Đó là điều kiện cho các mầm bệnh của chó phát triển trong đó có bệnh ký sinh trùng nói chung và bệnh giun tròn trên chó nói riêng.. leonina 2.1.1.3 Vòng phát triển * Giun đũa Toxocara
Trang 1Đó là điều kiện cho các mầm bệnh của chó phát triển trong đó có bệnh ký sinh trùng nói chung và bệnh giun tròn trên chó nói riêng
mạnh và gây chết nhiều như các bệnh truyền nhiễm… Mà nó xảy ra một cách từ
từ, lặng lẻ, tác động dần dần đến sức khỏe vật nuôi Bệnh giun sán là bệnh phổ biến nhất ở loài chó Nó ký sinh ở đường tiêu hóa của ký chủ, thường xuyên cướp chất dinh dưỡng của ký chủ, tiết ra độc tố gây độc và làm tổn thương cơ quan cư trú làm cho vật nuôi chậm lớn, còi cọc, giảm sức đề kháng tạo cơ hội cho các mầm bệnh khác phát triển Do bệnh tiến triển từ từ với các biểu hiện
Trang 2không rõ ràng do đó các nhà chăn nuôi thường không chú ý cho đến khi thấy con vật còi cọc, gầy yếu Do đó gây ra các thiệt hại về kinh tế do các bệnh giun tròn gây ra là không nhỏ
Xuất phát từ những vấn đề trên, để có những hiểu biết về tình hình nhiễm giun tròn ở đàn chó nuôi tại các địa điểm khác nhau thuốc tỉnh Hà Tĩnh Chúng
tôi thực hiện đề tài “Thành phần loài, tỷ lệ và cường độ nhiễm giun tròn
đường tiêu hóa ở huyện Đức Thọ, Cẩm Xuyên tỉnh Hà Tĩnh và biện pháp phòng trừ”
1.2 MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI
Xác định thành phần loài giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa tại điểm: huyện Đức Thọ và Cẩm Xuyên tỉnh Hà Tĩnh qua phương pháp xét nghiệm phân
và mổ khám toàn diện đường tiêu hóa
Xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm một số giun tròn đường tiêu hóa qua phương pháp xét nghiệm phân và phương pháp mổ khám
Xác định biến động nhiễm một số giun tròn chủ yếu đường tiêu hóa của chó
ở các lứa tuổi khác nhau
Xác định hiệu lực tẩy trừ của thuốc Pharmectin
Trang 3Phần II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 NHỮNG BỆNH GIUN TRÒN CHỦ YẾU KÝ SINH Ở ĐƯỜNG TIÊU HÓA CỦA CHÓ
Giun tròn thuộc lớp Nematoda, ngành Nemathelminthes Có hơn 5000 loài
trong đó có hơn 1000 loài sống tự do, hơn 3000 loài sống ký sinh Trong đó có các
loài thường hay gây bệnh của chó như giun thực quản (Spiroceca lupi), giun đũa
(Toxocara canis, Toxocaris leonine), giun móc (Ancylostoma caninum, Ancylotoma braziliense, Uncinaria stenocephara), giun tóc (Trichocephalus vulpis)
2.1.1 Bệnh giun đũa chó
Theo nghiên cứu của tác giả Phan Lục, bệnh giun đũa xảy ra ở chó chủ yếu là do
2 loài gây ra Toxocara canis, Toxocaris leonine
2.1.1.1 Vị trí phân loại
Trong hệ thống phân loại động vật, giun đũa ký sinh ở chó thuộc Lớp:
Nematoda Rudolphi, 1880
Bộ: Spirurida Chiwood, 1938 Phân bộ: Spirurata Railliet, 1914
Những giun tròn thuộc giống Toxocara không có cánh bên Lớp cutin ở đuôi có
vân ngang giống như toàn cơ thể
Loài thứ 2 thuộc:
Trang 4Những giun đũa thuộc giống Toxocaris có đặc điểm không có môi trung
gian, đuôi con đực có cánh đuôi hẹp hoặc không có, có nhiều nhú trước và sau hậu môn
Ký chủ cuối cùng: chó Nơi ký sinh: dạ dày, ruột non
2.1.1.2 Hình thái, cấu tạo
* Giun đũa Toxocara canis
Theo Werner, T canis là giun tròn có kích thước lớn, màu vàng nhạt, đuôi
hơi cong về phía bụng Đầu có 3 môi, trên mỗi môi đều có các răng nhỏ Thực quản hình trụ, đặc biệt ở giữa thực quản và ruột có đoạn phình to như dạ dày Giun đực dài 50 – 10 mm, đầu có cánh dài, hẹp Hai gai giao cấu dài bằng nhau, dài 0,75 – 0,95 mm
Giun cái dài 90 – 180 mm, đuôi thẳng, lổ sinh sản ở nữa trước cơ thể Giun cái đẻ trứng, trứng có dạng tròn, vỏ ngoài lổ chổ hình tổ ong, đường kính 0,068 – 0,075
Ảnh 2.1 Hình thái trứng T canis
Trang 5* Giun đũa Toxascaris leonina
Theo Linstow, T leonina là loài giun tròn dài, màu vàng nhạt, cánh đầu hẹp, đầu có 3 môi, thực quản hình trụ không có đoạn phình to như loài T canis
Giun đực dài 20 – 60 mm đuôi nhọn hơn, không có cánh đuôi Gai giao cấu dài bằng, dài 0,7 – 1.5 mm
Giun cái dài 60 – 100 mm, trứng tròn, vỏ ngoài phẳng nhẵn, đường kính trứng 0.075 – 0.085 mm
Ảnh 2.2 Hình thái trứng T leonina
2.1.1.3 Vòng phát triển
* Giun đũa Toxocara canis: Giun trưởng thành ký sinh ở dạ dày, ruột non
vật chủ rồi đẻ trứng trong ruột vật chủ, trứng được thải theo phân ra ngoài, gặp điều kiện nhiệt độ, ẩm độ, ánh sáng thích hợp Sau 5 ngày sẽ phát triển thành ấu trùng gây nhiễm, ấu trùng vẫn nằm trong vỏ trứng
Nếu vật chủ nuốt phải trứng có chứa ấu trùng gây nhiễm Khi vào trong đường tiêu hóa, vỏ trứng vỡ, ấu trùng chui ra khỏi trứng, sau đó xuyên qua thành ruột theo hệ tuần hoàn di hành đến gan, tim, phổi, vào khí quản, lên miệng rồi trở lại ruột non để phát triển thành dạng trưởng thành
Một số ấu trùng sau khi vào phổi tiếp tục theo hệ tuần hoàn về các tổ chức làm thành kén, tồn tại và có khả năng gây nhiễm tiếp nếu bị động vật khác ăn
Trang 6phải Khi chó mang thai ấu trùng khi di hành có thể qua nhau vào bào thai và phát triển thành giun trưởng thành Ở bào thai ấu trùng cư trú chủ yếu ở gan và phổi Ở chó sơ sinh sau 2 ngày tuổi, ấu trùng đã xâm nhập vào ruột qua khí quản vào thực quan Nếu các ký chủ tạm thời như chuột đồng, chuột nhà nuốt phải
trứng T canis chứa ấu trùng gây nhiễm thì ấu trùng nở ra theo máu đến các cơ
