Tuy nhiên, để nghiên cứu một cách có hệ thống loài vật nuôi này ở Việt Nam, chúng tôi triển khai đề tài “Một số đặc điểm sinh học, khả năng sản xuất của chim Trĩ đỏ khoang cổ Phasianus c
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
VIỆN CHĂN NUÔI
Chuyên ngành : CHĂN NUÔI
Người hướng dẫn khoa học: TS VÕ VĂN SỰ
TS DƯƠNG XUÂN TUYỂN
HÀ NỘI - 2012 Lêi cam ®oan
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực Những công trình nghiên cứu của các tác giả khác nếu được sử dụng trong luận án đều có chú thích nguồn sử dụng./
T¸c gi¶ LUËN ¸N
Hoàng Thanh Hải
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bản luận án này, tôi xin chân thành cám ơn các quý thầy hướng dẫn: TS Võ Văn Sự; TS Dương Xuân Tuyển đã dày công giúp đỡ tôi về trí tuệ, thời gian cũng như công sức để tôi hoàn thành bản luận án này
Tôi xin chân thành cám ơn đến Ban Giám đốc Viện Chăn nuôi, Phòng Đào tạo và Thông tin, Tập thể cán bộ công nhân viên Trung tâm Thực nghiệm và Bảo tồn vật nuôi, Bộ môn Động vật Quý hiếm và Đa dạng sinh học - Viện Chăn nuôi đã tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành luận án này
Tôi hết sức cám ơn tới các GS, PGS, TS trong quá trình đọc luận án đã có những nhận xét giúp tôi sửa chữa và bổ sung kịp thời các thiếu sót
Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các cơ quan, thầy cô giáo, bạn bè và các đồng nghiệp đã có sự động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành luận án này
Cuối cùng tôi xin dành tình cảm và lời cảm ơn đến gia đình, vợ và con tôi đã cổ vũ, động viên, chia xẻ những khó khăn và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt thời gian thực hiện luận án
Hà Nội, tháng 9 năm 2012
T¸c gi¶ LUËN ¸N
Hoàng Thanh Hải
Trang 4MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH, ĐỒ THỊ
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tính cấp thiết của đề tài 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
3.1 Ý nghĩa khoa học 2
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Một số đặc điểm sinh học của chim trĩ đỏ khoang cổ 4
1.1.1 Giới thiệu giống chim Trĩ đỏ khoang cổ 4
1.1.2 Tập tính của chim Trĩ đỏ khoang cổ 9
1.1.3 Sinh lý, sinh hóa máu 13
1.2 Khả năng sinh sản của chim Trĩ đỏ khoang cổ 17
1.2.1 Tỷ lệ nuôi sống 17
1.2.2 Tuổi thành thục về tính 18
1.2.3 Thời gian đẻ và thời gian nghỉ đẻ 18
1.2.4 Năng suất trứng 19
1.2.5 Khối lượng và chất lượng trứng 20
1.2.6 Khả năng thụ tinh và kết quả ấp nở 23
1.3 Khả năng sinh trưởng và cho thịt của chim Trĩ đỏ khoang cổ 25
1.3.1 Sinh trưởng và các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng 25
1.3.2 Năng suất, chất lượng thịt và hiệu quả sử dụng thức ăn 34
1.4 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 37
1.4.1 Ngoài nước 37
1.4.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 42
CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 44
2.1 Vật liệu và Phương pháp nghiên cứu 44
2.1.1 Vật liệu 44
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 44
2.1.3 Thời gian nghiên cứu 44
Trang 52.2 Nội dung nghiên cứu 44
2.3 Phương pháp nghiên cứu 45
2.3.1 Nghiên cứu về đặc điểm sinh học 45
2.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh sản của chim Trĩ ĐKC 46
2.3.3 Khả năng sản xuất thịt của chim Trĩ ĐKC thương phẩm 53
2.4 Phương pháp xử lý số liệu 56
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 57
3.1 Đặc điểm sinh học cơ bản của chim Trĩ đỏ khoang cổ 37
3.1.1 Giới thiệu sơ bộ về đặc điểm ngoại hình 57
3.1.2 Một số tập tính của chim Trĩ ĐKC 60
3.1.3 Một số chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu của chim Trĩ ĐKC 68
3.2 Khả năng sinh sản của chim Trĩ ĐKC 71
3.2.1 Giai đoạn chim con và hậu bị 71
3.2.2 Giai đoạn sinh sản của chim Trĩ ĐKC 86
3.2.3 Tỷ lệ trứng có phôi và kết quả ấp nở của chim Trĩ ĐKC 97
3.2.4 Các chỉ tiêu chất lượng trứng của chim Trĩ ĐKC 101
3.3 Khả năng sinh trưởng và cho thịt của chim Trĩ ĐKC 107
3.3.1 Khả năng nuôi sống của chim Trĩ ĐKC 107
3.3.2 Khả năng sinh trưởng của chim Trĩ ĐKC 108
3.3.3 Hiệu quả sử dụng thức ăn của chim Trĩ ĐKC 114
3.3.4 Hiệu quả kinh tế 117
3.3.5 Tỷ lệ thân thịt và chất lượng thịt của chim Trĩ ĐKC 117
KẾT LUẬN 121
Kết luận 121
Kiến nghị 122
CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 123
TÀI LIỆU THAM KHẢO 123
PHỤ LỤC 144
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
ĐKC Đỏ khoang cổ ĐVT Đơn vị tính KLCT Khối lượng cơ thể
ME Năng lượng trao đổi
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Các thành phần máu của chim Trĩ đỏ khoang cổ ở các tháng
khác nhau trong năm 15
Bảng 1.2 Các thành phần máu của chim Trĩ đỏ khoang cổ ở các lứa tuổi khác nhau 16
Bảng 1.3 Sản lượng trứng và tỷ lệ trứng vỡ của chim Trĩ đỏ khoang cổ 20
Bảng 1.4 Khối lượng chim Trĩ đỏ khoang cổ 16 tuần tuổi tại Australia 27
Bảng 1.5 Khẩu phần nuôi chim Trĩ qua các tháng tuổi 30
Bảng 1.6 Tiêu thụ thức ăn trung bình của 100 chim Trĩ nuôi thịt 30
Bảng 2.1 Chế độ dinh dưỡng nuôi chim Trĩ ĐKC sinh sản thế hệ 1 48
Bảng 2.2 Chế độ dinh dưỡng nuôi chim Trĩ ĐKC sinh sản thế hệ 2 và 3 48
Bảng 2.3 Chế độ dinh dưỡng nuôi chim Trĩ ĐKC thương phẩm 53
Bảng 3.1 Tần số chim Trĩ ĐKC con tiếp cận với máng ăn để lấy thức ăn 53
Bảng 3.2 Tỷ lệ chim Trĩ ĐKC đậu trên sào 62
Bảng 3.3 Số trận đánh nhau của chim Trĩ ĐKC 63
Bảng 3.4 Số trận đánh nhau của chim Trĩ ĐKC theo thời gian trong ngày 64
Bảng 3.5 Khả năng chấp nhận và không chấp nhận trống phối giống của chim Trĩ ĐKC mái theo các thời điểm trong ngày 66
Bảng 3.6 Thời gian đẻ trứng của chim Trĩ ĐKC mái trong một ngày đêm 68
Bảng 3.7 Một số chỉ tiêu sinh hóa máu của chim Trĩ ĐKC 69
Bảng 3.8 Tỷ lệ nuôi sống của chim Trĩ ĐKC từ lúc mới nở đến 32 tuần tuổi của 5 đàn thuộc 3 thế hệ 72
Bảng 3.9 Khối lượng cơ thể chim Trĩ ĐKC qua 3 thế hệ từ mới nở
đến 10 tuần tuổi 75
Bảng 3.10 Khối lượng cơ thể của chim Trĩ ĐKC mái nuôi qua 3 thế hệ từ 12 đến 32 tuần tuổi 77
Bảng 3.11 Khối lượng cơ thể chim Trĩ ĐKC trống qua 3 thế hệ từ 12 đến 32 tuần tuổi 78
Bảng 3.12 Khối lượng cơ thể và kích thước các chiều đo của chim Trĩ ĐKC ở 10 tuần tuổi 80 Bảng 3.13 Khối lượng cơ thể và kích thước các chiều đo của chim Trĩ ĐKC ở 20
Trang 8tuần tuổi 81
Bảng 3.14 Hệ số tương quan giữa khối lượng cơ thể và kích thước các chiều đo lúc 10 tuần tuổi của chim Trĩ ĐKC 83
Bảng 3.15 Hệ số tương quan giữa khối lượng cơ thể và kích thước các chiều đo lúc 20 tuần tuổi của chim Trĩ ĐKC 83
Bảng 3.16 Thức ăn thu nhận của chim Trĩ ĐKC giai đoạn từ mới nở đến 10 tuần tuổi 84
Bảng 3.17 Thức ăn thu nhận chim Trĩ ĐKC giai đoạn 12 đến 32 tuần tuổi 85
Bảng 3.18 Tỷ lệ hao hụt của 3 đàn chim Trĩ ĐKC sinh sản thuộc 3 thế hệ nuôi theo phương thức 1 qua các tháng đẻ 86
Bảng 3.19 Tỷ lệ hao hụt của 3 đàn chim Trĩ ĐKC sinh sản thuộc 2 thế hệ nuôi theo phương thức 2 qua các tháng đẻ 87
Bảng 3.20 Khối lượng cơ thể chim Trĩ ĐKC mái theo tỷ lệ đẻ 88
Bảng 3.21 Tỷ lệ đẻ, năng suất trứng và tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng của chim Trĩ ĐKC qua các tháng đẻ ở thế hệ 1 90
Bảng 3.22 Tỷ lệ đẻ và tiêu tốn thức ăn/10 trứng của chim Trĩ ĐKC ở thế hệ 2
91 Bảng 3.23 Tỷ lệ đẻ, năng suất trứng và tiêu tốn thức ăn của chim Trĩ ĐKC thế hệ 3 năm đẻ thứ 1 93
Bảng 3.24 Năng suất trứng mái/năm của chim Trĩ ĐKC 96
Bảng 3.25 Tiêu tốn thức ăn/10 trứng của chim Trĩ ĐKC 97
Bảng 3.26 Một số tỷ lệ ấp nở của đàn chim Trĩ ĐKC thế hệ 1 98
Bảng 3.27 Một số tỷ lệ ấp nở của đàn chim Trĩ ĐKC thế hệ 2 99
Bảng 3.28 Một số tỷ lệ ấp nở của đàn chim Trĩ ĐKC thế hệ 3 100
Bảng 3.29 Khối lượng trứng của chim Trĩ ĐKC qua các giai đoạn đẻ 102
Bảng 3.30 Một số chỉ tiêu chất lượng trứng của chim Trĩ ĐKC (n=30 quả) 103
Bảng 3.31 Tỷ lệ nuôi sống của chim Trĩ ĐKC qua các giai đoạn tuổi 107
Bảng 3.32 Khối lượng cơ thể của chim Trĩ ĐKC giai đoạn 0-9 tuần tuổi 110
Bảng 3.33 Khối lượng cơ thể của chim Trĩ ĐKC mái và trống từ 10 - 20 tuần tuổi
111 Bảng 3.34 Tăng khối lượng tuyệt đối của chim Trĩ ĐKC giai đoạn 0 – 10 tuần tuổi 113
Trang 9Bảng 3.35 Tăng khối lượng tuyệt đối của chim Trĩ ĐKC giai đoạn 11-20 tuần tuổi
113 Bảng 3.36 Thu nhận thức ăn chim Trĩ ĐKC qua các tuần tuổi 114
Bảng 3.37 Tiêu tốn thức ăn/1kg khối lượng cơ thể (FCR) từ 14-20 tuần tuổi
116 Bảng 3.38 Hiệu quả kinh tế nuôi chim Trĩ ĐKC thương phẩm (2011) 117
Bảng 3.39 Một số chỉ tiêu phân tích thân thịt 117
Bảng 3.40 Một số chỉ tiêu về thành phần hoá học của thịt 119
Bảng 3.41 Kết quả phân tích 16 axit amin trong thịt chim Trĩ ĐKC 119
Trang 10DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ VÀ BIỂU ĐỒ
HÌNH VẼ:
Hình 1.1 Chim Trĩ ĐKC trống 5
Hình 1.2 Chim Trĩ ĐKC mái 5
Hình 1.3 Úm chim Trĩ non 7
Hình 1.4 Kiểm tra trứng 7
Hình 1.5 Nuôi chim Trĩ lớn 7
Hình 1.6 Cho ăn 7
Hình 1.7 Khu của trang trại “Gisi Pheasant Farms” 8
Hình 2.1 Chuồng nuôi phương thức 1 49
Hình 2.2 Chuồng nuôi phương thức 2 49
Hình 3.1 Trĩ đỏ khoang cổ một ngày tuổi 59
Hình 3.2 Trĩ đỏ khoang cổ trưởng thành 60
Hình 3.3 Thịt chim Trĩ ĐKC 118
Hình 3.4 Thịt chim Trĩ ĐKC 118
BIỂU ĐỒ VÀ ĐỒ THỊ: Biểu đồ 1 Thời gian đẻ trứng của chim Trĩ ĐKC mái trong một ngày 68
Đồ thị 3.1 Tỷ lệ chim Trĩ ĐKC đậu trên sào trong một ngày 63
Đồ thị 3.2 Tỷ lệ nuôi sống của thế hệ 1 chim Trĩ ĐKC qua các tuần tuổi 74
Đồ thị 3.3 Tỷ lệ nuôi sống của 5 đàn chim Trĩ ĐKC thuộc 3 thế hệ qua các tuần tuổi
74 Đồ thị 3.4 Đường sinh trưởng của chim Trĩ ĐKC giai đoạn mới nở đến 20 tuần tuổi
79 Đồ thị 3.5 Tỷ lệ nuôi sống của chim Trĩ ĐKC qua các tuần tuổi 108
Đồ thị 3.6 Đường sinh trưởng của chim Trĩ ĐKC giai đoạn mới nở đến 20 tuần tuổi
109
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đời sống kinh tế xã hội càng phát triển thì nhu cầu thực phẩm của con người càng tăng, không chỉ về số lượng mà còn đòi hỏi chất lượng cao và đảm bảo an toàn vệ sinh Trong những năm gần đây, việc chăn nuôi một số loài động vật hoang dã như lợn rừng, nhím, hươu, nai.v.v ở nước ta phát triển khá mạnh, mang lại hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi Cung cấp cho thị trường nguồn thực phẩm đặc sản chất lượng cao, đồng thời sẽ làm giảm áp lực săn bắn trong tự nhiên, đảm bảo cân bằng sinh thái và đa dạng sinh học
Theo Hoffman và Scherf (2005), Nguyễn Xuân Đặng (2009), chim Trĩ
đỏ khoang cổ (ĐKC), công và gà rừng được xếp vào động vật nuôi vì đã được thuần hóa nên được phép gây nuôi chúng để khai thác thực phẩm Tại nhiều quốc gia ở châu Âu, châu Mỹ, chim Trĩ ĐKC được nuôi vừa để lấy thịt, vừa phục vụ môn thể thao săn bắn Theo Polish Birds Directory (2009) tại nước Anh có đến 35 triệu và tại Mỹ có 10 triệu Trĩ được nuôi
Ở Việt Nam, chim Trĩ ĐKC được phát hiện ở Lạng Sơn, Quảng Ninh, khu bảo tồn thiên nhiên Phong Điền (Thừa Thiên Huế), rừng quốc gia Cát Tiên (Lâm Đồng), khu bảo tồn U Minh Thượng (Kiên Giang) Chim Trĩ ĐKC
là loài chim hoang dã, nhưng được phép gây nuôi (Danh mục các loài động vật quý hiếm được phép gây nuôi trong khuôn khổ dự án “Quy hoạch bảo tồn
và phát triển động vật hoang dã giai đoạn 2010-2015”) Tổ chức CITES Thái Lan cũng đã cho Việt Nam nhập khẩu chim Trĩ ĐKC và các loại Trĩ khác của Thái Lan với mục đích thương mại Trước đây, chim Trĩ ĐKC chỉ được biết đến như một loài động vật nuôi để làm cảnh Việc nuôi chim Trĩ ĐKC ở nước
ta mang tính tự phát ở một số hộ nhỏ lẻ, chưa phát triển thành chăn nuôi hàng hóa, chưa có cơ sở khoa học và thực tiễn để xây dựng quy trình chọn lọc và
Trang 12nuôi dưỡng phù hợp Để giúp cho loài chim này thoát khỏi sự tuyệt chủng, thậm chí phát triển nhanh thành vật nuôi nông nghiệp phục vụ nhu cầu thực phẩm cũng như sinh vật cảnh của xã hội, mang lại lợi ích và hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi, từ năm 2005 Bộ môn Động vật quý hiếm và Đa dạng sinh học đã tiến hành nuôi bảo tồn tại một số hộ chăn nuôi và thử nghiệm nuôi nhốt tại Trung tâm Thực nghiệm và Bảo tồn vật nuôi – Viện Chăn nuôi Kết quả bước đầu cho tiên lượng tốt và có khả năng phát triển thành hàng hóa trong sản xuất Năm 2009, Bộ Khoa học và công nghệ đã phê duyệt cho Viện Chăn nuôi thực hiện đề tài “Khai thác và phát triển nguồn gen chim Trĩ ĐKC đáp ứng nhu cầu thực phẩm và sinh vật cảnh của xã hội” Tuy nhiên, để nghiên cứu một cách có hệ thống loài vật nuôi này ở Việt Nam, chúng tôi triển khai đề tài “Một số đặc điểm sinh học, khả năng sản xuất của chim Trĩ
đỏ khoang cổ (Phasianus colchicus) trong điều kiện nuôi nhốt”
2 Mục tiêu của đề tài
Xác định được một số đặc điểm sinh học, khả năng sinh sản, sinh trưởng, cho thịt và chất lượng thịt của chim Trĩ ĐKC trong điều kiện nuôi nhốt
để tiến tới xây dựng quy trình kỹ thuật chăn nuôi chim Trĩ ĐKC ở Việt Nam
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3.1 Ý nghĩa khoa học
- Đề tài là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống về đặc điểm sinh học (ngoại hình, tập tính, sinh lý, sinh hoá máu), khả năng sinh sản, sinh trưởng, khả năng cho thịt và phẩm chất thịt của chim Trĩ ĐKC nuôi nhốt ở Việt Nam
- Kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu tham khảo có giá trị trong giảng dạy, nghiên cứu khoa học về chăn nuôi chim Trĩ ĐKC
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Trang 13giá trị nhân văn và giá trị tài nguyên môi trường), đa dạng di truyền, đa dạng loài, bảo tồn và phát triển nguồn gen chim Trĩ ĐKC tại Việt Nam
- Làm phong phú nguồn thực phẩm đặc sản và loài sinh vật cảnh ở Việt Nam, tạo thêm một vật nuôi mới phục vụ phát triển chăn nuôi, tăng thu nhập cho người chăn nuôi, góp phần vào sự phát triển nền nông nghiệp sinh thái bền vững ở nước ta
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Một số đặc điểm sinh học của chim trĩ đỏ khoang cổ 1.1.1 Giới thiệu giống chim Trĩ đỏ khoang cổ
1.1.1.1 Nhận dạng chim Trĩ đỏ khoang cổ
Chim Trĩ đỏ khoang cổ (ĐKC) có tên khoa học là Phasianus colchicus (Linnaeus, 1758) thuộc trong hệ thống phân loại như sau:
- Giới (Kingdom): Động vật (Animal)
- Giới phụ (Subkingdom): Hậu sinh động vật đa bào
- Ngành (Phylum): Có dây sống (Vetebrata)
- Lớp (Class): Chim (Aves)
- Bộ (Order): Gà (Galliformes)
- Họ (Family): Trĩ (Phasianidae)
- Chi (Genus): Trĩ (Phasianus)
- Loài (Species): Chim Trĩ ĐKC (Phasianus colchicus) Chim Trĩ ĐKC trống có lông đầu và cổ màu xanh nhạt, một khoang trắng rõ rệt xung quanh vùng cổ, giữa ngực có màu đỏ tía đậm, các vùng bên
có màu sáng hơn Bên sườn có màu vàng nhạt với các vết đen trên diện rộng, các lông đuôi dài có màu vàng oliu với các sọc ngang rộng màu đen Trên đầu
có chòm lông mũ, dưới cổ có mào thịt màu đỏ tía (NSW DPI, 2009)
Chim Trĩ ĐKC mái có các lông cổ màu nâu và đen kẻ sọc, quanh chỏm đầu có các đường viền màu hạt dẻ Các lông phía sau lưng và ngực lốm đốm có các chấm đen phần giữa có màu nâu đen, phần bụng có màu nâu nhạt Lông đuôi có các đường sóng rõ rệt dày và khít có màu vàng sẫm và đen (Ảnh 1, 2) (NSW DPI, 2009)
Trang 15Hình 1.1 Chim Trĩ ĐKC trống Hình 1.2 Chim Trĩ ĐKC mái Cũng như một số loài trĩ khác như trĩ vàng (Golden pheasant) chim Trĩ ĐKC cũng có con lai với các loài chim và gia cầm khác Thí dụ con lai với gà tây (Wolfe và CS, 1961); với gà nhà (Asmundson và Lorenz, 1957; Bhatnagar
và CS, 1972; Purohit và CS, 1978)
1.1.1.2 Nguồn gốc và phân bố
Theo National Geographic (2012) chim Trĩ ĐKC có nguồn gốc từ Trung Quốc và Đông Á Tại Trung Quốc, chim Trĩ ĐKC có mặt tại vùng Đông Nam (Vân Nam) Từ Trung Quốc, loài Trĩ này được du nhập đi khá nhiều nơi trên thế giới, (vì thế được cũng được gọi là chim Trĩ ĐKC Trung Quốc) Tại Việt Nam, theo Delacour (1927) (trích theo Võ Quý, 1975), chim Trĩ ĐKC có ở Cao Bằng, Lạng Sơn và Quảng Ninh
Theo Polish Birds Directory (2009), đầu thế kỷ XVIII, chim Trĩ ĐKC đã được du nhập vào Mỹ và cuối thế kỷ XVIII đã phát triển rất nhiều tại đây Cũng theo tài liệu này, thế kỷ X, chim Trĩ ĐKC đã được nhập vào Canada, Đông Tây Âu, đảo Hawai, Chilê, Australia và nhiều nước khác
Chim Trĩ ĐKC được du nhập đến nước Anh khoảng thế kỷ thứ X và đã
bị tuyệt chủng vào thế kỷ XVII Mãi đến năm 1830 được nhập trở lại và được nhân rộng, phát triển cho đến ngày nay (Polish Birds Directory, 2009)
Có 35 loài trĩ, nhưng loài trĩ được biết nhiều nhất chính là chim Trĩ ĐKC Loài này có mặt ít nhất trên 66 nước (Avian Web, 2012)
Trang 161.1.1.3 Đặc điểm sinh học và môi trường sống
Theo Tesky và Julie (1995), chim Trĩ ĐKC trống thuộc loại đa thê (Polygamous), nhưng cũng có thể là đơn thê (Monogamous) Trong điều kiện
tự nhiên, Trĩ con được sinh nở chủ yếu vào mùa xuân hè và đến mùa xuân năm sau chúng có thể trở thành bố mẹ
Trong thiên nhiên, chim Trĩ ĐKC có thể gặp ở những vùng đồi núi, lùm cây, bụi rậm hoặc trong rừng Thức ăn của chúng là hạt ngũ cốc, lá cây
và các loài động vật không xương sống Ban đêm, chim Trĩ ĐKC trú trên cây, có thói quen làm tổ dưới mặt đất, một lứa đẻ khoảng 10 - 18 quả trứng trong mùa sinh sản khoảng 2-6 tuần vào thời gian từ tháng 4 đến tháng 6 hàng năm và trứng
ấp nở khoảng 23-26 ngày Con non ở với mẹ vài tuần sau khi nở Trĩ lớn nhanh, đến 15 tuần tuổi đã trưởng thành (Theo Ring - necked pheasant (2012)
McGowan (1998) cho biết thức ăn của Trĩ rất đa dạng: từ các loại hạt,
lá, quả, củ, rễ tới các động vật nhỏ như côn trùng, ấu trùng
1.1.1.4 Bảo tồn, quản lý, khai thác và sử dụng
Trong Danh mục các loài vật nuôi thế giới (Domestic Animal World Watchlist) của Tổ chức Nông lương thế giới (FAO, 2005), các loài Trĩ, Công (thuộc họ Pheasant) và gà rừng đều được xem là động vật đã được thuần hoá (domesticated animals)
Tại Mỹ, Australia và các nước Châu Âu, có những trang trại lớn nuôi chim Trĩ ĐKC hoặc để sản xuất thịt hoặc nuôi lớn xong thì thả ra rừng hoặc cánh đồng lớn để phục vụ săn bắn
Việc nuôi nó trong môi trường nhân tạo cũng tương tự như nuôi gà Các công đoạn nuôi cũng thế: ấp bằng máy – hoặc nhờ gà, nuôi con mới nở (úm), nuôi trĩ hậu bị, nuôi trĩ sinh sản
Một số hình ảnh nuôi trĩ tại Trang trại OAK RIDGE PHEASANTS New York, Mỹ, 2012)
Trang 17Hình 1.3 Úm chim Trĩ non Hình 1.4 Kiểm tra trứng
Một số trang trại nuôi chim Trĩ ĐKC nổi tiếng như sau:
Trang trại “Gisi Pheasant Farms” tại Nam Dakota – Mỹ, được xây dựng từ 1985, mỗi tuần cho ra lò 52.000 Trĩ con 1 ngày tuổi Năm 2012, giá Trĩ mái một ngày tuổi là 0,5 USD và Trĩ trống một ngày tuổi là 2,5 USD (Gisi Pheasant Farms, 2012)
Trang 18
Hình 1.7 Khu của trang trại “Gisi Pheasant Farms”
Tại Petergburg (Nga) có trang trại Sullivan Pheasant, với công suất
8000 Trĩ con/tuần, đưa vào hoạt động từ năm 2011 (Sullivan Pheasant, 2012)
Trên thế giới có khá nhiều hội nuôi Trĩ, lớn nhất là hội Trĩ thế giới (The World Pheasant Association – WPA)
Có nhiều trang web khác nhau và được liên kết qua trang mạng “Liên kết các nhà nhân giống Trĩ thế giới – Pheasant Breeder Connection
Chưa thấy tư liệu nói về chăn nuôi chim Trĩ ĐKC tại các vùng Châu Á, Châu Phi
Tại Việt Nam, chim Trĩ ĐKC được khuyến cáo nuôi để làm cảnh và lấy thịt từ lâu Từ năm 2000 một số nơi như Vườn thú Hà nội và một số người dân như ông Trần Đình Nhơn (Đà Lạt) (Báo Lao động, 1/8/2004), ông Phan Đình Tiến (Hà Nội) (Báo Lao động, 14/11/2005) cũng đã tiến hành nuôi qui
