Trong khi, vịt ñẻ là ñối tượng có thời gian nuôi lâu, ñây vừa là cơ hội ñể giun sán tồn tại, phát triển và lây lan; vừa là cơ hội ñể vịt tiếp xúc nhiều với các loài vật chủ trung gian tr
Trang 1HỒ MINH VƯƠNG
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH NHIỄM THÀNH PHẦN LOÀI GIUN SÁN ĐƯỜNG TIÊU HÓA CỦA VỊT ĐẺ NUÔI BÁN CHĂN THẢ TẠI HUYỆN TUY PHƯỚC TỈNH BÌNH ĐỊNH VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam ñoan ñây là công trình nghiên cứu của bản thân tôi Các
số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng ñược ai công bố trong bất kỳ công trình, luận văn nào trước ñây
Người cam ñoan
Hồ Minh Vương
Trang 3
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành ñề tài này, tôi xin chân thành cảm ơn:
Lãnh Đạo Trường Đại Học Tây Nguyên, Phòng Đào tạo Sau Đại học Trường Đại Học Tây Nguyên Khoa Chăn nuôi Thú y, cùng quý thầy cô trong khoa Chăn nuôi Thú y Trường Đại học Tây Nguyên
Ban Giám hiệu Trường Trung Học Kinh Tế Kỹ Thuật Bình Định Trạm Thú y huyện Tuy Phước, Chi cục thú y tỉnh Bình Định
Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật Hà Nội
Tôi xin bày tỏ lòng chân thành cảm ơn tới TS Nguyễn Văn Diên ñã
tận tâm giúp ñỡ, ñộng viên, dìu dắt tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Cuối cùng tôi xin cảm ơn gia ñình, người thân cùng bạn bè ñã giúp
ñỡ, ñộng viên tôi trong suốt quá trình học và thực hiện ñề tài
Xin trân trọng cảm ơn!
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Điều kiện tự nhiên, xã hội huyện Tuy Phước 3
1.1.1 Điều kiện tự nhiên 3
1.1.1.1 Vị trí ñịa lý 3
1.1.1.2 Địa hình 3
1.1.1.3 Thổ nhưỡng 4
1.1.1.4 Thủy văn 4
1.1.1.5 Điều kiện khí hậu, thời tiết 4
1.1.2 Điều kiện xã hội 6
1.2 Đặc ñiểm của vịt Khaka campbell và vịt siêu trứng Trung Quốc 6
1.2.1.Đặc ñiểm vịt Khaki campbell 6
1.2.2 Đặc ñiểm vịt siêu trứng Trung Quốc 7
1.2.3 Lịch phòng bệnh cho vịt 7
1.3 Tình hình nghiên cứu giun sán của vịt 8
1.3.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 8
1.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 14
1.3.3 Một số nghiên cứu ñặc ñiểm sinh học 21
1.3.3.1 Loài Echinostoma revolutum Frohlich, 1802 21
1.3.3.2 Loài Echinostoma miyagawai Ishii, 1932 23
1.3.3.3 Loài Hypoderaeum conoideum Blochs, 1782 23
1.3.3.4 Loài Notocotylus indicus Lal, 1935 24
1.3.3.5 Loài Microsomacanthus compressa (Linton, 1892) 25
1.2.3.6 Loài Tetrameres fissispina Diesing, 1861 26
1.4 Tình hình nghiên cứu bệnh giun sán ở vịt 26
1.4.1 Một số nghiên cứu về bệnh học 26
Trang 51.4.2.1 Một số nghiên cứu về chẩn đốn bệnh 28
1.4.2.2 Một số nghiên cứu về hĩa dược 29
1.4.2.3 Một số nghiên cứu đề xuất về biện pháp phịng trừ 31
1.4.2.4 Một số nghiên cứu đề xuất chăm sĩc, nuơi dưỡng 32
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 33
2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm 33
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 33
2.1.2 Thời gian nghiên cứu 33
2.1.3 Địa điểm nghiên cứu 33
2.2 Nội dung 33
2.3 Phương pháp nghiên cứu 33
2.3.1 Xác định tình hình nhiễm và thành phần lồi 33
2.3.1.1 Bố trí thí nghiệm 33
2.3.1.2 Dụng cụ và vật liệu nghiên cứu 34
2.3.1.3 Mổ khám 35
2.3.1.4 Thu thập và ngâm giữ giun sán 36
2.3.1.5 Phương pháp xử lý giun sán để định danh 37
2.3.1.6 Định danh – phân loại 38
2.3.1.7 Các chỉ tiêu khảo sát 38
2.3.1.8 Phương pháp tính tốn 39
2.3.2 Kiểm tra triệu chứng lâm sàng và bệnh tích đại thể 39
2.3.2.1 Kiểm tra triệu chứng lâm sàng của vịt nhiễm giun sán 39
2.3.2.2 Kiểm tra bệnh tích đại thể 39
2.3.3 Thử nghiệm tẩy trừ sán 40
2.3.3.1 Bố trí thí nghiệm thử thuốc 40
2.3.3.2 Tiến hành thí nghiệm 40
2.3.3.3 Chỉ tiêu khảo sát 41
Trang 62.3.4 Phương pháp xử lý số liệu 41
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 42
3.1 Kết quả thành phần loài 42
3.1.1 Kết quả ñịnh danh phân loại 42
3.1.2 Đặc ñiểm hình thái và cấu tạo của các loài giun sán 44
3.1.2.1 Các loài thuộc lớp sán lá 44
3.1.2.2 Các loài thuộc lớp sán dây 47
3.1.2.3 Loài thuộc lớp giun tròn 50
3.1.3 Sự phân bố các loài giun sán 51
3.2 Kết quả tình trạng nhiễm giun sán 52
3.2.1 Tỷ lệ nhiễm giun sán ở các ñịa ñiểm 52
3.2.2 Tỷ lệ nhiễm giun sán theo giống 54
3.2.3 Tỷ lệ nhiễm theo tuổi giữa 2 giống 55
3.2.4 Tỷ lệ nhiễm theo mùa giữa 2 giống 57
3.2.5 Tỷ lệ nhiễm giun sán theo lớp 58
3.2.6 Tỷ lệ nhiễm ghép các lớp giun sán 60
3.2.7 Tỷ lệ nhiễm ghép các loài giun sán trên cá thể vịt 61
3.2.8 Tỷ lệ nhiễm và cường ñộ nhiễm theo loài 63
3.2.9 Biến ñộng nhiễm các loài, các lớp giun sán theo giống 64
3.2.10 Biến ñộng nhiễm các loài, các lớp giun sán theo tuổi vịt 66
3.2.11 Biến ñộng nhiễm các loài, các lớp giun sán theo mùa 68
3.3 Triệu chứng lâm sàng và bệnh tích ñại thể 70
3.3.1 Triệu chứng lâm sàng 71
3.3.2 Bệnh tích ñại thể 72
3.4 Hiệu lực tẩy trừ của Fenbendazol và Niclosamid 73
3.5 Đề xuất biện pháp phòng trị 75
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 77
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 Thành phần loài giun sán ký sinh 42
Bảng 3.2 Phân bố các loài giun sán 51
Bảng 3.3 Tỷ lệ nhiễm giun sán ở các ñịa ñiểm 52
Bảng 3.4 Tỷ lệ nhiễm giun sán theo giống 55
Bảng 3.5 Tỷ lệ nhiễm theo tuổi giữa 2 giống vịt 56
Bảng 3.6.Tỷ lệ nhiễm giun sán theo mùa 57
Bảng 3.7.Tỷ lệ nhiễm theo lớp giun sán 59
Bảng 3.8 Tỷ lệ nhiễm ghép các lớp giun sán trên cá thể vịt 61
Bảng 3.9 Tỷ lệ nhiễm ghép các loài giun sán 62
Bảng 3.10 Tỷ lệ nhiễm và cường ñộ nhiễm theo từng loài giun sán 63
Bảng 3.11 Biến ñộng nhiễm giun sán theo giống vịt 65
Bảng 3.12 Biến ñộng nhiễm giun sán theo tuổi vịt ñẻ 67
Bảng 3.13 Biến ñộng nhiễm giun sán theo mùa 69
Bảng 3.14 Triệu chứng lâm sàng của vịt nhiễm giun sán 72
Bảng 3.15 Bệnh tích ñại thể 73
Bảng 3.16 Hiệu lực của thuốc Fenbendazole và Niclosamid 74
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu ñồ 3.1 Tỷ lệ nhiễm giun sán ở các ñịa ñiểm ñiều tra 53
Biểu ñồ 3.2 Tỷ lệ nhiễm giun sán theo giống 55
Biểu ñồ 3.3 Tỷ lệ nhiễm giun sán theo tuổi giữa 2 giống 56
Biểu ñồ 3.4 Tỷ lệ nhiễm giun sán theo mùa giữa 2 giống vịt 58
Biểu ñồ 3.5 Tỷ lệ nhiễm theo lớp giun sán 59
Biểu ñồ 3.6 Tỷ lệ nhiễm ghép các lớp giun sán 61
Biểu ñồ 3.7 Tỷ lệ nhiễm ghép các loài giun sán 62
Biểu ñồ 3.8 Biến ñộng nhiễm các lớp giun sán theo giống 65
Biểu ñồ 3.9 Biến ñộng nhiễm các lớp giun sán theo tuổi 66
Biểu ñồ 3.10 Biến ñộng nhiễm các lớp giun sán theo mùa 68
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH VÀ BẢN ĐỒ
Hình 3.1 Loài Echinostoma revolutum Frohlich, 1802 44
Hình 3.2 Loài Hypoderaeum conoideum Bloch, 1782 45
Hình 3.3 Loài Opisthorchis paragenimus Oschmarin, 1970 46
Hình 3.4 Loài Dicranotaenia coronula Railliet, 1892 47
Hình 3.5 Loài Diorchis ransomi Schultz, 1940 48
Hình 3.6 Loài Microsomacanthus compressa Lopez-Neyra, 1942 49
Hình 3.7 Loài Tetrameres fissispina Travassos, 1915 50
Bản ñồ Các ñịa ñiểm nghiên cứu tại huyện Tuy Phước 5
Trang 11KHÔNG IN
ĐỂ TRỐNG
Trang 12MỞ ĐẦU
I TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Ở Bình Định, nghề nuôi vịt ñã có từ lâu và chiếm một vị trí rất quan trọng, góp phần không nhỏ trong việc cải thiện bữa ăn hàng ngày và tăng thu nhập cho người dân Do vịt là loài dễ nuôi, dễ thích nghi với môi trường, tận dụng ñược tối ña các thức ăn trong ñồng ruộng, ao hồ, ven sông, ven biển Trong các huyện của tỉnh Bình Định thì Tuy Phước là huyện ñồng bằng chiêm trũng ñặc trưng cho việc trồng lúa nước, ñi kèm với ñó là sự phát triển của nghề chăn nuôi vịt Tuy nhiên, người chăn nuôi vịt nơi ñây ñang gặp khó khăn do dịch bệnh gây ra, trong ñó bệnh ký sinh trùng vừa là nguyên nhân trực tiếp làm giảm năng suất của vịt, vừa là nguyên nhân gián tiếp mở ñường cho một số bệnh khác xâm nhập, ñặc biệt là một số bệnh truyền nhiễm nguy hiểm như dịch tả vịt, cúm gia cầm, Thực tế cho thấy, ở Tuy Phước hầu hết các hộ có ñàn vịt bị bệnh chết trong thời gian gần ñây ñều thả nuôi trong môi trường nước bị ô nhiễm và việc ñầu tư chăm sóc vật nuôi chưa tốt Kết quả
mổ khám lâm sàng cho thấy, có rất nhiều sán lá, sán dây, giun tròn trong ñường tiêu hóa của vịt Đây là một trong những nguyên nhân chính làm cho vịt biếng ăn, ỉa chảy, dẫn ñến suy kiệt cơ thể và chết [74]
Theo Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978) [32] bệnh ký sinh trùng làm giảm khả năng sinh trưởng của vịt khoảng 30% so với bình thường
và làm giảm sản lượng trứng 25-40%
Trong khi, vịt ñẻ là ñối tượng có thời gian nuôi lâu, ñây vừa là cơ hội
ñể giun sán tồn tại, phát triển và lây lan; vừa là cơ hội ñể vịt tiếp xúc nhiều với các loài vật chủ trung gian truyền bệnh như: nhuyễn thể, giáp xác, ấu trùng các loại côn trùng, nên bệnh có tỷ lệ nhiễm cao và phổ biến khắp mọi nơi Vì vậy việc nghiên cứu nắm ñược tình hình nhiễm, thành phần loài giun sán ở vịt và thử nghiệm thuốc tẩy trừ là rất cần thiết ñể từ ñó ñề xuất các biện pháp phòng trừ giúp tăng năng suất trong chăn nuôi vịt
Trang 13Ở nước ta, ñã có nhiều tác giả nghiên cứu về ký sinh trùng ở vịt, gần ñây nhất là Nguyễn Hữu Hưng (2006) [11], Nguyễn Xuân Dương (2008) [4],… Tuy nhiên, cho ñến nay chưa có một công trình nghiên cứu nào ñể ñánh giá chính xác tỷ lệ nhiễm, thành phần loài giun sán cũng như thử nghiệm thuốc tẩy trừ giun sán, ñặc biệt là giun sán ñường tiêu hóa trên ñàn vịt ñẻ nuôi
ở Bình Định
Trước yêu cầu thực tế ñó, với ñiều kiện có hạn chúng tôi tiến hành thực
hiện ñề tài: “Nghiên cứu tình hình nhiễm, thành phần loài giun sán ñường tiêu hóa của vịt ñẻ nuôi bán chăn thả tại huyện Tuy Phước tỉnh Bình Định”
II MỤC TIÊU, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
1 Mục tiêu
- Xác ñịnh tỷ lệ nhiễm, thành phần loài giun sán ñường tiêu hóa ở vịt ñẻ
- Xác ñịnh triệu chứng lâm sàng và bệnh tích ñại thể của vịt nhiễm giun sán
- Xác ñịnh hiệu quả tẩy trừ giun sán của thuốc Fenbendazol và Niclosamid
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2.1 Ý nghĩa khoa học
- Đóng góp kết quả nghiên cứu về tỷ lệ nhiễm, thành phần loài giun sán ñường tiêu hóa ở vịt ñẻ tại Bình Định
- Đóng góp kết quả về mô tả triệu chứng lâm sàng và bệnh tích ñại thể của vịt nhiễm giun sán Bình Định
- Đưa ra loại thuốc chô hiệu quả cao trong tẩy trừ giun sán cho vịt ñẻ Bình Định
- Làm tài liệu tham khảo cho Thú y ñịa phương, cho sinh viên ngành chăn nuôi thú y
2.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài làm cơ sở ñể xây dựng biện pháp phòng trừ bệnh ký sinh trùng cho ñàn vịt ñẻ nơi ñây
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, XÃ HỘI HUYỆN TUY PHƯỚC 1.1.1 Điều kiện tự nhiên
1.1.1.1 Vị trí ñịa lý
Tuy Phước là huyện ñồng bằng lớn ở phía nam tỉnh Bình Định, có tọa ñộ ñịa lí: 108000’ ñến 108015’ ñộ kinh Đông, 13040’ ñến 13055’ ñộ vĩ Bắc với diện tích 217,12 km2 Huyện có vị trí tiếp giáp như sau:
- Phía bắc và tây bắc giáp huyện Phù Cát, An Nhơn
- Phía Đông tiếp giáp biển và Tp.Qui Nhơn
- Phía Nam giáp Tp.Quy Nhơn
- Phía Tây giáp huyện Vân Canh
Trên ñịa bàn huyện có Quốc lộ 1A và Quốc lộ 19 ñi qua, là một trong những cửa ngõ quan trọng ñi thành phố Hồ Chí Minh, lên các tỉnh Tây Nguyên, Trung Bộ và Bắc Trung Bộ hết sức thuận lợi Tuyến ñường sắt thống nhất Bắc-Nam ñi qua dài 12 km, với ga Diêu Trì là ga lớn của miền Trung và
3 tỉnh lộ 638, 639 và 640 xuyên suốt ñịa bàn là ñiều kiện rất thuận lợi cho việc giao lưu, phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội của huyện
1.1.1.2 Địa hình
Huyện Tuy Phước có ñịa hình vừa trung du vừa ñồng bằng ven biển Với
ñộ dốc phổ biến từ 10 - 40, ñịa hình của huyện có chiều hướng thoải dần từ Tây
sang Đông; có hình thể phình to ở phía Bắc và thu hẹp dần ở phía Nam
Nhìn chung, phần lớn diện tích của huyện là tương ñối bằng phẳng và chia thành 3 khu vực rõ rệt:
- Các xã phía Tây Nam (gồm Phước Thành, Phước An) có tiềm năng rất lớn về ñất sản xuất cây công nghiệp, song chưa ñược khai thác hết
- Các xã khu Đông (Phước Hòa, Phước Thắng, Phước Thuận, Phước Sơn) với thế mạnh về cây lúa và thủy sản, là khu vực ñầy tiềm năng kinh tế của huyện
Trang 15- Các xã còn lại là vùng chuyên canh cây lúa
1.1.1.3 Thổ nhưỡng
Tổng diện tích ñất tự nhiên của huyện là 21.712,57 ha, trong ñó diện tích ñất ñang sử dụng vào các mục ñích chiếm gần 88% (19.153,65ha) Đất ñai hình thành và phát triển trên ñịa hình tương ñối phức tạp và có nhiều loại
ñá mẹ khác nhau, do ñó ñặc ñiểm ñất ñai, thổ nhưỡng ở ñây cũng tương ñối
ña dạng và ñược phân thành 3 nhóm chính:
- Nhóm ñất ñỏ vàng: Chủ yếu ở 2 xã miền núi là Phước Thành, Phước
Do ñặc ñiểm ñịa hình của huyện có ñộ dốc về hướng Đông, lại nằm ở
hạ lưu hai con sông Hà Thanh và sông Kôn, ñồng thời nằm bên Đầm thị nại nên nguồn nước mặt và nước ngầm khá dồi dào, ñáp ứng tốt cho sinh hoạt và phục vụ sản xuất nông nghiệp
1.1.1.5 Điều kiện khí hậu - thời tiết
Khí hậu của huyện trong năm chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa nắng từ tháng 2 ñến tháng 9, mùa mưa từ tháng 10 ñến tháng 2 năm sau Theo trung tâm khí tượng thủy văn thì khí hậu của Tuy Phước như sau:
- Nhiệt ñộ không khí bình quân trong năm là 260C
- Nhiệt ñộ tối cao trong năm 370C-380C, thường vào tháng 4 cho ñến tháng 7 trong năm
- Nhiệt ñộ tối thấp trong năm 190C-200C vào các tháng 11, 12 và tháng
1 năm sau
- Số giờ nắng trung bình các tháng 36-43 giờ/tháng
Trang 16- Ẩm ñộ trung bình không khí giữa các tháng trong năm khoảng từ 84,3% - 85,4 %
- Tổng lượng mưa 1200 mm - 1400 mm, nhưng phân bố không ñều, thường tập trung vào tháng 9 ñến tháng 12
Bản ñồ Các ñịa ñiểm nghiên cứu tại huyện Tuy Phước
Trang 171.1.2 Điều kiện xã hội
Về tổ chức hành chính, huyện Tuy Phước có 11 xã (xã Phước Nghĩa, Phước Hòa, Phước Thắng, Phước Quang, Phước Hưng, Phước Hiệp, Phước Thuận, Phước Sơn, Phước Lộc, Phước An, Phước Thành) và 02 thị trấn là (thị trấn Tuy Phước, thị trấn Diêu Trì)
Với ñặc thù là một huyện nông nghiệp, tổng diện tích là 21.712,57 ha,
trong ñó ñất nông nghiệp có diện tích là 12.458,50 ha, chiếm 57,38% tổng diện tích tự nhiên; ñất sông suối và mặt nước chuyên dụng là 2.439,75 ha, chiếm 36,44% tổng diện tích tự nhiên
Sản lượng lương thực: 100.934 tấn, lương thực bình quân ñầu người: 560kg/người Giá trị sản xuất nông nghiệp: 425.500 triệu ñồng
Về dân số, toàn huyện có 180.382 người, trong ñó dân số nông thôn là 155.131 người; dân số thành thị là 25.251 người Nam giới: 88.256 người, nữ giới: 92.126 người Mật ñộ dân số 831 người/km2[3]
1.2 ĐẶC ĐIỂM VỊT KHAKI CAMPBEL VÀ VỊT SIÊU TRỨNG TRUNG QUỐC 1.2.1 Đặc ñiểm vịt Khaki campbell
Khaki cample là giống vịt chuyên trứng ñã ñược nuôi ở nhiều nước trên thế giới, ñược nhập vào nước ta năm 1990
Vịt Khaki có thân hình nhỏ, lông màu khaki, mỏ và chân màu xám, một
số chân và mỏ có màu da cam Nhiều nơi trên cả nước miền núi, ñồng bằng, trung du và ven biển ñã nuôi giống vịt này ñạt kết quả cao
Tuổi bắt ñầu ñẻ 140 - 145 ngày
Khối lượng khi ñẻ 1,6 - 1,8kg Trưởng thành 1,8 - 2kg/con
Năng suất trứng bình quân 260 - 300 quả/mái/năm, cá biệt có ñàn ñạt
320 quả/mái/năm
Khối lượng trứng 65 - 70g/quả
Tỷ lệ phôi 90 - 98%, tỷ lệ ấp nở trên 85%
Tỷ lệ nuôi sống 98%
Trang 18Vịt thích hợp với phương thức nuôi chăn thả kết hợp xen canh lúa vịt, cá-vịt Ngoài ra có thể nuôi khô theo phương thức nuôi công nghiệp, nuôi khô trên vườn cây
1.2.2 Đặc ñiểm vịt siêu trứng Trung Quốc
Vịt mới nở: màu lông vàng nhạt có phớt ñen ở ñầu, ñuôi; Mỏ và chân: Màu vàng nhạt, có con hơi xám, xám ñen
Vịt trưởng thành: Con cái có màu cánh sẻ nhạt, có 1-2% trắng tuyền, có trắng có lông ở ñầu xám hoặc xanh ñen, cổ có khoang trắng, phần thân có màu nâu ñỏ xen lẫn lông trắng, phần ñuôi có lông màu xanh ñen có 2-3 lông mọc rất cong; Đầu nhỏ, cổ thon nhỏ và rất dài; Thân hình rất thon nhỏ, dáng ñứng gần vuông góc với mặt ñất; Mỏ và chân vàng và vàng nhạt có con hơi xám
Vịt siêu trứng TQ là giống vịt chuyên trứng, có thể trọng nhỏ, rất phù hợp với ñặc ñiểm của vịt chuyên trứng, thân hình thon nhỏ, ñầu nhỏ, cổ dài Vịt có tuổi ñẻ rất sớm (16-17 tuần), tuổi vào ñẻ sớm nhất so với các giống vịt hiện có ở Việt Nam; khối lượng ñẻ con trống ñạt 1140g, con mái 1083g
Vịt có năng suất trứng cao 251,3 quả/68 tuần tuổi khối lượng trứng trung bình 61,4g, chất lượng trứng tốt, tỷ lệ phôi cao trên 93%, tiêu tốn thức
ăn 2,23 kg/10 quả trứng
Phải nói rằng hiện nay giống vịt này ñược rất nhiều người chăn nuôi ưa chuộng vì có ñặc ñiểm quý ñặc biệt là ñẻ sớm, có thể chăn nuôi với nhiều phương thức khác nhau
1.2.3 Lịch phòng bệnh cho vịt
1-3 ngày tuổi
- Dùng thuốc phòng chống nhiễm trùng rốn, các bệnh ñường ruột và ảnh hưởng tác nhân Stress
- Streptomycine 3-4mg/con
Trang 19- Neotesol, Tetracycline, Ampi - Coly 40 - 50 mg/kgP
- Bổ sung VTM hay dầu cá 10-15 ngày tuổi - Tiêm vacxin dịch tả vịt lần 1 (tiêm dưới da) 18-21 ngày tuổi - Bổ sung VTM và kháng sinh
56-60 ngày tuổi - Tiêm vacxin dịch tả vịt lần 2
70-120 ngày tuổi
- Chú ý biến ñộng về thời tiết, sức khoẻ của ñàn vịt ñể bổ sung kháng sinh, phòng bệnh cho vịt 1-2 tháng 1 lần nhưng phải thay ñổi loại thuốc dùng
135-140 ngày tuổi
- Tiêm vacxin dịch tả vịt lần 3, bổ sung VTM và kháng sinh Sau khi vịt ñẻ 4-5 tháng tiêm vacxin dịch tả lần 4 và phòng kháng sinh ñối với các bệnh do vi trùng 1-2 tháng 1 lần
1.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU GIUN SÁN CỦA VỊT 1.3.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Khi nghiên cứu tình hình nhiễm giun sán ở các loài thủy cầm tại New Brunswick Canada từ tháng 8 năm 1967 ñến tháng 12 năm 1969, Mc Laughlin (1971) [66] ñã phát hiện 27 loài sán dây thuộc 6 giống ký sinh trên
vịt Đồng thời ông cũng tìm thấy ấu trùng Cysticercoid của 2 loài sán dây
Fimbriaria fasciolaris và Hymenolepis compressa phát triển trong Copepod, Eucyclops, Serrulatus Với thí nghiệm gây nhiễm cho vịt với ấu trùng Cysticercoid của sán dây Hymenolepis thu ñược từ vật chủ trung gian Hyalella azteca, sau 21 ngày ông ñã tìm thấy những ñốt chửa của sán dây
trong manh tràng vịt Ở một thí nghiệm khác, tác giả theo dõi thời gian sống
của một số loài sán dây trong cơ thể vịt và ghi nhận loài sán dây Fimbriaria
fasciolaris tồn tại trong cơ thể vịt ít nhất 65 ngày, Hymenolepis coronula và Hymenolepis gracilis ít nhất 200 ngày, Hymenolepis abortiva và Hymenolepis hopkinsi ít nhất là 350 ngày Vịt nhiễm sán dây cao nhất vào mùa ñông và
mùa xuân vì mùa này vật chủ trung gian phát triển rất thuận lợi
Ở Florida (Mỹ), trong số 78 vịt (Anas platyrhynchos fulvigula) ñược
Trang 20vịt này ñều nhiễm giun sán, trong ñó có các loài Apatemon gracilis,
Echinoparyphium recurvatum, Zygocotyle lunata, Trichobilharzia sp., Typhlocoelum cucumerinum, Echinostoma revolutum, Dendritobilharzia pulverulenta, Hypoderaeum conoideum, Prosthogonimus ovatus, Psilochasmus oxyurus, Eucotyle wehri, Levinseniella sp., Cloacotaenia megalops, Hymenolepis sp., Hymenolepis hopkinsi, Fimbriaria fasciolaris, Diorchis bulbodes, Sobolevicanthus filumferens, Epomidiostomum uncinatum, Capilaria sp., Capilaria contorta, Amidostomum acutum, Porrocaecum crassum, Strongyloides sp., Tetrameres crami, Tetrameres spp., Echinuria uncinata, Spirurid laerva, Streptocarra crassicauda, Sciadiocara rugosa Trong các loài kể trên, loài Porrocaecum crassum ñược phát hiện ñầu
tiên ở Bắc Mỹ Tác giả nhận thấy sự sai khác có ý nghĩa thống kê về tình hình nhiễm giun sán ở vịt giữa các mùa vụ và phương thức chăn thả
Mổ khảo sát 212 vịt (Anas platyrhynchos) tại Slovakia (CSSR) từ năm
1954-1970 ñể ñiều tra thành phần loài giun sán ký sinh, Macko (1974) [61] phát hiện vịt nhiễm 93,40% trong ñó lớp sán lá 83,90% với 26 loài và lớp sán
dây 77,80% với 16 loài ñược phát hiện Đối với lớp sán lá, loài Bitharziella
polonica nhiễm 53,30%, Apatemon gracilis nhiễm 24,50%, Hypoderaeum conoideum nhiễm 24,50%, Notocotylus triserialis nhiễm 23,50% và loài Echinostoma revolutum nhiễm 20,02% Lớp sán dây, loài Microsomacanthus paracompressa nhiễm 40,40%, Fimbriaria fascilaris nhiễm 37,10%, Aploparaksis furcigena nhiễm 28,20%, Sobolevicanthus gracilis nhiễm
27,70% và loài Microsomacanthus spiralibursata nhiễm 24,00%
Moskalev (1976) [67] ñã nghiên cứu tình hình nhiễm giun sán ở ñường tiêu hóa vịt ở Bol’shoc Rakovoe gần Leningrad, Liên Bang Nga, thu ñược các loài sán dây ở vịt 7 ngày tuổi, trong khi ñó vịt nhiễm sán lá ít hơn Giữa tuổi, mùa vụ và tập quán chăn thả có mối liên hệ trực tiếp ñến tỷ lệ và cường ñộ nhiễm sán dây trên vịt
Trang 21Mổ khảo sát 84 vịt tại miền Đông Slovakia trong khoảng thời gian từ năm 1954-1970, Macko (1978) [62] ñã phát hiện vịt nhiễm 6 loài
Epomiostomum uncinatum, Amidostomum acutum, Porocaecum crassum, Thominx contorta, Tetrameres fissispina và Hystrichis tricholor thuộc lớp
giun tròn (Nematoda) ký sinh ở vịt (Anas crecca)
Shaw (1981) [69] mổ khảo sát 71 vịt ở Bắc Mỹ phát hiện vịt nhiễm với
tỷ lệ 90,10% Trong ñó, nhiễm lớp sán lá 47,80% và lớp sán dây nhiễm 72,40% với 19 loài ñược tìm thấy
Khi kiểm tra tình hình nhiễm giun sán ký sinh ở vịt (Anas crecca) tại
Peshawar (Pakistan) từ tháng 12/1980 ñến tháng 3/1983, Khan và ctv (1983) [58] phát hiện vịt nhiễm 5 loài sán dây là Hymenolepis medici, Hymenolepis
moghensis, Hymenolepis megoloschy, Hymenolepis uralenis, Hymenolepis lanceolata và 3 loài sán lá là Echinostoma paraulum, Echinostoma elleci và Echinoparyphium recurvatum
Hartmann và Hafez (1983) [50] ñã kiểm tra 124 mẫu phân và mẫu ruột của vịt chạy ñồng với các loài vịt khác nhau (không phân loài vịt) ñã phát hiện có 5 loài thuộc lớp sán dây, 16 loài thuộc lớp giun tròn và 1 loài
Psilochasmus boschadis thuộc lớp sán lá với tỷ lệ nhiễm rất cao
Từ tháng giêng năm 1982 ñến tháng 12 năm 1983, EOM Kee-Seon và ctv (1984) [47] ñã tiến hành nghiên cứu về các loài giun sán ký sinh trên vịt
Qua thu thập mẫu giun sán ký sinh trên 105 vịt (Anas platyrhynchos
domestica) ñược mổ khảo sát tại Ichon Gun thuộc thành phố Chunchon,
Yanggu Gun và Taejeon ở Triều Tiên ñã ñịnh danh ñược 7 loài giun sán ký
sinh, trong ñó có 6 loài thuộc lớp sán lá (Trematoda): Amphimerius anatis,
Echinostoma miyagawai, Echinochasmus japonicus, Cryptocotyle sp., Notocotyle attenuatus, Apatemon sp và 1 loài thuộc lớp giun tròn Heterakis gallinarum, trong ñó có 4 loài mới ñược tìm thấy lần ñầu tiên ở Triều Tiên
Trang 22thuộc lớp sán lá ñó là Amphimerius anatis, Echinochasmus japonicus,
Cryptocotyle và Apatemon
Yun-Lian (1982) [72] tiến hành khỏa sát tình hình nhiễm sán dây ở các loài chim ở tỉnh Shangdong, Trung Quốc ñã phát hiện 11 loài thuộc họ
Hymenolepididae ở các loài chim hoang dã và gia cầm, trong ñó ở vịt có 3
loài ñược tìm thấy là Retinometra girnensis, Retinometra venusta và Diorchis
inflata
Vào tháng 4-5/1986, nghiên cứu tình hình nhiễm sán dây Hymenolepis
trên vịt Tufted ở quần ñảo Hailouto, vịnh Bothnia, Phần Lan, Valtonen (1986) [71] tìm thấy vịt (Aythya fuliguta) nhiễm 13 loài sán dây trên tổng số 43 mẫu, trong ñó loài Fimbriaria fasciolaris nhiễm 65,10%, Dicranotaenia coronula nhiễm 44,20%, loài Micrososmacanthus compressa nhiễm 46,50% và loài
Micrososmacanthus arcuata nhiễm 34,90%
Kiểm tra tình hình nhiễm giun sán ở vịt nuôi tại Tamil Nadu, Ấn Độ, Balasundaram và Ebenezer (1986) [40] thấy rằng trong 100 vịt kiểm tra có 89 vịt nhiễm giun sán, ñịnh danh ñược 23 loài thuộc lớp sán lá, 7 loài thuộc lớp sán dây và 7 loài thuộc lớp giun tròn Mức ñộ nhiễm nhiều loài trên cơ thể vịt
là 47%, trong ñó có các loài ñược ghi nhận ñầu tiên ở vịt tại Ấn Độ là
Notocotylus dafilae, Apatemon gracilis, Cotylurus flabelliformis, Prothogonimus putschkouskil và Hymenolepis filumferens
Farias (1986) [48] mổ khảo sát 129 vịt tại Mexico (Hoa Kỳ) phát hiện
vịt nhiễm 25 loài giun sán ký sinh ở ống tiêu hóa là Echinoparyphium
recurvatum, Echinostoma revolutum, Hypoderaeum conoideum, Notocotylus attenuatus, Prosthogonimus cuneatus, Zygocotyle lunata, Anomotaenia ciliata, Cloacotaenia megalops, Fimbriaria fasciolaris, Fimbriariodes sp., Diorchis bulbodes, Diorchis sp., Hymenolepis sp.1, Hymenolepis sp.2, Drepanidotaenia lanceolata, Echinocotyle rosseteri, Sobolevicanthus gracilis, Corynosoma constrictum, Polymorphus minutus, Amidostomum Acutum,
Trang 23Echinuria sp., Epomidiostomum crami, Hystrichis varispinosus, Rusguniella arctica và Tetrameres sp
Bhowmik và Ray (1987) [42] quan sát bệnh viêm ruột ở vịt nhà (Anas
platyrhynchos domesticus) ở miền Tây Bengal từ năm 1981-1985, qua mổ
khám 9872 vịt cho thấy, vịt có bệnh tích ở ruột là 4085 con, trong ñó bệnh
dịch tả vịt (Duck plague) chiếm 39,97%, bệnh thương hàn 14,30%, E.coli
13,30%, bệnh thụ huyết trùng 9,57%, bệnh cầu trùng 2,32% và bệnh do giun
sán 9,54% Trong bệnh giun sán, vịt nhiễm Trematoda 2,37%, Cestoda 5,97%
và Nematoda 1,20% Vịt nhiễm giun sán thể hiện bệnh tích viêm thể cata ruột
Khảo sát trên ñàn vịt 400 con tại Periryapalayam, Tamid Nadu, Ấn Độ, Mahalingam và ctv (1988) [63] ghi nhận 300 con có dấu hiệu lâm sàng như gầy còm, nhợt nhạt, yếu ñuối, kiệt sức và chết Mổ khám vịt bệnh ông phát
hiện ấu trùng gây nhiễm ở giai ñoạn 3 và 4 của các loài giun tròn Ascaridia
galli, sán dây Fimbriaria fasciolaris, Hymenolepis colloris và sán lá Psilochasmus oxyurus Tình trạng này do vịt con ăn phải vật chủ trung gian
của các loài sán dây và sán lá sống dưới nước, những vật chủ trung gian này tăng hoạt ñộng sau mùa mưa Vịt ñược tẩy trừ với Fenbendazole và sau ñó tỷ
lệ vịt chết ñã giảm một cách ñáng kể
Khoảng thời gian từ 1954-1975, 1980-1982, 1988-1989, nghiên cứu về mức ñộ nhiễm giun sán theo mùa vụ ở miền Đông Slovakia (CSFR) trên 401 vịt trời và 362 vịt nhà, Birova (1992) [43] ñã ghi nhận vịt nhiễm nhiều giun sán tập trung vào ñầu mùa xuân (từ tháng 3-4) và tháng 9 hằng năm Sự phát
triển của các loài Tetrameres fissispina, Thominx contorta và
Epomidiostomum rencinatum chủ yếu vào mùa xuân
Chullabusapa (1992) [46] mổ khảo sát 200 vịt tại Bangkurad, Amphur Bangyai, tỉnh Nonthaburi, Thái Lan tìm thấy vịt nhiễm giun sán ở ñường ruột
chiếm tỷ lệ 66% với các loài Diorchis spp., Haploparaxis clerci, Woodlandia spp., Echinostoma revolutum, Hypoderraeum conoideum và Capillaria spp
Trang 24Yun và Cheng (1993) [73] mổ khảo sát trên vịt và ngỗng cũng tìm thấy
các loài sán dây ở tỉnh Hunan, Trung Quốc, trong ñó có loài Diorchis
skrbilowitschi ñược mô tả chi tiết
Kulisic và Lepojev (1994) [60] mổ khảo sát 100 con vịt nuôi gia ñình (Anas platyrhynchos L.) ở khu vực Belgrade ñể tìm sán lá ký sinh, kết quả
cho thấy vịt ở ñây nhiễm 72,00% Có 13 loài ñược ñịnh danh ñó là Apatemon
gracilis, Cotylurus cornutus, Bilharjella polonica, Tracheoplulus sisowi, Hyptiasmus arcuatus, Echinochasmus coaxatus, Echinoparyphium recurvatum, Echinostoma revolutum, Hypoderaeum conoideum, Catatropis verucosa, Notocotylus imbricatus, Eucotyle jakharowi, Metagonimus yokogawai và Metorchis xanthososmus ñược phát hiện ñầu tiên ở Yogoslavia
Forrester và ctv (1994) [49] khảo sat 30 vịt từ khu vực ñầm lầy ở miền Nam Florida (Mỹ) cho thấy vịt nhiễm ký sinh trùng với 28 loài, trong ñó có 8 loài thuộc lớp sán lá, 6 loài thuộc lớp sán dây, 1 loài thuộc lớp giun tròn, 4 loài thuộc lớp rận và 9 loài thuộc lớp ve bét Vịt nhiễm ít nhất là 2 loài giun sán/cá thể vịt (vịt nhiễm trung bình là 4,2 loài /cá thể), có trường hợp vịt nhiễm cao tới 8 loài/cá thể
Bergan và ctv (1994) [41] tìm thấy loài Tetrameres striate ký sinh trên
vịt (Anas platyrhynchos) ở miền Tây Texas (Mỹ) và vịt ñốm (Anas platyrhynchos fulurgula) ở Florada Giun tròn này ký sinh ở dạ dày tuyến với
số lượng từ 1-7 giun tròn/vịt Nơi giun tròn ký sinh hình thành những vết thương bị lở loét và có những mảnh hoại tử
Schmid (1995) [68] kiểm tra giun sán ký sinh ở ñường ruột vịt ñốm và vịt Anas fulvigula maculosa ở miền Đông Texas (Mỹ) từ tháng 1/1990-1992
ñã phát hiện 18 loài giun sán, trong ñó có 8 loài thuộc lớp sán dây Cestoda, 7 loài thuộc lớp sán lá Trematoda, 2 loài thuộc lớp giun tròn Nematoda và 1 loài thuộc lớp giun ñầu gai Acanthocephala Vịt nhiễm từ 3-9 loài /cá thể
Trang 25(trùng bình 5 loài/cá thể) Một số loài phong phú nhất ở ñây là Echinocotyle spp., Microsomacanthus hopkinsi và Echinoparyphium flexum
Kiểm tra 9500 gia cầm trong số 25 loài thủy cầm ở Texas (Mỹ) từ tháng 10/1986-2/2000, Haukos (2003) [52] cho rằng loài Cloacotaenia
megalops là một trong những loài thường gặp nhất trên các loài thủy cầm
Cũng như khi nghiên cứu sự thay ñổi về tỷ lệ nhiễm của các loài sán dây trên các loài thủy cầm, tác giả ghi nhận tỷ lệ nhiễm sán dây trung bình thấp nhất ở trên ngỗng là 21%, trong khi vịt nhiễm 71% Tương tự, vịt Diving nhiễm 46,90% và vịt Puddle nhiễm 43,90%
1.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Nghiên cứu ñầu tiên về giun sán ký sinh ở gia cầm Việt Nam phải kể ñến Mathis và Leger (1910-1911) [64], [65] Hai tác giả ñã mô tả một số loài mới ñối với khoa học và công bố danh sách về các loai giun sán ký sinh ở người và ñộng vật, trong ñó có gia cầm ở một số tỉnh phía Bắc
Từ năm 1927-1928, Joyeux và Houdemer (1928) [55] thông báo về các loài sán dây, sán lá ký sinh ở chim và thú ở các nước Đông Nam Á, trong ñó các loài sán lá, sán ñây ñược phát hiện chủ yếu ở Bắc bộ Việt Nam
Hsii (1935-1936) [54] ñã phát hiện có 4 loài giun tròn ký sinh ở một số
loài chim Việt Nam, trong ñó có một loài mới là Tetrameres fissispina ký sinh
ñược bổ sung bằng những tài liệu công bố về các loài mới với tỷ lệ nhiễm như
sau: Philopthalmus gralli 7,69%, Hymenolepis coronula 43,24%, Hymenolepis
anatina 30,03%, Fimbriaria fasciolaris 24,34%, Tetrameres fissispina 46,66%
Trang 26ở Bắc bộ (Yoyeux và Trương Tấn Ngọc) (1950) [56] tại Chợ lớn, miền Nam Việt Nam
Từ năm 1962, ở nước ta đồn điều tra động vật ký sinh trùng do Ủy ban Khoa học kỹ thuật Nhà nước chủ trì gồm nhiều cơ quan và các trường Đại học tham gia Đồn đã tiến hành điều tra ở tất cả các tỉnh phía Bắc và mổ khám trên 942 chim (161 lồi) và 651 con thú (61 lồi) Từ kết quả này Trịnh Văn Thịnh (1966) [34], Nguyễn Thị Lê (1968) [14], Phan Thế Việt (1969) [36], Nguyễn Thị Kỳ (1980) [7] đã cơng bố 28 lồi giun sán ký sinh ở vịt, 16 lồi thuộc lớp sán lá, 7 lồi thuộc lớp sán dây, 1 lồi thuộc lớp giun đầu gai và 4 lồi thuộc lớp giun trịn
Vào những năm sau đĩ, các cơng trình của Hồng Quang Nghị, Lê Đức Hạnh (1965) [29], Nguyễn Hữu Bình và ctv (1966) [2], Phan Lục (1971) [24] được tiếp tục nghiên cứu về giun sán ký sinh ở gia cầm và thú
Mổ khảo sát trên 55 vịt ở huyện Thanh Trì (Hà Nội), Nguyễn Thị Lê (1971) [15] cho biết vịt nhiễm lớp sán lá cao nhất 88,9% với cường độ nhiễm 1-265 con/cá thể, lớp sán dây 78,20%, cường độ nhiễm 1-230 con/cá thể, lớp giun trịn 47,30%, cường độ nhiễm 1-45 con/cá thể Tác giả đã phát hiện cĩ
33 lồi giun sán ký sinh (18 lồi thuộc lớp sán lá, 13 lồi thuộc lớp sán dây và
2 lồi thuộc lớp giun trịn)
Về tình hình nhiễm theo tuổi, Nguyễn Thị Lê (1971) [15] cũng ghi nhận ở vịt non, cường độ nhiễm cao nhưng thành phần lồi giun sán thấp, ở vịt già thì ngược lại, cường độ nhiễm thấp nhưng thành phần lồi phong phú
hơn Ở vịt các lồi phổ biến phân bố rộng khắp như sán lá Notocotylus
intestinalis (40%), Hypoderaeum conoideum (32%), Echinostoma revolutum
và Cotylurus cornutus (29,10%), Prosthogonimus cuneatus và Echinostoma
miyagawai (21,80%) Các lồi thuộc lớp sán dây như Microsomacanthus paracompressa (16,40%), Dicranotaenia coronula (12,70%), Fimbriaria
Trang 27fasciolaris (10,90%) và lớp giun tròn có 1 loài Tetrameres fissispina
(47,30%)
Phạm Sỹ Lăng (1975) [12] ñiều tra tình hình nhiễm giun sán ký sinh ở vịt tại vùng chiêm trũng huyện Bình Lục tỉnh Nam Hà từ 1971-1974 cho thấy
vịt nhiễm các loài giun sán như Prosthogonimus ovatus, Echonostoma
revotulum, Tracheophilus sisowi, Echinoparyphium recurvatum, Philopthalmus gralli, Drepanidotaenia lanceolata, Hymenolepis anatina, Tetrameres fissispina và Avioserpens taiwana
Kết quả ñiều tra cơ bản tình hình nhiễm và thành phần loài giun sán ký sinh ở miền Bắc Việt Nam từ năm 1962-1975, Phan Thế Việt (1977) [36] ghi nhận 48 loài giun sán ký sinh ở vịt, trong ñó lớp sán lá 29 loài, sán dây 15 loài, giun ñầu gai 1 loài và giun tròn 3 loài
Năm 1987, Nguyễn Thị Lê và cộng sự [17] ñã công bố thành phần loài sán lá trên vịt ở Hà Tây, Nam Hà
Ở miền Nam, Hồ Thị Thuận (1988) [35] khi nghiên cứu về tình hình nhiễm giun sán trên vịt chạy ñồng ở Thủ Đức, Nhà Bè Tp Hồ Chí Minh cho thấy vịt nhiễm 21 loài giun sán, trong ñó có 10 loài thuộc lớp sán dây, 6 loài thuộc lớp sán lá và 5 loài thuộc lớp giun tròn Tác giả còn cho biết cường ñộ nhiễm cao ở vịt nhỏ nhưng thành phần loài ít và ngược lại vịt già cường ñộ nhiễm thấp nhưng thành phần loài phong phú hơn
Nguyễn Thị Lê (1989) [18] nghiên cứu tình hình nhiễm giun sán ký sinh ở 2 tỉnh Hà Sơn Bình và Hà Nam Ninh, mổ khám 275 vịt tại 4 ñịa ñiểm thuộc 2 tỉnh cho thấy vịt nhiễm ở tất cả các lứa tuổi Vịt già nhiễm 35 loài, vịt
tơ nhiễm 26 loài, vịt con cũng nhiễm 26 loài Loài sán lá vịt nhiễm cao nhất (94,97%)
Nguyễn Ngọc Huân (1999) [9] nghiên cứu tỷ lệ nhiễm giun sán ñường tiêu hóa ở vịt CV Super-M và CV-2000 nhập nội nuôi bán công nghiệp ở các trại vịt Quận Gò Vấp và Quận 2 Tp Hồ Chí Minh Kết quả ñã phát hiện 4 loài
Trang 28giun sán thuộc 3 lớp ký sinh ở ñường tiêu hóa vịt với tỷ lệ nhiễm như sau:
Lớp Trematoda 24,3% gồm 1 loài là Echinostoma miyagawai; lớp Cestoda nhiễm 8,4% gồm 2 loài là Microsomacanthus compressa, Hymenolepis
compressa và lớp Nematoda nhiễm 0,9% gồm 1 loài là Tetrameres fissispina
Huỳnh Tấn Phúc (2001) [30] ñiều tra tình hình nhiễm giun sán ở vịt tại huyện Bình Chánh Tp Hồ Chí Minh Qua mổ khám 120 vịt tại huyện Bình Chánh ở các lứa tuổi khác nhau, tỷ lệ nhiễm giun sán chung là 61,67 % Vịt
nhiễm cả 3 lớp: Trematoda (31,67%), Nematoda (30%) và Cestoda (18,33%)
Ðã tìm thấy tại 18 loài, trong ñó Trematoda (9 loài), Cestoda (6 loài),
Nematoda (3 loài) Tỷ lệ nhiễm cao nhất ở vịt 2-3 tháng tuổi (73,33% ), vịt
4-6 tháng tuổi (4-67,57%), vịt trên 4-6 tháng tuổi (4-65,38%) và thấp nhất là vịt ở lứa tuổì 20-45 ngày tuổi (35,71%) Những loài nhiễm chủ yếu thuộc lớp sán lá là
Philothalmus gralli (11,66%), Echinoparyphium recurvatum (10%); thuộc
lớp sán dây là Sobolevicanthus stolli (9,16%) và thuộc lớp giun tròn là
Trameres fissispina (24,16%)
Nguyễn Đình Bảo (2003) [1] nghiên cứu về bệnh sán dây, sán lá ở vịt vùng Bà Rịa Vũng tàu, xác ñịnh 7 loài sán lá ký sinh, trong ñó có 4 loài ký sinh ở ñường tiêu hóa, 1 loài ký sinh ở khí quản, 1 loài ký sinh ở ống dẫn trứng và 1 loài ký sinh ở xoang mắt vịt Tỷ lệ nhiễm chung về sán lá là 32,50% Tác giả cũng tìm thấy có 6 loài sán dây ký sinh ở ñường ruột của vịt với tỷ lệ và cường ñộ nhiễm rất cao
Nguyễn Hữu Hưng (2006) [11] nghiên cứu về giun sán ký sinh trên vịt tại 10 tỉnh ñồng bằng sông Cửu Long ñược thực hiện từ năm 1999 ñến 2006 Kết quả cho thấy vịt ở nhiễm giun sán với tỷ lệ cao 82,55% và ñã ñịnh danh ñược 27 loài thuộc 3 lớp: sán lá, sán dây và giun tròn, vịt nhiễm theo thứ tự cao nhất là lớp sán lá 73,45%, kế ñến là lớp sán dây 71,77% và thấp nhất là
lớp giun tròn 16,77% Vịt nhiễm 13 loài thuộc lớp sán lá là Echinostoma
revolutum, Hypoderaeum conoideum, Echinostoma miyagawai,
Trang 29Echinoparyphium recurvatum, Prosthogonimus cuneatus, Notocotylus aegypticacus, Catatropis verrucosa, Cotylurus cornutus, Prosthogonimus ventroporus, Prosthogonimus sinensis, Philopthalmus gralli, Tracheophilus sisowi và Apatemon gracilis; 13 loài thuộc lớp sán dây là Microsomacanthus compressa, Microsomacanthus rangdonensis, Fimbriaria fasciolarris, Diorchis stefanski, Diorchis formosensis, Microsomacanthus fausti, Dicranotaenia coronula, Sobolevicanthus stolli, Drepanidolepis lanceolata, Cloacotaenia megalops và Drepanidolepis anatina; 1 loài thuộc lớp giun tròn
là Tetrameres fissispina Đặc biệt trong 8 loài sán lá ở ñường tiêu hóa vịt có 3
loài là Echinostoma revolutum, Hypoderaeum conoideum và
Echinoparyphium recurvatum ñược phân bố rộng khắp các ñiểm khảo sát với
tỷ lệ nhiễm khá cao và có khả năng lây nhiễm từ vịt sang người
Nguyễn Xuân Dương (2008) [4] nghiên cứu về tình trạng nhiễm giun sán của vịt ở Thái Bình, Nam Định, Hải Dương ñược thực hiện từ năm 2001-
2007 Kết quả cho thấy:
Tình trạng nhiễm giun ở các ñịa ñiểm nghiên cứu rất cao từ 80,00% - 95,26%, vịt nhiễm cả 3 lớp giun sán: tỷ lệ nhiễm sán lá 73,34%, sán dây 54,65% và giun tròn 53,70%;
Thành phần giun sán gồm 32 loài thuộc 24 giống, 16 họ của 11 bộ
Trong ñó, những loài giun sán phổ biến với tỷ lệ nhiễm cao là: Echinostoma
revolutum(39,35%), Microphallus pseudogonocotyla (32,27%), Tracheophilus sisowi (30,64%), Hypoderaeum conoideum (28,42%), Notocotylus indicus (22,87%), Diorchis stefanskii (27,24%), Microsomacanthus compressa (25,25%), Dicranotaenia coronula (20,06%)
và Tetramere fissipina (47,55%)
Nguyễn Thị Lê (2000) [23], Nguyễn Thị Kỳ (2003) [8] ñã nghiên cứu
và thống kê các kết quả ñiều tra về giun sán ký sinh ở vịt cho biết: ở Việt Nam ñã phát hiện ñược 63 loài giun sán ký sinh ở vịt, trong ñó có 30 loài sán
Trang 30lá, 21 loài sán dây và 12 loài giun tròn Danh sách các loài giun sán ký sinh ở vịt ñược các tác giả công bố gồm:
Lớp sán lá (Trematoda)
(1) Hyptiasmus arcuatus (2) Tracheophilus sisowi (3) Echinostoma revolutum (4) Echinostoma miyagawai (5) Echinoparyphium nordiana (6) Echinoparyphium aracinetum (7) Echinoparyphium recurvatum (8) Echinoparyphium japonicus (9) Hypoderaeum conoideum (10) Echinochasmus beleocephalus (11) Philopthalmus gralli
(12) Psiloschasmus sphincteropharynx (13) Notocotylus aegyptiacus
(14) Notocotylus indicus (15) Notocotylus intestinalis (16) Catatropis verrucosa (17) Opisthorchis longissimus (18) Opisthorchis parageminus (19) Procerovum cheni
(20) Amphimerus anatis (21) Microphallus pseudogonocotyla (22) Levinseniella cryptacetabula (23) Maritrema subdolum
(24) Prosthogonimus cuneatus (25) Prosthogonimus sinensis
Trang 31(26) Prosthogonimus ventroporus (27) Trichobilharzia anatina (28) Cotylurus cornutus (29) Apatemon gracilis (30) Cyathocotyle orientalis
Lớp sán dây (Cestoda)
(31) Cloacotaenia megalops (32) Dicranotaenia coronula (33) Diorchis formosensis (34) Diorchis ransoni (35) Diorchis stefanskii (36) Drepanidolepis anatina (37) Drepanidolepis lanceolata (38) Fimbriaria fasciolaris (39) Fimbriariodes intermedia (40) Microsomacanthus compressa (41) Microsomacanthus fausti (42) Microsomacanthus paracompressa (43) Microsomacanthus parvula
(44) Microsomacanthus rangdonensis (45) Microsomacanthus paramicrosoma (46) Microsomacanthus spirobursatus (47) Retinometra venusta
(48) Sobolevicanthus fragilis (49) Sobolevicanthus stolli (50) Tschertkovilepis setigera (51) Unciunia ciliata
Trang 32Lớp giun tròn (Nematoda)
(52) Capillaria caudinflata (53) Thominx anatis
(54) Amidostomum anseris (55) Amidostomum acutum (56) Epomidiostomum anatimum (57) Ascaridia galli
(58) Heterakis gallinarum (59) Ganguleterakis dispar (60) Ganguleterakis brevispiculum (61) Tetrameres fissispina
(62) Streptocara crassicauda (63) Avioserpens taiwana
1.3.3 Một số nghiên cứu ñặc ñiểm sinh học của các loài giun sán ñường tiêu hóa thường gặp ở vịt
1.3.3.1 Loài Echinostoma revolutum Frohlich, 1802
Theo Nguyễn Thị Lê (2000) [23], loài Echinostoma revolutum ký sinh
ở ruột của nhiều loài ñộng vật như vịt, ngỗng, gà, gà tây, mòng két, bồ câu, cu gáy, chim nuốc, chuột nhà, chuột rừng, lợn, chó Loài này phân bố rất rộng ở trong nước và trên thế giới Vòng ñời phát triển có sự tham gia của 2 vật chủ
trung gian: Vật chủ trung gian thứ nhất là các loài ốc nước ngọt Lymnaea
swinhoei, Lymnaea viridis, Lymnaea parvia Vật chủ trung gian thứ hai là các
loài ốc trên hoặc các loài ốc: Parafossarulus striatulus, Melanoides turbeculatus,
Angulyagra polyzonata, Cipangopaludina lecythoides, Sinotaia aeruginosa và
ấu trùng chuồn chuồn Orthetrum sp., Crocothemis sp., Trithemes sp
Tác giả Lương Văn Huấn (1996) [10] cho rằng vật chủ trung gian thứ
hai là ấu trùng của lớp lưỡng thê nòng nọc Rana temporaria
Trang 33Kaufmann (1996) [57] cho rằng Echinostoma revolutum thường ký
sinh nhiều ở vịt, ngỗng Vật chủ trung gian thư nhất là nhiều loài ốc nước
ngọt, vật chủ trung gian thứ hai là ấu trùng lưỡng thê nòng nọc Rana
esculenta và các loài ếch nhái khác
Theo Abuladze K.I (1990) [39] cho rằng Echinostoma revolutum có
vật chủ trung gian là ốc Lymnaea, Radix, Galba; vật chủ bổ sung là nhuyễn
thể nước ngọt và nòng nọc, ếch nhái
Thời gian phát triển của trứng sán thành dạng micracidium phụ thuộc vào nhiệt ñộ ngoài môi trường, ở nhiệt ñộ 30-330C là 7-8 ngày Thời gian
micracidium phát triển thành cercaria trưởng thành ở trong vật chủ trung gian
thứ nhất ra ngoài môi trường khoảng 27 ngày Khi xâm nhập vào vật chủ trung gian thứ hai ký sinh ở các nang cơ thể và phát triển thành dạng
metacercaria Vật chủ chính ăn phải vật chủ trung gian có chứa metacercaria
sẽ bị nhiễm sán trưởng thành sau 10-11 ngày Tuổi thọ của sán trưởng thành trong vật chủ chính là 25-30 ngày (Nguyễn Thị Lê, 1993) [20]
Đặc ñiểm cấu tạo: Sán có chiều dài cơ thể dao ñộng từ 5,72-6,98 mm, chiều rộng từ 1,12-1,42 mm Viền cổ rộng 0,73-01,03 mm Có 37 móc, gồm
15 móc lưng xếp thành 2 hàng, kích thước 0,101-0,109 x 0,025 mm Mỗi thùy bên có 6 móc (0,093-0,126 x 0,029 mm) và 5 móc thùy bụng (0,093-0,122 x 0,025 mm) Kích thước giác miệng 0,23-0,44 x 0,27-0,45 mm Trước hầu dài 0,13-0,16 mm Hầu 0,15-0,37 x 0,15-0,27 mm Thực quản dài 0,86-1,14 mm Giác bụng phát triển, kích thước 0,69-1,22 x 0,69-1,18 mm Hai nhánh ruột kéo dài về mút sau cơ thể Tinh hoàn hình ôvan nguyên hoặc hơi phân thùy theo chiều dọc Túi sinh dục nằm ở mặt lưng phần nửa trước giác bụng Bường trứng tròn hoặc ôvan, nằm trước tinh hoàn Tuyến noãn hoàng nằm hai bên cơ thể, bắt ñầu từ giác bụng kéo dài ñến mút sau cơ thẻ, không che lấp hai nhánh ruột và khoảng trống phía sau tinh hoàn Tử cung tương ñối dài, chứa nhiều trứng Trứng hình ôvan, màu vàng sáng, kích thước 0,076-0,105 x
Trang 340,051-0,084 mm Ống bài tiết chính ở phần sau cơ thể, gấp khúc 1-2 vòng trước lỗ thoát (Nguyễn Thị Lê, 1968) [14].
1.3.3.2 Loài Echinostoma miyagawai Ishii, 1932
Echinostoma miyagawai ký sinh ở ruột vịt, ngỗng, ngan, gà, gà tây, bồ
câu, mòng két, cu gáy, cu sen, cu ngói Phân bố ở Việt Nam, Nhật Bản, SNG
Theo Nguyễn Thị Lê (1993) [20] vòng ñời phát triển của sán qua 2 vật
chủ trung gian Vật chủ trung gian thứ nhất là các loài ốc: Gyraulus
convexiusculus, Hippeutis umbilicalus, Polypylis hemisphaerula (họ Planorbidae), Lymnaea viridis Vật chủ trung gian thứ nhất là các loài ốc: Gyraulus convexiusculus, Parafossarulus striatulus, Digoniostoma siamenense, Lymnaea swinhoei và ấu trùng chuồn chuồn Thời gian phát triển
từ trứng ñến miracidium từ 8-22 ngày (phụ thuộc vào nhiệt ñộ môi trường) Ở vật chủ trung gian thứ nhất miracidium phát triển thành cercaria trưởng thành mất 16 ngày Trong vật chủ chính metacercaria phát triển thành sán trưởng
thành sau 12-14 Tuổi thọ của sán trưởng thành trong vật chủ là 35-40 ngày
Sán có kích thước thay ñổi tùy thuộc vật chủ, theo số lượng và tuổi sán
lá Kích thước chiều dài từ 9,10-9,44 mm, chiều rộng từ 1,65-1,83 mm Các giác bám phát triển, viền cổ có 37 móc gồm 13 móc lưng xếp thành hai hàng,
7 móc bên, 5 móc thùy bụng ở mỗi bên Tinh hoàn phân 3-7 thùy Tuyến noãn hoàng bắt ñầu sau giác bụng, kéo dài về phía sau cơ thể và lấp khoảng trống ở phía sau tinh hoàn và che lấp cả hai mút ruột Ống bài tiết thẳng
1.3.3.3 Loài Hypoderaeum conoideum Blochs, 1782
Kaufmann (1996) [57] cho biết loài Hypoderaeum conoideum ký sinh ở
vịt, ngỗng, chim bơi khác và vòng ñời phát triển có 2 vật chủ trung gian Abuladze K.I (1990) [39] cho biết Hypoderaeum conoideum dài 8-11 mm,
rộng ñến 1,6 mm Đĩa ñầu phát triển và có 47-53 gai nhỏ xếp thành hai hàng Trứng
sán hình ôvan, kích thước 0,1 x 0,6 mm Vật chủ trung gian là ốc Lymnae, Radix,
Galba; vật chủ bổ sung là nhuyễn thể trên và nòng nọc, ếch, nhái
Trang 35Theo Nguyễn Thị Lê (2000) [23] loài Hypoderaeum conoideum ký sinh
ở ruột vịt, ngỗng, ngan, gà, gà tây Phân bố ở một số vùng của Việt Nam, Châu Âu, Trung Quốc, Nhật Bản Vòng ñời phát triển qua 2 vật chủ trung
gian Vật chủ trung ian thứ nhất là ốc Lymnaea swinhoei, Lymnaea viridis Vật chủ trung gian thứ hai là các loài ốc: Lymnaea swinhoei, Lymnaea viridis,
Parafossarulus striatuslus, Cyclops lecythoides và ấu trùng chuồn chuồn
Đặc ñiểm hình thái cấu tạo: Cơ thể sán dài 8,02-13,26 mm, rộng 2,02 mm Đầu ngắn, giác bám kém phát triển Có 47-53 móc bé xếp thành 2 hàng Đường kính giác miệng 0,165-0,276 mm Giác bụng lớn nằm gần giác miệng, ñường kính 0,828-1,131mm Thực quản 0,13 mm Hai nhánh ruột chẻ ñôi trước giác bụng kéo dài ñến tận mút sau cơ thể Lỗ sinh dục nằm ngay sau nhánh ruột chẻ ñôi Buồng trứng hình ôvan nằm ngang phía trước tinh hoàn Tuyến noãn hoàn bắt ñầu từ phía sau giác bụng kéo dài ñến mút sau cơ thể nhưng không che lấp hai mút ruột Tử cung chứ nhiều trứng, kích thước trứng 0,082-0,090 x 0,055-0,060 mm Trong cơ thể vật chủ chính, sán ñạt ñến giai ñoạn phát dục sau 10-15 ngày [21]
1,39-1.3.3.4 Loài Notocotylus indicus Lal, 1935
Nguyễn Thị Lê (2000) [23] cho biết loài Notocotylus indicus ký sinh ở
manh tràng vịt nhà và ñã ñược phát hiện thấy ở Việt Nam (Hải Phòng, Nam Định), Ấn Độ
Hình thái cấu tạo, cơ thể dài 2,18mm, rộng 0,63 mm Có 3 dãy tuyến bụng, dãy ở giữa gồm có 16 tuyến, hai dãy bên có 17 tuyến Giác miệng ở gần mút cơ thể Không có hầu Thực quản dài 0,075 mm Hai nhánh ruột kéo dài ñến mút sau cơ thể, sau buồng trứng Hai tinh hoàn nằm ñối xứng nhau ở bên ngoài hai nhánh ruột, mép ngoài phân thùy, mép trong phẳng hơn Lỗ sinh dục mở ra ở ngay sau chỗ nhánh ruột chẻ ñôi Buồng trứng có 10 thùy, nằm giữa hai nhánh ruột Trứng nhiều, kích thước 0,018-0,011 mm, hai cực có hai râu dài
Trang 36Notocotylus indicus có vật chủ trung gian là nhuyễn thể nước ngọt Planorbis và Lymnaea (Abuladze K.I., 1990) [39]
1.3.3.5 Loài Microsomacanthus compressa (Linton, 1892) Lopez-Neyra, 1942
Nguyễn Thị Kỳ (2003) [8] cho biết loài Microsomacanthus compressa
ký sinh ở ruột vịt nhà, phân bố rộng ở trong nước và trên thế giới Sán dài 20
mm, rộng 0,74 mm Đầu có vòi kéo dài 0,34 mm, rộng 0,18 mm Giác bám hình bầu dục, kích thước 0,14 x 0,095 mm Vòi 0,174 x 0,028-0,034 mm, có
10 móc dài 0,055-0,057 mm Cổ ngắn 0,07-0,08 x 0,10 mm Chuỗi ñốt kéo dài theo chiều ngang Có hai ñôi ống bài tiết Lỗ sinh dục mở ra ở một phía,
mở ra ở 1/3 phía trên bờ ñốt Ba tinh hoàn có ñường kính 0,120-0,158 mm, xếp theo hình tam giác Nang lông gai bó thành sợi cơ dọc dày rất phát triển Tuyến sinh dục cái ở giữa ñốt Noãn hoàn hình khối, phân thùy yếu Buồng trứng nhiều thùy, rộng 0,34-0,36 mm Phần giao cấu của âm ñạo mảnh, dài 0,15mm Tử cung hình túi
Trứng tròn 0,056-0,060 x 0,074 mm, phôi có 6 móc hình bầu dục 0,031-0,036 x 0,025 0,028 mm
Sán có vòng ñời phát triển với sự tham gia của vật chủ trung gian là các
loài thuộc lớp giáp xác nước ngọt như Macrocyclops albidus, Cyclops
stremus, Acanthocyclops viridis, Acanthocyclops bicuspidatus, Eucyclops serrulatus, Mesocyclop crassus, Mesocyclops leucarti, Mesocyclops oithonoides, Paracyclops fimbrriatus
Vật chủ chứa là những ñộng vật thuộc bộ thân mềm Coretus: Planorbis
planorbis, Lymnaea ovata, Lymnaea perega, Lymnaea stanalis, Viviparus viviparus, Radix auricularia, Radix ovata, Lymnaea stagnalis, galba palustris, Valvata cristata Trứng sán lá thep phân ra ngoài, vật chủ trung gian
ăn phải phát triển thành cysticercoid, vịt ăn phải vật chủ trung gian chứa ấu
trùng sẽ phát triển thành sán trưởng thành sau 11-12 ngày
Trang 371.3.3.6 Loài Tetrameres fissispina Diesing, 1861
Theo Phan Thế Việt (1984) [38], loài Tetrameres fissispina ký sinh ở
dạ dày tuyến của vịt, gà, bồ câu, ngan, ngỗng; phân bố rộng ở Việt Nam và nhiều nước khác
Đặc ñiểm hình thái cấu tạo: mút ñầu có hai môi nhỏ, xoang miệng thấy
rõ nhưng không có mấu cutin ở ñầu Thực quản chia thành hai phần: phần cơ ngắn và phần tuyến dài Con ñực: dài 3,2-3,9 mm, tiểu bì có những vạch ngang Có 4 hàng gai chạy dọc cơ thể Cánh bên trải dài từ mút ñầu ñến lỗ huyệt Cánh bên hóa cutin yếu, ñược bắt ñầu từ gốc môi kéo dài và kết thúc bằng 2 dãy gai nhọn, cách mút ñầu 0,069 mm Thực quản dài (phần cơ 0,23-0,26 mm và phần tuyến dài 0,97-1,23 mm) Ruột mở rộng ra dạng túi và cuối cùng là hậu môn cách mút ñuôi 0,083 mm Gai sinh dục lớn dài 0,37-0,49
mm, gai sinh dục nhỏ dài 0,165-0,198 mm Phần phụ của ñuôi có dạng hình nón, có các gai nhỏ, trong ñó có 5 ñôi nằm ở phía lưng và 3 ñôi nằm ở phía bụng Tử cung vòng vèo lấp ñầy xoang cơ thể Lỗ sinh dục cái mút ñuôi 0,10-0,14 mm [21]
Giun có chu kỳ phát triển gián tiếp (giun sán ký sinh sinh học) Trong chu kỳ phát triển ngoài các vật chủ trung gian là giáp xác còn có thể có mặt của vật chủ chứa lá cá [38] Chu kỳ phát triển của loài Tetrameres fissispina
có sự tham gia của vật chủ trung gian là các loài tôm, cá hoặc bộ bơi nghiêng (Lương Văn Huấn, 1996) [10]
1.4 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU BỆNH GIUN SÁN Ở VỊT 1.4.1 Một số nghiên cứu về bệnh học
Theo Đỗ Dương Thái, Trịnh Văn Thịnh (1978) [32] thì giun sán thường
ký sinh trong ñường tiêu hóa gây viêm niêm mạc ñường tiêu hóa và các tuyến tiêu hóa (ruột non, gan) Hầu hết giun sán gây những tác ñộng cơ giới, ngăn trở ít hay nhiều hoạt ñộng của các khí quan mà chúng ký sinh: giun ñũa làm
tắt ruột non, các kén của ấu trùng sán dây Echinococus ép và phá hoại mô
Trang 38gan, sán lá (giác bám, móc bám) làm cho niêm mạc xuất huyết, gây viêm cấp tính hay mãn tính ở ruột, gan, phổi
Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [5] cho biết các móc bám, giác bám, ñầu hút của giun sán khi ký sinh bám vào các cơ quan gây ra những tổn thương cơ học dẫn ñến viêm loét, xuất huyết và hoại tử ở các nội quan, ñặc biệt ở bộ phận tiêu hóa Quá trình ký sinh ñể sinh trưởng và sinh sản giun sán giun sán lấy nhiều chất dinh dưỡng từ ký chủ
Nguyễn Thị Lê (1998) [22] cho rằng ñôi khi vật ký sinh không dùng trực tiếp thức ăn của vật chủ mà lấy các vitamin của vật chủ làm thức ăn của mình, hoặc tiết ra các chất ức chế các men và phân hủy khả năng trao ñổi chất bình thường của cơ thể vật chủ
Tác dụng chiếm ñoạt chất dinh dưỡng diễn ra liên tục trong thời gian dài của số lượng lớn các loài giun sán cùng ký sinh gây tổn hại rất lớn làm con vật còi cọc, thiếu máu, gầy còm, có thể gây chết Đây là tác ñộng bắt buộc ñối với giun sán bởi chúng phải tự nuôi bằng ăn các mô (tế bào thượng bì), cướp một phần thức ăn mà ký chủ ñã tiêu hóa trước (giun sán thường tập trung ở tá tràng là chỗ nhiều dưỡng chất), hút máu ký chủ [32]
Trong quá trình sống một số giun sán phân tiết và bài xuất những chất ñộc thường xuyên ñưa vào ký chủ, ký chủ hấp thu và bị trúng ñộc, biểu hiện thành những biến loạn thần kinh (co giật, run rẩy, xiêu vẹo, có thể bị bại liệt, ), gây dung huyết, thiếu máu Độc chất do ấu trùng tiết ra tác ñộng mạnh hơn so với giun sán trưởng thành Súc vật non bị nặng hơn so với súc vật trưởng thành [32]
Bệnh ký sinh trùng là cửa ngõ ñể các mầm bệnh khác xâm nhập, những tác ñộng do giun sán ký sinh vào vật chủ tạo ra những vết thương, giảm sức
ñề kháng làm cho vật chủ dễ mắc các bệnh truyền nhiễm mãn tính và các bệnh ký sinh trùng khác Khi mắc bệnh giun sán vịt dễ bị nhiễm kế phát các
bệnh truyền nhiễm như bệnh thương hàn (Samonellosis), dịch tả vịt [13]
Trang 39Đối với sán lá, khi vịt bị nhiễm với cường độ cao, biểu hiện: yếu tồn thân, ỉa chảy kiệt sức nhanh, ngừng sinh trưởng, phát triển, thường bị chết do kiệt sức Do giác bám và gai bám cutin trên thân sán kích thích niêm mạc ruột, gây viêm chảy máu, viêm cata ở từng vùng ruột [5]
Đối với sán dây, theo Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân (2001) [13] sán trưởng thành và ấu trùng sán trong quá trình ký sinh cắm các mĩc bám vào vách ruột gây tổn thương niêm mạc ruột, gây nhiễm trùng đường tiêu hĩa và viêm ruột Vịt bị nhiễm ở cường độ nặng cĩ biểu hiện gầy yếu, suy nhược, lơng xơ xác, ỉa chảy, đơi khi phân lẫn máu, mất khả năng sinh sản và cĩ thể chết do kiệt sức
1.4.2 Một số nghiên cứu về phịng trị bệnh giun sán
1.4.2.1 Một số nghiên cứu về chẩn đốn bệnh
Hồ Văn Nam (1982) [26] và Cao Xuân Ngọc (1997) [27] đã đưa ra phương pháp chẩn đốn trên động vật sống để theo dõi triệu chứng lâm sàng
và phương pháp giải phẫu bệnh để xác định bệnh
Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978) [32] cho rằng: chẩn đốn bệnh giun sán khơng thể chỉ dựa vào triệu chứng lâm sàng như các bệnh khác,
vì triệu chứng của bệnh giun sán khơng điển hình nên cần phải tìm thấy căn bệnh bằng cách phát hiện trứng, ấu trùng hoặc giun sán trưởng thành
Hà Duy Ngọ (1990) [28] cho biết: phương pháp kiểm tra tìm trứng, ấu trùng là những phương pháp kinh điển chủ yếu để xác định giun sán ký sinh đường tiêu hĩa ở vật chủ
Phương pháp mổ khám tồn phần và từng phần để tìm giun sán trưởng
ở các nội quan (Skrjabin K.I và Petrov A.M., 1963) [31]
Theo Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978) [32] thì phương pháp chẩn đốn biến thái cũng được thử nghiệm để chẩn đốn bệnh giun sán ở động vật nước ta nhưng độ chính xác chưa cao
Trang 401.4.2.2 Một số nghiên cứu về hóa dược ñiều trị bệnh giun sán cho vịt
Theo Phạm Sĩ Lăng, Phan Địch Lân (2001) [13] ñể phòng và ñiều trị bệnh sán lá ruột gia cầm dùng một trong những loại thuốc như: CCl4 với liều 2-4ml/kg P bằng cách tiêm qua diều hoặc cho uống qua ống cao su; Arecolin với liều 0,002 g/kg P, pha dưới dạng dung dịch nồng ñộ 1:1000, cho uống riêng từng con; Filixan liều 0,3-0,4 g/kg P, trộn với thức ăn
Một số loại thuốc tẩy sán dây như: nước sắt hạt cau (100 g hạt cau tươi thái nhỏ, 400 ml nước ñun sôi lấy 100 ml nước sắt), 3 ml/kg P, cho uống 2 lần cách nhau 1 tuần; Niclosamide 50-200 mg/kg P, trộn với thức ăn cho ăn; Menbenvet liều 1 g/kg P, cho ăn trong 3 ngày; Fenbendazole liều 100 ppm, trộn thứa ăn trong 4 ngày; Praziquantel liều 10 mg/kg P; Oxfendazole liều 10 mg/kg P Để phòng bệnh sán dây cần ñịnh kỳ 4 tháng tẩy 1 lần, dùng Sulfat ñồng (1g sulfat ñồng trong 1 lít nước, ñun sôi, ñể nguội thêm vào 1-2 thìa cà phê HCl) cho vịt uống vào buổi sáng từ 3-5 ngày [5]
Phan Lục (2006) [25] ñã dùng một trong những thuốc: Devermin liều
60 mg/kg P cho ăn, Fenbendazole liều 40 mg/kg P cho ăn; Praziquantel liều 20-25 mg/kg P; Febendazole liều 10-50 mg/kg P cho ăn; Arecolin 0,002 g/kg
P ñể ñiều trị có hiệu quả bệnh sán lá ruột cho vịt Sử dụng Praziquantel 10 mg/kg P, Niclosamide 50-200 mg/kg P, Fenbendazole 60-100 ppm có tác dụng tẩy sán dây ở gia cầm [25]
Nguyễn Hữu Hưng (2006) [11], dùng Albendazole, Fenbendazole và Menbendazole ñiều trị giun sán trên vịt Kết quả thử nghiệm cho thấy: thuốc Albendazole với liều 50 mg/kg thể trọng, trộn vào thức ăn liên tục 7 ngày cho hiệu quả tẩy sạch sán lá ruột là 100%; thuốc Fenbendazole với liều 8 mg/kg thể trọng và thuốc Menbendazole với liều 20 mg/kg thể trọng cho ăn liên tục trong 7 ngày, cho hiệu quả cao trong việc tẩy trừ sán lá ruột và sán dây
Nguyễn Xuân Dương (2008) [4], dùng thuốc Ivermectin, Menbendazole, Praziquantel và Oxfendazole ñiều trị giun sán trên vịt Kết