nước phát triển và đang phát triển đều có ngân sách xã Ngân sách xã là một bộ phận của hệ thống NSNN và được quản lý theo quy định của luật pháp
Trang 191.2 Lý luận chung về ngân sách xã
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của Ngân sách xã
1.2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của ngân sách xã
Trong lịch sử tồn tại và phát triển, dân tộc ta đã trải qua rất nhiều giai đoạn khác nhau với những chế độ khác nhau từ phong kiến cho đến XHCN ngày nay Song song với sự ra đời, tồn tại và phát triển của bộ máy Nhà nước thì “quỹ” xã (mà bây giờ gọi là NSX) cũng được hình thành và phát triển như một tất yếu khách quan
để đảm bảo thực hiện các chức năng quản lý Nhà nước ở cơ sở Trải qua các giai đoạn khác nhau xã cũng mang những tên gọi khác nhau gắn với những chức năng nhiệm vụ nhất định Ví dụ như thời kỳ Khúc Hạo gọi là giáp xã, các triều đại Đinh,
Lê, Trần, Lý gọi là hương xã Cho đến nay chính quyền cấp xã đã trở thành cấp chính quyền cơ sở giúp vai trò hết sức quan trọng trong hệ thống chính quyền 4 cấp
ở nước ta
Về chế độ thu, chi NSX trong mỗi thời kỳ cũng có sự khác nhau do sự áp đặt các luật lệ khác nhau của các triều đại Trong thời Lê, chế độ quản lý NSX được quy định rất chặt chẽ: đối với xã lớn chỉ được phép chi trong phạm vi 50 quan, xã nhỏ 20 quan (đơn vị tiền tệ lúc đó), quỹ xã chỉ giữ lại 30 quan để chi tiêu, số còn lại phải gửi vào nhà giàu trong xã cất giữ Dưới chế độ XHCN, trong thời kỳ bao cấp công tác quản lý NSX chưa được quan tâm, coi trọng do ảnh hưởng của cơ chế tập
trung, bao cấp Từ năm 1996 NSX được quản lý theo Luật NSNN
Đáp ứng yêu cầu quản lý kinh tế trong thời kỳ đổi mới, chuyển từ cơ chế quản
lý tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường định hướng XHCN có sự quản
lý của Nhà nước, trong những năm vừa qua Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản liên quan đến quản lý NSNN nói chung và NSX nói riêng như: Luật NSNN số 01/2002/QH11; Thông tư số 60/2003/TT-BTC ngày 23/06/2003, Quyết định số 94/2005/QĐ-BTC ngày 12/12/2005 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc ban hành chế độ kế toán ngân sách và tài chính xã Đây thực sự là một bước phát triển mới trong công tác quản lý NSX, khẳng định rõ NSX là một cấp ngân sách nằm trong
hệ thống NSNN, là phương tiện vật chất để chính quyền cấp xã thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình Công tác quản lý Ngân sách xã ngày càng được Đảng,
Trang 20Nhà nước, các cấp, các ngành quan tâm, củng cố và hoàn thiện Thông qua tổ chức
bộ máy theo các cấp chính quyền, Nhà nước kiểm soát chặt chẽ trật tự xã hội cũng như kịp thời can thiệp vào nền kinh tế theo chiều hướng khuyến khích phát triển Gắn với cấp chính quyền trong tổ chức bộ máy Nhà nước là một cấp ngân sách Sự tồn tại của cấp xã kéo theo sự xuất hiện của Ngân sách xã, chính vì vậy NSX tồn tại
là một tất yếu khách quan
1.2.1.2 Khái niệm ngân sách xã
Ngân sách Nhà nước là một phạm trù kinh tế và là phạm trù lịch sử, phận định thành ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương Ngân sách Trung ương
là ngân sách của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan khác ở Trung ương Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân (tỉnh, huyện, xã) Ngân sách Nhà nước bao gồm toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước
Ngân sách xã đại diện và đảm bảo tài chính cho chính quyền xã có thể chủ động khai thác những thế mạnh có sẵn để phát triển kinh tế, thực hiện các chính sách xã hội, giữ gìn an ninh trật tự trên địa bàn xã Ngân sách xã trực tiếp gắn với người dân, trực tiếp giải quyết toàn bộ mối quan hệ về lợi ích giữa Nhà nước với dân Chính vì vậy, NSX là tiền đề đồng thời là hệ quả trong quá trình quản lý kinh tế - xã hội của Nhà nước, có thể hiểu một cách khái quát nhất về ngân sách
xã như sau:
Ngân sách xã là cấp ngân sách cơ sở trong hệ thống NSNN, là quỹ tiền tệ tập trung phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa một bên là chính quyền xã với một bên là các chủ thể khác thông qua sự vận động của các nguồn tài chính nhằm đảm bảo thực hiện chức năng nhiệm vụ của chính quyền xã trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, an ninh trật tự và văn hoá, xã hội trên địa bàn theo phân cấp
Nói một cách cụ thể: NSX là toàn bộ các khoản thu, chi được quy định trong
dự toán hàng năm do HĐND cấp xã quyết định và giao cho UBND cấp xã thực hiện nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của chính quyền cấp xã
Trang 211.2.1.3 Đặc điểm ngân sách xã
Vai trò của NSNN ngày càng được khẳng định và nền tài chính quốc gia đã
và đang được nâng cao hiệu quả Cùng với vấn đề đó NSX cũng ngày càng chứng minh tầm quan trọng, tính hiệu quả trong hoạt động của mình góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội Là một cấp ngân sách trong hệ thống NSNN nên NSX cũng mang đầy đủ các đặc điểm chung của ngân sách các cấp chính quyền địa phương, đó là:
- Được phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi theo quy định của pháp luật
- Được quản lý và điều hành theo dự toán và theo chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan có thẩm quyền quy định
- Hoạt động thu chi của Ngân sách xã luôn gắn liền với chức năng, nhiệm vụ
của chính quyền xã đã được phân cấp, đồng thời luôn chịu sự kiểm tra, giám sát của
cơ quan quyền lực Nhà nước cấp xã - đó là HĐND cấp xã;
- Ngân sách xã là cấp Ngân sách cuối cùng gắn chặt với việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của chính quyền cấp xã, là nơi trực tiếp giải quyết mối quan hệ lợi ích giữa Nhà nước và nhân dân Mối quan hệ về lợi ích đó được thực hiện thông qua hoạt động thu, chi Ngân sách xã Trên cơ sở đó, chính quyền cấp xã cũng đảm bảo thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình
Bên cạnh các đặc điểm chung, NSX còn có các đặc điểm riêng:
