Trong thực tế dạy học ở trường phổ thông hiện nay, để kích thích thái độ học tập tích cực và lòng say mê yêu thích Hóa học thì cần xây dựng một hệ thống bài tập đa dạng, gắn với thực tiễ
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HCM
Nguy ễn Thị Bích Hạnh
LU ẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
ố Hồ Chí Minh – 2013
Trang 2B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HCM
Nguy ễn Thị Bích Hạnh
Chuyên ngành: Lí lu ận và phương pháp dạy học bộ môn Hóa học
Mã s ố : 60 14 01 11
LU ẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS Nguy ễn Thị Kim Thành
Thành ph ố Hồ Chí Minh – 2013
Trang 3L ỜI CẢM ƠN
Trong su ốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được rất nhiều
s ự động viên, giúp đỡ từ những người thầy, người cô đáng kính, từ bạn bè, đồng nghiệp, từ gia đình Tôi đã tích lũy cho riêng cho mình một hành trang kiến thức và kĩ năng nghề nghi ệp, để tôi có thể vững tin bước tiếp con đường mình đã chọn Và luận văn này chính là
để kiểm nghiệm những thành quả tôi đã thu hoạch được trong suốt thời gian qua
Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám hiệu, các thầy cô khoa Hóa trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, cảm ơn các thầy cô đã tận tình giúp
đỡ, chỉ dạy và hướng dẫn để tôi có đủ khả năng thực hiện luận văn này
V ới tất cả lòng kính trọng và biết ơn, tôi xin gửi lời cảm ơn đến PGS TS Trịnh Văn
Bi ều Cảm ơn thầy vì thầy luôn quan tâm và dẫn dắt tôi những bước đi đầu tiên trong lĩnh
v ực lí luận dạy học và đến với con đường khoa học
Và đặc biệt xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Thị Kim Thành, người hướng dẫn khoa học của luận văn, đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên c ứu
Xin g ửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo tổ Hóa học và các em học sinh trường Bùi
Th ị Xuân tỉnh Đồng Nai, trường THPT Huỳnh Thúc Kháng tỉnh Khánh Hòa, trường THPT
Vi ệt Thanh và trường THPT Nguyễn Văn Linh TP Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện để tôi hoàn thành t ốt các thực nghiệm sư phạm
Cu ối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến tất cả những người thân trong gia đình cùng bạn bè đồng nghiệp gần xa, là những người đã cùng tôi trao đổi và chia sẻ
nh ững khó khăn, kinh nghiệm trong suốt thời gian học tập cũng như quá trình thực hiện
lu ận văn này
TP H ồ Chí Minh, ngày 25 tháng 9 năm 2013
Nguy ễn Thị Bích Hạnh
Trang 4M ỤC LỤC
L ỜI CẢM ƠN 1
MỤC LỤC 2
DANH M ỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 5
M Ở ĐẦU 6
1 Lý do ch ọn đề tài 6
2 M ục đích nghiên cứu 6
3 Nhi ệm vụ của đề tài 7
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 7
5 Ph ạm vi nghiên cứu 7
6 Gi ả thuyết khoa học 7
7 Phương pháp nghiên cứu 7
8 Nh ững đóng góp mới của đề tài nghiên cứu 8
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 9
1.1 T ổng quan vấn đề nghiên cứu 9
1.1.1 Các nghiên cứu về xây dựng hệ thống bài tập hóa học 9
1.1.2 Các nghiên cứu về gây hứng thú học tập 11
1.1.3 Các nghiên cứu về bài tập gây hứng thú 11
1.1.4 Nhận xét 12
1.2 Bài t ập hóa học 13
1.2.1 Tổng quan về bài tập hóa học 13
1.2.2 Những yêu cầu cơ bản đối với bài tập hóa học 14
1.2.3 Tác dụng của bài tập hóa học [35] 14
1.2.4 Xu hướng xây dựng bài tập hóa học mới [3] 15
1.3 Bài t ập gây hứng thú 16
1.3.1 Khái niệm bài tập gây hứng thú 16
1.3.2 Tác dụng của bài tập gây hứng thú 16
1.3.3 Các dạng bài tập gây hứng thú 16
1.4 Th ực trạng sử dụng BTHH gây hứng thú ở trường THPT 17
1.4.1 Mục đích điều tra 17
1.4.2 Đối tượng điều tra 17
1.4.3 Mô tả phiếu điều tra 18
1.4.4 Cách xử lý kết quả điều tra 18
ết quả điều tra 18
Trang 5CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP GÂY HỨNG THÚ PHẦN
HÓA H ỌC HỮU CƠ LỚP 11 THPT 24
2.1 T ổng quan về phần hóa học hữu cơ lớp 11 THPT 24
2.1.1 Cấu trúc 24
2.1.2 Nội dung 24
2.2 Nguyên t ắc xây dựng HTBT gây hứng thú phần hữu cơ lớp 11 THPT 27
2.2.1 Hệ thống bài tập phải góp phần thực hiện mục tiêu môn học 27
2.2.2 Hệ thống bài tập phải đảm bảo tính chính xác, khoa học 28
2.2.3 Hệ thống bài tập phải đảm bảo tính hệ thống, tính đa dạng 28
2.2.4 Hệ thống bài tập phải đảm bảo gây được hứng thú cho học sinh 28
2.2.5 Hệ thống bài tập phải đảm bảo tính vừa sức 29
2.2.6 Hệ thống bài tập phải phát triển năng lực nhận thức, rèn luyện kỹ năng học tập cho học sinh 29
2.2.7 Hệ thống bài tập góp phần mở rộng kiến thức, vốn hiểu biết của HS 29
2.3 Phương pháp xây dựng HTBT gây hứng thú phần hóa hữu cơ lớp 11 THPT 29
2.3.1 Xây dựng bài tập dựa trên những bài tập có sẵn 29
2.3.2 Xây dựng bài tập hoàn toàn mới 34
2.4 Quy trình xây d ựng HTBT gây hứng thú 35
2.5.H ệ thống BTHH gây hứng thú phần hóa hữu cơ lớp 11 THPT 36
2.5.1 Giới thiệu tổng quan về HTBT gây hứng thú 36
2.5.2 Bài tập có phương pháp giải đặc biệt (giải nhanh, nhiều cách giải ) 36
2.5.3 Bài tập có sử dụng hình ảnh, biểu bảng, sơ đồ, đồ thị 52
2.5.4 Bài tập phát triển tư duy 64
2.5.5 Bài tập gắn với thực tiễn, thực nghiệm 69
2.5.6 Bài tập có chứa câu chuyện (lịch sử, hiện đại) 75
2.6 Các bi ện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng bài tập gây hứng thú 89
2.6.1 Sử dụng đúng lúc 89
2.6.2 Sử dụng phù hợp với từng đối tượng học sinh 90
2.6.3 Sử dụng với mức độ thích hợp 91
2.6.4 Khai thác khéo léo các yếu tố hứng thú của mỗi bài tập 91
2.6.5 Kết hợp với HTBT trong SGK, sách BT 91
2.6.6 Tổ chức cho học sinh làm việc theo nhóm 91
2.6.7 Phát huy tính chủ động, tích cực và sáng tạo của học sinh 92
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 94
3.1 M ục đích thực nghiệm 94
Trang 63.2 Đối tượng thực nghiệm 94
3.3 N ội dung thực nghiệm 94
3.4 Ti ến hành thực nghiệm 95
3.4.1 Chuẩn bị 95
3.4.2 Tiến hành hoạt động dạy học trên lớp 95
3.4.3 Tổ chức kiểm tra 95
3.4.4 Phân tích chất lượng học tập của HS 96
3.5 K ết quả thực nghiệm 98
3.5.1 Kết quả về mặt định lượng 98
3.5.2 Kết quả về mặt định tính 106
K ẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 111
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 114
PHỤ LỤC 117
Trang 8M Ở ĐẦU
1 Lý do ch ọn đề tài
Như chúng ta đã biết, định hướng đổi mới phương pháp dạy học trong giai đoạn hiện nay là phát huy tính tích cực, tự lực, chủ động và sáng tạo của học sinh, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng áp dụng kiến thức vào thực tiễn, hình thành thế giới quan khoa học và tạo niềm say mê yêu thích môn học cho học sinh Mục đích của sự đổi mới đó
là nhằm nâng cao hiệu quả dạy và học
Đối với bộ môn Hóa học, bài tập hóa học là nội dung giữ vai trò quan trọng và không
thể thiếu trong toàn bộ hoạt động dạy học của thầy và trò ở trường phổ thông Việc giải bài
tập hóa học giúp học sinh củng cố, trau dồi và phát triển thêm kiến thức hóa học của mình Bài tập hóa học cung cấp cho học sinh cả kiến thức, cả con đường giành lấy kiến thức và cả
niềm vui sướng khi phát hiện ra kiến thức Do vậy, bài tập hóa học vừa là mục đích, vừa là
nội dung, vừa là phương pháp dạy học hiệu nghiệm
Bài tập hóa học có rất nhiều dạng, đặc biệt là đối với hóa học hữu cơ Nếu không nắm
bắt được một cách hệ thống thì học sinh khó có thể thâu tóm được toàn bộ lượng kiến thức trong quá trình học tập Ở trường THPT, học sinh được học hóa hữu cơ trong học kì II lớp
11 Với sự mới lạ về nội dung, trong khi khối lượng kiến thức thì lại lớn, hơn nữa số dạng bài tập thì lại rất phong phú và đa dạng, mặt khác thời gian học trên lớp không đủ để giáo viên có thể truyền đạt và giảng giải cho các em tất cả các dạng bài tập đó Vì vậy,nếu không
có phương pháp học tập đúng đắn, học sinh sẽ cảm thấy rất khó khăn khi học môn Hóa học Trong thực tế dạy học ở trường phổ thông hiện nay, để kích thích thái độ học tập tích
cực và lòng say mê yêu thích Hóa học thì cần xây dựng một hệ thống bài tập đa dạng, gắn
với thực tiễn cuộc sống và gây hứng thú cho học sinh Tuy nhiên, vấn đề này vẫn chưa được nhiều giáo viên quan tâm và đầu tư đúng mức
Xuất phát từ những lí do trên, tôi quyết định chọn đề tài “XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP GÂY HỨNG THÚ NHẰM NÂNG CAO KẾT QUẢ HỌC TẬP PHẦN HÓA
HỮU CƠ LỚP 11 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG”
2 Mục đích nghiên cứu
Xây dựng hệ thống bài tập gây hứng thú phần hóa hữu cơ lớp 11THPT nhằm nâng cao
kết quả dạy và học môn Hóa học
Trang 93 Nhi ệm vụ của đề tài
- Tìm hiểu tổng quan về hướng nghiên cứu của đề tài
- Tìm hiểu, hệ thống các kiến thức về cơ sở lý luận của đề tài
- Điều tra thực trạng việc sử dụng bài tập hóa học ở một số trường THPT
- Xây dựng hệ thống bài tập gây hứng thú phần hóa học hữu cơ lớp 11THPT
- Nghiên cứu các biện pháp để sử dụng hiệu quả các bài tập gây hứng thú
- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính khả thi và hiệu quả của các bài tập đã xây dựng và các biện pháp đề xuất
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Việc xây dựng hệ thống bài tập gây hứng thú nhằm nâng cao kết
quả học tập phần hóa học hữu cơ lớp 11 THPT
- Khách th ể nghiên cứu: Quá trình dạy học hoá học ở trường THPT
5 Ph ạm vi nghiên cứu
- Nội dung: phần hóa hữu cơ chương trình lớp 11 THPT
- Địa bàn nghiên cứu: một số trường THPT ở TPHCM, Khánh Hòa và Đồng Nai
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 10/2012 đến tháng 10/2013
6 Gi ả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được HTBT hóa học đa dạng, có chất lượng, đồng thời có phương pháp
sử dụng một cách hợp lí và khoa học thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả dạyhọc môn hóa
học hữu cơ ở trường THPT
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận
- Đọc và nghiên cứu các tài liệu liên quan đến đề tài
- Sử dụng phối hợp các phương pháp phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ thống hóa, khái quát hóa
7.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Trò chuyện, trao đổi ý kiến với giáo viên và học sinh
- Phỏng vấn một số giáo viên có kinh nghiệm giảng dạy lâu năm
Phương pháp điều tra
Trang 10- Phương pháp chuyên gia
- Phương pháp thực nghiệm (thực nghiệm sư phạm để kiểm nghiệm giá trị thực tiễn của các kết quả nghiên cứu và khả năng ứng dụng của những đề xuất)
7.3 Các phương pháp toán học
- Phương pháp phân tích số liệu
- Phương pháp thống kê toán học và một số phần mềm xử lí số liệu
8 Nh ững đóng góp mới của đề tài nghiên cứu
- Xây dựng hệ thống bài tập gây hứng thú phần hữu cơ lớp 11 THPT
- Đề xuất các phương pháp xây dựng hệ thống bài tập gây hứng thú
- Thiết kế quy trình xây dựng hệ thống bài tập gây hứng thú
- Đề xuất các biện pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng bài tập gây hứng thú
- Thiết kế một số bài giảng có sử dụng nhữngbài tập gây hứng thú nhằm nâng cao kết quả
học tập của học sinh
Trang 11CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 T ổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Các nghiên cứu về xây dựng hệ thống bài tập hóa học
Các lu ận văn thạc sĩ của trường ĐHSP Hồ Chí Minh:
− Vũ Thị Kim Oanh (2007), Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều
lựa chọn chương trình hóa học lớp 10 cơ bản
− Trần Thị Phương Thảo (2007), Xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan về
hóa học có nội dung gắn với thực tiễn
− Nguyễn Thị Tòng (2007), Xây dựng hệ thống câu hỏi và bài toán hóa học có phương
pháp giải nhanh làm câu trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn hóa học 10- chương trình nâng cao
− Trần Thị Trà Hương (2008), Xây dựng hệ thống bài tập hóa vô cơ lớp 10 THPT nhằm
củng cố kiến thức và phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh
− Lại Tố Trân (2008), Xây dựng hệ thống bài tập phát triển tư duy cho học sinh phần
hóa hữu cơ lớp 11 chương trình nâng cao
− Lê Thị Thùy Anh (2009), Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập hóa học nhằm nâng
cao chất lượng dạy học phần phi kim
− Phạm Thị Thu Hà (2009), Xây dựng hệ thống bài tập tự luận có phương pháp giải
nhanh dùng làm câu hỏi TN phần PK lớp 11
− Trương Thị Lâm Thảo (2009), Xây dựng hệ thống bài tập hóa học nhằm nâng cao
hiệu quả dạy học phần hiđrocacbon lớp 11 THPT
− Nguyễn Thị Ngọc An (2010), Xây dựng hệ thống bài tập hóa học hữu cơ lớp 11 THPT
dùng cho học sinh khá giỏi
− Phan Thị Ngọc Bích (2010), Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập phần phi kim hóa
học THPT theo hướng dạy học tích cực
− Dương Thành Công (2010), Xây dựng hệ thống bài tập phát triển tư duy phần
hiđrocacbon lớp 11 THPT
− Trần Thị Thùy Dung (2011), Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập bồi dưỡng học
sinh giỏi phần kim loại lớp 12 THPT chuyên
− Lê Văn Hiến (2011), Xây dựng hệ thống bài tập hóa học về kinh tế, xã hội và môi
trường ở trường THPT
Trang 12− Nguyễn Thị Thu Hiền (2011), Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập theo các mức độ
tư duy trong dạy học chương chương Anđehit – Xeton – Axit cacboxylic lớp 11 THPT
− Dương Yến Phi (2012), Hệ thống hóa lý thuyết và xây dựng hệ thống bài tập phần cơ
sở lý thuyết cấu tạo chất lớp 10 chuyên Hóa học
− Trần Thu Thảo (2012), Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống câu hỏi trắc
nghiệm khách quan có phương pháp giải nhanh phần hợp chất hữu cơ có nhóm chức dùng để ôn thi ĐH, CĐ
− Vũ Thị Phương Thủy (2012), Xây dựng hệ thống bài tập phát triển tư duy cho học sinh
lớp 11 ban nâng cao ở trường THPT
− Đỗ Thị Thanh Trang (2012), Xây dựng hệ thống bài tập Hóa học có nội dung giáo dục
môi trường trong dạy học phần Hóa hữu cơ ở trường THPT
Các lu ận văn thạc sĩ của trường ĐH Giáo dục và ĐHSP Hà Nội
− Nguyễn Đức Hà (2010), Phát triển năng lực tư duy tích lũy, độc lập, sáng tạo của học
sinh qua hệ thống bài tập phần kim loại lớp 12 nâng cao THPT
− Đặng Thị Thanh Giang (2009), Nâng cao năng lực nhận thức và tư duy cho học sinh
thông qua hệ thống bài tập hoá học có liên quan đến thực tiễn và môi trường phần hoá học vô cơ THPT
− Nguyễn Thị Phương Thu (2008), Xây dựng bài tập trắc nghiệm khách quan rèn kĩ
năng thực hành hoá học cho học sinh THPT
− Đỗ Trung Hậu (2008), Tuyển chọn và xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách
quan dùng trong dạy học chương trình Hoá học lớp 12 (nâng cao) trường THPT
− Nguyễn Anh Tuấn (2008), Tuyển chọn và xây dựng hệ thống câu hỏi và bài tập trắc
nghiệm khách quan dùng trong dạy học Hoá học phần phi kim lớp 11 nâng cao – THPT
− Nguyễn Văn Mai (2012), Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập hóa học
ph ần kim loại dùng bồi dưỡng học sinh giỏi trung học phổ thông
− Phạm Văn Từ (2012), Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập phần kiến
th ức cơ sở hóa học chung lớp 10 để bồi dưỡng học sinh giỏi
− Đặng Thị Thanh Bình (2006), Tuyển Chọn và xây dựng hệ thống bài tập hoá học bồi
dưỡng học sinh khá giỏi lớp 10 THPT (Ban nâng cao)
Trang 131.1.2 Các nghiên cứu về gây hứng thú học tập
` - Su-ki-na (1971), V ấn đề hứng thú nhận thức trong khoa học giáo dục, nhà xuất bản
Giáo dục Mockba (được tác giả Nguyễn Văn Diên, Đại học Sư phạm Hà Nội I biên dịch và
tổ tư liệu trường Đại học Sư phạm Hà Nội I ấn hành năm 1975)
Trong tài liệu này, tác giả đã đề cập đến các vấn đề về vai trò quan trọng của hứng thú nhận
thức học tập, phương pháp nghiên cứu, biện pháp kích thích hứng thú học tập cho học sinh thông qua các hoạt động tổ chức dạy học các môn học Qua đó, chúng ta có thể hiểu thêm
và vận dụng những vấn đề này vào trong công tác giảng dạy cũng như nghiên cứu của mình Đây là tài liệu tham khảo vô cùng quí giá cho những ai đang tìm hiểu, nghiên cứu về hứng thú
`- L.X.Xô-Lô-Vây-Trích (1972), T ừ hứng thú đến tài năng, (biên dịch bởi Lê Khánh
Trường, do nhà xuất bản Phụ Nữ Hà Nội phát hành năm 1975)
- Nhìn chung, đây là quyển sách hay nói về hứng thú và tài năng Thông qua các câu chuyện
kể cụ thể, có thật trong cuộc sống chúng ta hiểu được mối liên hệ giữa hứng thú và tài năng
Nội dung sách đơn giản, dễ hiểu, cách dẫn chuyện sinh động Tuy nhiên, tác giả không đi vào trình bày cơ sở lý luận của hứng thú và tài năng mà chỉ giới thiệu những câu chuyện
thực tế; sách không có mục lục và đề mục rõ ràng làm cho người đọc khó theo dõi, nắm bắt
nội dung đang trình bày
`- Phạm Ngọc Thủy (2007), Những biện pháp gây hứng thú trong dạy học hóa học ở
trường phổ thông
1.1.3 Các nghiên cứu về bài tập gây hứng thú
Các lu ận văn thạc sĩ của trường ĐHSP Hồ Chí Minh:
− Lê Thị Kim Thoa (2008), Tuyển chọn và xây dựng hệ thống bài tập hoá học gắn với
thực tiễn dùng trong dạy học hóa học ở trường THPT
− Võ Thị Kiều Hương (2009), Xây dựng hệ thống bài tập có sử dụng hình vẽ, sơ đồ, biểu
bảng, đồ thị hóa 11 nâng cao
− Lương Công Thắng (2009), Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập hóa học có nhiều
cách giải để rèn luyện tư duy cho HS lớp 12 THPT
− Phạm Thị Thanh Hương (2010), Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập gây hứng thú
học tập nhằm nâng cao chất lượng dạy học phần hóa phi kim lớp 10 chương trình nâng cao
Trang 14− Lê Thị Kim Văn (2011), Xây dựng hệ thống bài tập có sử dụng hình vẽ, sơ đồ, biểu
bảng, đồ thị hóa 11 theo hướng dạy học tích cực
Các lu ận văn thạc sĩ của trường ĐH Giáo dục và ĐHSP Hà Nội
− Vũ Văn Ban (2011), Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập hoá học về sơ đồ, hình vẽ
và đồ thị nhằm phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh trung học phổ thông
− Ngô Thị Nam (2011), Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập thực tiễn
trong d ạy học phần hoá học hữu cơ lớp 12 ở trường THPT
− Nguyễn Thị Nguyên (2011), Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập về
giáo d ục môi trường trong dạy học phần hoá học hữu cơ ở trường trung học phổ thông
− Ngô Thị Kim Tuyến (2004), Xây dựng hệ thống bài tập thực tiễn môn hoá học lớp 11
THPT
1.1.4 Nhận xét
Các luận văn nghiên cứu về bài tập hóa học rất nhiều tuy nhiên các luận văn nghiên
cứu về bài tập gây hứng thú thì đang còn rất hạn chế Mặt khác trong những luận văn gây
hứng thú đa số các tác giả nghiêng về nghiên cứu từng vấn đề nhỏ trong hệ thống lớn các bài tập gây hứng thú: bài tập có nhiều cách giải, bài tập gắn với thực tiễn, thực nghiệm, bài
tập sử dụng hình ảnh, sơ đồ, biểu bảng, đồ thị Còn lại các dạng bài tập gây hứng thú khác: Bài tập có cách giải đặc biệt, bài tập mở rộng hiểu biết, bài tập chứa câu chuyện lịch sử,
hiện đại vẫn chưa được khai thác hoặc là được khai thác nhưng còn rất ít
Nghiên cứu cùng hướng với đề tài này có luận văn “Xây dựng và sử dụng hệ thống bài
tập gây hứng thú học tập nhằm nâng cao chất lượng dạy học phần hóa phi kim lớp 10 chương trình nâng cao” (2010), Phạm Thị Thanh Hương [23] Điểm nổi bật của đề tài là đã xây dựng được HTBT gây hứng thú với 4 dạng BT gây hứng thú:
+ Bài tập có sử dụng thí nghiệm hóa học
+ Bài tập vận dụng kiến thức hóa học vào bảo vệ môi trường
+ Bài tập về các hiện tượng hóa học trong tự nhiên, thực tiễn
+ Bài tập về lịch sử hóa học
Tuy nhiên điểm hạn chế của đề tài này là hệ thống bài tập gây hứng thú vẫn chưa được
đa dạng và phong phú nên khó khăn cho việc áp dụng trong các hình thức dạy học khác nhau và với nhiều đối tượng HS khác nhau
Trang 151.2 Bài t ập hóa học
1.2.1 Tổng quan về bài tập hóa học
1.2.1.1 Khái ni ệm bài tập hóa học
Theo Từ điển Tiếng Việt, bài tập là bài ra cho học sinh làm để tập vận dụng những điều đã học
Như vậy bài tập hoá học là phương tiện để dạy học sinh tập vận dụng kiến thức Một trong những tiêu chí đánh giá sự lĩnh hội tri thức hoá học là kỹ năng áp dụng tri thức để giải quyết các bài tập hoá học chứ không phải là kỹ năng kể lại tài liệu đã học Bài tập hoá học là
một trong những phương tiện có hiệu quả để giảng dạy môn hoá, tăng cường và định hướng
hoạt động tư duy của học sinh
1.2.1.2 Phân lo ại bài tập hóa học [35]
Hiện nay có nhiều cách phân loại bài tập khác nhau vì vậy cần có cách nhìn tổng quát
về các dạng bài tập dựa vào việc nắm chắc các cơ sở phân loại
1 Dựa vào nội dung toán học của bài tập:
- Bài tập định tính (không có tính toán)
- Bài tập định lượng (có tính toán)
2 Dựa vào hoạt động của học sinh khi giải bài tập:
- Bài tập lý thuyết (không có tiến hành thí nghiệm)
- Bài tập thực nghiệm (có tiến hành thí nghiệm)
3 Dựa vào nội dung hóa học của bài tập:
- Bài tập hóa đại cương
- Bài tập hóa vô cơ
- Bài tập hóa hữu cơ
4 Dựa vào nhiệm vụ đặt ra và yêu cầu của bài tập:
- Bài tập cân bằng PTPƯ
- Bài tập viết chuỗi phản ứng
Trang 16- Bài tập tìm nguyên tố chưa biết…
5 Dựa vào khối lượng kiến thức, mức độ đơn giản hay phức tạp của bài tập:
7 Dựa vào phương pháp giải bài tập:
- Bài tập tính theo công thức và phương trình
- Bài tập biện luận
- Bài tập dùng các giá trị trung bình…
8 Dựa vào mục đích sử dụng:
- Bài tập dùng kiểm tra đầu giờ
- Bài tập dùng củng cố kiến thức
- Bài tập dùng ôn luyện, tồng kết
- Bài tập dùng bồi dưỡng học sinh giỏi
- Bài tập dùng phụ đạo học sinh yếu…
1.2.2 Những yêu cầu cơ bản đối với bài tập hóa học
− Đảm bảo tính chính xác khoa học
− Đầy đủ dữ kiện để có thể tìm được đáp số
− Nội dung bài tập phải bám sát theo chuẩn kiến thức kĩ năng
− Đảm bảo tính vừa sức
− Có nội dung hóa học cụ thể, rõ ràng
− Số liệu bài tập phải phù hợp với thực tế
− Ngôn ngữ ngắn gọn, mạch lạc và trong sáng
− Đảm bảo rèn luyện năng lực hóa học và giáo dục đạo đức cho HS
1.2.3 Tác dụng của bài tập hóa học [35]
− Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh
− Giúp học sinh hiểu rõ và khắc sâu kiến thức
Trang 17− Hệ thống hóa các kiến thức đã học: một số đáng kể bài tập đòi hỏi học sinh phải vận dụng tổng hợp kiến thức của nhiều nội dung trong bài, trong chương Dạng bài tổng hợp học sinh phải huy động vốn hiểu biết trong nhiều chương, nhiều bộ môn
− Cung cấp thêm kiến thức mới, mở rộng hiểu biết của học sinh về các vấn đề thực tiễn đời sống và sản xuất hóa học
− Rèn luyện một số kỹ năng, kỹ xảo:
+ sử dụng ngôn ngữ hóa học + lập công thức, cân bằng phương trình phản ứng + tính theo công thức và phương trình
+ các tính toán đại số: qui tắc tam suất, giải phương trình và hệ phương trình
+ kỹ năng giải từng loại bài tập khác nhau
− Phát triển tư duy: học sinh được rèn luyện các thao tác tư duy như: phân tích, tổng hợp,
so sánh, qui nạp, diễn dịch
− Giúp giáo viên đánh giá được kiến thức và kỹ năng của học sinh Học sinh cũng tự kiểm tra biết được những lỗ hỏng kiến thức để kịp thời bổ sung
− Rèn cho học sinh tính kiên trì, chịu khó, cẩn thận, chính xác khoa học…Làm cho các
em yêu thích bộ môn, say mê khoa học (những bài tập gây hứng thú nhận thức)
1.2.4 Xu hướng xây dựng bài tập hóa học mới [3]
− Loại bỏ những bài tập có nội dung hóa học nghèo nàn nhưng lại cần đến những thuật toán phức tạp để giải (hệ nhiều ẩn, nhiều phương trình, bất phương trình, cấp số cộng,
cấp số nhân, …)
− Loại bỏ những BT có nội dung rắc rối, phức tạp, xa rời hoặc phi thực tiễn
− Xây dựng và tăng cường sử dụng BT thực nghiệm định lượng
− Tăng cường sử dụng BT trắc nghiệm khách quan
− Xây dựng BT mới về bảo vệ môi trường và phòng chống ma túy
− Xây dựng BT mới để rèn luyện cho HS năng lực giải quyết vấn đề
− Đa dạng hóa các loại hình BT: bài tập bằng hình vẽ, BT vẽ đồ thị, sơ đồ, BT dùng bảng số liệu, BT lắp dụng cụ thí nghiệm, …
− Xây dựng những BT có nội dung HH phong phú, sâu sắc, phần tính toán đơn giản, nhẹ nhàng, gây hứng thu học tập cho HS
Trang 181.3 Bài t ập gây hứng thú
1.3.1 Khái niệm bài tập gây hứng thú
Thông qua thực tiễn giảng dạy, chúng tôi nhận thấy các học sinh bị yếu môn hóa thường “sợ” giải BT hóa học Khi giáo viên giao BT, các em này chỉ làm những câu lý thuyết đơn giản như viết PTHH của phản ứng và rất e dè khi gặp phải các bài tập yêu cầu
giải thích hiện tượng; đặc biệt với những BT định lượng thì hầu như các em không đọc cả
đề bài…Đây là một trong những nguyên nhân làm các em không thích học môn hóa Trên
cơ sở đó, chúng tôi muốn đề xuất một biện pháp giúp học sinh hứng thú khi học môn Hóa
đó là sử dụng “bài tập gây hứng thú học tập”
Theo chúng tôi, bài t ập gây hứng thú học tập là bài tập có tác dụng kích thích mạnh
m ẽ đến tính tích cực cá nhân, giúp học sinh thích thú, quan tâm đến chúng từ đó ham thích được giải để tự bổ sung kiến thức Như vậy, khi xây dựng bài tập gây hứng thú học tập, giáo viên c ần chú ý đến “các yếu tố gây hứng thú học tập” để kích thích hoạt động tư duy, sự tò
mò, lôi cu ốn học sinh như: hình vẽ, kiến thức liên quan đến thực tiễn, môi trường, vấn đề về
l ịch sử hóa học
1.3.2 Tác dụng của bài tập gây hứng thú
- Bài tập gây hứng thú có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dạy học môn Hóa ở trường phổ thông Bởi vì ngoài các chức năng của một bài tập hóa học, dạng bài
tập này còn có tác dụng kích thích hứng thú học tập của học sinh
Thông qua việc giải bài tập, học sinh vừa có thể rèn luyện các kỹ năng cần thiết vừa được cung cấp thêm các thông tin mới lạ, những hiện tượng xung quanh kì thú và hấp dẫn Từ đó,
học sinh thích giải các bài tập hóa học hơn
- Bài tập gây hứng thú giúp thay đổi bầu không khí lớp học, học sinh chủ động và tích
cực làm việc Tiết học không còn tẻ nhạt, chán ngắt với những kiến thức khô khan mà học sinh bị cuốn vào các hoạt động tư duy nên các em buộc phải làm việc hoặc hứng thú làm
việc để giải đáp sự tò mò của bản thân
1.3.3 Các dạng bài tập gây hứng thú
- Bài tập có sử dụng hình ảnh, biểu bảng, sơ đồ, đồ thị
- Bài tập có phương pháp giải đặc biệt (giải nhanh, nhiều cách giải )
- Bài tập phát triển tư duy
ập gắn với thực tiễn, thực nghiệm
Trang 19- Bài tập có chứa câu chuyện (lịch sử, hiện đại)
- Bài tập mở rộng hiểu biết
1.4 Th ực trạng sử dụng BTHH gây hứng thú ở trường THPT
1.4.1 Mục đích điều tra
- Tìm hiểu về tác dụng của bài tập gây hứng thú như bài tập có sử dụng thí nghiệm hóa học, bài tập vận dụng kiến thức hóa học vào bảo vệ môi trường, bài tập về các hiện tượng tự nhiên, thực tiễn và bài tập về lịch sử hóa học
- Tìm hiểu thực trạng việc sử dụng các BT nêu trên trong DHHH (thống kê mức độ và mục đích sử dụng các dạng BT trên để đưa ra định hướng sử dụng)
1.4.2 Đối tượng điều tra
- Chúng tôi tiến hành phát phiếu điều tra 77 GV thuộc địa bàn 7 tỉnh, thành phố: Gia Lai (5 GV), Bình Phước (7GV), Bình Dương (9GV), Khánh Hòa (16GV), Đồng Nai (5GV), Long
An (6GV) và thành phố Hồ Chí Minh (29GV)
- Số lượng phiếu phát ra: 77
- Số lượng phiếu thu vào: 74 (có 72 phiếu hợp lệ, 2 phiếu không hợp lệ)
B ảng 1.1 Số liệu GV các trường tham gia khảo sát
2 Chuyên Quang Trung 7 Bình Phước
5 Huỳnh Thúc Kháng 6
Khánh Hòa
6 Phan Bội Châu 10
Trang 201 4.3 Mô tả phiếu điều tra
Trong phiếu điều tra, chúng tôi đưa ra 4 nhóm câu hỏi (phụ lục 2) Nội dung của từng nhóm câu hỏi chủ yếu tập trung vào các nội dung:
a Tác dụng của các dạng bài tập gây hứng thú học tập
b Mức độ giáo viên đã sử dụng dạng bài tập này trong dạy học hóa học
c Mục đích của giáo viên khi sử dụng các dạng bài tập này
d Hình thức tổ chức dạy học và những khó khăn khi sử dụng dạng BT này
1.4.4 Cách xử lý kết quả điều tra
- Thống kê ý kiến của giáo viên về mỗi nhận định theo mức độ tăng dần, tính giá trị trung bình và tỉ lệ % rồi so sánh, kết luận về tác dụng gây hứng thú của BT có cách giải đặc biệt,
BT phát triển tư duy, BT thực tiễn thực nghiệm, BT mở rộng hiểu biết, BT sử dụng hình vẽ,
sơ đồ, biểu bảng, đồ thị , BT chứa câu chuyện (lịch sử, hiện đại)
- Thống kê mức độ và mục đích sử dụng của giáo viên, tính ra giá trị trung bình sau đó đánh giá thực trạng sử dụng các dạng bài tập trên để đưa ra định hướng sử dụng cho phù hợp
nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn hóa
* Công thức tính giá trị trung bình chung cho các mức độ khác nhau:
Giá trị trung bình = 1𝑎+2𝑏+3𝑐+4𝑑+5𝑒𝑎+𝑏+𝑐+𝑑+𝑒
(v ới a, b, c, d là số phiếu tương ứng với mức độ 1, 2, 3, 4, 5)
* Dựa vào giá trị trung bình, chúng tôi phân tích, nhận xét ý kiến của giáo viên về những
nội dung điều tra và đưa ra kết luận
1.4.5 Kết quả điều tra
- Số lượng phiếu thu vào: 74 (có 72 phiếu hợp lệ, 2 phiếu không hợp lệ)
- Nhận xét chung: Khi trả lời câu hỏi trong “Phiếu tham khảo ý kiến”, hầu hết giáo viên trả
lời nghiêm túc và đầy đủ những câu hỏi đã được đặt ra GV trả lời vào các ô lựa chọn, phần
“Ý kiến khác” thì cũng có giáo viên đề cập đến nhưng ít Kết quả cụ thể như sau:
1.4.5.1 Ý ki ến của giáo viên về mức độ gây hứng thú của các dạng bài tập
B ảng 1.2 Mức độ gây hứng thú của các dạng bài tập
Trang 21Bài tập có cách giải
hay, độc đáo (giải
nhanh, nhiều cách
T ừ bảng 1.2 ta nhận thấy: Theo ý kiến GV, 3 dạng BT gây hứng thú cho HS với mức
độ cao (trung bình từ 4,34 xuống đến 4,22) đó là: BT có cách giải hay, độc đáo (giải nhanh, nhiều cách giải,…); BT thực tiễn, thực nghiệm; BT sử dụng hình vẽ, sơ đồ, biểu bảng, đồ
thị, còn lại 3 dạng BT có mức độ gây hứng thú thấp hơn (trung bình từ 3,87 xuống đến 3,14)
đó là: BT mở rộng hiểu biết; BT phát triển tư duy và bài tập chứa câu chuyện (lịch sử, hiện đại) Điều này chứng tỏ các dạng BT trên đều hoàn toàn có thể gây hứng thú cho HS ở mức
độ cao
1.4.5.2 Ý ki ến của giáo viên về mức độ sử dụng các bài tập gây hứng thú
B ảng 1.3 Mức độ sử dụng bài tập gây hứng thú của GV
T ừ bảng 1.3 ta nhận thấy: Đa số các GV đã có sử dụng các bài tập gây hứng thú trong
dạy học hóa học nhưng đa số GV còn hạn chế việc sử dụng bài tập này trong quá trình dạy
học Còn tới 8,33% GV chưa bao giờ sử dụng bài tập gây hứng thú trong dạy học hóa học Đối với GV THPT đây là một con số rất lớn Vì vậy việc sử dụng hệ thống bài tập gây hứng
Trang 22thú cần được tăng cường hơn nữa trong mỗi tiết học hóa ở trường phổ thông để tạo được sự ham thích học tập cho HS
1.4.5.3 Ý ki ến của giáo viên về mục đích sử dụng các bài tập gây hứng thú
B ảng 1.4 Ý kiến của GV về mục đích sử dụng dạng bài tập gây hứng thú
đoán nhanh nhạy cho HS 37 51,39
Đa dạng hóa hệ thống bài tập 35 48,61 Giúp HS làm quen với các dạng trong
T ừ bảng 1.4 ta nhận thấy: Việc sử dụng hệ thống bài tập gây hứng thú nhằm mục đích
làm thay đổi bầu không khí lớp học, giờ học sinh động, hấp dẫn hơn, rèn luyện năng lực tư duy, đầu óc phán đoán nhanh nhạy cho HS, nâng cao kết quả học tập, Những mục đích trên đây đều là góp phần thực hiện mục tiêu trong dạy học hóa học ở nhà trường THPT Tuy nhiên, mục đích cao nhất của GV khi sử dụng bài tập gây hứng thú là nâng cao kết quả học
tập của HS.Đây cũng là mục đích cao nhất của chúng tôi khi xây dựng hệ thống bài tập này
1.4.5.4 Các ý ki ến khác
- Hình th ức tổ chức dạy học khi giáo viên sử dụng các dạng bài tập trên
Hầu hết giáo viên sử dụng hình thức thảo luận nhóm và diễn giảng Rất ít giáo viên sử dụng hình thức thực hành, nghiên cứu và hoạt động ngoại khóa
- V ề việc tăng cường sử dụng các bài tập gây hứng thú trong dạy học hóa học
100% giáo viên cho rằng cần sử dụng nhiều hơn nữa các bài tập gây hứng thú để nâng cao
chất lượng dạy học hóa học ở trường THPT
- Nh ững yêu cầu khi xây dựng hệ thống BT gây hứng thú
B ảng 1.5 Ý kiến của GV về yêu cầu khi xây dựng HTBT gây hứng thú
Trang 23Mở rộng hiểu biết cho HS 26 36,11
Có hệ thống đáp án để HS tự kiểm tra – đánh giá 23 31,94
T ừ bảng 1.5 ta nhận thấy: Những yêu cầu tiên quyết của hệ thống bài tập gây hứng thú là:
Đảm bảo tính chính xác khoa học và gây hứng thú cho HS Hầu hết tất cả các GV đều cho
rằng hệ thống bài tập gây hứng thú nhất định phải đảm bảo được hai điều kiện này Ngoài ra
hệ thống con phải đảm bảo tính vừa sức, mở rộng hiểu biết cho HS, phát triển năng lực tư duy độc lập, rèn trí thông minh cho HS, có hướng dẫn ngắn gọn cách làm những câu khó Tóm lại hệ thống bài tập gây hứng thú phải đảm bảo các yêu cầu chung của một hệ
thống bài tập bình thường ngoài ra còn phải đảm bảo các yêu cầu riêng của bài tập gây hứng thú
- Nh ững khó khăn khi sử dụng bài tập gây hứng thú
B ảng 1.6 Ý kiến của GV về những khó khăn khi sử dụng HTBT gây hứng thú
T ừ bảng 1.6 ta nhận thấy: Đa số các giáo viên đều cho rằng việc sử dụng các bài tập
gây hứng thú trong quá trình dạy học còn gặp khó khăn vì chưa có hệ thống bài tập phong phú, đa dạng; trình độ học tập không đồng đều của học sinh, thời lượng cho môn học trên
lớp còn quá ít và điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường chưa cho phép Như vậy để sử
dụng hệ thống bài tập gây hứng thú một cách hiệu quả cần có sự linh động và khéo léo của giáo viên trong quá trình tổ chức các hoạt động dạy học để thu được kết quả cao nhất
Bên c ạnh đó, chúng tôi còn trò chuyện, trao đổi trực tiếp với các GV:
Cô Lê Huỳnh Tiên – giáo viên trường THPT Bùi Thị Xuân – Đồng Nai cho biết: “Để
h ọc sinh có thể đạt kết quả cao trong các kì thi, kiểm tra đặc biệt là thi tuyển sinh Đại học
Trang 24thì các em c ần được làm quen với các dạng bài tập, nắm chắc được phương pháp giải của
t ừng dạng, biết được phương pháp giải nhanh một số dạng bài tập Vì vậy bài tập gây hứng thú cũng phải đáp ứng yêu cầu quan trọng này.”
Thầy Nguyễn Văn Linh – giáo viên trường THPT Bùi Thị Xuân cho biết: “Đối với các
em HS y ếu kém ta càng cần phải sử dụng hệ thống bài tập gây hứng thú để kích thích sự yêu thích và đam mê môn hóa học, vì chúng ta sẽ không cải thiện được gì nếu không làm khơi
d ậy sự hứng thú học tập của các em cũng giống như người thợ rèn không thể gõ búa trên thanh s ắt nguội vậy.”
Cô Nguyễn Thị Thảo Nguyên– giáo viên trường THPT Việt Thanh cho biết: “Các em
h ọc sinh đặc biệt là học sinh khá giỏi rất thích giải thêm bài tập gây hứng thú nằm ngoài SGK vì các em cho r ằng những bài tập SGK thì đơn giản vì thế không gây hứng thú nhiều cho các em và n ếu chỉ giải bài tập trong SGK thì không thể thi đỗ đại học được.”
Trước thực trạng như trên việc xây dựng hệ thống bài tập hóa học gây hứng thú nhằm nâng cao kết quả học tập là hết sức cấp thiết, đáp ứng được nhu cầu của học sinh và giáo viên
Tóm t ắt chương 1
Trong chương 1, chúng tôi đã trình bày cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài gồm các
nội dung sau:
− Tổng quan vấn đề nghiên cứu Chúng tôi đã tìm hiểu một số tài liệu liên quan đến đề
tài nghiên cứu
− Bài tập hoá học: Khái niệm, phân loại, tác dụng của BTHH, những yêu cầu cơ bản đối với bài tập hóa học và những xu hướng xây dựng bài tập hóa học mới hiện nay
− Bài tập gây hứng thú: Khái niệm, phân loại, tác dụng của bài tập gây hứng thú
− Điều tra thực trạng về tầm quan trọng của bài tập gây hứng thú và việc sử dụng hệ thống bài tập gây hứng thú trong dạy học hóa học ở trường THPT hiện nay Qua điều tra cho thấy 100% giáo viên cho rằng việc sử dụng bài tập gây hứng thú nhằm nâng cao kết quả học tập trong dạy học hóa học ở trường THPT là rất cần thiết và cần được tăng cường sử dụng Đa số các GV cho rằng các dạng bài tập: bài tập có cách giải hay độc đáo; bài tập thực tiễn, thực nghiệm; bài tập sử dụng hình vẽ, sơ đồ, biểu bảng đồ thị, gây được hứng thú rất cao đối với HS Tuy nhiên việc sử dụng bài tập
Trang 25gây hứng thú vào dạy học hóa học của GV chưa được thường xuyên liên tục và hiệu quả nguyên nhân là do chưa có hệ thống bài tập gây hứng thú đa dạng và phong phú
để GV sử dụng
− Từ đó đánh giá mức độ cần thiết của việc “Xây dựng hệ thống bài tập gây hứng thú
nhằm nâng cao kết quả học tập phần Hóa hữu cơ lớp 11 THPT”
Trang 26CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP GÂY HỨNG THÚ
2.1 T ổng quan về phần hóa học hữu cơ lớp 11 THPT
− Chương 6: Hiđrocacbon không no
− Chương 7: Hiđrocacbon thơm Nguồn hiđrocacbon thiên nhiên
− Chương 8: Dẫn xuất halogen Ancol – Phenol
− Chương 9: Anđehit – Xeton – Axit cacboxylic
2.1 2 Nội dung
Chương 4: Đại cương về hoá học hữu cơ
1 Hoá h ọc hữu cơ và hợp chất hữu cơ
Phân loại và danh pháp hợp chất hữu cơ
Phân tích nguyên tố
2 Công th ức phân tử hợp chất hữu cơ
Cấu trúc phân tử hợp chất hữu cơ Khái niệm về cấu tạo, cấu hình, cấu dạng, đồng phân
Phản ứng hữu cơ
Chương 5: Hiđrocacbon no
1 Đồng đẳng Đồng phân Danh pháp
- Đồng đẳng Đồng phân (đồng phân mạch cacbon)
- Danh pháp: Ankan không phân nhánh và ankan phân nhánh (IUPAC)
2 Ankan: C ấu trúc phân tử và tính chất vật lí
- Cấu trúc phân tử: Sự hình thành liên kết, cấu trúc không gian (mô hình phân tử, cấu dạng) -TCVL: Nhiệt độ sôi, nhiệt độ nóng chảy, khối lượng riêng…
3 Ankan: Tính ch ất hóa học, điều chế và ứng dụng
- TCHH: PƯ thế, PƯ tách, PƯ oxi hóa
Trang 27- Điều chế Ứng dụng
4 Xicloankan
- Cấu trúc Đồng phân Danh pháp
- TCVL, TCHH (PƯ thế, PƯ cộng mở vòng, PƯ oxi hóa)
- Cấu trúc Đồng phân (đồng phân cấu tạo, đồng phân hình học)
- TCVL TCHH (PƯ cộng hiđro, PƯ cộng halogen, PƯ cộng axit, PƯ cộng nước, PƯ trùng
hợp, PƯ oxi hóa)
- Ứng dụng Điều chế
2 Ankađien
- Phân loại Cấu trúc phân tử
- TCHH: PƯ cộng hiđro, PƯ cộng halogen, PƯ cộng hiđro halogenua, PƯ trùng hợp
- Ứng dụng Điều chế
3 Khái ni ệm về tecpen
- Thành phần, cấu tạo và dẫn xuất
- Nguồn tecpen thiên nhiên
- Ứng dụng
- Ankin
- Đồng đẳng Đồng phân Danh pháp Câu trúc phân tử
- TCHH: Phản ứng cộng (hiđro, halogen, hiđro halogenua, nước, phản ứng đime hóa và trime hóa), phản ứng thế, phản ứng oxi hóa
- Ứng dụng Điều chế
Luy ện tập
Chương 7: Hiđrocacbon thơm Nguồn hiđrocacbon thiên nhiên
Khái niệm về hiđrocacbon thơm
1 Benzen và ankylbenzen
- Cấu trúc Đồng đẳng Đồng phân Danh pháp
Trang 28- TCVL, TCHH: PƯ thế (phản ứng halogen hóa, phản ứng nitro hóa, quy tắc thế, cơ chế
phản ứng thế), PƯ cộng, PƯ oxi hóa
- Nguồn hiđrocacbon thiên nhiên
- Dầu mỏ: Trạng thái tự nhiên, tính chất vật lí, thành phần hóa học Chưng cất dầu mỏ; chế
biến dầu mỏ (phương pháp rifominh, phương pháp crackinh)
- Khí dầu mỏ và khí thiên nhiên: Thành phần, chế biến, ứng dụng
- Than mỏ: Chưng khô than béo, chưng cất nhựa than đá
Luy ện tập
Th ực hành
Chương 8: Dẫn xuất halogen Ancol Phenol
1 D ẫn xuất halogen của hiđrocacbon
- Khái niệm, phân loại Đồng phân Danh pháp (tên thông thường, tên gốc-chức, tên thay
thế)
- TCVL; TCHH (PƯ thế nguyên tử halogen bằng nhóm –OH, sơ lược về cơ chế PƯ thế; PƯ
tách hiđro halogenua, quy tắc Zai-xep; PƯ với magie)
- Ứng dụng
2 Ancol
- Định nghĩa Cấu tạo Danh pháp Phân loại Đồng phân (tên thông thường, tên thay thế)
- TCVL Liên kết hiđro TCHH (PƯ thế hiđro của nhóm –OH, PƯ thế nhóm –OH, PƯtách nước liên phân tử, PƯ tách nước nội phân tử, PƯ oxi hóa của ancol bậc I, II, III)
- Điều chế Ứng dụng
3 Phenol
- Định nghĩa Phân loại
- TCVL TCHH (tính axit, phản ứng thế ở vòng thơm, ảnh hưởng qua lại giữa các nhóm nguyên tử trong phân tử)
- Ứng dụng Điều chế
Trang 29Luy ện tập
Th ực hành
Chương 9: Anđehit Xeton Axit cacboxylic
1 Anđehit và Xeton
- Định nghĩa Cấu trúc Phân loại Danh pháp
- TCVL TCHH: Phản ứng cộng (cộng hiđro, cộng nước, cộng hiđro xianua), PƯ oxi hóa (tác dụng với brom, kali pemanganat, bạc nitrat, trong dung dịch NH3), PƯ ở gốc
hiđrocacbon
- Ứng dụng Điều chế (từ ancol, hiđrocacbon)
2 Axit cacboxylic
- Định nghĩa Phân loại Danh pháp Cấu trúc phân tử
- TCVL, liên kết hiđro TCHH: tính axit và ảnh hưởng của nhóm thế là gốc hiđrocacbon,
của nguyên tử có độ âm điện lớn; PƯ tạo thành dẫn xuất axit (phản ứng với ancol tạo thành este và PƯ tách nước liên phân tử); PƯ ở gốc hiđrocacbon (PƯ thế ở gốc no, PƯ thế ở gốc thơm, PƯ cộng vào gốc không no)
- Ứng dụng Điều chế
Luy ện tập
Th ực hành
2.2 Nguyên tắc xây dựng HTBT gây hứng thú phần hữu cơ lớp 11 THPT
Để định hướng cho việc xây dựng hệ thống bài tập gây hứng thú phần hữu cơ lớp 11 THPT, chúng tôi đã xây dựng những nguyên tắc sau:
2.2.1 Hệ thống bài tập phải góp phần thực hiện mục tiêu môn học
Bài tập là một phương tiện để tổ chức các hoạt động của học sinh nhằm khắc sâu, vận
dụng và phát triển hệ thống kiến thức lí thuyết, hình thành và rèn luyện các kĩ năng cơ bản
Mục tiêu của môn hóa học ở trường THPT (đối với chương trình nâng cao) là cung cấp cho học sinh hệ thống kiến thức, kĩ năng phổ thông, cơ bản, hiện đại, thiết thực, có nâng cao
về hóa học và gắn với đời sống Nội dung chủ yếu bao gồm các kiến thức về cấu tạo chất, sự
biến đổi các chất, những ứng dụng và những tác hại của các chất trong đời sống, sản xuất và môi trường Những nội dung này góp phần giúp học sinh có học vấn phổ thông tương đối toàn diện để có thể giải quyết tốt một số vấn đề hóa học có liên quan đến đời sống và sản
xuất, mặt khác góp phần phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh
Trang 302.2.2 Hệ thống bài tập phải đảm bảo tính chính xác, khoa học
Khi xây dựng, nội dung của bài tập phải có sự chính xác về kiến thức hóa học, bài tập cho đủ các dữ kiện, không được dư hay thiếu Các bài tập không được mắc sai lầm hay thiếu chính xác trong cách diễn đạt, thiếu logic chặt chẽ Vì vậy giáo viên khi ra bài tập cần chú ý tính logic chính xác và đảm bảo tính khoa học về ngôn ngữ hóa học
2.2.3 Hệ thống bài tập phải đảm bảo tính hệ thống, tính đa dạng
Trong quá trình xây dựng hệ thống bài tập có những loại bài tập được đầu tư nhiều hơn, vì chúng góp phần quan trọng hơn vào việc hình thành và rèn luyện những kĩ năng liên quan đến nhiều hoạt động giáo dục…Giữa các bài tập trong hệ thống luôn có mối quan hệ
chặt chẽ với nhau, bài tập trước là cơ sở, nền tảng để thực hiện bài tập sau và bài tập sau là
sự cụ thể hóa, là sự phát triển và củng cố vững chắc hơn bài tập trước Toàn bộ hệ thống bài
tập đều nhằm giúp học sinh nắm vững kiến thức, hình thành và phát triển hệ thống kĩ năng
cơ bản
Mặt khác, hệ thống bài tập còn phải được xây dựng một cách đa dạng, phong phú Sự
đa dạng của hệ thống bài tập sẽ giúp cho việc hình thành các kĩ năng cụ thể, chuyên biệt một cách hiệu quả
2.2.4 Hệ thống bài tập phải đảm bảo gây được hứng thú cho học sinh
HTBT được xây dựng chắc chắn phải chứa đựng các yếu tố gây hứng thú như: các yếu
tố mới lạ, những điều mới hoặc cái nhìn mới về những kiến thức cũ; gây được sự bất ngờ,
ngạc nhiên; sự khó khăn, phức tạp và có vấn đề của kiến thức hoặc là tạo ra những bí mật để kích thích trí tò mò, kích thích năng lực tư duy cho HS khi gặp phải những bài tập này Cụ
thể như bài tập có liên quan đến các vấn đề thực tiễn xã hội hay cập nhật những vấn đề mang tính thời sự; bài tập có sử dụng hình vẽ, sơ đồ, đồ thị kích thích trí tò mò của HS; bài
tập mở rộng hiểu biết cho HS về các vấn đề trong cuộc sống; bài tập có cách giải hay độc đáo hay có chứa câu chuyện hóa học, Tất cả những dạng bài tập đó đều chứa đựng những
yếu tố gây hứng thú Các bài tập phải có đủ loại điển hình và tính mục đích rõ ràng, phát triển được năng lực tư duy độc lập cho HS.Có những bài tập chung cho cả lớp nhưng cũng
có bài tập riêng cho từng đối tượng, hình thức phổ biến là cao hơn, khó hơn nhưng phải gây được hứng thú, kích thích trí tò mò quyết tâm đạt đến kết quả cuối cùng chứ không mang tính chất ép buộc Với hệ thống bài tập được xây dựng theo nguyên tắc này sẽ là bước khởi
Trang 31đầu tạo dựng niềm tin và sự đam mê hoá học cho HS, sẽ tạo cho HS một niềm vui, một sự hưng phấn cao độ, kích thích tư duy và nỗ lực suy nghĩ
2.2.5 Hệ thống bài tập phải đảm bảo tính vừa sức
Dù trình độ học sinh là khá giỏi hay trung bình yếu, bài tập cũng phải được xây dựng
từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp: đầu tiên là những bài tập vận dụng nhưng không quá đơn giản, sau đó là những bài tập đòi hỏi sáng tạo Một số bài tập cần có sự nỗ lực cố
gắng cao mới có thể giải được Các bài tập phải có đủ loại điển hình và tính mục đích rõ ràng Với hệ thống bài tập được xây dựng theo nguyên tắc này sẽ giúp cho học sinh khá giỏi tham gia tranh luận để giải bài tập, tạo hứng thú, kích thích tư duy và nỗ lực suy nghĩ
2.2.6 Hệ thống bài tập phải phát triển năng lực nhận thức, rèn luyện kỹ năng học tập cho học sinh
Với các dạng bài tập phong phú và đa dạng, hệ thống bài tập bài tập mà chúng tôi xây
dựng sẽ góp phần nâng cao và hoàn thiện tất cả các năng lực xử lí và giải quyết vấn đề của
HS, đồng thời rèn luyện các kỹ năng học tập cần thiết, sự nhanh nhẹn, nhạy bén, chính xác đặc biệt là khả năng tư duy độc lập và sự nhìn nhận vấn đề một cách sâu sắc nhất dưới mọi góc độ Qua đó hình thành nên tác phong cho nhà tri thức trong tương lai
2.2.7 Hệ thống bài tập góp phần mở rộng kiến thức, vốn hiểu biết của HS
Nội dung kiến thức phần hữu cơ là rất rộng, nhất là khi HS thi đại học hoặc là các kì thi HS giỏi thì yêu cầu về kiến thức hữu cơ đòi hỏi cao hơn rất nhiều Kiến thức mở rộng không chỉ là kiến thức lý thuyết nâng cao mà còn phải bổ sung các kiến thức thực tiễn để
vận dụng vào đời sống Chính vì vậy, bài tập là công cụ tối ưu giúp bổ sung mở rộng kiến
thức, vốn hiểu biết cho HS một cách đa dạng, không gây nhàm chán mà còn mang lại nhiều
hiệu quả tích cực
2.3 Phương pháp xây dựng HTBT gây hứng thú phần hóa hữu cơ lớp 11 THPT
2.3.1 Xây d ựng bài tập dựa trên những bài tập có sẵn
Dựa trên những bài tập hóa học đã có sẵn mà xây dựng các bài tập mới là một trong
những cách xây dựng đơn giản nhất và dễ thực hiện nhất Sau đây là một số cách mà giáo viên có thể áp dụng để xây dựng 1 bài tập hóa học mới:
Trang 322.3.1.1 Phương pháp tương tự
a Thay đổi số liệu đã cho trong bài tập hóa học
Ví d ụ 1 Cho hỗn hợp A gồm HCOOH và CH3COOH tác dụng với Na dư thu được 5,6 lít khí (đktc) Nếu dùng dung dịch AgNO3 trong NH3 dư cho tác dụng với A thì thu được 21,6 gam kết tủa
a Viết PTHH của các phản ứng xảy ra
b Tính khối lượng hỗn hợp A ban đầu
Khi thay đổi số liệu ta có thể có bài tập sau đây:
Ví d ụ 1a.Cho hỗn hợp A gồm HCOOH và CH3COOH tác dụng với Na dư thu được 22,4 lít khí (đktc) Nếu dùng dung dịch AgNO3 trong NH3 dư cho tác dụng với A thì thu được 5,4 gam kết tủa
a Viết PTHH của các phản ứng xảy ra
b Tính khối lượng hỗn hợp A ban đầu
Khi thay đổi số liệu ta có thể có các bài tập khác nhau Tuy nhiên khi thay đổi số liệu
ta cần chú ý đến tính hợp lí của chúng không thể thay thế nào cũng được
Chẳng hạn với bài tập trên ta không thể thay các thể tích thu được là 0,224 lít hay 0,0448 lít Các thể tích quá nhỏ không thuận tiện cho việc đo đạc cũng như việc tiến hành thí nghiệm
b Thay đổi các chất trong bài tập hóa học
Với bài tập ở ví dụ 1 ở trên ta có thể thay đổi các chất như sau:
Ví d ụ 2 Cho hỗn hợp A gồm HCOOH và C2H5COOH tác dụng với Na dư thu được 5,6 lít khí (đktc) Nếu dùng dung dịch AgNO3 trong NH3 dư cho tác dụng với A thì thu được 21,6 gam kết tủa
a Viết PTHH của các phản ứng xảy ra
b Tính khối lượng hỗn hợp A ban đầu
Khi thay đổi các chất trong bài tập cần giữ nguyên ý nghĩa của bài tập Bài tập trên cho
2 axit cacboxylic tác dụng với Na trong đó có axit fomic có thể thực hiện phản ứng tráng gương Nếu như khi ta thay đổi bài tập bằng một axit khác axit fomic… thì nội dung bài tập
sẽ không được chính xác Ngoài việc thay thế axit axetic bằng một axit khác ta có thể thay
thế bằng một ancol khác như sau:
Ví d ụ 2a Cho hỗn hợp A gồm HCOOH và CH3OH tác dụng với Na dư thu được 5,6 lít khí (đktc) Nếu dùng dung dịch AgNO3 trong NH3 dư cho tác dụng với A thì thu được 21,6 gam
Trang 33a Viết PTHH của các phản ứng xảy ra
b Tính khối lượng hỗn hợp A ban đầu
Ví d ụ 2b Cho hỗn hợp A gồm HCOOH và C2H5OH tác dụng với Na dư thu được 5,6 lít khí (đktc) Nếu dùng dung dịch AgNO3 trong NH3 dư cho tác dụng với A thì thu được 21,6 gam
kết tủa
a Viết PTHH của các phản ứng xảy ra
b Tính khối lượng hỗn hợp A ban đầu
c Thay đổi các quan hệ trong bài tập hóa học
Ví d ụ 3 Nguyên tử của nguyên tố X có tổng số hạt p, n, e bằng 18, tổng số hạt mang điện
nhiều hơntổng số hạt không mang điện là 6 hạt Xác định X và tính phần trăm khối lượng
của X trong hợp chất X2H4O2
Ta có thể đổi quan hệ tổng bằng quan hệ hơn kém, gấp:
Ví d ụ 3a Nguyên tử của nguyên tố X có tổng số hạt p, n, e bằng 18, tổng số hạt mang
điệngấp 2 lầntổng số hạt không mang điện Xác định X và tính phần trăm khối lượng của X trong hợp chất X2H4O2
d Tăng hoặc giảm số chất trong bài tập
Ví d ụ 4 Cho m gam hỗn hợp gồm metanol, etanol và propanol tác dụng vừa đủ với Na thu
được (m + 11) gam hỗn hợp muối Tính khối lượng Na cần dùng
Với bài tập này giáo viên có thể tăng hoặc giảm đối tượng sao cho những chất thêm vào đều tác dụng với Na thu được muối, cụ thể như ví dụ sau:
Ví d ụ 4a Cho m gam hỗn hợp gồm metanol, etanol, propanol và phenol tác dụng vừa đủ
với Na thu được (m + 11) gam hỗn hợp muối Tính khối lượng Na cần dùng
Ví d ụ 4b Cho m gam hỗn hợp gồm metanol, phenol và metanoic tác dụng vừa đủ với Na
thu được (m + 11) gam hỗn hợp muối Tính khối lượng Na cần dùng
e Thay đổi một trong những dữ kiện đã cho bằng dữ kiện gián tiếp
Để xây dựng bài tập mới dựa trên bài tập có sẵn, ta có thể thay đổi điều kiện của bài tập từ
trực tiếp thành gián tiếp Ta có thể xây dựng bài toán mới từ bài toán ở ví dụ 5 như sau:
Ví d ụ 5 Cho 0,87g một anđehit no đơn chức A pứ hoàn toàn với dd AgNO3/NH3 thì thu được Ag Lượng Ag này cho tác dụng với HNO3đ(dư) thu được 672ml NO2(đktc)
a Xác định CTPT của A Viết CTCT các đồng phân và gọi tên
b Cho 11,6g anđehit A pứ hoàn toàn với H2 (Ni,to) Tính thể tích H2 (đktc) đã phản
Trang 34ứng và khối lượng sản phẩm thu được, biết H%=80
Thay vì cho trực tiếp khí NO2và yêu cầu tính thể tích khí H2 ở điều kiện tiêu chuẩn (t0 =
00C; p=1atm) thì ta có thể cho một cách gián tiếp như sau:
Ví d ụ 5a Cho 0,87g một anđehit no đơn chức A pứ hoàn toàn với dd AgNO3/NH3 thì thu được Ag Lượng Ag này cho tác dụng với HNO3đ(dư) thu được 672ml (đktc) khí có màu nâu
a Xác định CTPT của A Viết CTCT các đồng phân và gọi tên
b Cho 11,6g anđehit A pứ hoàn toàn với H2 (Ni,to) Tính thể tích H2 (đktc) đã phản ứng và khối lượng sản phẩm thu được, biết H%=80
Ví d ụ 5b Cho 0,87g một anđehit no đơn chức A pứ hoàn toàn với dd AgNO3/NH3 thì thu được Ag Lượng Ag này cho tác dụng với HNO3đ(dư) thu được 672ml khí NO2(đktc)
a Xác định CTPT của A Viết CTCT các đồng phân và gọi tên
b Cho 11,6g anđehit A pứ hoàn toàn với H2 (Ni,to) Tính thể tích H2 đã phản ứng (ở
27oC, 750mmHg) và khối lượng sản phẩm thu được, biết H%=80
f Thay đổi câu hỏi của một bài tập bằng câu hỏi khó hơn
Ví d ụ 6 Cho 0,92g hỗn hợp axetilen và anđehit axetic pứ hoàn toàn với dd
AgNO3/NH3 thu được 5,64g hỗn hợp rắn Tính khối lượng mỗi chất trong hỗn hợp đầu
Khi thay đổi câu hỏi của bài tập thì ta được bài tập mới, bài tập này khó hơn bài tập ở
ví dụ 1 Tuy nhiên bài tập này vẫn tương tự như bài tập ban đầu
Ví d ụ 6a Cho 0,92g hỗn hợp axetilen và anđehit axetic pứ hoàn toàn với dd
AgNO3/NH3 thu được 5,64g hỗn hợp rắn Tính % khối lượng các chất trong hỗn hợp đầu
Trang 352.3.1.2 Xây d ựng bài tập hóa học mới ngược với bài tập đã giải
Trong một bài tập nếu ta thay một trong những điều đã cho bằng đáp số của bài tập và đặt câu hỏi vào điều đã cho ấy thì ta được một bài tập ngược Với ví dụ dưới đây, ta có thể
sử dụng bài tập ngược để xây dựng bài tập hóa học mới Cụ thể như sau:
Ví d ụ 1 Đốt cháy hoàn toàn V lít (đktc) một ankin thu được 10,8g H2O Nếu cho tất
cả sản phẩm cháy hấp thụ hết vào bình đựng nước vôi trong thì khối lượng bình tăng 50,4g Giá trị của V là
D 4,48
Ta sử dụng đáp án của bài tập trên là V = 6,72 lít làm giả thuyết cho bài tập mới như sau:
Ví d ụ 1a Đốt cháy hoàn toàn 6,72 lít (đktc) một ankin thu được 10,8g H2O Nếu cho
tất cả sản phẩm cháy hấp thụ hết vào bình đựng nước vôi trong thì khối lượng bình tăng lên là
Ví d ụ 1 Trước kia, ‘phẩm đỏ’ dùng để nhuộm áo choàng cho các Hồng y giáo chủ
được tách chiết từ một loài ốc biển Đó là hợp chất có thành phần nguyên tố như sau:
C: 45,70%, H: 1,90%, O: 7,60%, N: 6,70%, Br: 38,10% Hãy xác định công thức đơn
giản nhất của phẩm đỏ
Ta chuyển sang bài tập tự luận như sau:
Ví d ụ 1a Trước kia, ‘phẩm đỏ’ dùng để nhuộm áo choàng cho các Hồng y giáo chủ
được tách chiết từ một loài ốc biển Đó là hợp chất có thành phần nguyên tố như sau: C: 45,70%, H: 1,90%, O: 7,60%, N: 6,70%, Br: 38,10% Công thức đơn giản nhất của
phẩm đỏ trên là
Trang 36C16H8O2N2Br2 B C16H8ON2Br2
C C16H8O2NBr2 D C16H8O2N2Br
2.3.2 Xây d ựng bài tập hoàn toàn mới
2.3.2.1 Xây d ựng BTHH mới dựa trên nội dung gây hứng thú đã định trước
Trong các nội dung kiến thức cần truyền đạt cho HS sẽ có những nội dung tạo cho HS
cảm giác thích thú, tò mò; GV nên khai thác các kiến thức này để chuyển thành những bài
tập nhằm khắc sâu thêm kiến thức cho HS Hoặc là GV muốn cung cấp cho học sinh thêm
kiến thức bổ ích, lí thú, muốn rèn luyện tư duy, trí thông minh cho HS thì giáo viên có thể thiết kế bài tập tùy thuộc vào yêu cầu của mình
Ví dụ:Khi muốn phát triển tư duy, rèn trí thông minh cho HS GV có thể xây dựng bài tập như sau:
Ví d ụ 1 Đốt cháy hoàn toàn hỗn hợp đồng số mol gồm C2H2, C2H4, C2H6 Sản phẩm cháy được hấp thụ hoàn toàn vào Ca(OH)2 dư thấy khối lượng bình đựng dd Ca(OH)2
tăng 12,4 gam Khối lượng hidrocacbon đã bị đốt cháy là
A.2,8 gam B 5,6 gam C 8,4 gam D 4,2 gam
Vì bài toán trên là hỗn hợp đồng số mol gồm ankin, anken và ankan nên học sinh có
thể suy luận là quy về nhóm CH2 thì nCO2 = nH2Okhi đó có thể giải được bài này một cách dễ dàng và từ đó học sinh sẽ tư duy tương tự với các bài toán quy đổi những hỗn hợp đồng số mol khác
Khi muốn mở rộng hiểu biết cho HS GV có thể xây dựng các bài tập như sau:
Ví d ụ 2 Nghiên cứu mới đây của Đại học Công nghệ Blacksburg, bang Virginia,
Mỹ, cho thấy triclosan - thành phần diệt khuẩn có trong gần 75% sản phẩm sữa tắm
và xà phòng diệt khuẩn dạng lỏng được bày bán ở Mỹ, có thể tạo ra chloroform
(một tác nhân gây ung thư) khi phản ứng với nước được khử trùng bằng clo Cục
quản lý thuốc và thực phẩm Mỹ (FDA) đã bắt đầu tiến hành những cuộc điều tra,
theo dõi và kiểm soát những loại hóa mỹ phẩm mà trong thành phần có chứa loại
hóa chất này Hình vẽ dưới đây biểu diễn công thức hóa học của triclosan Vậy
CTPT của triclosan là:
Trang 37A C12H12O2Cl3
B C12H6O2Cl3
C C10H6O2Cl2
D C12H7O2Cl3
2.3.2.2 Xây d ựng BTHH mới bằng cách kết hợp nhiều bài tập nhỏ lại với nhau
Ví dụ 1 Đốt cháy hoàn toàn 2,20gam một ankan X thu được 3,36 lít khí CO2 (đktc) Công thức phân tử của X là
A CH4 B C2H6 C C3H8 D C4H10
Bài tập này đốt cháy một ankan thu được khí CO2 Tìm CTPT của chất đó Nếu ta kết
hợp bài tập này với 1 bài tập khác đốt cháy 1 ankan lân cận ankan X thì ta sẽ được bài tập
mới Bài tập đó có thể được xây dựng như sau:
Ví d ụ 1a Đốt cháy hoàn toàn 13,1 gam 2 ankan liên tiếp nhau thu được 20,6 lít khí
CO2 (đktc) Công thức phân tử của 2 ankan là
A CH4, C2H6 B C2H6, C3H8 C C3H8, C4H10 D.C4H10, C5H12
Ví d ụ 1b Đốt cháy hoàn toàn 9,6 gam 2 ankan liên tiếp nhau thu được 14,56 lít khí
CO2 (đktc) Công thức phân tử của 2 ankan là
A CH4,C2H6 B C2H6 , C3H8 C C3H8, C4H10 D.C4H10, C5H12
Ngoài ra việc xây dựng hệ thống bài tập gây hứng thú còn dựa trên quá trình sưu tầm các câu chuy ện lịch sử hoặc hiện đại, hoặc những bài báo có chứa các vấn đề gần gũi liên
quan đến hóa học mà HS cần biết thêm và có thể gây hứng thú với các em sau đó tìm cách
lồng bài tập hoặc những câu hỏi hóa học vào để tạo thành những bài tập gây hứng thú
2.4 Quy trình xây d ựng HTBT gây hứng thú
Bước 1: Xác định mục tiêu dạy học phần hóa hữu cơ lớp 11 THPT, các kiến thức trọng tâm,
các kỹ năng cần rèn luyện cho HS
Bước 2: Xác định mục đích của HTBT
Bước 3: Xác định, phân loại các dạng BTHH cần xây dựng
Bước 4: Thu thập thông tin, lựa chọn các nội dung gây hứng thú để xây dựng từng BTHH
Trang 38Bước 5: Tiến hành soạn thảo hệ thống bài tập, bổ sung, điều chỉnh
Bước 6: Tham khảo và trao đổi ý kiến với đồng nghiệp
Bước 7: Thực nghiệm, chỉnh sửa và bổ sung
2.5.H ệ thống BTHH gây hứng thú phần hóa hữu cơ lớp 11 THPT
2.5.1 Giới thiệu tổng quan về HTBT gây hứng thú
Chúng tôi đã xây dựng 196 bài tập thuộc 6 dạng bài tập gây hứng thú theo thứ tự và số lượng tương ứng như sau:
- Bài tập có cách giải đặc biệt (35 bài)
- Bài tập có sử dụng hình ảnh, biểu bảng, sơ đồ, đồ thị (44 bài)
- Bài tập phát triển tư duy (20 bài)
- Bài tập gắn với thực tiễn, thực nghiệm (52 bài)
- Bài tập chứa câu chuyện (lịch sử, hiện đại) (26 bài)
- Bài tập mở rộng hiểu biết (19 bài)
Các bài tập trong hệ thống được sắp xếp từ trắc nghiệm đến tự luận bao gồm 102 bài
t ập hoàn toàn mới do tác giả tự xây dựng (gồm 44 bài tập có sử dụng hình ảnh, biểu bảng,
sơ đồ, đồ thị; 26 bài tập chứa câu chuyện (lịch sử, hiện đại); 13 bài tập gắn với thực tiễn,
thực nghiệm và 19 bài tập mở rộng hiểu biết) còn lại 94 bài tập được xây dựng dựa trên
những bài tập có sẵn Nội dung của những bài tập này được trình bày cụ thể dưới đây
2.5.2 Bài tập có phương pháp giải đặc biệt (giải nhanh, nhiều cách giải )
2.5.2.1 Bài t ập có phương pháp giải nhanh
Bài 1 Đốt cháy hoàn toàn a mol hỗn hợp hai ancol no, mạch hở, thu được 2,24 lít CO2
(đktc) và 2,7 gam nước Giá trị của a là
Nh ận xét: Với bài tập học sinh cần có khả năng khái quát bài cao và biết rút ra kết luận khi
quan sát phương trình đốt cháy Cụ thể:
Từ sơ đồ phản ứng đốt cháy: CnH2n+2Ox → n CO2 + (n + 1) H2O
→
H O CO hh
n = n - n = 0,15 – 0,10 = 0,05 mol (đáp án B)
Bài 2 Cho 32,8 gam hỗn hợp gồm axit oxalic, phenol và axit acrylic tác dụng vừa đủ
với 200 ml dung dịch KOH 2,5M Cô cạn dung dịch sau phản ứng thu được m gam
Trang 39muối khan Giá trị của m là
Nh ận xét: Nếu HS viết PTPƯ và giải theo cách đặt ẩn thông thường thì mất nhiều thời gian
Ta dễ dàng nhận thấy ba chất trong hỗn hợp đều nhường H+để tạo muối kali Vậy:
Nh ận xét: Nếu bài này ta viết tất cả PTHH thì sẽ rất nhiều và rất khó khăn khi giải để giải
được Nhận thấy toàn bộ quá trình hh A → hh B
Vì vậy BTKL ta có mX = mY→ nY = 0,5 mol
Mà nhh giảm= nH2pư = 0,75 – 0,5 = 0,25 mol = nC=C pư
Quy đổi: 0,15 mol C2H2 + 0,1 mol C2H4,+ 0,1 mol C4H4 = 0,7 mol C=C (với quy tắc 1 lk ba
Nh ận xét: Nhận thấy toàn bộ O2 tham gia pư đã chuyển vào CO2 và H2O nên
bảo toàn nguyên tố oxi ta có:
Bài 5 Đốt cháy hoàn toàn m gam hỗn hợp X gồm các hidrocacbon C3H4, C2H6 và
C4H8 thu được 12,98g CO2 và 5,76g H2O Giá trị của m là
Trang 40Bài 6 Cho 1,24g hỗn hợp 2 ancol đơn chức tác dụng vừa đủ với Na thấy thoát ra 336 ml H2
(đktc) và m(g) muối natri Giá trị m là
Bài 7 Để trung hòa hết 12,72 gam hỗn hợp hai axit cacboxylic A và B cần dùng vừa đủ V
ml dung dịch NaOH 1M Cô cạn dung dịch sau phản ứng thu được 18 gam chất rắn Giá trị
Áp dụng phương pháp bảo toàn khối lượng, ta có:
mhhaxit + mNaOH = mrắn + mnước
⇔ 12,72 + 40a = 18 + 18a => a = 0,24 mol
VNaOH= 240 ml (đáp án B)
Bài 8 Hỗn hợp X có tỉ khối so với H2 là 21,2 gồm propan, propen và propin Khi đốt cháy hoàn toàn 0,1 mol X, tổng khối lượng của CO2 và H2O thu được là
A 18,60 g B 18,96 g C 20,40 g D 16,80 g
Bài 9 Đun núng hỗn hợp khí gồm 0,06 mol C2H2 và 0,04 mol H2 với xúc tác Ni, sau một
thời gian thu được hỗn hợp khí Y Dẫn toàn bộ hỗn hợp Y lội từ từ qua bình đựng dung