1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn, sử dụng kháng nguyên chẩn đoán bệnh cho lợn tại tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)

88 264 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 1,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn, sử dụng kháng nguyên chẩn đoán bệnh cho lợn tại tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn, sử dụng kháng nguyên chẩn đoán bệnh cho lợn tại tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn, sử dụng kháng nguyên chẩn đoán bệnh cho lợn tại tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn, sử dụng kháng nguyên chẩn đoán bệnh cho lợn tại tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn, sử dụng kháng nguyên chẩn đoán bệnh cho lợn tại tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn, sử dụng kháng nguyên chẩn đoán bệnh cho lợn tại tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn, sử dụng kháng nguyên chẩn đoán bệnh cho lợn tại tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)

Trang 1

NGUYỄN THỊ TÂM (2q - 90tr)

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM BỆNH

DO ẤU TRÙNG CYSTICERCUS TENUICOLLIS

GÂY RA Ở LỢN, SỬ DỤNG KHÁNG NGUYÊN

CHẨN ĐOÁN BỆNH CHO LỢN TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y

THÁI NGUYÊN - 2016

Trang 2

NGUYỄN THỊ TÂM

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM BỆNH

DO ẤU TRÙNG CYSTICERCUS TENUICOLLIS

GÂY RA Ở LỢN, SỬ DỤNG KHÁNG NGUYÊN

CHẨN ĐOÁN BỆNH CHO LỢN TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng: Đây là công trình nghiên cứu của chúng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác, chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Thái Nguyên, tháng 09 năm 2016

Tác giả

Nguyễn Thị Tâm

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn, tôi luôn nhận được

sự giúp đỡ của nhiểu tổ chức và cá nhân Nhân dịp này tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám đốc, Ban quản lý Sau đại học Đại học Thái Nguyên, Phòng Quản lý và Đào tạo sau đại học, Khoa Chăn nuôi Thú y, Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện cho tôi được theo học tập và nghiên cứu tại trường

Tôi xin trân trọng cảm ơn tập thể cán bộ giảng viên khoa Chăn nuôi Thú y, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi nhất để tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo GS.TS Nguyễn Thị Kim Lan và

NCS Nguyễn Thu Trang đã tận tình hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn

thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và các em sinh viên các lớp K44

đã đóng góp công sức, động viên và giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài luận văn

Xin chân thành cảm ơn !

Thái Nguyên, tháng 09 năm 2016

Tác giả

Nguyễn Thị Tâm

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

DANH MỤC CÁC HÌNH vii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích của đề tài 2

3 Mục tiêu của đề tài 2

4 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Sán dây ký sinh ở chó và ấu trùng sán dây Cysticercus tenuicollis 4

1.1.1 Đặc điểm sinh học của sán dây ký sinh ở chó 4

1.1.2 Đặc điểm sinh học của ấu trùng sán dây Cysticercus tenuicollis 9

1.2 Bệnh do sán dây Taenia hydatigena gây ra ở chó và bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở một số loại gia súc 12

1.2.1 Đặc điểm dịch tễ học 12

1.2.2 Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng 17

1.2.3 Chẩn đoán bệnh sán dây chó và bệnh Cysticercus tenuicollis 22

1.2.4 Phòng, trị bệnh Cysticercus tenuicollis 23

1.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 24

1.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 24

1.3.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 25

Chương 2: VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

2.1 Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu 27

2.2 Vật liệu nghiên cứu 27

2.3 Nội dung nghiên cứu 28

2.3.1 Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn tại tỉnh Thái Nguyên 28

Trang 6

2.3.2 Nghiên cứu bệnh Cysticercus tenuicollis trên lợn ở Thái Nguyên 28

2.3.3 Nghiên cứu một số chỉ tiêu đánh giá kháng nguyên dùng để chẩn đoán bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn 28

2.3.4 Thử nghiệm thuốc diệt ấu trùng Cysticercus tenuicollis cho lợn 28

2.4 Phương pháp nghiên cứu 28

2.4.1 Bố trí thu thập mẫu và phương pháp xác định tình hình nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở lợn 28

2.4.2 Phương pháp nghiên cứu bệnh Cysticercus tenuicollis trên lợn ở thực địa 29

2.4.3 Phương pháp xác định độ nhạy, độ đặc hiệu của kháng nguyên chế tạo từ ấu trùng Cysticercus tenuicollis 30

2.4.4 Phương pháp nghiên cứu biện pháp phòng chống bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn tại tỉnh Thái Nguyên 32

2.5 Phương pháp xử lý số liệu 33

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34

3.1 Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra trên lợn tại tỉnh Thái Nguyên 34

3.1.1 Tình hình nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở lợn tại các huyện, thành thuộc tỉnh Thái Nguyên 34

3.1.2 Nghiên cứu bệnh Cysticercus tenuicollis ở lợn tại các địa phương 44

3.1.3 Một số chỉ tiêu đánh giá kháng nguyên dùng để chẩn đoán bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn 52

3.1.4 Xác định nhiệt độ và thời gian bảo quản kháng nguyên thích hợp 54

3.1.5 Thử nghiệm kháng nguyên trong chẩn đoán bệnh ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở lợn trên thực địa 57

3.1.6 Thử nghiệm thuốc diệt ấu trùng Cysticercus tenuicollis cho lợn 60

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 67

1 Kết luận 67

2 Đề nghi ̣ 68

TÀI LIỆU THAM KHẢO 69

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Tỷ lệ và cường độ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollism ở lợn

tại các đi ̣a phương 34

Bảng 3.2 Tỷ lệ và cường độ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở lợn

Bảng 3.8 Kết quả đánh giá độ nhạy và độ đặc hiệu của kháng nguyên sau

chế tạo trên lợn gây nhiễm 52 Bảng 3.9 Tỷ lệ các xét nghiệm của kháng nguyên chế tạo 53 Bảng 3.10 Ảnh hưởng của nhiệt độ thấp (4oC) đến độ nhạy và độ đặc hiệu

của kháng nguyên theo thời gian bảo quản 54 Bảng 3.11 Ảnh hưởng của nhiệt độ phòng ( 18 - 28oC) đến độ nhạy và độ

đặc hiệu của kháng nguyên theo thời gian bảo quản 55 Bảng 3.12 Kết quả thử nghiệm kháng nguyên trong chẩn đoán bệnh ấu trùng

Cysticercus tenuicollis ở lợn trên thực địa 57

Bảng 3.13 Tỷ lệ các xét nghiệm ở lợn trên thực địa sau mổ khám 58 Bảng 3.14 Kết quả đánh giá độ nhạy và độ đặc hiệu của kháng nguyên trong

chẩn đoán bệnh Cysticercus tenuicollis ở lợn trên thực địa 59 Bảng 3.15 Hiệu lực của thuốc diệt ấu trùng Cysticercus tenuicollis trên lợn

gây nhiễm 61

Bảng 3.16 Hiệu lực của thuốc diệt ấu trùng Cysticercus tenuicollis cho lợn

trên thực địa 63

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1: Biểu đồ tỷ lệ và cường độ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở

lợn tại các đi ̣a phương 35

Hình 3.2: Biểu đồ tỷ lệ và cường độ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở

Cysticercus tenuicollis 47

Hình 3.6: Biểu đồ tổn thương đại thể ở các khí quan của lợn có ấu trùng

Cysticercus tenuicollis ký sinh 50

Hình 3.7: Biểu đồ ảnh hưởng của nhiệt độ thấp (4oC) đến độ nhạy và độ đặc

hiệu của kháng nguyên theo thời gian bảo quản 54 Hình 3.8: Ảnh hưởng của nhiệt độ phòng ( 18 - 28oC) đến độ nhạy và độ đặc

hiệu của kháng nguyên theo thời gian bảo quản 56 Hình 3.9: Biểu đồ kết quả thử nghiệm kháng nguyên trong chẩn đoán bệnh ở

lợn trên thực địa 58

Hình 3.10: Biểu đồ hiệu lực của thuốc diệt ấu trùng Cysticercus tenuicollis

trên lợn gây nhiễm 61

Hình 3.11: Biểu đồ hiệu lực của thuốc diệt ấu trùng Cysticercus tenuicollis

cho lợn trên thực địa 63

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm qua, ngành chăn nuôi đã và đang ngày càng có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, tổng đàn gia súc ngày càng tăng, nhiều giống mới được nhập vào nuôi để cải tạo đàn gia súc có hiệu quả

Tuy nhiên, dịch bệnh xảy ra trên đàn vật nuôi cũng ngày càng phức tạp và khó kiểm soát Ngoài những bệnh truyền nhiễm nguy hiểm như: bệnh Lở mồm long móng, bệnh Tụ huyết trùng, bệnh Leptospira……,thì bệnh ký sinh trùng, trong đó có

bệnh do sán dây và ấu trùng sán dây Cysticercus tenuicollis đã gây thiệt hại khá nặng

nề cho ngành chăn nuôi

Theo Nguyễn Thị Kim Lan và (2012) [17], ấu trùng Cysticercus tenuicollis

ký sinh trên bề mặt các khí quan trong xoang bụng của vật chủ và gây bệnh Ấu

trùng là những bọc nước mang đầu sán dây Taenia hydatigena, có kích thước to,

nhỏ không đều, bám ở bề mặt màng treo ruột, lách, gan, thận, phổi Vì thế, trong quá trình giết mổ có thể dễ nhầm lẫn ấu trùng với các bọc nước bình thường, từ đó không có biện pháp tiêu diệt ấu trùng, làm tăng nguy cơ lây nhiễm bệnh cho người

và gia súc

Bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra phổ biến ở nhiều nước trên

thế giới, đặc biệt là những nơi nuôi nhiều chó và chế độ kiểm soát giết mổ không nghiêm ngặt Khi nhiễm nhẹ, chức năng của các khí quan rối loạn không rõ Số lượng

ấu sán nhiều gây rối loạn chức năng các khí quan trong xoang bụng, gây hiện tượng hoàng đản, con vật ăn kém, sốt cao Số lượng ấu sán nhiều còn gây chèn ép các khí quan trong xoang bụng, xoang ngực, có thể có triệu chứng của viêm màng bụng cấp tính Ở thể cấp, con vật không được chăm sóc, điều trị kịp thời, tỷ lệ chết có thể lên tới 60 - 70% (Vương Đức Chất và Lê Thị Tài, 2004 [2])

Sán dây ký sinh làm cho chó gầy yếu, suy nhược, thiếu máu, có hội chứ ng viêm ruột, giảm khả năng sinh sản và dễ chết do kiệt sức (Tô Du và Xuân Giao, 2006 [4])

Trang 11

Tuy nhiên, việc chẩn đoán bệnh đối với súc vật còn sống rất khó khăn vì không thể chẩn đoán bằng các phương pháp xét nghiệm phân, xét nghiệm máu và các xét nghiệm khác Điều đáng quan tâm là, hiện nay bệnh do ấu trùng

Cysticercus tenuicollis gây ra cho đàn gia súc chưa có thuốc điều trị đặc hiệu

(Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2012 [15])

Trong những năm gần đây, chó được nuôi ở tỉnh Thái Nguyên khá nhiều Tuy nhiên, việc phòng trị bệnh ký sinh trùng, đặc biệt là bệnh do sán dây cho chó còn ít được chú ý, trong khi phương thức chăn nuôi chó ở tỉnh Thái Nguyên chủ yếu là nuôi thả rông, dẫn đến chó bị nhiễm sán dây sẽ phát tán mầm bệnh, làm cho lợn và các vật nuôi khác, kể cả con người cũng dễ bị nhiễm bệnh

Từ luận giải trên cho thấy, việc tìm hiểu về đặc điểm của bệnh do ấu trùng

Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn, để từ đó xây dựng biện pháp phòng chống

thích hợp là hết sức cần thiết Nghiên cứu này không những góp phần hạn chế tỷ

lệ nhiễm ấu trùng sán dây ở lợn, mà còn góp phần phòng chống bệnh ấu trùng sán dây cho người và nhiều loài vật nuôi khác

Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành đề tài: "Nghiên cứu một số

đặc điểm bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn, sử dụng kháng nguyên chẩn đoán bệnh cho lợn tại tỉnh Thái Nguyên"

2 Mục đích của đề tài

Kết quả đề tài là cơ sở khoa học để xác định được biện pháp phòng chống

bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn hiệu quả và phù hợp với điều

kiện chăn nuôi ở Thái Nguyên, từ đó xây dựng được quy trình phòng chống bệnh đạt hiệu quả cao

Đánh giá chất lượng của kháng nguyên dùng để chẩn đoán bệnh do ấu

trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn

3 Mục tiêu của đề tài

- Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis

gây ra ở lợn tại tỉnh Thái Nguyên

- Nghiên cứu đặc điểm bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn tại

tỉnh Thái Nguyên

Trang 12

- Đánh giá được độ nhạy, độ đặc hiệu của kháng nguyên chế tạo

- Xác định điều kiện bảo quản kháng nguyên chế ta ̣o

- Thử nghiệm thuốc diệt ấu trùng Cysticercus tenuicollis cho lợn

4 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

4.1 Ý nghĩa khoa học

Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học bổ sung và hoàn thiện về đặc