Một là, NSX là một loại quỹ tiền tệ của cơ quan chính quyền Nhà nước cấp
cơ sở Hoạt động của quỹ được thể hiện trên hai phương diện: huy động nguồn thu
vào quỹ gọi là thu NSX, phân phối và sử dụng quỹ gọi là chi NSX
Hai là, các chỉ tiêu thu chi NSX luôn mang tính pháp lý (nghĩa là các chỉ tiêu
này được quy định bằng văn bản pháp luật và được pháp luật đảm bảo thực hiện)
Ba là, đằng sau quan hệ thu chi NSX là quan hệ lợi ích phát sinh trong quá
trình thu chi NSX giữa hai chủ thể: một bên là lợi ích chung của cộng đồng cấp cơ
sở mà đại diện là chính quyền cấp xã, một bên là các chủ thể kinh tế xã hội…
Bốn là, NSX vừa là một cấp ngân sách, lại vừa là một đơn vị dự toán đặc biệt
(dưới nó không có đơn vị dự toán trực thuộc) Đặc điểm này có ảnh hưởng chi phối lớn đến quá trình tổ chức lập, chấp hành và quyết toán NSX Xã là đơn vị cơ sở
Trang 22trong hệ thống tổ chức bộ máy Nhà nước, gắn bó trực tiếp với người dân và nền kinh tế xã hội Chính vì vậy, nghiên cứu công tác quản lý NSX tuy không phải là công việc mới đặt ra song lại vô cùng cần thiết để tìm ra những giải pháp hữu hiệu nhất nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách trong điều kiện hiện nay Hay nói cách khác, NSX vừa là một cấp ngân sách, vừa là đơn vị dự toán, nó không có đơn
vị dự toán trực thuộc nào, nó vừa tạo nguồn thu vừa phải phân bổ nhiệm vụ chi
1.2.2 Nguồn thu, nhiệm vụ chi của ngân sách xã
Thực chất của sự phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi cho NSX là giải quyết mối quan hệ giữa cấp xã với ngân sách cấp trên từ việc quản lý sử dụng NSNN Một trong những yêu cầu của việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi Ngân sách là phải nhận định rõ ràng, cụ thể, phải phù hợp với chức năng của từng cấp Do vậy việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi cho NSX phải phù hợp với phân cấp quản lý kinh
tế xã hội, quốc phòng, an ninh của nhà nước và chức năng, nhiệm vụ quản lý Nhà nước của cấp xã Tuy nhiên trong mỗi thời kỳ nguồn thu, nhiệm vụ chi cũng có sự
điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với thực tế
1.2.2.1 Nguồn thu của ngân sách xã
Trong điều kiện triển khai thực thi Luật NSNN đã được Quốc hội khoá XI thông qua tại kỳ họp thứ hai ngày 16/12/2002, cơ cấu nguồn thu cho cấp xã ở các địa phương khác nhau sẽ do HĐND cấp tỉnh quyết định Việc phân cấp nguồn thu cho NSX phải đảm bảo nguyên tắc:
- Phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của Nhà nước và chức năng, nhiệm vụ quản lý Nhà nước của cấp xã;
- Phù hợp với việc phân định nguồn thu giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương;
- Tỷ lệ phần trăm (%) phân chia một số khoản thu giao cho ngân sách xã không vượt tỷ lệ phân chia giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương do
Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quyết định giao cho từng tỉnh đối với các khoản thu
đó, riêng đối với 5 loại thuế, lệ phí theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 34 Luật Ngân sách nhà nước, tỷ lệ phân chia cho ngân sách xã, thị trấn tối thiểu là 70%;
Trang 23Kết thúc mỗi kỳ ổn định, căn cứ vào khả năng nguồn thu và nhiệm vụ chi của ngân sách địa phương, HĐND tỉnh, tỉnh trực thuộc Trung ương thực hiện việc điều chỉnh tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu giữa ngân sách các cấp ở địa phương Khi phân cấp nguồn thu cho xã phải căn cứ vào nhiệm vụ chi đối với cấp
xã, khả năng thu từ các nguồn ngân sách nhà nước trên địa bàn; phân cấp tối đa nguồn thu tại chỗ, đảm bảo các xã chủ động cân đối được các nhiệm vụ chi thường xuyên, các xã có nguồn thu khá có phần dành để đầu tư phát triển, hạn chế việc bổ sung từ ngân sách cấp trên, tăng số xã tự cân đối được ngân sách, giảm dần số xã phải nhận bổ sung cân đối ngân sách từ cấp trên Các địa phương cũng có thể tham khảo những chỉ dẫn mà Bộ Tài chính đã đưa ra trong Thông tư số 60/2003/TT-BTC ngày 23/6/2003 về phân định nguồn thu cho NSX như sau:
* Các khoản thu Ngân sách xã hưởng 100% Đây là các khoản thu dành
cho xã sử dụng toàn bộ để chủ động về nguồn tài chính đảm bảo các nhiệm vụ chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển Căn cứ quy mô giữa nguồn thu, chế độ phân cấp quản lý kinh tế xã hội và nguyêntắc đảm bảo tối đa nguồn tại chỗ cân đối cho các nhiệm vụ thu chi thườngxuyên Khi phân cấp nguồn thu HĐND cấp tỉnh xem xét dành cho NSXhưởng 100% các khoản thu sau đây:
- Các khoản phí, lệ phí thu vào NSX theo quy định
- Thu đấu thầu, thu khoán theo mùa vụ từ quỹ đất công ích và hoa lợi công sản
- Thu từ các hoạt động sự nghiệp của xã, phần nộp vào ngân sách theo chế độ quy định
- Các khoản huy động đóng góp của các tổ chức, cá nhân
- Viện trợ không hoàn lại do các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài trực tiếp cho NSX
- Thu kết dư NSX năm trước
- Các khoản thu khác của NSX theo quy định của pháp luật
* Các khoản thu Ngân sách xã được hưởng theo tỷ lệ điều tiết
- Thuế sử dụng đất nông nghiệp thu từ hộ gia đình
- Thuế chuyển quyền sử dụng đất
- Thuế nhà đất
- Tiền cấp quyền sử dụng đất
Trang 24- Lệ phí trước bạ nhà, đất
- Thuế môn bài
Đối với các khoản thu trên, NSX được hưởng tối thiểu 70% Căn cứ vào nguồn thu và nhiệm vụ chi của xã, HĐND cấp tỉnh có thể quyết định tỷ lệ NSX được hưởng cao hơn, tối đa là 100%
Ngoài các khoản thu phân chia theo quy định trên, HĐND cấp tỉnh còn có thể bổ sung thêm các nguồn thu phân chia cho xã nếu sau khi các khoản thuế, phí, lệ phí phân chia theo luật NSNN đã dành 100% cho xã và các khoản thu được hưởng 100% nhưng vẫn chưa cân đối được nhiệm vụ chi
Tỷ lệ phần trăm các khoản trên cho NSX do UBND tỉnh quy định và ổn định
từ 3 - 5 năm, phù hợp với tình hình ngân sách địa phương Để giảm bớt khối lượng nghiệp vụ, khuyến khích tăng thu có thể giao chung cho các xã cùng một tỷ lệ
