Luật giáo dục đã quy định rõ nguồn kinh phí đầu tư chogiáo dục hiện nay bao gồm nguồn kinh phí do Nhà nước cấp và nguồn kinh phíkhác nhưng nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước NSNN phải chiếm
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệukết quả nêu trong Luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳcông trình nào khác Những tư liệu được sử dụng trong Luận văn có nguồngốc và trích dẫn rõ ràng
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Thị Minh Nguyệt
LỜI CẢM ƠN
Trang 2Để hoàn thành Luận văn tốt nghiệp này, em xin tỏ lòng biết ơn đến Thầy giáoPGS.TS Bùi Xuân Nhàn-Phó Hiệu trường Trường Đại học Thương mại, đã tận tìnhhướng dẫn em trong suốt quá trình viết Luận văn.
Em xin chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô giáo trong Trường Đại học Thươngmại đã tận tình truyền đạt kiến thức cho em trong hai năm qua Với vốn kiến thứcđược tiếp thu trong quá trình học tập, đó không chỉ là nền tảng cho quá trình nghiêncứu Luận văn mà còn là hành trang quý báu để em tiếp tục vận dụng trong công tác
và cũng như trong cuộc sống
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Lãnh đạo UBND huyện Tiên Du và đặcbiệt là lãnh đạo Phòng Tài Chính - KH đã tạo điều kiện thuận lợi để em được thamgia học trên lớp cũng như nghiên cứu thực tiễn tại cơ quan giúp em hoàn thành bảnluận văn này
Cuối cùng em xin kính chúc toàn thể quý Thầy, Cô giáo Trường Đại họcThương mại, các đồng chí Lãnh đạo UBND huyện và Phòng Tài Chính - KH huyệnTiên Du luôn dồi dào sức khỏe, hạnh phúc và thành công!
Em xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả
Nguyễn Thị Minh Nguyệt
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU,SƠ ĐỒ vii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 7
5 Phương pháp nghiên cứu 8
6 Ý nghĩa của đề tài luận văn 11
7 Kết cấu của luận văn 12
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC, ĐÀO TẠO TRÊN ĐỊA BÀN CẤP HUYỆN 13
1.1 Tổng quan về hệ thống Ngân sách Nhà nước 13
1.1.1 Ngân sách nhà nước và hệ thống NSNN 13
1.1.2 Ngân sách địa phương 16
1.1.3 Quản lý chi Ngân sách nhà nước 17
1.2 Quản lý chi thường xuyên NSNN cho giáo dục đào tạo trên địa bàn cấp huyện 23
1.2.1 Tổng quát về quản lý chi thường xuyên NSNN cho giáo dục đào tạo 23
1.2.2 Một số nhân tố ảnh hưởng quản lý chi thường xuyên NSNN cho giáo dục đào tạo trên địa bàn cấp huyện 34
1.3 Kinh nghiệm của một số địa phương trong công tác quản lý chi thường xuyên NSNN cho giáo dục đào tạo 38
Trang 41.3.1 Kinh nghiệm của huyện Gia Bình 38
1.3.2 Kinh nghiệm của huyện Yên Phong 41
1.3.3 Một số bài học rút ra cho huyện Tiên Du 46
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TIÊN DU TỈNH BẮC NINH GIAI ĐOẠN 2011-2014 48
2.1 Một số nét khái quát về huyện Tiên Du và công tác giáo dục - đào tạo trên địa bàn 48
2.1.1 Khái quát về huyện Tiên Du 48
2.1.2 Công tác giáo dục - đào tạo trên địa bàn huyện 51
2.2 Chi thường xuyên NSNN cho giáo dục - đào tạo 57
2.2.2 Tình hình chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục 58
2.2.3 Nguồn vốn chi thường xuyên đầu tư cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo 61
2.2.4 Cơ cấu chi thường xuyên NSNN cho giáo dục - đào tạo theo cấp học 63
2.2.5 Cơ cấu chi cho con người và các khoản chi khác 64
2.3 Tình hình quản lý chi thường xuyên NSNN cho giáo dục - đào tạo 66
2.3.1 Mô hình quản lý 66
2.3.2 Quản lý chi thường xuyên NSNN cho giáo dục- đào tạo 69
2.4 Đánh giá thực trạng quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục đào tạo tại huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh 90
2.4.1 Kết quả đạt được và nguyên nhân 90
2.4.2 Tồn tại và nguyên nhân 91
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN NSNN CHO SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TIÊN DU TỈNH BẮC NINH GIAI ĐOẠN 2015 – 2020 97
3.1 Phương hướng và mục tiêu quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo huyện Tiên Du giai đoạn 2015-2020 97
3.1.1 Dự báo tình hình phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 2015-2020 97
Trang 53.1.2 Mục tiêu, nhiệm vụ phát triển giáo dục đào tạo 98
3.1.3 Phương hướng, mục tiêu quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục đào tạo 101
3.2 Giải pháp tăng cường quản lý chi thường xuyên NSNN cho giáo dục - đào tạo 101
3.2.1 Xây dựng cơ cấu chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo hợp lý, hiệu quả 102
3.2.2 Tăng cường quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục đào tạo trong cả ba khâu lập, chấp hành và quyết toán NSNN 103
3.2.3 Tăng cường kiểm tra, kiểm soát các khoản chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục đào tạo 105
3.2.4 Nâng cao chất lượng cán bộ làm công tác tài chính kế toán tại các đơn vị, cơ sở giáo dục 106
3.2.5 Đẩy mạnh công tác xã hội hoá giáo dục tại địa phương 107
3.2.6 Tiếp tục triển khai cơ chế tự chủ tài chính trong các đơn vị sự nghiệp giáo dục đào tạo 109
3.3 Kiến nghị với cơ quan quản lý cấp trên 109
3.3.1 Đối với Nhà nước 109
3.3.2 Đối với tỉnh Bắc Ninh 110
KẾT LUẬN 112
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 114
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
Số
TT
01 CN-TTCN Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU,SƠ ĐỒ Bảng 2.1: Quy mô Giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông năm học 2014 - 2015
52
Bảng 2.2 Chi NSNN cho giáo dục đào tạo theo cơ cấu chi 57
Bảng 2.3: Chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục 59
Bảng 2.4: Nguồn vốn chi thường xuyên đầu tư cho giáo dục đào tạo 61
Bảng 2.5: Mức thu học phí áp dụng từ năm 2011-2014 62
Bảng 2.6: Chi NSNN cho giáo dục - đào tạo phân theo cấp học 64
Bảng 2.7: Lương bình quân hàng tháng của giáo viên 65
từ nguồn NSNN trong các cơ sở giáo dục công lập 65
Bảng 2.8 Chi thường xuyên NSNN cho giáo dục - đào tạo theo 4 nhóm mục chi .69 Bảng 2.9: Dự toán chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp 75
giáo dục ĐT năm 2014 75
Bảng 2.10: Tổng hợp ý kiến đánh giá về công tác lập dự toán 75
chi thường xuyên của các đơn vị trong ngành Giáo dục huyện 75
Bảng 2.11 Nguyên nhân việc lập dự toán chi ngân sách hiện nay 76
vẫn còn tình trạng chưa sát với thực tế 76
Bảng 2.12: Đánh giá về công tác thực hiện dự toán chi thường xuyên 79
của các đơn vị trong ngành Giáo dục huyện 79
Bảng 2.13: Nguyên nhân của việc chấp hành chi ngân sách chưa đúng quy định và Yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý chi NS cho Giáo dục huyện 81
Bảng 2.14: Đánh giá đối với công tác quyết toán chi thường xuyên NSNN 84
Bảng 2.15: Nguyên nhân của việc lập báo cáo quyết toán chi ngân sách 84
Sơ đồ 1.2: Chu trình ngân sách nhà nước 22
Sơ đồ 2.1: Chi NSNN cho giáo dục đào tạo theo cơ cấu chi 58
Sơ đồ 2.2: Chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục 60
Sơ đồ 2.3: Nguồn vốn chi thường xuyên đầu tư cho giáo dục đào tạo 61
Sơ đồ 2.4: Mô hình quản lý, cấp phát chi thường xuyên NSNN cho giáo dục đào tạo 68
Trang 8Sơ đồ 2.5: Chi thường xuyên NSNN cho giáo dục - ĐT theo 4 nhóm mục chi 70
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đầu tư cho giáo dục từ chỗ được xem là phúc lợi xã hội chuyển sang đầu tưcho phát triển, kinh nghiệm cho thấy ở những nước phát triển như Mỹ, Nhật Bản,các nước Tây Âu và các nước công nghiệp mới (NIC) như: Singapore, Hàn Quốc,khu vực Đài Loan đều là những nước có quan tâm và đầu tư cao nhất cho phát triểngiáo dục đào tạo con người Nguồn lực con người là nhân tố quyết định đối với sựphát triển của mỗi quốc gia, nói đến nguồn lực con người chính là đề cập đến sứcmạnh trí tuệ và trình độ của họ Song, trí tuệ và trình độ của con người không phải
tự nhiên mà có, nó là kết quả của sự giáo dục, đào tạo và tự rèn luyện lâu dài Cóthể nói, giáo dục - đào tạo là mối quan tâm hàng đầu của mỗi quốc gia, nhằm tạo ramột nguồn nhân lực có trí tuệ cao, có tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp, đápứng ở mức cao nhất những yêu cầu của xã hội Vì vậy, sự nghiệp giáo dục đào tạo
đã trở thành sự nghiệp sống còn của mỗi quốc gia
Tuy nhiên, đến nay giáo dục và đào tạo nước ta vẫn chưa thực sự là quốc sáchhàng đầu, động lực quan trọng nhất cho phát triển Chất lượng giáo dục và đào tạochưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội Quản lý giáo dục và đào tạo cònnhiều bất cập, thiếu dự báo nhu cầu nguồn nhân lực cho quá trình công nghiệp hóa-hiện đại hóa (CNH-HĐH) đất nước Đầu tư cho giáo dục còn mang tính bình quân;
cơ sở vật chất (CSVC) kỹ thuật của các cơ sở giáo dục còn thiếu và lạc hậu Chế độ,chính sách đối với nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục chưa thỏa đáng Để khắcphục những tồn tại hạn chế nêu trên, xác định được tầm quan trọng của đổi mới giáodục Hội nghị Trung ương 6 (khóa XI) đã họp, dành thời gian đáng kể để thảo luận
về Đề án này Ý kiến lúc đó còn nhiều điểm chưa thống nhất về đánh giá thực trạng
và đặc biệt là về các giải pháp đổi mới giáo dục, nên Trung ương đã cân nhắc, quyết
định chưa ra Nghị quyết mà chỉ ra Kết luận (Kết luận số 51-KL/TW ngày 29 tháng
10 năm 2012) về một số vấn đề cấp bách của giáo dục và đào tạo, và chỉ đạo tiếp
tục nghiên cứu, hoàn thiện Đề án để thảo luận lại và ra Nghị quyết vào thời điểm
Trang 10thích hợp và tại hội nghị Trung ương 8 khoá XI đã ban hành Nghị quyết số 29-NQ/
TW ngày 04/11/2013 nêu rõ: “ Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo,
đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”.
Ngày 09 tháng 06 năm 2014 Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 44/NQ-CP
về chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013của Ban chấp hành Trung ương Đảng
Thực hiện chủ trương quan trọng đó của Đảng và Nhà nước Đất nước ta đangtrong công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng với khoa học công
nghệ, giáo dục đào tạo đã được Đảng và Nhà nước ta xác định là " Đầu tư cho giáo
dục đào tạo là đầu tư phát triển là quốc sách hàng đầu" Phát triển giáo dục đào tạo
được coi là một trong những động lực thúc đẩy sự nghiệp CNH-HĐH, là điều kiện
để phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của phát triển xã hội, tăng trưởngkinh tế nhanh và bền vững Luật giáo dục đã quy định rõ nguồn kinh phí đầu tư chogiáo dục hiện nay bao gồm nguồn kinh phí do Nhà nước cấp và nguồn kinh phíkhác nhưng nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước (NSNN) phải chiếm vị trí quantrọng, chiếm tỷ trọng lớn và được tăng lên cùng với sự phát triển kinh tế của đấtnước, tài chính ngân sách (NS) là một trong những nguồn lực quan trọng nhất củamọi chế độ xã hội Công tác quản lý nhà nước về tài chính ở Việt Nam nói chung vàtại Tiên Du nói riêng ngoài những mặt tích cực vẫn bộc lộ những hạn chế, yếu kémnhư về mô hình chưa có sự gắn kết giữa kết quả hoạt động của hệ thống Giáo dục -
ĐT với hệ thống NS của huyện, chưa coi trọng công tác lập dự toán Quản lýNSNN luôn là vấn đề của xã hội quan tâm Nhận thức được tầm quan trọng của sựnghiệp giáo dục đào tạo, quán triệt đường lối của Đảng và Nhà nước trong nhữngnăm qua huyện Tiên Du đã không ngừng tăng cường chi NS cho sự nghiệp giáo dụcđào tạo Chính vì vậy việc tăng cường công tác quản lý chi thường xuyên NSNNcho sự nghiệp giáo dục lại càng có ý nghĩa cực kỳ quan trọng là yêu cầu cấp báchđặt ra cho địa phương trong giai đoạn hiện nay
Trang 11Chính vì vậy, tôi chọn và nghiên cứu đề tài: “Tăng cường quản lý chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp giáo dục trên địa bàn huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình.
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Từ khi NSNN ra đời, vấn đề nghiên cứu quản lý NSNN nói chung, quản lý chiNSNN nói riêng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Vì vậy đã có khá nhiều côngtrình nghiên cứu được tiếp cận ở những cấp độ, góc độ khác nhau, trong đó đángchú ý có một số nhóm các công trình sau đây:
Những công trình nghiên cứu về công tác quản lý NSNN:
Tào Hữu Phùng và Nguyễn Công Nghiệp (1992), Đổi mới ngân sách nhà
nước, Nhà xuất bản Thống kê Hà Nội Tác phẩm đã khái quát những nhận thức
chung về NSNN, đánh giá những chính sách NSNN hiện hành và đề xuất giảipháp đổi mới NSNN để sử dụng có hiệu quả trong tiến trình đổi mới nền kinh tếđất nước Đến nay có những giải pháp đã được triển khai ứng dụng hiệu quả trongthực tế
Vũ Thu Giang (2000), Chính sách tài chính của Việt Nam trong điều kiện hội
nhập kinh tế, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Nội dung cơ bản của tác phẩm này
đề cập tới những thuận lợi và thách thức đối với Việt Nam trong quá trình hội nhậpkinh tế khu vực và quốc tế; Thực trạng chính sách tài chính của nước ta trong quátrình hội nhập; Những hạn chế của chính sách, những yêu cầu đặt ra với chính sáchtài chính trong quá trình hội nhập; Những kiến nghị và giải pháp cải cách chínhsách tài chính để Việt Nam tham gia hội nhập thành công Tác phẩm này phần nàolàm rõ thêm về sự ảnh hưởng tới nguồn thu, nhu cầu chi tiêu NSNN và công tácquản lý NSNN khi nước ta tham gia hội nhập kinh tế quốc tế
Đặng Văn Thanh (2005), Một số vấn đề về quản lý và điều hành ngân sách
nhà nước, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Nội dung cuốn sách cung cấp
kiến thức cơ bản về quản lý và điều hành NSNN
Trang 12TS Đặng Văn Du và TS Bùi Tiến Hanh (2010), Giáo trình Quản lý chi ngân
sách Nhà nước, Nhà xuất bản Tài chính, Hà Nội Nội dung cuốn sách cung cấp kiến
thức cơ bản về quản lý chi NS Nhà nước
Những công trình nghiên cứu cụ thể về công tác đầu tư và quản lý chi NSNN cho giáo dục đào tạo:
Nguyễn Thị Thanh Hương (2007), Tăng cường quản lý chi ngân sách nhà
nước cho giáo dục đào tạo trên địa bàn tỉnh Thái Bình, Luận văn Thạc sỹ kinh tế,
Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội Luận văn đã trình bày một cách tổng quát vềthực trạng công tác quản lý chi NSNN cho giáo dục đào tạo trên địa bàn tỉnh TháiBình giai đoạn 2001 - 2006, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường côngtác quản lý chi NSNN cho giáo dục đào tạo trên địa bàn tỉnh Thái Bình giai đoạntiếp theo
Nguyễn Ngọc Hải (2008), Hoàn thiện cơ chế quản lý chi ngân sách nhà nước
cho việc cung ứng hàng hóa công cộng ở Việt Nam, Luận án Tiến sỹ kinh tế, Học
viện Tài chính Luận án đã làm sáng tỏ nội hàm của cơ chế quản lý chi NSNN choviệc cung ứng hàng hóa công cộng (trong đó có giáo dục đào tạo), những ưu, nhượcđiểm của cơ chế đó trong thực tiễn đổi mới đất nước Từ đó đề xuất các hệ thốngcác giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý chi NSNN cho việc cung ứng hàng hóacông cộng
Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Đề án Đổi mới cơ chế tài chính giáo dục giai
đoạn 2009 - 2014 Nội dung Đề án đã làm rõ hiện trạng, ưu điểm và hạn chế của cơ
chế tài chính của giáo dục nước ta; Thu thập, tham khảo các chỉ số phát triển và tàichính cho giáo dục của các nước phát triển và các nước mới phát triển Căn cứ vàoyêu cầu phát triển giáo dục phục vụ phát triển đất nước trong giai đoạn đẩy mạnhCNH-HĐH đến năm 2020, Đề án xác định các nội dung cần thiết đổi mới cơ chế tàichính giáo dục tới năm 2014
Bùi Thị Lan Hương (2012), Các giải pháp tài chính thúc đẩy phát triển giáo
dục đào tạo trên đại bàn tỉnh Ninh Bình, Luận văn Thạc sỹ kinh tế, Đại học Kinh
doanh và công nghệ, Hà Nội Luận văn đã trình bày một cách tổng quát về giáo
Trang 13dục-đào tạo và vai trò của giáo dục- dục-đào tạo đối với sự phát triển kinh tế xã hội; Tàichính, vai trò của tài chính, cơ chế quản lý tài chính đối với giáo dục - đào tạo.Tổng kết và đánh giá thực trạng của giáo dục - đào tạo, những tác động tích cực vàhạn chế của nguồn tài chính, công cụ tài chính, cơ chế quản lý tài chính đối với giáodục- đào tạo trên địa bàn tỉnh trong thời gian qua Trên cơ sở đó, đề xuất các giảipháp tài chính thúc đẩy phát triển giáo dục - đào tạo trên địa bàn trong thời gian tới.Ngoài ra còn hàng loạt các sách tham khảo, các bài viết đăng tải trên các tạpchí chuyên ngành Đây là các công trình nghiên cứu có giá trị tham khảo rất tốt về
lý luận và thực tiễn Phần lớn các công trình nghiên cứu và các bài viết trên đều tậptrung nghiên cứu về các chính sách tài chính vĩ mô và quản lý NSNN nói chunghoặc quản lý NSNN tại một địa phương đơn lẻ Các công trình, đề tài trên đã đề cập
đến một số lĩnh vực về quản lý chi NSNN như: Quản lý, điều hành NSNN; Đổi mới
và hoàn thiện các giải pháp tài chính nhằm thúc đẩy xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục; Các giải pháp tài chính thúc đẩy phát triển giáo dục đào tạo; Các giải pháp tăng cường công tác quản lý chi NSNN cho giáo dục đào tạo Tuy nhiên mỗi đề tài
có một cách tiếp cận và nội dung nghiên cứu khác nhau và do mục đích, yêu cầukhác nhau và đặc thù riêng có của từng địa phương mà các nghiên cứu trên chỉ tậptrung phân tích, đánh giá và đưa ra các kiến nghị, đề xuất cho từng nội dung, từngđịa phương cụ thể và gần như không thể áp dụng các giải pháp đó cho các địaphương khác Cho đến nay chưa có công trình nào làm rõ thực trạng công tác quản
lý chi NSNN cho giáo dục đào tạo và đề xuất các giải pháp để hoàn thiện công tácquản lý chi NSNN cho giáo dục đào tạo trên địa bàn huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh
Vì vậy, Luận văn: “Tăng cường quản lý chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp giáo dục trên địa bàn huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh” được nghiên
cứu tại Phòng Tài chính - KH huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh, nơi đã có khá nhiều đềtài nghiên cứu ở các lĩnh vực khác nhau Trong quá trình thực hiện đề tài, với việc
kế thừa có chọn lọc những thành tựu nghiên cứu đã đạt được của các công trìnhnghiên cứu về quản lý NSNN, tác giả chú trọng tham khảo, kết hợp khảo sát nhữngvấn đề mới nảy sinh trong thực tiễn đối với công tác quản lý chi thường xuyên
Trang 14NSNN cho sự nghiệp giáo dục từ năm 2011 đến năm 2014 Qua đó, đánh giá khẳngđịnh kết quả công tác quản lý chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục của huyện Tiên
Du, đồng thời làm rõ những khó khăn, tồn tại, hạn chế, bước đầu đúc kết một sốkinh nghiệm chủ yếu trong quá trình thực hiện và đề xuất một số kiến nghị, giảipháp áp dụng vào thực tiễn của huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh về công tác quản lýchi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục nói riêng và quản lý chi NSNN nóichung Vì vậy, đề tài không trùng lặp với các công trình nghiên cứu trước đây Câu hỏi nghiên cứu của luận văn là: (i) Thực trạng công tác quản lý chithường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục tại huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh tronggiai đoạn 2011 - 2015 như thế nào? Các vấn đề, tồn tại mà địa phương gặp phải làgì? Nguyên nhân của những tồn tại đối với công tác quản lý chi thường xuyênNSNN cho sự nghiệp giáo dục đào tạo? (ii) Cần có giải pháp gì để hoàn thiện côngtác quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục đào tạo trên địa bànhuyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn 2016-2020
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Đánh giá được thực trạng của công tác quản lý chi thường xuyên Ngân sáchNhà nước cho sự nghiệp giáo dục trên địa bàn huyện Tiên Du Tìm được nhữngthuận lợi, khó khăn của công tác quản lý chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước cho
sự nghiệp giáo dục Đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm tăng cường công tácquản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục trên địa bàn huyện Tiên
Du, tỉnh Bắc Ninh trong thời gian đến năm 2020
- Đánh giá khái quát về huyện Tiên Du và công tác giáo dục - đào tạo trên địa bàn
Trang 15- Đánh giá công tác chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục.
- Đánh giá tình hình quản lý chi thường xuyên NSNN cho giáo dục - đào tạo
- Đánh giá thực trạng quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dụcđào tạo tại huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh
- Đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm tăng cường công tác quản lý chithường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục đào tạo trên địa bàn huyện Tiên Du,tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới năm 2020
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu công tác quản lý chi thường xuyên NSNN cho sựnghiệp giáo dục trên địa bàn huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh dưới góc độ Quản lýkinh tế Đó là vai trò của chính quyền các cấp, đặc biệt là chính quyền cấp huyệntrong việc tham mưu và giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quá trình quản lýNSNN Một trong các vấn đề đó là quản lý chi thường xuyên NSNN cho sựnghiệp giáo dục đào tạo
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian: Luận văn nghiên cứu thực trạng công tác quản lý chi thường
xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục từ năm 2011 - 2015 và đề xuất các giải pháptăng cường công tác quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục đếnnăm 2020
Thời gian nghiên cứu đề tài: Từ tháng 11/2014 đến tháng 12/2015
Về không gian: Luận văn chỉ nghiên cứu, phân tích và đánh giá thực trạng
công tác quản lý chi thường xuyên của NSNN cho sự nghiệp giáo dục trên địa bànhuyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh, không nghiên cứu công tác quản lý các khoản chikhác của NSNN cho sự nghiệp giáo dục như chi đầu tư XDCB, chi chương trìnhmục tiêu quốc gia
Về nội dung nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu những nội dung liên quan
đến giáo dục, công tác quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục tạihuyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh: Quy trình lập dự toán, phân bổ dự toán; chấp hành
Trang 16chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục và quyết toán NS cho sự nghiệpgiáo dục giai đoạn 2011-2015, từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm tăngcường quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục trong những nămtiếp theo.
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp tiếp cận nghiên cứu: Đề tài tiếp cận nghiên cứu dưới góc độchuyên ngành quản lý kinh tế, trên cơ sở nghiên cứu các quy định của Luật Ngânsách, Luật giáo dục và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan để chỉ rõcác nội dung quản lý chi NSNN nói chung và quản lý chi thường xuyên NSNNcho sự nghiệp giáo dục, xem xét, phân tích đánh giá thực trạng và qua đó chỉ rõnhững mặt đạt được, hạn chế và nguyên nhân của chúng tới quản lý chi thườngxuyên NSNN cấp huyện cho sự nghiệp giáo dục để từ đó đề xuất các giải pháp khảthi tăng cường quản lý chi thường xuyên NSNN cấp huyện cho sự nghiệp giáo dụcthời gian tới
Phương pháp cụ thể: Đề tài sử dụng hai phương pháp thu thập dữ liệu làphương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp và phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp
5.1 Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu thứ cấp
5.1.1 Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp
Nguồn dữ liệu thứ cấp phục vụ nghiên cứu đề tài luận văn gồm có:
Các giáo trình, các luận văn, luận án, công trình khoa học khác có liên quanđến đề tài luận văn để hệ thống và xây dựng khung lý thuyết cho đề tài nghiên cứucủa luận văn;
Niên giám thống kê, báo cáo quyết toán NS hàng năm, báo cáo cáo tổng kếtcông tác tài chính và công tác giáo dục & tào tạo của huyện, báo cáo tình hình pháttriển kinh tế - xã hội của huyện
Kế thừa, sử dụng kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu trước, cáctài liệu trên sách báo, tạp chí, các văn kiện, nghị quyết, trên các website, các vănbản của Chính phủ, các văn bản của UBND tỉnh Bắc Ninh có liên quan đến công tácquản lý NSNN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Trang 175.1.2 Phương pháp xử lý dữ liệu thứ cấp
Sau khi thực hiện thu thập các dữ liệu thứ cấp cần thiết, luận văn sử dụng cácphương pháp tổng hợp, so sánh, thống kê mô tả, phân tích định lượng để diễn giảicác kết quả phân tích và rút ra kết luận
5.2 Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu sơ cấp
5.2.1 Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp
Dữ liệu sơ cấp dùng cho nghiên cứu bao gồm các dữ liệu có liên quan đến cáccông tác quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục huyện Tiên Du,tỉnh Bắc Ninh được thu thập ở các điểm khảo sát điển hình, tham vấn ý kiến của cácchuyên gia và ý kiến của các đối tượng trực tiếp sử dụng NS trong các cơ sở giáodục của huyện
Các dữ liệu sơ cấp này được thu thập bằng điều tra chọn mẫu đại diện, phỏngvấn cán bộ, lãnh đạo, cán bộ quản lý, cán bộ chuyên môn nghiệp vụ của các đơn vịgiáo dục & đào tạo thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài
Khảo sát trực tiếp: Tổng số 119 phiếu cho 03 đối tượng, gồm:
Đối tượng 1: Lãnh đạo và chuyên viên Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện,Phòng Giáo dục & Đào tạo huyện Tiên Du 09 phiếu
Đối tượng 2: Lãnh đạo và cán bộ KBNN huyện trực tiếp theo dõi, hướng dẫncác cơ sở giáo dục 06 phiếu
Đối tượng 3: Hiệu trưởng và kế toán các cơ sở giáo dục trong huyện 104phiếu
Địa điểm điều tra: Phòng Tài chính - Kế hoạch, Phòng Giáo dục & Đào tạohuyện Tiên Du; Văn phòng KBNN huyện; các đơn vị trường học gồm: Các trườngmầm non, tiểu học và trung học cơ sở thuộc huyện
Trang 18TT Đối tượng khảo sát,
điều tra
Số mẫu Nội dung khảo sát, điều tra
1
Lãnh đạo, chuyên viên
Phòng Tài chính-Kế hoạch
huyện, phòng Giáo dục &
Đào tạo huyện Tiên Du
- Công tác kiểm tra, giám sát chi T.xuyên
3 Hiệu trưởng và kế toán các
cơ sở giáo dục trong huyện 104
- Việc lập dự toán
- Hệ thống tổ chức thực hiện chi T.xuyên
- Công tác quyết toán chi T.xuyên
5.2.2 Phương pháp xử lý dữ liệu sơ cấp
Dữ liệu sau khi thu thập được xử lý bằng phần mềm excel và phần mềm SPSS
là phần mềm thống kê, phần mềm chuyên dụng xử lý thông tin sơ cấp thông quabảng câu hỏi Các câu hỏi về mức độ quan trọng được xử lý theo phương pháp trị sốtrung bình, biến nào có trị số trung bình cao thì có mức độ quan trọng hơn
5.3 Phương pháp phân tích dữ liệu
5.3.1 Phương pháp thống kê mô tả
Thu thập các số liệu từ các Báo cáo tổng hợp quyết toán thu - chi ngân sáchđịa phương (NSĐP), Báo cáo chi tiết quyết toán ngành giáo dục, Báo cáo tổng kếthàng năm công tác quản lý tài chính của huyện Tiên Du để mô tả toàn bộ các khoảnchi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục Tính toán tốc độ phát triển đểphân tích mức độ và biến động nguồn NSNN cấp và các khoản chi thường xuyêncủa các đơn vị thuộc sự nghiệp giáo dục
Trang 195.3.2 Phương pháp so sánh
Phương pháp phân tích này được dùng để so sánh mức độ hoàn thành kếhoạch, so sánh giữa thực tế với định mức quy định về các khoản mục chi so với quyđịnh của cấp tỉnh và huyện; so sánh giữa chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệpgiáo dục với tổng chi thường xuyên NSNN; so sách các nhóm mục chi với nhau; sosánh giữa năm sau và năm trước về chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáodục trên địa bàn
5.3.3 Phương pháp cân đối
Cân đối thu - chi NS, từ đó phát hiện các khoản bội chi và phân tích đề xuất
giải pháp tiết kiệm chi.
5.3.4 Phương pháp đánh giá cho điểm
Cho điểm đánh giá các đơn vị quản lý chi NS theo các mức: Tốt, trungbình, kém
5.3.5 Phương pháp phân tích SWOT
Phân tích những điểm mạnh, yếu trong quá trình chi thường xuyên NSNN cho
sự nghiệp giáo dục trên địa bàn huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh Cơ hội và thách thứctrong quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục thời gian tới
5.4 Hệ thống chỉ tiêu dùng trong phân tích
Số tiền và tỷ lệ chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục so với tổngchi thường xuyên NSNN
Số tiền và tỷ lệ mức tăng, giảm chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáodục so với năm trước
Số tiền và tỷ lệ chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục theo nhóm mục
Cơ cấu chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục theo khoản mục chi
Tỷ lệ (%) hoàn thành kế hoạch dự toán chi thường xuyên NSNN
Tỷ lệ (%) thực hiện năm nay so với năm trước
6 Ý nghĩa của đề tài luận văn
Luận văn hệ thống hóa những vấn đề lý luận về quản lý chi NSNN nói chung,quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục trên địa bàn cấp huyện nói
Trang 20riêng - Phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý chi thường xuyên NSNNcho sự nghiệp giáo dục đào tạo ở huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh Làm rõ nhữngthành tựu, tồn tại và nguyên nhân, từ đó đề xuất một số giải pháp khắc phục khókhăn trong công tác quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục tạihuyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh
Luận văn đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm tăng cường công tác quản
lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục trên địa bàn huyện Tiên Du,tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụnglàm tài liệu tham khảo cho UBND các huyện, thị xã, thành phố, Sở Tài chính, SởGiáo dục và Đào tạo, Phòng Tài chính - KH, Phòng Giáo dục & Đào tạo trong việcchỉ đạo, triển khai, thực hiện công tác quản lý chi thường xuyên NSNN cho giáodục đào tạo thuộc phạm vi quản lý, góp phần thực hiện đúng quy định của LuậtNSNN và các văn bản hiện hành
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, bố cụcluận văn gồm có 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về tăng cường quản lý chi thường xuyênngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục, đào tạo trên địa bàn cấp huyện
Chương 2: Thực trạng quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước cho sựnghiệp giáo dục trên địa bàn huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2011-2014.Chương 3: Phương hướng và giải pháp tăng cường quản lý chi thường xuyênngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục trên địa bàn huyện Tiên Du, tỉnh BắcNinh giai đoạn 2015-2020
Trang 21CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC, ĐÀO TẠO TRÊN ĐỊA BÀN CẤP HUYỆN
1.1 Tổng quan về hệ thống Ngân sách Nhà nước
1.1.1 Ngân sách nhà nước và hệ thống NSNN
1.1.1.1 Ngân sách nhà nước
Lịch sử ra đời, tồn tại và phát triển của NSNN luôn gắn liền với một tiền đề rấtquan trọng là Nhà nước Trong mối quan hệ giữa NSNN và Nhà nước, thì Nhà nướcluôn giữ vai trò chủ thể; còn NSNN lại trở thành công cụ tài chính quan trọng củaNhà nước NSNN là bộ phận trọng tâm cấu thành quan trọng nhất của nền tài chínhnhà nước, là nguồn lực để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhànước và phát triển quốc gia
NSNN là một phạm trù kinh tế khách quan, ra đời và phát triển trên cơ sở tồntại và phát triển của Nhà nước Luật NSNN được Quốc hội nước Cộng hòa XHCNViệt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 16/12/2002 đã quy định tại Điều 1:
“NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”.[40]
Bản chất của NSNN: Về phương diện pháp lý: NSNN là một đạo luật dự trùcác khoản thu, chi bằng tiền của Nhà nước trong một thời gian nhất định là mộtnăm Đạo luật này được cơ quan lập pháp của quốc gia đó ban hành
Về bản chất kinh tế: NSNN là hệ thống những mối quan hệ kinh tế giữa Nhànước và xã hội, phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động và sử dụng các nguồntài chính nhằm đảm bảo yêu cầu thực hiện các chức năng của Nhà nước
Các quan hệ kinh tế này bao gồm: (1) Quan hệ kinh tế giữa NSNN với cácdoanh nghiệp sản xuất kinh doanh; (2) Quan hệ kinh tế giữa NSNN với các đơn vịHCSN; (3) Quan hệ kinh tế giữa NSNN với các tầng lớp dân cư; (4) Quan hệ kinh
tế giữa NSNN và thị trường tài chính; (5) Quan hệ kinh tế giữa NSNN với các hoạtđộng tài chính đối ngoại
Trang 22Vai trò của NSNN đối với giáo dục đào tạo:
Giáo dục là lĩnh vực hết sức cần thiết đối với phát triển xã hội và tăng trưởngkinh tế Không thể có một xã hội phát triển ở trình độ cao mà không có một nguồnlực phát triển cả về thể chất và trí tuệ Sản phầm của giáo dục là con người, conngười là yếu tố sản xuất hết sức quan trọng Kỹ năng của con người có tác động đếnnăng suất lao động, trình độ quản lý và muốn hình thành kỹ năng thì phải có giáodục Đặc biệt là trong bối cảnh thế giới bước sang thời đại mới - thời đại trí tuệ vàtrong môi trường toàn cầu hóa, trong đó, các yếu tố tri thức và thông tin trở thànhnhững yếu tố hàng đầu và là nguồn tài nguyên giá trị nhất thì giáo dục trở thành đònbẩy cho sự phát triển kinh tế Chính vì vậy, đầu tư cho giáo dục đào tạo chính là đầu
tư cho tương lai, đầu tư cho sự phát triển có hiệu quả nhất
Đầu tư tài chính giữ vai trò là một trong những yếu tố có tính chất quyết địnhđối với việc hình thành, mở rộng và phát triển hệ thống giáo dục quốc dân từ giáodục mầm non, giáo dục phổ thông, đào tạo công nhân, trung học chuyên nghiệp, đạihọc đến đào tạo sau đại học Thông qua quan hệ thống tín dụng, tài chính có thể huyđộng các nguồn tiền tạm thời nhàn rỗi để đầu tư cho giáo dục trong việc nâng cấptrang thiết bị, đầu tư cho đội ngũ giáo viên và cho học sinh vay để tiếp tục sự nghiệpgiáo dục Trong số các nguồn lực tài chính đầu tư cho giáo dục đào tạo thì đầu tư từNSNN là tất yếu, đóng vai trò chủ đạo trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quảgiáo dục
Tóm lại, đối với Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, nguồn lực tài chính để pháttriển giáo dục nhất là giáo dục phổ thông chủ yếu là từ nguồn NSNN NSNN đóngvai trò quan trọng, là yếu tố chính quyết định đối với sự nghiệp giáo dục quốc dân
1.1.1.2 Hệ thống ngân sách nhà nước
Hệ thống NSNN là tổng thể các cấp NS có quan hệ hữu cơ với nhau trong quátrình tổ chức huy động, quản lý các nguồn thu và thực hiện nhiệm vụ chi của mỗicấp NS Tại khoản 1 Điều 4 Luật ngân sách nhà nước năm 2002 thì: “Ngân sách
nhà nước gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có Hội đồng nhân dân
và Uỷ ban nhân dân” [40]
Trang 23Như vậy, ngoài NS trung ương; ngân sách địa phương, bao gồm:
Ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là NS tỉnh), baogồm NS cấp tỉnh và NS của các huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh;
Ngân sách huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là NS huyện),bao gồm NS cấp huyện và NS các xã, phường, thị trấn;
Ngân sách các xã, phường, thị trấn (gọi chung là NS cấp xã);
Theo quy định hiện nay, hệ thống NSNN có thể khái quát theo sơ đồ sau:(Xem sơ đồ 1)
Sơ đồ 1.1: Hệ thống ngân sách nhà nước
NS Trung ương: Phản ánh nhiệm vụ thu, chi theo ngành kinh tế và giữ vai tròchủ đạo trong hệ thống NSNN NS Trung ương tập trung đại bộ phận nguồn tàichính quốc gia và đảm bảo nhu cầu chi có tính huyết mạch của Nhà nước
Ngân sách tỉnh: Phản ánh nhiệm vụ thu, chi theo lãnh thổ, đảm bảo thực hiệncác nhiệm vụ quản lý toàn diện kinh tế xã hội của chính quyền cấp tỉnh nhằm khaithác các thế mạnh trên địa bàn tỉnh để tăng thu và thực hiện cân đối NS
Ngân sách huyện: Thực hiện kế hoạch thu, chi tài chính để đảm bảo thực hiệnchức năng, nhiệm vụ của bộ máy nhà nước cấp huyện
Trang 24Ngân sách xã: Nguồn thu của NS xã được khai thác trên địa bàn và nhiệm vụchi cũng được bố trí phục vụ cho cộng đồng dân cư trong xã NS xã là cấp NS cơ sởtrong hệ thống NSNN, đảm bảo tài chính cho chính quyền cấp xã chủ động khaithác thế mạnh về đất đai, phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng nông thôn mới.Quan hệ giữa các cấp NS được thực hiện theo nguyên tắc cơ bản sau:
Thứ nhất: NS trung ương và NS mỗi cấp chính quyền địa phương được phâncấp nguồn thu, nhiệm vụ chi cụ thể đảm bảo tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm củamỗi cấp NS
Thứ hai: Bảo đảm tính tập trung thống nhất, ngân sách cấp dưới chịu sự quản
lý của NS cấp trên và NS Trung ương giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống NSNN
1.1.2 Ngân sách địa phương
1.1.2.1 Nguồn thu của NSĐP Tại điều 32 Luật NSNN năm 2002 quy định
Các khoản thu NSĐP hưởng 100%, gồm: Thuế nhà, đất; Thuế tài nguyên(không kể thuế tài nguyên thu từ dầu, khí); Thuế môn bài; Thuế chuyển quyền sửdụng đất; Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp; Tiền sử dụng đất; Tiền cho thuê đất;Tiền cho thuê và tiền bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước; Lệ phí trước bạ; Thu từhoạt động xổ số kiến thiết; Thu hồi vốn của NSĐP tại các tổ chức kinh tế, thu từquỹ dự trữ tài chính của địa phương, thu nhập từ vốn góp của địa phương; Viện trợkhông hoàn lại của các tổ chức quốc tế, các tổ chức khác, các cá nhân ở nước ngoàitrực tiếp cho địa phương; Các khoản phí, lệ phí, thu từ các hoạt động sự nghiệp vàcác khoản thu khác nộp vào NSĐP theo quy định của pháp luật; Thu từ quỹ đấtcông ích và thu hoa lợi công an khác; Huy động từ các tổ chức, cá nhân theo quyđịnh của pháp luật; Đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân ở trong nước vàngoài nước; Thu kết dư NSĐP theo quy định tại Điều 63 của Luật này; Các khoảnthu khác theo quy định của pháp luật [40]
Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa NS trung ương vàNSĐP theo quy định tại khoản 2 Điều 30 của Luật này.[40]
Thu bổ sung từ NS trung ương [40]
Trang 25Thu từ huy động đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng theo quy địnhtại khoản 3 Điều 8 của Luật này.[40]
1.1.2.2 Nhiệm vụ chi của NSĐP Tại điều 33 Luật NSNN năm 2002 quy định
Chi đầu tư phát triển: Đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế
-xã hội do địa phương quản lý; Đầu tư và hỗ trợ cho các doanh nghiệp, các tổ chứckinh tế, các tổ chức tài chính của Nhà nước theo quy định của pháp luật; Các khoảnchi khác theo quy định của pháp luật.[40]
Chi thường xuyên: Các hoạt động sự nghiệp kinh tế, giáo dục và đào tạo, y tế,
xã hội, văn hóa thông tin văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, khoa học và côngnghệ, môi trường, các hoạt động sự nghiệp khác do địa phương quản lý; Quốcphòng, an ninh và trật tự, an toàn xã hội (phần giao cho địa phương); Hoạt động củacác cơ quan nhà nước, cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam và các tổ chức chính trị -
xã hội ở địa phương; Hỗ trợ cho các tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức
xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp ở địa phương theo quy định của pháp luật;Thực hiện các chính sách xã hội đối với các đối tượng do địa phương quản lý;Chương trình quốc gia do Chính phủ giao cho địa phương quản lý; Trợ giá theochính sách của Nhà nước; Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.[40]Chi trả nợ gốc và lãi các khoản tiền huy động cho đầu tư quy định tại khoản 3Điều 8 của Luật này.[40]
Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính của cấp tỉnh.[40]
Chi bổ sung cho ngân sách cấp dưới.[40]
1.1.3 Quản lý chi Ngân sách nhà nước
1.1.3.1 Chi Ngân sách nhà nước
Chi NSNN là việc phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm đảm bảo thực hiệncác chức năng của Nhà nước theo những nguyên tắc nhất định
Chi NSNN là quá trình phân phối lại các nguồn tài chính đã được tập trungvào NSNN và đưa chúng đến mục đích sử dụng Do đó, Chi NSNN là những việc
cụ thể không chỉ dừng lại trên các định hướng mà phải phân bổ cho từng mục tiêu,từng hoạt động và từng công việc thuộc chức năng của nhà nước
Trang 26Chi NSNN có quan hệ chặt chẽ với thu NSNN Thu NSNN đảm bảo nguồncho các nhu cầu chi NSNN Ngược lại vốn NSNN để chi cho mục tiêu tăng trưởngkinh tế là điều kiện để phát triển và tăng nhanh nguồn thu của NSNN Do vậy, việc
sử dụng vốn, chi tiêu NSNN một cách tiết kiệm, hiệu quả sẽ góp phần nâng cao hiệuquả của nền sản xuất xã hội và tăng sản phẩm quốc dân
Hiện nay có nhiều cách phân loại chi NSNN: Căn cứ vào chức năng quản lýcủa nhà nước, chi NSNN được chia thành: (1) Chi nghiệp vụ (chi về tiền lương,tiền công, chi trợ giá, chi trả nợ…); (2) Chi phát triển (chi phát triển kinh tế nôngnghiệp, thương mại, công nghiệp, giao thông…, các dịch vụ xã hội như giáo dục,văn hóa, y tế…, quản lý hành chính, an ninh, quốc phòng ) Căn cứ vào mục đích,
nội dung, chi NSNN được chia thành: (1) Chi tích lũy của NSNN là những khoản
chi làm tăng CSVC và tiềm lực cho nền kinh tế, tăng trưởng kinh tế; là nhữngkhoản chi đầu tư phát triển và các khoản tích lũy khác; (2) Chi tiêu dùng của NSNN
là các khoản chi không tạo ra sản phẩm vật chất để tiêu dùng trong tương lai; bao
gồm chi cho hoạt động sự nghiệp, quản lý hành chính, quốc phòng, an ninh Căn
cứ theo yếu tố thời hạn và phương thức quản lý, chi NSNN được chia thành: (1) Chithường xuyên bao gồm các khoản chi nhằm duy trì hoạt động thường xuyên của nhànước; (2) Chi đầu tư phát triển là các khoản chi dài hạn nhằm làm tăng CSVC củađất nước và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế như chi xây dựng các công trình thuộc kếtcấu hạ tầng được phê chuẩn bằng dự toán NSNN; công trình mang tính phúc lợi làchính hoặc không có khả năng thu hồi vốn hoặc thu hồi với tốc độ chậm, thời gianthu hồi vốn dài, chi cho công trình trọng điểm quốc gia (3) Chi trả nợ và viện trợbao gồm các khoản chi để nhà nước thực hiện nghĩa vụ trả nợ các khoản đã vaytrong nước, vay nước ngoài khi đến hạn và các khoản chi làm nghĩa vụ quốc tế; (4)Chi dự trữ là những khoản chi NSNN để bổ sung quỹ dự trữ nhà nước và quỹ dự trữtài chính Dự trữ quốc gia cho phép duy trì sự cân đối và ổn định trong phát triểnkinh tế, giải quyết các vấn đề kinh tế phát sinh trong quá trình hoạt động của nềnkinh tế và trong những trường hợp nhất định cho phép ngăn chặn, bù đắp các tổnthất bất ngờ xảy ra đối với nền kinh tế, xã hội Trong nền kinh tế thị trường, hoạt
Trang 27động của các quy luật kinh tế có thể dẫn đến những biến động phức tạp không có lợicho nền kinh tế hoặc xảy ra thiên tai đòi hỏi phải có một khoản dự trữ giúp nhànước điều tiết thị trường, khắc phục hậu quả Khoản dự trữ này được hình thànhbằng nguồn tài chính được cấp phát từ NSNN hàng năm Dự trữ quốc được sử dụngcho hai mục đích:
Một là, điều chỉnh hoạt động của thị trường, điều hòa cung cầu về tiền,ngoại tệ
và một số mặt hàng thiết yếu: gạo, xăng dầu …trên cơ sở đó bảo đảm ổn định chonền kinh tế
Hai là, giải quyết hậu quả các trường hợp rủi ro bất ngờ xảy ra làm ảnh hưởng
đến sản xuất và đời sống
1.1.3.2 Chi thường xuyên Ngân sách nhà nước
Chi thường xuyên NSNN là quá trình phân phối, sử dụng vốn từ quỹ NSNN
để đáp ứng các nhu cầu chi gắn với việc thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên củaNhà nước về quản lý kinh tế xã hội Chi thường xuyên có một số đặc điểm sau:
Thứ nhất: Phần lớn các khoản chi thường xuyên mang tính ổn định khá rõ nét.
Dù thể chế chính trị thay đổi thì chức năng vốn có của nhà nước như trấn áp hay tổchức quản lý các hoạt động kinh tế xã hội vẫn diễn ra và phải có nguồn để thựchiện Ngoài ra, tính ổn định của các khoản chi thường xuyên còn bắt nguồn từ tính
ổn định trong từng hoạt động cụ thể mà mỗi đơn vị trong bộ máy nhà nước phảithực hiện.[20]
Thứ hai: Xét theo cơ cấu chi NSNN ở từng niên độ và mục đích sử dụng cuối
cùng thì đại bộ phận các khoản chi thường xuyên của NSNN mang tính chất tiêudùng xã hội Bởi lẽ, trong từng niên độ, NS chi thường xuyên chủ yếu trang trải chocác nhu cầu về quản lý hành chính, quốc phòng, an ninh.[20]
Chi thường xuyên của NSNN bao gồm nhiều nội dung chi
Nếu xét theo lĩnh vực, chi thường xuyên bao gồm: Chi thường xuyên về cáchoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế thể dục thể thao, công nghệ, môitrường ; Chi thường xuyên về các hoạt động sự nghiệp kinh tế; Chi cho các nhiệm
vụ an ninh, quốc phòng, trật tự an toàn xã hội; Chi hoạt động của các cơ quan nhà
Trang 28nước, cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam; Chi hỗ trợ các tổ chức chính trị nghềnghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp; Chi trợ giá theo chính sách củaNhà nước; Các khoản chi thường xuyên khác.[20]
Xét theo nhóm mục chi, chi thường xuyên được phân thành 4 nhóm lớn: Cáckhoản chi liên quan đến con người; Chi quản lý hành chính; Chi nghiệp vụ chuyênmôn; Chi mua sắm, sửa chữa và xây dựng nhỏ.[20]
1.1.3.3 Quản lý chi thường xuyên Ngân sách nhà nước
Khái niệm và đặc điểm quản lý chi thường xuyên NSNN
Quản lý chi thường xuyên NSNN là việc nhà nước sử dụng quyền lực công để
tổ chức và điều chỉnh quá trình chi thường xuyên NSNN nhằm đảm bảo các khoảnchi thường xuyên NSNN được thực hiện theo đúng chế độ chính sách do cơ quannhà nước có thẩm quyền quy định, phục vụ tốt nhất cho việc thực hiện các chứcnăng và nhiệm vụ thường xuyên của nhà nước trong từng thời kỳ.[20]
Quản lý chi thường xuyên NSNN thực chất là quản lý toàn bộ quá trình sửdụng quỹ NSNN phục vụ cho các nhiệm vụ như phát triển kinh tế - xã hội, an ninh,quốc phòng gắn với việc thực hiện chức năng và nhiệm vụ thường xuyên của Nhànước.[20]
Đặc điểm quản lý chi thường xuyên NSNN được thể hiện trên một số điểm sau:
Thứ nhất: hoạt động quản lý chi thường xuyên NSNN nói riêng bao giờ cũng
được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, dựa trên cơ sở quyền lựcchính trị của Nhà nước Đặc điểm này xuất phát từ việc chi thường xuyên NSNN làhoạt động tài chính của Nhà nước, gắn với lợi ích của Nhà nước và cộng đồng xãhội nên việc chi thường xuyên NSNN và quản lý hiệu quả các khoản chi đó nhấtthiết phải do Nhà nước thực hiện thông qua các cơ quan công quyền của Nhà nước.[20]
Thứ hai: quản lý chi thường xuyên NSNN là hoạt động mang tính công vụ và
được thể chế hoá bằng pháp luật và được sự giám sát của cơ quan quyền lực nhànước Tính chất công vụ trong quản lý chi thường xuyên NSNN được thể hiện quaviệc Nhà nước giao cho một số cơ quan công quyền thực hiện quản lý nhằm đảmbảo trật tự pháp luật, hạn chế tình trạng tham nhũng, lãng phí gây thất thoát tài sảncủa Nhà nước.[20]
Trang 29Thứ ba: đối tượng của hoạt động quản lý chi thường xuyên NSNN là hoạt
động chi thường xuyên NSNN do các cơ quan công quyền của Nhà nước cũng nhưcác chủ thể sử dụng NS thực hiện Đặc điểm này giúp phân biệt hoạt động quản lýchi thường xuyên NSNN với các hoạt động tài chính khác của Nhà nước.[20]
Nội dung quản lý chi thường xuyên NSNN: Chi thường xuyên NSNN là quátrình phân phối, sử dụng vốn từ quỹ NSNN để đáp ứng cho các nhu cầu chi gắn vớiviệc thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của nhà nước Trên góc độ cân đối NS,chi thường xuyên được tài trợ từ các nguồn thu mang tính chất thường xuyên củaNSNN như: thuế, phí, lệ phí Cùng với quá trình phát triển kinh tế xã hội, các nhiệm
vụ thường xuyên của Nhà nước phải đảm nhiệm ngày càng nhiều Tuy nhiên, nộidung quản lý chi thường xuyên thường được xem xét dưới góc độ:
Xét theo lĩnh vực chi, quản lý chi thường xuyên NSNN bao gồm: Quản lý chi
cho các hoạt động thuộc lĩnh vực văn xã: Giáo dục đào tạo, y tế, văn hoá, thể dụcthể thao ; Quản lý chi cho các hoạt động sự nghiệp kinh tế của Nhà nước; Quản lýchi cho các hoạt động quản lý hành chính nhà nước; Quản lý chi cho quốc phòng,
an ninh; Quản lý các khoản chi thường xuyên khác [20]
Xét theo nhóm mục chi, quản lý chi thường xuyên NSNN bao gồm:
Quản lý các khoản chi cho con người, bao gồm: quản lý các khoản chi lương,phụ cấp, tiền thưởng, các khoản đóng góp, phúc lợi xã hội ;
Quản lý các khoản chi quản lý hành chính, bao gồm: quản lý các khoản thanhtoán dịch vụ công cộng (tiền điện, tiền nước), vật tư văn phòng, thông tin tuyêntruyền, liên lạc, hội nghị, công tác phí Đây là khoản chi nhằm đảm bảo cho côngtác quản lý hành chính phục vụ cho hoạt động của các đơn vị ;
Quản lý các khoản chi nghiệp vụ chuyên môn: Quản lý việc sử dụng các khoản chiđáp ứng cho việc hoạt động chuyên môn tại các đơn vị sử dụng vốn NSNN;
Quản lý các khoản chi mua sắm, sửa chữa tài sản cố định: Quản lý việc sửdụng các khoản chi phục vụ cho việc mua sắm, sửa chữa tài sản cố định tại đơn vị
sử dụng vốn NSNN
Trang 30Xét theo chu trình NSNN, quản lý chi thường xuyên NSNN bao gồm quản lý
theo ba bước của một chu trình NS: lập dự toán NSNN; chấp hành dự toán NSNN
và quyết toán NSNN [20]
Chu trình NSNN được hiểu là quy trình kể từ khi bắt đầu hình thành năm NScho tới khi tổng kết, đánh giá để chuyển sang một năm NS mới Chu trình NS có bakhâu nối tiếp nhau:
Lập dự toán NSNN (được tiến hành vào cuối Quý II đầu Quý III của năm báocáo): Đây là quá trình đánh giá, phân tích giữa khả năng và nhu cầu các nguồn tàichính của Nhà nuớc để từ đó xác lập các chỉ tiêu thu, chi, dự trữ NSNN hàng nămmột cách đúng đắn, có căn cứ khoa học và thực tiễn, từ đó xác lập những biện pháplớn về kinh tế xã hội nhằm tổ chức thực hiện tốt các chỉ tiêu đề ra;
Chấp hành dự toán NSNN (tiến hành từ 01/01-31/12 của năm thực hiện) là quátrình sử dụng tổng hợp các biện pháp kinh tế, tài chính và hành chính nhằm biến cácchỉ tiêu thu - chi ghi trong kế hoạch NSNN trở thành hiện thực;
Quyết toán NSNN (thực hiện từ 30/5 của năm sau cho tới chậm nhất vào tháng
12 của năm đó) là việc tổng kết lại quá trình thực hiện dự toán NS năm sau khi năm
NS kết thúc, nhằm đánh giá lại toàn bộ kết quả hoạt động của năm NS, từ đó rút ra
ưu, nhược điểm và bài học kinh nghiệm cho chu trình NS tiếp theo (Xem sơ đồ 1.2)
Sơ đồ 1.2: Chu trình ngân sách nhà nước
Trang 31Quản lý chi thường xuyên NSNN cũng bao gồm nội dung quản lý trên cả bakhâu: Lập, phân bổ dự toán chi thường xuyên NSNN; điều hành dự toán chi thườngxuyên NSNN và quyết toán chi thường xuyên NSNN.
1.2 Quản lý chi thường xuyên NSNN cho giáo dục đào tạo trên địa bàn cấp huyện
1.2.1 Tổng quát về quản lý chi thường xuyên NSNN cho giáo dục đào tạo
1.2.1.1 Khái niệm chi thường xuyên NSNN cho giáo dục đào tạo
Phát triển giáo dục đào tạo chính là động lực của sự phát triển kinh tế xã hội
Để mở rộng, phát triển và nâng cao hiệu quả của giáo dục đào tạo, chúng ta cần phải
có nguồn lực để đáp ứng nhiệm vụ chi cho lĩnh vực này Trong những năm qua, vốnđầu tư cho giáo dục đào tạo được huy động từ nhiều nguồn khác nhau, nhưngnguồn vốn từ NSNN vẫn giữ nhiệm vụ quan trọng nhất, bởi giáo dục đào tạo là lĩnhvực nhạy cảm, mang tính quy mô lớn, tầm cỡ quốc gia, cần có sự chỉ đạo của Chínhphủ, sự quản lý chặt chẽ của các cấp, ngành, địa phương và toàn xã hội Hàng năm,Chính phủ đều dành một phần lớn nguồn lực trong tổng chi NSNN cho giáo dục đàotạo Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục đào tạo là một trong hai chỉ tiêu
“cứng” trong việc phân bổ nguồn lực
Như vậy, có thể hiểu một cách chung nhất chi thường xuyên NSNN cho sựnghiệp giáo dục - đào tạo là quá trình phân phối sử dụng một phần vốn tiền tệ từquỹ NSNN để duy trì, phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo theo nguyên tắc khônghoàn trả trực tiếp
Chi thường xuyên NSNN cho giáo dục đào tạo có đặc điểm sau:
Cũng như các khoản chi thường xuyên khác, chi thường xuyên NSNN cho sựnghiệp giáo dục mang tính ổn định một cách tương đối Trong bất kỳ giai đoạn nàoNhà nước cũng phải chăm lo phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo Điều này đãdẫn tới các khoản chi cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo luôn phát sinh một cách liêntục, đều đặn và có tính ổn định một cách tương đối;
Chi thường xuyên NSNN cho giáo dục đào tạo vừa mang tính chất tiêu dùng
xã hội vừa mang tính chất chi cho đầu tư phát triển Điều này xuất phát từ đặc điểm
Trang 32riêng có của hoạt động giáo dục đào tạo Hoạt động giáo dục đào tạo không thamgia trực tiếp vào quá trình sáng tạo ra của cải vật chất, nhưng lại tham gia vào quátrình đào tạo ra nguồn nhân lực có hàm lượng chất xám cao
Quan điểm của Nhà nước về phát triển giáo dục đào tạo và hệ thống tổ chứccủa ngành ảnh hưởng trực tiếp đến chi thường xuyên NSNN cho giáo dục đào tạo.Bởi chi thường xuyên NSNN nhằm mục đích đảm bảo các hoạt động của ngànhgiáo dục, trong đó hoạt động của bộ máy chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng chi.Nếu hệ thống tổ chức của ngành tinh gọn, hiệu quả thì số chi thường xuyên sẽ đượcgiảm bớt và ngược lại Bên cạnh đó, quyết định của Nhà nước trong việc lựa chọnphạm vi và mức độ cung ứng các dịch vụ giáo dục cũng sẽ có ảnh hưởng trực tiếpđến phạm vi, cơ cấu và mức độ chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dụcđào tạo
1.2.1.2 Sự cần thiết phải quản lý chi thường xuyên NSNN cho giáo dục đào tạo trên địa bàn cấp huyện
Quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục đào tạo là một nộidung của quản lý tài chính Nhà nước Nội dung các khoản chi của ngành giáo dụcđào tạo đa dạng, có quy mô lớn Quản lý chi thường xuyên NSNN cho giáo dục đàotạo trên địa bàn cấp tỉnh là cần thiết vì những lý do chủ yếu sau:
Thứ nhất : Quy mô của khoản chi thường xuyên NSNN cho giáo dục đào
tạo Trong các nguồn vốn đầu tư cho sự nghiệp giáo dục đào tạo, nguồn vốn đầu
tư từ NSNN vẫn giữ vai trò đặc biệt quan trọng Quy mô của khoản chi NSNNnói chung, chi thường xuyên NSNN nói riêng cho giáo dục - đào tạo được thểhiện trên các mặt sau :
Một là: Chi thường xuyên NSNN cung cấp nguồn tài chính chủ yếu để duy trì,định hướng sự phát triển của hệ thống giáo dục quốc dân theo đúng đường lối, chủtrương của Đảng và Nhà nước
Hai là: Chi thường xuyên NSNN cung cấp nguồn lực chủ yếu giúp việc củng
cố, tăng cường số lượng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ giảng dạy Hai yếu
tố này ảnh hưởng có tính quyết định đến chất lượng hoạt động giáo dục - đào tạo
Trang 33Những năm qua, vốn NSNN chi cho giáo dục đào tạo chủ yếu dành cho những chiphí liên quan đến con người Trong đó, chi lương và phụ cấp lương cho giáo viênchiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi thường xuyên giáo dục đào tạo Hiện nay, tiềnlương và phụ cấp và các chế độ cho giáo viên đều do NSNN đảm bảo (trừ cáctrường dân lập, bán công ) Chế độ tiền lương hợp lý sẽ đảm bảo cho giáo viên yêntâm công tác, đóng góp tài năng và trí tuệ cho xã hội và ngược lại.
Ba là: Thông qua cơ cấu vốn, định mức chi thường xuyên NS cho giáo dục đào tạo đã có tác dụng điều chỉnh cơ cấu, quy mô giáo dục trong toàn ngành Trongđiều kiện đa dạng hóa giáo dục - đào tạo như hiện nay, vai trò định hướng của Nhànước thông qua chi thường xuyên NS để điều chỉnh quy mô, cơ cấu giữa các cấphọc, ngành học, giữa các vùng là hết sức quan trọng Một cơ cấu ngành học, bậc họchợp lý, kết hợp giữa đào tạo và sử dụng nhân lực sau đào tạo sẽ đảm bảo cho giáodục - đào tạo phát triển cân đối, có hiệu quả, tránh hiện tượng thất nghiệp đang làvấn đề quan tâm của nhiều quốc gia
-Bốn là: Sự đầu tư của chi thường xuyên NSNN có tác dụng hướng dẫn, tạomôi trường thuận lợi để thu hút các nguồn vốn khác tham gia đầu tư cho giáo dục -đào tạo
Với chức năng quản lý xã hội, Nhà nước là chủ thể cung cấp các dịch vụcông: giáo dục, y tế, thể dục thể thao Trong điều kiện các tổ chức, cá nhânchưa có đủ tiềm lực đầu tư độc lập cho các dự án giáo dục, nguồn vốn đối ứng từchi thường xuyên NSNN là rất quan trọng để thu hút các nguồn lực khác cùng đầu
tư cho giáo dục
Với chức năng quản lý kinh tế, thông qua sự đầu tư của Nhà nước vào CSVC
và một phần kinh phí hỗ trợ đối với các trường bán công, tư thục, dân lập có tácdụng thúc đẩy mạnh mẽ phong trào xã hội hóa giáo dục - đào tạo về mặt tài chính,góp phần thực hiện thành công chủ trương xã hội hoá giáo dục của Chính phủ
Thứ hai: Thực tiễn quản lý chi thường xuyên NSNN cho giáo dục đào tạo trên
địa bàn hiện nay còn một số hạn chế nhất định
Trang 34Ở khâu lập dự toán: Hiện nay có nhiều cơ quan tham gia lập kế hoạch (cơquan tài chính, cơ quan chủ quản, cơ quan kế hoạch và đầu tư, đơn vị dự toán ),quy trình lập dự toán phải qua nhiều bước Căn cứ lập kế hoạch ở nhiều đơn vị dựtoán chưa sát đúng thực tế, hầu hết các đơn vị thụ hưởng NS đều có xu hướng lập
dự toán chi tiêu tăng Ngoài ra, một số định mức ngân sách chưa phù hợp đã làmcho nhiều đơn vị khó khăn trong cân đối thu, chi tại đơn vị
Ở khâu chấp hành dự toán: Quản lý chi thường xuyên NSNN cho giáo dụcđào tạo chưa phân biệt cụ thể quan hệ giữa quản lý NS toàn ngành với quan hệquản lý NS trên địa bàn nên chưa xây dựng được mô hình quản lý NS thống nhấtcho giáo dục đào tạo trên phạm vi cả nước Trong quá trình chấp hành chi, một
số khoản chi đơn vị chi sai chế độ, có dấu hiệu lãng phí; việc bảo quản và sửdụng tài sản có giá trị còn nhiều hạn chế Chi thường xuyên NSNN chưa pháthuy tác dụng khuyến khích khai thác nguồn vốn ngoài NSNN phục vụ cho sựnghiệp giáo dục đào tạo Ở nhiều địa phương, quan hệ giữa ngành giáo dục - đàotạo và tài chính có nhiều điểm chưa thống nhất, chưa có sự phối hợp giữa quản lýtheo chuyên môn với quản lý tài chính
Ở khâu quyết toán NSNN: Nhiều đơn vị nộp báo cáo quyết toán chưa đúngvới thời gian quy định, báo cáo quyết toán còn thiếu nhiều biểu mẫu, Kinh phíchưa quyết toán chuyển năm sau còn nhiều do nhiều khoản chi chưa đủ thủ tụcthanh toán
1.2.1.3 Nguyên tắc quản lý chi thường xuyên NSNN cho giáo dục đào tạo trên địa bàn cấp huyện
Chi thường xuyên NSNN cho giáo dục đào tạo là một bộ phận của chi thườngxuyên NSNN Vì vậy, quản lý chi thường xuyên NSNN cho giáo dục đào tạo cầnquán triệt các nguyên tắc quản lý chi thường xuyên NSNN nói chung, cụ thể:
Nguyên tắc quản lý theo dự toán: Lập dự toán là khâu mở đầu của một chutrình NS Lập dự toán sẽ giúp chủ thể quản lý chủ động trong phân bổ và sử dụngcác nguồn lực tài chính Đối với chi thường xuyên cho giáo dục đào tạo, lập dự toáncòn là căn cứ quan trọng để quản lý và kiểm soát các khoản chi trong quá trình điều
Trang 35hành NS Ngoài ra, quản lý theo dự toán cũng là cơ sở để đảm bảo cân đối NS, tạođiều kiện chấp hành NS Tuy nhiên, để nguyên tắc này phát huy tác dụng thì việclập dự toán từ các đơn vị, cở sở giáo dục đào tạo thụ hưởng NS phải khoa học, địnhmức và chính sách chế độ phải phù hợp với từng nhiệm vụ chi.
Nguyên tắc đầy đủ, trọn vẹn: Đây là nguyên tắc quan trọng nhất, đòi hỏi tất cảcác khoản chi thường xuyên NSNN cho giáo dục đào tạo đều phải được thực hiệntheo đúng định mức, đúng kế hoạch Các khoản chi đều phải được ghi sổ đầy đủ vào
kế hoạch NSNN và được quyết toán rành mạch Nguyên tắc này được đưa ra nhằmhạn chế tình trạng để ngoài NS của các khoản chi thuộc NSNN, dẫn đến tình trạnglãng phí trong sử dung vốn NSNN
Nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả: Hiệu quả là yêu cầu của mọi quá trình quản lý,đặc biệt là quản lý tài chính Tính hiệu quả xuất phát từ thực tế nguồn lực tài chínhnói chung, nguồn kinh phí chi thường xuyên cho lĩnh vực giáo dục đào tạo nói riêng
có giới hạn, nên việc phân bổ và sử dụng cần đảm bảo nguyên tắc hiệu quả nhằmđạt được các mục tiêu đề ra Để nguyên tắc này được tôn trọng, quản lý chi thườngxuyên của NSNN cho ngành phải làm tốt một số nội dung sau: (1) Phải xây dựngđịnh mức, tiêu chuẩn chi tiêu phù hợp với từng đối tượng hay tính chất công việc,đồng thời phải có tính thực tiễn; (2) Phải thiết lập các hình thức cấp phát đa dạng vàlựa chọn hình thức cấp phát áp dụng cho mỗi loại hình đơn vị hoặc phù hợp với yêucầu quản lý của từng nhóm mục chi; (3) Lựa chọn thứ tự ưu tiên cho các loại hoạtđộng hoặc theo các nhóm mục chi sao cho tổng số chi có hạn nhưng khối lượngcông việc vẫn hoàn thành và đạt chất lượng cao; (4) Khi đánh giá tính hiệu quả củachi thường xuyên NSNN cho ngành giáo dục đào tạo phải có quan điểm toàn diện.Phải xem xét mức độ ảnh hưởng của khoản chi trong việc nâng cao chất lượng dạy
và học ở mọi cấp học, bậc học, ngành học
Nguyên tắc công khai hoá: Nguyên tắc này được thể hiện suốt trong chu trìnhNSNN (lập, chấp hành và quyết toán NSNN) và phải được áp dụng cho các cơ quantham gia vào chu trình NSNN Việc chi thường xuyên NSNN cho giáo dục đào tạophải được công khai để mọi người biết Nguyên tắc này xuất phát từ những lý do:
Trang 36Giáo dục đào tạo là lĩnh vực nhạy cảm, có liên quan đến lợi ích của toàn dân Hơnnữa, nguồn tài chính chi cho nhiệm vụ này được thực hiện phần lớn bằng nguồn vốnNSNN - một nguồn vốn được đóng góp chủ yếu bởi nhân dân, do đó việc công khaicác khoản chi để mọi người dân được biết là một nguyên tắc không thể thiếu
Nguyên tắc cân đối NS: Cân đối NS được hiểu là các khoản chi chỉ được phépthực hiện khi đã có đủ các nguồn thu bù đắp Việc thực hiện nguyên tắc này đòi hỏi:chỉ những khoản chi nào đã có trong dự toán chi NSNN đã được cơ quan có thẩmquyền phê duyệt thì mới được phép chi Nguyên tắc này cũng đòi hỏi trong quátrình điều hành NS nếu thu không đủ bù đắp các khoản chi thì cơ quan tài chínhphải trình cấp có thẩm quyền cắt giảm những khoản chi phù hợp cân đối NS
Nguyên tắc đảm bảo sự tự chủ về tài chính của các đơn vị sử dụng NS Ngày25/4/2006, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 43/2006/NĐ-CP quy định quyền
tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy biên chế và tàichính đối với đơn vị sự nghiệp công lập nhằm trao quyền tự chủ, tự chịu tráchnhiệm cho các đơn vị sự nghiệp trong việc tổ chức công việc, sắp xếp lại bộ máy,
sử dụng lao động và nguồn lực tài chính để hoàn thành nhiệm vụ được giao; pháthuy mọi khả năng của đơn vị để cung cấp dịch vụ với chất lượng cao cho xã hội;tăng nguồn thu cho người lao động Lĩnh vực giáo dục, đào tạo chịu tác động củaNghị định này Theo quy định tại Nghị định trên, các trường học, các cơ sở giáodục - đào tạo phải chủ động xây dựng dự toán chi phù hợp với nhiệm vụ chi vàchủ động sử dụng nguồn kinh phí đã được duyệt để thực hiện hoàn thành cácnhiệm vụ được giao
Nguyên tắc đảm bảo chi trả trực tiếp qua Kho bạc nhà nước:Với chức năngquản lý quỹ NSNN, kho bạc nhà nước kiểm soát mọi khoản chi NS và có quyền từchối thanh toán các khoản chi không đúng quy định, không phù hợp với chế độ.Hiện nay, các đơn vị dự toán phải mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước Mọi khoảnthanh toán đều phải có duyệt chi từ kho bạc trước khi nguồn vốn NS được thanhtoán chi trả
Trang 371.2.1.4 Nội dung quản lý chi thường xuyên NSNN cho giáo dục đào tạo trên địa bàn cấp huyện
Quản lý chi thường xuyên NSNN cho giáo dục đào tạo trên địa bàn cấp huyệnbao gồm các nội dung quản lý chủ yếu sau:
*) Quản lý theo các nhóm mục chi
Chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục đào tạo là khoản chi chiếm
tỷ trọng lớn trong nội dung chi cho các hoạt động thuộc lĩnh vực văn hoá xã hội,một mảng quan trọng trong nhóm chi thường xuyên của NSNN Quản lý chi thườngxuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục đào tạo theo các nhóm mục chi chủ yếu sau:Quản lý các khoản chi cho con người:
Quản lý các khoản chi thuộc nhóm này bao gồm: Quản lý các khoản chilương, phụ cấp, tiền thưởng, các khoản đóng góp, phúc lợi xã hội Đây là nhóm chichiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng số chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáodục đào tạo, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của những người làm công tác giáodục nên việc quản lý nhóm mục chi này phải được thực hiện nghiêm túc, công bằng,đúng chính sách chế độ
Quản lý các khoản chi quản lý hành chính
Chi quản lý hành chính bao gồm: Thanh toán dịch vụ công cộng (tiền điện,tiền nước), vật tư văn phòng, thông tin tuyên truyền, liên lạc, hội nghị, công tácphí Đây là khoản chi nhằm đảm bảo cho công tác quản lý hành chính phục vụ chohoạt động của các cơ sở giáo dục Mức độ chi tiêu nhiều hay ít của nhóm này phụthuộc vào quy mô của các trường, định mức và mức độ sử dụng của các đơn vị Đây
là khoản chi có nội dung đa dạng, khó phân biệt và định mức chi tiêu thường thấpnên nhiều đơn vị dự toán thường chi vượt dự toán, sai nội dung chi
Quản lý các khoản chi nghiệp vụ chuyên môn
Trong sự nghiệp giáo dục đào tạo, nhóm chi này bao gồm các khoản chi chủyếu: Mua sắm trang thiết bị, đồ dùng giảng dạy, sách giáo khoa, đồ dùng học tập,thí nghiệm Đây là khoản chi rất cần thiết, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng giáodục đào tạo Quản lý tiết kiệm, tránh lãng phí trong chi tiêu các khoản chi này sẽgiúp các trường có thêm nguồn kinh phí nâng cao chất lượng dạy và học
Trang 38Quản lý các khoản chi mua sắm trang thiết bị, sửa chữa, xây dựng nhỏ
Hàng năm do nhu cầu hoạt động giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học,
do sự xuống cấp của các tài sản cố định dùng cho các hoạt động nên phát sinh nhucầu về kinh phí để mua sắm, trang bị thêm hoặc phục hồi giá trị của tài sản cố định.Thuộc nhóm chi này bao gồm các khoản chi như: Chi mua sắm, bổ sung tài sản,máy móc, chi sửa chữa máy móc, thiết bị, nhà cửa Quản lý các khoản chi này phảiđáp ứng được các yêu cầu quản lý: đầu tư có trọng điểm, sử dụng đúng mục đích,thực hiện sửa chữa, xây dựng nhỏ theo đúng các quy định của pháp luật
*) Quản lý theo chu trình ngân sách
Là một bộ phận của NSNN, quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệpgiáo dục đào tạo cũng được quản lý theo ba khâu: quản lý quá trình lập và phân bổ
dự toán, quản lý quá trình chấp hành dự toán và quản lý quá trình quyết toán
Quản lý quá trình lập và phân bổ dự toán chi thường xuyên NSNN
Thứ nhất: Phải xác định được các căn cứ lập dự toán, tạo cơ sở cho việc xây
dựng dự toán chi thường xuyên NSNN toàn diện, bao quát được toàn bộ nguồn thu
và nhiệm vụ chi thường xuyên NSNN cho lĩnh vực giáo dục đào tạo
Một số căn cứ chủ yếu khi xây dựng dự toán chi thường xuyên NSNN cho lĩnhvực giáo dục đào tạo phải xem xét tới là: chủ trương của Đảng và Nhà nước về pháttriển giáo dục đào tạo trong từng giai đoạn; Chỉ tiêu về số lượng trường, lớp, biênchế giáo viên, số lượng giáo viên, số lượng học sinh, sinh viên ; Khả năng bố tríchi thường xuyên NS cho giáo dục đào tạo trên cơ sở cân đối tổng thể chi NSNNnăm kế hoạch; Các chính sách, tiêu chuẩn, định mức do Nhà nước ban hành; Tìnhhình quản lý, sử dụng kinh phí chi thường xuyên NSNN cho giáo dục đào tạo cácnăm trước
Thứ hai: Phải xác định được vai trò, nhiệm vụ của từng cơ quan tham gia vào
quá trình xây dựng dự toán chi thường xuyên NSNN cho giáo dục đào tạo Đây là
cơ sở cho việc phân định trách nhiệm của từng chủ thể quản lý, tránh việc “giẫmchân lên nhau” trong quản lý chi thường xuyên NSNN cho ngành giáo dục đào tạo
Trang 39Hiện nay, các bước lập dự toán chi thường xuyên NSNN cho lĩnh vực giáo dụcđào tạo như sau:
Căn cứ vào Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng kế hoạch pháttriển kinh tế - xã hội và dự toán chi thường xuyên NSNN năm sau, Bộ Tài chính banhành Thông tư hướng dẫn về yêu cầu, nội dung, thời hạn lập dự toán NSNN vàthông báo số kiểm tra về dự toán chi thường xuyên NSNN cho các Bộ, cơ quanngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở Trung ương và Ủy ban nhândân (UBND) các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
UBND cấp tỉnh căn cứ vào Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, Thông tư hướngdẫn, số kiểm tra về dự toán NS của Bộ Tài chính, căn cứ vào định hướng phát triểnkinh tế-xã hội, yêu cầu và nhiệm vụ cụ thể của địa phương, căn cứ khả năng cân đốiNSĐP, hướng dẫn và thông báo số kiểm tra về dự toán chi thường xuyên NSNNcho các đơn vị trực thuộc và UBND cấp dưới
Các đơn vị, cơ sở giáo dục đào tạo căn cứ vào số kiểm tra, văn bản hướng dẫntiến hành lập dự toán kinh phí năm kế hoạch của mình và gửi dự toán về cơ quan tàichính hoặc đơn vị dự toán cấp trên Dự toán chi thường xuyên NSNN cho giáo dụcđào tạo được tổng hợp cùng với dự toán chi NS hàng năm, sau khi trình cấp có thẩmquyền sẽ được gửi tới Bộ Tài chính, Bộ Giáo dục đào tạo chậm nhất vào ngày 20tháng 7 năm trước
Căn cứ tổng mức kinh phí chi thường xuyên NSNN cho giáo dục đào tạo đượccấp có thẩm quyền thông báo, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tài chính dự kiếnphương án phân bổ kinh phí cho lĩnh vực giáo dục đào tạo và chi tiết cho các tỉnh,thành phố trực thuộc Trung ương phù hợp với các mục tiêu, nhiệm vụ đã đượcduyệt Bộ Tài chính chủ trì phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, và các bộ, cơquan liên quan xem xét dự toán chi thường xuyên NSNN cho giáo dục đào tạo, lậpphương án phân bổ NS Trung ương trình Chính phủ, Quốc Hội Quốc hội sẽ thảoluận dự toán NS, và phê chuẩn muộn nhất là trước 30/11 năm báo cáo
Sau khi dự toán NSNN đã được Quốc hội phê duyệt, thừa lệnh uỷ quyền củaThủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính thông báo dự toán chi thường xuyên NSNNlĩnh vực giáo dục đào tạo cho các địa phương
Trang 40Căn cứ vào dự toán NS đã được Thủ tướng Chính phủ giao UBND tỉnh, thànhphố tiến hành phân bổ, giao nhiệm vụ, mục tiêu và kinh phí cho các đơn vị thựchiện, gửi Bộ Tài chính theo quy định để thẩm định, làm căn cứ cấp phát NS.
Quản lý quá trình chấp hành dự toán chi thường xuyên NSNN
Trong quản lý chi NSNN, khâu chấp hành kế hoạch chi là nội dung quan trọngbởi đây là giai đoạn đồng vốn NSNN được cấp phát, chi trả trực tiếp ra khỏi quỹNSNN Để có thể quản lý tốt quá trình thực hiện dự toán chi thường xuyên NSNNcho giáo dục đào tạo phải thực hiện được các nội dung sau:
Đối với các đơn vị, cơ sở giáo dục:
Phải cụ thể hóa dự toán chi cả năm thành nhu cầu chi hàng quý để cơ quan tàichính làm căn cứ quản lý, cấp phát, thanh toán
Phải chấp hành nghiêm túc những định mức, tiêu chuẩn của từng khoản chi đãđược giao trong dự toán
Phải lập đầy đủ các chứng từ hợp lệ trước khi gửi cơ quan tài chính xin chuẩn chi.Đối với các cơ quan quản lý nhà nước:
Phải quy định cụ thể trình tự cấp phát, trách nhiệm và quyền hạn của các cơquan (tài chính, kho bạc, cơ sở giáo dục ) trong quá trình điều hành chi NSNN chogiáo dục đào tạo Nghiêm túc điều hành theo dự toán đã được lập, xoá bỏ cơ chế xincho, thực hiện nghiêm túc các chỉ tiêu, định mức đã đề ra Sử dụng tổng hợp cácbiện pháp kinh tế, tài chính và hành chính nhằm biến các chỉ tiêu chi trong kế hoạchNSNN trở thành hiện thực
Cơ quan Tài chính phải chủ động đảm bảo kinh phí cho giáo dục đào tạo;trong trường hợp nguồn thu không đảm bảo nhu cầu chi phải phối hợp với cơ quangiáo dục điều chỉnh kịp thời dự toán chi trong phạm vi cho phép
Cơ quan Tài chính và Kho bạc nhà nước phối hợp kiểm tra tình hình quản lý
và sử dụng kinh phí NSNN ở các đơn vị, cơ sở giáo dục nhằm nâng cao hiệu quảcủa đồng vốn NS