điểm của bệnh và sử dụng kháng nguyên để chẩn đoán bệnh do ấu trùng Cysticercus

tenuicollis gây ra ở lợn tại tỉnh Thái Nguyên

4.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để đánh giá chất lượng kháng nguyên chẩn đoán bệnh và khuyến cáo người chăn nuôi áp dụng các biện pháp phòng, trị

bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra, nhằm hạn chế tỷ lệ và cường độ

nhiễm ở lợn, từ đó giảm thiệt hại do bệnh gây ra

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Sán dây ký sinh ở chó và ấu trùng sán dây Cysticercus tenuicollis

1.1.1 Đặc điểm sinh học của sán dây ký sinh ở chó

1.1.1.1 Vị trí của sán dây chó trong hệ thống phân loại động vật học

Theo Islam, AWMS; Chizyuka, -HGB (1983) đã nghiên cứu về sự lưu hành giun , sán ký sinh ở chó tại Lusaka, Zambia Kiểm tra 85 chó địa phương cho thấy, 40% số chó bị nhiễm với một hay nhiều loài sán ký sinh Sán được tìm thấy trên

chó là các loài Dipylidium canium, Taenia hydatigena và Diphyllobothrium latum

Ở việt Nam, nghiên cứu đầu tiên về ký sinh trùng trên dê của Hourdermer (1983) cho thấy: đã phát hiện khu hệ giun sán trên dê, tỷ lệ nhiễm như sau:

- Lớp Trematoda: Fasciola hepatica 35%, Eurytrema pancreaticum 15%,

Homalogaster paloniae 5%

- Lớp Cestoda: Cysticercus tenuicollis 10%

- Lớp Nematoda: Oesophagostomun venulosum 70%, Oesophagostomum

columbianum 20%, Mecistocirrus digitatus 40%

Theo Phan Thế Việt và cs (1977) [31], Nguyễn Thị Kỳ (2003) [10], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [22], hệ thống phân loại sán dây của Việt Nam đã lựa chọn

hệ thống phân loại của Schulz và Gvozdev (1970) để sắp xếp các loài sán dây phát hiện được ở người, chim, thú nuôi và thú hoang dã ở Việt Nam Trong đó, sán dây

ký sinh ở chó có vị trí như sau:

Trang 14

Bộ Cyclophyllidea Beneden in Braun, 1900 Phân bộ Hymenolepidata Skrjabin, 1940

Giống Taenia Linnaeus, 1758

Loài Taenia hydatigena Pallas, 1766

Loài Taenia pisiformis Bloch, 1780 Giống Echinococcus Rudolphi, 1801 Loài Echinococcus granulosus Batsch, 1786 Giống Multiceps Goeze, 1782

Loài Multiceps multiceps Leske, 1780

Phân bộ Mesocestoidata Skrjabin, 1940

Họ Mesocestoididae Perrier, 1897

Giống Mesocestoides, Wailand, 1863 Loài Mesocestoides lineatus Goeze, 1782

Việc nghiên cứu sán dây ở Việt Nam được bắt đầu từ hơn 1 thế kỷ trước

Năm 1870, Cande J lần đầu tiên mô tả loài sán dây Diphyllobothrium latum tìm

thấy ở người Nam Bộ (Việt Nam) Sau đó 10 năm mới xuất hiện một số công trình nghiên cứu lẻ tẻ về một vài loài sán dây gây bệnh cho người Từ đó, việc nghiên cứu

về thành phần loài sán dây ở người được chú ý hơn, đồng thời mở rộng phạm vi nghiên cứu sang một số động vật nuôi và động vật hoang dã

Năm 1914, Casaux đã phát hiện được ở gan người hai nang sán Cysticercus

tenuicollis của loài sán Taenia hydatigena ký sinh ở chó

Năm 1925, Houdemer tiến hành nghiên cứu ký sinh trùng ở thú nuôi và thú

hoang Bắc Bộ cũng phát hiện thấy ấu trùng Cysticercus tenuicollis và loài sán

Dipylidium caninum, đồng thời tác giả đã bổ sung thêm thông tin về một số loài

sán, trong đó có loài Taenia hydatigena và Taenia pisiformis

Năm 1967, hai nhà ký sinh trùng học người Ba Lan là Drozdz và Malczewski đã công bố các loài sán dây ở động vật nhai lại 8 tỉnh miền Bắc, trong

đó có ấu trùng Cysticercus tenuicollis của loài Taenia hydatigena

Trang 15

Nhiều tác giả như Phan Thế Việt và cs (1977) [31], Nguyễn Thị Kỳ (1994) [9], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [22], khi đề cập về thành phần loài sán dây ký sinh trên chó ở nước ta đều thống nhất rằng, các loài sán dây ký sinh ở chó đã tìm thấy ở Việt

Nam gồm: Diphyllobothrium mansoni, Diphyllobothrium reptans, Dipylidium

caninum, Taenia hydatigen, Taenia pisiformis, Multiceps multicep, Echinococcus granulosus, Mesocestoides lineatus

Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [11]: tính đến thời điểm hiện tại, người ta đã biết hơn 30 loài sán dây ký sinh ở loài ăn thịt gây bệnh cho chó, mèo

Chúng đều thuộc bộ Cyclophyllidea và Pseudophyllidea

Kết quả tổng hợp của Phạm Sỹ Lăng (2002) [16] cho thấy, đã phát hiện được

8 loài sán dây ký sinh trên chó ở miền Bắc Việt Nam

Nguyễn Thị Kỳ (2003) [10] đã mổ khám 174 cá thể thuộc 21 loài của bộ ăn thịt, kết quả cho thấy, trong các loài mèo rừng, cầy Giông, cầy Hương và chó nhà được mổ

khám, phát hiện thấy các loài Taenia hydatigena, Taenia pisifomis, Multiceps multiceps,

Spirometra erinacei-europaei, Dipylidium caninum ký sinh

Nguyễn Thị Kỳ (2003) [10] cho biết: ở Việt Nam, hiện loài

Diphyllobothrium mansoni, Diphyllobothrium reptans còn chưa rõ vị trí phân loại

và không có mẫu Tác giả đã xem xét lại toàn bộ vị trí phân loại và tình trạng mẫu,

tình hình nghiên cứu về từng loài, đã mô tả hoàn chỉnh loài Spirometraerinacei-

europaei (Rudolphi, 1819) Mueller, 1937

Hiện nay trên thế giới có khoảng 40 loài sán dây gây bệnh cho chó và các thú ăn thịt thuộc họ chó mèo (Vương Đức Chất và cs., 2004 [2])

1.1.1.2 Đặc điểm hình thái, cấu tạo của một số sán dây ký sinh ở chó

* Đặc điểm chung:

Nguyễn Thị Kỳ (1994) [9], (2003) [10], Nguyễn Thị Lê và cs., (1996) [22] cho biết: Sán dây chó có những đặc điểm của lớp sán dây nói chung: hình dải băng màu trắng hoặc trắng ngà Cơ thể dài, dẹp theo hướng lưng bụng, chia thành

ba phần: đầu, cổ, thân (gồm những đốt sau cổ, có hình dạng và cấu tạo khác nhau) Đầu sán dùng để bám vào thành ruột vật chủ, nên có những hình dạng, kích thước và các cơ quan bám đặc trưng Chiều rộng của đầu thường chỉ nhỏ hơn 1 mm, nhưng cũng có loài sán có đầu dài vài mm Cơ quan bám nằm trên đầu bao gồm rãnh bám hoặc giác bám, mõm, vòi và có nhiều móc Ở một số

Trang 16

loài sán dây trên móc bám có các móc bé xếp thành nhiều hàng Giác bám là bộ phận đặc trưng của sán dây bậc cao Kích thước, cấu tạo và số lượng móc cố định cho mỗi loài sán

Cổ là những đốt sán nối tiếp sau đầu Đốt cổ của sán dây là đốt sinh trưởng, từ các đốt cổ sinh ra các đốt thân, cơ quan sinh sản ở các đốt cổ chưa hình thành rõ

Thân sán dây gồm ba loại đốt: những đốt chưa thành thục về sinh dục (ở gần cổ), cơ quan sinh dục chưa phát triển đầy đủ, chỉ thấy cơ quan sinh dục đực Những đốt thành thục về sinh dục (ở giữa thân), cơ quan sinh dục trong những đốt sán này đã phát triển đầy đủ, có đủ cả bộ phận sinh dục đực và cái, có hệ bài tiết, cấu tạo mỗi đốt tương tự như mỗi cơ thể sán lá, nhưng khác với sán lá là không có

hệ tiêu hoá

Hệ thần kinh của sán dây kém phát triển, gồm có hạch thần kinh trung ương nằm phần trên đầu, từ đó có các dây thần kinh chạy dọc cơ thể Có hai dây phát triển hơn nằm bên ngoài ống bài tiết và mỗi đốt nối với nhau bởi các cầu nối ngang

Hệ tuần hoàn và hệ hô hấp tiêu giảm Hô hấp theo kiểu yếm khí

Hệ bài tiết của sán dây cấu tạo theo kiểu nguyên đơn thận, gồm 2 ống chính

từ đầu sán đi về cuối thân và thông với lỗ bài tiết Ngoài ra, ở mỗi đốt sán còn có những ống ngang nối liền với 2 ống chính

Hầu hết các loài sán dây là lưỡng tính, trong mỗi đốt có cả bộ phận sinh dục đực và bộ phận sinh dục cái phát triển ở các giai đoạn khác nhau

Trứng sán dây bộ Cyclophyllidea hình tròn hoặc hơi bầu dục, có 4 lớp vỏ, trong có phôi 6 móc Còn trứng sán dây bộ Pseudophyllidea giống trứng sán lá,

một đầu có nắp (Nguyễn Thị Kim Lan và cs., (1999) [11]

Loài Taenia hydatigena: Dài 5000 mm, gồm 550 - 700 đốt rất rộng Đầu

hình quả lê hay hình thận, đường kính 1 mm, vòi có 26 - 44 móc, xếp thành hai hàng, móc hàng trên dài 0,170 - 0,220 mm, có mỏm rất cong, móc hàng dưới dài 0,110 - 0,160 mm, có lưỡi rất cong, các giác bám gần nhau và có đường kính 0,110 mm, cổ dài 0,500 mm Có 600 - 700 tinh hoàn ở giữa các ống bài tiết Xung quanh noãn hoàng, buồng trứng, ống dẫn tinh và âm đạo không có tinh hoàn, ống dẫn tinh có dạng túi hẹp uốn khúc nhiều, không có túi tinh Nang lông gai hình trụ dài 0,450 mm, rộng 0,130 mm, buồng trứng

Trang 17

hai thùy ở nửa dưới của đốt, cạnh phía không lỗ lớn hơn phía có lỗ, noãn hoàng là ống hẹp kéo dài theo chiều ngang, thể Melis tròn ở giữa buồng trứng

và noãn hoàng, phần đầu âm đạo phình rộng, sau hẹp dần, tới thùy buồng trứng tạo thành túi nhận tinh Ở các đốt già thân tử cung có 5 - 10 nhánh ngang, mỗi đầu tự do lại tạo thành các nhánh phụ, trứng bầu dục, dài 0,031 - 0,038 mm, rộng 0,034 - 0,035 mm, vỏ dày 0,004 mm

Dạng ấu trùng Cysticercus tenuicollis gặp nhiều ở gan và xoang bụng của

lợn, trâu, bò, nhiều loài thú khác, kể cả người Ấu trùng này có dạng túi chứa đầy dịch trong Thành bên trong túi có một đầu sán dây, có cổ Đầu có móc và giác bám, đường kính của giác bám 0,099 - 0,310 mm, có 28 - 40 móc, xếp hai hàng, móc hàng trên dài 0,185 - 0,210 mm, móc hàng dưới dài 0,126 - 0,160 mm, vỏ trong của nang được bọc bằng vỏ ngoài, vỏ này bám vào thành mô cơ của vật chủ, kích thước của nang phụ thuộc vào nơi ký sinh của ấu trùng

1.1.1.3 Chu kỳ sinh học của sán dây chó

Vòng đời của sán dây khá phức tạp, tiến triển ở nhiều ký chủ liên tiếp Ở bộ

Cyclophyllidae trứng chứa thai sáu móc đã hình thành Vào dạ dày ký chủ, thai

sáu móc thành ấu trùng (đã mất móc) có cấu tạo và tên gọi khác nhau:

Cysticercus, Coenurus, Echinococcus, Cysticercoid Ở bộ Pseudophyllidae có hai

thể ấu trùng liên tiếp: Procercoid và Plerocercoid Những dạng ấu trùng này sống

lâu hay chóng ở ký chủ trung gian và phải được một ký chủ cuối cùng thích hợp nuốt vào mới phát triển thành sán trưởng thành

Để hoàn thành vòng đời, sán dây ký sinh ở chó cần vật chủ trung gian là nhiều loài động vật khác nhau, có thể là động vật có xương sống, hoặc có thể là động vật không xương sống Có loài cần 1 ký chủ trung gian để hoàn thành vòng đời, nhưng cũng có loài cần 2 ký chủ trung gian mới hoàn thành vòng đời Các họ sán dây khác nhau có chu kỳ sinh học khác nhau

Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2012) [15] cho biết vòng đời của sán dây thuộc họ

Taeniidae (các loài Taenia hydatigena, Taenia pisiformis, Multiceps multiceps, )

Đốt sán già theo phân ký chủ cuối cùng (chó, mèo,…) ra ngoài, vỡ và giải phóng ra trứng sán Đốt sán hoặc trứng sán lẫn vào thức ăn, nước uống của ký chủ trung gian Nếu ký chủ trung gian nuốt phải đốt sán hoặc trứng sán, vào tới

dạ dày của ký chủ trung gian, vỏ trứng bị phân hủy, ấu trùng 6 móc nở ra và

Trang 18

bám vào niêm mạc ruột, theo máu hoặc dịch lâm ba di chuyển về gan và các tổ

chức khác Sau 2 - 3 tháng thành ấu trùng Cysticercoid Khi ký chủ cuối cùng

ăn phải bộ phận có ấu sán sẽ bị bệnh do sán dây trưởng thành ký sinh gây ra

1.1.2 Đặc điểm sinh học của ấu trùng sán dây Cysticercus tenuicollis

1.1.2.1.Đặc điểm hình thái, cấu tạo của ấu trùng Cysticercus tenuicollis

Nguyễn Thị Kỳ (1994) [9], (2003) [10]; Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [22],

Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [11] đều cho biết: ấu trùng Cysticercus

tenuicollis (nang sán) thấy nhiều ở gan và các cơ quan trong xoang bụng của lợn,

trâu, bò, dê và nhiều loài thú khác, kể cả ở người Ấu trùng này có dạng bọc chứa

đầy dịch trong Thành bên trong túi có một đầu sán dây giống đầu sán dây Taenia

hydatigena trưởng thành Đầu có móc và các giác bám, giác bám có đường kính

0,099 - 0,310 mm, có 28 - 40 móc, xếp thành hai hàng, móc hàng trên dài 0,185 - 0,210 mm, móc hàng dưới dài 0,126 - 0,160 mm, màng trong của nang được bọc bằng màng ngoài, màng này bám vào thành mô cơ của vật chủ, kích thước của nang phụ thuộc vào nơi ký sinh của ấu trùng

Ấu trùng Cysticercus tenuicollis ký sinh trên bề mặt gan, màng mỡ chài và các

cơ quan khác trong xoang bụng của gia súc Gia súc nhiễm ấu trùng với số lượng ít thường không có biểu hiện triệu chứng bệnh, khi nhiễm một số lượng lớn ấu trùng thì gia súc dễ phát bệnh và có thể chết (theo Johannes Kaufmann, 1996) [40]

Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [10] cho biết: ấu trùng Cysticercus

tenuicollis ký sinh ở gan, màng mỡ chài, màng treo ruột, lách của lợn, dê, cừu,

trâu, bò, hươu và cả ở người

Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [8], ấu trùng Cysticercus tenuicollis

là một bọc có kích thước to nhỏ khác nhau, có thể bằng hạt đậu, quả cam hoặc quả bưởi, trong bọc có nhiều nước, có một đầu sán dính vào màng trong của bọc, đầu sán có 4 giác bám, có 29 - 44 móc

Radfar M H (2005) [52] cho biết: đầu sán ở trong ấu trùng Cysticercus

tenuicollis có 2 loại móc bám là móc lớn và móc nhỏ Ấu trùng Cysticercus tenuicollis ký sinh trên cừu có số lượng móc là 15,33 ± 1,33 móc lớn và 15,44 ±

1,42 móc nhỏ Chiều dài móc lớn là 199,1 ± 10,93 µm, chiều dài móc nhỏ là 134,85

± 11,63 µm

Trang 19

Nath S và cs (2010) [46] đã phân tích thành phần hóa học và các thành phần

sinh hóa trong dịch nang của ấu trùng Cysticercus tenuicollis Kết quả cho thấy:

trong dịch nang sán có canxi (12- 260 mg /100ml), natri (130,5 - 424,3 ppm ) và kali (12,5 - 52,5 ppm); các enzym easpartate aminotransferase (0,131- 23U/L), alanine aminotransferase (1,00 - 86,17 U/L), lactat dehydrogenase (10 - 108 U/L )

và alkaline phosphate (18 - 176 U/L)

Saad M và cs (2010) [54] cho biết: màng của ấu trùng Cysticercus tenuicollis

được cấu tạo từ các nguyên bào sợi và các tế bào gốc đa năng, có thể biệt hóa thành nhiều loại tế bào khác nhau, biểu mô vảy và tế bào không biệt hóa với các mô nhầy

Ở độ phóng đại 10 lần, thấy ấu trùng Cysticercus tenuicollis có cấu tạo đa

lớp với hình dạng ngoằn ngoèo và các lớp có hiện tượng phân nhánh

Ở độ phóng đại 100 lần, thấy các lớp được cấu tạo từ các tế bào khác nhau như nguyên bào sợi, tế bào gốc đa năng, tế bào biểu mô vảy và tế bào không biệt hóa với mô nhầy sền sệt

Quan sát mô học ký sinh trùng, thấy các tế bào biểu mô vảy có chức năng bảo vệ và cảm giác Lớp gelatin và các tế bào không chuyên biệt ảnh hưởng đến sự tăng trưởng, phát triển của ký sinh trùng ở giai đoạn phôi thai Các tế bào gốc đa năng có khả năng biệt hóa thành nhiều loại tế bào khác nhau, giúp nang sán phát triển và hoàn chỉnh các cơ quan cần thiết, đặc biệt là phát triển

thành sán trưởng thành khi ấu trùng Cysticercus tenuicollis vào cơ thể chó và

các thú hoang khác

Kết quả phân tích thành phần sinh hóa trong dịch lỏng của ấu trùng

Cysticercus tenuicollis thu thập từ 11 con cừu cho thấy: các thành phần sinh hóa

như protein tổng số, glucose, cholesterol, triglyceride, acid uric và urea trong dịch

lỏng của ấu trùng Cysticercus tenuicollis có vai trò rất quan trọng cho sự trao đổi

chất, sinh lý học, miễn dịch học, di truyền học và biến dị Tỷ lệ các thành phần có

trong ấu trùng Cysticercus tenuicollis khác biệt đáng kể so với các thành phần có

trong huyết tương của ký chủ mà ấu trùng ký sinh

1.1.2.2 Chu kỳ sinh học của ấu trùng Cysticercus tenuicollis

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2011) [20] sán dây trưởng thành Taenia hydatigena

ký sinh ở ruột non chó và động vật ăn thịt thường xuyên thải những đốt sán già theo phân ra ngoài môi trường Khi các đốt sán già phân hủy, trứng sán được giải phóng

Trang 20

và phân tán ra môi trường Nếu lợn, trâu, bò, dê, cừu và người ăn phải, ở đường tiêu hóa ấu trùng 6 móc được giải phóng, xuyên qua thành ruột theo hệ tuần hoàn về gan

và các cơ quan trong xoang bụng, di chuyển đến vị trí ký sinh, sau 2 tháng đã phát

triển thành ấu trùng Cysticercus tenuicollis Khi vật chủ cuối cùng (chó, cáo) ăn phải

ấu trùng này, sau 50 - 60 ngày đã phát triển thành sán trưởng thành trong ruột non Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [15] cho biết: Đốt sán già theo phân chó, chó sói ra ngoài, vỡ ra giải phóng nhiều trứng sán Trứng sán lẫn vào thức

ăn, nước uống Nếu ký chủ trung gian là lợn, trâu, bò, dê, cừu nuốt vào thì đến dạ dày, ấu trùng 6 móc nở ra, chui vào mạch máu niêm mạc ruột, rồi theo tuần hoàn máu về bề mặt gan, các khí quan trong xoang bụng và phát triển

thành ấu trùng Cysticercus tenuicollishoàn chỉnh sau 3 tháng Khi chó và các

loài ăn thịt khác ăn phải ấu trùng sán dây, vào đường tiêu hóa, màng bọc của

ấu trùng được phân hủy, đầu sán nhô ra bám vào niêm mạc ruột non, lấy dinh

dưỡng và phát triển thành sán dây Taenia hydatigena trưởng thành

Theo Junquera P (2013) [47], sán dây Taenia hydatigena ký sinh ở ký chủ

cuối cùng là chó và thú ăn thịt (cáo, chó sói, mèo), ký chủ trung gian là cừu, dê, trâu, bò, hươu, nai, ngựa và lợn

Khi chó và thú hoang nhiễm sán dây Taenia hydatigena, trong ruột của ký chủ, sán dây Taenia hydatigena trưởng thành rụng các đốt sán già, đốt sán được đưa

ra ngoài môi trường theo phân Một đốt sán già chứa tới hàng nghìn trứng

Trứng sán và đốt sán già ở ngoài môi trường lẫn trong cỏ, đất, nước, thức ăn,

kể cả thức ăn dự trữ Các ký chủ trung gian như: cừu, dê, trâu, bò, hươu, nai, ngựa, lợn ăn phải thức ăn, nước uống có lẫn trứng hay đốt sán già sẽ bị bệnh ấu

trùng Cysticercus tenuicollis Trứng sán có khả năng gây nhiễm trong vòng vài

tháng ở ngoài môi trường tự nhiên

Sau khi vào ruột ký chủ, trứng nở ra ấu trùng, ấu trùng qua thành ruột vào máu

và di chuyển đến gan Trong gan, ấu trùng di chuyển qua các nhu mô gan để ra bề mặt gan và tới bề mặt các cơ quan khác trong xoang bụng như màng treo ruột, màng

mỡ chài, thận, ruột trong khoảng 30 ngày Trên bề mặt các cơ quan trong xoang bụng, ấu trùng hình thành các nang và lớn dần, nang phát triển hoàn thiện mất 35 - 55 ngày sau khi nhiễm

Trang 21

1.2 Bệnh do sán dây Taenia hydatigena gây ra ở chó và bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở một số loại gia súc

1.2.1 Đặc điểm dịch tễ học

1.2.1.1 Đặc điểm dịch tễ học bệnh sán dây Taenia hydatigena

Đặc điểm dịch tễ bệnh do sán dây Taenia hydatigena gây ra đã được nhiều

tác giả đề cập đến Tuy nhiên, các nghiên cứu còn ít và chưa hệ thống nên chưa phản ánh đầy đủ những vấn đề liên quan đến sự phát sinh và phát triển của bệnh Skrjabin và Petrov (1963) [24] cho biết, nếu như đường xâm nhập của các giun, sán địa lý thường là qua nước hoặc thức ăn bị nhiễm bẩn, thì nhiều loại giun, sán sinh vật xâm nhập vào cơ thể ký chủ cuối cùng khi ký chủ đó ăn phải các mô và các cơ quan của ký chủ trung gian chứa ấu trùng giun, sán ở giai đoạn cảm nhiễm Với cách

xâm nhập này, chó sói cảm nhiễm sán dây Taenia hydatigena do ăn phải cừu có ấu

trùng sán

Theo Trịnh Văn Thịnh (1977) [29]: chó săn thường nhiễm sán dây do ăn thịt thỏ chứa ấu trùng Chó của những người chăn cừu, chăn bò, chó ở lò sát sinh mắc sán do ăn phủ tạng của bò, cừu, lợn Chó nuôi trong nhà mắc sán do

ăn bọ chó trên mình nó chứa ấu trùng Ấu trùng sán ở thỏ, bò, cừu, lợn, bọ chó… là ấu trùng của những loài sán khác nhau, nên chó là một trong những loài vật bị nhiều loài sán dây ký sinh nhất

Ở nước ta, loài Taenia hydatigena được phân bố rộng ở cả 3 vùng: đồng

bằng, trung du, miền núi với những kiểu khí hậu khác nhau (Nguyễn Thị Kỳ, 1994) [9]

Dịch tễ học của bệnh sán dây ở chó liên quan chặt chẽ đến số lượng chó nuôi

và chế độ kiểm soát giết mổ Ở những nơi mà chế độ kiểm soát giết mổ không chặt chẽ thì chó dễ mắc bệnh sán dây do ăn phải những cơ quan nội tạng của gia súc có ấu trùng (Nguyễn Thị Kim Lan và cs., 1999 [11])

Kết quả kiểm tra 130 chó tại thành phố Huế của Lê Hữu Nghị và Nguyễn Văn Duệ (2000) [23] thấy: chó nhiễm sán dây rất sớm, giai đoạn sơ sinh đến một năm

tuổi đã nhiễm với tỷ lệ cao, trong đó tỷ lệ nhiễm Dipylidium caninum là 13,07%

Lê Hữu Nghị và Nguyễn Văn Duệ (2000) [23] đã kiểm tra 130 mẫu phân chó ở Thành phố Huế, thấy chó nhiễm sán dây từ rất sớm, giai đoạn sơ sinh đến 1 năm tuổi nhiễm với tỷ lệ cao

Trang 22

Nghiên cứu của Phạm Sỹ Lăng từ năm 1982 - 1985 thấy: trong 138 chó bị bệnh

sán dây có 101 chó nhiễm Dypilidium caninum, chiếm tỷ lệ 73,91% Chó con từ 27 -

30 ngày tuổi đã bị nhiễm sán Chó nuôi ở thành phố chủ yếu bị bệnh sán dây loài

Dypilidium caninum (dẫn theo Phạm Sỹ Lăng, (2002) [16])

Butar B S và cs (2013) [36] đã nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ tới khả

năng gây bệnh của trứng sán Taenia hydatigena Kết quả nghiên cứu cho thấy: có

99,47 - 100% trứng chứa ấu trùng 6 móc giảm hoặc ngừng hoạt động và không có khả năng gây bệnh sau 5 phút xử lý ở nhiệt độ 57,38oC và 60°C

Sán dây sống ký sinh trong ruột động vật có xương sống, trong chu kỳ phát triển cần sự tham gia của một hoặc hai vật chủ trung gian Vì vậy, sự phân bố của sán dây phụ thuộc rất nhiều vào vật chủ, quy luật sinh thái học của cả vật chủ và sán dây là yếu tố quan trọng nhất chi phối sự khác nhau về tỷ lệ nhiễm sán dây ở vật chủ (Nguyễn Thị Kỳ, (2003) [10])

Dalimi A và cs (2006) [37] đã kiểm tra 83 chó ở các tỉnh phía Tây của Iran thấy:

có 38,55% số chó nhiễm sán dây loài Dipylidium caninum; 53,01% số chó nhiễm loài

Taenia hydatigena; 7,23% nhiễm loài Taenia ovis; 4,82% nhiễm loài Multiceps multiceps; 13,25% nhiễm loài Echinococcus granulosus

Theo Nguyễn Hữu Hưng và Cao Thanh Bình (2009) [7], kiểm tra 597 mẫu phân chó tại thành phố Cần Thơ, có 95 mẫu nhiễm sán dây (15,91%) Chó nhiễm sán dây

Dipylidium caninum ở mọi lứa tuổi, tỷ lệ nhiễm biến động từ 14,78 - 16,58%

Theo kết quả nghiên cứu của Yotko K và cs (2009) [65], tỷ lệ nhiễm loài

Taenia hydatigena của chó ở vùng Tây Bắc Bulgaria là 47,85%

Từ năm 2004 - 2009 Xhaxhiu D và cs (2010) [64] đã mổ khám 111 chó từ các vùng ngoại ô Tirana của Albania để kiểm tra giun sán đường tiêu hóa, phát hiện được 3

loài sán dây là Dipylidium caninum (65,8%); Taenia hydatigena (16,2%);

Echinococcus granulosus (2,7%)

1.2.1.2 Đặc điểm dịch tễ học bệnh Cysticercus tenuicollis

Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [8] cho biết: căn bệnh là ấu trùng

Cysticercus tenuicollis ký sinh ở gan, màng mỡ chài, màng treo ruột, lách của lợn,

dê, cừu, bò, hươu, ngoài ra còn thấy ở ngựa và người Kích thước ấu trùng khác nhau, có khi bằng hạt đậu, quả cam, hoặc to hơn, có dạng bọc, bên ngoài là mô liên kết, bên trong chứa thể dịch trong và một đầu sán trưởng thành Ở những vùng

nuôi nhiều chó, tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở trâu, bò, dê, lợn thường

Trang 23

cao Tỷ lệ nhiễm ấu trùng tăng dần theo tuổi, điều này được các tác giả lý giải do thời gian gia súc tiếp xúc với căn bệnh tăng

Tình hình nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis của lợn và các động vật khác

phụ thuộc vào số chó nhiễm sán trưởng thành Lợn nuôi gần với chó dễ nhiễm ấu trùng hơn, còn trâu, bò thả trên bãi chăn nhiễm ít hơn

Bệnh ấu trùng Cysticercus tenuicollis phân bố ở khắp nơi, lợn nước ta nhiễm

khoảng 44% Ở những nơi nuôi nhiều chó và nuôi lợn thả rông, tỷ lệ nhiễm bệnh càng cao và gây thiệt hại đáng kể cho chăn nuôi lợn

Động vật cảm nhiễm: lợn, động vật hoang dã và người đều cảm nhiễm với

ấu trùng Cysticercus tenuicollis

Điều kiện truyền lây: tỷ lệ nhiễm bệnh phụ thuộc vào phương thức chăn

nuôi, phụ thuộc vào số lượng và tỷ lệ chó bị nhiễm sán dây Taenia hydatigena

Tỷ lệ nhiễm bệnh tăng dần theo tuổi của gia súc, vì gia súc nuôi càng dài ngày thì cơ hội tiếp xúc với mầm bệnh càng nhiều nên tỷ lệ nhiễm bệnh càng cao

Mổ khám 589 dê nuôi ở các tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn, thấy tỷ lệ nhiễm

ấu sán cổ nhỏ ở dê là 23,8%, cường độ nhiễm sán là 1 - 18 ấu sán/dê Tuổi dê càng cao thì tỷ lệ nhiễm càng tăng lên và mức độ nhiễm càng nặng hơn (Nguyễn Thị Kim Lan và cs., (1999) [11]

Phan Địch Lân và cs (2002) [21] cho biết: Bệnh ấu sán cổ nhỏ do ấu trùng

Cysticercus tenuicollis gây ra thấy phổ biến khắp các vùng Tỷ lệ dê mắc bệnh cao

hay thấp phụ thuộc vào số lượng chó nuôi ở các địa phương, các tỉnh trung du miền núi phía Bắc như Thái Nguyên, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Cao Bằng, Lai Châu số lượng chó nuôi nhiều nên dê nhiễm ấu sán cổ nhỏ tương đối phổ biến (21,12%), có

trường hợp nhiễm rất nặng (35 ấu sán/dê) Tỷ lệ nhiễm Cysticercus tenuicollis tăng

lên theo tuổi dê

Nguyễn Quốc Doanh và cs (2002) [1] đã điều tra tình hình nhiễm sán dây

Taenia và ấu trùng Cysticercus tenuicollis trên lợn và người tại một số xã thuộc tỉnh

Bắc Ninh và Bắc Kạn trong thời gian 1999 - 2000 Kết quả cho thấy:

Kiểm tra ấu sán qua mổ khám 26 lợn, có 10 con có ấu trùng Cysticercus

tenuicollis, không tìm thấy ấu trùng Cysticercus cellulosae Kiểm tra trên 323 mẫu

huyết thanh lợn tại 5 xã ở Bắc Ninh và Bắc Kạn bằng phương pháp ELISA, thấy tỷ lệ nhiễm ấu sán là 9,91% (biến động 6,06 - 15,49%) Tỷ lệ nhiễm khác nhau có liên quan tới phương thức chăn nuôi chó và lợn của người dân địa phương

Trang 24

Theo Radfar M H và cs (2005) [53], trong thời gian từ tháng 4 năm 2001 đến tháng 3 năm 2002, mổ khám 1336 cừu và 1674 dê tại lò mổ Kerman, Đông Nam Iran, thấy 172 cừu (chiếm 12,87%) và 302 dê (chiếm 18,04%) bị nhiễm ấu

trùng Cysticercus tenuicollis

Manfredi M T và cs (2006) [42] cho biết: Mổ khám 6 dê cái 2 - 4 năm tuổi

và 3 dê 50 ngày tuổi ở một trang trại ở miền Bắc Italy, phát hiện thấy dê bị nhiễm

ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở gan, phổi và màng bụng

Sissay M M và cs (2008) [58] đã tiến hành mổ khám từ tháng 5 năm 2003 đến tháng 4 năm 2005, trên 655 cừu và 632 dê ở Haramaya, Harar, Dire Dawa và

Jijiga tại Ethiopia thấy: ở cừu, tỷ lệ nhiễm là 26% với ấu trùng Cysticercus ovis (của sán dây Taenia ovis), 79% nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis (của sán dây Taenia hydatigena) và 68% nhiễm ấu trùng Echinococcus granulosus Với dê,

tỷ lệ nhiễm tương ứng lần lượt là 22%, 53% và 65%

Samuel W và Zewde G.G (2010) [55] đã mổ khám 768 dê và 630 cừu, quan

sát thấy: 358 dê (46,6%) và 252 cừu (40%) nhiễm Cysticercus tenuicollis Trong

đó, dê trưởng thành và cừu trưởng thành nhiễm nhiều hơn con non (51,8% so với 41,4% và 47,4% so với 35,8%) Dê, cừu ở vùng núi nhiễm cao hơn so với vùng đồng bằng

Saulawa M A và cs (2011) [56] cho biết: mổ khám 261 con cừu thấy có 4

con bị nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis, chiếm 13,03% Tỷ lệ nhiễm ở cừu

đực cao hơn ở cừu cái, tỷ lệ nhiễm tăng theo tuổi

Wondimu A và cs (2011) [63] cho biết: tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus

tenuicollis trên dê ở Ethiopia là 21,01%, bệnh đã gây thiệt hại lớn về kinh tế cho

người chăn nuôi dê

Oryan A và cs (2012) [61] đã mổ khám 1050 cừu và 950 dê ở lò mổ Shiraz,

phát hiện 184 cừu (17,52%) và 523 dê (55,05%) nhiễm ấu trùng Cysticercus

tenuicollis Trong đó, tỷ lệ nhiễm Cysticercus tenuicollis của con đực cao hơn con

cái (P <0,01), và tỷ lệ nhiễm ở dê cao hơn ở cừu (P <0,01)

Mổ khám 507 dê và cừu (trong đó có 236 cừu và 271 dê) tại Maiduguri, tỷ lệ

nhiễm Cysticercus tenuicollis ở cừu là 71,6%, ở dê là 71,9%, tỷ lệ nhiễm tăng theo

tuổi Trong đó, ở nhóm trên 4 năm tuổi tỷ lệ nhiễm 90% ở cừu và 81,6% ở dê, nhóm dưới 4 năm tuổi nhiễm 68,9% ở cừu và 69,8% ở dê Tỷ lệ nhiễm ở con cái cao hơn con đực Bệnh tích chủ yếu thấy ở màng mỡ chài của cừu (37,3%) và dê

Trang 25

(51,3%), màng treo ruột ở cừu (36,7%), ở dê (27,2%); bề mặt gan ở cừu (14,2%), ở dê (9,7%), và xoang phúc mạc ở cừu (11,8%) ở dê (11,8%) (Biu A A và Murtala S.,

2012 [35])

Oguz B và Deger S (2013) [60] đã mổ khám 525 cừu và 184 dê, thấy tỷ lệ

nhiễm Cysticercus tenuicollis là 27,9%

Endale Mekuria và cs (2013) [38] đã nghiên cứu về ảnh hưởng của các yếu tố

liên quan đến tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis trên cừu và dê Tác giả cho

biết: tỷ lệ nhiễm ấu trùng ở dê là 26,4%, ở cừu là 22,8% Ở các loài khác nhau tỷ lệ nhiễm bệnh khác nhau Tuổi ký chủ ảnh hưởng tới tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cừu và dê non tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán dây thấp hơn ở con trưởng thành (20,9 % so với 24,8%) Cũng theo tác giả trên, tình trạng cơ thể của vật nuôi có ảnh hưởng nhiều tới tỷ

lệ nhiễm Cysticercus tenuicollis Tỷ lệ nhiễm Cysticercus tenuicollis ở dê và cừu có

sức khỏe yếu lần lượt là 39,8% và 29,9%, cao hơn nhiều so với dê và cừu có sức khỏe tốt (tỷ lệ nhiễm ở cừu khỏe là 14,5%; ở dê khỏe là 22,3%)

Theo Junquera P (2013) [47], bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra

phổ biến trên toàn thế giới, chủ yếu ở khu vực nông thôn Tỷ lệ nhiễm ở các khu vực

thay đổi rất nhiều Bệnh có thể xảy ra do điều kiện tự nhiên thuận lợi cho sự tồn tại của trứng sán trên đồng cỏ hoặc các hoạt động của động vật hoang dã mang bệnh Ở những nơi nuôi chó thả rông và việc giết mổ gia súc không kiểm soát chặt chẽ thì

tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysicercus tenuicollis ở lợn rất cao

Mohammad Mirzaei và Hadi Rezaei (2014) [44] đã nghiên cứu về tỷ lệ

nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở cừu và dê từ tháng 4 năm 2012 đến tháng

4 năm 2013 ở Tabriz, Iran: trong số 1400 con cừu và 1000 con dê mổ khám, tỷ lệ

nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis là 4,37%, trong đó 4,9% ở dê và 4% ở cừu

Nhóm 12 tháng tuổi trở lên, tỷ lệ nhiễm là 4,67% ở cừu và 6,04% ở dê Nhóm dưới 12 tháng tuổi có tỷ lệ nhiễm là 0,8% ở cừu và 1,56% ở dê Tỷ lệ nhiễm ấu trùng ở con cái cao hơn con đực

Tác giả cũng cho biết ấu trùng ký sinh ở nhiều khí quan trong cơ thể, trong

đó gan nhiễm ấu trùng với tỷ lệ cao nhất, cơ hoành nhiễm với tỷ lệ thấp nhất

Theo Ma J và cs (2014) [43]: một cuộc điều tra giun, sán ở dê tại tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc qua mổ khám 479 con dê cho thấy, 86% số dê kiểm tra bị nhiễm ít nhất một loài giun, sán Tổng cộng 15 loài giun, sán đã được tìm thấy

trong đó Cysticercus tenuicollis là phổ biến nhất

Trang 26

Kiểm tra ấu trùng Cysticercus tenuicollis trong 3199 cừu và dê (760 con cừu

và 2439 con dê) ở miền Bắc Ấn Độ, kết quả cho thấy: có 135/3199 con nhiễm ấu

trùng Cysticercus tenuicollis với tỷ lệ là 4,22%, trong đó tỷ lệ nhiễm ở dê là

4,83%; ở cừu là 2,23% Hầu hết các ấu trùng được tìm thấy ở màng treo ruột ký sinh ở xoang bụng, một số được thấy ở gan (Singh B B và cs., (2015) [])

Theo Perl S và cs (2015) [51]: mổ khám 90 con cừu ở phía Bắc của Israel,

thấy 36 con nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở giai đoạn 2 - 3 tháng tuổi,

chiếm tỷ lệ 40%

1.2.2 Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng

1.2.2.1 Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh sán dây Taenia hydatigena ở chó

* Đặc điểm gây bệnh của sán dây Tania hydatigena ở chó

Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [11], trong quá trình ký sinh, sán dây

Taenia hydatigena gây ra những tác hại lớn cho chó, biểu hiện ở những tác động sau:

Móc và giác bám của sán trưởng thành làm tổn thương niêm mạc ruột và mở đường cho vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể Sán dây tiết độc tố làm ký chủ rối loạn thần kinh (có triệu chứng bại liệt gần giống triệu chứng bại liệt trong bệnh dại ở chó) Sán lấy dinh dưỡng của chó làm con vật gầy yếu, chậm lớn, suy dinh dưỡng Nếu số lượng nhiều, sán có thể làm tắc hoặc thủng ruột

Tác hại của sán dây đối với chó thể hiện qua 4 tác động sau:

Tác động cơ giới: với số lượng lớn ký sinh, sán dây dùng giác bám bám sâu vào niêm mạc ruột, gây tổn thương, viêm ruột và xuất huyết

Tác động tiết độc tố: trong quá trình ký sinh, sán dây tiết ra độc tố Độc tố có thể là sản phẩm các tuyến tiết ra hoặc các chất bài tiết của sán dây, tác động đến hệ thần kinh gây triệu chứng thần kinh, làm cho chó mệt mỏi, kém ăn Chó con bị bệnh cấp tính có thể bỏ ăn, tiêu chảy…

Tác động chiếm đoạt chất dinh dưỡng: sán nuôi dưỡng bản thân bằng cách thẩm thấu dinh dưỡng qua toàn bộ bề mặt cơ thể Do số lượng sán nhiều và tồn tại trong thời gian kéo dài làm chó gầy yếu, thiếu máu, giảm sức đề kháng

Tác động mang trùng: Sán bám chặt vào niêm mạc ruột, gây tổn thương, phá

vỡ phòng tuyến thượng bì, tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập gây nên các bệnh ghép với bệnh ký sinh trùng

Trang 27

* Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng của bệnh sán dây Taenia hydatigena

Theo Trịnh Văn Thịnh (1977) [29], chó chỉ biểu hiện triệu chứng nếu có quá nhiều sán ký sinh, các triệu chứng thường gặp là: đau bụng, đi tả, ăn không đều, ngứa hậu môn, có khi bị co giật Cuối cùng chó thiếu máu, gầy rạc và có thể chết nếu không được điều trị kịp thời Chó thường ỉa ra những đốt sán lòng thòng ở hậu môn, chó cọ hậu môn vào tường để đẩy sán ra

Đỗ Thái Dương và Trịnh Văn Thịnh (1975) [28] đã mô tả: bệnh tích thường thấy ở chó bị bệnh sán dây là viêm niêm mạc ruột non ở chỗ sán ký sinh, có khi thấy lồng ruột và tắc ruột nếu số lượng sán rất nhiều cuộn lại

Chó nhiễm sán có thể ỉa chảy, da khô hoặc giảm cân, đôi khi có hiện tượng cắn phía sau hoặc chạy xung quanh (Seymour Weiss, 1996 [62])

Chó nhiễm sán dây nhẹ triệu chứng lâm sàng không rõ Khi nhiễm nặng, con vật có thể bị nôn mửa, viêm ruột cata mạn tính, ăn ít, ngứa hậu môn Một số trường hợp có triệu chứng giả dại, 4 chân run giật hoặc bị liệt (Nguyễn Thị Kim Lan và cs.,

1999 [11])

Vương Đức Chất và Lê Thị Tài (2004) [2] cho biết: thể cấp tính thường gặp ở chó từ 1 - 4 tháng tuổi, biểu hiện kém ăn, nôn mửa liên tục do sán bám vào vách ruột gây ra những tổn thương niêm mạc và kích thích gây nôn Chảy máu ruột do đầu sán

có nhiều móc bám vào vách ruột nên phân có màu xám hoặc đỏ tươi Viêm ruột thứ

phát do những vi khuẩn đường ruột bội nhiễm: E coli, Staphylococcus aureus Rối

loạn tiêu hóa làm chó lúc táo, lúc tiêu chảy, trong phân có niêm mạc ruột tróc ra và có lẫn những đốt sán rụng ra Nếu không được chăm sóc tốt và điều trị kịp thời, tỷ lệ chết cao 60 - 70% do viêm ruột, mất máu, mất nước và rối loạn điện giải

Theo Tô Du và Xuân Giao (2006) [4], chó bị bệnh sán dây thường gầy yếu, suy nhược, thiếu máu do thiếu dinh dưỡng, viêm ruột, giảm khả năng sinh sản và chết do kiệt sức

Đặc biệt trong bệnh sán dây ở chó trưởng thành, chó vẫn ăn khỏe, nhưng gầy dần, trong phân phát hiện thấy đốt sán già, những đốt sán khi ra ngoài vẫn cử động được trong vài giờ (Phạm Sỹ Lăng và cs., (2009) [18])

1.2.2.2 Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh Cysticercus tenuicollis

Bệnh lý của bệnh Cysticercus tenuicollis ở dê đã được Pathak K.M và cs.,

(1982) [49] nghiên cứu vào ngày 7, 15, 30 và 60 sau khi gây nhiễm Các tổn thương đặc trưng thể hiện vào ngày thứ 15 sau khi nhiễm bệnh, bao gồm sự tích tụ một số

Trang 28

lượng lớn fibrin trong xoang phúc mạc và xoang ngực Xuất huyết cũng xuất hiện

trên bề mặt và trong nhu mô gan do sự di chuyển của Cysticercus tenuicollis Các

tổn thương ở gan bao gồm các u nang, fibrin và hồng cầu; các tế bào gan bị thoái hóa chủ yếu là do sự phá hủy nhu mô; túi mật giãn, ống mật bắt đầu có những biến đổi thoái hóa Vào ngày thứ 15 sau khi nhiễm, phổi bị khí thũng và xuất huyết, màng phổi xuất hiện phù nề, phế nang có nhiều dịch rỉ viêm

Sự di hành của ấu trùng Cysticercustenuicollis trong gan có thể gây ra xuất

huyết và viêm phúc mạc (Blazek K và cs., 1985 [37]) Ấu trùng của sán dây

Taenia hydatigena gây thiệt hại lớn trong chăn nuôi do tác động gây bệnh và tỷ lệ

tử vong cao (Abidi và cs., 1989) [32]

Theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [8], bệnh thường ở thể mãn tính, triệu chứng không rõ ràng Khi bị nặng, giai đoạn đầu con vật gầy yếu, hoàng đản, tiếp đó là viêm màng bụng cấp tính, thường sốt cao, khi ấn mạnh vào bụng con vật thấy đau, bụng to và căng, một số trường hợp thấy màng bụng xuất huyết Khi con vật mắc bệnh ở thể cấp tính, gan sưng to, mặt gan gồ ghề, màng fibrin phủ kín, có nhiều điểm tụ huyết, có nhiều rãnh do ấu trùng di hành trong gan Thời kỳ đầu trong xoang bụng tích nhiều nước, thời kỳ cuối nước có màu vàng Một vài trường hợp viêm màng bụng cấp tính, có nhiều dịch thẩm xuất lẫn máu và có nhiều đầu sán

Nếu số lượng ấu trùng Cysticercus tenuicollis nhiều, gây bệnh nặng thì có thể

gây tử vong, chủ yếu thấy ở động vật non Tác động chủ yếu là do ấu trùng gây tổn thương gan và các cơ quan khác

Theo Johannes Kaufmann (1996) [40], ấu trùng Cysticercus tenuicollis ký

sinh ở bề mặt gan, màng mỡ chài của cừu và các gia súc khác Gia súc nhiễm số lượng ấu trùng ít thường không có biểu hiện triệu chứng bệnh, khi nhiễm một số lượng lớn ấu trùng thì tình trạng thiếu máu, hoàng đản và chết có thể xảy ra

Trong quá trình ký sinh ở cơ thể ký chủ, ấu trùng Cysticercus tenuicollis lấy chất dinh dưỡng của cơ thể ký chủ để phát triển Cysticercus tenuicollis thường gây

tổn thương mô liên quan đến sự thoái hóa do quá trình di cư của ấu trùng Các vị trí

ký sinh bất thường của ấu trùng thường gặp nhất là ở phổi, thận và não Buồng trứng,

tử cung, cổ tử cung và âm đạo không thấy ấu trùng ký sinh Lần đầu tiên, Cysticercus

tenuicollis đã được tìm thấy ký sinh ở bên trong màng đệm của bào thai một con dê

đang trong thời kỳ mang thai (Payan Carreira R và cs., 2008 [50])

Sammuel W và Zewde G G., (2010) [55] cho biết: ở ký chủ trung gian, ấu trùng 6 móc chui qua niêm mạc ruột, theo máu đến bề mặt gan, màng treo ruột, phổi, gây tổn thương ở các cơ quan này

Trang 29

Gia súc và cả con người bị mắc bệnh khi ăn phải thức ăn hoặc nước uống

nhiễm trứng hoặc đốt sán dây Taenia hydatigena Một đốt sán dây chứa hàng

nghìn trứng Khi đốt sán phân hủy giải phóng ra trứng sán, trứng có thể tồn tại và vẫn có khả năng gây bệnh ở ngoài môi trường trong vài tháng

Sau khi được nuốt vào đường tiêu hóa, trứng sán dây Taenia hydatigena

nở ra ấu trùng 6 móc, ấu trùng chui qua niêm mạc ruột, theo máu đến bề mặt gan, màng treo ruột, phổi, gây ra những tổn thương lớn ở các cơ quan này (Samuel W và Zewde G G., 2010 [55])

Ấu trùng Cysticercus tenuicollis ký sinh với số lượng lớn gây ra viêm gan,

hoại tử, thoái hóa dạng hạt, có thể thấy cả viêm phổi (Nath S và cs., 2010) [46] Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2011) [19], bệnh cấp tính gan sưng to, mặt gan

gồ ghề, có màng fibrin, có nhiều điểm tụ huyết trên mặt gan, có nhiều rãnh do ấu trùng di hành tạo ra trong gan Một vài trường hợp viêm màng bụng cấp tính, trong có nhiều dịch thẩm xuất lẫn máu

Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [14]: con vật mắc bệnh ấu trùng

Cysticercus tenuicollis mất tính thèm ăn, suy nhược cơ thể, hoàng đản và rối loạn

tiêu hóa, gan sưng to, có nhiều điểm tụ huyết; có nhiều ấu trùng có kích thước khác nhau trên bề mặt gan, màng treo ruột, màng mỡ chài, có thể thấy ấu trùng ở

cơ hoành và phổi của gia súc Giai đoạn đầu con vật gầy yếu dần, hoàng đản, tiếp

đó có triệu chứng của viêm màng bụng cấp tính, thường sốt cao 40 - 41oC, khi ấn tay vào bụng con vật có phản ứng đau

Khi nhiễm nhẹ, chức năng của các cơ quan rối loạn không rõ Ấu trùng 6 móc chui qua thành ruột, sau 24 giờ vào gan, dừng lại ở các nhánh tĩnh mạch cửa, rồi vào gan, đào thành rãnh, gây viêm gan cấp tính, có khi viêm màng bụng

Ấu trùng di hành chui qua mặt gan vào xoang bụng, ký sinh ở màng treo ruột, màng mỡ chài, lách và các cơ quan khác trong xoang bụng

Trong gan, ấu trùng di chuyển qua các mô gan tới các bề mặt gan (thanh mạc) trong thời gian khoảng 30 ngày Trên bề mặt các cơ quan trong xoang bụng,

ấu trùng hình thành các nang nước Các nang này phát triển thành ấu trùng hoàn chỉnh sau 35 - 55 ngày kể từ khi nhiễm trứng sán Ấu trùng

Cysticercus tenuicollis có tác dụng gây bệnh không rõ rệt khi ký sinh với số lượng

ít Khi nhiều ấu trùng di chuyển đồng thời qua gan, có thể nhìn thấy dấu hiệu lâm sàng

Trang 30

Sự di cư có thể gây hủy hoại trầm trọng mô gan và các bệnh lý nhìn thấy ở gan tương

tự như quan sát thấy ở gia súc nhiễm sán lá gan (Junquera P., 2013) [47]

Theo Pathak K.M và cs (1984) [49], Radfar M.H và cs (2014) [52], lợn nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis giảm số lượng hồng cầu và tăng số lượng

bạch cầu trong máu

Bamorovat M và cs (2014) [34] cho biết, ấu trùng Cysticercus tenuicollis của sán dây Teania hydatigena khi ký sinh có thể gây bệnh và làm chết vật nuôi

Nghiên cứu về sự biến đổi chỉ tiêu huyết học và biến đổi bệnh lý của 50 con cừu

nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis so với 50 con cừu không nhiễm bệnh cho

thấy: ở cừu bị bệnh có sự gia tăng đáng kể số lượng bạch cầu (P <0,05) Ngoài ra, thấy giảm rõ rệt số lượng hồng cầu và hàm lượng hemoglobin (P <0,05) Kiểm tra

mô bệnh học thấy thoái hóa tế bào gan, hoại tử và xơ gan Theo tác giả, sự thay đổi các chỉ số máu là do suy gan, do sự di chuyển của ấu trùng và kích thích đáp ứng miễn dịch của vật chủ

Radfar M H và cs (2014) [52] đã mổ khám 1336 cừu và 1674 dê, tỷ lệ nhiễm ấu

trùng Cysticercus tenuicollis ở dê là 12,87%, tỷ lệ nhiễm ở cừu là 18,04% Sự phân bố ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở các cơ quan khác nhau là khác nhau Ấu trùng

Cysticercus tenuicollis thấy nhiều nhất ở màng mỡ chài (cừu 84,85%; dê 82,14%), tiếp

theo là gan (cừu 12,8%; dê 18,24%), màng treo ruột (cừu 7%; dê 9%), và một tỷ lệ nhỏ thấy ở các khí quan khác như phổi, tim, túi mật (cừu 0,58%; dê 0,66%)

Mohammad Mirzaei và Hadi Rezaei (2014) [44] cho biết: ấu trùng ký sinh ở nhiều cơ quan trong cơ thể, trong đó gan nhiễm ấu trùng với tỷ lệ cao nhất, cơ hoành nhiễm với tỷ lệ thấp nhất

Scala A và cs (2014) [57] đã báo cáo về một ổ dịch cấp tính do ấu trùng của

sán dây Taenia hydatigena gây ra Trong ổ dịch này, ấu trùng sán dây đã gây chết

5 trong 21 con cừu cái (chiếm 23,8%) Kết quả mổ khám cho thấy, Cysticercus

tenuicollis chính là nguyên nhân gây viêm gan nặng và gây chết cừu

Ali Khanjari và cs., (2015) [33] cho biết: mổ khám 2400 dê và cừu, phát hiện

thấy 4,21% nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis Trong đó, tỷ lệ nhiễm ở dê là

4,33% và ở cừu là 4,08%, tỷ lệ nhiễm ở con cái cao hơn con đực (P < 0,001), bệnh tích chủ yếu thấy ở gan của những dê, cừu bệnh

Trang 31

1.2.3 Chẩn đoán bệnh sán dây chó và bệnh Cysticercus tenuicollis

1.2.3.1 Chẩn đoán bệnh sán dây Taenia hydatigena ở chó

Để chẩn đoán bệnh do sán dây gây ra, có thể dựa vào triệu chứng lâm sàng, tuy nhiên phần lớn chó mắc bệnh thường không có biểu hiện đặc trưng và khó phân biệt, vì vậy phải kết hợp với việc kiểm tra phân tìm đốt sán

Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978) [28] cho biết: việc chẩn đoán dễ khi chó thải ra những đốt sán hoặc đoạn sán dây lòng thòng ở hậu môn, gây ngứa

Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [11], (2008) [13]:

- Đối với chó còn sống: kiểm tra phân tìm đốt sán dây

- Đối với chó đã chết: có thể mổ khám để kiểm tra bệnh tích và tìm sán trưởng thành ký sinh

Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [17] cho biết, có thể dựa vào kết quả kiểm tra đốt sán trong phân vật bệnh để khẳng định là chó bị mắc bệnh sán dây

Chu Thị Thơm và cs (2006) [30] cho rằng: để xác định loài sán dây trưởng thành một cách chính xác, để sán dây chết tự nhiên trong nước sạch, ép mỏng trong cồn etylic 70o Sau đó nhuộm Carmine, rút hết nước trong mẫu vật, làm trong và gắn tiêu bản lên phiến kính để chẩn đoán, xác định tên khoa học của các loài sán dây

1.2.3.2 Chẩn đoán bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra

Phạm Sỹ Lăng và cs (2011) [20] cho biết: có thể chẩn đoán bằng phương

pháp ELISA để phát hiện kháng nguyên và kháng thể kháng Taenia hydatigena

Có thể áp dụng phương pháp: phương pháp Agar gel precipitation (AGD), Immuno blot, siêu âm phát hiện nang sán

Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [14], đối với động vật còn sống rất khó chẩn đoán Có thể chọc dò để tìm đầu sán trong dịch xoang ngực và xoang bụng, nhưng rất khó khăn Đối với động vật đã chết, có thể mổ khám tìm ấu sán ở bề mặt các khí quan trong xoang bụng và xoang ngực

Theo Sultan K và cs., (2012) [59], độ nhạy và độ đặc hiệu của kháng

nguyên chế tạo từ ấu trùng Cysticercus tenuicollis trong phản ứng ELISA gián

tiếp lần lượt là 90% và 60%

Masoud Kakaei và cs (2012) [41] đã nghiên cứu độ nhạy, độ đặc hiệu và độ

ổn định của kháng nguyên chế tạo từ ấu trùng Cysticercus tenuicollis trên cừu

Tác giả cho biết: thử nghiệm ở tuần đầu là âm tính, sau đạt 75% trong tuần thứ 3

và đạt 100% ở các tuần thứ 4 đến tuần thứ 9

Trang 32

Ba loại kháng nguyên được tìm thấy từ ấu trùng Cysticercus tenuicollis có

khối lượng phân tử là: 36.2KDa, 23.9KDa và 9.6KDa Các kháng nguyên này có

thể được dùng để chẩn đoán huyết thanh học bệnh do Cysticercus tenuicollis gây

Theo Skrjabin (1963) [24], muốn diệt trừ bệnh giun, sán thì phải dự phòng

có tính chất chủ động: dùng tất cả các phương pháp cơ giới, vật lý (ánh sáng, nhiệt độ), hóa học (thuốc), sinh vật học (sinh vật nọ tiêu diệt sinh vật kia) để tiêu diệt giun, sán trên cơ thể ký chủ, tiêu diệt giun, sán ở tất cả các giai đoạn phát dục (trứng, ấu trùng, giun, sán trưởng thành)

Phá vỡ chu kỳ lây nhiễm liên quan đến việc kiểm soát chu kỳ giữa chó và các vật chủ trung gian Điều trị cho chó thường xuyên với thuốc trị giun sán tiêu diệt sán dây và ngăn ngừa chó ăn thịt cừu, dê sống hoặc bộ phận nội tạng là cần thiết

để kiểm soát chu kỳ của nhiễm trùng Hạn chế ô nhiễm đến mức tối thiểu bằng cách dọn dẹp phân chó cũng sẽ giúp hạn chế bệnh Điều này có thể thực hiện được trong không gian nhỏ nhưng kiểm soát của phân chó trên diện tích lớn thì rất khó Ký sinh trùng cũng có thể lây truyền giữa nai hoang dã và chó sói Bắc Mỹ Khu vực đồng cỏ

và cỏ khô hay thức ăn lưu trữ nên được rào chắn để giữ cho chó sói Bắc Mỹ và chó hoang dã khác đi vào Cách phòng ngừa tốt nhất là hạn chế sự nhiễm trứng sán

Taenia hydatigena vào nguồn thức ăn, nước uống của vật nuôi (Junquera P, 2013 [47])

Theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [8], để phòng bệnh cần không cho chó nhiễm phải sán trưởng thành, không cho chó ăn các khí quan có ấu trùng (gan, phổi, lách ) Khi mổ gia súc, thấy ấu sán phải tập trung để diệt ấu trùng, định kỳ tẩy sán dây cho chó, không nuôi chó ở các gia đình và trại chăn nuôi gia súc

Có thể dùng các bài thuốc nam theo kinh nghiệm của nhân dân: 200 – 250 gam hạt bí ngô bỏ vỏ, nghiền nhỏ, trộn với thức ăn cho chó ăn

Trang 33

* Điều trị

Ấu trùng sán dây Taenia hydatigena gây bệnh ấu sán cổ nhỏ ở người, lợn,

trâu, bò, dê, cừu , hiện vẫn chưa có thuốc điều trị (Nguyễn Thị Kim Lan và cs,

1999 [12])

Theo P Junquera, 2013 [47], việc sử dụng thường xuyên thuốc trị giun sán

không được chỉ định để ngăn ngừa gia súc nhiễm với Cysticercus tenuicollis, có

báo cáo cho rằng albendazole và praziquantel có hiệu quả, nhưng chỉ ở liều lượng cao hơn so với những điều trị thông thường và kết quả có thể không đáng tin cậy

1.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

1.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Việc nghiên cứu sán dây ở Việt Nam được bắt đầu từ hơn 1 thế kỷ trước Năm

1870, Cande J lần đầu tiên mô tả loài sán dây Diphyllobothrium latum tìm thấy ở

người Nam Bộ (Việt Nam) Sau đó 10 năm mới xuất hiện các công trình nghiên cứu

lẻ tẻ về một vài loài sán dây gây bệnh cho người Từ đó, việc nghiên cứu về thành phần sán dây ở người được chú ý hơn, rồi mở rộng phạm vi nghiên cứu sang một số động vật nuôi và một số động vật hoang dã

Kết quả kiểm tra 130 chó tại thành phố Huế của Lê Hữu Nghị và Nguyễn Văn Duệ (2000) [23] cho thấy: chó nhiễm sán dây rất sớm, giai đoạn sơ sinh đến một năm

tuổi đã nhiễm với tỷ lệ cao Tỷ lệ nhiễm Dipylidium caninum là 13,07%

Nghiên cứu của Phạm Sỹ Lăng từ năm 1982 – 1985 cho thấy: trong 138 chó bị

bệnh sán dây có 101 chó nhiễm Dypilidium caninum, chiếm tỷ lệ 73,91% Chó con từ

27 – 30 ngày tuổi đã bị nhiễm sán Chó nuôi ở thành phố chủ yếu bị bệnh sán dây do

Dypilidium caninum (dẫn theo Phạm Sỹ Lăng, 2002 [16])

Theo Nguyễn Hữu Hưng và Cao Thanh Bình (2009) [7], kiểm tra 597 mẫu phân chó tại thành phố Cần Thơ, có 95 mẫu nhiễm sán dây (15,91%) Chó nhiễm

sán dây Dipylidium caninum ở mọi lứa tuổi, tỷ lệ nhiễm biến động từ 14,78 –

16,58%

Năm 1925, Houdemer tiến hành nghiên cứu ký sinh trùng ở thú nuôi và thú

hoang Bắc Bộ cũng phát hiện thấy ấu trùng Cysticercus tenuicollis và loài sán

Dipylidium caninum, đồng thời tác giả đã bổ sung thêm các loài trong đó có loài Taenia hydatigena và Taenia pisiformis

Năm 1963, Trịnh Văn Thịnh đã có công trình tổng kết được hầu hết những

nghiên cứu trước đó, trong đó tác giả đã đề cập đến ấu trùng Coenurus cerabralis của loài sán dây Multiceps multiceps ở cừu

Trang 34

Năm 1967 hai nhà ký sinh trùng học người Ba Lan là Drozdz và Malczewski

đã công bố các loài sán dây ở động vật nhai lại 8 tỉnh miền Bắc, trong đó có ấu

trùng Cysticercus tenuicollis của loài Taenia hydatigena

Theo Nguyễn Thị Kỳ (2003) [10] đã mổ khám 174 cá thể thuộc 21 loài của bộ ăn thịt kết quả cho thấy, trong các loài mèo rừng, cầy giông, cầy hương, cày lỏn và chó nhà

được mổ khám phát hiện thấy các loài Taenia hydatigena, Taenia pisifomis, Multiceps

multiceps, Spirometra erinacei-europaei, Dipylidium caninum

Theo Phạm Sỹ Lăng (1992) cho biết: tẩy cho 67 trường hợp chó nhiễm sán dây, thấy tỷ lệ sạch sán và khỏi bệnh đạt 85% khi dùng Yomesan (còn có tên là

Niclosamid (dẫn theo Phạm Sỹ Lăng và cs, 2009 [18])

Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2012) [15] đã mổ khám 1273 trâu, bò, lợn

của ba huyện thành thuộc tỉnh Phú Thọ, phát hiện 294 con nhiễm ấu sán Cysticercus

tenuicollis (23,10%), trong đó tỷ lệ ở trâu biến động từ 10,59 - 31,78%, ở bò từ 9,82 -

28,10% và ở lợn từ 10,28 - 37,66% với cường độ nhiễm từ 1 - 56 ấu sán/con Tương

quan giữa tỷ lệ nhiễm sán dây Taenia hydatigena ở chó và tỷ lệ nhiễm ấu sán

Cysticercus tenuicollis ở trâu, bò, lợn là tương quan thuận rất chặt với hệ số tương

quan lần lượt là: R = 0,881; 0,990 và 0,997

1.3.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Năm 1914, Casaux đã phát hiện được ở gan người hai nang sán Cysticercus

tenuicollis của loài sán Taenia hydatigena ký sinh ở chó

Các ấu trùng của sán dây Taenia hydatigena gây thiệt hại lớn trong chăn

nuôi do tác động gây bệnh và tỷ lệ tử vong cao (Abidi và cs, 1989) [32] Sự di

hành của Cysticercus tenuicollis trong gan có thể gây ra xuất huyết và viêm phúc

mạc (Blazek và cs, 1985 [37])

Theo Johannes Kaufmann (1996) [40], ấu trùng Cysticercus tenuicollis ký

sinh ở bề mặt gan, mỡ màng chài của cừu và gia súc Gia súc nhiễm số lượng ấu sán ít thường không có biểu hiện triệu chứng bệnh, khi nhiễm một số lượng lớn ấu trùng thì tình trạng thiếu máu, hoàng đản và chết có thể xảy ra

Theo Sammuel W và Zewde G G., (2010) [55] ở ký chủ trung gian, ấu trùng 6 móc chui qua niêm mạc ruột, theo máu đến bề mặt gan, màng treo ruột, phổi, gây tổn thương ở các cơ quan này

Bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis của sán dây Taenia hydatigena xảy

ra trên toàn thế giới, chủ yếu ở khu vực nông thôn Tỷ lệ nhiễm ở các khu vực thay

Trang 35

đổi rất nhiều Theo Over H T (1992), tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở

dê của Argentina là 25%; ở Etiopia là 37% (ở cừu) và 16% (ở dê); ở Thổ Nhĩ Kỳ là 57% (ở cừu),ở Ấn Độ là 37% Các nước ở khu vực Đông Nam Á đều thấy gia súc

nhiễm Cysticercus tenuicollis

Mohammad Mirzaei và Hadi Rezaei (2014) [44] đã nghiên cứu về tỷ lệ

nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở cừu và dê từ tháng 4 năm 2012 đến tháng

4 năm 2013 ở Tabriz, Iran: trong số 1400 con cừu và 1000 con dê mổ khám tỷ lệ

nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis là 4,37%, trong đó 4,9% ở dê và 4% ở cừu

Nhóm 12 tháng tuổi trở lên tỷ lệ nhiễm là 4,67% ở cừu và 6,04% ở dê Nhóm dưới

12 tháng tuổi có tỷ lệ nhiễm là 0,8% ở cừu và 1,56% ở dê Tỷ lệ nhiễm ấu trùng ở con cái cao hơn con đực

Tác giả cũng cho biết ấu trùng ký sinh ở nhiều khí quan trong cơ thể, trong

đó gan nhiễm ấu trùng với tỷ lệ cao nhất cơ hoành nhiễm với tỷ lệ thấp nhất

Scala A và cs, (2014) [57] đã báo cáo về một ổ dịch cấp tính ấu trùng của sán

dây Taenia hydatigena, gây chết 5 trong 21 con cừu cái (chiếm 23,8%) Mổ khám cho thấy Cysticercus tenuicollis là nguyên nhân gây viêm gan nặng và gây chết cừu

Theo Ma J và cs (2014) [43]: một cuộc điều tra giun, sán ở dê tại tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc qua mổ khám 479 con dê cho thấy, 86% số dê kiểm tra bị nhiễm ít nhất một loài giun, sán Tổng cộng 15 loài giun, sán đã được tìm thấy,

trong đó Cysticercus tenuicollis là phổ biến nhất

Ali Khanjari và cs, 2015 [33] cho biết: mổ khám 2400 dê và cừu, phát hiện thấy

4,21% nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis Trong đó, tỷ lệ nhiễm của dê là 4,33% và

ở cừu 4,08%, tỷ lệ ở con cái cao hơn con đực (P < 0,001) Bệnh tích chủ yếu thấy ở gan

Trang 36

Chương 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu

- Bệnh ấu trùng sán dây Cysticercus tenuicollis ở lợn tại tỉnh Thái Nguyên

- Kháng nguyên chế ta ̣o từ ấu trùng sán dây Cysticercus tenuicollis

* Thời gian nghiên cứu: 8/2015 – 8/2016

* Địa điểm nghiên cứu:

- Đề tài được thực hiện ở tỉnh Thái Nguyên

- Địa điểm xét nghiệm mẫu: Phòng thí nghiệm Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên

2.2 Vật liệu nghiên cứu

* Động vật dùng trong nghiên cứu:

Lợn: 20 con, 2 tháng tuổi khỏe mạnh (bố trí thí nghiệm thử nghiệm thuốc diệt

ấu trùng Cysticercus tenuicollis) và 50 con (bố trí thử nghiệm kháng nguyên chẩn đoán bệnh Cysticercus tenuicollis)

* Các loại mẫu dùng trong nghiên cứu:

- Trứ ng sán dây Taenia hydatigena dùng để gây nhiễm ấu trùng Cysticerscus

tenuicollis cho lợn thí nghiệm

- Ấu trùng sán dây Cysticerscus tenuicollis thu thập từ lợn trên thực địa

- Mẫu máu của lợn gây nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis và mẫu máu

của lợn đối chứng

- Mẫu bệnh phẩm các khí quan có ấu trùng Cysticercus tenuicollis ký sinh

* Dụng cụ, thiết bị và hóa chất:

- Bộ đồ mổ gia súc

- Kính hiển vi quang học, kính lúp, cân điện tử (độ chính xác 10-2 gam)

- Tủ bảo quản (tủ ấm, tủ lạnh), ống nghiệm, kim lấy máu, máy li tâm

- Lọ đựng hoá chất, lamen, lam kính, đĩa petri, chậu thủy tinh, cốc thủy tinh, ống đong

- Hóa chất gồm: glyxerin, formol, cồn (từ 70o đến 100o), nước cất, xylen,……

Trang 37

2.3 Nội dung nghiên cứu

2.3.1 Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn tại tỉnh Thái Nguyên

- Tỷ lệ và cường độ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở lợn tại địa phương

- Tỷ lệ và cường độ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở lợn theo lứa tuổi

- Tỷ lệ và cường độ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở lợn theo tính biệt

- Tỷ lệ và cường độ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở lợn theo mùa vụ

2.3.2 Nghiên cứu bệnh Cysticercus tenuicollis trên lợn ở Thái Nguyên

- Tỷ lệ các khí quan có ấu trùng Cysticercus tenuicollis

- Triệu chứng lâm sàng chủ yếu của lợn bị bệnh Cysticercus tenuicollis kí sinh

- Bệnh tích đại thể ở các khí quan có ấu trùng ký sinh

2.3.3 Nghiên cứu một số chỉ tiêu đánh giá kháng nguyên dùng để chẩn đoán bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn

- Xác định độ nhạy, độ đặc hiệu của kháng nguyên chế tạo

- Ảnh hưởng của thời gian bảo quản đến độ nhạy, độ đặc hiệu của kháng nguyên

- Ảnh hưởng của nhiệt độ đến độ nhạy, độ đặc hiệu của kháng nguyên

- Thử nghiệm kháng nguyên trong chẩn đoán bệnh ở lợn

2.3.4 Thử nghiệm thuốc diệt ấu trùng Cysticercus tenuicollis cho lợn

- Hiệu lực của thuốc diệt ấu trùng Cysticercus tenuicollis trên lợn thí nghiệm

- Hiệu lực của thuốc diệt ấu trùng Cysticercus tenuicollis cho lợn trên thực địa

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Bố trí thu thập mẫu và phương pháp xác định tình hình nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở lợn

2.4.1.1 Bố trí thu thập mẫu

Bố trí thu thập mẫu theo phương pháp lấy mẫu chùm nhiều bậc (Nguyễn Như Thanh, 2001) [25]) Dung lượng mẫu thu thập cho đề tài được tính theo công thức:

d2: độ chính xác mong muốn

Trang 38

2.4.1.2 Phương pháp xác định tình hình nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở lợn

Mổ khám lợn bằng phương pháp mổ khám không toàn diện, kiểm tra nội

tạng lợn và thu thập ấu trùng Cysticercus tenuicollis

̣c lô ̣ xoang ngực và xoang bụng lợn; phát hiện ấu trùng Cysticercus

tenuicollis ký sinh trên bề mặt gan, lách, màng treo ruột, màng mỡ chài… Thu thập, đếm số lượng ấu trùng/lợn và bảo quản ấu trùng trong cồn 70o

2.4.1.3 Phương pháp nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn

* Quy định những yếu tố cần xác định liên quan đến tình hình nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis

- Tuổi lợn: Tuổi lợn được phân chia ra 3 lứa tuổi: ≤ 2 tháng; > 2- 6 tháng và > 6 tháng

- Mùa vụ: Mùa vụ trong năm được theo dõi gồm: Vụ Xuân - Hè: từ tháng 2 - tháng 7 Vụ Thu - Đông: từ tháng 8 - tháng 1 năm sau

* Sử dụng các phương pháp dịch tễ học mô tả, phân tích, thử nghiệm trong nghiên cứu (Nguyễn Như Thanh, 2001) [25])

2.4.2 Phương pháp nghiên cứu bệnh Cysticercus tenuicollis trên lợn ở thực địa

* Phương pháp nghiên cứu vị trí ký sinh, hình thái, khối lượng của ấu trùng Cysticercus tenuicollis

Sau khi mổ khám lợn, xác định vị trí ký sinh của ấu trùng Cysticercus tenuicollis, đếm

số lượng ấu trùng tại các vị trí khác nhau, thu thập ấu trùng, xác định khối lượng bằng cân điện

tử, quan sát và mô tả đặc điểm hình thái của ấu trùng

* Phương pháp nghiên cứu triệu chứng lâm sàng, bệnh tích đại thể ở các cơ quan có ấu trùng Cysticercus tenuicollis ký sinh

Triệu chứng lâm sàng được thống kê qua quan sát những biểu hiện của lợn sau gây nhiễm

Trang 39

Bệnh tích đại thể được xác định bằng cách quan sát bằng mắt thường và kính

lúp những tổn thương ở các cơ quan có ấu trùng Cysticercus tenuicollis ký sinh

2.4.3 Phương pháp xác định độ nhạy, độ đặc hiệu của kháng nguyên chế tạo từ

ấu trùng Cysticercus tenuicollis

Kháng nguyên được chế từ ấu trùng Cysticercus tenuicollis bằng phương

pháp trên Chúng tôi đã sử dụng kháng nguyên đã được chế tạo để thực hiện nội dung này

2.4.3.1 Phương pháp xác định độ nhạy, độ đặc hiệu của kháng nguyên chế tạo trên lợn thí nghiệm

Thí nghiệm 1: Tiến hành thí nghiệm trên 16 lợn 2 tháng tuổi, khỏe mạnh và

không có ấu trùng sán dây Cysticercus tenuicollis ký sinh (những lợn này được

sinh ra từ lợn mẹ khỏe mạnh, nuôi dưỡng trong môi trường đảm bảo vệ sinh thú y, cách xa khu vực nuôi chó, ăn hoàn toàn thức ăn tổng hợp; quản lý chặt chẽ việc nuôi dưỡng và vệ sinh thú y cho lợn từ khi mới sinh ra) Chia lợn thành 2 lô: 8 lợn

gây nhiễm và 8 lợn đối chứng Tiến hành gây nhiễm ấu trùng Cysticercus

tenuicollis cho lợn ở lô thí nghiệm bằng cách cho mỗi lợn nuốt 300.000 trứng của

sán dây Taenia hydatigena

Thu thập trứng sán dây Taenia hydatigena ở những đốt sán già từ chó được gây nhiễm sán dây Taenia hydatigena thải ra Số lượng trứng gây nhiễm được xác

định bằng phương pháp đếm thủ công dưới kính hiển vi quang học (độ phóng đại

100 lần)

Sau khi cho lợn nuốt trứng sán dây Taenia hydatigena, mổ khám lợn vào các thời điểm 15, 30, 45, 60, 75, 90, 105 và 120 ngày để tìm ấu trùng Cysticercus

tenuicollis ở các khí quan trong xoang bụng của lợn (mỗi thời điểm mổ khám 1

lợn/ngày/đợt) Thời gian ấu trùng Cysticercus tenuicollis đạt kích thước lớn nhất

trên bề mặt các khí quan là thời gian hoàn thành giai đoạn phát triển của ấu trùng

Cysticercus tenuicollis trong cơ thể lợn gây nhiễm

Tại thời điểm 45 ngày sau gây nhiễm, lấy mẫu máu của tất cả những lợn còn sống để kiểm tra các chỉ số huyết học Tại thời điểm 60 ngày sau gây nhiễm tiến hành tiêm kháng nguyên (1 ml/con) vào nội bì vành tai lợn gây nhiễm và đối chứng để xác định độ nhạy, độ đặc hiệu của kháng nguyên Số lượng lợn mổ khám và số mẫu máu thu thập được bố trí theo bảng sau:

Trang 40

Thời gian sau

khi gây nhiễm

(ngày)

Số lợn mổ khám (con)

Số mẫu huyết thanh (mẫu)

Số lợn thử kháng nguyên (con)

Lô TN Lô ĐC Lô TN Lô ĐC Lô TN Lô ĐC

Phương pháp nghiên cứu vị trí ký sinh, hình thái, khối lượng và đường kính

của ấu trùng Cysticercus tenuicollis trên lợn gây nhiễm: Sau khi mổ khám lợn, xác định vị trí của ấu trùng Cysticercus tenuicollis, đếm số lượng ấu trùng tại các vị trí

khác nhau, thu thập ấu trùng, đo đường kính và xác định khối lượng ấu trùng bằng cân điện tử

* Phương pháp lấy mẫu huyết thanh của lợn

Lấy mẫu máu của lợn cần kiểm tra vào ống nghiệm, để nghiêng ống nghiệm cho diện tích bề mặt máu rộng tối đa Cố định ống nghiệm cho đến khi máu đông, dựng thẳng ống nghiệm lên ở nhiệt độ thường, khi thấy ra nhiều huyết thanh thì bỏ ống nghiệm vào tủ lạnh ở nhiệt độ 4 - 6oC trong 2 - 3 giờ để máu co lại và chắt lấy huyết thanh Sau khi chắt được huyết thanh, lấy huyết thanh ly tâm 1000 vòng/phút để loại bỏ hồng cầu Bảo quản huyết thanh ở - 20oC

* Xác định độ nhạy, độ đặc hiệu của kháng nguyên:

Các mẫu huyết thanh dương tính và âm tính với ấu trùng Cysticercus

tenuicollis (trong thí nghiệm 1) được sử dụng để xác định độ nhạy, độ đặc hiệu

của kháng nguyên

Độ nhạy và độ đặc hiệu của phản ứng được xác định theo bảng và công thức sau:

Kết quả Bị nhiễm ấu trùng

Cysticercus tenuicollis

Không bị nhiễm ấu

trùng Cysticercus tenuicollis

Ngày đăng: 19/03/2017, 18:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Quốc Doanh, Nguyễn Văn Đề, Nguyễn Trọng Kim, Nguyễn Nhân Lừng (2002), “Kết quả điều tra bệnh sán dây (Taeniasis), bệnh ấu trùng sán dây (Cysticercosis) trên lợn, người tại Bắc Ninh, Bắc Kạn – quy trình phòng bệnh”, Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú Y, Tập IX, số 1, tr. 46 - 49 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả điều tra bệnh sán dây (Taeniasis), bệnh ấu trùng sán dây (Cysticercosis) trên lợn, người tại Bắc Ninh, Bắc Kạn – quy trình phòng bệnh”, "Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú Y
Tác giả: Nguyễn Quốc Doanh, Nguyễn Văn Đề, Nguyễn Trọng Kim, Nguyễn Nhân Lừng
Năm: 2002
2. Vương Đức Chất, Lê Thị Tài (2004), Bệnh thường gặp ở chó mèo và cách phòng trị, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 80 - 83 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh thường gặp ở chó mèo và cách phòng trị
Tác giả: Vương Đức Chất, Lê Thị Tài
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2004
3. Phạm Đức Chương, Nguyễn Duy Hoan, Lưu Thị Kim Thanh, Hoàng Toàn Thắng (2007), Giáo trình miễn dịch học thú y (Dùng cho học viên cao học ngành Thú Y), Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 81 - 112 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình miễn dịch học thú y
Tác giả: Phạm Đức Chương, Nguyễn Duy Hoan, Lưu Thị Kim Thanh, Hoàng Toàn Thắng
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2007
4. Tô Du, Xuân Giao (2006), Kỹ thuật nuôi chó mèo và phòng trị bệnh thường gặp. Nxb lao động xã hội, tr. 69 - 72 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật nuôi chó mèo và phòng trị bệnh thường gặp
Tác giả: Tô Du, Xuân Giao
Nhà XB: Nxb lao động xã hội
Năm: 2006
5. Phạm Khắc Hiếu (2009), Giáo trình dược lý học thú y, Nxb giáo dục Việt Nam, tr. 141 - 144 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình dược lý học thú y
Tác giả: Phạm Khắc Hiếu
Nhà XB: Nxb giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
6. Nguyễn Xuân Hoạt, Phạm Đức Lộ (1980), Tổ chức phôi thai học, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, tr. 162, 172, 184 - 185 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức phôi thai học
Tác giả: Nguyễn Xuân Hoạt, Phạm Đức Lộ
Nhà XB: Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1980
7. Nguyễn Hư ̃u Hưng, Cao Thanh Bình (2009 ), “Ti ̀nh hình nhiễm giun sán ở chó ta ̣i thành phố Cần Thơ và hiê ̣u quả của một số thuốc tẩy trừ” , Ta ̣p chí khoa ho ̣c kỹ thuâ ̣t thú y, tâ ̣p XVI, số 4, tr. 66 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), “Tình hình nhiễm giun sán ở chó "tại thành phố Cần Thơ và hiê ̣u quả của một số thuốc tẩy trừ”
8. Phạm Văn Khuê, Phan Lục (1996), Ký sinh trùng thú y, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 81 - 112 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký sinh trùng thú y
Tác giả: Phạm Văn Khuê, Phan Lục
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1996
9. Nguyễn Thị Kỳ (1994), Sán dây (Cestoda) ký sinh ở động vật nuôi Việt Nam, Tập I, Nxb khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sán dây (Cestoda) ký sinh ở động vật nuôi Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Kỳ
Nhà XB: Nxb khoa học và kỹ thuật
Năm: 1994
10. Nguyễn Thị Kỳ (2003), Động vật chí Việt Nam, Tập 13, Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Động vật chí Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Kỳ
Nhà XB: Nxb Khoa học và kỹ thuật
Năm: 2003
11. Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Văn Quang, Nguyễn Quang Tuyên (1999), Giáo trình ký sinh trùng thú y, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 72 - 76, 83 - 85 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình ký sinh trùng thú y
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Văn Quang, Nguyễn Quang Tuyên
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1999
12. Nguyễn Thị Kim Lan (1999),“Bệnh giun sán đường tiêu hoá của dê địa phương ở một số tỉnh miền núi phía Bắc và biện pháp phòng trị”, Luận án Tiến sĩ Nông nghiệp, Viện Thú y Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Bệnh giun sán đường tiêu hoá của dê địa phương ở một số tỉnh miền núi phía Bắc và biện pháp phòng trị”
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Lan
Năm: 1999
13. Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Thị Lê, Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Văn Quang (2008), Ký sinh trùng học thú y (giáo trình dùng cho bậc cao học), Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 48 - 57, 103 - 113 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ý sinh trùng học thú y (giáo trình dùng cho bậc cao học)
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Thị Lê, Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Văn Quang
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2008
14. Nguyễn Thị Kim Lan (2012), Ký sinh trùng và bệnh ký sinh trùng thú y giáo trình dùng cho bậc đại học, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội , tr. 57, 123 - 126 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký sinh trùng và bệnh ký sinh trùng thú y giáo trình dùng cho bậc đại học
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Lan
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2012
15. Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Thị Quyên, Phạm Công Hoạt (2012), “Xác định tương quan giữa tỷ lệ nhiễm sán dây Taenia hydatigena trưởng thành ở chó và tỷ lệ nhiễm ấu sán Cysticercus tenuicollis ở trâu, bò, lợn - thử nghiệm thuốc tẩy sán dây chó”, Ta ̣p chí Khoa học Kỹ thuật Thú y, tập XVIII, số 6, tr. 65 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định tương quan giữa tỷ lệ nhiễm sán dây "Taenia hydatigena" trưởng thành ở chó và tỷ lệ nhiễm ấu sán "Cysticercus tenuicollis" ở trâu, bò, lợn - thử nghiệm thuốc tẩy sán dây chó”, "Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Thị Quyên, Phạm Công Hoạt
Năm: 2012
16. Pha ̣m Sỹ Lăng (2002), “Bê ̣nh sán dây của chó ở mô ̣t số tỉnh phía bắc Viê ̣t Nam”, Ta ̣p chí khoa học kỹ thuật thú y , tâ ̣p IX, số 2, tr. 83 - 85 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bê ̣nh sán dây của chó ở mô ̣t số tỉnh phía bắc Viê ̣t Nam”, "Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y
Tác giả: Pha ̣m Sỹ Lăng
Năm: 2002
17. Phạm Sỹ Lăng, Trần Anh Tuấn, Bùi Văn Đoan, Vương Lan Phương (2006), Kỹ thuật nuôi và phòng trị bệnh cho chó, Nxb lao động xã hội, tr. 117 - 120 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật nuôi và phòng trị bệnh cho chó
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Trần Anh Tuấn, Bùi Văn Đoan, Vương Lan Phương
Nhà XB: Nxb lao động xã hội
Năm: 2006
18. Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Thị Kim Lan, Lê Ngọc Mỹ, Nguyễn Thị Kim Thành, Nguyễn Văn Thọ, Chu Đình Tới (2009), Ký sinh trùng và bệnh ký sinh trùng ở vật nuôi, Nxb giáo dục Việt Nam, tr. 221 - 227 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký sinh trùng và bệnh ký sinh trùng ở vật nuôi
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Thị Kim Lan, Lê Ngọc Mỹ, Nguyễn Thị Kim Thành, Nguyễn Văn Thọ, Chu Đình Tới
Nhà XB: Nxb giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
19. Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Quốc Doanh, Nguyễn Hữu Hưng, Nguyễn Văn Diên, Hạ Thúy Hạnh (2011), Chẩn đoán và điều trị một số bệnh ký sinh trùng quan trọng ở lợn, Nxb Hà Nội, tr. 58 - 61 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chẩn đoán và điều trị một số bệnh ký sinh trùng quan trọng ở lợn
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Quốc Doanh, Nguyễn Hữu Hưng, Nguyễn Văn Diên, Hạ Thúy Hạnh
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2011
20. Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Quốc Doanh, Nguyễn Hữu Hưng, Nguyễn Hữu Vũ, Nguyễn Văn Diên (2011), 8 bệnh ký sinh trùng quan trọng ở lợn và biện pháp phòng trị, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 8 bệnh ký sinh trùng quan trọng ở lợn và biện pháp phòng trị
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Quốc Doanh, Nguyễn Hữu Hưng, Nguyễn Hữu Vũ, Nguyễn Văn Diên
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2011

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1: Biểu đồ tỷ lệ và cường độ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis - Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn, sử dụng kháng nguyên chẩn đoán bệnh cho lợn tại tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)
Hình 3.1 Biểu đồ tỷ lệ và cường độ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis (Trang 44)
Bảng 3.2. Tỷ lệ và cường độ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis - Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn, sử dụng kháng nguyên chẩn đoán bệnh cho lợn tại tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)
Bảng 3.2. Tỷ lệ và cường độ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis (Trang 47)
Hình 3.2: Biểu đồ tỷ lệ và cường độ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis - Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn, sử dụng kháng nguyên chẩn đoán bệnh cho lợn tại tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)
Hình 3.2 Biểu đồ tỷ lệ và cường độ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis (Trang 49)
Hình 3.3: Biểu đồ tỷ lệ và cường độ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis - Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn, sử dụng kháng nguyên chẩn đoán bệnh cho lợn tại tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)
Hình 3.3 Biểu đồ tỷ lệ và cường độ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis (Trang 50)
Bảng 3.4. Tỷ lệ và cường độ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis - Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn, sử dụng kháng nguyên chẩn đoán bệnh cho lợn tại tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)
Bảng 3.4. Tỷ lệ và cường độ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis (Trang 51)
Hình 3.4: Biểu đồ tỷ lệ và cường độ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis - Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn, sử dụng kháng nguyên chẩn đoán bệnh cho lợn tại tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)
Hình 3.4 Biểu đồ tỷ lệ và cường độ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis (Trang 52)
Bảng 3.5. Tỷ lệ các khí quan có ấu trùng Cysticercus tenuicollis - Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn, sử dụng kháng nguyên chẩn đoán bệnh cho lợn tại tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)
Bảng 3.5. Tỷ lệ các khí quan có ấu trùng Cysticercus tenuicollis (Trang 53)
Hình 3.5: Biểu đồ triệu chứng lâm sàng chủ yếu của lợn bị bệnh ấu trùng - Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn, sử dụng kháng nguyên chẩn đoán bệnh cho lợn tại tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)
Hình 3.5 Biểu đồ triệu chứng lâm sàng chủ yếu của lợn bị bệnh ấu trùng (Trang 56)
Hình 3.6: Biểu đồ tổn thương đại thể ở các khí quan của lợn có ấu trùng - Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn, sử dụng kháng nguyên chẩn đoán bệnh cho lợn tại tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)
Hình 3.6 Biểu đồ tổn thương đại thể ở các khí quan của lợn có ấu trùng (Trang 59)
Bảng 3.10. Ảnh hưởng của nhiệt độ thấp (4 o C) đến độ nhạy và - Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn, sử dụng kháng nguyên chẩn đoán bệnh cho lợn tại tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)
Bảng 3.10. Ảnh hưởng của nhiệt độ thấp (4 o C) đến độ nhạy và (Trang 63)
Hình 3.8: Ảnh hưởng của nhiệt độ phòng ( 18 - 28 o C) đến độ nhạy và độ đặc - Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn, sử dụng kháng nguyên chẩn đoán bệnh cho lợn tại tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)
Hình 3.8 Ảnh hưởng của nhiệt độ phòng ( 18 - 28 o C) đến độ nhạy và độ đặc (Trang 65)
Bảng 3.12. Kết quả thử nghiệm kháng nguyên trong chẩn đoán - Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn, sử dụng kháng nguyên chẩn đoán bệnh cho lợn tại tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)
Bảng 3.12. Kết quả thử nghiệm kháng nguyên trong chẩn đoán (Trang 66)
Hình 3.10: Biểu đồ  hiệu lực của thuốc diệt ấu trùng Cysticercus - Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn, sử dụng kháng nguyên chẩn đoán bệnh cho lợn tại tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)
Hình 3.10 Biểu đồ hiệu lực của thuốc diệt ấu trùng Cysticercus (Trang 70)
Bảng 3.15. Hiệu lực của thuốc diệt ấu trùng Cysticercus tenuicollis - Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn, sử dụng kháng nguyên chẩn đoán bệnh cho lợn tại tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)
Bảng 3.15. Hiệu lực của thuốc diệt ấu trùng Cysticercus tenuicollis (Trang 70)
Hình 3.11: Biểu đồ hiệu lực của thuốc diệt ấu trùng Cysticercus - Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn, sử dụng kháng nguyên chẩn đoán bệnh cho lợn tại tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)
Hình 3.11 Biểu đồ hiệu lực của thuốc diệt ấu trùng Cysticercus (Trang 72)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w