quan vào mô và đóng kén tại đó Ấu trùng đã đóng kén không phát triển nhưng cấu tạo giải phẫu không thay đổi Chó ăn phải các ký chủ chứa kén này thì ấu trùng sẽ giải phóng kén, tới ruột và phát triển tới dạng trưởng thành
Sơ đồ 2.1: Vòng phát triển của Toxocara canis
Thời gian hoàn thành vòng đời hết 26 – 28 ngày Khi nhiễm qua bào thai
là 21 đến 22 ngày
Sprent quan sát thấy ấu trùng Toxocara canis ở giai đoạn II dài 0,335 –
0.444 mm và ký sinh trong các mô khác nhau của chó Các ấu trùng lột xác 2 lần
Ký chủ cuối cùng Giun trưởng thành
Tạo kèn trong tổ chức
Bào thai
Trứng
Trứng gây nhiễm
Thức
ăn nước uống
Trang 7dày, lột xác lần 3 thành ấu trùng giai đoạn IV và chuyển đến ruột non chó lột xác lần 4 Ở chó sơ sinh, ấu trùng từ cơ thể này chuyển vào ruột sau 23 ngày phát triển thành giun trưởng thành
Động vật cảm nhiễm giun T canis bằng 3 cách:
- Trực tiếp ăn, uống phải trứng gây nhiễm
- Ăn thịt các ký chủ tạm thời có mang ấu trùng
- Nhiễm ấu trùng qua nhau thai: ấu trùng từ cơ thể chó mẹ có chữa xâm nhập vào bào thai qua máu
* Giun đũa Toxascaris leonine: Giun cái trưởng thành ký sinh ở dạ dày,
ruột non của ký chủ thường xuyên đẻ trứng, trứng theo phân ra ngoài nếu gặp điều kiện thuận lợi, nhiệt độ ở 30o sau 3 ngày trứng phát triển thành trứng có ấu trùng gây nhiễm
Sơ đồ 2.2: Vòng phát triển của Toxascaris leonina
Khi vào đường tiêu hóa của chó, ấu trùng được giải phóng chui qua niêm mạc ruột tới tĩnh mạch cửa rồi vào gan, theo hệ tuần hoàn vào phổi, phế nang Khi con vật ho ấu trùng gây nhiễm theo đờm lên miệng rồi nuôt trở lại ruột non Tại đây ấu trùng lột xác 3 lần rồi phát triển thành dạng trưởng thành
Thời gian hoàn thành vòng đời mất khoảng 55 – 72 ngày
Ký chủ dự trữ là loài gặm nhấm, ấu trùng gây nhiễm ở sâu trong thành dạ dày hay ruột của các động vật thuộc loài này
Ký chủ cuối cùng Giun trưởng thành
Trứng Trứng gây nhiễm
Thức
ăn, nước uống
Trang 8Chó nhiễm giun đũa T leonine theo 2 đương chủ yếu sau:
- Trực tiếp ăn, uống phải ấu trùng gây nhiễm
- Ăn phải ký chủ dự trữ có mang ấu trùng gây nhiễm
- Ký chủ dự trữ là chuột, chuột đồng và một số loài gặm nhấm khác
- Tuổi cảm nhiễm: T canis thường phổ biến ở chó con dưới 2 tháng tuổi, thường gây bệnh nặng T leonine thường phổ biến ở chó lớn hơn 6 tháng tuổi Tỷ
lệ nhiễm giun T canis ở chó con thường thấp hơn so với tỷ lệ nhiễm T leonine
Chó trưởng thành trên 1 năm tuổi được nuôi dưỡng tốt thì có sức đề kháng cao với giun đũa Skrjabin và Petrov làm thực nghiệm gây nhiễm cho chó 2 năm tuổi, mỗi chó 5000 trứng Kết quả cả 3 chó đều không bị bệnh khi được nuôi dưỡng tốt Nhưng khi giảm vitamin A trong khẩu phần ăn thì chó bị mắc bệnh
- Tỷ lệ nhiễm: Hầu hết các tác giả trong và ngoài nước đều thống nhất rằng chó cũng như các thú ăn thịt khác nhiễm giun sán nặng ở giai đoạn chó non và nhẹ hơn giai đoạn trưởng thành Theo Phan Lục chó ta nhiễm giun đũa với tỷ lệ 29%, trong đó chó con 17 – 20 ngày tuổi bị nhiễm nặng với triệu chứng rõ ràng Chó con từ sơ sinh đến 4 tháng tuổi nhiễm 52%, tuổi chó càng tăng tỷ lệ nhiễm giun đũa ngày càng giảm và chó trưởng thành (trên 1 năm tuổi) chỉ chiếm 12% Theo Phạm Văn Khuê, Trần Văn Quyết, Đoàn Văn Phúc cho biết chó từ 1- 3
tháng tuổi nhiễm T canis chiếm 57,1%, chó từ 7-12 tháng tuổi chiếm 14,8% Chó trên 1 năm tuổi không nhiễm T canis
Trang 9- Nơi ký sinh: Toxocara canis, Toxascaris leonine đều ký sinh ở ruột non
của ký chủ
- Sức đề kháng của trứng: Trứng của giun đũa có sức đề kháng cao với điều kiện ngoại cảnh Với các dung dịch thủy ngân clorua (HgCl), đồng sunfat
leonine khi làm khô trong phòng thí nghiệm để 45 ngày vẫn không chết, khoảng
100 ngày trứng mới chết Nhưng khi phơi khô dưới ánh nắng trực tiếp của mùa
trứng T leonine bị tiêu diệt [Võ Thị Hải Lê (2007)]
- Đường lây truyền: Chủ yếu qua đường tiêu hóa khi chó ăn, uống hay ăn thịt các ký chủ dự trữ nhiễm giun đũa có chứa ấu trùng gây nhiễm Ngoài ra chó còn có thể nhiễm giun đũa do ấu trùng từ chó mẹ lây qua đường nhau thai
- Ảnh hưởng của ngoài cảnh: Điều kiện ngoại cảnh, phương thức chăn nuôi
là những yếu tố ảnh hưởng lớn đến bệnh ký sinh trùng nói chung và giun đũa nói riêng Khí hậu nóng ẩm quanh năm của nước ta rất thuận lợi cho giun tròn nói chung và giun đũa nói riêng phát triển và gây bệnh Chó nuôi trong điều kiện môi
trường kém, ẩm thấp, phẩm chất thức ăn không tốt thì tỷ lệ nhiễm bệnh cao
2.1.1.5 Triệu chứng, bệnh tích
Chó bị bệnh thường không biểu hiện rõ ràng, chỉ thấy con vật gầy còm, lông xơ xác, đôi khi nôn khan Thường chỉ nhận thấy ở những con vật nhiễm nặng với những biểu hiện như sau:
- Con vật thân gầy còm, lông xơ xác, kém ăn, xơ xác, thiếu máu
- Bụng phình to như bụng cóc, căng tròn, thỉnh thoảng có từng đoạn ruột nổi lên nhu động, ấn tay vào có cảm giác cứng chặt
- Nôn mửa, tiêu chảy, chó thường rên rỉ do đau bụng, có khi nôn ra giun hay phân thải ra ngoài màu xám trắng, thối khắm và ra cả giun
Trang 10- Với những chó nhỏ bị bệnh nặng, các ấu trùng do quá trình di hành trong
cơ thể làm tổn thương, gây viêm gan, thận, phổi, tắc ống mật, đôi khi giun đũa chọc thủng ruột
- Độc tố giun đũa có thể tác động lên thần kinh trung ương gây co giật
2.1.2 Bệnh giun móc chó
Bệnh giun móc chó do 3 loài giun tròn gồm Ancylostoma caninum,
Ancylostoma braziliense, Uncinaria stenocephara gây ra
Loài: Uncinaria stenocephara Những giun tròn thuộc họ Ancylostomatidae có đặc điểm xoang miệng
sâu, có hình cầu, xoang miệng hoàn toàn kitin hóa Phía trước thực quản có phần phình rộng
Ở nước ta cho tới nay đã phát hiện ra được các loài: Ancylostoma
caninum, Ancylostoma braziliense, Uncinaria stenocephara trên các động vật
Trang 11* Ancylostoma braziliense
- Ký chủ cuối cùng: mèo rừng, mèo nhà, hổ, báo, chó
- Nơi ký sinh: ruột non
- Phát triển: trực tiếp
* Uncinaria stenocephara
- Ký chủ cuối cùng: cầy voi, chó, mèo, đôi khi ở lợn
- Nơi ký sinh: ruột non
- Phát triển: trực tiếp
2.1.2.2 Hình thái, cấu tao
* Ancylostoma caninum có kích thước nhỏ, màu vàng nhạt và hồng
nhạt, đoạn trước cong về phía lưng Túi miệng rất sâu, ở rìa mép phía mặt bụng có 3 đôi răng lớn, cong hình lưỡi câu, dưới đáy túi miệng có một đôi răng hình tam giác
Giun đực dài 9 – 12 mm, túi đuôi phát triển, gai giao hợp dài 0,75 – 0,87
mm, đoạn cuối rất nhọn, bánh lái gai giao hợp tròn dài Giun cái dài 10 – 21
mm, lổ sinh dục ở vào 1/3 nữa sau cơ thể Đuôi có gai giao hợp Trứng giun hình bầu dục, vỏ nhẵn, mỏng, dài 0,06 – 0,066 mm, rộng 0,037 – 0,42 mm
* Ancylostoma braziliense có kích thước nhỏ hơn A caninum, giun đực dài
6 – 7 mm, 2 rìa mép bụng đều có 2 đôi răng, 1m, 1 to và 1 nhỏ Trứng có kích thước 0,075 – 0,095 mm x 0,041 – 0,045 mm, trứng có hình bầu dục và bắt đầu phân chia ngay sau đẻ
* Uncinaria stenocephara có màu vàng nhạt, hai đầu hơi nhọn Túi miệng
rất lớn, về mặt bụng của túi miệng có 2 đôi răng hình bán nguyệt xếp đối xứng nhau, cong về phía trong, thực quản dài 0,75 – 0,88 mm
Giun đực dài 6 – 11 mm, rộng nhất 0,28 – 0,34 mm, có túi đuôi phát triển, hai gai giao hợp dài bằng nhau, dài 0,65 – 0,75 mm, đầu mút của gai rất nhọn
Trang 12Giun cái dài 9 – 16 mm rộng nhất 0,28 – 0,37 mm, lổ sinh giục ở vào 1/3 phía trước cơ thể Trứng hình bầu dục, có kích thước 0,078 – 0,083 mm x 0,052 – 0,059 mm
Phân biệt loài giun móc Uncinina stenocephara với loài Ancylostoma
caninum qua phần đầu và kích thước trứng
Ảnh 2.3 Hình thái trứng giun móc
2.1.2.3 Vòng phát triển
Các loài giun tròn thuộc họ Ancylostomatidae đều là giun tròn phát triển
trực tiếp Giun trưởng thành ký sinh ở ruột non, giun cái đẻ ra trứng, trứng theo phân ra ngoài Theo nghiên cứu của Foster Cony (1935), trong điều kiện có đủ oxy, độ ẩm cao, pH trung tính thì sau 24- 28 giờ trứng sẽ phát triển thành ấu trùng gây nhiễm
Mỗi giun cái trưởng thành mỗi ngày có thể thải ra môi trường từ 10000 –
30000 trứng Ở môi trường ngoài sau khoảng 1 – 3 tuần nếu gặp điều kiện thuận lợi nhiệt độ, độ ẩm thích hợp phôi bào trong trứng phát triển tới dạng ấu trùng
Ấu trùng thoát ra khỏi trứng qua 2 lần lột xác phát triển thành ấu trùng gây nhiễm Ấu trùng di chuyển lên các giọt sương trên các ngọn lá cỏ, lá rau trong thời gian dài chờ đợi cơ hội gặp ký chủ thích hợp sẽ xâm nhập vào ký chủ qua 2 con đường:
Trang 13- Qua thức ăn, nước uống hoặc qua các vật chủ dự trữ, ấu trùng chui vào thành ruột và thành dạ dày, ở đó vài ngày rồi trở về ruột non và phát triển thành dạng trưởng thành
- Ấu trùng xuyên qua da để vào cơ thể ký chủ, trong cơ thể ký chủ, theo
hệ thống tuần hoàn về tim, lên phổi, chúng chui qua phế bào đến khí quản rồi về ruột non và phát triển tới dạng trưởng thành Chó trong thời kỳ mang thai ấu trùng theo hệ tuần hoàn về ký sinh ở bào thai vì thế chó con ngay khi sinh ra đã
bị nhiễm giun móc
- Thời gian hoàn thành vòng đời của giun móc chó dài 14 đến 20 ngày
Sơ đồ 2.3: Vòng phát triển của Ancylostomatidae
2.1.2.4 Dịch tể học
- Phân bố: Bệnh có ở khắp nơi trên thế giới Ở Việt Nam nhiều tác giả đã cho biết bệnh giun móc tìm thấy ở chó, mèo và một số loài thú hoang tại nhiều tỉnh từ bắc vào nam
- Động vật cảm nhiễm: Chó, mèo, người và nhiều loài ăn thịt khác đều có
thể tìm thấy giun móc Ở loài chó thì chó ngoại cảm nhiễm A caninum hơn chó
nội (chó ngoại nhiễm 83%, chó nội nhiễm 63%)
Ký chủ cuối cùng Giun trưởng thành
Trứng
Ấu trùng kỳ I
Ấu trùng kỳ II
Ấu trùng kỳ III Bào thai
Qua da ký chủ
Trang 14- Tuổi cảm nhiễm: Theo Phan Lục cho biết chó nhiễm ở mọi lứa tuổi nhưng phổ biến ở chó 4 tháng tuổi ( tỷ lệ nhiễm 82% ) Chó trên 6 tháng tuổi mức độ nhiễm giảm xuống ( tỷ lệ nhiễm 75% )
- Tỷ lệ nhiễm: Nhìn chung tỷ lệ nhiễm giun móc ở đàn chó nuôi chiếm tỷ lệ tương đối cao Theo Phạm Sỹ Lăng cho biết chó từ 2 – 3 tháng tuổi nhiễm giun
A caninum chiếm tới 62,1%, chó từ 3 – 6 tháng tuổi nhiễm 90,7%
Theo Phạm Văn Khuê, Trần Văn Quyên, Đoàn Văn Phúc (1993) chó từ 1 –
3 tháng tuổi nhiễm A caninum chiếm 68,8%
Lê Hữu Khương, Lương Văn Huấn (1998) cho biết chó nhiễm Ancylostoma
caninum cao nhất ở lứa tuổi 2 – 6 tháng tuổi sau đó giảm dần
- Nơi ký sinh: giun móc ký sinh ở ruột non ký chủ
- Sức đền kháng của trứng: Nhiệt độ thích hợp để trứng phát triển thành
độ dưới 00C và trên 400C Ở những nơi ẩm ướt, thiếu ánh sáng, ấu trùng A
caninum có thể tồn tại một thời gian dài
- Đường truyền lây: Bệnh lây qua thức ăn, nước uống hoặc ấu trùng cảm nhiễm chui qua da ký chủ
- Ảnh hưởng của ngoại cảnh: Trong điều kiện khí hậu nóng ẩm của nước ta, bệnh giun móc có thể lây nhiễm quanh năm tùy nhiên thời kỳ lây nhiễm cao thường ở khoảnh từ tháng 4 đến tháng 10
Theo Petrov chó nhiễm A caninum thì có sức đề kháng cao hơn với chó
mới bị nhiễm giun này Chó ở điều kiện ăn đói trở nên mẩn cảm hơn Trong điều
kiện cho chó ăn đầy đủ thì sức đề kháng của chó với A caninum được khôi phục
và có thể tự thải ra một lượng lớn A caninum trưởng thành ra khỏi ruột
Theo Phạm Văn Khuê, Trần Văn Quyên, Đoàn Văn Phúc, (1993) thì những chó thả rông thì tỷ lệ nhiễm giun móc cao tới 90%
Trang 152.1.2.5 Triệu chứng, bệnh tích
- Chó mắc bệnh giun móc thường có biểu hiện buồn rầu, lờ đờ, lông dựng,
da dầy có những điểm tróc và mẩn đỏ, rồi gầy dần, có thể dẫn tới bần huyết Sau
đó chó bị chảy máu mũi Triệu chứng đặc trưng nhất là thiếu máu, viêm ruột cấp
và mạn tính, kèm theo chảy máu ruột, đặc biệt chó non từ 2 – 4 tháng tuổi, khi mắc tỷ lệ chết cao từ 60 – 80%
+ Xuất hiện hội chứng thần kinh do độc tố giun thấm vào máu di khắp
cơ thể
+ Chó non chết do mất máu, mất nước
Gia súc khỏe và gia súc mắc giun móc lần đầu, bệnh có thể nhẹ hơn Triệu chứng chủ yếu là thiếu máu, chảy máu ruội, tuy nhiên sau khoảng 2 – 3 tháng tuổi có thể tự khỏi bệnh khi điều kiện chăm sóc và nuôi dưỡng tốt
Tên; Spirocerca sanguinolenta (Rudolphi, 1819)
Trang 16Vật chủ: chó nhà, cáo, chuột rừng, gà nhà Nơi ký sinh: Thực quản, dạ dày, động mạch chủ Phát triển qua ký chủ trung gian là bọ hung và nhiều loại côn trùng cánh
cứng khác (Scarabeus sacer, Copris lunaris, Goetruper stercorarius)
Ký chủ dự trữ là lưỡng cư, bò sát, động vật có vú
2.1.3.2 Hình thái, cấu tạo
Giun có màu đỏ, miệng nhỏ hình 6 cạnh, thực quản kép
* S lupi: Giun đực dài 30 – 54 mm, Hai gai giao cấu dải không bằng
nhau, dài 2,4 – 4,9 mm và 0,61 – 0,76 mm Giun cái dài 54 – 80 mm Lổ sinh sản cái nằm ở trước thân, gần cuối thực quản Trứng chứa ấu trùng
* S arctica Giun đực có hai gai giao cấu dài không bằng nhau, dài 0,83 và
0,29 mm Giun cái dài 9,5 – 12,5 mm Lổ sinh sản cái ở khoảng giữa thân Trứng nhỏ có kích thước 0,035 – 0,039 mm x 0,014 – 0,023 mm Trong trứng có
ấu trùng
Ảnh 3.4 Hình thái giun thực quản
2.1.3.3 Vòng phát triển
gian là bọ hung, các côn trùng cánh cứng khác phải nuốt phải, ấu trùng giun phát
Trang 17ăn phải vật chủ trung gian chứa ấu trùng gây nhiễm, ấu trùng sẽ phát triển thành giun trưởng thành Nếu những động vật không phải là vật chủ cuối cùng (chim,
bò sát, một số động vật có vú) nuốt phải ấu trùng gây nhiễm có trong vật chủ trung gian Những ấu trùng này sẽ chui vào thành thực quản, dạ dày, ruột… đóng kén ở đó và vẫn có khả năng gây nhiễm cho chó
Sơ đồ 2.4: Vòng phát triển của Spirocerca lupi
2.1.3.4 Triệu chứng, bệnh tích
Chó nhiễm giun thường thấy chảy giải, nôn, khó nuốt, đôi khi giả dại Khi khối u có ở phế quản, súc vật ho nhiều Khi khối u ở trong động mạch có thể
làm vở động mạch dẫn tới con vật chết ngay
Bệnh tích thường thấy là những khối u cứng ở thực quản, dạ dày hoặc khí quản, kích thước bằng hạt đậu đến quả trứng gà, cấu tạo bằng mô liên kết co giản, có lổ trên đỉnh khối u Bênh trong rỗng, chứa mủ lẫn máu và giun cuộn thành búi Kiểm tra trên kính hiểm vi thấy có trứng giun Trong những khối u động mạch thường nhỏ, bên trong chỉ chứa ấu trùng
Ký chủ cuối cùng Giun trưởng thành
Trứng (A1 )
Vật chủ trung gian
Bọ hung, bọ cánh cứng khác(A3 A2)
Vật chủ dự trữ
Thức ăn
Thức
ăn, nước uống
Trang 182.1.3 Bệnh giun tóc ở chó
2.1.3.1 Vị trí, phân loại
Bệnh do giun Trichocephalus vulpis gây ra Chó bị nhiễm bệnh do ăn uống
phải trứng giun thời kỳ gây nhiễm Bệnh thường kết hợp với bệnh giun móc
Lớp: Nematoda Rudolphi, 1880
Bộ: Trichocephalida Skjabin et Schulz, 1928
Họ: Trichocephalidae Braid, 1853
Tên: Trichuris vulpis
- Ký chủ cuối cùng: chó nhà
- Nơi ký sinh: manh tràng
- Phát triển: trực tiếp
Những giun tròn thuộc họ Trichocephalidae có đặc điểm phần trước cơ thể
hình sợi mảnh dài hơn phần sau Thực quản dạng hình ống, có các tuyến thực quản Con đực có một gai giao phối dài Con cái có lổ sinh dục nằm trên đường ranh giới giữa phần trước và phần sau
2.1.4.2 Hình thái, cấu tạo
Giun tóc có kích thước nhỏ, dạng roi ngựa hoặc sợi tóc, màu hồng nhạt
Cơ thể chia thành 2 phần rõ ràng Thực quản dài tới 2/3 cơ thể Phần sau phình to hơn, chứa hệ tiêu hóa và hệ sinh dục,
Giun đực dài 45 – 60.5 mm, đuôi tù thường cong chứa 3 gai giao cấu, một gai giao cấu dài 8.31 – 11.1 mm
Giun cái dài 62 – 75 mm đuôi thẳng Hậu môn ở cuối thân Lổ sinh sản ở cuối thực quản, thức quản dài 42 – 56,3 mm Âm hộ nằm ở phía sau đoạn cuối thức quản
Trang 19Trứng hình hạt chanh, kích thước 0,083 – 0,093 mm x 0,037 – 0,04 mm, có màu vàng nhạt
Ảnh 3.5 Hình thái trứng T vulpis
2.1.4.3 Vòng phát triển
Giun tóc phát triển trực tiếp Giun trưởng thành ký sinh ở manh tràng vật chủ thường xuyên đẻ trứng, trứng theo phân ra ngoài gặp điều kiện thuận lợi sau
25 – 26 ngày sẽ phát triển thành ấu trùng gây nhiễm vẩn nằm trong trứng Chó
ăn, uống phải thức ăn nước uống có chứa ấu trùng gây nhiễm, ấu trùng thoát khỏi vỏ trứng ở đường tiêu hóa, chui sâu vào niêm mạc ruột già, manh tràng và phát triển tới dạng trưởng thành
Theo K.I.Skrjabin và T.V.Orlov, 1957 thời gian phát triển của T vulpis
trong cơ thể vật chủ mất 30 – 107 ngày
Ký chủ cuối cùng Giun trưởng thành
Trứng Trứng gây nhiễm
Thức
ăn, nước uống
Trang 20Sơ đồ 2.5: Vòng phát triển của Trichuris vulpis
2.1.4.4 Dịch tể học
- Phân bố: Bệnh giun tóc phân bố ở khắp nơi trên thế giới
- Theo Trịnh Văn Thịnh, (1963) cho biết ở nước ta chó ở hầu hết các tỉnh phía bắc đều bị nhiễm giun tóc
- Động vật cảm nhiễm: chó nhà, chó sói, cáo đều cảm nhiễm với T vulpis
- Tuổi cảm nhiễm: Chó con 2 – 4 tháng tuổi nhiễm T vulpis nhẹ hơn chó
trưởng thành
- Tỷ lệ nhiễm: Theo Phan Đình Lân, Phạm Sỹ Lăng (1979) khi nghiên cứu
tại trại nuôi chó D24 cho biết chó nhiễm T vulpis là 16,3% Theo Phạm Văn
Khuê, Trần Văn Quyên, Đoàn Văn Phúc (1993) xét nghiệm đàn chó ở Hà Nội cho biết tỷ lệ nhiễm T vulpis là 17,1%
- Nơi ký sinh: T vulpis ký sinh ở ruột già của ký chủ
- Đường lây truyền: Bệnh lây nhiễm trực tiếp do ký chủ ăn, uống phải thức
ăn, nước uống có lẫn trứng giun có chứa ấu trùng gây nhiễm
- Ảnh hưởng của ngoại cảnh: Điều kiện khí hậu nóng ẩm, môi trường bị ô nhiễm, thức ăn, nước uống không sạch, không đảm bảo phẩm chất là điều kiện
thuận lợi cho sự lây nhiễm của T vulpis
Trang 212.1.4.5 Triệu chứng, bệnh tích
Khi chó nhiễm nhẹ triệu chứng không rõ ràng Khi bị nhiễm nặng vật nuôi gầy yếu, thiếu máu Trong phân thường có niêm dịch nhầy, có khi lẫn máu, con vật bị kiết lị
Con vật bị chết thì xác gầy, khi mổ khám thì thấy có giun tóc ở ruột già Niêm mạc ruột gìa có những nốt loét bằng hạt đậu xanh Khi bị nhiễm nặng, ruột già, manh tràng bị xuất có màu hồng sẫm, niêm mạc bị bong tróc ra
Ngoài các bệnh giun tròn trên ở chó còn gặp một số bệnh khác như: bệnh
giun chỉ ở chó (Filariatosis) do 2 loài giun tròn họ Filariadae, giống Dirofilaria
là Dirofilaria immitis gây bệnh giun chỉ tim và Dirofilariarepes gây bệnh giun chỉ ở mô dưới da Bệnh giun lươn ở chó (Strongylodosis) do Strongyloides canis
và bệnh giun thận ở chó (Dioctophymatois) do Dioctophyme renale gây nên
2.2 SƠ LƯỢC LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VỀ GIUN TRÒN KÝ SINH Ở ĐƯỜNG TIÊU HÓA CỦA CHÓ
2.2.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài
Theo Werner, (1782) là người đầu tiên phát hiện ra giun tròn T canis ký
sinh ở ruột non chó và chó sói Cho đến tận năm 1941 Petrov đã nghiên cứu và
xác định được vòng đời, phương thức gây nhiễm của T canis
Theo nghiên cứu của Linstow (1902) là người phát hiện và mô tả T
leonine Sau đó Petrov A.M và Borovkova đã nghiên cứu bổ sung vòng phát
triển và cách thức gây nhiễm
Nghiên cứu ở Liên Xô cũ, theo Skrjabin K.I, Petrov A.M, 1963 thông báo
tỷ lệ chó nhiễm T canis do ăn phải trứng chứa ấu trùng gây nhiễm, ăn phải thịt
ký chủ dự trữ có chưa ấu trùng, ngoài ra chó còn bị nhiễm qua bào thai Chó trưởng thành nhiễm ít hơn chó còn non
Ở Mỹ theo nghiên cứu của cocbenber (1977) kiểm tra 387 chó cho thấy tỷ
lệ nhiễm T canis là 18,9%, T leonine là 17,9%
Trang 22A.L Kolevatova (1957) đã chứng minh bằng thực nghiệm quá trình xâm
nhập của ấu trùng và những tác động bệnh lý của A.caninum và U.stenocephara Nghiên cứu tại Australia của D Nissen (2005) cho biết A caninum xâm nhập vào ộng vật như A braziliense không có khả năng bài tiết các enzym để
thẩm thấu qua ranh giới giữa hai lớp hạ bì và biểu bì Ấu trùng có thể sống sót trong da khoảng 10 ngày, sau đó chúng bị chết đi
Eguie – Aguilar, Crus – Reyer A, Martinez – Maz JJ (2005) mổ khám ruột non của 120 chó ở thành phố Mexico và cho biết có 102 chó nhiễm giun sán,
trong đó 75 chó (62,5%) nhiễm A.caninum Các tác giả còn cho biết tỷ lệ nhiễm
A caninum tăng dần theo lứa tuổi chó, còn T canis thì phổ biến ở chó con và
nhiễm vào mùa khô
2.2.2 Sơ lược lịch sử nghiên cứu trong nước
Nước ta với điều kiện nhiệt đới gió mùa ấm quanh năm nên các bệnh ký sinh trùng nói chung và các bệnh giun tròn nói riêng đã gây nhiều tác hại đáng
kể đến loài chó Vì vậy từ khá sớm đã có nhiều nhà khoa học quan tâm và đã có nhiều công trình nghiên cứu lớn
Vào những năm đầu thế kỷ 20 các công trình nghiên cứu về ký sinh trùng ở nước ta chủ yếu là các nghiên cứu của một số tác giả người Pháp tại Việt Nam như Houdemer, Nober, Bauche… Nghiên cứu của các tác giả cho thấy chó ở
Việt Nam nhiễm 29 loài giun, sán Trong đó A caninum nhiễm với tỷ lệ cao
nhất 75,87% (trích theo Đỗ Thái Dương và cs, 1978)
Theo nghiên cứu của Đỗ Dương Thái, Trịnh Văn Thịnh, (1978) cho biết chó nước ta có thể nhiễm 11 loài giun tròn
Trịnh Văn Thịnh, Đoàn Văn Phúc và cs, 1993 nhận xết rằng chó non nhiễm giun đũa và giun móc nặng hơn so với chó trưởng thành
Phan Địch Lân, Đoàn Văn Phúc, Phạm Sỹ Lăng, (1989) trong hai năm 1985 – 1986 đã theo dõi và điều trị cho 147 trường hợp chó nghiệp vụ và chó cảnh bị
Trang 23triệu chứng nôn mữa 139 con (chiếm 94,5%), kém ăn hoặc bỏ ăn 128 con (87,0%), chảy máu ruột 140 con (93,7%), ỉa chảy 121 con (82,3%), thiếu máu, suy nhược 105 con (71,4%) Cũng theo các tác giả trên thì chó 1 – 4 tháng tuổi khi bị viêm ruột do giun móc nếu được điều trị không tôt thì tỷ lệ chết rất cao 80 – 90%
Phạm Văn Khuê, Trần Văn Quyên, Đoàn Văn Phúc (1993) cho biết đàn chó
nuôi tại Hà Nội nhiễm Toxocara canis 20,2 %, Toxascaris leonine 29,4%,
Trichocephalus vulpis 17,1% và Ancylostoma caninum 59,7%
Theo Trần Xuân Mai (1992) thông báo chó thả rông ở một số tỉnh phía nam nhiễm giun sán với tỷ lệ 67,11% trong đó tỷ lệ nhiễm giun móc cao nhất là 55,35%
Ngô Huyền Thúy, Nhữ Văn Thụ (1994) sau khi xét nghiệm phân chó ở Hải
Phòng và Hà Nội nhiễm giun tròn lần lượt là Toxocara canis 27,8% và 27%,
Toxocaris leonine 17,8% và 21,9%, Ancylostoma caninum 67,7% và 62,3%, Trichocephalus vulpis 13,4% và 12,4%
Đào Huyền Giang (1995) xét nghiệm phân chó Nhật, chó Fox, chó lai và
chó nội cho biết tỷ lệ nhiễm Toxocara canis là 15,39 – 20%, Toxascaris leonine
là 30,7 – 35%
Theo Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Thị Kim Thành (1996) xét nghiệm 100 mẫu
phân chó cảnh cho biết tỷ lệ nhiễm Toxocara canis là 20%, Toxascaris leonine
36,6%
Lê Hữu Khương, Lương Văn Huấn (1998) xét nghiệm 753 mẫu phân chó,
mổ khám 253 chó khu vực thành phố Hồ Chí Minh cho biết tỷ lệ nhiễm giun móc lần lượt là 61,62% và 90,51%
Lê Hữu Nghị, Nguyễn Văn Duệ, (2000) xét nghiện 130 mẫu phân chó nuôi
tại thành phố Huế cho biết tỷ lệ nhiễm Toxocara canis là 58,46%, T leonine là 40,76%, A caninum 52,3%
Trang 242.3 NHỮNG TÁC HẠI CỦA GIUN TRÒN ĐỐI VỚI SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI
Sức khỏe của con người là quan trọng nhất, chính vì vậy mà chúng ta quan tâm đến dịch bệnh của người và động vật hay các hoạt động khác mục đích cuối cùng cũng là phục vụ sức khỏe và đời sống con người Trong các loài giun ký
sinh ở đường tiêu hóa của chó trên đây thì T.canis và A caninum có khả năng
lây nhiễm và gây tác hại lớn đến sức khỏe con người hơn cả
T canis trưởng thành sống trong ruột chó, đẻ trứng, trứng theo phân ra ngoài
Gặp điều kiện thuận lợi trứng sẽ phát triển thành dạng chứa ấu trùng cảm nhiễm Trứng chứa ấu trùng cảm nhiễm này vào cơ thể con người qua con đường ăn uống Đặc biệt là những trẻ em hay nghịch đất, hay ôm ấp chó mèo lại không thường xuyên rửa tay trước khi ăn Tại ruột non ấu trùng được giải phóng, thâm nhập thành ruột, theo hệ thống tuần hoàn phát tán khắp cơ thể nhưu não, mắt, tim…
Khi xâm nhập vào cơ thể người ấu trùng không phát triển thành dạng trưởng thành mà chỉ là ấu trùng và đi đến cơ quan nào thì đóng kén tại cơ quan
đó, gây viêm và kích thích tạo u hạt thâm nhiễm bạch cầu ái toan, và không bao giờ bài tiết trứng theo phân
Trong thời kỳ ấu trùng giun đũa di hành qua phổi gây nên : ho, hen phế quản, nổi mẩn hoặc khạc ra máu bất thường Nếu ấu trùng giun đũa cư trú tại gan, não, tủy sống, mắt, thận, thì tác hại mà nó gây ra cho con người là khó lường hết được
Khi bị nhiễm ấu trùng giun đũa chó mèo, người bệnh có thể bị sốt, xanh xao, gầy ốm, ho khò khè kéo dài Ở thể nặng khi ấu trùng cư trú tại hệ thần kinh trung ương, tim, phổi, sẽ dẫn đến hiện tượng co giật toàn thân, phù não, nhức đầu kéo dài, liệt nửa người, liệt chi dưới, viêm não – màng não và có thể dẫn đến giảm thị lực dẫn đến lé mắt, mù mắt nếu không phát hiện kịp thời
Trang 25Người bị nhiễm giun móc A caninum do ăn uống phải thức ăn, nước uống
có chứa ấu trùng cảm nhiễm của giun móc, hay do các ấu trùng này xuyên qua
da, nhất là những vùng da mỏng mịn như da giữa các ngón chân, da vùng bụng Sau khi xâm nhập qua da ấu trùng L3 từ mao mạch đi vào tuần hoàn máu và lâm
ba đến tim phải rồi đến phổi Chúng men theo các nhánh phế quản và trải qua biến đổi thành ấu trùng L4 rồi tiếp tục đi đến khí quản để được nuốt vào ống tiêu hóa và khu trú tại tá tràng Chúng phát triển thành ấu trùng L5, rồi thành giun
trưởng thành Trên người A caninum không gây miễn dịch cho cơ thể Các ấu
trùng giun móc ký sinh ở gan thì hình thành các u, hạt; cư trú ở mắt thì có thể làm tổn thương võng mạc gây mù…, giun móc trưởng thành ở người với số lượng lớn sẽ gây ra chứng thiếu máu
Trước phong trào nuôi chó ngày càng tăng, để đánh giá nguy cơ bùng phát bệnh giun đũa chó theo trào lưu này, các bác sĩ, nhà chuyên môn có lời cảnh báo không nên cho trẻ em tiếp xúc nhiều với chó, nghịch đất; nên nuôi chó với chế
độ chăm sóc tốt của thú y như kiểm tra định kỳ và điều trị giun cho chó; nên rửa
kỹ rau sống trước khi ăn và không nên ăn thức ăn sống, tái
2.4 BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ BỆNH GIUN TRÒN TRÊN CHÓ
Skrjabin (1994) đã đưa ra học thuyết phòng trừ tổng hợp bệnh giun sán Nội dung chủ yếu của học thuyết là dự phòng có tính chất chủ động, dùng tất cả các phương thức cơ giới, vật lý, hóa học, sinh vật học để tiêu diệt ký sinh trùng trên
cơ thể ký chủ và ngoại cảnh ở tất cả các giai đoạn phát dục Để làm tốt công tác tiêu diệt bệnh ký sinh trùng nói chung và bệnh giun tròn trên chó nói riêng chúng ta phải nghiên cứu toàn diện về hình thái, sinh thái, địa lý phân bố, điều tra khu hệ, tìm hiểu lịch sử phát dục của ký sinh trùng, dịch tễ học bênh ký sinh trùng, các phương pháp điều trị và đề phòng Ứng dụng học thuyết của K.I.Skrjabin về phòng trị các bệnh giun tròn trên chó bao gồm:
Trang 26- Diệt ký sinh trùng ở động vật
+ Chẩn đoán bệnh chính xác để dùng thuốc điều trị
+ Xác định quy mô diệt trùng Dựa vào tình hình thực tế để xác định những nơi cần diệt trừ ký sinh trùng: Ở những nơi đó phải thực hiện những phương pháp phòng ngừa chung, dù chó cảm nhiễm ít cũng phải tiến hành diệt ký sinh trùng trên quy mô rộng
+ Định kỳ diệt ký sinh trùng: Căn cứ chu kỳ phát dục của giun, căn cứ vào mùa vụ và điều kiện nuôi thả rông hay nhốt hay bán nhốt
+ Tôn trọng quy tắc tiêu độc: Phải theo dõi những chó đang được tẩy trừ ký sinh trùng trong 3 - 5 ngày sau tẩy để tiêu độc chu đáo Những chó sau khi đã tẩy trừ sạch phải được nuôi nhốt trong điều kiện không nhiễm ký sinh trùng hay trứng của ký sinh trùng Phân phải được xử lý bằng phương pháp ủ nhiệt sinh vật
- Diệt trứng và ấu trùng ở phân bằng phương pháp ủ nhiệt sinh vật:
+ Cách ủ phân: Phân được chuyển tới chỗ chứa, lúc đầu thành từng đống nhỏ, trộn rác, lá cho phân xốp để không khí lưu thông trong đống phân Qua 3 – 7 ngày nhiệt độ trong đống phân tăng đến 55 – 700C khiến đại bộ phận vi sinh vật bị tiêu diệt Lúc đó nếu nén chặt đống phân lại lượng vi sinh vật còn sống sẽ giảm đi 90 %
Để tăng nhiệt độ của những đống phân ủ yếm khí chúng ta có thể ủ phân với lá xanh, vôi bột Xung quanh đống phân dùng bùn trát kín, tỷ lệ ủ phân như sau:
Phân gia súc : 1000 kg
Lá xanh băm nhỏ: 200 kg Vôi bột: 30 kg
Các thành phần trên được xếp thành lớp Với cách ủ này nhiệt độ của đống phân tăng cao ( 65oC )
- Tổ chức vệ sinh nguồn nước uống:
Nước cho chó uống phải đảm bảo sạch, không cho chó uống nước ở ao tù
Trang 27Bên cạnh việc thực hiện tốt công tác vệ sinh thức ăn, nước uống, vệ sinh môi trường chúng ta cần phải làm tốt công tác nuôi dưỡng, chăm sóc tốt để nâng cao sức đề kháng cho chó; không cho chó nhà tiếp xúc với chó thả rông Tăng cường công tác truyền thông giáo dục nhằm nâng cao hiểu biết của người dân về tác hại của giun tròn đối với động vật nói chung và chó nói riêng và với sức khỏe của con người để mọi người có ý thức tham gia vào việc phòng nhiễm và tái nhiễm giun Phối hợp với ngành y tế đưa công tác phòng chống giun sán vào kế hoạch, chiến lược hành động quốc gia
Trang 28Phần III
ĐỐI TƯỢNG – NỘI DUNG – PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
3.1 THỜI GIAN NGHIÊN CÚU
3.1.1 Thời gian nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu được tiến hành nghiên cứu từ tháng 01 năm 2010 đến tháng 05 năm 2010
3.1.2 Địa điểm nghiên cứu:
Chúng tôi nghiên cứu đề tài tại 3 địa điểm: huyện Đức Thọ và Cẩm Xuyên tĩnh Hà Tĩnh
Hà Tĩnh thuộc vùng Bắc miền Trung Việt Nam; Có tọa độ từ 17057'00'' đến 18046'00'' độ vĩ Bắc và 105045'00'' đến 106030'40'' độ kinh Đông Diện tích tự nhiên 6.055,74 km2, dân số 1.270.162 người (năm 2001), chiếm 1,8% diện tích tự nhiên và 1,7% dân số cả nước Phía Bắc giáp Nghệ An, phía Nam giáp Quảng Bình, phía Tây giáp Lào, phía Đông giáp biển Đông
Ở phía Đông dãy Trường Sơn, địa hình Hà Tĩnh hẹp và dốc, nghiêng từ Tây sang Đông, độ dốc trung bình 1,2% Phía Tây là núi cao (độ cao trung bình 1.500 m), kế tiếp là đồi bát úp, dải đồng bằng nhỏ, hẹp (độ cao trung bình 500 m) và cuối cùng là bãi cát ven biển Địa hình đồi núi chiếm 80% diện tích tự nhiên, phân hoá và bị chia cắt mạnh, hình thành các vùng sinh thái khác nhau Nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, ngoài ra Hà Tĩnh còn chịu ảnh hưởng của khí hậu chuyển tiếp của miền Bắc và miền Nam, với đặc trưng khí hậu nhiệt đới điển hình của miền Nam và có một mùa đông giá lạnh của miền Bắc Hàng năm, Hà Tĩnh có hai mùa rõ rệt:
Trang 29- Mùa mưa: Mưa trung bình hằng năm từ 2500 ly đến 2650 ly Hạ tuần tháng 8, tháng 9 và trung tuần tháng 11 Địa hình đồi núi chiếm 80% diện tích tự nhiên, phân hoá và bị chia cắt mạnh, hình thành các vùng sinh thái khác nhau lượng mưa chiếm 54 % tổng lượng mưa cả năm
- Mùa khô: Từ tháng 12 đến tháng 7 năm sau Đây là mùa nắng gắt, có gió Tây Nam (thổi từ Lào) khô, nóng, lượng bốc hơi lớn
3.2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Chó nhà ở các độ tuổi khác nhau: >2 tháng tuổi; 3 – 8 tháng tuổi; < 8 tháng tuổi
- Trứng, giun trưởng thành chủ yếu ở đường tiêu hóa chó: giun đũa, giun móc, giun tóc và giun thực quản
- Nguyên liệu nghiên cứu:
+ Phân chó ở các độ tuổi khác nhau
+ Dịch ruột chó
3.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
3.3.1 Xác định thành phần loài giun tròn ký sinh ở chó tại 3 địa điểm nghiên cứu tại huyên Đức Thọ và Cẩm Xuyên tỉnh Hà Tĩnh
3.3.2 Xác định tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa tại địa điểm nghiên cứu qua phương pháp mổ khám
3.3.3 Xác định tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm một số loại giun tròn chủ yếu trên chó tại địa điểm nghiên cứu qua phương pháp xét nghiệm phân
3.3.4 Xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm giun theo lứa tuổi của chó
3.3.5 So sánh tỷ lệ và cường độ nhiễm giun tròn ở các vùng sinh thái khác nhau 3.3.6 Thử nghiệm thuốc tẩy trừ giun tròn đường tiêu hóa của chó và đề xuất biên pháp phòng
3.4 NGUYÊN LIỆU, DỤNG CỤ NGHIÊN CỨU
3.4.1 Dụng cụ nghiên cứu
- Kính hiểm vi, kính lúp, lam kính, lamen
Trang 30- Buồng đếm Mc Master, pipet, ống đong có các mức chia độ là 58ml và 60ml
- Cốc nhựa, đũa thủy tinh, phểu lọc, rây lọc, vòng vớt
- Các bình tam giác để tiến hành phương pháp Fulleborn
- Hộp lồng để đựng mẫu dịch ruột, lọ để đựng giun
- Túi nilon, vòng chun để dựng mẫu, găng tay
3.4.2 Hóa chất
- Nước muối bão hòa
- Hóa chất bảo quản là dung dịch Barbagallo gồm có + 30 ml Focmon
+ 7,5 g NaCl tinh khiết + 1000 ml nước cất
- Thuốc tẩy Pharmectin là hoá chất có thành phần chính là Ivemectin (trong
1 ml có chứa 2.5 mg được chất Ivemectin.)
3.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.5.1 Nguyên lý thực hiện thí nghiệm
- Thực hiện đề tài chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu thực nghiệm
và thực địa
- Sử dụng phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên đơn giản và phương pháp phân tầng: + Phương pháp lấy mẫu phân: phân chó được lấy vào các buổi sáng, lấy 15 – 20g phân chó mới bài xuất, đựng vào túi nilon, cột chặt bằng vòng chun Trên túi nilon có ghi các ký hiệu M1, M2, M3… Mẫu phân lấy xong đem xét nghiệm ngay trong ngày Ở sổ ghi chép tương ứng với các mẫu M1, M2, M3… ghi các chỉ tiêu: tính biệt, lứa tuổi, trọng lượng, địa điểm lấy mẫu
+ Phương pháp mổ khám đường tiêu hóa tìm giun tròn: thu thập giun trưởng thành ở đường tiêu hóa của chó sau đó đổ trực tiếp vào đĩa lồng hoặc cho vào túi nilon, buộc chặt đem về phòng thí nghiệm để kiểm tra, phân loại và
Trang 31- Điều tra tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa của chó theo nghiên cứu cắt ngang
3.5.2 Phương pháp thí nghiệm
- Thu thập giun tròn đường tiêu hóa bằng phương pháp mổ khám phi toàn diện (hay phương pháp mổ khám toàn diện đường tiêu hóa) chó ở các lứa tuổi tại các lò mổ khám trong khu vực nghiên cứu
- Định loại giun tròn theo các nguồn tài liệu: Khóa định loại của Trịnh Văn Thịnh (1963); Phan Thế Việt; Nguyễn Thị Kỳ; Nguyễn Thị Lê (1977)
- Phân chia lứa tuổi chó dựa trên các đặc điểm trưởng thành của loài chó
- Thu thập mẫu phân ngẫu nhiên đối với chó ở các lứa tuổi trong khu vực điều tra, xét nghiệm phân tìm trứng bằng phương pháp Fulleborn
* Phương pháp Fulleborn
Nguyên lý: dựa vào sự chênh lệch tỷ trọng giữa nước muối bão hòa (d = 1,18 – 1,20) với trứng giun tròn Trứng giun tròn có tỷ trọng nhỏ hơn tỷ trọng của nước muối bão hòa nên sẽ nổi lên trên bề mặt
Dùng vòng vớt váng bỏ lên trên phiến kính và đem soi kính hiển vi vật kính
8 sau đó soi vật kính 20
- Cách tiến hành:
Cho 5 – 10g phân vào cốc nhựa, đổ vào đó một lượng nước muối bão hòa gấp 10 – 20 lần lượng phân
Dùng đũa thủy tinh khuấy tan rồi lọc qua phễu lọc sang một cốc khác, sau
đó đổ sang lọ tiêu bản, dùng pipet điều chỉnh lượng nước muối bão hòa đến mức nhỏ nhất của lọ tiêu bản
Để yên lọ tiêu bản 15 – 30 phút Dùng vòng vớt bằng thép không gỉ có đường kính khoảng 5 mm vớt lớp váng ở trên bề mặt dung dịch để lên phiến kính rồi soi kính hiển vi tìm trứng
Phương pháp này đơn giản, dễ làm, dụng cụ thí nghiệm đơn giản, rẻ tiền mà hiệu quả cao nên được áp dụng rộng rãi
Trang 32* Đếm trứng bằng buồng đếm Mc Master
Cho nước muối bão hòa vào ống nghiệm tới vạch 58 ml
Cho từ từ lượng phân vào đến khi dung dịch trong ống dâng đến vạch 60 ml thì dừng lại
Dùng đũa thủy tinh khuấy nát phân (cho 10 – 20 viên bi thủy tinh nhỏ vào ống đong rồi lắc cho phân tan, phân tán đều)
Dùng pipet hút, bơm vào 2 buồng đếm, mỗi buồng 0,15 ml dung dịch phân này Đưa buồng đếm vào dưới kính hiển vi và đếm tất cả trứng có trong 2 buồng đếm Số trứng trong 1 g phân được tính theo công thức:
2
a
x 200 Với A là số trứng có trong 1 g phân
- Phương pháp quan sát và đếm giun trưởng thành
Các mẫu dịch ruột lấy từ các lò mổ chó bỏ vào các đĩa lồng
Dùng pince gắp, phân loại các loại giun tìm được vào các đĩa lồng khác nhau Sau đó đếm, ghi chép lại thành phần, số lượng các giun trưởng thành thu được ở các đĩa lồng này
Phân chia lứa tuổi chó dựa theo đặc điểm về sự trưởng thành của chó
Xác định triệu chứng lâm sàng của chó nhiễm giun đũa, giun móc thông qua quan sát những biến đổi về thể trạng, vận động, ăn, uống, khả năng sinh trưởng, trạng thái thần kinh, trạng thái phân
Đề xuất các biện pháp phòng bệnh giun tròn đường tiêu hóa của chó dựa trên kết quả nghiên cứu của đề tài, đồng thời có kế thừa các kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước
* Xử lý số liệu
Các số liệu thu thập được trong quá trình nghiên cứu đề tài, các chỉ tiêu được xử lý theo phương pháp thống kê sinh học, sử dụng phần mềm Excel Các công thức tính: