Lý do chọn đề tài Dạy Tiếng Việt ở tiểu học là trang bị cho HS những tri thức về hệ thống tiếng Việt, rèn luyện cho HS những kỹ năng sử dụng tiếng Việt trong quá trình giao tiếp bao gồm
Trang 1
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN ĐÔNG TRIỀU
TRƯỜNG TIỂU HỌC QUYẾT THẮNG
MỘT SỐ BIỆN PHÁP LUYỆN ĐỌC CHO HỌC SINH LỚP 1 TRONG CÁC TIẾT TẬP ĐỌC
Người viết : Nguyễn Thị Thái Đơn vị : Trường Tiểu học Quyết Thắng
NĂM HỌC 2013- 2014
Trang 2I PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Dạy Tiếng Việt ở tiểu học là trang bị cho HS những tri thức về hệ thống tiếng Việt, rèn luyện cho HS những kỹ năng sử dụng tiếng Việt trong quá trình giao tiếp bao gồm các kỹ năng : nghe, nói, đọc, viết.Trong đó kỹ năng đọc là hoạt động được chú ý đúng mức ngay từ lớp Một
Ở tiểu học, môn tiếng Việt rất quan trọng Học tốt môn tiếng Việt các em
có điều kiện học tốt các môn học khác Bởi thông qua việc dạy học môn tiếng Việt, góp phần rèn luyện các thao tác tư duy và cung cấp cho HS những kiến thức sơ giản về tiếng Việt, về tự nhiên xã hội và con người, về văn hoá, văn học của Việt Nam và nước ngoài Đồng thời bồi dưỡng cho các em tình yêu tiếng Việt và hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Để có thể bày tỏ ý nghĩa, tình cảm của mình, người ta phải nói hoặc viết tiếng Việt cả 2 dạng ngôn ngữ (lời nói, chữ viết) Có nghĩa là dạy cả 4 kỹ năng (nghe, nói, đọc, viết) là dạy HS cả lĩnh hội và sản sinh các ngôn bằng tiếng Việt
Trong quá trình đổi mới phương pháp và nội dung dạy học của bậc tiểu học với mục tiêu giáo dục toàn diện các em được học 9 môn học, trong đó môn Tiếng Việt là môn học hết sức quan trọng Nhất là đối với lớp 1, là lớp đầu cấp Người ta thường nói “ Cấp 1 là nền, lớp 1 là móng”, móng có chắc thì nền mới vững
Ở lớp Một các em học sinh bắt đầu làm quen với: Nghe,nói,đọc,viết Và
kỹ năng đọc rất quan trọng Mặt khác ở lớp Một các em được tập đọc thành thạo, đọc đúng, đọc trôi chảy thì khi lên các lớp trên các em sẽ học vững vàng, học tốt hơn Và các em sẽ ham học, tích cực trong học tập hơn nếu kết quả học tập của các em đạt khá - giỏi
2 Mục đích nghiên cứu
Bản thân tôi khi nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích tìm ra phương pháp
và hướng đi giúp học sinh học tập tốt hơn Qua đó từng bước nâng cao năng lực đọc đúng, đọc hay, đọc diễn cảm của mỗi học sinh
Trang 3- Về đọc đúng: Học sinh đọc đúng các phụ âm đầu vần, thanh, đọc đúng tiếng
từ, câu, đoạn văn, bài văn, bài thơ
- Đọc hay, đọc diễn cảm: Học sinh khi đọc bài văn, bài thơ phải biết ngắt nghỉ đúng các dấu chấm, dấu phẩy, dấu chấm hỏi, dấu chấm cảm Khi đọc biết lên giọng, hạ giọng ở những câu văn, bài thơ, hơn nữa là đọc phân vai
- Học sinh hiểu được nội dung văn bản và thể loại (văn xuôi hay thơ), từ đó học sinh có thái độ, tình cảm đúng trong cuộc sống
- Thông qua dạy học giúp các em có điều kiện tiếp cận và nắm bắt các môn học, hiểu các văn bản, tiếp thu và chiếm lĩnh được tri thức, tự tin khi giao tiếp nhằm góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam hiện đại, phát triển toàn diện về mọi mặt Đức - Trí - Thể - Mĩ cho học sinh
3 Thời gian, địa điểm
Thời gian nghiên cứu: từ tháng 9/2013 đến tháng 5/2014
Địa điểm nghiên cứu: Học sinh lớp 1B trường Tiểu học Quyết Thăng
4 Đóng góp về mặt thực tiễn
Để xây dựng một đề tài thì việc nghiên cứu lý luận là không thể thiếu được Khi nghiên cứu đề tài này tôi đã nghiên cứu, tham khảo các sách giáo khoa, sách giáo viên và nhiều tài liệu có liên quan đến việc nghiên cứu đề tài này
Thông qua đề tài này nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ sau đây:
- Rèn kỹ năng và năng lực đọc cho học sinh
- Trau dồi kiến thức văn học, kiến thức ngôn ngữ, kiến thức đời sống cho học sinh
- Giáo dục thẩm mĩ - tình cảm - phát triển tư duy cho học sinh
- Học sinh học môn Tiếng Việt có kết quả cao trong đó có phân môn Tập đọc
- Học sinh đọc tốt còn giúp các em học tốt các môn khác
Để tiến hành làm đề tài này, tôi đã nghiên cứu sách giáo khoa phân môn Tập đọc lớp 1 để tìm hiểu nội dung, cấu trúc của chương trình Tìm hiểu việc dạy và học của các em có hệ thống nội dung bài học (nội dung sách giáo khoa )
Trang 4Nghiên cứu tài liệu hướng dẫn dành cho giáo viên của môn Tiếng Việt trong đó
có phân môn Tập đọc lớp 1 Nghiên cứu rút kinh nghiệm qua từng tiết dạy để rút
Trang 5
II PHẦN NỘI DUNG
kỹ năng đọc thì học sinh không có điều kiện để học các môn học khác, không thể tiếp thu tri thức của nhân loại Vì vậy, việc dạy đọc cho học sinh có ý nghĩa
to lớn Thông qua dạy đọc, giáo viên giúp học sinh đọc đúng, đọc hay và bồi dưỡng cho các em cái hay, cái đẹp trong cuộc sống Giáo viên phải đặc biệt coi trọng và chú ý đến việc dạy văn kết hợp với dạy ngữ cho học sinh học tiếng mẹ
đẻ một cách toàn diện Dạy đọc đúng với dạy đọc hay, dạy đọc “ngôn ngữ” với dạy đọc “văn học” Đó chính là cơ sở dạy học cho học sinh trưởng thành và phát triển cả về trí tuệ và tâm hồn, nhân cách và tri thức
Với học sinh lớp 1, các em bước đầu biết đọc thì giáo viên cần hướng dẫn đọc đúng, đọc nhanh, đọc lưu loát trôi chảy Với học sinh lớp 3, giáo viên yêu cầu cao hơn nữa Không chỉ đọc đúng, đọc nhanh mà còn phải đọc diễn cảm, đọc phải thể hiện được nội dung tình cảm của bài Để từ đó các em có thể bộc lộ tình cảm của mình qua mỗi bài đọc một cách khác nhau Vì thế tôi đã và đang từng bước thực hiện nhiệm vụ dạy tốt môn Tiếng Việt, trong đó có phân môn Tập đọc Từ đó người giáo viên thấy rõ và xác định được việc dạy học tập đọc