* Thu bổ sung từ Ngân sách cấp trên
Trong tổ chức hệ thống NSNN các cấp có mối quan hệ hữu cơ với nhau và mỗi cấp phải tự cân đối thu chi ngân sách Tuy nhiên, trong những hoàn cảnh cụ thể nếu cấp ngân sách (hay một bộ phận cấp ngân sách) nào không tự cân đối được thì ngân sách cấp trên có trách nhiệm bổ sung vốn cho cấp ngân sách (hay bộ phận cấp ngân sách đó) để đảm bảo cân đối thu chi ngay từ khâu xây dựng dự toán Từ đó hình thành khoản thu bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới Trong điều kiện hiện nay ở nước ta phần lớn ngân sách cấp xã chưa tự cân đối được thu chi nên ngân sách cấp trên phải cấp bổ sung và hình thành nguồn thu thứ 3 cho NSX Cơ chế xác định số thu bổ sung từ ngân sách cấp trên được quy định như sau:
- Thu bổ sung để cân đối ngân sách được xác định trên cơ sở chênh lệch giữa dự toán chi theo các nhiệm vụ được giao và dự toán thu từ các nguồn thu được phân cấp (các khoản thu hưởng 100% và các khoản thu phân chia theo
tỷ lệ %) Số bổ sung này được xác định từ năm đầu thời kỳ ổn định và được giao ổn định từ 3 - 5 năm
- Thu bổ sung có mục tiêu là các khoản thu theo từng năm để hỗ trợ xã thực hiện một số nhiệm vụ cụ thể
Ngoài các khoản thu trên, chính quyền xã không được đặt ra các khoản thu trái với quy định của pháp luật
Trang 251.2.2.2 Nhiệm vụ chi của Ngân sách xã
Chính quyền nhà nước cấp xã sử dụng ngân sách xã để đảm bảo thực hiện các chức năng quản lý kinh tế - xã hội trên địa bàn tiến tới đạt được các mục tiêu chiến lược về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn
Chi ngân sách xã gồm chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên HĐND cấp tỉnh quyết định phân cấp nhiệm vụ chi, định mức phân bổ chi thường xuyên cho ngân sách xã, cụ thể các nhiệm vụ chi như sau:
* Chi đầu tư phát triển: Các khoản chi đầu tư phát triển thể hiện rõ mục đích
tích luỹ, thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi NSX nên trước khi quyết định đầu tư, UBND cấp xã cần xác định rõ sự cần thiết phải đầu tư, nguồn vốn đảm bảo cho công trình, tránh tình trạng quyết định đầu tư dàn trải khi chưa có nguồn đảm bảo làm tăng nợ XDCB, mất khả năng cân đối ngân sách
- Chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội của xã, không có khả năng thu hồi vốn theo phân cấp của tỉnh
- Chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội của từng
xã từ nguồn huy động đóng góp của các tổ chức cá nhân cho từng dự án nhất định theo quy định của pháp luật, do HĐND xã quyết định đưa vào NSX quản lý
- Các khoản chi đầu tư phát triển khác theo quy định của pháp luật
* Chi thường xuyên: Bao gồm các khoản chi chủ yếu sau:
a) Chi cho hoạt động của các cơ quan nhà nước ở xã:
+ Tiền lương, tiền công cho cán bộ, công chức cấp xã
+ Phụ cấp đại biểu Hội đồng nhân dân, phụ cấp cấp uỷ
+ Các khoản phụ cấp khác theo quy định của Nhà nước
+ Công tác phí
+ Chi về hoạt động văn phòng như: chi phí điện, nước, văn phòng phẩm, phí bưu điện, điện thoại, hội nghị, chi phí tiếp tân, tiếp khách
+ Chi mua sắm, sửa chữa thường xuyên trụ sở, phương tiện làm việc
+ Chi khác theo chế độ quy định
Trang 26b) Kinh phí hoạt động của cơ quan Đảng cộng sản Việt Nam ở xã
c) Kinh phí hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội ở xã (Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam)
d) Đóng BHXH, BHYT, KPCĐ cho cán bộ xã và các đối tượng khác theo chế độ quy định
e) Chi cho công tác an ninh, quốc phòng:
+ Chi huấn luyện dân quân tự vệ, các khoản phụ cấp huy động dân quân tự
vệ và các khoản cho khác về dân quân tự vệ thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách xã Chi thực hiện việc đăng ký nghĩa vụ quân sự, công tác nghĩa vụ quân sự khác thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách xã theo quy định của pháp luật
+ Chi công tác an ninh, tuyên truyền, vận động và tổ chức phong trào bảo vệ
an ninh, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn xã
+ Các khoản chi an ninh, quốc phòng khác theo chế độ quy định
g) Chi cho công tác xã hội và hoạt động văn hóa, thông tin, thể dục thể thao
do xã quản lý
+ Trợ cấp hàng tháng cho cán bộ xã nghỉ việc theo chế độ quy định (không
kể trợ cấp hàng tháng cho cán bộ xã nghỉ việc và trợ cấp thôi việc một lần cho cán
bộ xã nghỉ việc từ ngày 01/01/1998 trở về sau do tổ chức bảo hiểm xã hội chi); chi thăm hỏi các gia đình chính sách; cứu tế xã hội và công tác xã hội khác
+ Chi hoạt động văn hóa, thông tin, thể dục thể thao do xã quản lý
h) Chi sự nghiệp giáo dục: Hỗ trợ các lớp bổ túc văn hóa, trợ cấp nhà trẻ, lớp mẫu giáo, kể cả trợ cấp cho giáo viên mẫu giáo và cô nuôi dạy trẻ do xã, thị trấn quản lý (đối với phường do ngân sách cấp trên chi)
i) Chi sự nghiệp y tế: Hỗ trợ chi thường xuyên và mua sắm các khoản trang thiết bị phục vụ cho khám chữa bệnh của trạm y tế xã
k) Chi sửa chữa, cải tạo các công trình phúc lợi, các công trình kết cấu hạ tầng do xã quản lý như: trường học, trạm y tế, nhà trẻ, lớp mẫu giáo, nhà văn hóa, thư viện, đài tưởng niệm, cơ sở thể dục thể thao, cầu, đường giao thông, công trình cấp và thoát nước công cộng
l) Chi sự nghiệp kinh tế: khuyến nông, khuyến công, khuyến ngư, khuyến lâm, kiến thiết thị chính, SN giao thông theo chế độ quy định
m) Các khoản chi thường xuyên khác ở xã theo quy định của pháp luật
Trang 271.3 Vai trò của ngân sách xã
Ngân sách xã vừa là một cấp trong hệ thống NSNN, vừa là một cấp ngân sách cơ sở, nó có vai trò hết sức quan trọng đối với chính quyền cấp xã Để thực hiện được chức năng, nhiệm vụ của chính quyền cấp xã thì đòi hỏi phải có chính sách đủ mạnh mẽ để điều chỉnh các hoạt động ở xã đi đúng hướng, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước Cụ thể:
Thứ nhất, NSX cung cấp các phương tiện vật chất cho sự tồn tại và hoạt
động của bộ máy Nhà nước ở cơ sở giúp chính quyền cấp xã thực hiện các chức năng, nhiệm vụ theo luật định NSX là công cụ cần thiết giúp UBND cấp xã thực hiện quản lý hiệu quả các hoạt động kinh tế - xã hội trên địa bàn, điều chỉnh các hoạt động đó đi đúng định hướng, là nguồn kinh phí quan trọng đáp ứng nhu cầu chi tiêu ở cấp xã như chi lương, sinh hoạt phí, chi cho quản lý hành chính, mua sắm các trang thiết bị văn phòng…Giúp UBND cấp xã thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội mà các cấp uỷ đảng đã đề ra
Thứ hai, NSX là công cụ để điều chỉnh, kích thích mọi hoạt động của xã đi
đúng hướng, đúng chính sách, chế độ và tăng cường mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, công bằng trên địa bàn xã Thông qua thu NSX, đề ra hệ thống luật pháp, hệ thống thuế, công tác kiểm tra, kiểm soát các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ trên địa bàn xã được tăng cường, đảm bảo môi trường kinh doanh lành mạnh theo đúng định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, của huyện đồng thời phát hiện
và ngăn chặn kịp thời các hoạt động kinh tế phi pháp, kinh doanh hàng giả, hàng kém chất lượng, trốn lậu thuế
Thứ ba, NSX góp phần xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở địa
phương, tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và phát triển của các cơ
sở kinh tế thuộc các thành phần kinh tế khác nhau trên địa bàn xã, đảm bảo cho sản xuất và lưu thông hàng hóa phát triển theo đúng định hướng XHCN.Với phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm” hệ thống giao thông liên thôn, liên xã được xây dựng mới và nâng cấp thường xuyên, nhờ đó các cụm dân cư dần dần được hình thành, tác động đến sự phát triển và giao lưu kinh tế qua đó tạo nguồn thu ổn định với quy mô ngày càng tăng cho ngân sách cấp xã, đáp ứng kịp thời nhu cầu về vốn đầu tư cũng như chi tiêu thường xuyên ngày càng tăng của chính quyền cơ sở
Trang 28Thứ tư, NSX góp phần thực hiện tốt công tác văn hóa xã hội ở nông thôn
- Với các khoản chi NSX hoạt động văn hóa, thông tin, thể dục thể thao…được quan tâm góp phần nâng cao đời sống văn hóa của người dân ở thôn xã Chi NSX để xây dựng và phát triển hệ thống truyền hình, truyền thông ở xã nhằm
mở mang văn hóa nhận thức của con người, loại bỏ những hủ tục, xây dựng nông thôn mới
- Thông qua các khoản chi như: chi thăm hỏi, chi tặng quà những gia đình có công với cách mạng, chi trợ cấp cho các gia đình thương binh liệt sỹ, chi cứu tế xã hội… được thực hiện thường xuyên và đầy đủ hơn Từ đó nâng cao đời sống nhân dân, nâng cao dân trí, đẩy lùi các tệ nạn xã hội, giữ vững trật tự, bảo vệ tài sản công cộng, đảm bảo lợi ích hợp pháp của công dân, thực hiện các chính sách xã hội,…làm cho phúc lợi công cộng của người dân tăng lên, công bằng xã hội trên địa bàn được đảm bảo
1.4 Nội dung công tác quản lý ngân sách xã
Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý nhằm thực hiện các chức năng nhiệm vụ của chủ thể quản lý
Quản lý ngân sách xã là sự tác động của Nhà nước nói chung (bộ máy chính quyền xã) lên công tác quản lý thu - chi ngân sách xã nhằm thực hiện các chức năng nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
Công tác quản lý ngân sách xã gồm: quản lý quy trình ngân sách (quản lý thu, quản lý chi), quản lý thanh tra kiểm tra ngân sách
1.4.1 Nguyên tắc quản lý ngân sách xã
- Nguyên tắc về sự đầy đủ và toàn bộ của ngân sách, nhằm quản lý tập hợp mọi khoản thu chi đều được quản lý qua ngân sách, không có tình trạng để ngoài ngân sách
- Nguyên tắc trung thực: đòi hỏi mọi khoản thu chi ngân sách phát sinh đều phải được thể hiện chính xác, đầy đủ, phản ánh đúng với thực chất của các nghiệp
vụ kinh tế phát sinh
- Nguyên tắc công khai: Chính quyền cấp xã phải công bố cho nhân dân được biết về các khoản thu - chi của địa phương
Trang 291.4.2 Quản lý quy trình ngân sách
Cũng như các cấp NS khác, NSX được tổ chức quản lý theo một chu trình khoa học gồm 3 khâu: Lập dự toán, chấp hành dự toán và quyết toán ngân sách xã Nội dung quản lý ngân sách xã được quy định cụ thể tại Luật NSNN năm 2002; Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 06/6/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật NSNN; Thông tư số 59/2003/TT-BTC ngày 23/6/2003 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 06/6/2003 của Chính phủ quy định chi tiết
và hướng dẫn thi hành Luật NSNN; Thông tư số 60/2003/TT-BTC ngày 23/6/2003 của
Bộ Tài chính quy định về quản lý ngân sách xã và các hoạt động tài chính khác của xã, phường, thị trấn và các văn bản hướng dẫn hiện hành của các cơ quan nhà nước có thẩm
quyền Nội dung cơ bản về Chu trình quản lý ngân sách xã như sau:
1.4.2.1 Lập dự toán ngân sách
Lập dự toán ngân sách xã là một khâu quan trọng trong công tác quản lý, điều hành ngân sách xã; là quá trình phân tích đánh giá giữa khả năng và nhu cầu các nguồn tài chính của ngân sách xã để từ đó xác lập các chỉ tiêu thu - chi dự kiến
có thể đạt được trong kỳ kế hoạch, xác lập các biện pháp chủ yếu về kinh tế tài chính và hành chính để đảm bảo thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu và giao chi Lập dự toán ngân sách xã là khâu mở đầu cho một chu trình ngân sách làm cơ sở, nền tảng của các khâu tiếp theo, đặc biệt là khâu chấp hành ngân sách cho nên khi lập dự toán phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Dự toán NSX phải phản ánh một cách đầy đủ, chính xác các khoản thu, chi
dự kiến có thể phát sinh trong năm kế hoạch theo đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức của nhà nước Điều này có nghĩa khi lập dự toán NSX đòi hỏi người lập phải tính toán đầy đủ các khả năng thu NSX, có tính đến khả năng khai thác nguồn thu tiềm năng của xã, đồng thời tính toán phân bổ chi NSX đảm bảo bao quát hết nhiệm vụ chi, tiết kiệm, thiết thực và hiệu quả
- Dự toán chi đầu tư phát triển phải căn cứ vào các dự án đầu tư có đủ điều kiện
và nguồn vốn được đảm bảo, ưu tiên bố trí cho các công trình đang thực hiện dở dang
- Dự toán chi thường xuyên phải được tuân theo các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành
Trang 30- Lập dự toán NSX phải đảm bảo nguyên tắc cân đối, chi không được vượt quá nguồn thu được hưởng theo phân cấp Nghiêm cấm vay dưới mọi hình thức, chiếm dụng vốn hoặc để cân đối NSX
- Dự toán phải được lập theo đúng biểu mẫu quy định, đúng thời gian, đúng mục lục NSNN, gửi kịp thời cho các cơ quan chức năng của Nhà nước xét duyệt, đồng thời phải có thuyết minh làm rõ cơ sở, căn cứ tính toán
* Căn cứ lập dự toán
Dự toán ngân sách xã được lập dựa trên những căn cứ cụ thể, đảm bảo xác lập các chỉ tiêu thu, chi NSX một cách tương đối chính xác, khoa học Các căn cứ lập dự toán ngân sách xã bao gồm:
- Chủ trương, định hướng phát triển kinh tế - xã hội chung của tỉnh, của huyện;
- Các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng, trật
tự an toàn xã hội trên địa bàn của xã;
- Chế độ, tiêu chuẩn, định mức thu, chi Ngân sách do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính quy định Cơ chế phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi NSX
và tỷ lệ phân chia nguồn thu do HĐND cấp tỉnh quy định;
- Số kiểm tra về dự toán NSX do UBND huyện thông báo;
- Tình hình thực hiện dự toán NSX các năm trước, ước thực hiện Ngân sách năm hiện hành
Sơ đồ 1.1: Quy trình lập dự toán
UBND xã UBND huyện
Trang 31Hướng dẫn xây dựng dự toán như sau:
Bước (1): UBND huyện hướng dẫn và giao số kiểm tra dự toán ngân sách cho các xã
Bước (2): UBND xã tổ chức hội nghị triển khai xây dựng dự toán NSX và giao số kiểm tra cho các ban ngành, đoàn thể lập và tổng hợp dự toán ngân sách xã
Bước (3): Các ban ngành, đoàn thể, kế toán xã lập dự toán ngân sách xã Bước (4): UBND xã làm việc với các ban ngành, đoàn thể về dự toán ngân sách; kế toán tổng hợp và hoàn chỉnh dự toán NSX
Bước (5): UBND xã trình Thường trực HĐND xã xem xét cho ý kiến về dự toán NSX
Bước (6): Căn cứ vào ý kiến của Thường trực HĐND xã, UBND xã hoàn chỉnh lại dự toán ngân sách và gửi Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện
Bước (7): Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện tổ chức làm việc về dự toán ngân sách với các xã đối với năm đầu của thời kỳ ổn định hoặc khi UBND xã có yêu cầu ở những năm tiếp theo của thời kỳ ổn định ngân sách; tổng hợp và hoàn chỉnh dự toán ngân sách huyện báo cáo UBND huyện Phân bổ và quyết định dự toán ngân sách xã
Bước (8): UBND huyện giao dự toán ngân sách chính thức cho các xã
Bước (9): UBND xã hoàn chỉnh lại dự toán ngân sách xã gửi đại biểu HĐND
xã trước phiên họp của HĐND xã về dự toán ngân sách; HĐND xã thảo luận và quyết định dự toán ngân sách
Bước (10): UBND xã giao dự toán cho ban, ngành, đoàn thể, đồng gửi phòng Tài chính- Kế hoạch huyện, Kho bạc nhà nước huyện; thực hiện công khai dự toán ngân sách xã trước ngày 31/12
1.4.2.2 Quản lý chấp hành dự toán ngân sách
Chấp hành dự toán ngân sách xã là khâu tiếp theo của một chu trình ngân sách,
là quá trình sử dụng tổng hợp các biện pháp kinh tế, tài chính và hành chính nhằm thực hiện các chỉ tiêu thu, chi ghi trong dự toán ngân sách được duyệt Để quản lý khâu chấp hành dự toán ngân sách cần tiến hành quản lý tốt các nội dung sau:
Trang 32a Quản lý quá trình thu
+ Ban Tài chính xã có nhiệm vụ phối hợp với cơ quan thuế giám sát, kiểm tra các nguồn thu đảm bảo thu đúng, thu đủ và kịp thời nộp vào ngân sách Nhà nước Trường hợp cần thiết có thể thu cho một năm nhưng chỉ trong nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân
+ Khuyến khích các đối tượng thu nộp ngân sách trực tiếp tại Kho bạc Nhà nước, trường hợp đối tượng phải nộp ngân sách không có điều kiện nộp tiền trực tiếp vào ngân sách tại Kho bạc Nhà nước thì các khoản thu thuộc nhiệm vụ thu của
cơ quan nào cơ quan đó thu sau đó viết giấy nộp tiền mang tới Kho bạc Nhà nước
để nộp vào ngân sách
+ Nghiêm cấm thu không biên lai, thu để ngoài sổ sách
+ Trường hợp phải hoàn trả thu ngân sách xã, Kho bạc Nhà nước xác nhận rõ
số tiền đã thu vào ngân sách xã để Ban Tài chính xã làm căn cứ thoái thu cho đối tượng được hoàn trả
+ Chứng từ thu phải được luân chuyển theo đúng quy định
+ Đối với số thu bổ sung của ngân sách xã, phòng Tài chính huyện căn cứ vào dự toán bổ sung đã giao cho từng xã, dự toán thu chi từng quý và khả năng cân đối ngân sách huyện thông báo và cấp bổ sung ngân sách hàng quý cho xã chủ động điều hành ngân sách
b Quản lý quá trình chi:
- Nguyên tắc chi:
+ Việc thực hiện chi phải đảm bảo điều kiện: Đã được ghi trong dự toán, đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức qui định, được Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã hoặc người được uỷ quyền chuẩn chi
+ Cấp phát ngân sách xã chỉ dùng hình thức lệnh chi tiền Trường hợp thanh toán bằng tiền mặt phải kèm theo giấy đề nghị rút tiền mặt, Kho bạc Nhà nước kiểm tra, đủ điều kiện thì thực hiện thanh toán
+ Trong trường hợp thật cần thiết như tạm ứng công tác phí, ứng tiền trước cho khách hàng, cho nhà thầu theo hợp đồng, chuẩn bị hội nghị, tiếp khách, mua sắm nhỏ được tạm ứng ngân sách để chi; khi có đủ chứng từ hợp lệ Ban Tài chính
xã phải lập bảng kê chứng từ chi và giấy đề nghị thanh toán tạm ứng gửi Kho bạc Nhà nước nơi giao dịch làm thủ tục chuyển tạm ứng sang thực chi ngân sách
Trang 33+ Các khoản thanh toán từ ngân sách qua Kho bạc Nhà nước cho các đối tượng có tài khoản giao dịch ở Kho bạc Nhà nước hoặc ở Ngân hàng phải được thực hiện bằng hình thức chuyển khoản
+ Đối với các khoản chi từ các nguồn thu được giữ lại tại xã, Ban Tài chính
xã phối hợp với Kho bạc Nhà nước định kỳ kiểm tra, làm thủ tục ghi thu - ghi chi
để quản lý qua ngân sách xã
- Đối với chi thường xuyên:
+ Ưu tiên trả lương, các khoản phụ cấp cho cán bộ xã, không để nợ lương và các khoản phụ cấp
+ Các khoản chi thường xuyên phải căn cứ vào dự toán năm, tình hình tổ chức thực hiện công việc, khả năng của ngân sách xã tại thời điểm để thực hiện chi cho phù hợp
- Đối với chi đầu tư phát triển:
+ Việc quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản của ngân sách xã thực hiện theo quy định của Nhà nước và phân cấp của tỉnh
+ Đối với dự án đầu tư bằng nguồn đóng góp theo nguyên tắc tự nguyện của nhân dân, phải mở sổ theo dõi và phản ánh đầy đủ, kịp thời quá trình thu nộp và sử dụng mọi khoản đóng góp bằng tiền, ngày công lao động, hiện vật của nhân dân
Quá trình thi công, nghiệm thu và thanh toán phải có sự giám sát của ban giám sát dự án do nhân dân cử ra Kết quả đầu tư và quyết toán dự án phải được thông báo công khai cho nhân dân biết
1.4.2.3 Quản lý quyết toán Ngân sách
Quyết toán ngân sách xã là khâu cuối cùng của chu trình ngân sách Đó là việc tổng kết lại quá trình thực hiện dự toán ngân sách năm, nhằm đánh giá lại toàn
bộ kết quả hoạt động cảu một năm ngấn sách, từ đó rút ra ưu nhược điểm và bài học kinh nghiệm cho chu trình ngân sách tiếp theo Do vậy, quản lý khâu quyết toán ngân sách cần làm những công việc sau:
Trang 34- Ban Tài chính xã lập Báo cáo quyết toán thu - chi ngân sách hàng năm trình UBND xã xem xét để trình HĐND xã phê chuẩn, đồng thời gửi cho Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện để tổng hợp Thời hạn gửi báo cáo quyết toán năm cho Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện chậm nhất là ngày 15 tháng 02 năm sau
- Quyết toán chi ngân sách xã không được lớn hơn quyết toán thu ngân sách
xã, kết dư ngân sách xã là số chênh lệch lớn hơn giữa số thực thu và số thực chi ngân sách xã Toàn bộ số kết dư được chuyển vào vượt thu ngân sách năm sau
- Báo cáo quyết toán được phê duyệt lập thành 5 bản để gửi HĐND xã, UBND xã, phòng Tài chính - Kế hoạch huyện, lưu Ban Tài chính xã và thông báo công khai nơi công cộng cho nhân dân trong xã biết
- Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện có trách nhiệm kiểm tra báo cáo quyết toán thu - chi ngân sách xã, trường hợp có sai sót phải báo cáo UBND huyện yêu cầu HĐND xã điều chỉnh
1.4.3 Thanh tra, kiểm tra quản lý ngân sách
Thanh tra, kiểm tra quản lý ngân sách là yêu cầu hết sức cần thiết trong công tác quản lý ngân sách Việc thanh tra, kiểm tra quản lý ngân sách xã thường được HĐND
xã, Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện và Kho bạc Nhà nước cùng cấp thực hiện
Các đơn vị tiến hành thanh tra, kiểm tra phải chịu trách nhiệm về kết luận thanh tra, kiểm tra của mình
Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thanh tra tài chính trong việc thanh tra quản lý, sử dụng ngân sách ñược quy ñịnh trong văn bản riêng của Chính phủ
1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý ngân sách xã
1.5.1 Nhận thức của chính quyền địa phương
Lãnh đạo của địa phương phải nắm vững các yêu cầu và nguyên tắc quản lý ngân sách và hiểu rõ nguồn gốc của ngân sách xã và phải được quản lý đầy đủ và toàn diện ở tất cả các khâu: Lập dự toán, chấp hành dự toán, quyết toán ngân sách
và thanh tra kiểm tra ngân sách Khi có nhận thức đúng đắn về quản lý ngân sách thì
sẽ có những định hướng cụ thể để hoàn thiện công tác quản lý ngân sách
Trang 351.5.2 Chế độ, chính sách của Nhà nước
Chính sách là một trong các công cụ chủ yếu mà Nhà nước sử dụng để quản
lý nền kinh tế quốc dân Dưới dạng chung nhất, mỗi chính sách cụ thể là một tập hợp các giải pháp nhất định để thực hiện các mục tiêu bộ phận trong quá trình đạt tới các mục tiêu chung của sự phát triển kinh tế - xã hội
Chính sách tạo ra những kích thích đủ lớn cần thiết để biến đường lối chiến lược của Đảng thành hiện thực, góp phần thống nhất tư tưởng và hành động của mọi người trong xã hội Trong hệ thống các công cụ quản lý, các chính sách là một bộ phận năng động nhất, có độ nhạy cảm cao trước những biến động trong đời sống KT-XH của đất nước nhằm giải quyết những vấn đề bức xúc mà xã hội đặt ra
Như vậy, một hệ thống các chính sách kinh tế đồng bộ phù hợp với nhau cầu phát triển của đất nước trong từng thời kỳ lịch sử nhất định sẽ là một bảo đảm vững chắc cho sự vận hành của một cơ chế thị trường năng động, hiệu quả
1.5.3 Tổ chức bộ máy quản lý và trình độ cán bộ quản lý
Trình độ quản lý của con người là nhân tố quan trọng quyết định sự thành công, chất lượng của công tác quản lý ngân sách Chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế có ảnh hưởng không nhỏ tới sự thành công của công tác quản lý ngân sách Chất lượng cán bộ quản lý kinh tế được thể hiện qua hai chỉ tiêu chủ yếu sau:
Chất lượng của đội ngũ cán bộ quản lý được thể hiện qua trình độ và năng lực chuyên môn được đánh giá chủ yếu qua các chỉ tiêu về bậc học, học vị của họ, ngạch, bậc công chức và họ được đào tạo dưới hình thức nào Ngoài ra còn có thể được đánh giá thông qua các chỉ tiêu khác như thâm niên công tác, vị trí công tác
mà người đó đã từng nắm giữ, khả năng thành thạo công việc, cách giao việc và sử dụng nhân viên trong quá trình thực hiện quản lý
Để có một đội ngũ cán bộ quản lý giỏi nếu chỉ tập trung vào việc nâng cao trình độ chuyên môn thì chưa đủ, bởi lẽ một cán bộ quản lý tốt ngoài có trình độ chuyên môn giỏi thì cúng cần phải có phẩm chất đạo đức, chính trị tốt Như vậy phẩm chất đạo đức chính trị là rất quan trọng đối với mỗi cán bộ quản lý ngân sách Phẩm chất đạo đức của người cán bộ quản lý bao gồm cả đạo đức cá nhân như dũng
Trang 36cảm, cẩn thận, quả quyết sửa lỗi của mình ; cả những phẩm chất cần có trong quan
hệ với mọi người, với công việc, họ không chỉ làm cho mình trong sạch, tiến bộ mà
họ còn biết cách làm cho mọi người xung quanh cúng trong sạch và tiến bộ
Cùng với đó, đội ngũ cán bộ công chức nói chung và cán bộ quản lý ngân sách nói riêng coàn cần phảo có đạo đức chính trị cách mạng, đặc biệt là trong tình hình thế giới luôn luôn biến động hiện nay Họ phải luôn là những người trung thành với sự nghiệp cách mạng của đất nước; biết đặt lợi ích của đất nước, của tập thể lên trên lợi ích của bản thân; luôn có ý thức tôn trọng pháp luật, làm một tấm gương sáng cho mọi người xung quanh mà đặc biệt là với quần chúng nhân dân; và
họ có ý thức không ngừng học tập vươn lên để tự hoàn thiện mình
1.6 Kinh nghiệm của một số địa phương về quản lý ngân sách xã
Tác giả lựa chọn huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên và huyện Thanh Ba tỉnh Phú Thọ để tìm hiểu kinh nghiệm cũng như tìm ra bài học cần rút ra cho huyện Tân uyên trong công tác quản lý ngân sách xã do hai địa phương này đều thuộc tỉnh Trung du miền núi có khá nhiều nét tương đồng về điều kiện kinh tế xã hội, điều kiện tự nhiên nên thuận tiện cho việc học tập những thành tựu, kinh nghiệm của những địa phương này
1.6.1 Kinh nghiệm của huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên
Phú Bình là huyện Trung du miền núi nằm của tỉnh Thái Nguyên, cách trung tâm tỉnh khoảng 26km về phía nam cách Thủ đô Hà Nội khoảng hơn 100 km và tỉnh Bắc Ninh khoảng 50 km Huyện Phú Bình có 21 đơn vị hành chính cấp xã và thị trấn Hương Sơn, trong đó có 7 xã miền núi Các xã của huyện được chia làm 3 vùng Vùng 1 thuộc tả ngạn Sông Máng gồm 8 xã: Đồng Liên, Bàn Đạt, Đào Xá, Tân Khánh, Tân Kim, Tân Thanh, Bảo Lý và Tân Hoà Vùng 2 gồm thị trấn Hương Sơn và 6 xã vùng nước máng sông Cầu: Xuân Phương, Kha Sơn, Dương Thành, Thanh Ninh, và Tân Đức Vùng 3 là vùng nước máng núi Cốc gồm 6 xã: Hà Châu, Nga My, Điềm Thuỵ, Thượng Đình, Nhã Lộng và Úc Kỳ
Trong giai đoạn vừa qua, các cấp chính quyền đã luôn quan tâm và chỉ đạo sát sao công tác quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện Phú Bình Nguồn ngân
Trang 37sách xã đã cung cấp nguồn kinh phí cần thiết đảm bảo cho sự tồn tại và hoạt động của bộ máy nhà nước cở cơ sở, giúp chính quyền cấp xã thực hiện các chức năng nhiệm vụ thoe luật định, giúp UBND cấp xã thực hiện quản lý hiệu quả các hoạt động kinh tế-xã hội trên địa bàn điều chỉnh các hoạt động đó đi đúng hướng, là nguồn kinh phí quan trọng giúp UBND cấp xã thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế xã hội mà các cấp ủy đảng đề ra Mặc dù, trong công tác quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện còn tồn tại một số hạn chế như: nội dung các khoản thu thì được phân cấp
ổn định, nhưng việc phân cấp quản lý các đối tượng thu cụ thể chưa ổn định Không đánh giá đúng khả năng huy động nguồn thu trên địa bàn cũng như tính toán kỹ các nhiệm vụ chi phát sinh trong năm nên chất lượng công tác xây dựng dự toán chưa được cao Tuy nhiên, công tác quản lý Ngân sách xã của huyện cơ bản được củng cố
và tăng cường Hiệu quả việc quản lý nguồn thu ngân sách nhà nước và ngân sách xã đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ, nhiều kinh nghiệm sâu sắc:
- Công tác phân cấp quản lý NSX trên địa bàn huyện khá rõ ràng đã tăng cường quyền hạn và trách nhiệm cho chính quyền cấp xã, làm cho NSX trở thành một cấp ngân sách hoàn chỉnh Đây là đòn bẩy có tác động mạnh mẽ tới chính quyền xã trong việc quản lý khai thác nguồn thu bố trí các khoản chi một cách linh hoạt, hợp lý, phù hợp với đặc điểm kinh tế xã hội của từng xã, thị trấn
- Dự toán thu, chi của đã được tính toán, phân bổ theo mục lục ngân sách, phù hợp với điều kiện phát triển, các mục tiêu kinh tế - xã hội cơ bản mà HĐND và UBND xã đặt ra trong năm Dự toán của các xã đã được lập cơ bản theo đúng trình
tự, nội dung dự toán đảm bảo đúng yêu cầu quy quy định, chất lượng công tác xây dựng dự toán ngày càng được nâng cao, về cơ bản đã xác định được các nguồn thu, nhiệm vụ chi trong năm phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế- xã hội
- Đối với công tác thu Ngân sách xã đã chủ động phối hợp với các cơ quan thu các tổ chức đoàn thể tổ chức khai thác nguồn thu và nuôi dưỡng nguồn thu được tốt hơn Công tác thu đã đảm bảo thu đúng, thu đủ, kịp thời đúng thời hạn như với các khoản thu lệ phí trước bạ, thuế chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp Đối với công tác chi huyện đã chủ động quản lý các xã và điều hành các khoản chi ngân sách trong tổng kinh phí được giao, chặt chẽ, tiết kiệm và hiệu quả góp phần nâng cao thu nhập cho cán bộ công chức và hoàn thành tốt nhiệm vụ
Trang 38- Việc quyết toán NSX được các xã thực hiện theo đúng quy định của Luật NSNN, Thông tư số 108/2008/TT-BTC ngày 18/11/2008 của Bộ tài chính về việc hướng dẫn xử lý ngân sách cuối năm, lập báo cáo quyết toán hàng năm và các văn bản hướng dẫn hiện hành của cấp có thẩm quyền Quyết toán ngân sách xã đảm bảo nguyên tắc cân đối giữa thu và chi, báo cáo quyết toán thu, chi ngân sách cơ bản phản ánh trung thực, khách quan tình hình thực hiện thu, chi ngân sách xã
- Công tác kiểm tra, giám sát các khoản chi trong thời gian qua đã được cán
bộ Ban Tài chính xã phối hợp với Kho bạc Nhà nước đã được đẩy mạnh, nhất là các khoản chi đầu tư xây dựng cơ bản Luôn hướng việc chi ngân sách đảm bảo chặt chẽ về mặt thủ tục, chứng từ quyết toán, đúng chính sách, tiêu chuẩn, chế độ, định mức hiện hành của Nhà nước, chi đúng mục đích, tiết kiệm, có hiệu quả, kịp thời ngăn chặn và đẩy lùi tham ô, lãng phí trong việc sử dụng ngân sách nhà nước
1.6.2 Kinh nghiệm của huyện Thanh Ba tỉnh Phú Thọ
Phú Thọ là tỉnh thuộc khu vực miền núi, trung du phía Bắc, nằm trong khu vực giao lưu giữa vùng Đông Bắc, đồng bằng sông Hồng và Tây Bắc, cách trung tâm Hà Nội 80 km, cách sân bay Nội Bài 60 km, cách cửa khẩu Lào Cai, cửa khẩu Thanh Thuỷ hơn 200 km, cách Hải Phòng 170 km và cảng Cái Lân 200 km
Thanh Ba là huyện miền núi tây bắc tỉnh Phú Thọ, diện tích toàn huyện 195,0343 km² Dân số 112.589 (1/2009), gồm các dân tộc: Dao, Kinh, Cao Lan Huyện Thanh Ba có 27 đơn vị hành chính trực thuộc gồm 1 thị trấn huyện lỵ (Thanh Ba) và 26 xã: Thanh Vân, Hanh Cù, Đông Lĩnh, Đồng Xuân, Yển Khê, Vũ Yển, Đại An, Thái Ninh, Năng Yên, Quảng Nạp, Ninh Dân, Yên Nội, Phương Lĩnh, Mạn Lạn, Khải Xuân, Võ Lao, Thanh Xá, Hoàng Cương, Chí Tiên, Đông Thành, Sơn Cương, Thanh Hà, Đỗ Sơn, Đỗ Xuyên và Lương Lỗ
Trong các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn huyện luôn quan tâm phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực, chú trọng phát triển với tốc độ tăng trưởng khá, chính trị, xã hội ổn định…thì mục tiêu quản lý tốt ngân sách cấp xã cũng luôn là mục tiêu quan trọng, đồng thời đây cũng là nền tảng tài chính thực hiện thành công các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của các cấp xã, huyện, tỉnh đề ra Hiệu quả quản lý ngân sách xã năm sau luôn cao hơn năm trước, tích cực khắc phục những hạn chế, bất cập để đảm bảo công việc phù hợp với thực
Trang 39tế phát triển và giải quyết các vấn đề liên quan đến đời sống của người dân nơi đây, một số kinh nghiệm, thành tựu của huyện Thanh Ba trong công tác quản lý ngân sách xã thể hiện qua một số vấn đề như sau:
- Việc tổ chức thực hiện thu NSX trên địa bàn huyện tương đối tốt do UBND các xã, thị trấn đã có nhiều giải pháp thiết thực tận thu ngân sách từ các nguồn thu tại xã như: Khoán quỹ đất công ích, hoa lợi công sản, đền bù quỹ đất công ích do nhà nước thu hồi đất cho các dự án đầu tư, thu phí, lệ phí và các khoản thu khác tại
xã Các khoản thu đều được xác định chặt chẽ, trên cơ sở khoa học và có kế hoạch thu ngay từ đầu năm, đảm bảo thu đúng, thu đủ, huy động kịp thời mọi khoản thu vào ngân sách Đối với các thu điều tiết theo chế độ và các khoản thu do Chi cục thuế huyện uỷ nhiệm thu cho xã đều có sự phối hợp nhịp nhàng giữa cơ quan thuế
và UBND các xã, thị trấn trong việc tổ chức thu nộp vào NSNN Thu ngân sách xã ngày càng tăng, về cơ bản không những đảm bảo được các nhu cầu chi tiêu thường xuyên cho bộ máy chính quyền cấp xã mà còn đảm bảo nguồn chi đầu tư xây dựng các công trình trọng điểm của xã, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, nền quốc phòng toàn dân được giữ vững, an ninh, chính trị ở địa phương được đảm bảo
- Công tác quản lý chi ngân sách được tăng cường, việc quản lý điều hành chi NSX đã được chỉ đạo bám sát dự toán năm và các chương trình mục tiêu được HĐND xã phê duyệt, hướng việc chi ngân sách đảm bảo chặt chẽ về mặt chứng từ quyết toán, đúng chính sách, tiêu chuẩn, chế độ, định mức hiện hành của Nhà nước, chi đúng mục đích, tiết kiệm, có hiệu quả Chi thường xuyên cơ bản đảm bảo duy trì tốt hoạt động của bộ máy chính quyền cấp xã, đáp ứng kịp thời nguồn kinh phí thực hiện chi trả lương, phụ cấp cho các cán bộ, công chức trực thuộc và thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm khác trên địa bàn Các khoản chi đầu tư phát triển nhìn chung
đã được các xã thực hiện theo đúng trình tự đầu tư XDCB, hồ sơ chi đầu tư XDCB được đảm bảo, các khoản chi được thực hiện theo đúng nội dung, đúng mục đích Thủ tục thanh toán được tiến hành qua hệ thống KBNN huyện
- Công tác tổ chức kế toán đối với NSX của huyện Thanh Ba được triển khai thực hiện theo đúng chế độ kêt toán ngân sách và tài chính xã hiện hành Việc hạch toán, kế toán các nghiệp vụ phát sinh được thực hiện trên phần mềm kế toán, đảm
Trang 40bảo độ chính xác cao, cung cấp thông tin cho người quản lý đầy đủ, kịp thời, giảm thiểu khối lượng công việc cho người làm kế toán
- Công tác kiểm tra, giám sát tình hình chấp hành dự toán thu, chi ngân sách ngày càng được tăng cường, UBND xã nắm bắt và quản lý toàn diện được các hoạt động về tài chính, ngân sách xã để từ đó có những điều chỉnh trong quản lý NS Đối với HĐND các xã về cơ bản đã làm tốt vai trò giám sát, quyết sách của mình
- Trình độ đội ngũ Trưởng Ban Tài chính và công chức làm kế toán ngân sách xã luôn được tăng cường, củng cố về mặt chuyên môn, nghiệp vụ trong thời gian qua đáp ứng kịp thời yêu cầu ngày càng cao trong công tác quản lý ngân sách Tăng cường tập huấn, sử dụng thành thạo chương trình phần mềm kế toán được trang bị, chưa biết hạch toán đối với các nghiệp vụ kế toán phát sinh, đặc biệt là các nghiệp vụ liên quan đến công tác hạch toán chi xây dựng cơ bản, hạch toán các khoản chi, thanh toán trong thời gian chỉnh lý quyết toán, chi chuyển nguồn, kết chuyển để xác định
1.6.3 Bài học rút ra cho huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu
Huyện Tân Uyên tỉnh Lai Châu đã luôn quan tâm công tác quản lý Ngân sách Nhà nước, mà đặc biệt là Ngân sách cấp xã với xu hướng phân cấp ngày càng nhiều
về quản lý kinh tế - xã hội đi đôi với phấn cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi cho chính quyền cấp cơ sở Ngân sách xã ngày càng lớn mạnh và phát huy vai trò quan trọng trong việc tập trung nguồn tài lực đảm bảo duy trì sự tồn tại, cũng như mọi hoạt động của bộ máy cấp xã, huyện, đồng thời là công cụ thiết yếu giúp các nhà quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế Trong điều kiện hiện nay, công tác quản lý Ngân sách xã trên địa bàn huyện Tân Uyên vẫn còn những bất cập nhất định cả về cơ chế quản lý và tổ chức thực hiện cần được nghiên cứu, học tập kinh nghiệm, tìm kiếm những giải pháp hoàn thiện để đáp ứng được sự phát triển lớn mạnh của nền kinh tế cấp xã, huyện trên địa bàn tỉnh cả về chiều rộng lẫn chiều sâu trong thời gian tới Một số kinh nghiệm có thể học tập được từ huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên và huyện tỉnh Thanh Ba tỉnh Phú Thọ như sau:
- Đặc biệt quan tâm công tác quản lý điều hành ngân sách, luôn đặt ra mục tiêu phấn đấu vượt kế hoạch thu ngân sách xã phải có sự phối kết hợp điều hành giữa Đảng uỷ, Hội đồng nhân dân và chính quyền xã Hơn thế nữa quản lý các xã có