mô “mươi lăm con” Năm 2005, Bộ môn Động vật quý hiếm và Đa dạng sinh học - Viện Chăn nuôi đã phối hợp với với các hộ dân bảo tồn và nghiên cứu chăn nuôi loài chim này Sau 3 năm nghiên cứu Bộ môn đã quyết định chăn nuôi tập trung, nuôi nhốt như nuôi gà với quy mô trang trại trung bình Nhận thấy có kết quả, Bộ môn đã quyết định chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho những người yêu thích chăn nuôi chim Trĩ ĐKC ở ba miền đất nước, cung cấp con giống và hướng dẫn kỹ thuật cho họ Đến nay ước tính có ít nhất 1.000 hộ nuôi với khoảng 20.000 con sinh sản
1.1.2 Tập tính của chim Trĩ đỏ khoang cổ
Trang 191.1.2.1 Khái niệm về tập tính
Tập tính là chuỗi các phản xạ được hình thành trong đời sống động vật để thích nghi với môi trường sống Môi trường sống thường xuyên thay đổi, cơ thể sống muốn thích ứng với sự biến đổi đó thì phải thay đổi tập tính, lối sống cho phù hợp với môi trường, hợp với các quy luật tự nhiên (Vũ Chí Cương, 2008)
Nghiên cứu tập tính của các loài động vật là những nghiên cứu khoa học về mọi hoạt động của động vật từ động vật một tế bào, động vật không xương sống,
cá, lưỡng cư, bò sát, chim hay động vật có vú Nghiên cứu tập tính nhằm khám phá mối quan hệ của các loài động vật đối với môi trường tự nhiên của chúng cũng như quan hệ của chúng với các loài sinh vật khác với các chủ đề như động vật tìm và bảo vệ nguồn thức ăn hay chỗ ở như thế nào? Làm thế nào để chống lại kẻ thù săn mồi? Chọn thời điểm giao phối, nơi sinh sản và chăm sóc con của chúng Nguyên nhân hình thành tập tính bao gồm sự tác động bên ngoài gây ra do biến đổi các hormone bên trong cơ thể và cơ chế hệ thần kinh trung ương kiểm soát tập tính Chức năng của tập tính bao gồm sự ảnh hưởng tức thì đối với vật nuôi và hiệu quả thích nghi giúp cho động vật tồn tại, sinh sản và phát triển được trong một môi trường đặc biệt Tiến hóa tập tính liên quan đến nguồn gốc của tập tính và sự thay đổi tập tính như thế nào qua các thế hệ (Vũ Chí Cương, 2008)
1.1.2.2 Sự hình thành tập tính
Tập tính của các loài động vật do hệ thần kinh chi phối và do sự ảnh hưởng của các hệ cơ, xương v.v Bên cạnh đó, môi trường cũng ảnh hưởng đến sự hình thành và tiếp tục tạo nên tập tính mới Không có tập tính nào là không phụ thuộc vào thông tin di truyền của vật nuôi và các yếu tố môi trường Mọi tác động đến một con vật và môi trường của nó có khả năng làm thay đổi tập tính của con vật đó (Vũ Chí Cương, 2008)
Tập tính được coi là sự hình thành từ trong hệ thần kinh, từ những gì đã
Trang 20xảy ra trong môi trường, làm thay đổi các cơ quan của cơ thể, có thể thay đổi
về hệ thần kinh và não bộ Một số tập tính là kết quả của sự biến đổi hàm lượng hormon hoặc về mặt môi trường vật lý và hóa học của bộ não Tập tính cũng là do tích lũy các phản xạ Đôi khi tập tính có được từ những thay đổi chức năng sinh lý, do những thay đổi từ bên ngoài cơ thể hoặc từ những thay đổi hoàn toàn bên trong cơ thể Một số tập tính hình thành rất nhanh, trong khi đó có những tập tính khác phải trải qua thời gian rất dài Việc tạo ra tập tính là sự mất dần đi phản xạ đối với những kích động lặp lại, nhưng nó có thể vẫn còn tồn tại Việc lặp đi lặp lại có thể diễn ra thường xuyên hoặc một lần trong ngày nhưng tập tính con vật vẫn hình thành Khả năng tạo ra tập tính và mức độ còn tùy thuộc vào khả năng của tác động và trạng thái của vật nuôi
Sự hình thành tập tính là một quá trình quan trọng đối với vật nuôi để chúng dự trữ năng lượng, nó sẽ mất năng lượng khi phản xạ lặp đi lặp lại nhiều lần đối với các tác động thông thường Như vậy, sự hình thành tập tính
là một phương tiện quan trọng nhằm bảo đảm cho động vật không phản xạ với quá nhiều tình huống diễn ra trong môi trường Sự hình thành tập tính có thể là do hậu quả của sự chịu đựng lâu ngày hay sự thích nghi của các chuỗi nơron trong bộ não (Fraser và Broom, 1998)
1.1.2.3 Vai trò của tập tính trong chăn nuôi
Theo Fraser và Broom (1998), năng suất và hiệu quả chăn nuôi phụ thuộc chặt chẽ vào việc gia súc ăn loại thức ăn gì và ăn lượng bao nhiêu là do tập tính kiểm soát Kết luận này có ý nghĩa khoa học và thực tiễn rất lớn Trong thực tế chăn nuôi hiện nay người ta chỉ chú trọng làm sao cho gia súc sinh trưởng nhanh để tối đa hóa năng suất mà không quan tâm đến liệu gia súc có thích hay không thích thức ăn mà con người phối chế
1.1.2.4 Một số tập tính cơ bản của chim Trĩ ĐKC liên quan đến chăn nuôi
* Đánh nhau
Trang 21Tập tính của gà có thể phân thành: mạnh trội (dominant) và yếu đuối (submissive) Gà trống thuộc nhóm mạnh trội nên nên thường thô bạo, xâm phạm và vượt lên các con gà mái khác Trong trường hợp đàn quá đông sẽ dẫn đến hiện tượng mổ cắn nhau (cannibalism)
Heinz (1973) đã nghiên cứu tập tính chim Trĩ ĐKC tìm hiểu tiếng kêu,
âm thanh trong cùng loài liên quan đến các động thái di chuyển của chúng Tiếng kêu gọi bầy đàn và ngôn ngữ trong tiếng kêu làm cho chim Trĩ khác tìm đến Tiếng kêu hoảng sợ hoặc tiếng kêu có âm vực cao ức chế sự di chuyển của chim Trĩ Tiếng kêu huýt gió, báo động bầy đàn, hoảng sợ không có ảnh hưởng lớn tới sự di chuyển của chim Trĩ Tiếng kêu bầy đàn về cơ bản là tiếng thu hút sự quan tâm, tiếng kêu cùng loài đóng vai trò quan trọng đến sự sinh tồn của chim Trĩ con trong cuộc sống hoang dã
* Bảo vệ lãnh thổ và phân chia đẳng cấp
Mổ cắn nhau, rỉa lông đối phương, đá nhau tranh giành thức ăn, tranh giành đực cái là tập tính chung của các loài gia cầm, thủy cầm và chim Chim Trĩ mổ, tấn công kẻ xâm phạm lãnh địa, đẩy con khác bằng vai, co cụm thành bầy để tự vệ hay bỏ chạy theo bầy như của các loài gia súc khác
Theo NSW DPI (2009), chim Trĩ trống bảo vệ chim mái khỏi các nguy
cơ từ các loài dã thú và khỏi mất năng lượng khi bị các chim trống khác truy đuổi Chim mái được chim trống bảo vệ thì thời gian để ăn tăng gấp 3 lần bình thường và thời gian chạy trốn chỉ bằng 1/5 thời gian cảnh giác với các tác động xấu của môi trường, chỉ bằng 1/10 so với các chim mái không được chim trống bảo vệ
Hiện tượng mổ nhau, cắn nhau giữa các con chim trong đàn được xem
là dữ dội, đây chính là sự cạnh tranh giữa các cá thể thể hiện tính hung hãn của chim Trĩ ĐKC cao hơn các loài gia cầm khác (Bilcik và CS, 1998) Tác giả này cũng cho rằng mổ cắn nhau dữ dội liên quan đến việc hình thành các nhóm cấp bậc và cũng liên quan đến việc cạnh tranh các nguồn lợi
Trang 22* Sinh sản của con đực Trong tự nhiên các đặc điểm ngoại hình của chim trống như chiều dài cựa, lông đuôi, màu sắc yếm thịt liên quan đến việc chọn bạn tình của chim mái (Schantz và CS, 1990; Mateos, 1995) Người ta quan tâm nhiều đến tập tính sinh sản của chim Trĩ ĐKC về chức năng biểu lộ tình dục, trong đó có tập tính ghẹ mái của chim trống (Heins và CS, 1973)
Mateos và Carranza (1995) cho biết để làm sáng tỏ vai trò của việc chọn lựa của chim Trĩ mái đối với chim Trĩ trống trong việc duy trì sự tiến hoá của 1 số đăc điểm hình thái của chim Trĩ ĐKC (Phasianus colchicus), nhiều thí nghiệm được thực hiện qua nuôi nhốt Các thí nghiệm về lựa chọn bạn đời được thực hiện ở cả chim Trĩ trống còn sống và những mô hình chim Trĩ trống nhồi bông Các chim Trĩ trống dùng để gây kích thích được kiểm soát về độ dài của đuôi, kích cỡ, màu sắc và những điểm đen ở yếm, độ dài của chỏm lông tai, và độ sáng của lông Độ dài của đuôi, độ dài của lông tai
và có những điểm đen ở yếm có ảnh hưởng tích cực đến việc lựa chọn chim Trĩ trống của chim Trĩ mái nhưng kích cỡ của yếm hoặc màu sắc hay độ sáng của lông không có ảnh hưởng
* Sinh sản của con cái và mùa vụ Theo Burger và Bull (1949) thì nhiều thế kỷ trước đây loài người đã biết cách tác động để chim đẻ vào mùa đông bằng cách thắp sáng chuồng nuôi trong mùa đông Bates (1987) đã thí nghiệm mùa vụ với màu sắc bộ lông của chim và đã đúc kết tính sinh sản theo mùa vụ của loài chim Những phát hiện quan trọng của Rowan về hoạt động của tinh bào liên quan với độ dài của ngày trong mùa đông Ánh sáng được cho là tác động đến sinh lý sinh sản qua mắt đến tuyến yên Các thành phần của ánh sáng như là cường độ, thời gian chiếu sáng, độ dài của tia sáng, nhiệt độ, ẩm độ được tổng hợp trong một yếu tố gọi là mùa vụ Bates (1987) đã phát hiện, mùa phối giống của chim do ảnh hưởng nhiệt độ, độ dài của ngày ở các vùng lạnh và ôn đới quyết định
Trang 23Ảnh hưởng của cường độ chiếu sáng quyết định mùa sinh sản, ở vùng gần xích đạo sự đẻ trứng giảm khi ngày ngắn lại và giảm nhanh khi thời gian chiếu sáng xuống 11-12 giờ/ngày Trứng đẻ ra ít hơn nếu thời gian chiếu sáng
ít hơn 11 giờ/ngày và sẽ không đẻ khi xuống dưới 10 giờ/ngày Loài chim thuần hóa qua chọn lọc, thay đổi di truyền có thể kéo dài sinh sản hơn so với loài hoang dã
1.1.3 Sinh lý, sinh hóa máu
Máu là một chất dịch nằm trong tim và trong hệ thống mạch máu Máu
là nguồn gốc của hầu hết các dịch thể trong cơ thể Máu ngấm vào tế bào tổ chức tạo thành dịch nội bào Máu ngấm vào khe hở giữa các tế bào tạo thành dịch gian bào Máu vào ống lâm ba tạo nên dịch bạch huyết Máu vào não tủy tạo nên dịch não tủy Máu là tấm gương phản ánh tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe của cơ thể của động vật, vì vậy những xét nghiệm về máu là những xét nghiệm cơ bản được dùng để đánh giá tình trạng sức khỏe cũng như giúp cho việc chẩn đoán phòng trị bệnh
Chức năng sinh lý của máu gồm: chức năng hô hấp, chức năng dinh dưỡng, chức năng bài tiết, chức năng điều hòa thân nhiệt, chức năng điều hòa
và duy trì sự cân bằng nội môi, chức năng điều hòa thể dịch, chức năng bảo
Số lượng hồng cầu phản ánh sức khỏe của con giống, số lượng hồng cầu càng nhiều thì sức sống của con vật càng tốt
Hồng cầu của loài chim có đường kính là 6 - 12 microns (còn của động
Trang 24vật có vú là 5,5 - 7,5 microns) Nồng độ là 2,5 - 4 triệu/mm3 Thời gian sống
28 - 45 ngày (của động vật có vú là 120 ngày (Gary, 2012)
Ở các loài vẹt, khối lượng packed cell volume (PCV) bình thường dao động từ 37 đến 50% Bên dưới 37% vẹt rơi vào trạng thái bị bệnh và dưới 15% thì cần truyền máu (Hoefer, 2012)
Hàm lượng Hb trong máu các loài gia súc thay đổi tùy theo giống, tuổi, tính biệt,trạng thái dinh dưỡng, bệnh tật… Lúc bị bệnh hàm lượng Hb giảm rõ rệt 1g Hb có khả năng bão hòa tối đa 1,34ml O2, từ đó có thể tính được lượng
O2 mà máu động vật kết hợp trong quá trình hô hấp khi biết được hàm lượng
Hb trong máu
Bạch cầu là những tế bào máu có nhân và bào tương, kích thước thay đổi từ 5 - 20 micromet, có khả năng di động theo kiểu amip (Nguyễn Xuân Tịnh, 1996) Số lượng bạch cầu thường ít hơn khoảng 1.000 lần so với hồng cầu, được tính theo đơn vị nghìn/mm3 máu
Theo Hoefer (1994) hàm lượng đường glucoza của chim lớn hơn nhiều
so với mèo và chó (200 - 400mg/dl) và có thể tăng cao nhanh chóng khi bị căng thẳng Ở chim, tình trạng tiểu đường là không phổ biến nhưng có liên quan đến mức glucoza trên 900ml/dl Mức glucoza trong máu dưới 150ml/dl được cho là nguy hiểm và có thể gây chết
Canxi thông thường dao động từ 8 - 12mg/dl, mặc dù thiếu hụt canxi (chất lượng xương kém, yếu, khẩu phần thiếu dinh dưỡng v.v.) vẹt xám châu phi là loài duy nhất nhạy cảm với sự giảm canxi huyết và bệnh uốn ván
Protein bao gồm albumin và globulin Đối với chim phần lớn những giá trị này gần bằng 1 nửa so với động vật có vú (3,0 – 5,5 mg/dl) Phương pháp tốt nhất để xác định protein được sử dụng là phương pháp điện di (Hoefer, 1994)
Theo Nguyễn Xuân Tịnh (1996) tiểu cầu là những tiểu thể nhỏ không nhân có hình cầu hay bầu dục, đường kính 2 - 3 µm Trong bào tương có hạt chứa thrombokinaza và serotonin Số lượng 100000 - 600000/1mm3 máu của
Trang 25động vật có vú, con vật mới sinh có số lượng ít hơn so với con vật trưởng thành Tiểu cầu chỉ sống 3 - 5 ngày, khi già bị tiêu hủy ở gan và lách Tiểu cầu giữ vai trò quan trọng trong quá trình đông máu
Các nhà khoa học Tiệp Khắc Hauptmanova và CS (2006) đã nghiên cứu sự thay đổi các thành phần máu của 574 chim Trĩ ĐKC trưởng thành theo
3 thời điểm trong năm 2011 (Bảng 2.1.) Bảng 1.1 Các thành phần máu của chim Trĩ đỏ khoang cổ ở các
tháng khác nhau trong năm
Chỉ tiêu Đơn vị
n Mean ± SE n Mean ± SE n Mean ± SE RBC (T/l) 101 3,58 ± 0,78 96 4,09 ± 0,65 88 3,9 ± 0,73 PCV (l/l) 100 0,382 ± 0,041 96 0,442 ± 0,047 88 0,373 ± 0,033
Hb (g/l) 101 115 ± 20,5 89 141,1 ± 17,6 88 116,4 ± 14,7 MCH (pg) 101 33 ± 6,5 89 35,4 ± 6 88 30,8 ± 6,2 MCV (fl) 100 111,1 ± 20,4 96 109,6 ± 12,7 88 98,8 ± 19,1 MCHC (g/l) 100 301,7 ± 46 89 322,1 ± 28,3 88 312,3 ± 32,6 WBC (G/l) 101 24,53 ± 12,37 96 8,58 ± 3,54 88 12,58 ± 4,71 Lymphocytes (%) 82 68,8 ± 11,7 101 63,8 ± 10 81 66,1 ± 12,4 Heterophils (%) 82 25,4 ± 11,2 101 29,1 ± 10,4 81 26,1 ± 12,3 Eosinophils (%) 82 1,8 ± 1,5 101 1 ± 1,5 81 1,6 ± 1,4 Basophils (%) 82 2,6 ± 3,5 101 4,6 ± 5 81 3,2 ± 2,5 Monocytes (%) 82 1,1 ± 1,1 101 1,6 ± 1,9 81 3 ± 2,6
Các nhà khoa học Brazil: Elizabeth CS (2007) đã nghiên cứu về sinh hóa máu của chim Trĩ ĐKC với số mẫu 50 trống/mái trưởng thành và 20 đực/cái nhỏ (Bảng 1.2.)
Trang 26Bảng 1.2 Các thành phần máu của chim Trĩ đỏ khoang cổ ở các lứa tuổi khác nhau
Trống trưởng thành (52 tuần)
Mái trưởng thành (52 tuần)
Trống non (5 tuần)
Mái non (5 tuần) Chỉ tiêu theo dõi Đơn vị
Trang 271.2 Khả năng sinh sản của chim Trĩ đỏ khoang cổ 1.2.1 Tỷ lệ nuôi sống
Sức sống và khả năng kháng bệnh là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả chăn nuôi Tổn thất do bệnh tật ở gia cầm có nơi, có lúc gây thiệt hại rất lớn Khi đàn gia cầm mắc bệnh sức đề kháng suy giảm, dễ nhiễm các bệnh khác nhau, tỷ lệ chết tăng cao Đặc biệt khi đàn gia cầm mắc bệnh truyền nhiễm sẽ phải tăng thêm chi phí vacxin, thuốc chữa và các biện pháp thú y khác (Gavora, 1990)
Lê Viết Ly (1995) cho biết: Động vật thích nghi tốt thể hiện ở sự giảm khối lượng cơ thể thấp nhất khi bị stress, có sức sinh sản tốt, sức kháng bệnh cao, sống lâu và tỷ lệ chết thấp Sức sống và khả năng kháng bệnh thường được thể hiện gián tiếp thông qua chỉ tiêu tỷ lệ nuôi sống Theo Brandsch và Bülchel (1978), tỷ lệ nuôi sống của con non là chỉ tiêu chủ yếu đánh giá sức sống của gia cầm sau khi nở, sự giảm sức sống được thể hiện ở tỷ lệ chết qua các giai đoạn sinh trưởng, sinh sản
Tỷ lệ nuôi sống được xác định bằng tỷ lệ phần trăm số cá thể còn sống
ở cuối kỳ so với số cá thể có mặt đầu kỳ
Musil và John (2008) so sánh 2 đàn chim Trĩ ĐKC (Phasianus colchicus) nuôi trong 2 điều kiện khác nhau (nuôi nhốt và nuôi hoang dã) và đánh giá ảnh hưởng của việc kiểm soát các loài săn mồi đến việc thả Trĩ vào khu vực nghiên cứu Trong điều kiện hoang dã (31 trống và 112 mái) và nuôi nhốt (230 trống và 1059 mái), chim Trĩ ĐKC được thả vào mùa xuân tại 2 nơi
ở miền Nam Idaho trong năm 2000-2001 làm tăng quần thể Tỷ lệ nuôi sống của con mái trong chăn nuôi hoang dã (95%) từ ngày 1 tháng 3 đến ngày 1 tháng 10 cao hơn rõ rệt so với mái nuôi nhốt trong năm 2000 Trong tổng số Trĩ mái bị chết có gắn hệ thống chíp theo dõi, 54% chết không phải do bị ăn thịt, 26% chết do bị cáo săn, 12% do bị chim săn mồi, 4% do tự nhiên và 4%
Trang 28do con người gây nên Trong năm 2001, các loài săn mồi đã được bắt ra khỏi khu vực nghiên cứu, tỷ lệ nuôi sống của Trĩ trống tăng sau khi bắt loài săn mồi, nhưng tỷ lệ nuôi sống của Trĩ mái không tăng Kiểm soát loài săn mồi không làm tăng tỷ lệ nuôi sống của Trĩ nuôi nhốt Tỷ lệ nuôi sống thấp, năng suất kém, chi phí cho Trĩ mái nuôi nhốt cao là do biện pháp quản lý không phù hợp khi tăng số lượng đầu con
1.2.2 Tuổi thành thục về tính
Tuổi thành thục về tính của gia cầm được tính từ khi con vật bắt đầu có phản xạ sinh dục và có khả năng đẻ trứng Tuổi thành thục về tính được xác định qua các biểu hiện như bộ máy sinh dục đã phát triển tương đối hoàn chỉnh, con cái bắt đầu có hiện tượng rụng trứng và con đực có hiện tượng sinh tinh Ở gia cầm, tuổi thành thục về tính của từng cá thể được tính tại thời điểm con gia cầm mái đẻ quả trứng đầu tiên, còn đối với đàn quần thể thì được tính tại thời điểm đàn đẻ đạt 5%
Tuổi thành thục của chim Trĩ ĐKC khoảng 200-240 ngày tùy thuộc vào điều kiện địa lý, sinh thái của từng vùng Chim thường có mùa sinh sản từ đầu mùa xuân đến hết mùa thu
1.2.3 Thời gian đẻ và thời gian nghỉ đẻ
Thời gian đẻ trứng trong 1 chu kỳ của gia cầm ảnh hưởng trực tiếp tới năng suất trứng Chỉ tiêu này bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như di truyền, mùa
vụ, dinh dưỡng thức ăn, chiếu sáng v.v Giữa thời gian đẻ trứng với sức đẻ trứng có tương quan dương rất cao (Vũ Quang Ninh, 2002) Theo Mehner (1962) giữa tuổi đẻ quả trứng đầu và độ dài thời gian đẻ trứng có tương quan nghịch với nhau, gia cầm đẻ muộn thì có thời gian đẻ kéo dài
Theo Ipek và CS (2003) ở Thổ Nhĩ Kỳ mùa sinh sản của chim Trĩ từ tháng 3 đến tháng 9 hàng năm
Theo Hà Thị Tường Vân (2003), chim Trĩ ĐKC ở Hà Nội bắt đầu đẻ
Trang 29vào tháng 2 đến tháng 3 hàng năm và chỉ đẻ một lứa trong một năm
Theo The Game Bird Gazette (2012), chim Trĩ ĐKC nuôi tại trang trại Purna wildlife, Missouri (Mỹ) đẻ bắt đầu từ tháng 3
1.2.4 Năng suất trứng
Năng suất trứng là số lượng trứng của một gia cầm mái đẻ ra trong một chu kỳ đẻ hoặc trong một thời gian nhất định có thể tính theo tuần, tháng hoặc năm Để theo dõi quá trình sản xuất trứng của gia cầm người ta chia làm 3 giai đoạn
• Giai đoạn 1: Thời gian từ lúc chim đẻ 5% trong đàn đến khi 30% chim mái trong đàn đẻ, giai đoạn này thường rất ngắn
• Giai đoạn 2: Giai đoạn đẻ chính, giai đoạn này kéo dài từ khi sức đẻ trứng đạt 30% đến khi chim đẻ đạt đỉnh cao và giảm xuống còn 30%
• Giai đoạn 3: Giai đoạn từ lúc còn 30% và năng suất trứng giảm dần Theo Hà Thị Tường Vân (2003), 3 chim Trĩ ĐKC nuôi ở Vườn thú Hà Nội trong 3 năm 2000 – 2002 đã đẻ 75 quả, trung bình là 10,7, thấp nhất là 8
Năng suất trứng có hệ số di truyền thấp Theo Nguyễn Văn Thiện (1995) hệ số di truyền năng suất trứng của gà là 12 – 13% Đối với tính trạng năng suất trứng để cải thiện năng suất cần áp dụng phương pháp lai tạo kết hợp với chọn lọc cá thể, nếu chỉ áp dụng chọn lọc thì việc nâng cao năng suất trứng ít hiệu quả
Theo Kolektiv (1971) đàn chim Trĩ ĐKC được chọn lọc mỗi năm đẻ 40
Trang 30quả, đàn không được chọn lọc trung bình chỉ đẻ 26,52 quả trong thời gian từ 15/03 đến 19/09 Theo McGowan (1994) chim Trĩ làm tổ trên mặt đất nhưng các loài gà lôi trong chi Tragopan lại làm tổ trên cây Tổ của chúng có thể là các ụ đắp từ lá cây tới các hốc đào bới nông vào trong lòng đất Chúng có thể
đẻ tới 18 trứng mỗi tổ, nhưng thông thường chỉ 7-12 quả, với số lượng nhỏ hơn thấy ở các loài vùng nhiệt đới Việc ấp trứng gần như chỉ do con mái đảm nhiệm và chu kỳ này kéo dài khoảng 14-30 ngày, phụ thuộc vào từng loài Theo NSW DPI (2009) trong các thử nghiệm được đưa ra tại Viện Nghiên cứu Nông nghiệp từ 1975 – 1979, sản lượng trứng / mái đã tăng 19 quả trong
3 năm (Bảng 1.3.) Trong khi sản lượng trứng tăng đáng kể, điều quan trọng không kém cần lưu ý rằng đó là số lượng trứng vỡ là 24%
Bảng 1.3 Sản lượng trứng và tỷ lệ trứng vỡ của chim Trĩ đỏ khoang cổ Năm 1975 - 1976 1976 - 1977 1977 - 1978 1978 - 1979
1.2.5 Khối lượng và chất lượng trứng
Khối lượng trứng phụ thuộc vào giống và tuổi thành thục về tính của gia cầm Gia cầm đẻ sớm thì trứng nhỏ, tuổi gia cầm cao thì khối lượng trứng lớn hơn Hệ số di truyền về khối lượng trứng khá cao nên việc chọn lọc định hướng để nâng cao khối lượng trứng sẽ dễ đạt kết quả Hệ số di truyền về khối lượng trứng thường cao hơn hệ số di truyền về sản lượng trứng
Theo Hà Thị Tường Vân (2003), khối lượng trung bình của 75 quả trứng
từ 3 chim Trĩ ĐKC nuôi ở Vườn thú Hà Nội trong 3 năm 2000 – 2002 là 27,5g
Ipek và CS (2007), trứng được phân loại theo khối lượng, loại nhẹ 29,7g); loại trung bình (29,8-31,7g); và nặng (31,8-33,7g) Khổi lượng trứng không ảnh hưởng đến tỷ lệ chết sau khi nở Khối lượng trứng ảnh hưởng đến khối lượng cơ thể của Trĩ lúc mới nở, mức tăng khối lượng cơ thể, tiêu tốn thức
Trang 31(27,8-ăn và hiệu quả sử dụng thức (27,8-ăn có sự sai khác (P<0,01) Trĩ mới nở có khối lượng được xác định nhóm nhẹ, trung bình và nặng lần lượt là 19,5g; 21,8g và 22,6g Sau 16 tuần tuổi nuôi dưỡng khối lượng trung bình lần lượt là 940,2; 1020,5 và 1091,2g đối với trống và 705,6; 739,5 và 778,6 đối với mái
Kích thước của trứng được đặc trưng bằng chiều dài và chiều rộng của trứng Chỉ số hình dạng trứng là tỷ lệ giữa các chiều đo của quả trứng Người
ta thường sử dụng hai loại chỉ số hình dạng trứng: Chỉ số dài là tỷ lệ giữa chiều dài và chiều rộng của quả trứng và chỉ số rộng hay là chỉ số tròn là tỷ lệ của chiều rộng so với chiều dài quả trứng Chỉ số hình thái của trứng có ý nghĩa kinh tế trong ấp nở, vận chuyển và đóng gói Trứng càng dài càng dễ
vỡ Trứng mỗi loại gia cầm đều có chỉ số hình dạng riêng Chỉ số hình dạng liên quan đến tỷ lệ nở của trứng gia cầm Những trứng quá dài hoặc quá tròn đều cho tỷ lệ nở kém (Bùi Quang Tiến và CS, 1984)
Theo Hà Thị Tường Vân (2003), chiều dài và rộng trung bình của 75 quả trứng từ 3 chim Trĩ ĐKC nuôi ở Vườn thú Hà Nội trong 3 năm 2000 –
2002 là 42,8 và 33,9cm
Theo nghiên cứu của Pingel (1996), Lê Hồng Mận và CS (1996), Bùi Quang Tiến và Nguyễn Hoài Tao (1985), khối lượng trứng của gia cầm có tương quan âm với sản lượng trứng và hệ số tương quan nằm trong khoảng từ -0,33 đến -0,36 trong khi đó giữa khối lượng trứng và khối lượng cơ thể có tương quan dương, hệ số tương quan từ +0,31 đến +0,35
Chế độ chiếu sáng có ảnh hưởng đến khối lượng trứng của gia cầm Theo Moris (1973), với chế độ chiếu sáng 14 giờ sáng và 13 giờ tối, khối lượng trứng gà tăng 1,4g so với chế độ chiếu sáng 14 giờ sáng và 10 giờ tối, trong khi đó với chế độ chiếu sáng 14 giờ sáng và 16 giờ tối, khối lượng trứng tăng lên 2,9g so với chế độ 14 giờ sáng và 10 giờ tối
Ảnh hưởng của dinh dưỡng đến khối lượng trứng của gia cầm cũng rất
rõ rệt: thiếu protein ảnh hưởng đáng kể đến khối lượng trứng Nghiên cứu của
Trang 32Larbrier và CS (1992) trên khẩu phần ăn của gà mái đẻ cho thấy: khi thiếu lysine hoặc methionine hoặc thiếu cả hai loại axit amin thiết yếu này đều ảnh hưởng rõ rệt tới khối lượng trứng Thiếu lysine ảnh hưởng đến tỷ lệ lòng đỏ trong khi đó thiếu methionine lại ảnh hưởng chủ yếu tới lòng trắng
Thiếu vitamin B chỉ ảnh hưởng đến sản lượng trứng nhưng không ảnh hưởng đến khối lượng trứng, thiếu vitamin D ảnh hưởng đến chất lượng vỏ trứng
Kemal Kirikci và CS (2003) khi nghiên cứu chất lượng trứng của Trĩ
đã xác định khối lượng trứng 31,03g; độ chịu lực 0,938kg/cm2; chỉ số rộng 80,69%; chỉ số lòng đỏ 43,19%; khối lượng lòng đỏ 10,2g; khối lượng lòng trắng 17,57g; độ dày vỏ là 0,042mm; đơn vị Haugh 96,33 Tương quan giữa khối lượng trứng với độ dày vỏ trứng r = 0,17; với khối lượng vỏ r = 0,46; với lòng đỏ r = 0,035 và khối lượng lòng trắng r = 0,58
Kirikci và CS (2003) khi nghiên cứu đặc điểm về chất lượng trứng của Trĩ với màu vỏ khác nhau đã xác nhận: khối lượng trứng, chỉ số hình thái, khối lượng vỏ trứng và khối lượng màng vỏ của trứng màu nâu, màu xanh ôliu có sự khác biệt với trứng vỏ màu xanh da trời và màu trắng Ảnh hưởng của màu sắc vỏ trứng đến chỉ số lòng đỏ, lòng trắng, độ dày vỏ trứng và đơn vị Haugh có sự sai khác không đáng kể
Chất lượng vỏ trứng là một chỉ tiêu quan trọng không chỉ trong vận chuyển, bảo quản và đóng gói mà còn ảnh hưởng đến tỷ lệ nở Chất lượng
vỏ trứng chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố như phương thức chăn nuôi, dinh dưỡng Hàm lượng canxi trong khẩu phần có ảnh hưởng lớn đến chất lượng vỏ trứng Tuy nhiên, hàm lượng canxi trong thức ăn không thể tăng quá cao vì nó còn phụ thuộc vào tỷ lệ Ca/P trong khẩu phần Sự hấp thu canxi trong thức ăn còn chịu tác động của hàm lượng vitamin D trong khẩu phần (Rose, 1997) Trứng chim Trĩ ĐKC thường có vỏ rất mỏng dễ bị dập
vỡ trong ổ đẻ và khi vận chuyển là rất lớn Theo tài liệu của Viện Nghiên
Trang 33cứu gia cầm Seven Hills, từ 1975 – 1979 tỷ lệ dập vỡ từ 6 – 30,4% (trung bình là khoảng 24%) Vấn đề này rất được quan tâm nghiên cứu và đã có nhiều biện pháp hiệu quả làm giảm thiệt hại cho sản xuất đặc biệt đã làm tăng khả năng sinh sản của chim Trĩ ĐKC
Đơn vị Haugh Đơn vị Haugh là chỉ tiêu phản ánh chất lượng trứng được xác định trên
cơ sở mối tương quan giữa khối lượng trứng (g) và chiều cao lòng trắng đặc
và được tính theo công thức của Haugh (1937)
Hu: 100 log ( H - 1,7 W 0,37 + 7,6) Trong đó: H: chiều cao lòng trắng đặc (mm); W: Khối lượng trứng (g) Kricki (2003) cho biết đơn vị Haugh của chim Trĩ ĐKC là 96,33
Để đánh giá chất lượng lòng đỏ người ta dùng chỉ số lòng đỏ Kirikci (2003) cho rằng chỉ số lòng đỏ của chim Trĩ ĐKC là 43,19 Theo Demirel và Kirikci (2009) thời gian bảo quản kéo dài làm cho chỉ số lòng trắng và đơn vị Haugh giảm nhưng chỉ số lòng đỏ tăng Có ảnh hưởng xấu của thời gian bảo quản trứng đến tỷ lệ trứng có phôi và tỷ lệ ấp nở Vì thế không nên bảo quản trứng quá 8 ngày
Kirikci và CS (2003), khối lượng trưng, chỉ số hình thái, khối lượng vỏ trứng và khối lượng màng vỏ của trứng màu nâu, màu xanh ôliu có sự khác biệt với trứng vỏ màu xanh da trời và trắng (P<0,05) Khối lượng lòng đỏ, lòng trắng của trứng màu trắng, xanh da trời và xanh oliu sẽ lần lượt là 9,03
và 16,28g; 9,57 và 14,37g; 10,72 và 17,96g và 10,13 và 17,79g (P<0,05) Ảnh hưởng của màu sắc vỏ trứng đến chỉ số lòng đỏ, lòng trắng, độ dày vỏ trứng,
độ dày màng và đơn vị Haugh không đáng kể (P<0,05)
1.2.6 Khả năng thụ tinh và kết quả ấp nở
Theo Hà Thị Tường Vân (2003), 75 quả trứng từ 3 chim Trĩ ĐKC nuôi
ở Vườn thú Hà Nội trong 3 năm 2000 – 2002 đã được ấp bằng gà nhà, kết quả 80% trứng có phôi và 56% nở
Trang 34Fronte (2008) cho rằng tỷ lệ nở của chim Trĩ ĐKC đạt 65 – 85% là thấp hơn so với các loài gia cầm khác đã dược nuôi thuần hóa
Theo The Game Bird Gazette (2012), tại trang trại Purna Wildlife (2012), Missouri (Mỹ), trứng trĩ được bảo quản ở nhiệt độ 50-60°F, muộn nhất sau 7 ngày được ấp Trứng được đặt theo chiều đầu nhỏ xuống, được đảo hàng ngày Nhiệt độ là 99,750F và ẩm độ là 840F Thời gian ấp là 23-24 ngày Tuy nhiên tác giả không cho biết tỷ lệ nở là bao nhiêu
Khả năng thụ tinh phụ thuộc vào nhiều yếu tố Theo Schubert và Ruhland (1978); Pingel và Jeroch (1980), tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ nở cao nhất thường vào năm đẻ đầu Tỷ lệ thụ tinh phụ thuộc vào tỷ lệ trống mái trong đàn; chế độ dinh dưỡng và sức khỏe của đàn giống Giao phối cận huyết làm giảm tỷ lệ thụ tinh Mật độ nuôi quá đông ảnh hưởng đến hoạt động giao phối của con đực Phương thức chăn nuôi cũng ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ thụ tinh
Theo Fronte (2008) khi nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển phôi của chim Trĩ ĐKC cho rằng tỷ lệ ấp nở là tham số quan trọng ảnh hưởng tới năng suất sinh sản của Trĩ, xác định chính xác tuổi phôi chết để đánh giá
tỷ lệ chết phôi là cần thiết Trên thực tế, các nhà chăn nuôi thường chỉ quan tâm đến sự phát triển của phôi thông qua việc xác định số trứng không có phôi và không nở được
Pingel và Jeroch (1980) cho biết có một số gen gây chết đã ảnh hưởng đến tỷ lệ nở, ảnh hưởng này càng rõ hơn trong giao phối cận huyết
Phương thức chăn nuôi khác nhau ảnh hưởng tới tỷ lệ nở khác nhau Khối lượng trứng cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ chết của phôi, trứng quá to hoặc quá nhỏ đều cho tỷ lệ nở thấp Sự cân đối về tỷ lệ lòng đỏ và lòng trắng và cấu trúc vỏ có ảnh hưởng tới tỷ lệ nở (Trần Thị Mai Phương, 2004) Tuổi chim bố mẹ càng cao tỷ lệ chết phôi tăng lên
Tỷ lệ nở của chim Trĩ ĐKC không những phụ thuộc vào sự khéo léo, đồng tâm hiệp lực của cả con trống và con mái mà còn phụ thuộc vào chất
Trang 35lượng trứng, điều kiện môi trường Wadlandi (2002) cho biết ảnh hưởng của
tỷ lệ ghép trống mái là 1/8 và 1/12 ảnh hưởng đến sức khỏe của đàn Trĩ, năng suất trứng của tỷ lệ ghép phối 1/8 cao hơn đáng kể trong 5 tuần đầu tiên của thí nghiệm, nhưng sự sai khác này không có ở giai đoạn tiếp theo Trứng bị loại nhiều do chất lượng vỏ trứng mỏng nhưng không bị ảnh hưởng rõ rệt do
Khối lượng trứng cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ nở: trứng quá to hoặc quá nhỏ đều cho tỷ lệ nở thấp Nguyễn Quý Khiêm (1999), Wagner (1980) cho biết sự cân đối về tỷ lệ lòng đỏ, lòng trắng và cấu trúc vỏ có ảnh hưởng tới tỷ lệ nở, trứng quá to sẽ có lòng trắng nhiều thì không cho kết quả ấp nở tốt được
Các yếu tố vệ sinh thú y, mùa vụ, phương pháp xử lí trứng ấp cũng có ảnh hưởng rõ rệt đến tỷ lệ nở của trứng gia cầm (Bạch Thị Thanh Dân và CS, 1995) 1.3 Khả năng sinh trưởng và cho thịt của chim Trĩ đỏ khoang cổ
1.3.1 Sinh trưởng và các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng 1.3.1.1 Sinh trưởng
Trần Đình Miên (1995) đã định nghĩa: sinh trưởng là một quá trình tích lũy các chất hữu cơ do đồng hóa và dị hóa, là sự tăng chiều cao, chiều dài, bề ngang, khối lượng của các bộ phận cơ thể của con vật trên cơ sở tính chất di truyền từ đời trước Cùng với quá trình sinh trưởng, các tổ chức
và cơ quan của cơ thể luôn luôn phát triển hoàn thiện chức năng sinh lý của mình dẫn đến phát dục Về mặt sinh học, sinh trưởng của gia cầm là quá
Trang 36trình tổng hợp protein thu nhận từ bên ngoài chuyển hóa thành protein đặc trưng cho từng cơ thể của từng giống, dòng làm cho cơ thể tăng lên về khối lượng và kích thước
Sinh trưởng của vật nuôi nói chung và gia cầm nói riêng thường được đánh giá qua khối lượng và các kích thước của chúng Các thông số này thường được biểu thị dưới dạng sinh trưởng tích lũy, sinh trưởng tuyệt đối và sinh trưởng tương đối
Sinh trưởng tích lũy Sinh trưởng tích lũy là khối lượng hoặc kích thước cơ thể ở một giai đoạn tuổi nhất định nào đó Sinh trưởng tích lũy thường được dùng để đánh giá sự sinh trưởng vì nó đơn giản và dễ thực hiện
Sinh trưởng tuyệt đối Sinh trưởng tuyệt đối là sự tăng lên về khối lượng, kích thước, thể tích
cơ thể trong khoảng thời gian giữa hai lần khảo sát (TCVN 2.39, 1997) Đồ thị sinh trưởng tuyệt đối có dạng parabol, giá trị sinh trưởng tuyệt đối cao thì
có hiệu quả kinh tế lớn Sinh trưởng tuyệt đối thường được tính bằng g/con/ngày hoặc g/con/tuần
Sinh trưởng tương đối Sinh trưởng tương đối là tỷ lệ phần trăm tăng lên của khối lượng, kích thước và thể tích cơ thể, lúc kết thúc khảo sát so với với lúc đầu khảo sát (TCVN 2.90, 1997) Đồ thị sinh trưởng tương đối có dạng hyperbol Gia cầm còn non sẽ có sinh trưởng tương đối cao, sau đó giảm dần theo tuổi Người ta còn dùng hệ số K để đánh giá tốc độ sinh trưởng tương đối
lnPn1 - lnPn
K =
tn1 – tn Trong đó, ln là logarit tự nhiên (e = 2,718)
Trang 37Quá trình dùng đồ thị minh họa về khả năng sinh trưởng đã xuất hiện những nghiên cứu về đường cong sinh trưởng Lerner và Asmumdson (1938) lấy khối lượng cơ thể ở những giai đoạn thích hợp để xây dựng một đường cong sinh trưởng chuẩn Eisen và CS (1969) đã sử dụng phương trình toán học thích hợp, thể hiện súc tích về mặt sinh học quá trình sinh trưởng của một
số giống gà bằng đường cong sinh trưởng
Theo Brody (1945) và Chambers (1990), đường cong sinh trưởng gồm 4 pha: Pha sinh trưởng nhanh dần sau khi nở, điểm uốn (thời điểm sinh trưởng cao nhất và chuyển sang giai đoạn sinh trưởng chậm dần), pha sinh trưởng chậm dần tới tiệm cận và đường tiệm cận (trùng với khối lượng cơ thể lúc trưởng thành)
Theo John và CS (1969), đường cong sinh trưởng của gà được chia làm
2 đoạn chính: Tăng nhanh theo đường dốc là đoạn kéo dài từ lúc bắt đầu giai đoạn sinh trưởng đến một phần ba hoặc một phần hai khối lượng cơ thể đạt được lúc trưởng thành Độ dài đoạn này tùy thuộc vào giống và ảnh hưởng của môi trường và đoạn kéo dài từ cuối đoạn 1 đến lúc trưởng thành hoặc đến cuối giai đoạn phát triển
Theo Stephan (1995), để xác định đường cong sinh trưởng, người ta thường dùng 3 hàm số toán học là hàm Gompertz, hàm logistic và hàm Richards Nhưng nhìn chung hàm Gompertz được sử dụng phổ biến hơn
Theo NSW DPI (2009), khối lượng của chim Trĩ ĐKC 16 tuần tuổi nuôi tại Australia (Bảng 1.4.)
Bảng 1.4 Khối lượng chim Trĩ đỏ khoang cổ 16 tuần tuổi tại Australia (g)
Trang 38Theo Wikipedia (2012) chim Trĩ ĐKC ở Châu Âu, Bắc Mỹ và Australia nặng từ 0,5 đến 3 kg; con trống nặng trung bình là 1,2 và con mái là 0,9 kg; Con trống dài 60-89 cm và có đuôi dài 50 cm Con mái dài 50-63 cm
và đuôi dài khoảng 20 cm
1.3.1.2 Ảnh hưởng của các yếu tố đến sinh trưởng của chim Trĩ ĐKC
Ảnh hưởng của các yếu tố di truyền Godfrey và CS (1956); Brandsch và Bülchel (1978) cho biết sự di truyền tính trạng khối lượng cơ thể được quy định bởi sự tham gia của nhiều gen và ở mức độ nào đó có liên quan với giới tính Để đánh giá ảnh hưởng của di truyền đối với khả năng sinh trưởng của gia cầm người ta sử dụng hệ
số di truyền
Ở gia cầm, kích thước và khối lượng của bộ xương có tầm quan trọng lớn đối với khối lượng và hình dáng cơ thể Quan hệ giữa khối lượng cơ thể với tốc độ lớn và chiều dài đùi, cũng như chiều dài xương ngực, chiều rộng ngực với khả năng cho thịt có tầm quan trọng đặc biệt Theo Pingel và CS (1996) ở gia cầm giữa độ dày cơ ngực và tỷ lệ phần trăm thịt lườn có mối tương quan dương
Mehner (1962) cho rằng sự khác nhau về khối lượng cơ thể từng giống là
do di truyền, theo ông các giống có khối lượng cơ thể lớn là do chúng sở hữu nhiều gen quy định tính trạng tăng khối lượng nhanh hơn so với các giống gà lớn chậm, song trong một số trường hợp cần thận trọng khi phân biệt
Ảnh hưởng của giới tính Tốc độ tăng khối lượng giữa gia cầm trống và gia cầm mái khác nhau
rõ rệt Theo NSW DPI (2009), Trĩ đỏ nuôi đến 16 tuần tuổi con trống đạt 1,25kg và con mái đạt 1,0kg và mức tiêu tốn thức ăn cho 1kg khối lượng cơ thể là 4,5kg
Trang 39Ảnh hưởng của dinh dưỡng Theo Bùi Đức Lũng (1992) để phát huy khả năng sinh trưởng cần phải cung cấp thức ăn tốt được cân bằng nghiêm ngặt giữa protein với các axit amin và năng lượng Ngoài ra, trong thức ăn cần được bổ sung các chế phẩm hóa sinh học không mang ý nghĩa dinh dưỡng nhưng nó kích thích sinh trưởng và làm tăng chất lượng thịt
Năng lượng và protein là 2 yếu tố quan trọng nhất trong khẩu phần
ăn của gà (Rose, 1997) Ngoài ra trong dinh dưỡng gia cầm còn có các thành phần như axit béo, khoáng, vitamin và nước cũng không thể thiếu được Khoáng vô cơ là một thành phần trong khẩu phần ăn gồm các nguyên
tố đa lượng như canxi, photpho, sodium, postasium, mangiesium và chlor, những nguyên tố này có những chức năng khác nhau, đặc biệt là 3 nguyên
tố Ca, P và Na có vai trò trong việc hình thành bộ xương, vỏ trứng, điều khiển chức năng thẩm thấu của cơ thể và hoạt động như những chất bổ trợ cho các enzim Đồng, iod, sắt, mangan, selen là những nguyên tố vi lượng Vitamin là hợp chất hữu cơ được chia làm 2 nhóm: Nhóm hoà tan trong nước và nhóm hoà tan trong mỡ mà gia cầm chỉ cần một lượng nhỏ vitamin trong khẩu phần Cain và CS (1984) đã nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ nuôi, mức năng lượng và protein trong khẩu phần đến tốc độ tăng trưởng
và hiện tượng mổ lông của chim Trĩ ĐKC Kết quả cho thấy có sự tương tác đáng kể giữa protein khẩu phần và mật độ nuôi, giữa khẩu phần và năng lượng Nhóm được ăn khẩu phần có 22% protein và 2.970 Kcal cho kết quả tốt nhất Clary (1998) thức ăn nuôi Trĩ trong 8 tuần đầu nên có tỷ lệ protein
từ 28 – 30%
Theo NSW DPI (2009), khẩu phần thức ăn nuôi chim Trĩ qua các giai đoạn tuổi và tiêu thụ thức ăn của 100 Trĩ nuôi thịt được thể hiện như sau:
Trang 40Bảng 1.5 Khẩu phần nuôi chim Trĩ qua các tháng tuổi Thành phần (%) 0–4 tháng 5–9 tháng 10–16 tháng Sinh sản