Trang 6cho học sinh Tiểu học nói chung và học sinh lớp 1 nói riêng là một việc làm hết sức cần thiết Chúng ta phải làm thế nào để thông qua môn Tập đọc giúp học sinh không những đạt được năng lực đọc mà phải hiểu nội dung của văn bản và các thể loại từ văn xuôi đến thơ ca Hiểu được ý đồ của tác giả và bút pháp nghệ thuật mà mỗi tác giả đã thể hiện trong tác phẩm Hay nói một cách khác, giáo viên phải tìm phương pháp tiếp cận làm cho học sinh có cảm tình với bài đó, thúc đẩy học sinh biểu lộ tình cảm, thái độ tự nhiên thông qua giọng đọc
Trong thực tế hiện nay, để thực hiện được vấn đề này, người giáo viên phải thay đổi cách truyền thụ để các em có thể nắm bắt được tri thức, thực hiện việc dạy theo hướng đổi mới
Mặt khác, việc dạy đọc cho học sinh đã có từ lâu và cũng có nhiều tài liệu
đề cập đến Tất cả đều khẳng định vai trò của việc dạy đọc - đọc hiểu - đọc diễn cảm cho học sinh Vì vậy, trong quá trình dạy phân môn Tập đọc, giáo viên cần quan tâm đến tất cả các yếu tố cấu thành chất lượng phân môn Tập đọc và đặc biệt là việc dạy đọc cho học sinh phải được coi trọng Thông qua việc dạy đọc giúp các em hiểu văn bản, tiếp thu và chiếm lĩnh kiến thức Biết đọc diễn cảm là thể hiện được những cảm xúc, tình cảm theo từng nội dung
1.1 Cơ sở lý luận:
Văn học là nghệ thuật của ngôn ngữ, là sự nhận thức về thế giới cuộc sống con người và xã hội Tác phẩm văn học dùng phương tiện ngôn từ để sáng tạo nên những hình tượng về cuộc sống con người, quê hương, xử sở và đem lại cho người đọc những rung cảm thực sự trong sáng Trong nhà trường tiểu học ở Việt Nam đã coi Tiếng Việt là một môn học trung tâm, làm nền móng các môn học khác
Môn Tiếng Việt ở trường tiểu học có nhiệm vụ vô vùng quan trọng đó là
hình thành 4 kỹ năng: Nghe – nói - đọc – viết cho học sinh Tập đọc là một phân
môn của chương trình Tiếng Việt bậc tiểu học Đây là phân môn có vị trí đặc biệt trong chương trình vì nó đảm nhiệm việc hình thành và phát triển kỹ năng đọc, một kỹ năng quan trọng hàng đầu của học sinh ở bậc tiểu học đầu tiên Kỹ năng đọc có nhiều mức độ: đọc đúng, đọc nhanh (lưu loát, trôi chảy), đọc có ý thức (thông hiểu được nội dung những điều mình đọc hay còn gọi là đọc hiểu)
Trang 7và đọc diễn cảm Khi học sinh đọc tốt viết tốt thì các em mới có thể tiếp thu các môn học khác một cách chắc chắn Từ đó học sinh mới hoàn thành được năng lực giao tiếp của mình Những kỹ năng này không phải tự nhiên mà có Nhà trường phải từng bước hình thành và trường tiểu học nhận nhiệm vụ đặt viên gạch đầu tiên Nên việc dạy học phải có định hướng, có kế hoạch từ lớp 1 đến lớp 5
Đặc biệt đối với học sinh lớp 1 - lớp đầu cấp - việc dạy đọc cho các em thật vô cùng quan trọng bởi các em có đọc tốt được ở lớp 1 thì khi học các lớp tiếp theo các em mới nắm bắt được những yêu cầu cao hơn của môn Tiếng Việt Việc dạy đọc ở lớp 1 cũng quan trọng bởi từ chỗ các em còn phải đọc đánh vần từng tiếng đến việc đọc thông thạo được một văn bản là việc tương đối khó với các em mà mục tiêu của giờ dạy Tiếng Việt là phải hướng đến giáo dục học sinh yêu tiếng Việt bằng cách nêu bật sức mạnh biểu đạt của Tiếng Việt, sự giàu đẹp của âm thanh, sự phong phú của ngữ điệu trong việc biểu đạt nội dung Thế nhưng hiện nay, ở trường tiểu học, mặt âm thanh của ngôn ngữ, đặc biệt ngữ điệu chưa được chú ý đúng mức Đó là một trong những lý do cho học sinh của chúng ta đọc và nói chưa tốt Đó cũng là ý do khiến cho trong nhiều trường hợp, học sinh không hiểu đúng văn bản được đọc
Cũng như nhiều giáo viên lớp 1 khác, tôi suy nghĩ rất nhiều về cách dạy tập đọc
ở lớp 1 Đặc biệt là rèn cho học sinh không những chỉ đọc thông được văn bản
mà còn phải đọc đúng văn bản được đọc Vấn đề đặt ra là làm thế nào để giúp các em đọc đúng tiếng, đọc liền tiếng trong từ, trong câu, đọc đúng ngữ điệu, biết cách ngắt nghỉ hơn trong văn bản thơ, cũng như văn bản văn xuôi Những
băn khoăn này chính là lý do tôi chọn đề tài: “Một số biện pháp luyện đọc cho
học sinh lớp 1 trong các tiết tập đọc” này nghiên cứu để góp một phần nào cho
việc rèn luyện kỹ năng đọc cho học sinh lớp 1 trường Tiểu học Quyết Thắng, năm học 2013 – 2014
1.2 Cơ sở thực tiễn:
Trong phạm vi cơ sở trường học và tình hình địa phương nơi công tác, tôi
đã gặp những thuận lợi và khó khăn sau:
1/ Thuận lợi:
Trang 8a/ Giáo viên:
- Được sự quan tâm và chỉ đạo tốt của các cấp lãnh đạo về chuyên môn.Tổ chức bồi dưỡng giáo viên, tổ chức những buổi học chuẩn kiến thức kỹ năng cho học sinh tiểu học vv… cung cấp đủ tài liệu, phương tiện để nghiên cứu, học hỏi, giảng dạy
- Được sự giúp đỡ của Ban Giám Hiệu trường: tổ chức thao giảng, dự giờ hàng tháng, tổ chức những buổi học chuyên đề thảo luận về chuyên môn để rút
ra những ý kiến hay, những đề xuất kinh nghiệm tốt áp dụng trong việc giảng dạy
- Đội ngũ giáo viên trường có tay nghề vững lâu năm trong công tác, có nhiều kinh nghiệm, có ý thức tốt về trách nhiệm người giáo viên và sẵn sàng giúp đỡ đồng nghiệp về chuyên môn cũng như giúp nhau tháo gỡ những khó khăn hay xử lý các trường hợp học sinh cá biệt về học tập cũng như hạnh kiểm
b/ Học sinh:
- Ở độ tuổi 6 – 7 của học sinh lớp 1.Các em đa số còn rất ngoan, dễ vâng lời, nghe lời cô giáo, thích học tập và thi đua với các bạn, dễ khích lệ động viên khen thưởng vv…
- Có được sự quan tâm về việc học tập của con em mình của một số phụ huynh có ý thức trách nhiệm không khoán trắng cho nhà trường, cho giáo viên,mà tích cực tiếp tay với giáo viên trong việc học tập của con em mình như: Thường xuyên nhắc nhở và tạo điều kiện tốt cho con em mình đến lớp cũng như học tập ở nhà
b/ Học sinh:
Trang 9- Một số em yếu về thể chất, bé nhỏ hơn so với các bạn bình thường kèm theo phát triển chậm về trí nhớ, học trước quên sau, chậm tiến
- Do các em đã quen với môi trường ở lớp mẫu giáo chơi nhiều hơn học
và hôm nay đã sang với môi trường mới (lớp Một) học nhiều hơn chơi cho nên các em còn quá bỡ ngỡ khi đến lớp, đến trường
- Sự tập trung chú ý chưa cao, tư duy chưa phát triển
- Đa số học sinh còn thụ động, nhút nhát, khó nhớ, mau quên
2 Chương II: Nội dung vấn đề nghiên cứu
2.1 Thực trạng
Mặc dù lâu nay các thầy cô giáo đã và đang thực hiện viêc rèn đọc đúng, đọc diễn cảm cho học sinh, nhất là đối với học sinh tiểu học, nhưng điều đó vẫn còn bị hạn chế
Bản thân tôi là một giáo viên Tiểu học đã trực tiếp dạy lớp 1 nhiều năm tôi thấy được quá trình dạy đọc đúng - đọc diễn cảm cho học sinh Tiểu học là rất quan trọng Đối với học sinh lớp 4-5, việc đọc diễn cảm và đọc đúng đã là vấn
đề khó thì đối với học sinh lớp 1 lại càng khó hơn nhiều Bởi vì các em đều là học sinh mới bắt đầu đến trường, việc làm quen với các con số và mặt chữ còn khó khăn thì việc đòi hỏi các em đọc đúng, đọc diền cảm lại càng khó Nhưng nếu được quan tâm rèn luyện thì các em dần dần sẽ tiếp thu được
Thực tế khảo sát chất lượng của phân môn Tập đọc đầu năm của học sinh cho thấy, học sinh phát âm sai rất nhiều, phổ biến là sai các phụ âm đầu, vần và dấu
Trang 10thanh Học sinh thường phát âm sai phụ âm đầu l/n, ch/tr, s/x và các thanh hỏi – ngã Học sinh đọc bài chưa biết ngắt nghỉ dấu chấm, dấu phẩy trong một bài văn, bài thơ Các em chưa biết đọc diễn cảm, hạ giọng hay kéo dài giọng… ở câu thơ, câu văn nào để người nghe cảm thấy cái hay của bài thơ hoặc bài văn
đó
Về giáo viên, việc rèn cho học sinh kỹ năng đọc còn có một số hạn chế cần
khắc phục Hơn nữa quy trình phân môn Tập đọc đối với học sinh lớp 1 còn mới
mẻ nên tôi phải vừa làm, vừa tìm tòi học hỏi để tự bồi dưỡng bản thân, trang bị cho mình một vũ khí sắc bén để dạy học đạt kết quả cao Là một giáo viên, tôi không thể không lo ngại trước kết quả khảo sát phân môn Tập đọc của lớp 1B tuần 25 qua bài tập đọc “ Tặng cháu”
Kết quả khảo sát như sau:
Với đề tài này, tôi mạnh dạn trình bày một số phương pháp rèn kỹ năng đọc cho học sinh lớp 1 nhằm nâng cao chất lượng giờ dạy đọc Khi viết đề tài này tôi
đã phát huy tất cả kiến thức được học, được bồi dưỡng qua các lớp học chuyên môn và học hỏi, kế thừa kinh nghiệm của đồng nghiệp đi trước Đặc biệt là kinh nghiệm thực tế qua các giờ dạy mà đối tượng chính là học sinh của mình Do đó tôi muốn đưa ra những phương pháp đặc trưng ở góc độ chủ quan mà tôi đã tiếp thu được trong những lần dự giờ, thao giảng Từ nhận thức trên, bản thân tôi đã rút ra “ Một số biên pháp luyện đọc cho học sinh lớp 1 trong các tiết Tập đọc”
Trang 112.2 Các giải pháp luyện đọc cho học sinh lớp 1
Để giúp học sinh rèn luyện và phát triển kỹ năng đọc tôi đã áp dụng nghiên cứu những nội dung sau:
* Cơ sở tâm lý, sinh lý của việc dạy đọc
Để tổ chức dạy đọc cho học sinh, chúng ta cần hiểu rõ về quá trình đọc, nắm bản chất của kỹ năng đọc Đặc điểm tâm lý sinh lý của học sinh khi đọc hay
cơ chế của đọc là cơ sở của việc dạy học
Như trên đã nói, đọc là một hoạt động trí tuệ phức tạp mà cơ sở là việc tiếp nhận thông tin bằng chữ viết dựa vào các hoạt động của cơ quan thị giác Chúng ta đi vào phân tích đặc điểm của quá trình này
- Đọc được xem như là một hoạt động có hai mặt quan hệ mật thiết với nhau, là việc sử dụng bộ mã gồm hai phương diện Một mặt đó là quá trình vận động của mắt, sử dụng bộ mã chữ - âm để phát ra một cách trung thành nhưng dòng văn tự ghi lại lời nói âm thanh Thứ hai đó là sự vận động của tư tưởng, tình cảm, sử dụng bộ mã chữ - nghĩa tức là mối liên hệ giữa các con chữ và ý tưởng, các khái niệm chứa đựng bên trong để nhớ và hiểu cho được nội dung những gì được đọc
- Đọc bao gồm những yếu tố như tiếp nhận bằng mắt hoạt động của các
cơ quan phát âm, các cơ quan thính giác và thông hiểu những gì được đọc Càng ngày những yếu tố này càng gần nhau hơn, tác động đến nhau nhiều hơn
Nhiệm vụ cuối cùng của sự phát triển kỹ năng đọc là đạt đến sự tổng hợp giữa những mặt riêng lẻ này của quá trình đọc, đó là điểm phân tích biết người mới biết đọc và người đọc thành thạo Càng có khả năng tổng hợp các mặt trên bao nhiêu thì việc đọc càng hoàn thiện, càng chính xác, càng biểu cảm bấy nhiêu
- Dễ dàng nhận thấy rằng thuật ngữ "đọc" được sử dụng trong nhiều
nghĩa : theo nghĩa hẹp, việc hình thành kỹ năng đọc trùng với nắm kỹ thuật đọc (tức là việc chuyển dạng thức chữ viết của từ thành âm thanh), theo nghĩa rộng, đọc được hiểu là kỹ thuật đọc của những từ riêng lẻ mà cả câu, cả bài) ý nghĩa
Trang 12hai mặt của thuật ngữ đọc được ghi nhận trong các tài liệu tâm lý học và phương pháp dạy học Từ đây chúng ta sẽ hiểu đọc với nghĩa thứ hai - đọc được xem như là một hoạt động lời nói trong đó có các thành tố:
a Tiếp nhận dạng thức chữ viết của từ
b Chuyển dạng thức chữ viết thành âm thanh, nghĩa là phát âm các từ theo từng chữ cái (đánh vần) hay là đọc thành từng tiếng tuỳ thuộc vào trình độ nắm kỹ thuật đọc
c Thông hiểu những gì được đọc (từ, cụm từ, câu, bài) kỹ năng đọc là một kỹ năng phức tạp, đòi hỏi một quá trình luyện lâu dài T.G.Egorop (dẫn theo 3.101) chia việc hình thành kỹ năng này ra làm 3 giai đoạn : phân tích tổng hợp (còn gọi là giai đoạn phát sinh, hình thành một cấu trúc chỉnh thể của hành động) và giai đoạn tự động hoá Giai đoạn dạy học vần là sự phân tích các chữ cái và đọc từng tiếng theo các âm Giai đoạn tổng hợp thì đọc thành cả từ trọn vẹn, trong đó có sự tiếp nhận từ bằng thị giác và phát âm hầu như trùng với nhận thức ý nghĩa Tiếp theo sự thông hiểu ý nghĩa của "từ" trong cụm từ hoặc câu đi trước sự phát âm, tức là đọc được thực hiện trong sự đoán các nghĩa Bước sang lớp 2, lớp 3 học sinh bắt đầu đọc tổng hợp Trong những năm học cuối cấp, đọc càng ngày càng tự động hoá, nghĩa là người đọc ngày càng ít quan tâm đến chính quá trình đọc mà chú ý nhiều đến việc chiếm lĩnh văn hoá (bài khoá), nội dung của sự kiện, cấu trúc chủ đề, các phương tiện biểu đạt của nó Thời gian gần đây, người ra đã chú trọng hơn đến những mối quan hệ quy định lẫn nhau của việc hình thành kỹ năng đọc và hình thành kỹ năng làm việc với văn bản Nghĩa là đòi hỏi giáo viên tổ chức giờ học đọc sao cho việc phân tích nội dung của bài đọc đồng thời hướng dẫn đọc có ý thức bài đọc Việc đọc như thế nhằm vào sự nhận thức Chỉ xem là đứa trẻ biêt đọc khi nó đọc mà hiểu trương điều mình đọc Đọc là hiểu nghĩa chữ viết Nếu trẻ không hiểu được những từ ta đưa cho chúng đọc, chúng sẽ không có hứng thú học tập và không
có khả năng thành công Do đó hiểu những gì được đọc sẽ tạo ra động cơ, hứng thú cho việc đọc
Trang 13Để có giờ tập đọc đạt kết quả tốt người giáo viên phải nắm được đặc điểm tâm sinh lý của học sinh mình nắm được đặc điểm yêu cầu, bản chất kỹ năng cơ chế đích cần đạt được của tiết dạy tập đọc Trên cơ sở đó sử dụng phương pháp cho phù hợp
* Cơ sở ngôn ngữ và văn học của việc dạy đọc
Phương pháp dạy tập đọc phải dựa trên những cơ sở của ngôn ngữ học
Nó liên quan mật thiết với một số vấn đề của ngôn ngữ học như vấn đề chính
âm, chính tả, chữ viết, ngữ điệu (thuộc ngữ âm học), vấn đề nghĩa của từ, của câu, đoạn, bài (thuộc từ vựng học, ngữ nghĩa học), vấn đề dấu câu, các kiểu câu… Phương pháp dạy học tập đọc phải dựa trên những kết quả nghiên cứu của ngôn ngữ học, việt ngữ học về những vấn đề nói trên để xây dựng, xác lập nội dung và phương pháp dạy học Bốn phẩm chất của đọc không thể tách rời những
cơ sở ngôn ngữ học Không coi trọng đúng mức những cơ sở này, việc dạy học
sẽ mang tính tuỳ tiện và không đảm bảo hiệu quả dạy học
- Vấn đề chính âm trong tiếng Việt
Chính âm là các chuẩn mực phát âm của ngôn ngữ có giá trị và hiệu quả
về mặt xã hội Vấn đề chuẩn mực phát âm tiếng Việt đang là vấn đề thời sự, có nhiều ý kiến khác nhau Nó liên quan đến nhiều vấn đề khác nhau như chuẩn hoá ngôn ngữ, giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt, mục đích của việc xây dựng chính âm
- Vấn đề ngữ điệu của Tiếng Việt
Theo nghĩa hẹp, ngữ điệu là sự thay đổi giọng nói, giọng đọc, là sự lên cao hay hạ thấp giọng đọc, giọng nói Ngữ điệu là một trong những thành phần của ngôn điệu Ngữ điệu là yếu tố gắn chặt với lời nói, là yếu tố tham gia tạo thành lời nói
Mỗi ngôn ngữ có một ngữ điệu riêng Ngữ điệu tiếng Việt, như các ngôn ngữ có thanh điệu khác, chủ yếu được biểu hiện ở sự lên giọng và xuống giọng
Trang 14(cao độ), sự nhấn giọng (cường độ), sự ngừng giọng (trường độ) và sự chuyển giọng (phối hợp cả trường độ và cường độ)
Ngữ điệu là một hiện tượng phức tạp có thể tách ra thành các yếu tố cơ bản có quan hệ với nhau: chỗ nghỉ (ngưng giọng hay ngắt giọng) trọng âm, âm điệu, âm nhịp và âm sắc Dạy đọc đúng ngữ điệu là dạy học sinh biết làm chủ những yếu tố này
- Cơ sở lý thuyết cơ bản, phong cách học và văn học của dạy đọc
Việc dạy đọc không thể dựa trên lý thuyết về văn bản những tiêu chuẩn để phân tích, đánh giá một văn bản (ở đây muốn nói đến những bài đọc ở tiểu học) nói chung cũng như lý thuyết để phân tích, đánh giá các tác phẩm văn chương nói riêng Việc hình thành kỹ năng đọc đúng, đọc diễn cảm và đọc hiểu cho học sinh phải dựa trên những tiêu chuẩn đánh giá một văn bản tốt: tính chính xác, tính đúng đắn và tính thẩm mỹ, dựa trên những đặc điểm vè các kiểu ngôn ngữ, các phong cách chức năng, các thể loại văn bản, các đặc điểm về loại thể của tác phẩm văn chương dùng làm ngữ liệu đọc ở tiểu học Ví dụ, cách đọc và khai thác để hiểu nội dung một bài thơ, một đoạn tả cảnh, một câu tục ngữ, một truyền thuyết, một bài sử, một bài có tính chất khoa học thưởng thức… là khác nhau Việc hướng dẫn học sinh tìm hiểu nội dung bài đọc cũng phải dựa trên những hiểu biết về đề tài, chủ đề, kết cấu nhân vật, quan hệ giữa nội dung và hình thức, các biện pháp thể hiện trong tác phẩm văn học, nhằm miêu tả, kể chuyện và biểu hiện các phương tiện và biện pháp tu từ… Việc luyện đọc cho học sinh phải dựa trên những hiểu biết về đặc điểm ngôn ngữ văn học, tính hình tượng, tính tổ chức cao và tính hàm súc, đa nghĩa của nó Tất cả những vấn đề trên đều thuộc phạm vi nghiên cứu của lý thuyết văn học Vì vậy ta dễ dàng nhận thấy phương pháp dạy tập đọc không thể không dựa trên những thành tựu nghiên cứu của lý thuyết văn bản nói chung và nghiên cứu văn học nói riêng
* Chuẩn bị cho việc đọc thành tiếng
