Tập trung huy động đầy đủ, kịp thời số thu cho ngân sách Nhà nướcNSNN trên cơ sở không ngừng nuôi dưỡng và phát triển nguồn thu; đồng thời đòihỏi phải đảm bảo một cơ chế quản lý phù hợp,
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Thuế là vấn đề đại cục của mỗi Quốc gia Ngày nay trong tiến trình hội nhậpthuế lại đang có vị thế lớn trong chiến lược toàn cầu hoá Vậy là việc quản lý thuếmặc nhiên trở thành yêu cầu bức thiết của các Nhà nước, dù đó là Nhà nước pháttriển hay đang phát triển Những tri thức về thuế và quản lý thuế đang là nhu cầuthường trực không chỉ đối với các nhà quản lý, với các doanh nhân mà còn phổ cậpđến tất cả mọi công dân Chính vì vậy, các nhà kinh tế, các nhà quản lý luôn quantâm nghiên cứu về chính sách thuế của quốc gia nói chung và của từng địa phươngnói riêng Trọng tâm của các nghiên cứu là làm thế nào để công tác quản lý thuế cóhiệu quả Tập trung huy động đầy đủ, kịp thời số thu cho ngân sách Nhà nước(NSNN) trên cơ sở không ngừng nuôi dưỡng và phát triển nguồn thu; đồng thời đòihỏi phải đảm bảo một cơ chế quản lý phù hợp, giảm thiểu các tắc trách, phiền hà,giảm chi phí cho cơ quan thuế, người nộp thuế; góp phần phát huy tác dụng điềutiết vĩ mô nền kinh tế, thực hiện công bằng xã hội; từ đó để tái đầu tư phát triểnkinh tế - xã hội
Huyện Quảng điền tỉnh Thừa Thiên Huế được tái lập lại từ năm 1990, đãnhanh chóng cùng với cả tỉnh tạo thế, tạo đà vững bước đi lên; xây dựng huyện trởthành một trung tâm kinh tế - văn hoá ngày càng vững mạnh Trong quá trình pháttriển kinh tế, huyện đã luôn quan tâm xây dựng cơ sở hạ tầng, trung tâm thưongmại và các chợ nông thôn, qui hoạch các khu dành cho phát triển công nghiệp, tiểuthủ công nghiệp (TTCN), làng nghề truyền thống, kinh tế trang trại nhằm tạo điềukiện cho các doanh nghiệp trên địa bàn đầu tư vốn vào lĩnh vực kinh doanh tạonguồn thu lâu dài và vững chắc cho ngân sách địa phương, đáp ứng được nhiệm vụchi tiêu ngày càng tăng của huyện
Kết quả thu ngân sách qua các năm ngày càng tăng, nhờ hệ thống chính sáchthuế ngày càng được bổ sung và hoàn thiện, thực hiện chương trình cải cách vàhiện đại hoá hệ thống thuế đến năm 2010; trình độ nhận thức, tính tuân thủ phápluật về thuế của người nộp thuế (NNT) cũng như trình độ chuyên môn nghiệp của
Trang 2đội ngũ công chức thuế được nâng lên, tổ chức bộ máy ngày càng hoàn thiện, tinhgọn tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD) phát triển, nuôidưỡng được nguồn thu, tăng hiệu lực, hiệu quả trong quản lý thuế Tuy nhiện, hệthống chính sách thuế chưa bổ sung kịp thời và thay đổi cho phù hợp với tiến trìnhhội nhập kinh tế quốc tế; các qui trình nghiệp vụ quản lý thuế chưa đồng bộ, thiếukhoa học, chưa ứng dụng đươc những tiến bộ của công nghệ thông tin trong côngtác quản lý thuế như khai thuế, tính thuế, nộp thuế Tổ chức bộ máy vẫn còn bấtcập như số lượng công chức quá đông, trình độ chuyên môn nghiệp vụ chưa đápứng được yêu cầu của công cuộc cải cách hệ thống thuế dẫn đến tình trạng lạm thu,thất thu thuế xảy ra phổ biến Thủ tục hành chính rườm rà, chắp vá, trách nhiệm vàquyền hạn không rõ ràng, quan hệ phối hợp không chặt chẽ, tham nhũng và lãngphí là những biểu hiện cụ thể của một phương pháp làm việc thiếu khoa học.Trong điều tiết vĩ mô nền kinh tế thì chưa phát huy hết tác dụng của công cụ thuế
để đẩy mạnh SXKD có lợi cho quốc kế dân sinh, thực hiện đóng góp hợp lý, công
bằng cho NSNN Xuất phát từ đó, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Nâng cao hiệu quả quản lý thuế để phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện Quảng Điền tỉnh Thừa Thiên - Huế” làm luận văn thạc sĩ
Thứ nhất, Luận văn góp phần hệ thống hoá những vấn đề lý luận và thực tiển
về thuế, công tác quản lý thuế;
Thứ hai, Phân tích đánh giá thực trạng về công tác quản lý thuế trên địa bàn
huyện Quảng điền tỉnh Thừa Thiên - Huế giai đoạn 2004 - 2006;
Thứ ba, Kiến nghị, đề xuất những giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác
quản lý thuế, phấn đấu thu ngân sách trên địa bàn đạt 40 tỷ đồng vào năm 2010
Trang 33 Phương pháp nghiên cứu
3.1 Phương pháp chung
Hiệu quả quản lý thuế phụ thuộc và nhiều yếu tố, như lựa chọn ban hành hệ
thống các luật thuế sao cho phù hợp với thông lệ quốc tế; tình hình kinh tế, phongtục tập quán của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ; Chính sách thuế phải bao quát hếtđược các nguồn thu, đảm bảo tính công bằng, đơn giản, dễ thực hiện và dễ kiểm tra.Việc tổ chức triển khai thực hiện công tác quản lý thuế có mối quan hệ tác động qualại, hỗ trợ và thúc đẩy lẫn nhau, dựa trên cơ sở của phép duy vật biện chứng.Phương pháp này được vận dụng xuyên suốt trong cả quá trình nghiên cứu từ việc
hệ thống hoá lý luận, phân tích đánh giá thực trạng; xác định các nhân tố ảnh hưởng
để đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý thuế
3.2 Các phương pháp cụ thể
* Phương pháp thu thập số liệu
+ Số liệu thứ cấp cần thiết cho đề tài được thu thập từ các nguồn: Cục Thốngkê; Phòng Thống kê; Chi cục thuế huyện Quảng Điền Ngoài ra luận văn cũng đã sửdụng số liệu từ các báo cáo khoa học, luận văn và các công trình nghiên cứu khoahọc của nhiều tác giả về lĩnh vực mà đề tài quan tâm
+ Số liệu sơ cấp: Tôi tiến hành thu thập bằng cách phát phiếu khảo sát điều tratheo mẫu đã chuẩn bị sẳn Phiếu điều tra được xác định dựa trên số lượng doanhnghiệp kinh doanh sản xuất, công chức quản lý thuế trên địa bàn, ngoài ra khảo sátthêm một số doanh nghiệp, công chức thuế trên địa bàn Thành Phố Huế, nhằm đánhgiá mức độ hài lòng của NNT về nội dung chính sách thuế; công tác quản lý thuế
* Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu
Trong quá trình nghiên cứu tác giả sử dụng hệ thống các phương pháp thống
kê để thu thập, tổng hợp và phân tích số liệu
- Tổng hợp số liệu: Từ các số liệu thu thập được, kết hợp phiếu khảo sát điềutra, tiến hành trên cơ sở phương pháp phân tổ thống kê theo các tiêu thức khác nhau,tùy theo nội dung của chỉ tiêu nghiên cứu, xây dựng hệ thống biểu bảng để phântích, đánh giá tình hình quản lý thuế
Trang 4- Phương pháp xữ lý, phân tích số liệu: Trên cơ sở số liệu đã được thu thập,tổng hợp, tiến hành xữ lý và phân tích số liệu theo các phương pháp phân tích thống
kê, phân tích kinh tế và các phương pháp phân tích chuyên ngành khác; Đồng thời
sử dụng phương pháp phân tích phương sai (ANOVA); sử dụng phần mềm SPSS đểthống kê giá trị trung bình, tần số, tần suất và các chỉ tiêu khác; phân tích các nhân
tố theo tiêu thức giới tính, trình độ chuyên môn, số năm công tác, đơn vị công tác vềđánh giá mức độ hài lòng của NNT về nội dung chính sách thuế, tình hình tổ chứcthực hiện các luật thuế, hiệu quả công tác quản lý thuế
*Phương pháp chuyên gia và chuyên khảo
Để làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cũng như các chỉ tiêu đánh giá hiệu quảquản lý thuế trong giai đoạn cải cách và hiện đại hoá hệ thống thuế hiện nay, trongquá trình thực hiện đề tài tôi còn sử dụng phương pháp thu thập thông tin từ cácchuyên gia, chuyên viên, các nhà quản lý của Tổng cục thuế, Cục thuế Thừa Thiên -Huế để rút ra những kết luận có căn cứ khoa học và thực tiễn
4 Phạm vi nghiên cứu:
4.1 Nội dung và đối tượng nghiên cứu: Các sắc thuế chủ yếu và các đối
tượng chịu thuế; hiệu quả quản lý thuế
4.2 Không gian: Địa bàn huyện Quảng Điền tỉnh Thừa Thiên Huế.
4.3 Thời gian: Phân tích đánh giá thực trạng công tác quản lý thuế giai đoạn
2004 - 2006 và đề xuất các giải pháp đến năm 2010
Từ kết quả thu thuế qua từng năm, phân tích ưu, nhược điểm và những tồn tại,tác động đến số thu ngân sách, đến sự thúc đẩy phát triển kinh tế, thực hiện côngbằng xã hội trong động viên đóng góp; nghiên cứu các nguyên nhân tồn tại về mặtchính sách, chế độ, về tổ chức quản lý thu thuế, về đối tượng nộp thuế để đưa ranhững giải pháp khả thi về công tác quản lý thuế trong thời gian tới
Luận văn gồm 3 phần: Phần mở đầu, kết luận, phần chính của luận văn gồm
ba chương
Chương 1: Tổng quan tài liệu về thuế và công tác quản lý thuế;
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý thuế trên địa bàn huyện Quảng Điền;
Trang 5Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thuế để phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện Quảng Điền.
Trang 6CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VỀ THUẾ, QUẢN LÝ THUẾ 1.1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THUẾ
1.1.1 Khái niệm
Trong các sách báo kinh tế trên thế giới, cho đến nay vẫn chưa có sự thốngnhất tuyệt đối khái niệm về thuế Nhiều quan điểm đưa ra mới nhìn nhận từ nhữngkhía cạnh khác nhau của thuế nên chưa phản ánh đầy đủ bản chất chung nhất củaphạm trù này Theo các nhà kinh điển thì thuế được quan niệm rất đơn giản, C Mác
đã chỉ rõ: “ Để duy trì quyền lực công cộng đó, cần phải có những sự đóng góp củangười công dân của Nhà nước đó là thuế má ” [13,22]
Sau này khái niệm về thuế ngày càng được bổ sung và hoàn thiện hơn Gầnđây trong một số công trình nghiên cứu về thuế các nhà kinh tế cho rằng, để vạch rõbản chất của thuế thì trong định nghĩa phải nêu bật được các khía cạnh sau: Thứnhất, nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi các mối quan hệ tiền tệ giữa Nhànước với các pháp nhân và các thể nhân trong xã hội; Thứ hai, những mối quan hệdưới dạng tiền tệ này được nảy sinh một cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặcbiệt - việc chuyển giao thu nhập có tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh của Nhànước; Thứ ba, xét theo khía cạnh luật pháp, thuế là một khoản nộp cho Nhà nướcđược pháp luật qui định theo mức thu và thời hạn nhất định Từ những nội dung trên
có thể nêu lên khái niệm tổng quát về thuế như sau:
Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo các mức độ và thời hạn được pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng [13,25]
Trong thực tế, ở nước ta hiện nay khi hình thành quỹ tiền tệ tập trung, Nhànước thực hiện các chức năng của mình trong đó có chức năng quản lý và xây dựngkinh tế thông qua việc kiến thiết, xây dựng, phát triển cơ sở hạ tầng và các côngtrình phúc lợi xã hội khác thì NNT thông qua đó đựơc hưởng một phần kết quả nộpthuế của mình Như vậy thuế ở nước ta là một khoản thu bắt buộc, không được hoàn
Trang 7trả trực tiếp cho NNT nhưng họ được gián tiếp hưởng lợi do chính sách đầu tư, pháttriển của Nhà nước cho các công trình phúc lợi xã hội khác nhau
1.1.2 Bản chất của thuế
Từ khái niệm thuế nói trên ta có thể tìm hiểu bản chất của thuế được thể hiệnbởi các thuộc tính bên trong vốn có của thuế Những thuộc tính đó có tính ổn địnhtương đối qua từng giai đoạn phát triển và biểu hiện thành những đặc trưng riêng cócủa thuế, qua đó giúp ta phân biệt giữa thuế và công cụ tài chính khác Những đặctrưng đó là:
Tính chất bắt buộc của việc chuyển giao thu nhập bắt nguồn từ những lý do sau :
Thứ nhất, hình thức chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế không gắn với
lợi ích cụ thể của NNT, do đó không thể sử dụng phương pháp tự nguyện trong việcchuyển giao Để đảm bảo nhu cầu chi tiêu công cộng Nhà nước tất yếu phải sử dụngquyền lực chính trị để bắt buộc các đối tượng có thu nhập phải chuyển giao
Thứ hai, trong một xã hội văn minh nhu cầu của các thành viên cộng đồng về
hàng hoá công cộng ngày càng tăng mà phần lớn hàng hoá này lại do Nhà nướccung cấp Để duy trì hoạt động cung cấp hàng hóa công cộng thì thu nhập về hànghoá công cộng từ những người thụ hưởng phải bù đắp các chi phí bỏ ra Nhưnghàng hoá công cộng lại có tính chất đặc biệt, nó không thể phân bổ theo khẩu phần
để sử dụng và người thụ hưởng cũng không muốn sử dụng theo khẩu phần Mặtkhác, hàng hoá công cộng không có tính cạnh tranh và không thể đem trao đổi trực
Trang 8tiếp trên thị trường để bù đắp các chi phí Chính vì vậy trong việc cung cấp hànghóa công cộng đã xuất hiện những “người ăn không”, nghĩa là không ai tự nguyệntrả tiền cho việc thụ hưởng hàng hóa công cộng Do đó, để đảm bảo cung cấp hànghoá công cộng Nhà nước chỉ có thể sử dụng phương pháp thuế để buộc tất cả mọingười, kể cả “người ăn không” phải chuyển giao thu nhập của mình sang khu vựccông.
Tuy nhiên, tính bắt buộc của thuế không có nội dung hình sự, nghĩa là hànhđộng đóng thuế cho Nhà nước không phải là hành động xuất hiện khi có biểu hiệnphạm pháp, mà hành động đóng thuế là hành động thực hiện nghĩa vụ của ngườicông dân
Từ đặc trưng này, thuế không giống như các hình thức huy động tài chínhkhác của NSNN như phí, lệ phí, công trái, hoặc hình thức phạt bằng tiền Hình thứcphí, lệ phí và công trái nói chung mang tính tự nguyện và có tính chất đối giá Cònphạt tiền cũng là hình thức bắt buộc, song việc phạt bằng tiền chỉ xảy ra đối vớingười nộp phạt khi có hành vi vi phạm luật lệ làm phương hại đến lợi ích Nhà nướchoặc cộng đồng
1.1.2.2 Tính không hoàn trả trực tiếp
Tính chất không hoàn trả trực tiếp của thuế được thể hiện ở chỗ: thuế đượchoàn trả gián tiếp cho NNT thông qua các dịch vụ công cộng của Nhà nước Sựkhông hoàn trả trực tiếp được thể hiện cả trước và sau khi thu thuế Trước khi thuthuế, Nhà nước không hề cung ứng trực tiếp một dịch vụ công cộng nào cho NNT.Sau khi nộp thuế, Nhà nước cũng không có sự bồi hoàn trực tiếp nào cho NNT.Cũng như vậy, NNT không hề phản đối việc thực hiện nghĩa vụ thuế với lý do họkhông được hoặc ít được sử dụng các dịch vụ công cộng NNT cũng không cóquyền đòi hỏi được thừa hưởng nhiều dịch vụ công cộng hơn so với số thuế mà họphải trả và họ cũng không thể từ chối nộp thuế với lý do họ đã phải thanh toán chocác khoản chi trái với nguyên tắc này
Đặc điểm này giúp ta phân biệt sự khác nhau giữa thuế với các khoản phí, lệphí và tín dụng Nhà nước
Trang 91.1.2.3 Tính pháp lý cao
Đặc điểm này thể hiện thuế là một công cụ tài chính có tính pháp lý cao Điềunày được quyết định bởi quyền lực chính trị của Nhà nước Nhà nước là một tổ chứcchính trị, đại diện cho quyền lợi của giai cấp thống trị, thi hành các chính sách do giaicấp thống trị đặt ra để cai trị xã hội Vì vậy, để bắt buộc các công dân “ tự nguyện”nộp thuế thì Nhà nước phải sử dụng đến quyền lực của mình, quyền lực ấy được thểhiện bằng luật pháp, Nhà kinh tế học Jóeph E.Stiglitz nói rằng: “Việc chuyển giao bắtbuộc này giống như là ăn trộm, chỉ có một điểm khác chủ yếu là: trong khi cả haicách chuyển đều là không tự nguyện, thì cách chuyển qua Chính phủ có mang tấm áochoàng hợp pháp và sự tôn trọng do các quá trình chính trị ban cho” [13,28]
Tuy nhiên, để sự chuyển giao bắt buộc thông qua thuế diễn ra được “êm thấm”,mặc dù quá trình đó được thực hiện dưới sự bảo vệ của luật pháp, thì những qui địnhcủa pháp luật cũng không được mang tính tùy tiện mà phải dựa trên những cơ sởkhoa học nhất định Vì vậy, trong Luật thuế thường xác định trước các yếu tố có tínhchất điều chỉnh hành vi nộp thuế như: đối tượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế, mứcthuế phải nộp, thời hạn cụ thể và những chế tài mang tính cưỡng chế khác
Tóm lại, những thuộc tính cơ bản trên đây của thuế đã phản ánh bản chất vànội dung bên trong của thuế Từ những thuộc tính đó giúp ta phân biệt thuế với các
hình thức động viên khác của NSNN trên nhiều phương diện khác nhau.
1.1.3 Chức năng của thuế
Chức năng của một sự vật hay một đối tượng nào đó là sự thể hiện công dụngvốn có của nó Đối với một phạm trù kinh tế chức năng nó phản ánh bản chất sự tácđộng của nó, là một phương thức đặc biệt biểu hiện những thuộc tính vốn có củaphạm trù Cũng như bản chất, chức năng cũng có tính ổn định tương đối trong suốtthời gian tồn tại của sự vật hay đối tượng
Thuế không những là một phạm trù kinh tế mà còn là phạm trù tài chính Do
đó, thuế không chỉ mang trong mình những thuộc tính chung vốn có của các quan
hệ tài chính, mà còn biểu hiện những đặc trưng, hình thức vận động và các chứcnăng riêng có bắt nguồn từ tổng thể các mối quan hệ tài chính
Trang 10Cho đến nay trên các sách báo kinh tế trong nước và trên thế giới cũng chưa
có sự thống nhất trong việc đưa ra số lượng các chức năng của thuế và tên gọi củachúng Có tác giả đưa ra hai chức năng của thuế là chức năng ngân khố và chứcnăng kinh tế Người khác lại cho rằng thuế có ba chức năng: ngân khố, kiểm tra vàphân phối thu nhập
Với quan niệm như trên, soi rọi vào quá trình ra đời, tồn tại và phát triển củathuế, chúng ta thấy thuế luôn thực hiện hai chức năng cơ bản: chức năng huy độngnguồn lực tài chính cho Nhà nước và chức năng điều tiết kinh tế
1.1.3.1 Huy động nguồn lực tài chính cho Nhà nước
Ngay từ lúc phát sinh thuế luôn luôn có công dụng là phương tiện động viênnguồn tài chính cho Nhà nước Người ta gọi công dụng này là chức năng huy độngnguồn lực tài chính của thuế
Đây là chức năng cơ bản của thuế, đặc trưng cho tất cả các dạng Nhà nước Vềmặt lịch sử, chức năng huy động nguồn lực tài chính là chức năng đầu tiên phản ánhnguyên nhân nảy sinh ra thuế
Nhờ chức năng huy động nguồn lực tài chính mà quỷ tiền tệ tập trung của Nhànước được hình thành, qua đó đảm bảo cơ sở vật chất cho sự tồn tại và hoạt độngcủa nhà nước Chính chức năng này đã tạo ra những tiền đề để Nhà nước tiến hànhphân phối và phân phối lại tổng sản phẩm trong nước và thu nhập quốc gia trong xãhội
Sự phát triển và mở rộng các chức năng của Nhà nước đòi hỏi phải tăng cườngchi tiêu tài chính, do đó vai trò của chức năng huy động tập trung nguồn lực củathuế ngày càng được nâng cao Nhà nước thông qua thuế tiến hành phân phối một
bộ phận đáng kể tổng sản phẩm quốc nội Thuế trở thành nguồn thu chiếm tỷ trọnglớn nhất trong ngân sách các nước có nền kinh tế thị trường
Chức năng huy động nguồn lực tài chính tạo ra những tiền đề khách quan cho
sự điều tiết của Nhà nước đối với nền kinh tế Nói cách khác, quá trình huy động tậptrung nguồn lực thông qua thuế đã tự động làm xuất hiện chức năng điều tiết kinh tế
Trang 11của thuế Chức năng huy động nguuồn lực và chức năng điều tiết kinh tế có mốiquan hệ hữu cơ với nhau.
1.1.3.2 Điều tiết kinh tế
Chức năng điều tiết kinh tế của thuế mặc dù có cơ cở nảy sinh từ chức nănghuy động tập trung nguồn lực, nhưng chỉ được nhận thức và sử dụng rộng rãi từnhững năm đầu của thế kỷ XX khi vai trò điều tiết kinh tế của Nhà nước được thựchiện Việc tăng cường chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước dẫn đến tốc độ chitiêu công ngày càng lớn và hậu quả tất yếu đòi hỏi Nhà nước phải tăng nguồn lực tàichính Nhà nước, mà được hình thành chủ yếu từ thuế Nhu cầu về nguồn lực tàichính càng lớn thì sự cần thiết phải tăng cường các chức năng của thuế càng cấpbách, để tác động một cách hiệu quả đến nền kinh tế quốc dân Chính trong quátrình đó chức năng huy động tập trung nguồn lực tài chính và chức năng điều tiếtkinh tế của thuế đã được sử dụng một cách hiện thực
Điều đó có nghĩa là nội dung điều tiết theo một mục tiêu nào đó đã được lồngtrước vào trong quá trình huy động tập trung nguồn lực tài chính Bằng cách sửdụng nó để kích thích hoặc kìm hãm tốc độ tăng trưởng, tăng cường hoặc làm yếu đi
sự tích luỹ tư bản, mở rộng hoặc thu hẹp nhu cầu có khả năng thanh toán của dân
cư, đẩy nhanh hoặc làm chậm lại chu kỳ khủng hoảng kinh tế Nhà nước đã thựchiện điều tiết các hoạt động kinh tế - xã hội trên qui mô cả nước
Chức năng điều tiết kinh tế của thuế được thực hiện thông qua việc qui địnhcác hình thức thu thuế khác nhau, xác định đúng đắn đối tượng chịu thuế, xây dựngchính xác các mức thuế phải nộp có tính đến khả năng của NNT, sử dụng các ưu đãi
và miễn, giảm thuế Trên cơ sở đó, Nhà nước kích thích các hoạt động kinh tế đivào quỹ đạo chung, phù hợp lợi ích của xã hội Như vậy, bằng cách điều tiết và kíchthích, chức năng điều tiết kinh tế của thuế đã được thực hiện Trong điều kiệnchuyển sang nền kinh tế thị trường, vai trò kích thích kinh tế thông qua thuế ngàycàng được nâng cao Nhà nước sử dụng thuế để tác động đến lợi ích kinh tế của cácchủ thể kinh tế vì lợi ích của xã hội
Trang 12Giữa chức năng huy động nguồn lực tài chính và chức năng điều tiết kinh tế cómối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau Chức năng huy động nguồn lực tài chính nảysinh đồng thời với sự ra đời của thuế và được coi là chức năng cơ sở, qua đó qui định
sự tác động và sự phát triển của chức năng điều tiết Ngược lại, nhờ sự vận dụng đúngđắn chức năng điều tiết kinh tế đã làm cho chức năng huy động nguồn lực tài chínhcủa thuế có điều kiện phát triển Ý nghĩa của chức năng huy động nguồn lực tài chínhcàng tăng lên nhằm đảm bảo nguồn thu nhập cho Nhà nước đã tạo ra những điều kiệnkhách quan để Nhà nước tác động một cách sâu rộng đến các quá trình kinh tế và xãhội Điều đó tạo ra tiền đề tăng thêm thu nhập cho các doanh nghiệp và các tầng lớpdân cư, do đó mở rộng cơ sở chức năng huy động nguồn lực tài chính
Đó là sự thống nhất biện chứng giữa các chức năng của thuế Sự thống nhất đócũng không loại trừ những mặt mâu thuẫn Sự tăng cường chức năng huy động tậptrung tài chính làm cho mức thu nhập tài chính tăng lên Điều đó đồng nghĩa vớiviệc mở rộng khả năng của Nhà nước trong việc thực hiện chương trình kinh tế - xãhội Mặt khác, việc tăng cường chức năng huy động một cách quá mức sẽ làm tănggánh nặng thuế và hậu quả của nó là giảm động lực phát triển kinh tế và làm xóimòn vai trò điều tiết kinh tế Đó là tính hai mặt của thuế, nó có khả năng ảnh hưởngđến nền kinh tế một cách tích cực, nhưng cũng có thể ảnh hưởng một cách tiêu cực.Tính hai mặt của sự tác động đó cần phải được tính toán kỹ lưỡng trong tiến trìnhhoạch định chính sách thuế ở mỗi giai đoạn phát triển kinh tế khác nhau
1.1.4 Chính sách thuế và hệ thống thuế
1.1.4.1 Khái niệm
Chính sách thuế là tổng hoà phương hướng của Nhà nước trong lĩnh vực thuế
và các biện pháp để đạt được những mục tiêu đã định [12,39]
Chính sách thuế thể hiện đường lối và phương hướng động viên thu nhập dướihình thức thuế trong nền kinh tế quốc dân Chính sách thuế được thực hiện bằngcách thiết lập các văn bản pháp luật trong lĩnh vực nộp thuế, ban hành các loại thuế
và các ưu đãi về thuế trong từng giai đoạn phát triển nhất định Điều đó có nghĩa là
Trang 13chính sách thuế được thực hiện bằng cách thiết lập hệ thống thuế, cải cách thuế vàcủng cố hệ thống thuế.
Hệ thống thuế là tổng hợp các hình thức thuế khác nhau mà giữa chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau để thực hiện các nhiệm vụ nhất định của Nhà nước trong từng thời kỳ.[ 12,40]
Hệ thống thuế bao gồm nhiều hình thức thuế khác nhau, nhưng sự hình thànhtừng hình thức thuế lại do cơ sở thuế quyết định Trong nền kinh tế thị trường, thuếsuy cho cùng đều lấy từ thu nhập Do yêu cầu của quá trình tái sản xuất mà thu nhậpđược vận động trong một chu trình khép kín và luôn thay đổi hình thái biểu hiện của
nó Chính sự biến đổi đa dạng đó đã nảy sinh các cơ sở thuế khác nhau, tạo ra khảnăng đánh thuế của Chính phủ trên sự luân chuyển của dòng thu nhập khép kín vàhình thành các hình thức thuế khác nhau
1.1.4.2 Phân loại thuế
Phân loại thuế là việc sắp xếp các sắc thuế trong hệ thống thuế thành nhữngnhóm khác nhau theo những tiêu thức nhất định
Phân loại thuế có ý nghĩa quan trọng trong quản lý thu thuế từ khâu xây dựngchính sách đến triển khai thực hiện Phân loại thuế chính xác là cơ sở quan trọng để
tổ chức đúng đắn việc thu nộp thuế phù hợp với qui trình thu từng loại thuế
Có nhiều tiêu thức phân loại khác nhau được sử dụng ở nước ta và trên thếgiới Tổng hợp lại có các tiêu thức phân loại sau:
*Phân loại theo đối tượng chịu thuế
Nếu căn cứ vào đối tượng chịu thuế, có thể chia sắc thuế thành ba loại:
- Thuế thu nhập bao gồm các sắc thuế có đối tượng chịu thuế là thu nhập nhậnđược Thu nhập này được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau: Thu nhập từ laođộng dưới dạng tiền lương, tiền công; thu nhập từ hoạt động SXKD dưới dạng lợinhuận, lợi tức, cổ phần Do vậy, thuế thu nhập cũng có nhiều hình thức khác nhau,thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập công ty, thuế thu nhập doanh nghiệp
- Thuế tiêu dùng là các loại thuế có đối tượng chịu thuế là phần thu nhập đựơcmang tiêu dùng trong hiện tại Trong thực tế loại thuế tiêu dùng được thể hiện dưới
Trang 14- Thuế tài sản là các loại thuế có đối tượng chịu thuế là giá trị tài sản Thuế tàisản thường đánh trên giá trị của tài sản cố định gọi là thuế bất động sản, đánh trêntài sản gọi là thuế động sản.
**Phân loại theo phương thức đánh thuế
Các hình thức thuế, suy cho cùng đều đánh vào thu nhập của NNT Tuy nhiêntuỳ thuộc vào phương thức đánh thuế, đánh một cách trực tiếp hay gián tiếp vào thunhập mà người ta chia hệ thống thuế thành hai loại:
Thuế trực thu là loại thuế đánh trực tiếp vào thu nhập hoặc tài sản của NNT.thuế trực thu có những đặc điểm sau:
- Đối tượng nộp thuế trực thu là người gánh chịu gánh nặng thuế Vì NNT trựcthu là người trả thuế cuối cùng trong một chu kỳ SXKD nên khả năng và cơ hộichuyển dịch gánh nặng thuế của NNT cho người khác trở nên khó khăn hơn
- Thuế trực thu mang tính chất luỹ tiến vì có tính đến khả năng nhận được thunhập của NNT
Thuế trực thu thường bao gồm các sắc thuế có cơ sở đánh thuế là thu nhậpnhận được Ở nước ta thuế trực thu bao gồm: thuế thu nhập đối với người có thunhập cao, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế nhà đất
Thuế gián thu là loại thuế không trực tiếp đánh vào thu nhập và tài sản củaNNT mà đánh một cách gián tiếp thông qua giá cả hàng hoá và dịch vụ
Đặc điểm của thuế gián thu:
- Thuế gián thu là một yếu tố cấu thành trong giá cả hàng hoá và dịch vụ.Người sản xuất hàng hoá và cung ứng dịch vụ cộng thêm phần thuế vào trong giábán hàng hoá và dịch vụ của mình, khi hàng hoá và dịch vụ được bán người sảnxuất thay mặt người tiêu dùng nộp khoản thuế gián thu cho Nhà nước
- Thuế gián thu có thể được chuyển dịch gánh nặng thuế trong những trườnghợp nhất định Do đó, thuế gián thu có ảnh hưởng đến hoạt động SXKD thông qua
cơ chế giá cả thị trường Tuy nhiên, sự ảnh hưởng đó của thuế gián thu khôngnhững chịu sự chi phối của mối quan hệ cung cầu trên thị trường, mà còn phụ thuộc
Trang 15vào bản chất của thị trường, mà trong đó có sự tác động của thuế, tức là thị trường
đó là cạnh tranh hay độc quyền
- Thuế gián thu mang tính chất luỹ thoái vì mức thuế không phụ thuộc vào thunhập có khả năng nhận được của NNT, loại thuế này có các sắc thuế mà cơ sở đánhthuế là các khoản thu nhập dùng để tiêu dùng Ở nước ta thuế gián thu bao gồm:thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu và nhập khẩu
***Phân loại theo mối quan hệ đối với khả năng nộp thuế
Căn cứ vào khả năng nộp thuế người ta có thể chia thuế thu nhập thành hai loại:
- Thuế thực là loại thuế không dựa vào khả năng của NNT Thuế thực thu vàocác dạng tài sản riêng biệt của NNT trên cơ sở mức sinh lợi trung bình của các tàisản đó mà không phải từ thu nhập thực tế của NNT Các loại thuế bao gồm: thuếnhà đất, thuế tài sản NNT thực là người sở hữu tài sản Số thuế phải nộp được tínhtheo mức thu nhập trung bình về tài sản
- Thuế cá nhân là loại thuế dựa trên khả năng của NNT Thuế cá nhân là thuếđánh vào thu nhập của NNT và được thu ngay từ khâu phát sinh thu nhập hoặc dokhai báo Khác với thuế thực, thuế cá nhân có tính đến khả năng thu nhập, hoàncảnh gia đình và tình hình tài chính của NNT Các loại thuế cá nhân bao gồm: Thuếthu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế lợi nhuận siêu ngạch, thuếchuyển nhượng tài sản
****Phân loại theo phạm vi thẩm quyền về thuế
- Tuỳ theo phạm vi và thẩm quyền trong việc ban hành chính sách, chế độthuế, hệ thống thuế có thể được chia thành thuế trung ương và thuế địa phương;thuế trung ương là các hình thức thuế do các cơ quan đại diện chính quyền Nhànước ở trung ương ban hành, còn thuế địa phương là do chính quyền địa phươngban hành Tuy nhiên, không phải tất cả các loại thuế trung ương đều nộp hết vàongân sách trung ương mà một phần của thuế trung ương có thể trích vào ngân sáchđịa phương
Tóm lại, trong thực tế có nhiều tiêu thức phân loại, tuỳ theo yêu cầu quản lý ởmỗi nước mà có sự lựa chọn khác nhau Hiện nay, ở nhiều nước người ta thường
Trang 16phân loại thuế chủ yếu dựa vào tiêu thức phương pháp đánh thuế và cơ sở đánhthuế.
1.1.5 Vai trò của thuế trong nền kinh tế thị trường
Quản lý Nhà nước đối với kinh tế là một chức năng vốn có của Nhà nước, đặcbiệt trong nền kinh tế thị trường thì nhất thiết vai trò đó càng được coi trọng và pháthuy Với vai trò chủ yếu là tạo ra cơ sở pháp lý cho sự phát triển kinh tế - xã hội, sựcan thiệp tích cực của Nhà nước thông qua hệ thống pháp luật, đặc biệt là pháp luậttài chính, thuế, ngân hàng, trong đó vai trò của thuế trở nên cực kỳ quan trọng Thuếđược coi là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế, là nguồn thu chủ yếu của NSNN, cóảnh hưởng to lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội Thuế điều tiết thu nhập trong xãhội và góp phần đảm bảo công bằng xã hội
Thuế là công cụ tập trung chủ yếu nguồn thu cho NSNN
Để có một nền tài chính Quốc gia lành mạnh chủ yếu phải dựa vào nguồn thu
từ nội bộ nền kinh tế quốc dân Đặc biệt đối với nước ta hiện nay, các khoản việntrợ giảm xuống nhiều thì thuế phải trở thành nguồn thu chủ yếu của Ngân sách, làmột bộ phận cơ bản của chính sách tài chính quốc gia Sau hơn 20 năm đổi mới tìnhhình kinh tế nước ta có nhiều chuyển biến tích cực Tốc độ tăng trưởng kinh tế nămsau tăng hơn năm trước Lạm phát được kìm hãm và đẩy lùi, thị trường được mởrộng, kim ngạch xuất khẩu tăng, tạo điều kiện cho sản xuất trong nước phát triển.Quan hệ kinh tế đối ngoại từng bước được mở rộng và phát triển Trong bối cảnh đóthu ngân sách hàng năm tăng đều đặn, năm sau cao hơn năm trước đáp ứng đượcnhu cầu chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển, góp phần tích lũy cho ngân sách và
cả việc chi trả nợ vay Được như vậy thuế đã góp phần tích cực trong việc tăng thungân sách Tỷ lệ động viên GDP vào NSNN ngày càng tăng Trong đó mức độngviên thuế và phí chiếm vai trò quan trọng NSNN được thu từ nhiều nguồn khácnhau: từ thuế, phí - lệ phí, viện trợ nước ngoài, tín dụng nhưng thuế là nguồn thuchủ yếu, là bộ phận cơ bản của nền tài chính quốc gia Hiện nay, ở hầu hết các nướctrên thế giới, sau khi thực hiện cải cách hệ thống thuế, số thu từ thuế, phí chiếm tới90% tổng số thu NSNN
Trang 17Thông qua thuế, một phần tổng sản phẩm quốc nội được tập trung vào NSNN.Tuy nhiên, việc tập trung thu nhập này có một giới hạn nhất định Nếu Nhà nướcdùng quyền lực để tập trung quá mức phần GDP vào cho NSNN thì phần còn lạicủa GDP cho các doanh nghiệp và cá nhân sẽ giảm xuống Đến một lúc nào đó, nếu
họ nhận thấy rằng công sức họ bỏ vào kinh doanh được bù đắp không thoả đáng thì
họ tìm mọi cách để trốn thuế Do vậy, trong công tác quản lý thuế, rất cần phải quantâm đến khả năng thu thuế của từng doanh nghiệp và cá nhân
Khả năng thu thuế là tỷ lệ tối đa từ thu nhập mà NNT sẵn sàng giành ra để trảthuế mà không làm thay đổi mọi hoạt động vốn có của họ Đứng trên giác độ nềnkinh tế quốc dân, khả năng thu thuế của một quốc gia được phản ánh thông qua tỷ lệphần trăm của GDP đựơc động viên cho NSNN thông qua thuế
Nếu gọi Tm là tổng số thu bằng thuế tối đa có thể tâp trung vào NSNN, thì khảnăng thu thuế sẽ là Tm / GDP
Khả năng thu thuế là một khái niệm lý thuyết được dùng dể chỉ ranh giới phânchia hợp lý thu nhập xã hội giữa các khu vực công cộng và khu vực tư nhân NếuNhà nước động viên thuế chưa đạt giới hạn khả năng thu thuế thì nguồn lực xã hộitập trung vào tay Nhà nước chưa đầy đủ Nếu Nhà nước động viên vượt quá giớihạn khả năng thu thuế thì sẽ làm bào mòn khả năng tích luỹ để tái sản xuất mở rộngtại doanh nghiệp và làm giảm số thu thuế trong tương lai
Trong thực tế quản lý thuế, tổng số thuế thu được hàng năm có thể lại khác xa
so với tổng số thuế có khả năng thu được Để phản ánh tình trạng này, các nhà kinh
tế dùng khái niệm nỗ lực thu thuế
Nếu tổng số thuế thực tế thu được trong năm là Tt, thì
Trang 18NSNN và càng không thể khẳng định rằng nền kinh tế đang tăng trưởng thuận lợihoặc Chính phủ đang vận hành nền kinh tế đúng đắn.
**Thuế tham gia vào điều tiết kinh tế vĩ mô
Đây là vai trò đặc biệt quan trọng của thuế trong nền kinh tế thị trường Khácvới cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung, trong cơ chế kinh tế thị trường Nhà nướckhông trực tiếp can thiệp vào các hoạt động kinh tế, xã hội bằng các mệnh lệnhhành chính Thay vào đó, Nhà nước thực hiện điều tiết nền kinh tế ở tầm vĩ mô, TứcNhà nước chỉ đưa ra các chuẩn mực mang tính định hướng lớn trên một diện rộng
và bằng các công cụ đòn bẩy để hướng các hoạt động xã hội đi theo, nhằm đạt đượccác mục tiêu đề ra, tạo hành lang pháp lý cho các hoạt động kinh tế - xã hội thựchiện trong khuôn khổ luật pháp
Nhà nước thực hiện quản lý điều tiết vĩ mô nền kinh tế, xã hội bằng nhiều biệnpháp như giáo dục chính trị tư tưởng, hành chính, luật pháp kinh tế, trong đó biệnpháp kinh tế làm gốc Nhà nước cũng sử dụng nhiều công cụ để quản lý, điều tiết vĩ
mô nền kinh tế như các công cụ tài chính, tiền tệ, tín dụng Trong đó, thuế - mộtcông cụ thuộc lĩnh vực tài chính - là một trong những công cụ được coi là sắc bénnhất Trong kinh tế thị trường, Nhà nước không giao chỉ tiêu chỉ tiêu số lượng mặthàng, khối lượng sản phẩm cho từng doanh nghiệp Trừ các lĩnh vực và ngành nghềđặc biệt Nhà nước phải nắm quyền kiểm soát và chi phối, trong khuôn khổ luậtpháp cho phép, mọi tổ chức và cá nhân đều có quyền sản xuất, kinh doanh bất kỳmặt hàng nào, miễn rằng họ phải có đăng ký kinh doanh và phải hoàn thành nghĩa
vụ đóng thuế với Nhà nước Bằng việc ban hành hệ thống luật thuế, Nhà nước sẽqui định đánh thuế hoặc không đánh thuế, đánh thuế với thuế suất cao hoặc thấp vàocác ngành nghề, các mặt hàng cụ thể Thông qua đó mà tác động và làm thay đổimối quan hệ giữa cung và cầu trên thị trường, nhằm góp phần thực hiện điều tiết vĩ
mô, đảm bảo sự cân đối giữa các ngành nghề trong nền kinh tế
Ngoài ra, Nhà nước còn sử dụng thuế để tác động trực tiếp lên các yếu tố đầuvào của sản xuất như lao động, vật tư, tiền vốn nhằm điều tiết hoạt động kinh tế
Trang 19trong nước, sử dụng thuế tác động vào hoạt động xuất, nhập khẩu nhằm thực hiệnchính sách thương mại quốc tế và hội nhập kinh tế thế giới.
***Thuế là công cụ để điều hoà thu nhập, thực hiện công bằng xã hội trong phân phối
Bên cạnh rất nhiều ưu thế so với cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung, cơ chếkinh tế thị trường cũng còn tồn tại khá nhiều những “khiếm khuyết” Một trongnhững “khiếm khuyết” đó là sự chênh lệch ngày càng lớn về mức sống, về thu nhậpgiữa các tầng lớp dân cư Kinh tế thị trường càng phát triển thì khoảng cách giàu -nghèo ngày càng có xu hướng gia tăng Với những đặc điểm nổi bật của cơ chế thịtrường là: sự cởi mở, sự năng động, sự độc lập tự chủ, thì tình trạng trên đây là khótránh khỏi Sự chênh lệch về thu nhập và mức sống giữa các tầng lớp dân cư khôngchỉ liên quan đến vấn đề đạo đức và công bằng xã hội và còn tạo nên sự đối lập vềquyền lợi và của cải giữa các tầng lớp dân cư, làm mất đi ý nghĩa của sự phát triểnkinh tế - xã hội Hơn thế nữa, sự phát triển mọi mặt của một đất nước là kết quả của
sự nỗ lực cộng đồng, mỗi thành viên trong xã hội đều có những đóng góp nhất định.Nếu không chia sẻ thành quả phát triển kinh tế cho mọi thành viên thì sẽ thiếu côngbằng Tình hình đó đòi hỏi phải có sự can thiệp của Nhà nước vào quá trình phânphối thu nhập, của cải xã hội Thuế là một công cụ có tác động trực tiếp vào quátrình này
Việc điều hoà thu nhập giữa các tầng lớp dân cư được thực hiện một phầnthông qua thuế gián thu, mà điển hình là thuế tiêu thụ đặc biệt Loại thuế này dođánh thuế cao vào các hàng hoá, dịch vụ cao cấp, đắt tiền, mà chỉ với những ngườithu nhập cao mới sử dụng hoặc sử dụng nhiều hơn, qua đó điều tiết bớt một phầnthu nhập của họ
Tuy nhiên, các sắc thuế trực thu, đặc biệt là thuế thu nhập cá nhân, với việc sửdụng thuế luỹ tiến có tác dụng rất lớn trong vấn đề điều tiết thu nhập, đảm bảo côngbằng xã hội
Về việc sử dụng thuế suất luỹ tiến trong các chính sách thuế trực thu, hiện naycòn tồn tại hai quan điểm trái ngược nhau
Trang 20Quan điểm thứ nhất: Phản đối việc áp dụng thuế suất luỹ tiến, vì:
- Đánh thuế luỹ tiến sẽ làm nản ý muốn làm giàu của các cá nhân, động lực cơbản của sự phát triển kinh tế - xã hội;
- Gây bất bình đẳng về thuế
Quan điểm thứ hai: Triệt để ủng hộ thuế suất luỹ tiến, vì:
- Thuế luỹ tiến phân bố đồng đều gánh nặng thuế giữa những cá nhân có mứcthu nhập chênh lệch nhau;
- Thuế luỹ tiến đảm bảo cho việc phân phối hợp lý hơn thu nhập và tài nguyên
xã hội;
- Góp phần ổn định và phát triển kinh tế;
- Đạt hiệu quả thu thuế cao
****Thuế còn là công cụ để thực hiện kiểm tra, kiểm soát các hoạt động sản xuất kinh doanh
Vai trò này xuất hiện chính do quá trình tổ chức thực hiện các luật thuế trongthực tế Để thu được thuế và thực hiện đúng các luật thuế đã được ban hành, CQT
và các cơ quan liên quan phải bằng mọi biện pháp nắm vững số lượng, qui mô các
cơ sở sản xuất kinh doanh, ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh, mặt hàng họ đượcphép kinh doanh Từ công tác thu thuế mà CQT sẽ phát hiện những việc làm saitrái, vi phạm pháp luật của cá nhân, các đơn vị sản xuất kinh doanh, hoặc phát hiện
ra những khó khăn mà họ gặp phải để giúp họ tìm biện pháp tháo gỡ Như vậy, quacông tác thu thuế mà có thể kết hợp kiểm tra, kiểm soát toàn diện các mặt hoạt độngcủa các cơ sở kinh tế, đảm bảo thực hiện tốt quản lý Nhà nước về mọi mặt của đờisống kinh tế - xã hội
1.2 QUẢN LÝ THUẾ
1.2.1 Mục tiêu và các nguyên tắc của quản lý thuế
Quản lý thuế là quá trình tổ chức, quản lý và kiểm tra việc thực hiện nhữngquy định trong luật thuế nhằm huy động đầy đủ những khoản tiền thuế vào NSNNtheo luật định Công tác quản lý thuế trong nền kinh tế quốc dân nhằm đạt được cácmục tiêu cơ bản sau đây:
Trang 21- Tập trung, huy động đầy đủ, kịp thời số thu cho NSNN trên cơ sở khôngngừng nuôi dưỡng và phát triển nguồn thu
Ở hầu hết quốc gia trên thế giới, số thu bằng thuế hàng năm chiếm tỷ trọngchủ yếu trong tổng số thu của NSNN Vì vậy, làm tốt công tác quản lý thuế sẽ có tácdụng lớn trong việc tập trung, huy động đầy đủ, kịp thời số thu cho NSNN
Mặt khác, các chính sách thuế dù trực tiếp hay gián tiếp đều có tác động đếnthu nhập của NNT, qua đó tác động đến quá trình phát triển kinh tế - cơ sở tạonguồn thu thuế trong tương lai Để tăng trưởng và ổn định số thu của NSNN trongtương lai, trong công tác quản lý thuế cũng cần chú ý duy trì và phát triển các cơ sởtạo ra nguồn thu thuế Về vấn đề này, người Pháp có câu nói rất nổi tiếng: “Hãy cắtlông cừu chứ đừng lột gia nó” và câu chuyện ngụ ngôn “Con gà đẻ trứng vàng”đáng để cho chúng ta ghi nhớ.[13,29]
- Phát huy tốt vai trò của thuế trong nền kinh tế
Vai trò của thuế mang tính toàn diện trên nhiều lĩnh vực Song, những vai trò
đó không mang tính khách quan mà nó là kết quả của những tác động từ phía conngười Những tác động này được thực hiện thông qua những nội dung, những côngviệc cụ thể của công tác quản lý thuế
- Tăng cường ý thức chấp hành pháp luật cho NNT
Trong cơ chế thị trường, Nhà nước thông qua công cụ pháp luật để thực hiện
sự tác động vào nền kinh tế ở tầm vĩ mô Ý thức chấp hành luật pháp của NNT sẽ cóảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện những tác động của Nhà nước đến nềnkinh tế Qua công tác tổ chức thực hiện và kiểm tra, thanh tra việc chấp hành cácluật thuế cùng với việc tăng cường tính pháp chế của các luật thuế, ý thức chấp hànhcác luật thuế được nâng cao, từ đó tạo thói quen “sống và làm việc theo pháp luật”trong mọi tầng lớp dân cư
Để đạt được các mục tiêu trên đây, công tác quản lý thuế cần tuân thủ một sốnguyên tắc cơ bản sau đây:
- Nguyên tắc tập trung dân chủ;
- Nguyên tắc công khai;
Trang 22- Nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả.
1.2.2 Nội dung cơ bản của quản lý thuế
Là một phần quan trọng của quản lý tài chính Nhà nước, quản lý thuế cần phảixem xét và nhìn nhận ở tầm vĩ mô, nó phải bao gồm toàn bộ những công việc thuộccác lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp về thuế Tức là bao gồm các công việcsau đây
1.2.2.1 Lựa chọn ban hành hệ thống các luật thuế
Thực tế ở các nước trên thế giới cho thấy: trong hệ thống luật thuế của mỗinước bao giờ cũng gồm nhiều sắc thuế khác nhau Việc quyết định lựa chọn và ápdụng những sắc thuế nào trong nền kinh tế? Nội dung của từng sắc thuế đó đượcxây dựng ra sao phải dựa trên các căn cứ sau đây:
+ Tình hình kinh tế của quốc gia trong từng thời kỳ, như thu nhập bình quânđầu người, cơ cấu kinh tế, các chủ trương, chính sách về quản lý kinh tế của Nhànước
+ Các vấn đề xã hội như phong tục tập quán của mỗi quốc gia, kết cấu giaicấp, đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của cộng đồng dân cư ở Quốc gia đó.Ngoài ra, trong điều kiện của một nền kinh tế mở cửa và hội nhập, bên cạnhcác vấn đề kinh tế, xã hội của một quốc gia, khi xây dựng một hệ thống thuế cũngcần phải xem xét đến các vấn đề của kinh tế thế giới và khu vực
Để đảm bảo phát huy tốt vai trò của công cụ thuế trong nền kinh tế, hệ thốngthuế phải đảm bảo được các yêu cầu sau:
Một là: hệ thống thuế phải bao quát hết được các nguồn thu phát sinh trongnền kinh tế
Việc bao quát các nguồn thu thuế được thể hiện, trước hết là bao quát về sốlượng các cơ sở, các loại hoạt động, số người trong diện điều tiết của thuế Thứ đến,thuế phải bao quát hết về nội dung và qui mô các khoản thu nhập cần điều tiết.Quán triệt yêu cầu này, một mặt nhằm đảm bảo tập trung tối đa mọi nguồn thu
có thể được vào NSNN; mặt khác đảm bảo sự bình đẳng trong việc thực hiện nghĩa
vụ thuế
Trang 23Hai là: Hệ thống thuế nói chung và từng sắc thuế nói riêng phải đảm bảo tínhcông bằng.
Theo các nhà kinh tế, tính công bằng trong các luật thuế cần phải được xemxét là sự công bằng theo chiều ngang và công bằng theo chiều dọc
+ Công bằng theo chiều ngang: là những người có điều kiện như nhau phảiđược đối xử như nhau trên lĩnh vực thuế, tức là phải nộp thuế giống nhau
+ Công bằng theo chiều dọc: những người có khả năng kinh tế và thu nhập caophải nộp thuế nhiều hơn những người không có khả năng kinh tế và thu nhập thấp.Mức thu nhập càng tăng thì mức thuế phải nộp càng cao
Ba là: Nội dung của từng sắc thuế phải đảm bảo tính đơn giản, dễ thực hiện và
dễ kiểm tra
Nộp thuế cho Nhà nước là nghĩa vụ của NNT Song để cho NNT tự giác chấphành nghĩa vụ của mình, thì bản thân của họ phải hiểu rõ về luật thuế đó, phải tựtính ra số thuế mà họ phải nộp Muốn vậy, nội dung của từng sắc thuế phải đơngiản, rõ ràng, dễ hiểu và mang tính phổ thông, phù hợp với trình độ chung của NNT
và người quản lý thuế Quán triệt yêu cầu này còn góp phần làm giảm những chi phíhành chính cho hệ thống thuế
1.2.2.2 Tổ chức thực hiện các luật thuế
Trên cơ sở đã được cơ quan quyền lực Nhà nước phê chuẩn và ban hành, cácluật thuế được đưa vào áp dụng trong thực tế Có thể nói, đây là khâu đóng vai tròquyết định hiệu quả của việc sử dụng công cụ thuế
- Tuyên truyền, phổ biến các luật thuế
Các chính sách chế độ, luật, pháp lệnh về thuế chỉ có thể thực thi một cách đầy
đủ, thống nhất khi công tác phổ biến giáo dục được triển khai sâu rộng trong quảngđại quần chúng Mọi tổ chức, cá nhân cần phải biết đầy đủ các quy định, những việcphải làm và mức độ sẽ bị xử lý đối với từng hành vi trốn lậu thuế, không chấp hànhnghiêm việc kê khai, đăng ký thuế; vi phạm về sử dụng hoá đơn chứng từ, sổ sách
kế toán, dây dưa nợ đọng trốn thuế Tăng cường công tác phổ biến, giáo dục phápluật về thuế còn có ý nghĩa nâng cao tính tự giác, ý thức về nghĩa vụ của công dân
Trang 24đối với nhà nước và sự kiểm tra giám sát của xã hội đối với việc thực thi các chínhsách, pháp luật về thuế, đảm bảo tính công khai, công bằng xã hội.
- Tổ chức quản lý thu thuế
+ Quản lý đối tượng nộp thuế
Trong quản lý đối tượng nộp thuế, yêu cầu phải tổ chức lực lượng cán bộ trựctiếp hợp lý, nhất là đội thuế phường xã, số lượng đối tượng nộp thuế và các ngànhnghề sản xuất kinh doanh, dịch vụ để bố trí cán bộ phù hợp, có khả năng quản lýbao quát đến thôn, tổ dân phố, đường phố Trách nhiệm của cán bộ thuế phải nắmchắc tất cả các tổ chức, cá nhân đang hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ trênđịa bàn theo từng ngành nghề, quy mô kinh doanh, quan trọng là theo dõi cho đượccác biến động của các đối tượng kinh doanh: cơ sở mới phát sinh, đang tạm nghỉ,nghỉ hẳn, tái hoạt động, kinh doanh vãng lai, các hoạt động kinh doanh ngầm, cácđối tượng xin nghỉ nhưng thực chất vẫn kinh doanh trốn thuế, kinh doanh khôngđúng ngành nghề theo giấy phép, hoạt động buôn lậu, gian lận thương mại Đây làkhâu cơ bản trong công tác quản lý thu thuế
Hệ thống cấp mã số thuế của ngành thuế ra đời góp phần tích cực vào công tácquản lý thu thuế của ngành Mã số thuế là nhân tố cơ bản để ngành thuế thực hiệnhiện đại hoá công tác quản lý thu thuế, quản lý chặt chẽ các đối tượng nộp thuế trênđịa bàn toàn quốc và thực hiện đối chiếu chéo các hoạt động kinh doanh giữa cácđối tượng nộp thuế nhằm phát hiện các trường hợp kê khai sai để trốn lậu thuế hoặc
đề nghị hoàn thuế sai Mặt khác, hệ thống mã số thuế còn được sử dụng khai thácphục vụ cho công tác quản lý nhà nước
+ Qui trình quản lý thu thuế
Đây chính là cơ chế vận hành hết sức quan trọng trong quá trình tổ chức quản
lý, hành thu Cần thiết phải xây dựng một quy trình quản lý, thu nộp thuế, quyếttoán thuế chặt chẽ từ khâu quản lý đối tượng nộp thuế, lập bộ thuế và thông báothuế, tổ chức thu nộp qua hệ thống kho bạc, theo dõi chấm bộ thuế, quyết toán và
xử lý nợ đọng, xem xét miễn giảm thuế, báo cáo cung cấp thông tin trong hệ thống
Trang 25Mỗi đối tượng quản lý thuế, chẳng hạn đối tượng thực hiện thu theo phươngpháp khấu trừ, phương pháp kê khai hay khoán thuế hoặc theo từng sắc thuế như thuếnông nghiệp, thuế nhà đất đều phải xây dựng một quy trình cụ thể, chặt chẽ theonguyên tắc “khép kín”, có sự độc lập của từng khâu, kiểm tra giám sát lẫn nhau.+ Tính thuế
Nếu quản lý tốt đối tượng nộp thuế, xác định đúng đối tượng tính thuế thì tínhthuế sẽ dễ dàng Tuy nhiên việc xác định đối tượng tính thuế rất phức tạp, việc tínhthuế, lập sổ thuế, tính thuế nợ, tính phạt, miễn giảm thuế là công việc rất tốnnhiều công sức và rất dễ nhầm lẫn, gây thất thu thuế hoặc không công bằng trongđối tượng nộp thuế Cần phải cải tiến phương pháp tính thuế thủ công sang tự độnghoá bằng máy vi tính và cập nhật kịp thời các thông tin về kết quả kinh doanh vàkhả năng nộp thuế của các tổ chức, cá nhân kinh doanh để tính thuế nhanh chóng,chuẩn xác, thông báo nộp thuế kịp thời đến đối tượng nộp thuế
Về phía đối tượng nộp thuế, do trình độ còn hạn chế và không đồng đều do đóđòi hỏi cần phải có chính sách thuế đơn giản, rõ ràng, dễ hiểu và tạo điều kiện chođối tượng nộp thuế tự kê khai, tự tính và tự nộp thuế vào NSNN
+ Tổ chức thu nộp tiền thuế
Nộp thuế vào NSNN kịp thời là kết quả của công tác quản lý thuế Đối với cácdoanh nghiệp tự kê khai, nộp thuế trực tiếp vào Kho bạc Nhà nước thì khâu kiểm tra
tờ khai thuế cần được thực hiện nhanh và chuẩn xác để NNT trực tiếp nộp thuế vàoKho bạc Nhà nước Đồng thời CQT phải cập nhật số liệu nộp thuế của từng đốitượng để nắm chắc thông tin, đôn đốc hoặc xử lý các trường hợp chậm nộp thuế.Đối với các hộ kinh doanh ngoài quốc doanh nộp thuế trực tiếp tại Kho bạchoặc đội thuế thì công tác kiểm tra, đôn đốc nộp thuế khá vất vả, bởi vì số lượng đốitượng nộp thuế rất đông, việc thông báo thuế phải kịp thời đồng loạt và phải đến nơikinh doanh đôn đốc nộp thuế Việc theo dõi cập nhật thông tin số liệu về NNTthường không được kịp thời và chưa đầy đủ nên chậm xử lý các trường hợp chậmnộp thuế, trốn thuế có nhiều khả năng xảy ra Từ sự chậm trễ và xử lý vi phạmkhông nghiêm theo quy định của pháp luật thường xuyên như vậy, đã tạo thành thói
Trang 26quen cho NNT, làm giảm hiệu lực thi hành của luật thuế và dễ sinh ra tiêu cực trongcông tác quản lý thu thuế Do đó cần có những quy định cụ thể và phối hợp vớichính quyền địa phương, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm, đảm bảo thực thichính sách thuế.
1.2.2.3 Thanh tra, kiểm tra thuế
Thanh tra, kiểm tra thuế là một trong những nội dung quan trọng của quản lýthuế, thanh tra thuế được thực hiện, trước hết bởi hệ thống các cơ quan thanh trachuyên ngành về thuế Ngoài ra, thanh tra thuế còn được thực hiện bởi sự phối hợpcủa các cơ quan chức năng có liên quan Thanh tra, kiểm tra thuế nhằm hướng vàocác mục đích chủ yếu sau đây:
- Phát hiện để từ đó có biện pháp xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm phápluật thuế, như khai man, trốn thuế, nợ động thuế, chiếm dụng tiền thuế nhằm hạnchế tới mức thấp nhất tình trạng thất thu thuế cho Nhà nước
- Đảm bảo nâng cao ý thức chấp hành pháp luật thuế cho NNT và cho ngườithi hành công vụ trong ngành thuế
- Phát hiện những nội dung không phù hơp trong các văn bản pháp qui về thuếvới thực tiển đời sống, kinh tế, xã hội của đất nước, những điểm không hợp lý về côngtác tổ chức hệ thống bộ máy ngành thuế, về qui trình nghiệp vụ từ đó kiến nghị các cơquan chức năng sửa đổi, bổ sung kịp thời để không ngừng hoàn thiện hệ thống thuế
Để đạt được các mục đích trên, công tác thanh tra thuế phải quán triệt một sốyêu cầu cơ bản sau:
- Phải đảm bảo tính khách quan, trung thực trong việc xem xét các sự việc vàđưa ra các kết luận sau những cuộc thanh tra Người làm thanh tra tuyệt nhiênkhông được lồng tư tưởng cá nhân, phiến diện, không bị một sức ép quyền lực nàokhi xem xét, giải quyết các sự vụ trong thanh tra
- Thanh tra thuế nhất thiết phải dựa trên tư tưởng pháp trị, có nghĩa là mọicuộc thanh tra thuế đều phải dựa trên cơ sở các văn bản pháp quy của Nhànước, lấy đó là chuẩn mực cho việc đánh giá, suy xét các sự kiện, các việc đượcthanh tra
Trang 27- Các cuộc thanh tra phải đảm bảo tính chính xác, rõ ràng trong các kết luận về
vụ việc thanh tra
Nội dung thanh tra thuế tâp trung vào các vấn đề cơ bản sau đây:
- Thanh tra việc chấp hành những quy định về đăng ký, kê khai nộp thuế, chế
độ thống kê - kế toán, hoá đơn chứng từ; thanh tra việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuếcho Nhà nước
1.2.3 Tổ chức hệ thống bộ máy ngành thuế
Nhìn tổng thể trong phạm vi nền kinh tế quốc dân, CQT ở các nước trên thếgiới đều được tổ chức thành một hệ thống bao gồm nhiều cấp Ở nhiều nước, hệthống đó không hoàn toàn phù hợp với hệ thống chính quyền Nhà nước và bao gồm:CQT Trung ương, CQT vùng và CQT địa phương thuộc vùng ( hệ thống thuế ThụyĐiển, Nhật Bản, Hàn Quốc ) Ở nhiều nước khác, hệ thống ngành thuế lại được tổchức hoàn toàn phù hợp với hệ thống Chính quyền Nhà nước và bao gồm: CQTTrung ương, CQT cấp tỉnh, thành phố và CQT cấp quận, huyện (hệ thống thuếTrung Quốc, Việt Nam ) Ngoài ra, ở một số quốc gia, hệ thống ngành thuế cònđược tổ chức theo dạng khác
Ở từng cấp, bộ máy CQT có thể được tổ chức theo các mô hình sau:
- Mô hình tổ chức theo sắc thuế
Trong mô hình này, các phòng ban riêng biệt được thành lập để quản lý một sốloại thuế cụ thể Do vậy, mỗi phòng ban phải thực hiện tất cả các chức năng, cácnghiệp vụ để quản lý các loại thuế mà được phân công Có thể nói đây là “mô hìnhquản lý khép kín” đối với mỗi loại thuế
- Mô hình tổ chức theo chức năng
Theo mô hìmh này, trong một CQT người ta tổ chức thành các phòng banriêng rẽ, mỗi phòng ban thực hiện một công việc nghiệp vụ cụ thể có liên quan đếntất cả các sắc thuế Thực tế cho thấy, ở các nước đang phát triển và các nền kinh tếđang chuyển đổi, những nơi mà tính tự giác chấp hành nghĩa vụ của NNT chưa cao,
mô hình tổ chức theo chức năng làm giảm đáng kể tình trạng trốn lậu thuế và nhữngthất thoát trong công tác quản lý thu thuế
Trang 28- Mô hình tổ chức theo đối tượng nộp thuế
Theo mô hình này, đối tượng nộp thuế được chia thành các nhóm, dựa trên qui
mô hoạt động, hình thức sở hữu, hoặc các ngành kinh tế Mỗi phòng ban chịu tráchnhiệm quản lý và cung cấp những thông tin đầy đủ về từng nhóm đối tượng nộpthuế Mô hình này phù hợp với những quốc gia công nghiệp hoá, những quốc gia
mà CQT đã có đủ bề dày kinh nghiệm trong quản lý thu thuế
1.2.4 Tổ chức hệ thống bộ máy ngành thuế ở nước ta hiện nay
Hệ thống ngành thuế có nhiệm vụ quản lý thống nhất trong phạm vi cả nướctất cả các loại thuế, phí và lệ phí của NSNN Các loại thu từ hoạt động xuất, nhậpkhẩu do ngành Hải quan đảm nhận Bộ máy ngành thuế được tổ chức thành một hệthống theo ngành dọc từ Trung ương đến địa phương
Ở Trung ương có Tổng cục Thuế trực thuộc Bộ Tài chính Đây là CQT cao
nhất trong hệ thống thu thuế nhà nước Về cơ cấu tổ chức bộ máy gồm có các Banriêng rẽ, mỗi Ban thực hiện một công việc nghiệp vụ cụ thể có liên quan đến tất cảcác sắc thuế, Tổng cục Thuế có một số nhiệm vụ chủ yếu:
Một là, giúp Bộ Tài chính soạn thảo các văn bản pháp qui về thuế và cáckhoản thu khác trình cơ quan chức năng có thẩm quyền ban hành và tổ chức thựchiện thống nhất các văn bản này trong cả nước Tổng cục Thuế cũng được quyềnban hành theo ủy quyền của Bộ trưởng Bộ Tài chính các văn bản về nghiệp vụ quản
lý thu thuế và hướng dẫn CQT cấp dưới thực hiện thống nhất
Hai là, hướng dẫn lập kế hoạch và tổng hợp kế hoạch thu thuế và thu kháctrình Bộ trưởng Bộ Tài chính xem xét để trình các cơ quan có thẩm quyền quyếtđịnh Tổng cục Thuế xem xét giao chỉ tiêu thu thuế và thu khác cho CQT cấp dưới,hướng dẫn, chỉ đạo cấp dưới tổ chức thu thuế và thu khác trên địa bàn và đảm bảothu đủ, kịp thời vào NSNN
Ba là, tổ chức thanh tra bộ máy thu thuế và các đối tượng nộp thuế; xử lý viphạm theo luật định
CQT ở các địa phương có nhiệm vụ trực tiếp quản lý thu thuế và các khoảnthu khác, chịu sự lãnh đạo song trùng của CQT cấp trên và UBND cùng cấp
Trang 29Ở cấp tỉnh, thành phố có Cục thuế trực thuộc Tổng cục Thuế Về cơ cấu tổchức bộ máy theo mô hình chức năng Cục thuế nhiệm vụ hướng dẫn, chỉ đạo, tổchức thực hiện các văn bản pháp qui về thuế, quản lý công tác thu thuế và thu khácthống nhất trên địa bàn; trực tiếp thu thuế đối với các đối tượng nộp thuế Theophân cấp hiện nay về công tác thu thuế thì Cục thuế trực tiếp thu thuế đối với cácloại hình doanh nghiệp có qui mô lớn, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài,
và các khoản thu khác ngân sách
Ở cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có Chi cục thuế trực thuộcCục thuế Về cơ cấu tổ chức bộ máy theo mô hình đối tượng nộp thuế, gồm các tổchuyên môn nghiệp vụ và các đội trực tiếp quản lý thu thuế Chi cục Thuế có cácnhiệm vụ, lập kế hoạch thu thuế hàng năm, quý, tháng trên địa bàn, tổ chức các biệnpháp thu thuế, tính thuế, lập sổ thuế, thông báo số thuế phải nộp; đôn đốc thực hiệnđầy đủ, kịp thời mọi khoản thu vào Kho bạc nhà nước; xem xét và đề nghị xét miễn,giảm thuế và các khoản thu khác theo quy định của nhà nước; thực hiện thanh quyếttoán kết quả thu thuế đến từng hộ nộp thuế Tổ chức kiểm tra chống khai man lậuthuế; kiểm tra và xử lý các vi phạm chính sách chế độ thuế; vi phạm kỷ luật trongnội bộ ngành thuế; giải quyết các đơn khiếu nại theo thẩm quyền và theo sự ủyquyền của CQT cấp trên
1.3 CÁC TIÊU CHÍ ĐỂ XÂY DỰNG HỆ THỐNG THUẾ
Thuế không chỉ được sử dụng để tập trung nguồn thu cho NSNN mà còn làmột trong những công cụ quan trọng điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế Bởi vậy, việcxây dựng một hệ thống thuế hiệu quả nhằm giải quyết thoả đáng cả hai yêu cầu trênluôn được các nhà khoa học thế giới quan tâm Đã từ lâu, chính nhà kinh tế học nổi
tiếng Adam-Smit đã đưa ra bốn nguyên tắc cơ bản để xây dựng một hệ thống thuế
hợp lý Sau này các nguyên tắc trên được các nhà kinh tế học hiện đại hoàn chỉnh,
bổ sung và khái quát thành những tiêu chí làm cơ sở xây dựng và đánh giá chất
lượng của một hệ thống thuế trong mỗi quốc gia
- Tính công bằng: Tính công bằng là đòi hỏi khách quan trong tiến trình phát
triển của lịch sử Trong một xã hội dân chủ, tính công bằng cần phải được thực hiện
Trang 30trước hết đối với sự phân chia gánh nặng của thuế khóa Có công bằng trong việcthực hiện nghĩa vụ nộp thuế mới động viên các thành viên hăng hái hoạt độngSXKD, giữ vững được thể chế chính trị Tuy nhiên cho đến nay, tiêu thức để đánhgiá tính công bằng của một hệ thống chính sách thuế cũng đang có nhiều ý kiếnkhác nhau Các nhà kinh tế cho rằng tính công bằng của thuế khóa phải dựa trênnguyên tắc công bằng theo chiều ngang và nguyên tắc công bằng theo chiều dọc.
Hệ thống thuế được coi là công bằng theo chiều ngang: Nếu các cá nhân vềmọi mặt đều như nhau thì được đối xử ngang nhau trong việc thực hiện nghĩa vụthuế Tuy nhiên trong thực tế nguyên tắc này tỏ ra khó áp dụng bởi vì nó không chỉ
rõ tiêu thức nào xác định hai cá nhân như nhau, mặt khác nó cũng không nói rõ việcđối xử như nhau trong việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế là như thế nào
Hệ thống thuế được coi là công bằng theo chiều dọc, nếu người có khả năngnộp thuế nhiều hơn thì phải nộp thuế cao hơn người khác Trong thực tế để áp dụngnguyên tắc này cần xác định rõ hai vấn đề: tiêu thức xác định khả năng và mức độnộp thuế cao hơn
Tóm lại, trong một xã hội dân chủ, công bằng trong thuế khóa là một đòi hỏikhách quan Việc đánh giá một hệ thống thuế được gọi là công bằng không phải làmột công việc dễ dàng Đã có nhiều nhà kinh tế đưa ra các nguyên tắc xác định tiêuchuẩn công bằng trong thuế khóa, song vẫn còn nhiều kiến khác nhau và nói chungnhững nguyên tắc nêu ra đều mang tính định hướng Công bằng trong thuế khóa vẫnthuộc về nhận thức và quan điểm của mỗi Chính phủ
- Tính hiệu quả: Hệ thống thuế phải đảm bảo tính hiệu quả xét trên các mặt
sau đây :
Thứ nhất, hiệu quả đối với nền kinh tế là lớn nhất.
Xét trên phương diện kinh tế, hành vi đánh thuế của Chính phủ bao giờ cũngảnh hưởng đến việc phân bổ nguồn lực của xã hội và chịu sự chi phối của hai tácnhân có xu hướng vận động không đồng nhất là: Nhà nước và các lực lượng thịtrường
Trang 31Sự phân bổ nguồn lực dưới tác động của thị trường thường dựa trên yêu cầucủa các quy luật kinh tế thị trường, còn sự phân bổ các nguồn lực dưới tác động củaNhà nước thường dựa trên yêu cầu của xã hội và yêu cầu của quản lý, điều chỉnhtheo chức năng của Nhà nước Nói chung sự phân bổ nguồn lực dưới tác động củacác lực lượng thị trường thường đạt được tính hiệu quả cao Tuy nhiên do động cơchủ yếu là lợi nhuận nên xét ở tầm vĩ mô, việc phân bổ nguồn lực dưới tác động củacác lực lượng thị trường trong nhiều trường hợp không hoàn toàn mang lại hiệu quảchung cho nền kinh tế quốc dân Bởi vậy, tất yếu cần phải có sự kết hợp và canthiệp của các hệ thống phân bổ nguồn lực của Nhà nước, trong đó có công cụ thuế
để điều chỉnh các xu hướng vận động khác nhau nhằm đảm bảo hiệu quả chung củanền kinh tế thị trường
Như vậy tính hiệu quả kinh tế của thuế phải được xem xét trên hai góc độ:giảm tối thiểu những tác động tiêu cực của thuế trong phân bổ nguồn lực vốn đã đạtđược hiệu quả dưới tác động của lực lượng thị trường; tăng cường vai trò của thuếđối với việc phân bổ nguồn lực chưa đạt được hiệu quả
Thứ hai, hiệu quả tổ chức thu thuế là lớn nhất.
Điều đó thể hiện ở chỗ, tổng số thuế thu được nhiều nhất với chi phí tổ chứcthu thuế là thấp nhất Trên thực tế khi thu thuế bao giờ cũng phát sinh chi phí, đó làcác khoản chi phí trực tiếp quản lý của CQT và những chi phí gián tiếp do NNTgánh chịu Tính hiệu quả của thu thuế thể hiện: thuế thu được nhiều nhất trên cơ sởchi phí trực tiếp của CQT và chi phí gián tiếp của NNT là thấp nhất
Các khoản chi phí trên gọi là phí hành chính và sự tăng hay giảm các khoảnchi phí này phụ thuộc vào:
+ Tính phức tạp hay đơn giản của hệ thống chính sách thuế;
+ Số lượng và mức độ phân biệt của thuế suất đối với đối tượng nộp thuế cũngnhư cơ sở tính thuế;
+ Sự lựa chọn các loại thuế: Nói chung các loại thuế có cơ sở tính thuế phứctạp, yêu cầu quản lý cao thường có chi phí hành chính lớn
Trang 32Nhằm giảm bớt chi phí hành chính đòi hỏi hệ thống thuế phải đơn giản Mặtkhác hệ thống thuế có đơn giản, dễ hiểu thì việc quản lý, kiểm tra kiểm soát củaNhà nước đối với NNT mới dễ dàng, thuận lợi.
Thứ ba, hiệu quả xã hội cao nhất: Đảm bảo giải quyết tối ưu các chính sách xã
hội
Nội dung cơ bản của hệ thống quản lý thuế bao gồm: xây dựng cơ cấu tổ chứccác cơ quan từ Trung ương đến địa phương hình thành một bộ khung cho toàn bộguồng máy hoạt động, xây dựng hệ thống các quy định, quy trình quản lý về nghiệp
vụ và về quan hệ giữa các bộ phận, các cơ quan trong toàn bộ máy và xây dựng mộtđội ngũ lực lượng cán bộ đủ về số lượng, có phẩm chất đạo đức, năng lực chuyênmôn nghiệp vụ, trình độ kiến thức lý luận và kiến thức khoa học kỷ thuật Cả 3 nộidung đó phải thống nhất chặt chẻ để hoàn thành mục tiêu của công tác quản lý thuế
đó là làm thế nào để quản lý có hiệu quả đối với các lĩnh vực cụ thể sau Để đánhgiá hiệu quả của hệ thống quản lý thuế chúng ta cần đánh giá từng lĩnh vực cụ thể:
- Tính rõ ràng, minh bạch: Một hệ thống thuế chính xác thể hiện sự rõ ràng
và minh bạch, trước hết phải chỉ rõ ai chịu thuế, thời hạn nộp thuế và để xác địnhmức thuế phải nộp
Tính minh bạch dễ dàng đạt được hơn khi chính sách thuế đơn giản Nếu mộtchính sách thuế phức tạp với quá nhiều mức thuế suất phân biệt và các điều khoảnmiễn, giảm thuế sẽ gây ra tình trạng không có chuẩn mực rõ ràng trong cách hiểu vàvận dụng, làm cho NNT khó hiểu và do đó khó tự giác chấp hành, còn cơ quan thuthuế gặp khó khăn trong quản lý thu nộp Vì lẽ đó, phát sinh sự tuỳ tiện, tạo kẽ hởtrốn và tránh thuế, đồng thời tăng chi phí hành chính thuế
Nói chung hệ thống thuế không chính xác, rõ ràng và minh bạch sẽ gây khókhăn cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước
- Tính linh hoạt:
Hệ thống thuế phải có tính linh hoạt, được thể hiện thông qua khả năng thíchứng một cách dễ dàng với những hoàn cảnh kinh tế thay đổi Nền kinh tế thị trườngrất năng động nó luôn luôn biến động theo thời gian, trong khi chính sách thuế lại
Trang 33tương đối ổn định, do vậy dễ nảy sinh sự chệch pha giữa chính sách thuế và cáchoạt động kinh tế.
Nếu hệ thống thuế dễ có khả năng thích ứng thì mới phát huy được chức năngđiều chỉnh của nó Hệ thống thu nhập là hệ thống có khả năng điều chỉnh tự độngvới sự biến đổi của hoàn cảnh kinh tế Khi nền kinh tế thịnh vượng thì thu nhập tănglên và từ đó số thuế đang thu trên thu nhập sẽ tăng Ngược lại, khi nền kinh tế suythoái, thu nhập giảm thì số thuế thu nhập sẽ giảm Đôi khi tính chất điều chỉnh tựđộng này không có tác động mạnh đối với sự biến đổi nền kinh tế, bắt buộc cácChính phủ phải chủ động điều chỉnh các loại thuế và thuế suất Song sự điều chỉnhnày chỉ có tác dụng tích cực khi thời điểm điều chỉnh phù hợp với thời điểm thayđổi hiện trạng của nền kinh tế Để đảm bảo được yêu cầu này mà không vi phạmnguyên tắc đã định trong việc xây dựng hệ thống thuế, cơ quan lập pháp chỉ ấn địnhkhung thuế suất, việc tăng giảm thuế suất cụ thể thuộc về cơ quan hành pháp Cónhư vậy mới đảm bảo cho hệ thống thuế thích ứng với hoàn cảnh kinh tế
* Vận dụng ở điều kiện ở nước ta hiệu quả của công tác quản lý thuế thể hiện:
- Đảm bảo huy động tổng sản phẩm trong nước(GDP) vào NSNN chiếm tỷtrọng khoảng từ 19% - 22% Đồng thời tạo điều kiện để NNT có điều kiện mở rộngphát triển SXKD, nâng cao thu nhập và mức sống (gánh nặng về thuế vừa phải màdân chúng có thể thực hiện được và trên nguyên tắc NNT tự tính, tự khai, tự nộpthuế vào NSNN)
- Chi phí quản lý thuế/1 đồng tiền thuế nộp vào NSNN là thấp nhất Chi phíquản lý thuế được thể hiện trên hai mặt:
+ Chi phí của CQT: Bao gồm toàn bộ các khoản chi để duy trì cho bộ máyquản lý thuế hoạt động như chi phí tiền lương, chi phí cho công tác tuyên truyền,giáo dục pháp luật về thuế, chi phí cho việc đào tạo nguồn lực, chi cho các hoạtđộng phối hợp hổ trợ thực hiện nhiệm vụ thu thuế, in ấn tài liệu ấn phẩm
+ Chi phí gián tiếp của NNT gánh chịu như: Chi phí cho việc kê khai, tínhthuế, nộp thuế, quyết toán thuế
Trên góc độ này, nếu ta gọi:
Trang 34C: là số tiền chi phí cho công tác quản lý thuế;
C1: chi phí cho con người như: lương, phụ cấp theo lương, thưởng;
C2: và các khoản chi đảm bảo hoạt động quản lý thu thuế bao gồm: chi hoạtđộng thường xuyên, chi nghiệp vụ phí; chi mua sắm trang thiết bị;
T: là tổng số thuế thu được hàng năm;
H: là hiệu quả công tác quản lý thuế
hệ thống thuế sao cho vừa tiện lợi, đơn giản dễ làm minh bạch và thực hiện với mứckinh phí hành chính thấp nhất, mặt khác hệ thống thuế vừa phải đảm bảo tính độclập trong cơ cấu hệ thống chính sách tài chính quốc gia nhưng vừa phải có sự hàihoà, tương thích với hệ thống các chuẩn mực quốc tế, mang tính hội nhập cao
1.4 KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRONG KHU VỰC VÀ
NƯỚC TA VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ 1.4.1 Kinh nghiệm của một số nước về công tác quản lý thuế
1.4.1.1 Thái Lan
Trang 35Trong giai đoạn hiện nay, Tổng cục thuế Thái Lan đang đặt tầm nhìn cho CQT
là cung cấp dịch vụ tốt nhất cho NNT với các nhiệm vụ chủ yếu là thu đủ số thuếcho NSNN; tăng tính tuân thủ của ĐTNT và đề xuất thay đổi chính sách thuế với
Bộ Tài chính để tăng năng lực cạnh tranh, phát triển của đất nước Chiến lược pháttriển của CQT Thái Lan chủ yếu dựa trên việc sử dụng công nghệ thông tin; xâydựng một xã hội tri thức, hệ thống quản lý tri thức điện tử của CQT và các cơ quanthu khác, tích hợp thành hệ thống quản lý tri thức chung của Bộ Tài chính và xâydựng các cơ sở về thuế vững chắc, cơ sở dữ liệu thông tin về NNT ổn định, lâu dài.Kết quả hoạt động trong các năm qua, cơ quan thu nội địa đã đóng góp 75,6% tổngthu NSNN, số thu tăng dần qua các năm, các chỉ số đo kết quả hoạt động của CQTcũng tăng dần qua các năm
Hệ thống khai thuế điện tử của CQT Thái Lan bắt đầu triển khai từ năm 2001.NNT có thể sử dụng hệ thống này để khai thuế điện tử qua mạng, qua tin nhắn vàđược hỗ trợ, hướng dẫn về cách sử dụng khai điện tử ngay trên hệ thống hoặc thôngqua hệ thống thư điện tử, trung tâm dịch vụ hỗ trợ bằng điện thoại Thông qua hệthống thuế điện tử lợi ích đối với NNT là tiết kiệm thời gian; Hoàn thuế nhanh, hơn90% hoàn thuế từ 1-5 ngày; Thuận tiện khi giao tiếp với CQT, Với CQT Tiết kiệmthời gian; tiết kiệm chi phí; chống tham nhũng Với quốc gia, tăng số thu; tăng tínhcạnh tranh trên trường quốc tế
Để đạt được các thành tựu trên, CQT Thái Lan đã rút ra 3 yếu tố quan trọngdẫn đến thành công, đó là: Hoàn thiện tổ chức bộ máy của CQT theo nguyên tắchiệu quả; dịch vụ hướng khách hàng là phục vụ NNT; mạnh dạn gạt bỏ các rào cản
về thuế đối với NNT
Mục tiêu đạt được của việc triển khai hệ thống khai thuế, nộp thuế điện tử củaCQT Thái Lan:
- Tăng tính hiệu quả của công tác thu thuế;
- Tăng tính lựa chọn của NNT trong kê khai, nộp thuế;
- Giảm chi phí cho NNT;
- Tăng chất lượng xử lý của CQT;
Trang 36- Thực hiện mục tiêu Chính phủ điện tử.
Lợi ích của khai thuế, nộp thuế điện tử:
- Về phía NNT: Dữ liệu có thể kiểm tra bằng máy tính; hoàn thuế nhanh hơn,
dễ dàng hơn; xã hội điện tử
- Về phía CQT: Tiết kiệm thời gian nhập, độ chính xác cao; Chính phủ điện
tử; giảm thủ tục trong công việc; phục vụ nhu cầu của NNT, coi NNT là khách
hàng của CQT
Bài học kinh nghiệm:
Yếu tố thành công của kê khai thuế điện tử không phải ở công nghệ mà ở việclàm cho NNT hiểu lợi ích của khai thuế điện tử và tin tưởng vào các cam kết củaCQT Sở dĩ CQT Thái Lan đã đạt được các kết quả khai thuế, nộp thuế điện tử là do
đã đảm bảo hai vấn đề mấu chốt sau:
- Cải thiện việc hoàn thuế cho NNT tham gia hệ thống khai thuế, nộp thuếđiện tử:
+ Thời gian hoàn thuế rút ngắn: Trước khai điện tử, việc hoàn trong 3 tháng,hiện nay chỉ còn 15 ngày, tiến tới sẽ rút xuống còn 7 ngày (đối với thuế TNCN)+ Xây dựng chỉ tiêu lựa chọn NNT hoàn nhanh NNT không phải bổ sungthêm hồ sơ, nếu NNT đủ điều kiện sẽ được hoàn thuế rất nhanh chóng
+ Xử lý nghiêm NNT gian lận trong việc hoàn thuế điện tử
+ Đối với thuế GTGT: Nếu NNT đăng ký hoàn, lịch sử tốt, CQT sẽ hoànnhanh nhất trong vòng 15 ngày
- Giám sát cán bộ thuế có làm đúng như đã cam kết với doanh nghiệp haykhông, làm cho doanh nghiệp tin tưởng vào CQT và sử dụng dịch vụ khai thuế điện
tử
Từ kinh nghiệm thực tế triển khai hệ thống khai thuế, nộp thuế điện tử củaCQT Thái Lan, là một nước tương đối phát triển nhưng có điều kiện hoàn cảnhtương đối gần với Việt Nam, các bài học kinh nghiệm rút ra của CQT Thái Lantrong việc triển khai hệ thống khai thuế, nộp thuế điện tử sẽ giúp ích rất nhiều choCQT Việt Nam khi triển khai hệ thống này
Trang 371.4.1.2 Nhật Bản
Để có được sự hiểu biết và tin tưởng trong công tác quản lý thu thuế, đồngthời phổ cập và nâng cao kiến thức về thuế trong dân chúng; nâng cao đạo lý nộpthuế, tăng tính tuân thủ pháp luật về thuế của NNT, cũng như các tổ chức, cá nhânkinh doanh dịch vụ làm thủ tục khai thuế, nộp thuế, Tổng cục thuế Nhật Bản đãtriển khai nhiều hình thức tuyên truyền, sử dụng một cách có hiệu quả các phươngtiện thông tin đại chúng như: Tivi, Radio, Website Tuy nhiên việc sử dụng hìnhthức tuyên truyền tùy thuộc vào sự thay đổi tình hình kinh tế xã hội từng giai đoạn.Hiện nay ở Nhật Bản đã dừng chương trình phát sóng trên Tivi, Radio và đang sửdụng Website để phục vụ cho công tác tuyên truyền về thuế Đồng thời đến tháng9/2007 đã sử dụng Đại lý thuế là cá nhân 70.768 người; Đại lý thuế là pháp nhân1.443 pháp nhân, kinh doanh dịch vụ làm thủ tục khai thuế [3,34] Để nâng cao chấtlượng cho công tác tuyên truyền, cải cách và hiện đại hoá ngành thuế, các tầng lớpnhân dân suy nghĩ một cách tích cực về cơ cấu thuế và mục đích nộp thuế, qua đóhiểu sâu sắc hơn về thuế - một công cụ nền tảng của đất nước, với mục đích nângcao hiểu biết về công tác thuế vụ và đạo lý nộp thuế, hàng năm Tổng cục thuế NhậtBản lấy 1 tuần từ ngày 11~ 17 tháng 11 làm “Tuần lễ suy nghĩ về thuế” để thựchiện chính sách tuyên truyền trưng cầu ý dân
* Công tác tuyên truyền trưng cầu ý dân: là một hình thức thông tin liên lạc
giữa CQT và những NNT Công tác này đóng vai trò quan trọng giúp chế độ khaibáo nộp thuế thực hiện suôn sẻ, vì vậy cần phải hoàn thiện hơn việc thực hiện côngtác này
Lợi ích của công tác này là luôn luôn đặt chi phí của cả 2 bên NNT và CQTlên hàng đầu khi thực hiện các yêu cầu sau :
- Khi cần những thông tin cần thiết, NNT không phải đi đến Phòng chuyêntrách tại CQT mà vẫn có thể nhận được thông tin
- Nội dung tuyên truyền viết theo cách dễ hiểu dựa theo các nhìn nhận củangười nộp thuế
- Trưng cầu rộng rãi ý kiến của NNT để cải tiến việc điều hành quản lý
Trang 38Giải pháp cụ thể để thực hiện tuyên truyền trưng cầu ý dân cần tuân theo một
số tiêu chí dưới đây:
- Tuyên truyền một cách nhất quán;
- Tuyên truyền một cách có hiệu suất, hiệu quả tiết kiệm chi phí;
- Tuyên truyền theo từng nhóm;
- Sử dụng chức năng của trang website;
- Xúc tiến tuyên truyền trưng cầu ý dân qua mỗi nhân viên ngành thuế;
- Tăng cường quan hệ hợp tác với các đoàn thể xã hội ở địa phương;
- Đảm bảo mối quan hệ tốt với các đoàn thể dân lập có liên quan
* Công tác tuyên truyền thuế trong học đường
Đào tạo về thuế đối với học sinh sinh viên - thế hệ kế tục của đất nước nhằmmục đích giáo dục ý thức nộp thuế một cách lành mạnh, thuế là nền tảng của mộtđất nước dân chủ, phải nhận thức đúng ý nghĩa và vai trò của việc thu thuế, nộpthuế với tư cách là một thành viên cấu thành xã hội, quan tâm đến việc sử dụng tiềnthuế như thế nào, hơn thế với tư cách là NNT phải tự giác chủ động suy nghĩ vềcách hình thành nên một quốc gia, một xã hội Điều này được xem là rất quan trọngkhi nhìn từ quan điểm tạo lập một môi trường nộp thuế dài hạn trong đất nước mình
và làm sâu sắc thêm một bước mới về đạo lý nộp thuế Để làm được như vậy, cầnphải nỗ lực hoàn thiện thêm trong việc đào tạo về thuế đối với học sinh, sinh viên
và đây cũng là một phần của công tác tuyên truyền trưng cầu ý dân
* Xây dựng hệ thống Đại lý thuế
- Đại lý thuế là những chuyên gia về thuế, với công việc là hỗ trợ các đốitượng nộp thuế, có sứ mệnh là “người có chuyên môn về thuế, đứng trên lập trườngđộc lập và công bằng, dựa theo quan điểm của chế độ kê khai đóng thuế, có tráchnhiệm đáp lại sự tín nhiệm của các đối tượng nộp thuế và đảm bảo hướng dẫn thựchiện nghĩa vụ đóng thuế theo quy định của pháp luật”[2,34]
- Lợi ích mang lại của hoạt động này:
+ Đối với NNT: Tạo điều kiện thuận lợi nhất cho NNT, tiết kiệm được chi phí,thời gian đi lại; nâng cao tinh thần trách nhiệm cũng như tính ràng buộc pháp lý
Trang 39giữa NNT và Đại lý thuế, từ đó hạn chế được những sai phạm trong việc kê khai,nộp thuế, quyết toán thuế
+ Đối với CQT: Tiết kiệm được chi phí, thời gian trong công tác thanh tra,kiểm tra thuế, chỉ tập trung thanh tra kiểm tra đối với những Đại lý thuế có dấuhiệu vi phạm; thuận lợi cho việc triển khai thực hiện việc khai thuế, nộp thuế điệntử
Bài học kinh nghiệm
Kinh nghiệm của Nhật Bản là người đi trước chúng ta hơn 50 năm, sẽ giúpViệt Nam nâng cao hơn nữa ý thức của NNT, tăng sự hiểu biết giữa NNT và CQT;xây dựng một hệ thống Đại lý thuế đủ mạnh để tiến đến việc khai thuế và nộp thuếbằng điện tử; đồng thời phổ cập, đào tạo và nâng cao kiến thức về thuế đối với họcsinh, sinh viên - thế hệ kế tục của đất nước nhằm mục đích giáo dục ý thức nộp thuếmột cách lành mạnh Đồng thời kinh nghiệm đó còn giúp CQT các cấp giảm bớtthời gian, chi phí không cần thiết, tinh giản biên chế hành chính công, tăng cườnglĩnh vực tư vấn dịch vụ tư, các tổ chức mang tính xã hội phục vụ đắc lực chocông cuộc cải cách và hiện đại hóa ngành thuế theo lộ trình đã đề ra, phù hợp với xuhướng hội nhập và phát triển, đưa ngành thuế của chúng ra tiến kịp ngành thuế NhậtBản trong 10 năm tới
1.4.2 Một số nét về công tác quản lý thuế ở nước ta
1.4.2.1 Những thành tựu đạt được
Công cuộc cải cách thuế từ năm 1990 (cải cách thuế bước 1: 1990-1995; cảicách thuế bước 2: 1996 đến nay) tiến hành trong bối cảnh có nhiều yếu tố khôngthuận lợi, đó là: Từ cơ chế quản lý nền kinh tế tập trung, quan liêu bao cấp chuyểnsang nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường; tình hình kinh
tế, chính trị thế giới không ổn định; nước ta chịu ảnh hưởng nặng nề của cuộckhủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực và châu Á; thiên tai lớn liên tiếp xảy ra;nhưng dưới sự lãnh đạo của Ban chấp hành TW Đảng, Quốc hội, Chính phủ; sựphối hợp chặt chẽ của các ngành các cấp; sự chuyển đổi năng động của các doanhnghiệp trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và cùng với sự trưởng thành của cơ
Trang 40quan quản lý thuế nên công cuộc cải cách thuế giai đoạn 1990 đến nay đã đạt đượcnhững thành tựu đáng kể
* Về hệ thống chính sách thuế
- Hình thành một hệ thống chính sách thuế bao quát được hầu hết các nguồnthu, áp dụng thống nhất đối với mọi thành phần kinh tế và từng bước thích ứng vớiyêu cầu chuyển đổi nền kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa
Hệ thống chính sách thuế gồm: 9 sắc thuế cơ bản (thuế giá trị gia tăng; thuế tiêu thụđặc biệt; thuế xuất khẩu; thuế nhập khẩu; thuế thu nhập doanh nghiệp; thuế thu nhậpđối với người có thu nhập cao; thuế sử dụng đất nông nghiệp; thuế tài nguyên; thuếnhà đất; thuế chuyển quyền sử dụng đất) Ngoài ra, còn một số loại thu dưới hìnhthức phí và lệ phí
- Hệ thống chính sách thuế đã trở thành công cụ điều tiết vĩ mô của nhà nướcđối với nền kinh tế góp phần thúc đẩy SXKD phát triển, khuyến khích đầu tư,khuyến khích xuất khẩu, bảo hộ sản xuất trong nước, kiềm chế lạm phát, thúc đẩychuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, gópphần xoá đói giảm nghèo
- Hệ thống chính sách thuế được ban hành dưới hình thức luật, pháp lệnh tạo
cơ sở pháp lý cao để động viên một phần thu nhập của NNT vào NSNN làm cho dựtoán NSNN luôn đạt và vượt mục tiêu đề ra Nhờ đó đã bảo đảm nhu cầu chi thườngxuyên, dành một phần tăng chi đầu tư phát triển, chi trả nợ, góp phần kiềm chế lạmphát ở mức độ cho phép
- Hệ thống chính sách thuế đã xoá bỏ sự chênh lệch về nghĩa vụ thuế giữa cácthành phần kinh tế trong nước; thu hẹp chênh lệch về nghĩa vụ thuế giữa doanhnghiệp trong nước với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tạo môi trườngcạnh tranh bình đẳng trong cơ chế thị trường
- Hệ thống chính sách thuế từng bước thể hiện tính đơn giản, rõ ràng, dễ thựchiện tạo điều kiện giảm chi phí hành chính thuế cho cả NNT và CQT
* Trong hợp tác quốc tế về thuế đã đạt được các thành tựu chủ yếu là: