1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Nghiên cứu sự lưu hành virus gây bệnh tai xanh ở lợn, ứng dụng kỹ thuật GPS và GIS xây dựng bản đồ dịch tễ, đề xuất biện pháp phòng chống bệnh tai xanh cho lợn tại tỉnh Tuyên Quang (LV thạc sĩ)

97 405 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 3,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu sự lưu hành virus gây bệnh tai xanh ở lợn, ứng dụng kỹ thuật GPS và GIS xây dựng bản đồ dịch tễ, đề xuất biện pháp phòng chống bệnh tai xanh cho lợn tại tỉnh Tuyên Quang (LV thạc sĩ)Nghiên cứu sự lưu hành virus gây bệnh tai xanh ở lợn, ứng dụng kỹ thuật GPS và GIS xây dựng bản đồ dịch tễ, đề xuất biện pháp phòng chống bệnh tai xanh cho lợn tại tỉnh Tuyên Quang (LV thạc sĩ)Nghiên cứu sự lưu hành virus gây bệnh tai xanh ở lợn, ứng dụng kỹ thuật GPS và GIS xây dựng bản đồ dịch tễ, đề xuất biện pháp phòng chống bệnh tai xanh cho lợn tại tỉnh Tuyên Quang (LV thạc sĩ)Nghiên cứu sự lưu hành virus gây bệnh tai xanh ở lợn, ứng dụng kỹ thuật GPS và GIS xây dựng bản đồ dịch tễ, đề xuất biện pháp phòng chống bệnh tai xanh cho lợn tại tỉnh Tuyên Quang (LV thạc sĩ)Nghiên cứu sự lưu hành virus gây bệnh tai xanh ở lợn, ứng dụng kỹ thuật GPS và GIS xây dựng bản đồ dịch tễ, đề xuất biện pháp phòng chống bệnh tai xanh cho lợn tại tỉnh Tuyên Quang (LV thạc sĩ)Nghiên cứu sự lưu hành virus gây bệnh tai xanh ở lợn, ứng dụng kỹ thuật GPS và GIS xây dựng bản đồ dịch tễ, đề xuất biện pháp phòng chống bệnh tai xanh cho lợn tại tỉnh Tuyên Quang (LV thạc sĩ)Nghiên cứu sự lưu hành virus gây bệnh tai xanh ở lợn, ứng dụng kỹ thuật GPS và GIS xây dựng bản đồ dịch tễ, đề xuất biện pháp phòng chống bệnh tai xanh cho lợn tại tỉnh Tuyên Quang (LV thạc sĩ)Nghiên cứu sự lưu hành virus gây bệnh tai xanh ở lợn, ứng dụng kỹ thuật GPS và GIS xây dựng bản đồ dịch tễ, đề xuất biện pháp phòng chống bệnh tai xanh cho lợn tại tỉnh Tuyên Quang (LV thạc sĩ)Nghiên cứu sự lưu hành virus gây bệnh tai xanh ở lợn, ứng dụng kỹ thuật GPS và GIS xây dựng bản đồ dịch tễ, đề xuất biện pháp phòng chống bệnh tai xanh cho lợn tại tỉnh Tuyên Quang (LV thạc sĩ)Nghiên cứu sự lưu hành virus gây bệnh tai xanh ở lợn, ứng dụng kỹ thuật GPS và GIS xây dựng bản đồ dịch tễ, đề xuất biện pháp phòng chống bệnh tai xanh cho lợn tại tỉnh Tuyên Quang (LV thạc sĩ)

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN THỊ HỒNG VÂN

NGHIÊN CỨU SỰ LƯU HÀNH VIRUS GÂY BỆNH TAI XANH Ở LỢN, ỨNG DỤNG KỸ THUẬT GPS VÀ GIS XÂY DỰNG BẢN ĐỒ DỊCH TỄ, ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG BỆNH TAI XANH CHO LỢN

LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y

Thái nguyên 2016

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN THỊ HỒNG VÂN

NGHIÊN CỨU SỰ LƯU HÀNH VIRUS GÂY BỆNH TAI XANH Ở LỢN, ỨNG DỤNG KỸ THUẬT GPS VÀ GIS XÂY DỰNG BẢN ĐỒ DỊCH TỄ, ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG BỆNH TAI XANH CHO LỢN

TẠI TUYÊN QUANG

Ngành: Thú y

Mã số: 60.64.01.01 LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN VĂN QUANG

Thái Nguyên - 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng:

- Đề tài luận văn được thực hiện bằng kinh phí của đề tài cấp tỉnh: “Nghiên cứu

sự lưu hành virus gây bệnh tai xanh ở lợn, ứng dụng kỹ thuật GPS và GIS xây dựng bản đồ dịch tễ, đề xuất biện pháp phòng chống bệnh tai xanh cho lợn tại tỉnh Tuyên Quang” do TS Nguyễn Văn Quang làm chủ nhiệm

- Các kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực, khách quan và chưa được sử dụng để bảo vệ bất kỳ một học vị nào

- Mọi sự giúp đỡ trong quá trình nghiên cứu, triển khai thí nghiệm và viết luận văn đã được cảm ơn Tất cả các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2016

TÁC GIẢ

Nguyễn Thị Hồng Vân

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian nghiên cứu, để hoàn thành luận văn của mình, tôi đã nhận được sự chỉ bảo tận tình của thầy cô giáo hướng dẫn, sự giúp đỡ của Trường Đại học Nông Lâm, khoa Chăn nuôi Thú y, Chi cục Thú y tỉnh Tuyên Quang và Bộ môn Vi trùng, Virus, Viện Thú y Quốc gia Tôi cũng nhận được sự cộng tác nhiệt tình của bạn

bè, sự giúp đỡ, cổ vũ động viên của người thân trong gia đình

Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo TS Nguyễn Văn Quang và cô giáo GS.TS Nguyễn Thị Kim Lan đã rất tận tình và trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện thành công đề tài và hoàn thiện luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm, khoa Chăn nuôi Thú y cùng các thầy cô đã tạo điều kiện thuận lợi và cho phép tôi thực hiện

Tôi xin chân thành cảm ơn !

Thái nguyên, ngày tháng năm 2016

Học viên

Nguyễn Thị Hồng Vân

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Ý nghĩa của đề tài 2

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản (PRRS) ở lợn 3

1.1.1 Một số đặc điểm của virus PRRS 3

1.1.2 Dịch tễ học PRRS 9

1.1.3 Triệu chứng 10

1.1.4 Bệnh tích 11

1.1.5 Chẩn đoán 13

1.2 Vai trò của vi khuẩn A pleuropneumoniae, Pastaurella multocida và Streptoccus sui trong hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn 15

1.2.1 Vi khuẩn A pleuropneumoniae và bệnh viêm phổi - màng phổi ở lợn 15

1.2.2 Vi khuẩn P multocida và bệnh viêm phổi ở lợn do P multocida gây ra 17

1.2.3 Vi khuẩn S suis và bệnh viêm phổi ở lợn do vi khuẩn S suis gây ra 21

1.3 Những nghiên cứu về PRRS 24

1.3.1 Những nghiên cứu về PRRS trên thế giới 24

1.3.2 Những nghiên cứu về PRRS trong nước 26

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29

2.1 Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu 29

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 29

2.1.2 Thời gian nghiên cứu 29

2.1.3 Địa điểm nghiên cứu 29

2.2 Vật liệu nghiên cứu 29

2.2.1 Động vật thí nghiệm 29

2.2.2 Mẫu bệnh phẩm 29

2.2.3 Các loại hoá chất, môi trường và nguyên vật liệu khác 29

Trang 6

2.2.4 Máy móc thiết bị 30

2.3 Nội dung nghiên cứu 30

2.3.1 Nghiên cứu sự lưu hành virus gây bệnh tai xanh ở lợn tại 4 huyện, thành của tỉnh Tuyên Quang (TP Tuyên Quang, huyện Sơn Dương, huyện Yên Sơn và huyện Chiêm Hóa) 30

2.3.2 Ứng dụng kỹ thuật GPS và GIS xây dựng bản đồ dịch tễ sự lưu hành virus PRRS ở tỉnh Tuyên Quang 30

2.3.3 Nghiên cứu và đề xuất một số biện pháp phòng chống bệnh tai xanh cho lợn trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang 31

2.4 Phương pháp nghiên cứu 31

2.4.1 Phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng 31

2.4.2 Phương pháp xây dựng bản đồ dịch tễ 38

2.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 38

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 39

3.1 Nghiên cứu sự lưu hành virus gây bệnh tai xanh ở lợn tại 4 huyện, thành phố của tỉnh Tuyên Quang 39

3.1.1 Xác định sự lưu hành virus gây bệnh tai xanh ở lợn tại 4 huyện, thành phố của tỉnh Tuyên Quang 39

3.1.2 Xác định sự lưu hành virus gây bệnh Tai xanh ở lợn theo lứa tuổi 40

3.1.3 Xác định sự lưu hành virus gây bệnh tai xanh theo mùa vụ 42

3.2 Ứng dụng kỹ thuật GPS và GIS xây dựng bản đồ dịch tễ sự lưu hành virus PRRS ở tỉnh Tuyên Quang 43

3.3 Nghiên cứu và đề xuất biện pháp phòng chống hiệu quả bệnh tai xanh trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang 45

3.3.1 Phân lập một số vi khuẩn thường gây viêm phổi kế phát trong bệnh tai xanh (vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida và S suis) ở phổi và cuống họng của lợn nuôi tại Tuyên Quang 45

3.3.2 Xác định một số đặc tính sinh vật, hóa học của các chủng vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida và S suis phân lập được 53

Trang 7

3.3.3 Kết quả xác định serotype của các chủng vi khuẩn A pleuropneumoniae, P

multocida và S suis phân lập được 58

3.3.4 Kết quả xác định độc lực các chủng vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida và S suis phân lập được 62

3.3.4 Kết quả xác định khả năng mẫn cảm với kháng sinh của các chủng vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida và S suis phân lập được 66

3.3.5 Kết quả sử dụng phác đồ cho lợn mắc bệnh viêm phổi tại Tuyên Quang 71

3.3.6 Đề xuất các biện pháp phòng bệnh tai xanh cho lợn tại Tuyên Quang 73

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 74

1 Kết luận 74

2 Đề nghị 75

TÀI LIỆU THAM KHẢO 76

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ADN: Acid Deoxyribonucleic

A pleuropneumoniae: Actinobaccillus pleuroneumoniae

CAMP: Chiristie - Atkinson - Munch - Peterson

CFU: Colony Forming Unit

CPS: Capsule polysaccharide

Cs: Cộng sự

DNT: Dermanecrotic toxin

ELISA: Enzyme - linked Immuno sorbant assay

NAD: Nicotinamide Adenine Dinucleotide

OMPs: Outer membrane proteins

PCR: Polymerase Chain Reaction

P multocida: Pasteurella multocida

PRRS: Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome PRRSV: Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome Virus

Sta aureus: Staphylococcus aureus

S suis: Streptococcus suis

TSA: Tryptic Soya Agar

TSB: Tryptone soya broth

VK: Vi khuẩn

VP: Voges Prokauer

YE: Yeast Extract

GPS: Global Poritioning System

GIS: Geographic Information System

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Đánh giá mức độ mẫn cảm của vi khuẩn với một số loại kháng sinh 37

Bảng 3.1 Xác định sự lưu hành virus gây bệnh tai xanh ở tại 4 huyện, thành của tỉnh Tuyên Quang 39

Bảng 3.2 Xác định sự lưu hành virus gây bệnh tai xanh ở lợn theo lứa tuổi 41

Bảng 3.3 Sự lưu hành virus gây bệnh tai xanh theo mùa vụ 42

Bảng 3.4 Kết quả phân lập vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida và S suis ở mẫu bệnh phẩm lợn thu thập tại Tuyên Quang 46

Bảng 3.5 Kết quả phân lập vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida 48

Bảng 3.6 Kết quả phân lập vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida 51

Bảng 3.7 Kết quả xác định một số đặc tính sinh vật, hóa học của chủng vi khuẩn A pleuroneumoniae phân lập được 53

Bảng 3.8 Kết quả xác định một số đặc tính sinh vật, hóa học của các chủng vi khuẩn P multocida phân lập được 55

Bảng 3.9 Kết quả xác định một số đặc tính sinh vật, hóa học của các chủng vi khuẩn S suis phân lập được 57

Bảng 3.10 Kết quả xác định serotype của các chủng vi khuẩn 58

A pleuropneumoniae phân lập được 58

Bảng 3.11 Kết quả xác định serotype của các chủng vi khuẩn 59

Bảng 3.12 Kết quả xác định serotype của các chủng vi khuẩn 61

Bảng 3.13 Kết quả kiểm tra độc lực của các chủng vi khuẩn A pleuropneumoniae phân lập được 62

Bảng 3.14 Kết quả kiểm tra độc lực của các chủng vi khuẩn P multocida 64

phân lập được 64

Bảng 3.15 Kết quả kiểm tra độc lực của các chủng vi khuẩn S suis phân lập được 65

Bảng 3.16 Kết quả xác định mức độ mẫn cảm với một số kháng sinh của các chủng vi khuẩn A pleuropneumoniae phân lập được 67

Bảng 3.17 Kết quả xác định mức độ mẫn cảm với một số kháng sinh của các chủng vi khuẩn P multocida phân lập được 69

Bảng 3.18 Kết quả xác định mức độ mẫn cảm với một số kháng sinh của các chủng vi khuẩn S suis phân lập được 70

Bảng 3.19 Kết quả thử nghiệm một số phác đồ điều trị lợn nghi mắc viêm phổi 72

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1: Sơ đồ cơ chế sinh bệnh của virus PRRS 9

Hình 2.1: Các bước xây dựng bản đồ dịch tễ 38

Hình 3.1: Biểu đồ sự lưu hành virus gây bệnh tai xanh ở lợn tại 4 huyện, thành của tỉnh Tuyên Quang 39

Hình 3.2: Biểu đồ sự lưu hành virus gây bệnh tai xanh tại Tuyên Quang theo lứa tuổi 41

Hình 3.3: Biểu đồ sự lưu hành virus gây bệnh tai xanh tại Tuyên Quang theo mùa vụ 42

Hình 3.4: Bản đồ dịch tễ sự lưu hành virus gây bệnh tai xanh tại PRRS tại Tuyên Quang 44

Hình 3.5 Biểu đồ tỷ lệ vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida và S suis 47

Hình 3.6 Biểu đồ tỷ lệ phân lập vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida 49

Hình 3.7: Biểu đồ tỷ lệ phân lập vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida và S suis ở mẫu bệnh phẩm lợn dương tính và âm tính với PRRS 52

Hình 3.8 Biểu đồ serotype của các chủng vi khuẩn P multocida phân lập được 59

Hình 3.9 Biểu đồ serotype của các chủng vi khuẩn P multocida phân lập được 60

Hình 3.10 Biểu đồ tỷ lệ serotype của các chủng vi khuẩn S suis phân lập được 61

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế, nền nông nghiệp Việt Nam nói chung và ngành chăn nuôi nói riêng có nhiều chuyển biến để theo kịp với những nước có nền chăn nuôi phát triển trong khu vực và trên thế giới Những năm gần đây, ngành chăn nuôi đã có những bước phát triển vượt bậc về chất lượng con giống, chất lượng thịt và năng xuất chăn nuôi Song song với sự phát triển đó thì dịch bệnh trên gia súc ngày càng phức tạp và là vấn đề nóng mà các nhà khoa học, cán bộ thú y và người chăn nuôi quan tâm Một trong những bệnh có khả năng lây lan nhanh và gây thiệt hại nhiều cho chăn nuôi lợn là hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn (Porcine Reproductive and Respiratory Sydrome - PRRS) hay bệnh tai xanh ở lợn Bệnh làm ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh sản ở lợn nái, gây sảy thai hoặc đẻ non, lợn con

sơ sinh yếu, chết thai, thở khó, đôi khi có triệu chứng thần kinh, tỷ lệ chết cao, lợn thịt giảm ăn, sút cân, lợn đực chất lượng tinh giảm… Từ năm 2007 - 2013, bệnh đã bùng phát mạnh ở nhiều tỉnh, thành trong cả nước Lần đầu tiên dịch lợn Tai xanh bùng phát

ở Hải Dương vào ngày 12/3/2007, sau đó dịch lây lan nhanh và rộng khắp các tỉnh miền Bắc Các năm tiếp theo dịch PRRS tiếp tục bùng phát ở hầu hết các tỉnh, thành trong cả nước, trong đó có các tỉnh ven đồng bằng sông Hồng Tuyên Quang là tỉnh miền núi có nghề chăn nuôi lợn khá phát triển Tính đến tháng 4/2015, tỉnh Tuyên Quang có tổng số 529 nghìn con lợn Mặc dù tỉnh Tuyên Quang chưa có dịch bệnh tai xanh xảy ra, song ở các tỉnh lân cận đã có dịch, vì vậy lợn nuôi tại Tuyên Quang vẫn

có nguy cơ nhiễm virus PRRS

Điều nguy hiểm là khi dịch PRRS bùng phát và lây lan thì lợn dễ mắc bệnh và chết do viêm phổi kế phát Nhiều tác giả đã nghiên cứu và cho thấy khi lợn mắc PRRS

thường gặp các loại vi khuẩn gây bệnh kế phát trong đường hô hấp như Actinobacillus

pleuropneumoniae, Pasteurella multocida, Streptococcus suis làm cho bệnh trầm trọng

với tình trạng bệnh lý nặng, và tỷ lệ lợn chết cao (Nguyễn Hữu Nam và Nguyễn Thị

Lan, 2007 [22]; Bùi Quang Anh và cs, 2008 [2]; Cù Hữu Phú, 2011 [30])

Những vấn đề trên cho thấy, việc nghiên cứu để có biện pháp giám sát, phòng chống hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn là việc làm rất cần thiết Xuất phát

Trang 12

từ yêu cầu của thực tiễn chăn nuôi lợn ở tỉnh Tuyên Quang, chúng tôi thực hiện đề tài

“Nghiên cứu sự lưu hành virus gây bệnh tai xanh ở lợn, ứng dụng kỹ thuật GPS và

GIS xây dựng bản đồ dịch tễ, đề xuất biện pháp phòng chống bệnh tai xanh cho lợn tại tỉnh Tuyên Quang”

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Xác định sự lưu hành virus gây bệnh tai xanh ở lợn tại tỉnh Tuyên Quang

- Ứng dụng kỹ thuật GPS và GIS xây dựng bản đồ dịch tễ bệnh tai xanh

- Xác định biện pháp phòng chống bệnh tai xanh cho lợn

3 Ý nghĩa của đề tài

* Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu của đề tài là những thông tin khoa học

về sự lưu hành virus gây bệnh tai xanh ở lợn tại tỉnh Tuyên Quang, biện pháp phòng chống bệnh có hiệu quả

* Ý nghĩa thực tiễn: Từ kết quả nghiên cứu, đề tài có những khuyến cáo có ý

nghĩa cho những hộ chăn nuôi lợn trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang và các địa phương khác về biện pháp phòng chống dịch bệnh tai xanh cho lợn

Trang 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản (PRRS) ở lợn

Trong những năm gần đây, một trong những bệnh được nhắc đến nhiều là bệnh tai xanh - hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn (Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome - PRRS) Bệnh xuất hiện lần đầu tiên ở Bắc Mỹ vào đầu những năm 1980, sau đó bệnh xuất hiện ở Châu Âu, Châu Á Bệnh được xác định là do một loại virus thuộc họ Arteriviridae, có khả năng xâm nhiễm vào đại thực bào và mô bào (Bùi Quang Anh và Nguyễn Văn Long (2007) [2] Thông thường thì đại thực bào sẽ tiêu diệt tất cả vi khuẩn, virus khi chúng xâm nhập vào cơ thể Song virus PRRS có khả năng nhân lên trong đại thực bào, sau đó phá huỷ và giết chết đại thực bào (tới 40%) Đại thực bào bị giết sẽ làm giảm chức năng của hệ thống bảo vệ cơ thể và làm tăng nguy cơ bị nhiễm các bệnh kế phát Điều này có thể thấy rõ ở những đàn lợn vỗ béo hoặc chuẩn bị giết thịt, ở chúng có sự tăng đột biến về tỷ lệ viêm phổi, gây nhiều thiệt hại cho người chăn nuôi Khi mắc PRRS lợn nái thường có biểu hiện sốt, kém ăn, thở khó, sảy thai Bệnh ở lợn nái chửa kỳ cuối làm tăng số lượng con chết khi đẻ hoặc vẹo chân, yếu và tử vong ở lợn con Ở lợn nuôi thịt, triệu chứng hô hấp thường nặng, thường kết hợp với các bệnh khác (Thành Thuận, 2002) [39] Khi có ổ dịch cấp tính xảy ra, tổng đàn bị giảm 5 - 20%, lợn nái đẻ giảm từ 1 - 3,8 lợn con/nái/năm, thiệt hại khoảng 100 - 155 USD/nái/năm (Hoàng Văn Năm, 2002) [25] Thể mãn tính của PRRS làm cho lợn thịt chậm lớn, tăng chi phí thuốc để điều trị các bệnh kế phát

1.1.1 Một số đặc điểm của virus PRRS

1.1.1.1 Hình thái và cấu trúc của virus PRRS

Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn do virus thuộc họ Arteriviridae, giống Nidovirales Virus PRRS có cấu trúc ARN mạch đơn, có đường kính 40 - 70

nm, có vỏ bọc, kích thước genome dài 14,5 kb mã hoá cho việc tái tạo virus (Jeong-Ki Kim và cs, 2005) [57] Chuỗi hệ gen đầy đủ của virus PRRS được xác lập vào năm

1993, nó có kích thước khoảng 15,1 đến 15,5 kb và chứa ít nhất 8 khoang đọc mở (ORFs) để mã hóa 20 protein đã định sẵn của virus Tuy nhiên chỉ có 3 khung ORFs

Trang 14

có ý nghĩa quan trọng trong định danh virus, đó là ORFs 7,6 và 5 quy định tổng hợp các protein tương ứng: nucleocapsid (N) 15-kDa, matrix (M) 19-kDa và glycoproteins envelope (protein GP5) 25-kDa Đây là những protein cấu trúc quan trọng nhất, chúng chiếm 90 - 95% lượng protein cấu trúc của virus (Kwang Soo Lyoo, 2015) [61]

Virus có 8 cấu trúc đọc mật mã (ORFs) đã được xác định chức năng Đó là: ORF 1a và 1b được báo trước để lập mã ARN polymerase bởi vì các yếu tố của chuỗi được bảo quản trong ARN polymerase như của các ARN virus tương tự ORF 2 đến 6 được báo trước để lập mã các protein kết hợp với màng của virus ORF 7 được báo trước để lập mã các protein vỏ nhân

Trong các tế bào bị nhiễm virus PRRS, virus sinh ra 6 mARN Tất cả 6 mARN chứa trình tự sắp xếp chung nhận được từ đầu 5' của hệ ARN trong gen và tất cả chúng đều có đuôi 3' polyA Muelenberg kết luận rằng dựa trên chuỗi nucleotit, tổ chức hệ gen, cách nhân lên của virus thì có thể xếp chúng vào nhóm virus động mạch (arterivirus) mới

Trong đó ORF1a và ORF1b nằm ở đầu 5 'của gen và mã hóa các protein với hoạt động enzyme nhân và polymerase NSP9 là một ARN phụ thuộc vào giả định ARN polymerase và đóng vai trò quan trọng trong sự sao chép virus ORFs 2-7 được đặt tại các 3' của bộ gen và mã hóa các protein cấu trúc ORF5 mã hóa các protein GP5, một protein thụ thể ràng buộc mà là một kháng nguyên phong bì glycoprotein chính GP5 là mục tiêu của các phản ứng miễn dịch tế bào và rất quan trọng đối với chức năng trung hòa virus như ORF7 mã hóa các protein nucleocapsid N nó quan trọng cho việc lắp ráp và tháo gỡ của các virion (Longlong Zheng và cs, 2015) [62]

Protein N là một protein nhân capsit nhỏ (15 kDa) và có tính kiềm cao, điều này

có thể giúp nó tương tác dễ dàng hơn với bộ gen ARN Protein N hiện diện ở mức độ cao trong những tế bào bị nhiễm virus PRRS và chiếm từ 20 - 40% lượng protein của phân tử virus Hiện nay protein N được dùng như là một kháng nguyên để phát hiện kháng thể trong huyết thanh của lợn

Protein M có trọng lượng phân tử khoảng 18 kDa Mặc dù chức năng của nó được biết rất ít nhưng nó được xem như có vai trò trong sự kết hợp với thụ thể trên tế bào đích,

vì protein M kết hợp GP5 tạo phức hợp M-GP5 để kết hợp với thụ thể trên tế bào đích

Kháng thể đơn dòng kháng protein N là chủ yếu, đồng thời cũng kháng

Trang 15

một số protein khác mà người ta chưa xác định được về mặt cấu trúc Những nghiên cứu của (Benfield, Nelson và cs 1999) [49] cho thấy các chủng virus Châu Âu tương tự nhau về cấu trúc kháng nguyên nhưng chúng có những sai khác nhất định so với chủng virus của Châu Mỹ Tương tự, dòng virus Châu Mỹ cũng có sự tương đồng nhau về cấu trúc kháng nguyên

Các virus PRRS gây bệnh hiện nay tại một số nước tại Châu Á và một số quốc gia ở Nam Mỹ, Úc, New Zealand, Thụy Điển và Thụy Sĩ đã được xác định là từ hai chủng virus trên

Về mặt di truyền, khi phân tích gene của các dòng virus PRRS gây bệnh khác nhau, người ta xác định được 2 dòng virus riêng biệt: dòng Châu Âu (Lelystad) và dòng Châu Mỹ (VR-2332), hai dòng virus này không những khác biệt về đặc tính gây bệnh mà khác nhau về mức độ nhất định về kiểu gene (Allende R và cs 1999) [47] Qua phân tích gene và theo dõi sự thay đổi trình tự Nucleotit của các dòng PRRS, người ta đã xác định rằng ở dòng Châu Mỹ, các ORFs 7 và 6 có tính ổn định rất cao, chúng gần như không thay đổi trong suốt quá trình tiến hoá của dòng virus này Tuy nhiên, sự khác biệt giữa dòng virus Châu Âu và Châu Mỹ ở 2 khung đọc mở này là rất

rõ, chẳng hạn sự tương đồng về trình tự axit amin của ORFs 7 giữa 2 dòng virus này chỉ vào khoảng 57 - 59% và của ORFs 6 là 70 - 8% Trong khi đó, khung đọc mở ORFs 5 lại biến đổi nhiều giữa các chủng trong cùng 1 dòng Châu Mỹ và chỉ tương đồng với dòng Châu Âu khoảng 51 - 59% Sự tương đồng về trình tự axit amin quy định do các khung đọc mở ORFs 2, 3 và 4 giữa các dòng Châu Mỹ và Châu Âu tương ứng chỉ ở từ 63,58% và 68% Phân tích trình tự cho thấy các virus đang tiến hoá do đột biến ngẫu nhiên và tái tổ hợp trong gen Sự khác biệt về kiểu gene đương nhiên sẽ liên quan đến sự khác biệt về kiểu hình và như vậy có thể dựa vào đặc điểm gene để chẩn đoán dòng virus và ngược lại

Nghiên cứu virus ở mức độ phân tử còn cho phép xác định được khả năng sản xuất và sử dụng virus nhược độc để làm vaccine Người ta đã ghi nhận nhiều trường hợp hội chứng PRRS trở nên trầm trọng hơn sau khi đàn lợn được tiêm vaccine virus PRRS nhược độc vì cấu trúc gene của virus nhược độc thay thế glycine bằng arginine

ở vị trí 151 của ORFs 5 sẽ hoàn nguyên rất nhanh bộ gene của chúng so với bộ gene của virus nguyên thuỷ ngay sau khi xâm nhập vào cơ thể vật chủ, và như thế độc lực

Trang 16

của chúng cũng được phục hồi (Thomas Blaha và cs 2005) [68]

Sự khác nhau về cấu trúc chuỗi nucleotide của virus thuộc hai chủng Châu Âu

và Bắc Mỹ là khoảng 40% (Han và cs, 2006) [55], do đó có ảnh hưởng đến đáp ứng miễn dịch bảo hộ chéo giữa 2 chủng này

Kết quả phân tích cấu trúc gien của virus PRRS gây bệnh tại Việt Nam cho thấy, virus PRRS tại Việt Nam thuộc chủng Bắc Mỹ Phân tích cấu trúc gen vùng NSP2 của virus này phát hiện hai sự thiếu hụt không liên tiếp về amino acid tại các vị trí 481 và từ 532 - 560 Tất cả các mẫu virus PRRS của Việt Nam đều có mức tương đồng đồng chủng cao so với virus PRRS chủng độc lực cao của Trung Quốc (99 - 99,7%) (Văn Đăng Kỳ, 2013) [20]

Khi phân tích các kiểu gen của virus PRRS tại Thái Lan và khu vực Đông Nam

Á, kết quả cho thấy cả hai loại I và II đều lưu hành ở lợn tại Thái Lan và kiểu gen II phổ biến hơn kiểu gen I Còn các nước trong khu vực Đông Nam Á chỉ có loại II Một phân tích của tất cả các HP-PRRSV trong khu vực Đông Nam Á cho thấy bốn nhánh riêng biệt - A (SX2009-like), B (09HEN1-like), JXA1-như và GXFCH08 giống - phản ánh bốn nhánh khác nhau của những loại virus này là ở Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam (Jantafong và cs 2015 [56])

Nhiều nghiên cứu của các tác giả trong nước từ năm 2009 đến nay đã nhận định PRRSV tại Việt Nam hiện nay được xác định thuộc chủng Bắc Mỹ dòng Trung Quốc (Nguyễn Văn Cảm và cs, 2011 [6]; Cao Văn Thật và cs, 2012 [36]; Lý Thị Liên Khai

và Võ Thị Cẩm Giàng, 2012 [19])

1.1.1.2 Sức đề kháng

Cũng giống như những virus khác, virus PRRS có khả năng tồn tại lâu ở môi trường có nhiệt độ thấp, đề kháng kém với nhiệt độ cao và các chất sát trùng thông thường, môi trường có pH axit

Theo Nguyễn Bá Hiên và cs (2013) [16], virus gây PRRS có thể tồn tại một năm ở nhiệt độ lạnh từ -20 đến -70oC; trong điều kiện 4oC virus có thể sống một tháng Với nhiệt độ cao, cũng như các virus khác, PRRS có sức đề kháng kém: 37oC chịu được 48 giờ, 56oC bị chết sau một giờ Với các chất sát trùng thông thường và môi trường có pH axit, virus dễ dàng bị tiêu diệt Dưới tác động trực tiếp của ánh nắng mặt

Trang 17

trời hoặc tia tử ngoại virus nhanh chóng bị tiêu diệt

1.1.1.3 Khả năng gây bệnh của virus

Người và các động vật khác không mắc PRRS, tuy nhiên trong các loài thuỷ cầm có vịt trời (Mallard duck) là mẫn cảm Virus có thể nhân lên ở loài động vật này

và đây chính là nguồn reo rắc mầm bệnh trên diện rộng nên rất khó khống chế (Albina

và cs, 1994) [46] Virus gây bệnh cho lợn ở tất cả các lứa tuổi, nhưng lợn con và lợn nái mang thai thường mẫn cảm hơn cả Lợn rừng là động vật mang trùng và có thể coi

là nguồn dịch thiên nhiên (Tô Long Thành, 2007) [35]

Về độc lực, người ta thấy virus PRRS tồn tại dưới 2 dạng, đó là dạng cổ điển và dạng biến thể độc lực cao Dạng cổ điển có độc lực thấp, ở dạng này khi lợn mắc bệnh thì tỷ lệ chết thấp, chỉ từ 1 - 5% trong tổng đàn Dạng biến thể độc lực cao gây nhiễm bệnh cho lợn, lây lan nhanh, trầm trọng và chết nhiều (Kegong Tian, Yu, 2007) [58]

1.1.1.4 Đặc điểm nuôi cấy

Trong phòng thí nghiệm PRRS là virus có tính hướng tế bào cao cả ở invivo và invitro PRRS ưu tiên gây nhiễm vào dòng tế bào đại thực bào, đặc biệt là đại thực bào phế nang (PAM) của lợn Bình thường đại thực bào sẽ tiêu diệt tất cả vi khuẩn, virus xâm nhập vào cơ thể Riêng đối với virus PRRS, virus có thể nhân lên trong đại thực bào, sau đó phá huỷ và giết chết đại thực bào (tới 40%)

Các dòng tế bào thường được chọn để nuôi cấy PRRS là dòng tế bào MA-104; MARC-145; tế bào PAM hoặc dòng tế bào BHK-21 và CRFK,

1.1.1.5 Cơ chế sinh bệnh

Sau khi xâm nhập vào cơ thể, virus nhân lên trong đại thực bào ở tiểu phế nang

và trong tế bào nội mô của hệ thống lưới võng nội Tế bào biểu mô đường hô hấp trên cũng là nơi thích hợp cho sự nhân lên của virus PRRS Quá trình virus nhân lên và phá hủy đại thực bào gây ra bệnh tích ở thành mạch, làm thủy thũng tế bào nội mô của tĩnh mạch, giảm hàm lượng protein huyết tương đến các mô và tạo các cục huyết khối gây nhiều hậu quả bệnh lý khác nhau Những biểu hiện khác nhau của bệnh tuỳ thuộc vào khả năng nhân lên hay phá hủy, tiểu phế nang, tế bào nội mô và tế bào lympho (Trần Thanh Phong, 1996) [28]

Khi virus xâm nhập vào cơ thể làm suy giảm miễn dịch, mở đường cho những

Trang 18

vi sinh vật cơ hội như: Pasteurella multocida, Haemophilus parasuis, Streptococcus

suis, A pleuropneumoniae, Chlamydia psittaci, Leptospira interrogans, virus giả dại

virus cúm, Enterovirus, Parvovirus,…

Xác định một số vi khuẩn kế phát gây chết lợn trong vùng dịch PRRS ở huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên năm 2010 cho thấy lợn mắc PRRS thường kế phát bệnh do

các nhóm vi khuẩn đường hô hấp, đường ruột như A pleuropneumoniae, P multocida,

S suis, Escherichia coli, Salmonella sp, Clostridium perfringens Kết quả phân lập

được vi khuẩn A pleuropneumoniae với tỷ lệ cao nhất 63,33% và thấp nhất là P

multocida 10% Các tác giả nhận định các nhóm vi khuẩn kế phát trên đã làm cho dịch

PRRS trầm trọng và phức tạp hơn Tiêu Quang An và Nguyễn Hữu Nam (2011) [1]

Trên nái mang thai, virus ở dạng tự do hay kết hợp với các tế bào bạch cầu, tế bào đơn nhân trong dòng máu để đến cơ quan sinh sản Cảm nhiễm có thể xảy ra ở bất

cứ giai đoạn nào của quá trình mang thai nhưng biểu hiện lâm sàng phụ thuộc phần lớn vào giai đoạn nhiễm trùng của bào thai và độc lực của chủng virus gây bệnh Nhiễm trùng ở giai đoạn đầu và giai đoạn giữa của kỳ mang thai không có hay chỉ có tác động nhẹ so với cảm nhiễm ở giai đoạn sau Cảm nhiễm xảy ra trong thời kỳ phôi thường có mức độ biểu hiện bệnh rất thấp vì tế bào phôi chưa biệt hoá, không thích hợp cho sự nhân lên của virus Trong khi ở giai đoạn sau của kỳ có mang, nhau thai và mạch máu nuôi thai rất phát triển, nhau thai trở thành bộ phận trao đổi chất cần thiết, đồng thời là cầu nối truyền virus và kháng thể chống virus từ mẹ sang thai

Nhiễm trùng giai đoạn này tạo ra nhiều vết bong tróc nhỏ trên tế bào biểu mô nhau thai và bệnh tích hoại tử động mạch cuống rốn, từ đó làm cho bào thai bị thiếu dưỡng chất, thiếu O2, gây sảy thai kỳ cuối, lợn con sinh ra yếu ớt, dị tật và tăng tỷ lệ thai chết khi sinh

Nhiễm bệnh dai dẳng cũng là một đặc trưng của Arterivirus, sự tồn tại dai dẳng gây ra nhiễm

bệnh âm ỉ, virus hiện diện ở mức độ thấp trong cơ thể thú và giảm dần theo thời gian Theo Allende và cs (2000) [48] vào ngày 150 sau gây nhiễm thực nghiệm không phân lập được virus bằng nuôi cấy tế bào và không phát hiện được ARN của virus bằng phương pháp RT - PCR

Đối với bào thai virus được truyền từ mẹ sang tuyến ức của bào thai và trong huyết thanh của bào thai gây đột biến điểm trong chuỗi ORF5 của lợn mẹ và bào thai Ladinig A và

cs (2014) [62]

Trang 19

Hình 1.1: Sơ đồ cơ chế sinh bệnh của virus PRRS 1.1.2 Dịch tễ học PRRS

1.1.2.1 Loài mắc bệnh

Trong tự nhiên loài lợn ở mọi lứa tuổi, cả lợn nhà lẫn lợn rừng được cho là loài mắc bệnh duy nhất, bệnh không lây lan sang người.Tuy nhiên,vịt trời bài thải virus qua phân khi gây nhiễm thực nghiệm với virus PRRS bằng nước uống, chứng tỏ vịt trời cũng mẫn cảm với virus PRRS (theo Ausvetplan, 2004) [48]

1.1.2.2 Phương thức lây lan

* Lây lan trực tiếp:

Việc tiếp xúc trực tiếp giữa lợn bệnh và lợn khỏe bằng con đường hô hấp trên, qua giao phối hoặc truyền qua bào thai là con đường truyền lây phổ biến Ở lợn mẹ mắc bệnh hoặc mang trùng, virus sẽ được truyền cho lợn con qua tử cung, cũng từ lợn

mẹ virus có thể lây nhiễm cho bào thai ở giai đoạn giữa thai kỳ trở đi và virus được bài thải qua nước bọt và sữa

Lợn lớn bài thải virus trong vòng 14 ngày trong khi đó lợn con và lợn choai có thể bài thải virus trong 1 - 2 tháng có khi đến 157 ngày (Theo Jeong - Ki Kim, 2005) [57]

* Lây lan gián tiếp:

Trang 20

Lợn có thể mắc bệnh qua chất bài tiết như dịch mũi, phân hoặc qua không khí (có thể đi xa 3 km) ở môi trường xung quanh một cách hiệu quả đặc biệt khi ẩm độ cao, nhiệt độ thấp và tốc độ gió mạnh (Thomas Blaha và cs 2005) [68]

Ngoài việc vận chuyển lợn bệnh vào đàn cảm nhiễm và lây lan qua không khí thì ít có bằng chứng nói về cách truyền lây khác Tuy nhiên, người ta còn thấy việc lây lan trong đàn giống còn theo con đường truyền tinh dịch (thụ tinh nhân tạo) Ở những lợn đực giống nhiễm bệnh, tinh dịch có thể gây bệnh cho đàn chưa có miễn dịch với mức độ biểu hiện tuỳ thuộc vào kích cỡ đàn, mật độ nuôi và tình trạng vệ sinh Như vậy, lợn đực giống cũng là đối tượng truyền lây virus quan trọng trong đàn

1.1.3 Triệu chứng

* Những biểu hiện triệu chứng thường gặp trên lợn nái

Lợn nái ở giai đoạn mang thai:

Trong tháng đầu tiên khi bị nhiễm virus, lợn biếng ăn từ 7 - 14 ngày, sốt 39 -

40oC, sảy thai thường vào giai đoạn cuối thai kỳ, tai chuyển màu xanh trong khoảng thời gian ngắn, đẻ non, động đực giả (3 - 5 tuần sau khi thụ tinh), đình dục hoặc chậm động dục trở lại sau khi đẻ, ho và có dấu hiệu của viêm phổi

Lợn nái ở giai đoạn đẻ và nuôi con:

Bỏ ăn, lười uống nước, mất sữa và viêm vú (triệu chứng điển hình), đẻ sớm khoảng 2 - 3 ngày, da biến màu, lờ đờ hoặc hôn mê, thai gỗ lợn con chết ngay sau khi sinh (khoảng 30%), lợn con yếu, tai chuyển màu xanh và duy trì trong vài giờ, những trường hợp này được xem là cấp tính và kéo dài trong đàn tới 6 tuần, điển hình là đẻ non, tăng tỷ lệ thai chết hoặc yếu, tăng số thai gỗ, chết lưu trong giai đoạn 3 tuần cuối trước khi sinh, ở một vài đàn con số này có thể tới 30% tổng số lợn con sinh ra Tỷ lệ chết ở đàn con có thể tới 70% ở tuần thứ 3 - 4 sau khi xuất hiện triệu chứng

Các triệu chứng chủ yếu là tím âm hộ, sảy thai, thai chết lưu, thai gỗ hàng loạt,

đẻ non, lợn con đẻ ra yếu ớt, tỷ lệ tử vong cao Tỷ lệ thai chết tăng lên theo độ tuổi của thai như thai dưới 2,5 tháng tuổi tỷ lệ chết 20%, thai trên 2,5 tháng tỷ lệ chết là 93,75% (Phạm Ngọc Thạch, 2007) [33]

* Những biểu hiện triệu chứng thường gặp trên lợn con theo mẹ

Lợn con theo mẹ khi bị nhiễm bệnh thể trạng gầy yếu do không bú được, mắt

Trang 21

có dử màu nâu, trên da có vết phồng rộp, tiêu chảy nhiều, giảm số lợn con sống sót, tăng nguy cơ mắc các bệnh về hô hấp, chân choãi ra, đi run rẩy,

* Những biểu hiện triệu chứng thường gặp trên lợn sau cai sữa và lợn thịt

Lợn con cai sữa và lợn thịt triệu chứng rõ nhất là chán ăn, ho nhẹ, lông xác xơ, tuy nhiên, ở một số đàn có thể không có triệu chứng Ngoài ra, trong trường hợp ghép với bệnh khác có thể thấy viêm phổi cấp tính, thể trạng gầy yếu, da xanh, tiêu chảy, hắt hơi, chảy nước mắt, thở nhanh, tỷ lệ chết trong đàn mắc có thể tới 15% (Phạm Sỹ Lăng, Phan Đăng Kỳ, 2007) [21]

Theo Dietze và cs (2011) [51] khi lợn con bị nhiễm PRRS biểu hiện như bệnh

đường hô hấp và thường kế phát nhiễm trùng thứ phát với các vi khuẩn Pasteurella

multocida, Porcine Circovirus type 2 (PCV2), Mycoplasma hyopneumonia, Streptococcus suis, Cholerasuis Salmonella, làm cho tỷ lệ tử vong cao từ 30 - 50%

* Những biểu hiện triệu chứng thường gặp trên lợn đực giống:

Lợn đực giống biểu hiện sốt cao, bỏ ăn, đờ đẫn hoặc hôn mê, một số con có hiện tượng tai xanh Triệu chứng chủ yếu là viêm dịch hoàn, bìu dái thấy nóng đỏ, (chiếm 95%), dịch hoàn có biểu hiện sưng đau, lệch vị trí (85%), giảm tính hưng phấn trong hoạt động giao phối (Lê Văn Năm, 2007 [25]) Lượng tinh dịch thường ít, chất lượng tinh dịch kém, thể hiện: nồng độ tinh trùng (C) thường dưới 8 x 106; hoạt lực của tinh trùng (A) dưới 0,6; sức kháng của tinh trùng (R) dưới 3000; tỷ lệ tinh trùng kỳ hình (K) tăng trên 10%; tỷ lệ sống của tinh trùng giảm xuống còn dưới 70% và độ nhiễm khuẩn tăng cao trên 2 x 103 Lợn đực giống rất lâu mới hồi phục được khả năng sinh sản (Nguyễn Văn Thanh, 2007 [34])

1.1.4 Bệnh tích

1.1.4.1 Bệnh tích đại thể

Mức độ bệnh tích đại thể của Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn phụ thuộc nhiều vào độc lực của virus và quá trình diễn biến của bệnh Bệnh tích đặc trưng của bệnh là viêm phổi hoại tử, các đám phổi bị đặc chắc ở các thuỳ phổi Thuỳ phổi bị bệnh thường có màu xám đỏ, có mủ và đặc chắc lại (nhục hoá) Trên bề mặt cắt ngang của đám phổi bệnh thường lồi ra và khô Nhiều trường hợp viêm phế quản phổi hoá

mủ ở mặt dưới của thuỳ đỉnh Về mặt tổ chức phôi thai học thường thấy dịch thẩm

Trang 22

xuất và hiện tượng thâm nhiễm, trong phế nang chứa đầy dịch viêm và đại thực bào, một số trường hợp hình thành tế bào khổng lồ nhiều nhân Một bệnh tích đặc trưng nữa là sự thâm nhiễm của tế bào phế nang loại II (pneumocyse) làm cho phế nang bị nhăn lại, thường bắt gặp đại thực bào bị phân huỷ trong phế nang (Nguyễn Hữu Nam

và Nguyễn Thị Lan, 2007 [24])

Viêm cơ tim rải rác, chủ yếu là bạch cầu đơn nhân tập trung quanh mạch máu

ngoại vi Lợn mắc PRRS bệnh tích thường thấy như thận xuất huyết lấm tấm như đầu

đinh ghim; não xung huyết; hạch hầu, amidan sưng hoặc sung huyết; gan sưng, tụ huyết; lách sưng, nhồi huyết; hạch màng treo ruột xuất huyết; loét van hồi manh tràng; phổi tụ huyết, xuất huyết, cuống phổi chứa đầy dịch nhớt, sầu bọt (Bùi Quang Anh và

cs, 2008 [2]) Theo Nguyễn Tiến Dũng (2011) [9], bệnh tích đặc trưng nhất là viêm phổi kẽ và viêm hạch lâm ba ở cả 2 dạng (PRRS dạng cổ điển và PRRS dạng sốt cao) Viêm phổi hoại tử và thâm nhiễm đặc trưng bởi những đám đặc chắc (nhục hóa) trên các thùy phổi Thùy phổi bị viêm có màu đỏ xám, có mủ và đặc chắc Trên mặt cắt ngang của thùy bị viêm lồi ra, khô Nhiều trường hợp lợn mắc bệnh bị viêm phế quản phổi hóa mủ ở mặt dưới thùy đỉnh

PRRS ảnh hưởng nghiêm trọng đến những lợn mắc bệnh và để lại nhiều bệnh tích trên các bộ phận như:

Da có thể xuất huyết, thâm tím do chảy máu trong mô, lách nhồi máu, hóa gỗ

và giãn nở tạo nhiều bọt khí

Thận có nhiều đốm máu, tim có nhiều dịch ở màng bao, gan hoại tử, chảy dịch màu trắng ngà Các mạch máu não mềm và mỏng, hạch não rỉ máu Hạch bạch huyết

có những đốm xuất huyết

1.1.4.2 Bệnh tích vi thể

Thường thấy dịch thẫm xuất và hiện tượng thâm nhiễm Trong phế nang chứa nhiều dịch viêm và đại thực bào, một số trường hợp hình thành tế bào khổng lồ nhiều nhân Thâm nhiễm của tế bào phế nang loại II (Pneumocyte) làm cho phế nang nhăn lại, thường bắt gặp đại thực bào bị phân huỷ trong phế nang đặc biệt là tiểu phế nang

Theo Nguyễn Tùng và cs (2012) [41] cho biết khi quan sát bệnh tích vi thể thấy hiện tượng viêm phổi kẽ tràn lan từ mức độ nhẹ đến nặng với các đặc trưng: thâm

Trang 23

nhiễm các quần thể tế bào đơn nhân, dịch thẩm xuất vào phế nang; biểu mô phế nang tăng sinh, hoại tử, xen kẽ hồng cầu Tại một số vùng phổi, tế bào biểu mô phế quản tận trương phồng hoặc hoại tử Đặc biệt nhiều vùng có hình ảnh các phế nang xẹp, không quan sát thấy khoảng trống

1.1.5 Chẩn đoán

1.1.5.1 Chẩn đoán lâm sàng

Theo Benfiled (1999) [49], khi trong đàn lợn có dấu hiệu rối loạn hô hấp trên các lứa tuổi, sinh sản bất ổn và năng suất đàn giảm hơn bình thường thì có thể nghi ngờ bệnh do virus PRRS và dẫn liệu của Hoàng Văn Năm (2001) [24] có cơ sở nghi ngờ bệnh khi: tỷ lệ chết lúc sinh >20%, tỷ lệ sảy thai >8%, tỷ lệ lợn con chết trước khi cai sữa >26%, tỷ lệ lợn con chết trong tuần đầu tiên vượt quá 25%

Tuy nhiên, để xác định đúng căn bệnh cần thực hiện các phương pháp chẩn đoán phi lâm sàng khác

1.1.5.2 Chẩn đoán huyết thanh học

* Phản ứng IPMA (Immuno peroxidase Monolayer Assay)

Đây là phản ứng đầu tiên được sử dụng để phát hiện kháng thể kháng virus PRRS được gọi là kỹ thuật miễn dịch peroxidase một lớp Kỹ thuật này có thể thực hiện trên các dòng tế bào PAM, CL2621, MARC-145 Tế bào sau khi nuôi cấy 24 giờ

sẽ được gây nhiễm với PRRS và được ủ ở 37oC trong 24 giờ Sauđó tế bào được gây nhiễm sẽ được cố định và tác dụng với huyết thanh mẫu, ủ khoảng 1 giờ ở 37oC và được cho tác dụng tiếp tục với kháng kháng thể lợn cộng hợp HRPO Nếu mẫu huyết thanh có chứa kháng thể kháng virus thì 30 - 50% tế bào sẽ có màu đỏ khi cho lớp tế bào tác dụng với dung dịch chromogetrong 30 phút Không có sự thay đổi màu của tế bào khi kết quả là âm tính IPMA được sử dụng nhiều ở châu âu Trong chẩn đoán phát hiện thú nhiễm sớm, người ta thường sử dụng IPMA vì xét nghiệm này cho phép xác định thú nhiễm sau 7 - 15 ngày và có thể phát hiện kháng thể đến 3 tháng sau khi nhiễm PRRS Nhược điểm của phương pháp này là không thể xác định trực tiếp hàm lượng kháng thể bảo vệ (Nguyễn Ngọc Hải, 2007) [11]

* Phản ứng IFA (Indirect Immunhofloresence Assay)

Giống như trong kỹ thuật IPMA, kỹ thuật IFA (kỹ thuật miễn dịch huỳnh quang

Trang 24

gián tiếp) cũng sử dụng nuôi cấy tế bào Quá trình thực hiện IFA cũng giống với IPMA, chỉ khác là kháng kháng thể lợn sử dụng không cộng hợp với HRPO mà cộng hợp với chất phát huỳnh quang FITC Việc đọc kết quả cần phải có kính hiển vi huỳnh quang Sự hiện diện của màu huỳnh quang trong mẫu xét nghiệm chứng tỏ mẫu có kháng thể kháng virus Phản ứng có độ đặc hiệu cao 99,5% và cho phép phát hiện kháng thể kháng virus đến 3 tháng sau khi nhiễm Nguyễn Ngọc Hải (2007), [11] Nhược điểm của IFA và IPMA là không thể làm tự động nên khó thực hiện với quy

mô lớn

* Phản ứng ELISA (Enzyme Linked Immunosorbent Assay)

Để xác định PRRS trong đàn lợn một cách chính xác, cần có sự kiểm tra kháng thể PRRSV và sự hiện diện của PRRSV Kháng thể PRRSV được phát hiện thông qua các kỹ thuật huyết thanh học như ELISA (Xét nghiệm hấp thụ miễn dịch liên kết với enzyme), IFA (xét nghiệm miễn dịch huỳnh quang gián tiếp)và IPMA (Xét nghiệm đơn lớp miễn dịch oxy hóa) Nhiều công trình đã chứng minh khả năng phát hiện kháng thể của các phương pháp này và cho rằng ELISA là phương pháp có độ nhạy cao nhất trong việc phát hiện kháng thể (Trương Thị Diễm Hằng, 2014) [14]

1.1.5.3 Chẩn đoán phi lâm sàng khác

* Các phương pháp phát hiện kháng nguyên

Phương pháp FA và IHC có thể được sử dụng để phát hiện kháng nguyên virus trong mẫu mô

Phương pháp FA có thể thực hiện trực tiếp trên các mẫu đông lạnh, phương pháp này cho kết quả nhanh và chi phí thấp, tuy nhiên lại có độ nhạy và độ đặc hiệu không cao để đảm bảo kết quả chẩn đoán, mẫu cần được lấy và làm lạnh nhanh

Phương pháp IHC cũng được thực hiện trên mẫu mô cắt lát, tuy nhiên phương pháp này có thể thực hiện với các mẫu mô đã ñược cố định bằng formol, điều này là khá quan trọng vì rất thuận lợi trong việc bảo quản mẫu bệnh phẩm IHC có độ nhạy cao hơn so với FA nhưng mất nhiều thời gian và tốn chi phí hơn (Nguyễn Ngọc Hải 2007) [11]

* Phát hiện gen của virus PRRS

Kỹ thuật PCR được phát triển để phát hiện ARN của virus PRRS trong các mẫu

Trang 25

bệnh phẩm Kỹ thuật này không những có độ đặc hiệu và độ nhạy cao mà thời gian cần thiết thực hiện xét nghiệm cũng ngắn hơn so với phương pháp nuôi cấy tế bào vì thế

nó được sử dụng khá rộng rãi trong chẩn đoán phát hiện virus Nhiều dạng khác nhau của PCR được sử dụng, hầu hết chúng được sử dụng để phát hiện các vùng ORFs 7, ORFs 6 hay ORFs 1b của virus

Để gia tăng độ nhạy trong chẩn đoán PRRS, nhất là để phân biệt 2 dòng virus thì Han-Kook Chung và cs (2002) [54] đã sử dụng phương pháp multiplex reverse transcription-nested PCR (RT-nPCR) Tuy nhiên kết quả chẩn đoán chưa đủ làm cơ sở

để kết luận bệnh mà chỉ cho phép xác định tình trạng nhiễm của đàn và kỹ thuật này đòi hỏi kỹ thuật viên phải có trình độ kỹ thuật cao Các quy trình thu nhận và trữ mẫu, quy trình chiết tách và tinh sạch ARN phải được thực hiện một cách nghiêm ngặt Do đó kết quả của phản ứng PCR giữa các phòng thí nghiệm khác nhau có thể sẽ khác nhau

1.2 Vai trò của vi khuẩn A pleuropneumoniae, Pastaurella multocida và

Streptoccus sui trong hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn

1.2.1 Vi khuẩn A pleuropneumoniae và bệnh viêm phổi - màng phổi ở lợn

* Hình thái, cấu trúc

Theo Nguyễn Bá Hiên và cs (2013) [16] A pleuropneumoniae là trực khuẩn

nhỏ, bắt màu Gram âm, có giáp mô với bản chất là các polysaccharide Ngoài ra cũng

có thể thấy dạng vi khuẩn không có giáp mô, vi khuẩn có hình thái điển hình là dạng cầu trực khuẩn với kích thước chiều rộng khoảng 0,5 µm nhưng chiều dài rất biến đổi Dưới kính hiển vi điện tử phát hiện vi khuẩn có nhung mao với kích thước 0,5 - 2 x 60

- 450 nm Loại có vỏ (capsule) là polysaccharide được tìm thấy ở hầu hết các serotype

của vi khuẩn A pleuropneumoniae, còn loại không có vỏ thì ít tìm thấy hơn

* Tính chất nuôi cấy

A pleuropneumoniae là một loại vi khuẩn khó phân lập trên các môi trường

thông thường và thường phụ thuộc vào yếu tố V Do vậy, khi nuôi cấy A

pleuropneumoniae cần các môi trường giàu dinh dưỡng Trên môi trường thạch máu vi

khuẩn không phát triển trên môi trường thạch máu thông thường mà chỉ có thể mọc

trên thạch máu đã được bổ sung NAD hoặc có cấy kèm vi khuẩn Sta aureus Sau 24

giờ nuôi cấy, vi khuẩn phát triển thành khuẩn lạc mọc xung quanh đường cấy

Trang 26

Sta.aureus với kích thước 0,5 - 1 mm và hình thành một vùng dung huyết β Vùng

dung huyết này thường được quan sát rõ hơn trên môi trường thạch có bổ sung 5 - 7 %

máu cừu

* Đặc tính sinh hóa

Vi khuẩn A pleuropneumoniae lên men đường glucose, xylose, mannitol,

mannose và không lên men đường arabinose, lactose, raffinose, sorbitol Dương tính với phản ứng urease, oxidase, CAMP, O.N.P.G; âm tính với phản ứng sinh Indol và không mọc trên thạch MacConkey (Trịnh Quang Hiệp và cs, 2004 [18]; Cù Hữu Phú

và cs, 2006 [29]; Đặng Xuân Bình và cs, 2007 [4]; Nguyễn Thị Thu Hằng, 2010 [13])

* Triệu chứng

Triệu chứng lâm sàng của bệnh thể hiện ở nhiều mức, phụ thuộc vào tuổi của lợn, tình trạng miễn dịch, điều kiện môi trường và mức độ cảm nhiễm với tác nhân gây bệnh Tiến triển lâm sàng có thể là quá cấp tính, cấp tính hoặc mãn tính

- Thể quá cấp tính: Trong cùng một khoảng thời gian một số con của đàn lợn cai sữa có biểu hiện sốt cao (40,5 - 41,5oC), uể oải, mệt mỏi Lợn bệnh có môt thời gian ngắn bị nôn mửa và tiêu chảy Lợn khó thở, tần số mạch tăng Da ở vùng mũi, tai, chân và sau đó toàn cơ thể có màu tím xanh Giai đoạn đầu của bệnh con vật khó thở trầm trọng Lợn bệnh chết nhanh chóng trong vòng 24 - 36 giờ Trước khi chết lợn chảy nhiều nước dãi, nước mũi nhiều bọt có thể lẫn máu Đôi khi trong đàn chỉ thấy lợn chết rất nhanh mà không xuất hiện triệu chứng lâm sàng Bằng thực nghiệm, người

ta thấy lợn có thể chết sau 3 giờ gây bệnh Lợn sơ sinh nếu bị bệnh sẽ bị bại huyết và thường chết ngay sau khi sinh

- Thể cấp tính: Ở thể này thường có nhiều lợn cùng mắc bệnh trong một chuồng hoặc ở những chuồng khác nhau Lợn bệnh sốt từ 40,5oC - 41oC, da đỏ, mệt mỏi, bỏ

ăn Các dấu hiệu hô hấp nặng như khó thở, ho và đôi khi thở bằng miệng

- Thể mãn tính: Thể này thường do thể cấp tính chuyển sang Lợn thường không sốt hoặc sốt nhẹ, ho liên tục hoặc ho ngắt quãng Lợn bỏ ăn, khả năng tăng trọng giảm Khi phải vận động lợn bệnh thường tụt lại phía sau đàn

* Bệnh tích

- Bệnh tích đại thể: Lợn bị nhiễm A pleuropneumoniae cho thấy lợn bệnh có

những tổn thương chủ yếu ở đường hô hấp (Nicolet, 1992) [65] Phổi thường bị viêm

Trang 27

có tính chất đối xứng, gồm thùy tim, thủy đỉnh và một phần thùy hoành Bệnh tích phổi bị viêm thường tập trung thành từng đám và có ranh giới rõ rệt

- Bệnh tích vi thể: Trong giai đoạn đầu của bệnh, biến đổi bệnh tích vi thể chủ yếu là hiện tượng hoại tử xuất huyết và thâm nhiễm, tế bào đa nhân trung tính, đại thực bào và tiểu huyết cầu, ngoài ra còn thấy hiện tượng nghẽn mạch,phù thũng lan tràn và dịch thủy thũng có nhiều fibrin

* Các biện pháp phòng bệnh

Việc phòng bệnh cần thực hiện theo một số nguyên tắc sau:

- Các trại chăn nuôi không có lợn mắc bệnh và nhiễm A pleuropneumoniae

phải duy trì việc cách ly, đi đôi với việc sử dụng tinh dịch an toàn Khi nhập lợn mới vào đàn, phải đảm bảo lợn có nguồn gốc từ một đàn không bị bệnh, không bị nhiễm khuẩn, nên nuôi cách ly chúng trong một thời gian trước khi cho vào đàn

- Có thể dùng thuốc kháng sinh để phòng bệnh nhưng không được dùng kéo dài

và thường xuyên kiểm tra sự mẫn cảm của vi khuẩn A pleuropneumoniae với kháng

sinh Tuy nhiên, việc sử dụng kháng sinh không loại bỏ được mầm bệnh hoàn toàn và

vi khuẩn A pleuropneumoniae vẫn có thể thải ra môi trường (Fedorka-Cray và cs,

1993) [53]

* Điều trị bệnh

Kháng sinh được chọn lựa trong điều trị phải là kháng sinh có nồng độ ức chế tối thiểu thấp và có khả năng diệt khuẩn tốt nhất Một số kháng sinh mới có gần đây như các dẫn xuất quinolone (enrofloxacin) hoặc cephalosporin bán tổng hợp (ceftiofur sodium) đã được chứng minh trên thử nghiệm rất có kết quả Moller và cs (1996) [64]

đã xác định được tilmicosin có hiệu quả cao trong điều trị bệnh do vi khuẩn A

pleuropneumoniae gây ra ở lợn Điều trị bằng kháng sinh chỉ có hiệu quả ở giai đoạn

mới phát bệnh, có tác dụng làm giảm tỷ lệ lợn chết Nếu điều trị muộn khi cơ thể đã xuất hiện nhồi máu hoặc tổn thương mãn tính làm cho lợn bị rối loạn hô hấp thì kết quả rất kém Cần làm kháng sinh đồ khi thí nghiệm điều trị bằng kháng sinh

1.2.2 Vi khuẩn P multocida và bệnh viêm phổi ở lợn do P multocida gây ra

* Hình thái, kích thước và đặc tính nuôi cấy

Vi khuẩn P multocida gây bệnh ở lợn là loại cầu trực khuẩn, bắt màu Gram âm,

có kích thước 0,2 - 0,41 x 0,04 - 1,5 µm, hai đầu tròn, không di động, không sinh nha

Trang 28

bào, thường bắt màu sẫm ở hai đầu trong các tiêu bản máu ở phủ tạng lợn còn tươi P

multocida là loại vi khuẩn sống hiếu khí hoặc yếm khí tuỳ tiện, điều kiện thích hợp cho

vi khuẩn phát triển là 37oC trong môi trường trung tính hay hơi kiềm (pH: 7,2 - 7,4) Vi

khuẩn P multocida mọc tốt trên một số môi trường như nước thịt, thạch thường, thạch máu Vi khuẩn P multocida phát triển trong môi trường phổ thông có thêm tụy đệm

CaCl2 và MgCl2 cũng giống như phát triển trên môi trường BHI - Brain Heart Infusion

Đặc tính sinh hóa

Vi khuẩn P multocida lên men đường glucose, mannitol, sorbitol, galactose;

không lên men đường lactose, arabinose, maltose Phản ứng sinh Indol, Catalaza và Oxydaza: dương tính; phản ứng Urease: âm tính; không mọc trên môi trường MacConkey (Đỗ Quốc Tuấn, 2008 [45])

*Triệu chứng

Bệnh viêm phổi ở lợn do vi khuẩn P multocida gây ra rất khác nhau tùy thuộc

vào chủng vi khuẩn gây bệnh, thường xuất hiện 3 thể là thể quá cấp, thể cấp tính và thể mãn tính

- Thể quá cấp tính: lợn bệnh mệt mỏi, kém ăn, hoặc bỏ ăn, nằm một chỗ, không đứng dậy được, sốt cao (41 - 42oC), uống nhiều nước, run rẩy Xuất hiện thuỷ thũng ở

cổ, họng, hầu do viêm làm cho hầu sưng, cổ cứng, mặt mũi sưng húp, có khi phía dưới bụng và giữa hai hàng vú sưng, con vật thở khó, thở khò khè, cổ duỗi thẳng, mũi phồng ra khép lại từng hồi, nhịp tim nhanh Các niêm mạc đỏ sẫm hoặc tím bầm, nốt xuất huyết, vết đỏ hay tím xuất hiện ở tai, cổ, bụng, phía trong đùi Bệnh tiến triển từ

12 giờ đến 1 - 2 ngày, con vật chết vì ngạt thở

- Thể cấp tính: Con vật có biểu hiện sốt cao, khó thở, thở thể bụng, kiệt sức Lợn chết và sắp chết vùng bụng có màu đỏ tím do trúng độc nội độc tố

Niêm mạc mũi lợn bệnh bị viêm, con vật thở khó, thở nhanh, có tiếng khò khè, ướt trong phế quản, chảy nước mũi đặc, nhờn, đục, có khi có mủ, máu; ho khan, từng tiếng, ho co rút toàn thân, khi gõ vùng ngực con vật đau, thấy có vùng âm đục; tim đập nhanh; chảy nước mắt Quan sát thấy lợn bệnh bị phù thũng dưới da vùng hầu và lan rộng xuống cổ Những vùng này có hiện tượng sưng to và bùng nhùng Lợn mắc bệnh lúc đầu táo sau ỉa chảy có khi có máu hoặc cục máu do xuất huyết ruột Bệnh tiến triển

Trang 29

từ 3 đến 12 ngày, con vật gầy yếu dần, ăn ít hoặc không ăn rồi chết Tỷ lệ chết có thể lên tới 80%, nếu con vật không chết thì có thể chuyển sang thể mãn tính (Nguyễn Vĩnh Phước và cs, 1979) [31]

- Thể mãn tính: Thể này thường tiếp theo thể cấp tính, con vật khó thở, thở nhanh và thở khò khè, hơi sốt nhẹ, các khớp bị sưng nhất là khớp gối Con vật ho nhiều khi vận động, có đám da tróc bong vẩy, niêm mạc miệng đóng màng giả gây áp

xe Bệnh tiến triển 3 - 6 tuần sau đó con vật gầy yếu dần rồi chết do suy nhược (Phan Thanh Phượng và cs, 2006) [32]

- Thể cấp tính: theo Nguyễn Vĩnh Phước và cs (1979) [31] khi mổ khám lợn bệnh có bệnh tích thuỳ phế viêm; phổi viêm tụ máu từng đám, nhất là vùng sâu hoặc phía sau Phổi bị viêm có nhiều vùng gan hoá cứng ở các thời kỳ khác nhau, thấm tương dịch đỏ nhạt, khi cắt thấy có vân, có hạt nhiều màu sắc, các mô cứng nổi lên, có nhiều ổ hoại tử viền màu vàng, tổ chức liên kết giữa tiểu thuỳ dày lên, thấm nước thuỷ thũng nhưng không xuất huyết Khí quản, phế quản tụ máu, xuất huyết có bọt nhớt màu hồng Màng phổi dính vào lồng ngực, có khi có chấm xuất huyết, chứa nước ngoại xuất, có mủ màng giả, sợi huyết Hầu viêm, thuỷ thũng, thấm tương dịch vàng

Dạ dày, ruột viêm cata, tụ máu, xuất huyết Lách hơi sưng, màu đỏ sẫm, có ổ viêm cứng, đôi khi lách bình thường Hạch lâm ba ngực, hầu sưng tụ máu Hạch màng ruột sưng, thấm nước Thận ứ máu, có màu đỏ sẫm

- Thể mãn tính: Theo Nguyễn Vĩnh Phước và cs (1979) [31] các bệnh tích ở thể này là phổi viêm mãn tính, có vùng gan hoá hoại tử vàng xám, cứng, có ổ áp xe, có khi

bị cazein hoá như fomat, đám bã đậu hoá Phế quản viêm mãn tính, màng phổi dày ra

Trang 30

ở vùng phổi bị hoại tử, có chỗ dính vào lồng ngực Hạch lâm ba, hạch hạnh nhân, khớp xương mô liên kết dưới da có những đám bã đậu, gan lách có đám cazein hoá

* Biện pháp phòng bệnh tổng hợp

Cũng như các bệnh truyền nhiễm khác, biện pháp phòng chống bệnh do vi

khuẩn P multocida gây ra ở lợn chủ yếu là tuân thủ nghiêm ngặt các điều kiện cách ly

khi bổ sung lợn mới vào đàn Duy trì các biện pháp thú y chặt chẽ, có hệ thống hố sát trùng ở cửa ra vào chuồng trại, có quần áo bảo hộ lao động cho công nhân chăn nuôi,

có hệ thống “chuồng nuôi - chuồng nghỉ”, có kế hoạch diệt loài gặm nhấm; khử trùng tiêu độc chuồng trại theo định kỳ bằng vôi bột, dung dịch NaOH 2%, dung dịch foocmol 0,5%, Han - Iodine 10% Khi có lợn mắc bệnh cần cách ly triệt để những con

ốm và điều trị kịp thời bằng thuốc kháng sinh đặc hiệu nhằm tiêu diệt vi khuẩn, tiêu diệt mầm bệnh ngay trong cơ thể lợn mắc bệnh; chất thải của mắc bệnh phải được tiêu huỷ và tiêu độc, sát trùng chuồng trại Không được bán chạy, vận chuyển lợn đang bị

mắc bệnh đi nơi khác Đồng thời, cần tập trung nghiên cứu về vi khuẩn P multocida

gây bệnh ở lợn chọn ra các chủng mới để chế tạo vaccine phòng bệnh thật hiệu quả Tùy từng địa phương có thể sử dụng vaccine chế từ các chủng vi khuẩn khác nhau; thực hiện tiêm phòng vaccine thường xuyên, định kì, đều đặn, đúng qui trình với tỷ lệ tiêm phòng đạt cao 90 - 100% đàn lợn là biện pháp phòng bệnh hữu hiệu nhất (Phạm

Sỹ Lăng và cs, 2007) [21]

* Điều trị bệnh

Theo Phan Thanh Phượng và cs (2006) [32], trong thực tế vi khuẩn P

multocida có nhiều biến chủng kháng lại các thuốc kháng sinh thông thường, nên

muốn điều trị có hiệu quả cần phải tiến hành kiểm tra tính mẫn cảm với kháng sinh để chọn loại kháng sinh có hiệu quả

Đỗ Quốc Tuấn (2008) [45] cho biết, các chủng P multocida phân lập được ở lợn

tại một số tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam mẫn cảm cao với norfloxacin, lincomycin, neomycin và đã chọn hai kháng sinh là lincomycin và norfloxacin điều trị lợn mắc bệnh

do vi khuẩn P multocida gây ra, tỷ lệ lợn khỏi bệnh từ 84,37% đến 91,48%

* Khả năng đề kháng với kháng sinh

Vi khuẩn P multocida gây bệnh ở gia súc tại Thái Lan chứa 2 loại plasmid có

Trang 31

khả năng đề kháng với kháng sinh Loại plasmid thứ nhất là pJR1 chứa 6.792 bp và loại thứ hai là pJR2 chứa 5.252 bp

- Plasmid pJR1 có 6 gen chính: gen thứ nhất (Sul II) quy định tính kháng sulfamide, gen thứ 2 (tet G) quy định đặc tính kháng tetracyclin, gen thứ 3 (cat B2) quy định đặc tính kháng chloramphenicol, gen thứ 4 (rep) quy định khả năng tái tạo protein của plasmid, gen thứ 5 và 6 (mbe Cy và deltambe Ay) quy định qúa trình tổng hợp các protein liên quan đến khả năng di chuyển của plasmid

- Plasmid pJR2 có 5 gen chính: gen thứ nhất (deltain I1) có liên quan đến khả năng hợp nhất của plasmid, gen thứ 2 (aad A1) quy định đặc tính kháng streptomycin, gen thứ 3 (bba P1) quy định đặc tính kháng ampicillin, gen thứ 4 và gen thứ 5 quy định khả năng tổng hợp của protein tham gia vào quá trình tái tạo và phân ly plasmid (Wu và cs, 2003) [72]

Ở Việt Nam, Đỗ Quốc Tuấn và Nguyễn Quang Tuyên (2007) [44] cho biết 25

chủng P multocida phân lập được từ các mẫu bệnh phẩm lợn mắc bệnh mẫn cảm cao

với các kháng sinh như chlotetracyclin, neomycin và ampicillin; đến năm 2008, Đỗ

Quốc Tuấn [45] xác định mức độ mẫn cảm của các chủng P multocida phân lập được

ở lợn tại một số tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam với một số kháng sinh thông dụng đã

cho thấy các chủng P multocida mẫn cảm cao với norfloxacin, lincomycin và neomycin Tiêu Quang An và Nguyễn Hữu Nam (2011) [1] cũng cho biết các chủng P

multocida phân lập được ở lợn mắc PRRS mẫn cảm cao với các kháng sinh như

amoxicillin (100%), ampicillin (66,67%), gentamicin (66,67%) và kháng mạnh các kháng sinh như streptomycin, enrofloxacin, colistin

1.2.3 Vi khuẩn S suis và bệnh viêm phổi ở lợn do vi khuẩn S suis gây ra

* Hình thái, cấu trúc, đặc tính nuôi cấy

Vi khuẩn S suis thuộc giống Streptococcus, họ Streptococcaceae, bộ

Lactobacillales, lớp Bacilli Streptococcus là vi khuẩn Gram dương, có dạng hình cầu,

hình trứng, đường kính có khi đến 1µm, chúng được xếp thành chuỗi như chuỗi hạt có

độ dài ngắn khác nhau, từ 2 - 10 cầu khuẩn hay dài hơn tạo thành liên cầu khuẩn Chiều dài của chuỗi tuỳ thuộc vào điều kiện môi trường

Trang 32

Vi khuẩn không di động, không sinh nha bào, nhưng có khả năng hình thành giáp mô Sự hình thành giáp mô có thể xác định được khi chúng sinh sống trong các

mô hoặc phát triển trong các môi trường nuôi cấy có chứa huyết thanh Vi khuẩn S

suis là những vi khuẩn hiếu khí hay yếm khí tùy tiện, gây bệnh thích hợp ở nhiệt độ

37oC và phát triển tốt trên nhiều loại môi trường như:

- Môi trường nước thịt: vi khuẩn S suis hình thành hạt hoặc những bông, rồi

lắng xuống đáy ống Sau 2 giờ nuôi cấy môi trường trong, đáy ống có cặn

- Môi trường thạch thường: vi khuẩn S suis hình thành khuẩn lạc dạng S,

khuẩn lạc nhỏ, tròn, lồi, bóng, màu hơi xám

- Trên môi trường MacConkey: vi khuẩn mọc tốt, sau 24 giờ nuôi cấy, hình thành các khuẩn lạc nhỏ bằng đầu đinh ghim

Đặc tính sinh hóa

Vi khuẩn S suis có khả năng lên men đường glucose, lactose, succrose, inulin,

trehalose, maltose, fructose; không lên men các loại đường ribose, arabinose, sorbitol, mannitol, dextrose và xylose Các phản ứng Oxydase, Catalase, Indol: Âm tính

* Triệu chứng và bệnh tích

Lợn từ 1 - 3 tuần tuổi thường mắc thể viêm não và viêm màng não với các triệu chứng như ủ rũ, kém ăn, sưng hầu, khó nuốt, đi lại khó khăn, lông khô, dựng đứng, sốt, da mẩn đỏ

Lợn hoạt động khó khăn, đi lại loạng choạng, khi nằm có biểu hiện tư thế như bơi chèo, tê liệt Lợn mắc bệnh có hiện tượng viêm một khớp, khớp viêm thường là khớp bẹn, đầu gối hoặc khớp bàn chân Các tổn thương đầu tiên bao gồm thủy thũng, sưng khớp, màng khớp xung huyết, dịch khớp đục Các biến đổi về bệnh tích vi thể không có sự sai khác giữa các serotype gây bệnh và thường tập trung ở não, phổi, tim

và các khớp Các tổn thương quan sát thấy như viêm màng não, viêm não, viêm phổi - màng phổi có mủ hoặc viêm phổi kẽ

Lê Văn Tạo (2007) [34] cho biết, để gây bệnh vi khuẩn S suis sau khi vào cơ

thể sẽ nhân lên tại hạch hạch nhân rồi vào máu gây nhiễm trùng huyết, nên triệu chứng đầu tiên là sốt 40,6 - 41,7oC, triệu chứng thần kinh như run rẩy, đứng không vững, liệt, dẫn đến chết Triệu chứng, bệnh tích và các thể bệnh thường thấy:

Trang 33

- Thể viêm não tuỷ: lợn bệnh sốt cao, bỏ ăn, đi lại siêu vẹo, run rẩy, co giật, nôn mửa, hôn mê và chết sau 2 - 3 ngày Bệnh thường thấy ở lợn sau cai sữa và lợn từ 2 - 3 tháng tuổi, tỷ lệ chết 100% Bệnh tích: màng não tụ huyết và xuất huyết, dịch não và tủy vẩn đục

- Thể viêm họng, viêm phế quản, viêm phổi: lợn bệnh sốt cao, chảy nước mắt, dịch mũi, họng sưng, bỏ ăn, thở khó, thở nhanh; da tụ huyết từng mảng Thể này thường gặp ở lợn con và lợn sau cai sữa, tỷ lệ chết 60 - 70% Bệnh tích: hạch amidan sưng, tụ máu, niêm mạc phế quản tụ huyết, niêm mạc mũi có màng giả, tiểu phế quản

và phế nang viêm có dịch thẩm xuất, có mủ và bọt khí; hạch phổi sưng, tụ huyết Lợn

bị bệnh thể phổi gây ra bệnh tích ở phổi có các mức độ biểu hiện khác nhau từ viêm phổi - màng phổi dạng nhục hoá đến viêm phổi dạng fibrin có mủ

- Thể viêm hạch: Sốt cao, hạch hầu và hạch mang tai sưng thủy thũng, sau thành apxe mủ, lâu thành bã đậu Bệnh thấy ở lợn vỗ béo, diễn biến 5 - 8 ngày, tỷ lệ chết 20 - 30% Bệnh tích: hạch hầu, hạch trước vai, trước đùi sưng tụ huyết ở giai đoạn đầu, giai đoạn cuối viêm bã đậu

* Các biện pháp phòng bệnh

- Phòng bệnh bằng vệ sinh, chăm sóc, nuôi dưỡng và quản lý trong chăn nuôi lợn việc chia đàn, phân ô chuồng theo từng loại lợn là rất cần thiết Với lợn con sau cai sữa, cần chia thành các ô nhỏ để đạt được tốc độ tăng trưởng tối đa vì khả năng lây truyền bệnh khi nuôi nhốt với mật độ cao là rất lớn Để chủ động phòng bệnh ở lợn do

vi khuẩn S suis gây ra cần:

+ Thường xuyên thực hiện phun thuốc diệt ruồi, muỗi để ngăn chặn nguồn mang mầm bệnh vào chuồng trại Thu gom rác, phân, chất độn chuồng, nước thải; phun thuốc tiêu độc, tẩy uế chuồng trại bằng các loại thuốc sát trùng như NaOH 2%, Benkocid Han - Iodine 10% theo đúng qui định

+ Chú trọng khâu chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý đàn; hạn chế sự xâm nhiễm

và lây lan dịch bệnh nên thực hiện chính sách “Cùng vào cùng ra”

+ Bổ sung kháng sinh vào thức ăn để giảm tỷ lệ lợn khoẻ mang trùng

+ Lợn con sau khi sinh cần được bú đầy đủ sữa đầu của mẹ để có đủ kháng thể bảo vệ chúng trong giai đoạn đầu giai đoạn dễ cảm nhiễm với bệnh nhất

Trang 34

+ Loại bỏ những lợn mang trùng và có hướng điều trị kịp thời lợn mắc bệnh + Không được vận chuyển lợn từ vùng có dịch sang vùng khác

+ Khi có dịch xảy ra, phải cách ly những con bệnh ra khu vực nuôi cách ly để tránh lây lan Theo dõi và điều trị kịp thời những con bị bệnh Với những con không

có khả năng chữa khỏi thì tiến hành loại thải

- Phòng bệnh bằng vaccine:

Hiện nay, các loại vaccine được sử dụng để phòng bệnh do S suis gây ra cho

lợn chủ yếu là các vaccine chuồng và hiệu quả bảo hộ của các loại vaccine này cũng chưa được xác định một cách rõ ràng

* Điều trị bệnh

Trong thực tế, khi sử dụng kháng sinh có độ mẫn cảm cao để điều trị cho lợn

mắc bệnh do vi khuẩn S suis gây ra đã mang lại hiệu quả Tuy nhiên, sử dụng kháng

sinh để điều trị phải dùng sớm và chỉ có hiệu quả tốt khi con vật chưa có biểu hiện triệu chứng lâm sàng nặng hay chưa có biểu hiện quá ủ rũ, bỏ ăn Điều trị muộn thì hiệu quả sẽ rất kém hoặc không có hiệu quả Chẩn đoán phát hiện sớm bệnh do vi

khuẩn S suis gây ra và điều trị bằng kháng sinh thích hợp là biện pháp nhằm tăng khả

năng sống sót cho đàn lợn Theo Tô Long Thành và cs (2007) [35] trong 25 chủng vi

khuẩn S suis phân lập được ở lợn mắc bệnh viêm phổi mẫn cảm cao với ceftiofur

(92,0%), florfenicol (88,0%), amoxicillin (88,0%) và amikacin (72,0%) nên có thể sử dụng một trong các kháng sinh trên để điều trị cho lợn khi mắc viêm phổi do vi khuẩn

S suis gây ra

1.3 Những nghiên cứu về PRRS

1.3.1 Những nghiên cứu về PRRS trên thế giới

Năm 1987, bệnh được phát hiện lần đầu tiên ở Mỹ với tên gọi “bệnh thần bí trên lợn”

Tháng 11 năm 1990, ổ dịch PRRS đầu tiên xảy ra ở Đức và lan tràn nhanh chóng sang các quốc gia khác ở Châu Âu

Mùa đông năm 1990 - 1991, lần lượt các quốc gia Châu Âu như Hà Lan, Bỉ, Pháp và Tây Ban Nha đã báo cáo về hội chứng này với nhiều tên gọi khác nhau:

“Bệnh PRRS” (Blue-eared Pig Disease), “Hội chứng hô hấp và sảy thai trên lợn” (PEARS), hay “Hội chứng hô hấp và vô sinh” (SIRD)

Trang 35

Năm 1991, lần đầu tiên Wenvoort và cộng sự đã phân lập được căn bệnh ở Viện thú y trung ương Lelytad - Hà Lan đã phân lập được căn bệnh và đặt tên cho loại virus này là “Lelystad”, Nguyễn Như Thanh (2007) [34]

Năm 1992, Collins và cộng sự ở Mỹ cũng báo cáo về việc phân lập được virus gây bệnh và sử dụng tên gọi VR-2332 để chỉ các chủng phân lập ở Bắc Mỹ, cũng trong năm 1992, hội nghị quốc tế và tổ chức dịch tễ thế giới (OIE) đã nhất trí đặt tên cho bệnh này là “Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp trên lợn” (porcine reproductive and respiratory syndrome - PRRS)

Theo điều tra của Straw và cs (1999), 100% đàn lợn được kiểm tra ở Bỉ (n= 50)

có lợn dương tính với virus PRRS với tỷ lệ nhiễm là 96% (dẫn liệu của Benfield D.A.,

và cs 1999) [50]

Theo khảo sát của Escobar và cs (2007) [52] có sự gia tăng tổng số bạch cầu trong máu lợn sau 14 ngày nhiễm virus PRRS Trong đó, tỷ lệ bạch cầu lympho và trung tính đều tăng có ý nghĩa Ngoài ra, số lượng bạch cầu trong khí quản, phế quản của lợn bị nhiễm PRRS tăng có ý nghĩa Cũng theo tác giả này, hàm lượng Interferon

và hàm lượng Interleukin -1β trên lợn sau 7 ngày gây nhiễm virus PRRS đều tăng

Về độc lực, người ta thấy virus gây PRRS tồn tại dưới 2 dạng đó là dạng cổ điển và dạng biến thể độc lực cao Dạng cổ điển có độc lực thấp, ở dạng này khi lợn mắc bệnh thì có tỷ lệ chết thấp, chỉ từ 1 - 5% trong tổng đàn Dạng biến thể độc lực cao gây nhiễm bệnh cho lợn lây lan nhanh, trầm trọng và chết nhiều

Khi lợn bị mắc PRRS, virus tấn công phá hủy đại thực bào làm suy giảm khả

năng đề kháng, dẫn đến các loại vi khuẩn như A pleuropneumoniae, P multocida và

S suis có cơ hội trỗi dậy gây bệnh, làm cho lợn bị mắc PRRS trầm trọng hơn, chết

nhiều trong ổ dịch PRRS tại các địa phương xảy ra dịch hiện nay (Kehong Tian Yu, 2007) [57]

Hiện nay, Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn đã trở thành dịch địa phương ở nhiều nước trên thế giới, kể cả các nước có ngành chăn nuôi lợn phát triển như Mỹ, Hà Lan, Đan Mạch, Anh, Pháp, Đức… và đã gây ra những tổn thất rất lớn về kinh tế cho người chăn nuôi lên đến hàng trăm triệu đô la Hàng năm Mỹ phải chịu tổn thất do Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn gây ra khoảng 560 triệu USD Các

Trang 36

nước trong khu vực có tỷ lệ lợn bị Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản lưu hành rất cao, ví dụ ở Trung Quốc là 80%, Đài Loan 94,7 - 96,4%, Philippine 90%, Thái Lan 97%, Malaysia 94%, Hàn Quốc 67,4 - 73,1% (Cục thú y, 2008) [7]

Ladinig A và cs (2014) [62] đã gây nhiễm virus PRRS cho 114 lợn nái mang thai 85 ± 1 ngày để thử nghiệm ảnh hưởng của virus đến sức sống của bào thai (19 lợn đối chứng), 21 ngày sau gây nhiễm mổ khám các lợn thí nghiệm thấy tỷ lệ tử vong của các bào thai là 41% và trọng lượng của các bào thai giảm khoảng 17% so với đối chứng

Kittawornrat A và cs (2014) [60] đã thu thập mẫu nước bọt của 600 lợn con trước cai sữa 1 ngày tại 4 trại lợn với tổng số cá thể là 12.500 con để đánh giá tình hình nhiễm virus PRRS Kết quả cho thấy, có 9/600 mẫu dương tính với virus gây hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn, tuy nhiên, 9 mẫu này phân bố ở cả 4 đàn nghiên cứu

Từ 9/2004 - 8/2007, Rosendal T và cs (2014) [67] đã phân lập được 438 chủng virus PRRS từ 392 cơ sở chăn nuôi lợn tại Ontario; trong đó có 57 chủng được coi là

có mặt trong các loại vaccine tiêm phòng bệnh

Xie J và cs (2014) [69] cho biết: năm 2006, một chủng virus độc lực cao của bệnh Tai xanh xuất hiện ở Trung Quốc và gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi lợn

Từ 2010 - 2013, các tác giả đã thu thập 126 mẫu mô của lợn ở miền Nam Trung Quốc

để phân tích sự biến đổi gen của virus PRRS Kết quả cho thấy 32,54% số mẫu dương tính với virus PRRS, trong đó subgenotypes HP - PRRS là dòng chủ đạo

Olanratmanee E O và cs (2015) [66] đã thu thập 89 mẫu bệnh phẩm từ các lợn nái chửa, đẻ không bình thường (sảy thai, đẻ non, thai chết lưu) từ 10 đàn lợn nái ở Thái Lan để kiểm tra tỷ lệ nhiễm virus PRRS bằng phương pháp PCR Kết quả cho thấy 60/89 mẫu dương tính, chiếm tỷ lệ 67,4%

Vilcek S và cs (2015) [70] đã phát hiện 2/129 lợn rừng nghiên cứu dương tính với virus PRRS Tuy nhiên, nguồn gốc của virus này không rõ ràng và các tác giả cho rằng rất có khả năng virus này được truyền từ lợn nuôi sang lợn rừng

Ở Hàn Quốc, hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn chủ yếu do 2 chủng virus thuộc type EU - 1 và type 2 (Bắc mỹ) gây ra (Yeom M và cs., 2015 [71])

1.3.2 Những nghiên cứu về PRRS trong nước

Trang 37

Ở Việt Nam, bệnh được phát hiện vào năm 1997 trên đàn lợn nhập từ Mỹ (10/51 con có huyết thanh dương tính) Các nghiên cứu về bệnh trên những trại lợn giống tại các tỉnh phía Nam cho thấy tỷ lệ lợn có huyết thanh dương tính với bệnh là khác nhau, từ 1,3% cho tới 68,29% Ở các nước khác, tỷ lệ đàn trong vùng bệnh có huyết thanh dương tính cao hơn như: 60 - 75% ở Anh, Mỹ là 36%

Theo Trần Thị Bích Liên và Trần Thị Dân (2003) [22], tỷ lệ nhiễm PRRS tại một trại chăn nuôi là 7,5% trên lợn nái và 4% trên lợn con, ngoài ra một số biểu hiện lâm sàng cũng được ghi nhận như: lợn nái dương tính với virus PRRS có biểu hiện sảy thai trước khi sinh 1 - 2 tuần, nhiều thai chết khô và lợn sơ sinh chết tươi Lợn con 4 -

7 ngày sau khi sinh có triệu chứng thở khó, tỷ lệ chết cao Trọng lượng bình quân lợn con dương tính (17,5 kg) kém hơn lợn con âm tính (22 kg) Lợn 40-50 ngày tuổi có biểu hiện ho, ốm còi, xù lông

Theo Trần Thị Bích Liên và cs (2005) [23] đã có một số đánh giá khi kháng thể

mẹ truyền bệnh tích phổi đại thể và vi thể trên lợn mẹ được giết mổ Tác giả nhận thấy khả năng nhiễm virus PRRS có thể xảy ra ở giai đoạn sau cai sữa, sự tụ tập bạch cầu trong lòng ống phế nang và xâm nhiễm của đại thực bào ở vách phế nang và xâm nhiễm của đại thực bào ở vách phế nang trên lợn nhiễm virus PRRS Ngoài ra có sự

tăng sinh tế bào lympho quanh tiểu phế quản trên lợn nhiễm Mycoplasma

Kết quả nghiên cứu phối hợp thực hiện tại Phòng Thí Nghiệm Thú Y Quốc gia Hoa Kỳ: Kết quả chẩn đoán, phân lập virút và vi khuẩn từ 10 mẫu bệnh phẩm ở Việt Nam mang sang cho thấy: Có 9/10 mẫu bệnh phẩm phân lập được virus PRRS trong

đó có 10/10 mẫu dương tính với Escherichia coli và Streptococcus equi, có 6/10 mẫu phát hiện có Circovirus và 1/10 mẫu dương tính với Streptococcus suis, như vậy có thể

thấy khi lợn mắc PRRS thì sự bội nhiễm là rất cao

Tiêu Quang An và Nguyễn Hữu Nam (2011) [1], khi xác định một số vi khuẩn

kế phát gây chết lợn trong vùng dịch PRRS ở huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên năm

2010 đã cho thấy lợn mắc PRRS thường kế phát bệnh do các nhóm vi khuẩn đường hô

hấp và đường ruột như A pleuropneumoniae, P multocida, S suis, Escherichia coli,

Salmonella spp, Clostridium perfringens Kết quả phân lập được vi khuẩn A pleuropneumoniae với tỷ lệ cao nhất 63,33% và thấp nhất là P multocida 10%

Trang 38

Hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu lợn mắc PRRS, do vậy việc phòng bệnh bằng vaccine và vệ sinh phòng bệnh, tiêu độc khử trùng hiện đang là hai biện pháp hữu hiệu ở nhiều cơ sở chăn nuôi lợn (Nguyễn Ngọc Tiến, 2011) [37]

Mai Thị Thu Hằng (2013) [12] đã phân lập và giải trình tự thành công gen M của 5 chủng virus PRRS phân lập từ 5 địa phương khác nhau Quảng Ninh, Hưng Yên, Nghệ An, Bạc Liêu, Tiền Giang, ký hiệu theo thứ tự là 10-QiNi, 10-HuY, 10-NgAn, 10-BaLi, 10-TiGi Kết quả nghiên cứu là cơ sở để phân tích các biến chủng của virus PRRS cũng như sản xuất vaccine phòng chống dịch bệnh ở Việt Nam hiện nay

Theo Lê Văn Dương (2013) [10], ở tỉnh Bắc Giang lợn con có tỷ lệ mắc PRRS

là cao nhất ở (13,46%), thấp nhất là lợn thịt (6,04%) Tỷ lệ tử vong do PRRS ở lợn con

là 24,09% và thấp nhất là lợn nái và hậu bị 3,45% Nguy cơ đàn lợn mắc PRRS ở Vụ Đông - Xuân cao gấp 2,07 lần so với vụ Hè - Thu và lợn con ≤ 2 tháng tuổi nguy cơ mắc PRRS cao gấp 1,35 - 2,23 lần so với lợn nái và lợn thịt (P < 0,001)

Nguyễn Quang Tính và Nguyễn Hùng Cường (2014) [28] cho biết: lợn nái mắc bệnh xuất hiện các triệu chứng lâm sàng là rối loạn bộ máy hô hấp và sinh sản; đối với lợn sau cai sữa, lợn choai, triệu chứng chính là rối loạn hô hấp

Trang 39

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Lợn nuôi tại tỉnh Tuyên Quang

- Sự lưu hành virus PRRS và biện pháp phòng, chống bệnh tai xanh cho lợn

2.1.2 Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 8/2015 đến tháng 8/2016

2.1.3 Địa điểm nghiên cứu

- Đề tài được thực hiện tại 4 huyện, thành phố của tỉnh Tuyên Quang (huyện

Sơn Dương, Chiêm Hóa, Yên Sơn và TP Tuyên Quang)

- Địa điểm xét nghiệm mẫu:

+ Phòng thí nghiệm Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

+ Bộ môn vi trùng - Viện Thú y

+ Trung tâm chẩn đoán Thú y trung ương

2.2 Vật liệu nghiên cứu

2.2.1 Động vật thí nghiệm

- Lợn các lứa tuổi: 400 con, nuôi ở 4 huyện, thành phố của tỉnh Tuyên Quang Những lợn này chưa được tiêm vaccine phòng bệnh tai xanh (để xác định tỷ lệ lợn có huyết thanh dương tính với PRRSV)

- Chuột bạch: 260 con, khối lượng 18 - 20 gam, khỏe mạnh (dùng xác định độc lực

của các chủng vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida và S suis phân lập từ lợn)

2.2.2 Mẫu bệnh phẩm

- Mẫu huyết thanh: 400 mẫu

- Mẫu phổi và cuống họng của lợn: 400 mẫu

2.2.3 Các loại hoá chất, môi trường và nguyên vật liệu khác

- Các loại môi trường dùng để nuôi cấy, phân lập vi khuẩn do hãng Oxoid (Anh) và Merck (Pháp) sản xuất như môi trường nước thịt, thạch thường, thạch máu, thạch MacConkey, thạch Chocolate

Trang 40

- Môi trường phân lập vi khuẩn và tăng sinh như thạch BHI có bổ sung 5% máu cừu hoặc máu bò; thạch chocolate; thạch TSA (Tryptone Soya Agar) có bổ sung 1 - 3% fresh Yeast Extract; TSB (Tryptone Soya Broth) có bổ sung 1 - 3% fresh Yeast Extract và 5% huyết thanh ngựa; nước thịt TYE (Tryptone Yeast Extract Broth); thạch dinh dưỡng PPLO có bổ sung 0,1% glucose, 8 - 10% YE tươi và 5% huyết thanh ngựa;

- Môi trường xác định các đặc tính sinh hóa: Oxidase, Catalase, Indol, Urerase, O.N.P.G Các loại đường như glucose, mannitol, trehalose, arabinose, lactose, raffinose, maltose

- Các vật liệu hóa chất khác như giấy thử phản ứng Oxidase, dung dịch H2O2 3%, nước muối 6,5%, thuốc thử Kovac’s, giấy tẩm kháng sinh, huyết thanh ngựa, thiamine

- Các loại hoá chất, môi trường dùng cho các phản ứng ngưng kết, huyết thanh học và phản ứng PCR được chuẩn hóa theo quy trình nghiên cứu của Bộ môn Vi trùng,

Bộ môn Virus, Viện Thú y Quốc gia

- Giống vi khuẩn: các chủng vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida và S

suis chuẩn và các huyết thanh chuẩn tương ứng do Nhật Bản cung cấp

- Các loại thuốc điều trị viêm phổi do vi khuẩn như: kháng sinh thế hệ mới, thuốc trợ sức, trợ lực; thuốc hạ sốt, kháng viêm

2.2.4 Máy móc thiết bị

Các dụng cụ thí nghiệm thông dụng: buồng cấy vô trùng, tủ ấm, tủ lạnh, tủ sấy, nồi hấp, máy ly tâm, máy lắc giàn, máy nhân gen PCR, ELISA và một số dụng cụ, thiết bị khác dùng cho nghiên cứu

2.3 Nội dung nghiên cứu

2.3.1 Nghiên cứu sự lưu hành virus gây bệnh tai xanh ở lợn tại 4 huyện, thành phố của tỉnh Tuyên Quang (TP Tuyên Quang, huyện Sơn Dương, huyện Yên Sơn và huyện Chiêm Hóa)

2.3.1.1 Sự lưu hành virus gây bệnh tai xanh ở lợn tại 4 huyện, thành

2.3.1.2 Sự lưu hành virus gây bệnh tai xanh ở lợn theo lứa tuổi

2.3.1.3 Sự lưu hành virus gây bệnh tai xanh ở lợn theo mùa vụ

2.3.2 Ứng dụng kỹ thuật GPS và GIS xây dựng bản đồ dịch tễ sự lưu hành virus PRRS ở tỉnh Tuyên Quang

Ngày đăng: 20/03/2017, 00:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Tiêu Quang An, Nguyễn Hữu Nam (2011), “ Xác định một số vi khuẩn kế phát gây chết lợn trong vùng dịch lợn Tai xanh ở huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên năm 2010”, Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y, 18 (3), tr. 56 - 64 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định một số vi khuẩn kế phát gây chết lợn trong vùng dịch lợn Tai xanh ở huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên năm 2010
Tác giả: Tiêu Quang An, Nguyễn Hữu Nam
Nhà XB: Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y
Năm: 2011
2. Bùi Quang Anh, Nguyễn Văn Long (2007), “Một số đặc điểm dịch tễ của hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp lợn (bệnh tai xanh) và tình hình dịch tại Việt Nam”. Diễn đàn khuyến nông và công nghệ - Bộ NN &amp; PTNT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm dịch tễ của hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp lợn (bệnh tai xanh) và tình hình dịch tại Việt Nam
Tác giả: Bùi Quang Anh, Nguyễn Văn Long
Nhà XB: Diễn đàn khuyến nông và công nghệ - Bộ NN & PTNT
Năm: 2007
3. Bùi Quang Anh, Hoàng Văn Năm, Văn Đăng Kỳ, Nguyễn Văn Long, Nguyễn Ngọc Tiến (2008), Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản (Bệnh Tai xanh), Nxb Nông nghiệp - Hà Nội, tr. 7 - 21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản (Bệnh Tai xanh)
Tác giả: Bùi Quang Anh, Hoàng Văn Năm, Văn Đăng Kỳ, Nguyễn Văn Long, Nguyễn Ngọc Tiến
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp - Hà Nội
Năm: 2008
4. Đặng Xuân Bình, Nguyễn Thị Ngân, Phan Hồng Phúc (2007), “Tình hình nhiễm Actinobacillus pleuropneumoniae và bệnh viêm phổi màng phổi ở lợn”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y, 14 (2), tr. 36 - 39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình nhiễm "Actinobacillus pleuropneumoniae" và bệnh viêm phổi màng phổi ở lợn”, "Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y
Tác giả: Đặng Xuân Bình, Nguyễn Thị Ngân, Phan Hồng Phúc
Năm: 2007
5. Đặng Xuân Bình, Nguyễn Thị Kim Dung, Nguyễn Thị Hà, Lê Bá Hiệp (2010), “Khảo sát sự lưu hành của vi khuẩn Pasteurella multocida ở gia súc một số tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y, 17 (2), tr. 53 - 57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát sự lưu hành của vi khuẩn Pasteurella multocida ở gia súc một số tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam
Tác giả: Đặng Xuân Bình, Nguyễn Thị Kim Dung, Nguyễn Thị Hà, Lê Bá Hiệp
Nhà XB: Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y
Năm: 2010
6. Nguyễn Văn Cảm, Nguyễn Tùng, Nguyễn Đăng Thọ, Tống Hữu Hiến (2011), “Điều tra sự lưu hành Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản (PRRS) trên đàn lợn một số tỉnh ở Việt Nam”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y, 18 (1), tr. 21 - 30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra sự lưu hành Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản (PRRS) trên đàn lợn một số tỉnh ở Việt Nam”, "Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y
Tác giả: Nguyễn Văn Cảm, Nguyễn Tùng, Nguyễn Đăng Thọ, Tống Hữu Hiến
Năm: 2011
7. Cục Thú y (2008), “Báo cáo về chẩn đoán và nghiên cứu virus gây Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn Việt Nam từ tháng 3/2007 đến 5/2008”, Hội thảo khoa học về phòng chống Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn, ngày 21 tháng 5 năm 2008, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo về chẩn đoán và nghiên cứu virus gây Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn Việt Nam từ tháng 3/2007 đến 5/2008”
Tác giả: Cục Thú y
Năm: 2008
8. Trần Thị Dân, Trần Thị Bích Liên, Nguyễn Thị Phước Ninh, Nguyễn Ngọc Tuân, Đỗ Tiến Duy, Nguyễn Ngọc Hải, Nguyễn Văn Khanh (2005), ‘‘Xác định tuổi nhiễm và các phương pháp phát hiện Mycoplasma hyopneumoniae, virus PRRS ở trại chăn nuôi heo”, Tạp chí khoa hoc kỹ thuật Nông Lâm nghiệp, số 2 và 3, tr. 257 - 260 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định tuổi nhiễm và các phương pháp phát hiện Mycoplasma hyopneumoniae, virus PRRS ở trại chăn nuôi heo
Tác giả: Trần Thị Dân, Trần Thị Bích Liên, Nguyễn Thị Phước Ninh, Nguyễn Ngọc Tuân, Đỗ Tiến Duy, Nguyễn Ngọc Hải, Nguyễn Văn Khanh
Nhà XB: Tạp chí khoa hoc kỹ thuật Nông Lâm nghiệp
Năm: 2005
9. Nguyễn Tiến Dũng (2011), “Những vấn đề thời sự về Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn”, Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y, 18 (1), tr. 5 - 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thời sự về Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn
Tác giả: Nguyễn Tiến Dũng
Nhà XB: Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y
Năm: 2011
10. Lê Văn Dương (2013) “Nghiên cứu một số đặc tính sinh học của vi khuẩn Actinobacillus pleuropneumoniae, Pasteurella multocida, Streptococcus suis gây viêm phổi trong Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn tại Bắc Giang, biện pháp phòng trị”. Luận án tiến sĩ Nông nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc tính sinh học của vi khuẩn Actinobacillus pleuropneumoniae, Pasteurella multocida, Streptococcus suis gây viêm phổi trong Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn tại Bắc Giang, biện pháp phòng trị
Tác giả: Lê Văn Dương
Nhà XB: Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Năm: 2013
12. Trương Quang Hải, Nguyễn Quang Tính, Nguyễn Quang Tuyên, Cù Hữu Phú, Lê Văn Dương (2012), “Kết quả phân lập và xác định một số đặc tính sinh học của các chủng Streptococcus suis và Pasteurella multocida ở lợn mắc viêm phổi tại tỉnh Bắc Giang”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y, 19 (7), tr. 71 - 76 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả phân lập và xác định một số đặc tính sinh học của các chủng Streptococcus suis và Pasteurella multocida ở lợn mắc viêm phổi tại tỉnh Bắc Giang
Tác giả: Trương Quang Hải, Nguyễn Quang Tính, Nguyễn Quang Tuyên, Cù Hữu Phú, Lê Văn Dương
Nhà XB: Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y
Năm: 2012
13. Nguyễn Thị Thu Hằng (2010), “Nghiên cứu một số đặc tính sinh học và tính sinh miễn dịch của Actinobacillus pleuropneumoniae phân lập từ lợn làm cơ sở cho việc chế tạo vaccine”, Luận án tiến sĩ Nông nghiệp, Viện Thú y Quốc gia, Hà Nội, tr. 115 - 116 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc tính sinh học và tính sinh miễn dịch của Actinobacillus pleuropneumoniae phân lập từ lợn làm cơ sở cho việc chế tạo vaccine
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hằng
Nhà XB: Viện Thú y Quốc gia
Năm: 2010
14. Trương Thị Diễm Hằng, Nguyễn Ngọc Hải (2014), “Đánh giá tình trạng gây hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp lợn tại tỉnh Bình Dương bằng phương pháp Elisa và PCR, Tạp chí Sinh học, 36 (1se): 22 - 27, tr. 23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tình trạng gây hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp lợn tại tỉnh Bình Dương bằng phương pháp Elisa và PCR, "Tạp chí Sinh học
Tác giả: Trương Thị Diễm Hằng, Nguyễn Ngọc Hải
Năm: 2014
15. Nguyễn Bá Hiên, Nguyễn Thị Lan, Nguyễn Hữu Nam (2013), “Nghiên cứu chọn chủng virus gây Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản (PRRS) để sản xuất vaccine phòng bệnh tại Việt Nam”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y, 20 (1), tr. 5 - 15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu chọn chủng virus gây Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản (PRRS) để sản xuất vaccine phòng bệnh tại Việt Nam”, "Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y
Tác giả: Nguyễn Bá Hiên, Nguyễn Thị Lan, Nguyễn Hữu Nam
Năm: 2013
16. Nguyễn Bá Hiên, Huỳnh Thị Mỹ Lệ, Lê Văn Lãnh, Đỗ Ngọc Thúy (2013) “ Bệnh truyền nhiễm thú y” Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 289 - 295 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh truyền nhiễm thú y
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
17. Nguyễn Đức Hiền (2012), “Tình hình nhiễm hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản và một số yếu tố nguy cơ trong lan truyền bệnh giữa các đàn heo tại tỉnh Cần Thơ”, Tạp chí Khoa học 2012: 22c 96 - 105 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình nhiễm hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản và một số yếu tố nguy cơ trong lan truyền bệnh giữa các đàn heo tại tỉnh Cần Thơ
Tác giả: Nguyễn Đức Hiền
Nhà XB: Tạp chí Khoa học
Năm: 2012
18. Trịnh Quang Hiệp, Cù Hữu Phú, Nguyễn Thu Hằng, Âu Xuân Tuấn (2004), “Xác định đặc tính sinh vật hoá học, độc lực của vi khuẩn Actinobacillus, Pasteurella và Streptocococcus gây bệnh viêm phổi ở lợn”, Tạp chí khoa học- Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định đặc tính sinh vật hoá học, độc lực của vi khuẩn Actinobacillus, Pasteurella và Streptocococcus gây bệnh viêm phổi ở lợn
Tác giả: Trịnh Quang Hiệp, Cù Hữu Phú, Nguyễn Thu Hằng, Âu Xuân Tuấn
Nhà XB: Tạp chí khoa học
Năm: 2004
19. Lý Thị Liên Khai, Võ Thị Cẩm Giàng (2012), “Khảo sát tình hình nhiễm ghép Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản với dịch tả heo tại các tỉnh Bạc Liêu và Sóc Trăng”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y, 19 (6), tr. 29 - 39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát tình hình nhiễm ghép Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản với dịch tả heo tại các tỉnh Bạc Liêu và Sóc Trăng
Tác giả: Lý Thị Liên Khai, Võ Thị Cẩm Giàng
Nhà XB: Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y
Năm: 2012
20. Văn Đăng Kỳ (2013), “Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn (PRRS) và kinh nghiệm phòng chống”, Tạp chí khoa học Việt Nam, tập X, số 3 - 2013, tr. 76 - 80 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn (PRRS) và kinh nghiệm phòng chống
Tác giả: Văn Đăng Kỳ
Nhà XB: Tạp chí khoa học Việt Nam
Năm: 2013
21. Phạm Sỹ Lăng, Phan Đăng Kỳ (2007, “Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn”. Diễn đàn khuyến nông và công nghệ - Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Phan Đăng Kỳ
Nhà XB: Diễn đàn khuyến nông và công nghệ - Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn
Năm: 2007

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Sơ đồ cơ chế sinh bệnh của virus PRRS  1.1.2. Dịch tễ học PRRS - Nghiên cứu sự lưu hành virus gây bệnh tai xanh ở lợn, ứng dụng kỹ thuật GPS và GIS xây dựng bản đồ dịch tễ, đề xuất biện pháp phòng chống bệnh tai xanh cho lợn tại tỉnh Tuyên Quang (LV thạc sĩ)
Hình 1.1 Sơ đồ cơ chế sinh bệnh của virus PRRS 1.1.2. Dịch tễ học PRRS (Trang 19)
Hình 2.1: Các bước xây dựng bản đồ dịch tễ  2.4.3. Phương pháp xử lý số liệu - Nghiên cứu sự lưu hành virus gây bệnh tai xanh ở lợn, ứng dụng kỹ thuật GPS và GIS xây dựng bản đồ dịch tễ, đề xuất biện pháp phòng chống bệnh tai xanh cho lợn tại tỉnh Tuyên Quang (LV thạc sĩ)
Hình 2.1 Các bước xây dựng bản đồ dịch tễ 2.4.3. Phương pháp xử lý số liệu (Trang 48)
Bảng 3.1.  Sự lưu hành virus gây bệnh tai xanh ở tại 4 huyện, thành phố của - Nghiên cứu sự lưu hành virus gây bệnh tai xanh ở lợn, ứng dụng kỹ thuật GPS và GIS xây dựng bản đồ dịch tễ, đề xuất biện pháp phòng chống bệnh tai xanh cho lợn tại tỉnh Tuyên Quang (LV thạc sĩ)
Bảng 3.1. Sự lưu hành virus gây bệnh tai xanh ở tại 4 huyện, thành phố của (Trang 49)
Bảng 3.2. Xác định sự lưu hành virus gây bệnh Tai xanh ở lợn theo lứa tuổi - Nghiên cứu sự lưu hành virus gây bệnh tai xanh ở lợn, ứng dụng kỹ thuật GPS và GIS xây dựng bản đồ dịch tễ, đề xuất biện pháp phòng chống bệnh tai xanh cho lợn tại tỉnh Tuyên Quang (LV thạc sĩ)
Bảng 3.2. Xác định sự lưu hành virus gây bệnh Tai xanh ở lợn theo lứa tuổi (Trang 51)
Bảng 3.3. Sự lưu hành virus gây bệnh tai xanh theo mùa vụ - Nghiên cứu sự lưu hành virus gây bệnh tai xanh ở lợn, ứng dụng kỹ thuật GPS và GIS xây dựng bản đồ dịch tễ, đề xuất biện pháp phòng chống bệnh tai xanh cho lợn tại tỉnh Tuyên Quang (LV thạc sĩ)
Bảng 3.3. Sự lưu hành virus gây bệnh tai xanh theo mùa vụ (Trang 52)
Hình 3.4: Bản đồ dịch tễ sự lưu hành virus gây bệnh tai xanh tại PRRS tại Tuyên Quang - Nghiên cứu sự lưu hành virus gây bệnh tai xanh ở lợn, ứng dụng kỹ thuật GPS và GIS xây dựng bản đồ dịch tễ, đề xuất biện pháp phòng chống bệnh tai xanh cho lợn tại tỉnh Tuyên Quang (LV thạc sĩ)
Hình 3.4 Bản đồ dịch tễ sự lưu hành virus gây bệnh tai xanh tại PRRS tại Tuyên Quang (Trang 54)
Bảng 3.4. Kết quả phân lập vi khuẩn A. pleuropneumoniae, P. multocida - Nghiên cứu sự lưu hành virus gây bệnh tai xanh ở lợn, ứng dụng kỹ thuật GPS và GIS xây dựng bản đồ dịch tễ, đề xuất biện pháp phòng chống bệnh tai xanh cho lợn tại tỉnh Tuyên Quang (LV thạc sĩ)
Bảng 3.4. Kết quả phân lập vi khuẩn A. pleuropneumoniae, P. multocida (Trang 56)
Hình 3.5. Biểu đồ tỷ lệ vi khuẩn A. pleuropneumoniae, P. multocida và S. suis - Nghiên cứu sự lưu hành virus gây bệnh tai xanh ở lợn, ứng dụng kỹ thuật GPS và GIS xây dựng bản đồ dịch tễ, đề xuất biện pháp phòng chống bệnh tai xanh cho lợn tại tỉnh Tuyên Quang (LV thạc sĩ)
Hình 3.5. Biểu đồ tỷ lệ vi khuẩn A. pleuropneumoniae, P. multocida và S. suis (Trang 57)
Hình 3.6. Biểu đồ tỷ lệ phân lập vi khuẩn A. pleuropneumoniae, P. multocida - Nghiên cứu sự lưu hành virus gây bệnh tai xanh ở lợn, ứng dụng kỹ thuật GPS và GIS xây dựng bản đồ dịch tễ, đề xuất biện pháp phòng chống bệnh tai xanh cho lợn tại tỉnh Tuyên Quang (LV thạc sĩ)
Hình 3.6. Biểu đồ tỷ lệ phân lập vi khuẩn A. pleuropneumoniae, P. multocida (Trang 59)
Hình 3.7: Biểu đồ tỷ lệ phân lập vi khuẩn A. pleuropneumoniae, P. multocida và - Nghiên cứu sự lưu hành virus gây bệnh tai xanh ở lợn, ứng dụng kỹ thuật GPS và GIS xây dựng bản đồ dịch tễ, đề xuất biện pháp phòng chống bệnh tai xanh cho lợn tại tỉnh Tuyên Quang (LV thạc sĩ)
Hình 3.7 Biểu đồ tỷ lệ phân lập vi khuẩn A. pleuropneumoniae, P. multocida và (Trang 62)
Hình 3.9. Biểu đồ serotype của các chủng vi khuẩn - Nghiên cứu sự lưu hành virus gây bệnh tai xanh ở lợn, ứng dụng kỹ thuật GPS và GIS xây dựng bản đồ dịch tễ, đề xuất biện pháp phòng chống bệnh tai xanh cho lợn tại tỉnh Tuyên Quang (LV thạc sĩ)
Hình 3.9. Biểu đồ serotype của các chủng vi khuẩn (Trang 70)
Bảng 3.12. Kết quả xác định serotype của các chủng vi khuẩn - Nghiên cứu sự lưu hành virus gây bệnh tai xanh ở lợn, ứng dụng kỹ thuật GPS và GIS xây dựng bản đồ dịch tễ, đề xuất biện pháp phòng chống bệnh tai xanh cho lợn tại tỉnh Tuyên Quang (LV thạc sĩ)
Bảng 3.12. Kết quả xác định serotype của các chủng vi khuẩn (Trang 71)
Bảng 3.14. Kết quả kiểm tra độc lực của các chủng vi khuẩn - Nghiên cứu sự lưu hành virus gây bệnh tai xanh ở lợn, ứng dụng kỹ thuật GPS và GIS xây dựng bản đồ dịch tễ, đề xuất biện pháp phòng chống bệnh tai xanh cho lợn tại tỉnh Tuyên Quang (LV thạc sĩ)
Bảng 3.14. Kết quả kiểm tra độc lực của các chủng vi khuẩn (Trang 74)
Bảng 3.15. Kết quả kiểm tra độc lực của các chủng vi khuẩn - Nghiên cứu sự lưu hành virus gây bệnh tai xanh ở lợn, ứng dụng kỹ thuật GPS và GIS xây dựng bản đồ dịch tễ, đề xuất biện pháp phòng chống bệnh tai xanh cho lợn tại tỉnh Tuyên Quang (LV thạc sĩ)
Bảng 3.15. Kết quả kiểm tra độc lực của các chủng vi khuẩn (Trang 75)
Bảng 3.18. Mức độ mẫn cảm của các chủng vi khuẩn - Nghiên cứu sự lưu hành virus gây bệnh tai xanh ở lợn, ứng dụng kỹ thuật GPS và GIS xây dựng bản đồ dịch tễ, đề xuất biện pháp phòng chống bệnh tai xanh cho lợn tại tỉnh Tuyên Quang (LV thạc sĩ)
Bảng 3.18. Mức độ mẫn cảm của các chủng vi khuẩn (Trang 80)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w