Giáo viên hướng dẫn học sinh chuẩn bị tâm thế để đọc Khi ngồi đọc cần phải ngồi ngay ngắn, khoảng cách từ mắt đến sách nên nằm trong khoảng 30-35
Trang 15cm, cổ và đầu thẳng, phải thở sâu và thở ra chậm để lấy hơi Ở lớp, khi được cô giáo gọi đọc, học sinh phải bình tĩnh, tự tin, không hấp tấp đọc ngay
Trước khi nói về việc rèn đọc đúng, cần nói về tiêu chí cường độ và tư thế khi đọc, tức là rèn đọc to, đọc đàng hoàng Trong hoạt động giao tiếp, khi đọc thành tiếng, người đọc một lúc đóng hai vai: một vai - và mặt này thường được nhấn mạnh - là người tiếp nhận thông tin bằng chữ viết; vai thứ hai là người trung gian để truyền thông tin đưa văn bản viết đến người nghe Khi giữ vai thứ hai này, người đọc đã thực hiện việc tái văn bản Vì vậy, khi đọc thành tiếng, người đọc có thể đọc cho mình hoặc cho người khác hoặc cho cả hai Đọc cùng với phát biểu trong lớp là hai hình thức giao tiếp trước đám đông đầu tiên của trẻ
em nên giáo viên phải coi trọng khâu chuẩn bị để đảm bảo sự thành công, tạo cho các em sự tự tin cần thiết Khi đọc thành tiếng, các em phải tính đến người nghe Giáo viên cần cho các em hiểu rằng các em đọc không phải chỉ cho mình
cô giáo mà để cho tất cả các bạn cùng nghe nên cần đọc đủ lớn để cho tất cả những người này nghe rõ Nhưng như thế không có nghĩa là đọc quá to hoặc gào lên Để luyện cho học sinh đọc quá nhỏ "lí nhí", giáo viên cần tập cho các em đọc to chừng nào bạn ở xa nhất trong lớp nghe thấy mới thôi Giáo viên nên cho học sinh đứng trên bảng để đối diện với những người nghe Tư thế đứng đọc phải vừa đàng hoàng, vừa thoải mái, sách phải được mở rộng và cầm bằng hai tay
- Luyện đọc đúng
a Đọc đúng là sự tái hiện mặt âm thanh của bài đọc một cách chính xác, không có lỗi Đọc đúng là đọc không thừa, không sót từng âm, vần, tiếng Đọc đúng phải thể hiện đúng ngữ âm chuẩn, tức là đọc đúng chính âm Nói cách khác là không đọc theo cách phát âm địa phương lệch chuẩn Đọc đúng bao gồm việc đọc đúng các âm thanh (đúng các âm vị) ngắt nghỉ hơi đúng chỗ (đọc đúng ngữ điệu)
b Luyện đọc đúng phải rèn cho học sinh thể hiện chính xác các âm vị tiếng Việt
Trang 16- Đọc đúng các phụ âm đầu: TD có ý thức phân biệt để không đọc: “nàm việc”, “khoẻ khắn” mà phải đọc là “làm việc” ,“khỏe khoắn”
- Đọc đúng các âm chính: TD có ý thức phân biệt để không đọc “iu tin, chai riệu” mà phải đọc “ưu tiên, chai rượu”
- Đọc đúng các âm cuối: TD có ý thức không đọc: “luông luông” mà phải
đọc “luôn luôn”
- Đọc đúng bao gồm cả đọc tiết tấu, ngắt hơi, nghỉ hơi, ngữ điều câu Ngữ điệu là hiện tượng phức tạp, có thể tách ra thành các yếu tố cơ bản có quan hệ với nhau: chỗ nghỉ (ngưng giọng hay ngắt giọng), trọng âm, âm điệu, âm nhịp
và âm sắc Dạy đọc đúng ngữ điệu là dạy cho học sinh làm chủ những yếu tố này Đọc đúng ngữ điệu nói chung, ngắt giọng đúng nói riêng vừa là mục đích của dạy đọc thành tiếng, vừa là phương tiện giúp học sinh chiếm lĩnh nội dung bài đọc
Khi dạy đọc đúng giáo viên cần phải dựa vào nghĩa, vào quan hệ ngữ pháp giữa các tiếng, từ để ngắt hơi cho đúng Khi đọc không được tách một từ ra làm hai TD không ngắt hơi
“Với em gái bé Phải người / lớn cơ”
- Ông già bẻ gãy từng chiếc đũa một / cách dễ dàng Không tách giới từ
với danh từ đi sau nó
Cá heo là / tay bơi giỏi nhất của biển
Việc ngắt hơi phải phù hợp với các dấu câu: nghỉ ít ở dấu phẩy, nghỉ lâu hơn ở dấu chấm, đọc đúng các ngữ điệu câu: lên giọng ở cuối câu hỏi, hạ giọng
ở cuối câu kể, thay đổi giọng cho phù hợp với tình cảm cần diễn đạt trong câu
Trang 17cảm Với câu cầu khiến cần nhấn giọng phù hợp để thấy rõ giọng khi đọc bộ phận giải thích của câu
Như vậy đọc đúng đã bao gồm một số tiêu chuẩn của đọc diễn cảm
- Luyện đọc nhanh
* Đọc nhanh (còn gọi là đọc lưu loát, trôi chảy) là nói đến phẩm chất đọc
về mặt tốc độ, là việc đọc không ê a, ngắc ngứ Vấn đề tốc độ đọc chỉ đặt ra sau khi đã đọc đúng
Mức độ thấp nhất của đọc nhanh là đọc trơn (nhiệm vụ này phần dạy đọc của phân môn học vần phải đảm nhận), đọc không ê a, ngắc ngứ, không vừa đọc vừa đánh vần Về sau tốc độ đọc phải đi song song với việc tiếp nhận có ý thức bài đọc Khi đọc cho người khác nghe thì người đọc phải xác định tốc độ đọc nhanh nhưng để cho người nghe hiểu kịp được Vì vậy, đọc nhanh không phải là đọc liến thoắng Tốc độ chấp nhận được của đọc nhanh khi đọc thành tiếng trùng với tốc độ của lời nói Khi đọc thầm thì tốc độ đọc sẽ nhanh hơn nhiều
* Biện pháp luyện đọc nhanh
Giáo viên hướng dẫn cho học sinh làm chủ tốc độ đọc bằng cách đọc mẫu
để học sinh đọc theo tốc độ đã định Đơn vị để đọc nhanh là cụm từ, câu, đoạn, bài Giáo viên điều chỉnh tốc độ đọc bằng cách giữ nhịp đọc Ngoài ra, còn có biện pháp đọc nối tiếp trên lớp, đọc nhẩm có sự kiểm tra của thầy, của bạn để điều chỉnh tốc độ Giáo viên đo tốc độ đọc bằng cách chọn sẵn bài có số tiếng cho trước và dự tính sẽ đọc trong bao nhiêu phút Định tốc như thế nào còn phụ thuộc vào độ khó của bài đọc
* Mục đích yêu cầu của phân môn tập đọc
- Môn Tiếng Việt ở trường tiểu học có tác dụng hình thành phát triển ngôn ngữ cho học sinh Tiếng Việt gồm nhiều phân môn: Tập đọc, từ ngữ, ngữ pháp, chính tả, tập làm văn Phân môn tập đọc có vị trí quan trọng Dạy tốt phân môn này đáp ứng một trong 4 kỹ năng sử dụng tiếng Việt Kỹ năng đọc nhanh, chính xác, rõ ràng, rành mạch và diễn cảm nhờ đó học sinh có những hiểu biết văn học ngôn ngữ và ngược lại Vì vậy đọc đúng, đọc hiểu và đọc diễn cảm là quá trình có liên quan mật thiết với nhau Qua việc đọc, học sinh chiếm lĩnh được những tri thức văn hoá của dân tộc và cũng từ đó giáo dục tình cảm đạo đức cao đẹp cho học sinh, đồng thời phát huy tính sáng tạo, khả năng tư duy cho các em
Đối với học sinh lớp 1, các em bắt đầu chuyển từ giai đoạn học vần sang tập đọc vì vậy giờ tập đọc ở lớp 1 vận dụng cả phương pháp học vần, cả phương pháp tập đọc Yêu cầu của giờ tập đọc lớp 1 là củng cố hệ thống âm vần đã học (nhất là các vần khó), đọc đúng và trơn tiếng, đọc liền từ, đọc cụm từ và câu: tập ngắt nghỉ (hơi) đúng chỗ trong câu Hiểu các từ thông thường, hiểu được ý diễn đạt đã đọc (độ dài câu khoảng 10 tiếng) Bên cạnh nhiệm vụ ôn vần cũ, học vần mới học sinh còn được phát triển vốn từ, tập nói câu đơn giản
Trang 18* Vài nét về phân môn tập đọc
- Cấu trúc chung: Phân môn tập đọc gồm 42 bài được bắt đầu từ tuần 5 của
học kỳ II (có 14 tuần dạy tập đọc, mỗi tuần có 3 bài, mỗi bài dạy trong 2 tiết)
- Nội dung: Các bài tập đọc xoay quanh 3 chủ đề: Nhà trường, gia đình,
thiên nhiên đất nước
- Bài tập đọc lớp 1 gồm có các phần:
+ Văn bản đọc
+ Những từ khó cần lưu ý
+ Các câu hỏi (bài tập) để ôn luyện âm, vần
+ Luyện nói: nói về một vấn đề hoặc nhìn tranh để diễn đạt
* Quan điểm của giáo viên về giờ tập đọc
Nhìn chung giáo viên tiểu học đều rất coi trọng giờ tập đọc Giáo viên ở các lớp đầu cấp cho rằng phần luyện đọc từ, đọc câu là quan trọng hơn còn ở các lớp cuối cấp thì cho rằng phần luyện đọc và phần tìm hiểu bài quan trong như nhau Nhưng nhìn chung 70% giáo viên khẳng định việc luyện đọc quan trọng hơn còn về thời gian phân bố trong giờ luyện đọc thì 80% số giáo viên cho rằng thời gian luyện đọc là nhiều hơn còn 20% cho rằng thời gian của 2 phần này như nhau Được dự các tiết tập đọc của trường nói chung và của lớp 1 nói riêng tôi nhận thấy phần lớn giáo viên đều chú ý sửa lỗi phát âm cho học sinh song do thời gian bị hạn ché nên việc sửa lỗi do chỉ được thực hiện lướt qua khi luyện đọc từ hoặc câu giáo viên thường chỉ cho học sinh luyện những từ và câu mà sách giáo khoa yêu cầu chứ chưa chọn lọc ra những từ hoặc câu mà học sinh của mình hay nhầm lẫn
* Những phương pháp giáo viên thường sử dụng trong phần rèn đọc
Hiện nay ở tiểu học, về vấn đề rèn đọc cho học sinh, giáo viên sử dụng phương pháp dạy học cụ thể là: phương pháp làm mẫu, phương pháp luyện đọc theo mẫu, phương pháp luyện tập củng cố, phương pháp hỏi đáp (đặt câu hỏi để học sinh tự tìm và phát hiện từ khó, cách ngắt nhịp câu dài…) và phương pháp đóng vai (đối với văn kể chuyện)
* Thực trạng phần rèn đọc ở lớp 1
Qua tìm hiểu và dự giờ ở lớp 1 tôi thấy hiện nay nhìn chung giờ tập đọc được tiến hành theo trình tự sau:
Tiết 1:
1 Kiểm tra bài cũ
Học sinh đọc lại bài của tiết trước và trả lời một số câu hỏi ứng với nội dung bài học
Trang 192 Bài mới:
a Giới thiệu bài:
- Giáo viên chép sẵn bài đọc lên bảng lớp
- Giáo viên đọc mẫu, học sinh theo dõi
b Hướng dẫn học sinh luyện đọc
- Dựa vào các câu hỏi và bài tập của SGK
+ Tìm tiếng có chứa vần cần ôn
+ Nói câu chứa tiếng có vần cần ôn
- Giáo viên nêu cách đọc hay: giọng đọc, nhấn giọng, ngắt giọng
- Giáo viên đọc mẫu lần 2
Trang 20- Học sinh đọc (cá nhân đồng thanh)
c Luyện nói
- Học sinh nhìn vào tranh hoặc ảnh của SGK để luyện nói về những chủ
đề mà bài đọc yêu cầu
5 Củng cố – dặn dò
Dặn dò học sinh đọc lại bài nhiều lần và chuẩn bị bài sau
Sau một thời gian tiến hành tìm hiểu điều tra thực trạng, tôi rút ra một số kết luận sau:
- Giờ tập đọc có vị trí quan trọng ở tiểu học
- Giáo viên nhận thức được ý nghĩa của việc tập đọc và nhiệm vụ chính của dạy đọc
- Trong giờ tập đọc giáo viên còn làm mẫu nhiều mà chưa để các em tự phát hiện ra cách đọc Giáo viên còn lúng túng trong việc hướng dẫn học sinh sửa phát âm sai do học sinh nói ngọng hoặc do tiếng địa phương
- Trong giờ tập đọc nhất là khi có người dự giờ thì giáo viên còn ít chú ý đến học sinh yếu vì đối tượng này thường đọc chậm, làm mất thời gian, làm giảm tiến độ của tiết dạy
* Đối với học sinh
Qua nhiều năm dạy học, tôi nhận thấy ở tiểu học các em thường coi nhẹ môn tập đọc vì các em cho rằng môn tập đọc là môn dễ không phải suy nghĩ như môn toán mà chỉ cần đọc trôi chảy, lưu loát là được Các em cũng chưa để ý đến việc đọc của mình như thế nào Một số ít học sinh phát âm sai do thói quen đã
có từ trước hoặc do tiếng địa phương Khi đọc các em còn hay mắc lỗi ngắt giọng, các em còn ngắt giọng để lấy hơi một cách tuỳ tiện (còn gọi là ngắt giọng sinh lý) Học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 1 nói riêng phần lớn các
em chỉ biết bắt chước cô một cách tự nhiên
* Dạy thực nghiệm
Tôi đã tiến hành dạy thực nghiệm ở khối lớp 1 của mình Sau đây là 2
bài tập đọc mà tôi xin trình bày giáo án trong đề tài đó là bài “Mẹ và cô” và bài “Sau cơn mưa” khi dạy hai bài này tôi đã áp dụng những biện pháp nêu
trên để rèn đọc cho học sinh đạt kết quả tốt
Dưới đây là nội dung hai giáo án đó
Môn: Tập đọc
Trang 21Tên bài dạy: Mẹ và cô
I – Mục tiêu :
Giúp học sinh:
+ Đọc đúng, phát âm đúng các tiếng có phụ âm đầu l, s, ch, tr
+ Biết nghỉ hơi đúng trong mỗi dòng thơ
+ ôn vần uôi, uơi
+ Hiểu nghĩa từ lon ton, chân trời
II - Đồ dùng dạy học :
- Giáo viên : Tranh vẽ như SGK
III – Hoạt động dạy học chủ yếu:
T.gian
5’
A Bài cũ
Đọc bài: Mưu chú Sẻ và trả lời câu hỏi
+ Khi bị Mèo chộp được Sẻ đã nói gì với
mèo?
+ Sẻ đã làm gì khi Mèo đặt nó xuống đất?
- 2 học sinh đọc và trả lời câu hỏi (mỗi em trả lời một câu) Lớp nhận xét
B Bài mới
1 Giới thiệu bài:
Lúc ở nhà mẹ cũng là cô giáo Khi đến trường cô giáo như mẹ hiền
3’
Mẹ và cô là những người chăm sóc dạy dỗ
chúng ta nên người Bài tập đọc “Mẹ và
Cô” hôm nay sẽ cho chúng ta thấy được tình
cảm của em bé đối với mẹ và cô Ghi
bảng tên đầu bài
5’ Giáo viên yêu cầu học sinh tìm những từ
(tiếng) có chứa l, s, ch có trong bài Giáo
Cá nhân học sinh tìm từ (tiếng) và đọc theo yêu
Trang 22T.gian
viên ghi lên bảng những từ đó:
+ Buổi sáng, chào mẹ, chạy tới, buổi chiều,
sà vào lòng mẹ
cầu của giáo viên
- Giáo viên gọi cá nhân học sinh đọc lần
lượt từng từ một cho đến hết và kết hợp
phân tích những tiếng mà học sinh dễ lẫn
khi đọc và viết: buổi, chạy, lặn
Lưu ý: Tập trung gọi những em còn đọc yếu
Trong khi học sinh đọc, giáo viên kết hợp
giải nghĩa từ
Lon ton: dáng đi nhanh nhẹn của em bé
* Luyện đọc câu:
Giáo viên yêu cầu học sinh theo dõi bài viết
ở SGK và cho biết xem bài thơ có mấy dòng
Chạy tới / ôm cổ cô //
Buổi chiều / bé chào cô //
Rồi / sà vào lòng mẹ //
Mặt trời mọc / rồi lặn //
Trên đôi chân / lon ton //
Hai chân trời / của con //
Là mẹ / và cô giáo //
Cá nhân học sinh đọc nối tiếp từng dòng cho đến hết bài Khi bạn đọc những học sinh khác nhận xét bạn đọc đúng hay chưa
* Luyện đọc đoạn:
- Chia bàn làm 2 đoạn, mỗi khổ thơ là 1
đoạn
Cá nhân (nhóm) học sinh đọc nối tiếp đoạn
5’ - Tổ chức cho học sinh đọc theo nhóm hoặc
cá nhân, đọc nối tiếp
* Luyện đọc cả bài:
Tổ chức cho học sinh đọc theo cá nhân
Cá nhân (nhóm) học sinh đọc toàn bài
Trang 233 Ôn vần: uôi, ươi
- Yêu cầu học sinh đọc bài tập 1, 2, 3 và giải
+ Đọc trơn cả bài “Sau cơn mưa”
+ Luyện đọc các từ ngữ “mưa rào, đoá râm bụt, xanh bóng nhởn nhơ,
sáng tựa, quay quanh, giội rửa”
+ ôn vần ây, uây
II - Đồ dùng dạy học :
- Giáo viên : Tranh hoa râm bụt và tranh vẽ như SGK
- Học sinh : Sách giáo khoa
III – Hoạt động dạy học chủ yếu:
Trang 24T.gian
5’
A Bài cũ : Bài Luỹ tre
+ Đọc khổ thơ 1 của bài và trả lời câu hỏi:
Khổ thơ này tả luỹ tre vào buổi nào? Em thích
hình ảnh nào của luỹ tre vào buổi sớm?
+ Đọc khổ thơ 2 của bài và trả lời câu hỏi:
Khổ thơ tả luỹ tre vào buổi nào? Em thích
hình ảnh nào trong khổ thơ này?
- Mỗi khổ thơ một học sinh đọc và trả lời câu hỏi
B Bài mới
1 Giới thiệu bài :
3’
Giáo viên dùng lời:
Mùa hè thường có các trận mưa rất to
nhưng mau tạnh, gọi là mưa rào Hôm nay
các em sẽ học một bài văn tả cảnh vật sau
một cơn mưa rào Giáo viên ghi bảng tên
đầu bài
2 Hướng dẫn luyện đọc
a Giáo viên đọc mẫu
- Giọng chậm, đều, tươi vui
Học sinh theo dõi bài đọc ở bảng
b Hướng dẫn học sinh đọc
* Luyện đọc từ ngữ
Giáo viên gọi 1 học sinh giỏi đọc to những từ
ngữ mà SGK yêu cầu luyện đọc cô ghi
bảng các từ đó: mưa rào, đoá râm bụt, xanh
bóng nhởn nhơ, sáng rực, mặt trời quây
quanh, vườn
5’
- Giáo viên gọi cá nhân học sinh đọc lần lượt
từng từ một cho đến hết và kết hợp phân tích
những tiếng mà học sinh dễ lẫn khi đọc và
viết: rào, đoá, xanh, quây, quanh
Cá nhân học sinh đọc lần lượt từng từ và cho đến hết kết hợp phân tích tiếng theo yêu cầu của giáo viên
- Lưu ý: Tập trung gọi những em đọc còn yếu
- Trong khi học sinh đọc giáo viên kết hợp
giải nghĩa từ:
+ Đoá râm bụt: Sử dụng tranh hoa râm bụt
cho học sinh quan sát
Trang 25T.gian
+ Nhởn nhơ: Chỉ hoạt động chậm không tập
trung
* Luyện đọc câu:
Giáo viên yêu cầu học sinh theo dõi SGK và
cho biết xem bài đọc này có mấy câu ?
- Học sinh theo dõi và trả lời bài đọc có 5 câu
5’ -
7’
- Giáo viên gọi 1 nhóm 5 em đọc nối tiếp
nhau từng câu một cho đến hết bài Sau đó
hỏi học sinh trong lớp xem trong bài này có
câu nào dài mà khi đọc các em cần phải ngắt
nghỉ hơi cho đúng và gọi các em đọc theo
cách của mình
- 1 nhóm 5 học sinh đọc nối tiếp
- Cá nhân học sinh tìm câu dài và đọc to trước lớp Các bạn nhận xét
- Tập trung luyện đọc 2 câu sau:
+ Mấy đám mây bông trôi nhởn nhơ / sáng
rực lên trong ánh mặt trời
+ Mẹ gà mừng rỡ / “tục tục” / dắt bầy con
quây quanh vũng nước đọng trong vườn
- Nhiều em luyện đọc câu sau khi đã sửa theo hướng dẫn của giáo viên
- Hình thức đọc: cá nhân nhóm, lớp Khi bạn đọc, học sinh khác nghe và nhận xét xem bạn đọc đúng hay sai
- Giáo viên giới thiệu câu: “Mẹ gà…” cần
ngắt giọng ở sau tiếng “rỡ” và tiếng “tục” để
nhấn giọng cho tiếng gà mẹ gọi đàn con
- Sau khi đã tập trung luyện đọc các câu dài
xong, giáo viên lại cho học sinh đọc nối tiếp
từng câu cho đến hết bài
- 2 nhóm đọc nối tiếp
6’
* Luyện đọc đoạn
Chia bài làm 2 đoạn:
- Đoạn 1: từ đầu … mặt trời
- Đoạn 2: còn lại
- Gọi học sinh đọc nối tiếp đoạn theo nhóm
- 2 nhóm mỗi nhóm 2 em đọc nối tiếp
* Luyện đọc toàn bài
Gọi học sinh đọc
- Học sinh đọc theo, cá nhân, nhóm Cuối cùng cả lớp đồng thanh đọc
3 Ôn vần: ây, uây
Trang 26T.gian
- Yêu cầu học sinh đọc to yêu cầu của từng
bài tập của SGK và giải từng bài
10’ + Bài 1: Tìm tiếng trong bài có chứa vần
"ây”
- Cá nhân học sinh tìm từ ở SGK và trả lời
+ Bài 2: Tìm tiếng ngoài bài có chứa vần “ây,
Sau cơn mưa mọi vật đều sáng và tươi
Yêu cầu học sinh ghép thành câu
- Thi ghép theo nhóm đôi
2.3 Kết quả nghiên cứu
- Quá trình tìm hiểu thực tế, nhìn chung mỗi giờ tập đọc đều có 2 phần lớn tìm hiểu nội dung bài và luyện đọc, hai phần này có thể tiến hành cùng một lúc, đan xen vào nhau, cũng có thể tách rời nhau tuỳ từng bài và từng giáo viên Song dù dạy theo cách nào thì hai phần này luôn có mối quan hệ tương hỗ, khăng khít Phần tìm hiểu bài giúp học sinh tìm hiểu kỹ nội dung nghệ thuật của từng bài, từ đó học sinh đọc đúng, diễn cảm tốt Ngược lại đọc diễn cảm để thể hiện nội dung bài, thể hiện những hiểu biết của mình xunh quanh bài học
Như vậy phần luyện đọc có vai trò quan trọng, học sinh đọc tốt sẽ giúp các em hoàn thành được năng lực giao tiếp bằng ngôn ngữ của chính bản thân mình Đọc tốt giúp các em hiểu biết tiếp thu được văn minh của loài người, bồi đưỡng tâm hồn tình cảm, phát triển tư duy
Trong quá trình rèn đọc giáo viên cần rèn luyện một cách linh hoạt các phương pháp khác nhau để phù hợ với đặc trưng của phân môn và phù hợp với nội dung của bài dạy Quá trình hướng dẫn học sinh rèn đọc trước hết giáo viên phải sử dụng phương pháp làm mẫu Nghĩa là giáo viên làm mẫu cho học sinh nghe, yêu cầu giọng đọc của giáo viên phẩi chuẩn, diễn cảm thể hiện đúng nội dung, ý nghĩa của bài học để học sinh bắt trước đọc theo Sau đó giáo viên phải kết hợp phương pháp luyện đọc theo mẫu, luyện đọc đúng, đọc chính xác các phụ âm đầu, âm chính, âm cuối, dấu thanh Đọc đúng tiết tấu, ngắt hơi nghỉ hơi đúng chỗ, đúng ngữ điệu câu Từ đó hướng dẫn học sinh đọc diễn cảm để biểu đạt đúng ý nghĩa và tình cảm mà tác giả mong muốn và gửi gắm trong bài tập đọc
Trang 27- Trong quá trình hướng dẫn học sinh rèn đọc, giáo viên cần đổi mới phương pháp giảng dạy, luôn lấy học sinh làm trung tâm, giáo viên chỉ là người hướng dẫn tổ chức, học sinh tự tìm hiểu, tự phát hiện và luyện đọc đạt kết quả tốt
- Ngoài ra để phần rèn đọc đạt kết quả tốt thì cần phải có các yếu tố khác như cơ sở vật chất đầy đủ, đồ dùng học tập Bên cạnh đó giáo viên phải luôn tích cực tự học, tự rèn luyện để nâng cao trình độ năng lực Nếu phối hợp các yếu tố trên sẽ giúp học sinh đọc đúng, diễn cảm tốt Từ đó thể hiện được nội dung của bài học, thấy được cái hay, cái đẹp của cuộc sống qua từng bài học
- Bên cạnh các yếu tố trên trong giảng dạy phân môn tập đọc giáo viên còn phải chú ý đến một số nguyên tắc sau:
+ Nguyên tắc phát triển lời nói (nguyên tắc thực hành) Chúng ta ai cũng biết trẻ em không thể lĩnh hội được lời nói nếu chúng không nắm được lời miệng Do vậy khi giảng dạy cần phải bảo đảm nguyên tắc này Điều này được thể hiện rõ hơn ở phần luyện đọc, ở phần này học sinh được rèn luyện về cách phát âm, cách nghĩ hơi đúng chỗ, cách đọc đúng ngữ điệu
+ Để giờ tập đọc đạt kết quả cao thì phải bảo đảm nguyên tắc phát triển tư duy, phát huy tính tích cực, chủ đạo của học sinh Do vậy phần luyện đọc giáo viên cần gọi mở, hướng dẫn học sinh tự phát hiện những chỗ cần ngắt giọng hạ, hạ giọng
ở những câu thơ, những câu văn trong bài từ đó tìm ra cách đọc hay hơn
Như vậy để học sinh đọc tốt môn tập đọc đặc biệt là vấn đề rèn đọc đúng cho học sinh lớp 1 chúng ta cần đảm bảo tốt các phương pháp và nguyên tắc trên
Sau khi tiến hành dạy thực nghiệm với 2 giáo án trên ở lớp 1B tôi tiến hành kiểm tra miệng (gọi học sinh đọc cả bài), kết quả thu được như sau: